1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp một số ý kiến về kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán và kế toán ACC

70 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuẩn mực Kiểm toán số 500 có quy định: Kiểm toán viên và công tykiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sởđưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

  

Việt Nam đang bước dài trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới.Những chuyển biến quan trọng trong vài năm gần đây đã đưa nước ta đến vớinhiều cơ hội và thách thức mới Trong xu thế toàn cầu hoá đó, kiểm toán đãkhông còn là một khái niệm mới mẻ Dần dần, kiểm toán, nhất là kiểm toán báocáo tài chính, đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của bất kỳ một hoạt độngkinh doanh nào Sở dĩ như vậy là vì, với mục tiêu chính là : “ … giúp cho kiểmtoán viên đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo báo tài chính có được lập trên cơ sởchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và cóphản ánh trung thực hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không” (Đoạn 11 –VSA 200), hoạt động kiểm toán báo báo tài chính đã góp phần tăng cường quản

lý tài chính doanh nghiệp; tài chính Nhà nước, làm công khai, minh bạch tìnhhình kinh tế – tài chính của đất nước, tiến đến sự công nhận, hoà nhập với khuvực và quốc tế

Có thể nói rằng, mục tiêu cơ bản nhất của kiểm toán báo cáo tài chính làđưa ra lời xác nhận của KTV về tính trung thực và hợp lý của nó Vì vậy, xemxét đến những nhân tố ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của báo cáo tàichính là công việc then chốt mà KTV thực hiện Chính vì lý do đó, việc đưa racác bằng chứng có đủ độ tin cậy và tính thuyết phục ảnh hưởng rất quan trọngđến các kết luận của kiểm toán viên Việc thu thập bằng chứng trong quá trìnhkiểm toán sẽ giúp kiểm tóan viên có được những cơ sở chính xác để nhận định vềmột vấn đề đang được kiểm toán Ngoài ra, trên phương diện của người sử dụngbáo cáo kiểm toán, bằng chứng kiểm toán chính là dấu hiệu để xem xét tính hiệuquả của công việc kiểm toán và mức độ tin cậy của báo cáo kiểm toán Nhận

thấy tầm quan trọng của khía cạnh này, em đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số ý kiến về kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán và kế toán AAC”

Luận văn gồm ba phần như sau:

Phần 1: Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán và kỹ thuật thu thập bằng chứng

kiểm toán trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính

Phần 2: Thực tế vận dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm

toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán và kế toán AAC thực hiện

Phần 3: Biện pháp hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm

toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán và kế toán AAC thực hiện

Trang 2

Theo Chuẩn mực Kiểm toán số 500: Bằng chứng kiểm toán là tất cả các sốliệu, thông tin mà các kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán

và dựa trên dựa trên thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến củamình

Theo khái niệm này bằng chứng kiểm toán bao gồm cả thông tin nhânchứng và vật chứng mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sở cho nhận xét của mình

về Báo cáo tài chính của mình được kiểm toán Khái niệm này cũng chỉ rõ đặctính cơ bản của bằng chứng và mối quan hệ của bằng chứng với kết luận kiểmtoán

Cũng theo Chuẩn mực Kiểm toán số 500: Bằng chứng kiểm toán bao gồmtất cả các tài liệu, chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu,thông tin từ những nguồn khác Theo đó bằng chứng có thể là những thông tinbằng văn bản, thông tin bằn lời nói, các chứng từ sổ sách, các biên bản kiểm kê,giấy xác nhận của khách hàng…

Đối với mỗi loại bằng chứng khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đếnviệc hình thành ý kiến của kiểm toán viên, do đó kiểm toán viên cần nhận thức cụthể về các loại bằng chứng để có thể đánh giá bằng chứng một cách hữu hiệutrong khi thực hành kiểm toán

1.1.2 Vai trò

Bằng chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra ý kiến, quyết địnhcủa kiểm toán viên về hoạt động kiểm toán, nó là cơ sở và là một trong nhữngyếu tố quyết định độ chính xác và rủi do trong ý kiến của kiểm toán viên Từ đó

có thể thấy sự thành công cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập

và sau đó đánh giá bằng chứng của kiểm toán viên Một khi kiểm toán viênkhông thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các các bằng chứng thích hợp thì kiểmtoán viên khó có thể đưa ra một nhận định chính xác về đối tượng cần kiểm toán

Chuẩn mực Kiểm toán số 500 có quy định: Kiểm toán viên và công tykiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sởđưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán

Trang 3

Thông qua đó ta có thể thấy một ý nghĩa rất quan trọng đối với các tổ chứckiểm toán độc lập, các cơ quan cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan pháp

lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt độngcủa kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán Việc giám sát này có thể

do nhà quản lý tiến hành đối với các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hoặc cóthể do cơ quan tư pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán nói chung (Trongtrường hợp xảy ra kiện tụng đối với kiểm toán viên hay công ty kiểm toán)

1.2 Phân loại bằng chứng kiểm toán

Mỗi loại bằng chứng có độ tin cây khác nhau, mức độ tin cậy của bằngchứng là yếu tố tin cậy để thu thập bằng chứng sử dụng chúng một cách tốt nhất

và hợp lý nhất Độ tin cậy có thể phụ thuộc vào nguồn gốc ( ở bên trong hayngoài doanh nghiệp ); hình thức ( hình ảnh, tài liệu hoặc lời nói ) và từng trườnghợp cụ thể Để giúp kiểm toán viên xác định độ tin cây một cách hợp lý nhằm thuthập sử dụng bằng chứng thuận lợi Thì việc phân loại bằng chứng là hết sứcquan trọng, nó giúp kiểm toán viên có thể tìm được những bằng chứng có độ tincậy cao nhằm giảm bớt những rủi ro kiểm toán cũng như giảm bớt chi phí kiểmtoán.Việc phân loại có thể tiến hành theo các cách sau:

1.2.1 Phân loại bằng chứng theo nguồn gốc hình thành

Phân loại dựa theo nguồn gốc của thông tin, tài liệu có liên quan đến Báocáo tài chính mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm toán Trongcách phân loại này bằng chứng được chia thành các loại:

Bằng chứng do khách thể kiểm toán phát hành và luân chuyển nội bộ như:

bảng chấm công, sổ thanh toán tiền lương, sổ tổng hợp, sổ số dư, sổ chi tiết,phiếu kiểm tra sản phẩm, vận đơn…Nguồn gốc bằng chứng này chiếm một sốlượng lớn, khá phổ biến vì nó vì nó cung cấp với tốc độ nhanh chi phí thấp Dobằng chứng này có nguồn gốc từ nội bộ doanh nghiệp, nên chúng chỉ thực sự có

độ tin cậy khi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có hiệu lực thực sự,

do vậy tính thuyết phục của chúng không cao

Bằng chứng do các đối tượng khác phát hành lưu trữ tại doanh nghiệp:

hoá đơn bán hàng, hoá dơn mua hàng biên bản bàn giao tài sản cố định… Bằngchứng có độ thuyết phục cao bởi nó được tạo từ bên ngoài, tuy nhiên loại bằngchứng này vẫn có khả năng tẩy xoá, thêm bớt ảnh hưởng đến độ tin cậy của kiểmtoán đối với với hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp

Bằng chứng do đơn vị phát hành nhưng lại lưu chuyển ở bên ngoài: như

uỷ nhiệm chi, hoá đơn bán hàng… Đây là dạng bằng chứng có tính thuyết phụccao vì nó được cung cấp bởi bên thứ ba ( tuy nhiên nó cần phải đảm bảo đươctính độc lập của người cung cấp với doanh nghiệp)

Bằng chứng do đơn vị bên ngoài phát hành và lưu trữ: loại bằng chứng

này thường thu thập bằng phương pháp gửi thư xác nhận, mang tính thuyết phụccao vì nó được thu thập trực tiếp bởi kiểm toán viên ( tính thuyết phục sẽ khôngcòn nếu kiểm toán viên không kiểm soát được quá trình gửi thư xác nhận ) Nóbao gồm một số loại như: bảng xác nhận nợ, bảng xác nhận các khoản phải thu,xác nhận số dư tài khoản của ngân hàng…

Bằng chứng do kiểm toàn viên trực tiếp khai thác và phát hiện như: tự

kiểm kê kho, kiểm tra tài sản, quan sát về hoạt động của kiểm soát nội bộ… đây

là loại bằng chứng có độ tin cậy cao nhất vì nó được thực hiện trực tiếp bởi kiểm

Trang 4

toán viên Song nhiều lúc nó còn mang tính thời điểm tại lúc kiểm tra ( như kiểm

kê hàng tồn kho phụ thuộc vào tính chất vật lý của chúng theo từng thời điểmkhác nhau mà có những kết quả khác nhau )…

1.2.2 Phân loại bằng chứng theo tính thuyết phục

Do bằng chứng kiểm toán được sử dụng để trực tiếp đưa ra ý kiến khácnhau về tính trung thực của Báo cáo tài chính đơn vị kiểm toán phát hành Vì vậykiểm toán viên cần phải xem xét mức độ tin cây của chúng Ý kiến của kiểm toánviên trong Báo cáo kiểm toán có mức độ tương ứng đối với tính thuyết phục củabằng chứng Theo cách này bằng chứng được phân loại như sau:

Bằng chứng có tính thuyết phục hoàn toàn: Đây là loại bằng chứng do

kiểm toán viên thu thập bằng cánh tự kiểm kê, đánh giá và quan sát Bằng chứngnày thường được đánh giá là khách quan, chính xác và đầy đủ Dựa vào ý kiếnnày kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần

Bằng chứng thuyết phục từng phần như: bằng chứng thu được từ phỏng

vấn cần phải phân tích và kiểm tra lại, các loại bằng chứng thường được đảm bảobởi hệ thống kiểm soát nội bộ Chúng chỉ thật sự có tính thuyết phục khi bộ máykiểm soát nội bộ của doanh nghiệp là thực sự tồn tại và có hiệu lực Dựa vào loạibằng chứng này kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần

Bằng chứng không có giá trị thuyết phục: là bằng chứng không có giá trị

trong việc ra ý kiến, quyết định của kiểm toán viên về việc kiểm toán Bằngchứng có thể do phỏng vấn người quản lý, ban quản trị

1.2.3 Phân loại bằng chứng theo loại hình bằng chứng

Độ tin cậy còn được đánh giá qua hình thức của bằng chứng, với việcđánh giá độ tin cậy thông qua nguyên tắc: Bằng chứng dưới dạng văn bản, hìnhảnh đáng tin cây hơn bằng chứng ghi lại từ lời nói Việc phân loại bằng chứngtheo loại hình bằng chứng bao gồm:

Dạng bằng chứng vật chất: như bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản kiểm

kê tài sản cố định, hiểu biết kiểm toán… Đây là dạng bằng chứng có tính thuyếtphục cao

Dạng bằng chứng tài liệu: bao gồm tài liệu kế toán, sổ sách, chứng từ kế

toán, ghi chép bổ sung của kế toán, tính toán của kiểm toán viên… Dạng bằngchứng này có mức độ tin cây cao, tuy nhiên một số loại bằng chứng độ tin cậycủa chúng phụ thuộc vào tính hiệu lực của bộ phận kiểm soát nội bộ

Dạng bằng chứng thu được từ lời nói: thường đươc thu thập qua phươngpháp phỏng vấn nên mang tính thuyết phục không cao, song lại đòi hỏi lại đòi hỏi

sự hiểu biết của người phỏng vấn khá cao về độ am hiểu vấn đề cần phỏng vấn

1.3 Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 Quy định: Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho mỗi loại ý kiến của mình.

Sự đầy đủ và tính thích hợp luôn đi liền với nhau và được áp dụng cho các bằng chứng kiểm toán thu thập được từ các thủ tục kiểm soát và thử nghịêm cơ bản Thông thường kiểm toán viên dựa trên các bằng chứng mang tính xét đoán và thuyết phục hơn là tính khẳng định chắc chắn Bằng chứng thu được từ nhiều nguồn, nhiều dang khác nhau để làm căn cứ cho cùng cơ sở dữ liệu.

Trang 5

1.3.1 Tính hiệu lực

Hiệu lực là khái niệm chỉ độ tin cậy hay chất lượng của bằng chứng kiểmtoán Bằng chứng có hiệu lực hay có giá trị khi nó có độ tin cậy, nó thể hiên đúngmục tiêu kiểm toán và phản ánh đúng tính chất của các hoạt động đang diễn ra.Chỉ vậy mới có thể giúp kiểm toán viên chính xác hơn trong việc đưa ra Báo cáokiểm toán Những yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu lực của bằng chứng bao gồm:

* Dạng bằng chứng: Bằng chứng vật chất ( ví dụ như: Biên bản kiểm kê,

có được sau khi thục hiện kiểm kê hay quan sát kiểm kê ) và sự hiểu biết củakiểm toán viên về các lĩnh vực cần kiểm toán được xem là đáng tin cậy hơn bằngchứng bằng lời (ví dụ như phỏng vấn )

* Hệ thống kiểm soát nội bộ: Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị là một

hệ thống gồm các chính sách, thủ tục được thiết lập ở trong doanh nghiệp nhằmbảo vệ tài sản doanh nghiệp, đảm bảo sự tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo sựhoạt động hiệu quả và cung cấp thông tin một cách chính xác cho các nhà quản lý

để có kế hoách sản xuất kinh doanh phù hợp

Hệ thống nội bộ được thiết kế nhằm ngăn ngừa sai phạm trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của đơn vị với các mục tiêu sau:

- Các nghiệp vụ kinh tế ghi sổ phải có căn cứ hợp lý

- Các nghiệp vụ kinh tế ghi sổ phải được phê chuẩn đúng đắn

- Các nghiệp vụ kinh tế hiện có phải được ghi sổ

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng lúc

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi đúng đắn vào sổ phụ và được tổnghợp chính xác

Do vậy mà hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là có hiệu lực thìbằng chứng thu thập được có độ tin cậy cao hơn bằng chứng thu được trong điềukiện hệ thống này hoạt động kém hiệu quả Khi đó trong môi trường kiểm soátnội bộ hoạt động tốt, thì khả năng tồn tại sai phạm mà hệ thống kiểm soát nội bộkhông phát hiện sẽ thấp Để xác định được tính hiệu lực của hệ thống kiểm soátnội bộ nhằm thu thập được bằng chứng có đô tin cậy cao, trước khi kiểm toáncông ty kiểm toán cân tiến hành tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộđối với khách thể kiểm toán, thường thì KTV sẽ sử dụng các bảng câu hỏi đểđiều tra, nghiên cứu

Nếu có kết luận khá thì hệ thống kiểm soát của khách thể kiểm toán cóhiệu lực và bằng chứng thu thập được có nguồn gốc trong đơn vị cần kiểm toán

là đáng tin cậy Với kết luận trung bình thì việc sử dụng bằng chứng có nguồngốc bên trong đơn vị cần kiểm toán có độ tin cậy không cao cần kết hợp với bằngchứng khác để kiểm toán viên có thể đưa ra được kết luận kiểm toán chính xác vàkhách quan hơn Khi hệ thống kiểm soát nội bộ dường như không có hiệu lực thìkiểm toán viên phải thu thập bằng chứng từ bên ngoài nhiều hơn nhằm đưa ra ýkiến của mình về các bảng khai tài chính

* Nguồn gốc của việc thu thập bằng chứng: Bằng chứng có nguồn gốc

càng độc lập với đối tượng kiểm toán thì càng có hiệu lực Việc đánh giá độ tincậy của nguồn gốc có thể dựa vào các nguyên tắc sau:

Trang 6

- Bằng chứng có nguồn gốc từ bên ngoài đơn vị đáng tin cậy hơn nguồngốc bằng chứng từ bên trong;

- Bằng chứng có nguồn gốc từ bên trong đơn vị có độ tin cậy cao hơnkhi hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán hoạt động có hiệu quả

- Bằng chứng do kiểm toán viên tự thu thập có độ tin cậy hơn bằngchứng do đơn vị cung cấp

Ví dụ: Bằng chứng thu từ nguồn độc lập bên ngoài ( như bảng sao kêngân hàng, Giấy báo số dư khách hàng do ngân hàng gửi đến, xác nhận của ngânhàng về số dư tài khoản và các khoản công nợ…) có độ tin cậy cao hơn bằngchứng kiểm toán mà kiểm toán viên có được nhờ đơn vị cung cấp ( như tài liệu

kế toán, tài liệu thống kê ban đầu liên quan đên cuộc kiểm toán)

* Sự kết hợp của các bằng chứng: Bằng chứng kiểm toán có sức thuyết

phục cao hơn khi có được thông tin từ nhiều nguồn và nhiều loại khác nhau đượcxác nhận Trường hợp này KTV có thể có được độ tin cậy cao hơn đối với bằngchứng kiểm toán so với trường hợp thông tin có được từ những bằng chứng riêng

rẽ Ví dụ : Nếu trên tài khoản tiền gửi Ngân hàng khớp với giấy báo số dư kháchhàng do Ngân hàng cung cấp cho đơn vị được kiểm toán tuỳ số liệu này đáng tincậy hơn so với khi chi có có thông tin duy nhất là số dư trên tài khoản… Trongtrường hợp sự kết hợp bằng chứng mang lại mâu thuẫn giữa bằng chứng có từnguồn gốc này với bằng chứng có từ nguồn gốc khác thì KTV phải xác định thủtục kiểm tra bổ xung cần thiết để giả quyết mâu thuẫn

1.3.2 Tính đầy đủ

Là khái niệm chỉ tiêu chuẩn số lượng hay quy mô cần thiết để kiểm toánviên đưa ra ý kiến kết luận cho cuộc kiểm toán Đây là một vấn đề không cóthước đo chung, mà đòi hỏi rất lớn ở sự suy đoán nghề nghiệp của kiểm toánviên Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 Trong quá trình hình thành ýkiến của mình kiểm toán viên không nhất thiết phải kiểm tra tất cả các thông tin

có sẵn Kiểm toán viên được phép đưa ra kết luận về số dư tài khoản, các nghiệp

vụ kinh tế hoặc hệ thống kiểm soát nội bộ theo xét đoán cá nhân Và các chuẩnmực thường chấp nhận kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán ở mức độ

“có tính thuyết phục” hơn là “có tính chắc chắn”

Có thể nói tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán là nói tới số lượng vàchủng loại thu thập bằng chứng kiểm toán Không có bất cứ chuẩn mưc nào quyđịnh cụ thể bao nhiêu bằng chứng là đủ mà chuẩn mực số lượng của bằng chứngkiểm toán để đủ đưa ra ý kiến phụ thuộc vào sự phán xét chủ quan của kiểm toánviên Sự phán xét đó tuỳ thuộc vào tình huống cụ thể (như quy mô mẫu, mức độrủi do kiểm toán lớn…) mà kiểm toán viên cân nhắc tới số lượng quy mô củabằng chứng sao cho thích hợp với một chi phí hợp lý

* Tính hiệu lực của bằng chứng: Bằng chứng có độ tin cậy càng thấp thì

thu thập càng nhiều Một ( một số ít ) bằng chứng có độ tịn cậy thấp chưa đủ để

có thể nhân định một cách chính xác về đối tượng kiểm toán cụ thể

* Tính trọng yếu và mức độ rủi ro với bằng chứng kiểm toán:

Trọng yếu là khái niệm tầm cỡ và bản chất của các sai phạm của các thôngtin tài chính hoặc là đơn lẻ, hoặc từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựavào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc sẽ rút ra sai lầm

Trang 7

Đối tượng cụ thể được kiểm toán càng nhiều yếu tố trọng yếu thì số lượngbằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều: mục tiêu của kiểm toán tài chính

là khẳng định báo cáo tài chính được trình bày trung thực trên mọi khía cạnhtrọng yếu Kiểm toán viên phải ước lượng sai phạm có ảnh hưởng trọng yếu đếnbáo cáo tài chính Sự phán xét này không cần phải định lượng nhưng thường phảilàm Đó là sự phán xét có tính nghiệp vụ có thể thay đổi quá trình kiểm toán khicác tình huống thay đổi

Ước lượng về tính trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ởmức độ đó các Báo cáo tài chính có thể sai lệch nhưng vẩn chưa ảnh hưởng đếnquyết định của người sử dụng thông tin tài chính Ước lượng này là một trongnhững quyết định quan trọng nhất mà kiểm toán viên phải đối mặt

Sau khi ước tính trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính kiểm toán viênphải phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính Dựa vàomức trọng yếu cho từng khoản mục này kiểm toán viên thu thập số lượng cũngnhư chất lượng bằng chứng kiểm toán phù hợp Khoản mục nào có mức độ trọngyếu càng nhỏ thì lượng bằng chứng thì lượng bằng chứng kiểm toán sẽ ít hơn cáckhoản mục co mức độ sai sót cho phép nhỏ Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phánxét:

- Trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối

- Nhu cầu đối với cơ sở đánh giá tính trọng yếu

- Các yếu tố chất lượng cũng ảnh hưởng tới trọng yếu

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: Rủi ro kiểm toán là rủi ro docông ty kiểm toán và kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khibáo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu Những đốitượng cụ thể (khoản mục, bộ phận…) được đánh giá là khả năng rủi ro lớn thìlượng bằng chứng kiểm toán viên phải thu thập càng nhiều và ngược lại Khoảnmục có độ rủi ro cao nhất khi hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động kém hiệu quả

là khoản mục vốn bằng tiền Trong điều kiện hệ thống kiểm soát hoạt động tốt,khoản mục có khả năng sai phạm là hàng tồn kho Để giảm thiểu rủi ro kiểm toánviên cần tăng cường kiểm tra chi tiết, và do đó tăng cường lượng bằng chứng thuthập

Như vậy rủi ro và trọng yếu có mối liên hệ ngược chiều nhau, nếu mức độtrọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại Kiểm toán viênphải quan tâm tới mối quan hệ này nhằm xác định số lượng bằng chứng, cácphương pháp kỹ thuật, thời gian và phạm vi thu thập bằng chứng

2 Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán

2.1 Kiểm tra

2.1.1 Kiểm tra vật chất

Là quá trình kiểm kê tại chỗ hay tham gia kiểm kê các loại tài sản củadoanh nghiệp, Đối tượng kiểm tra vật chất thường là hàng tồn kho, tài sản cốđịnh, tiền mặt, giấy tờ thanh toán có giá trị Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế

501 quy định: “ Nếu chuyên gia kiểm toán không có mặt tại thời điểm kiểm kêthực tế vì một lý do đột xuất, chuyên gia kiểm toán phải thực hiện kiểm kê hoặctham dự vào một buổi kiểm kê khác…

Mức độ áp dụng : Với những tài sản dễ xảy ra mất mất hoặc thiếu thì việckiểm kê vật chất phải thực hiện và được kiểm tra toàn diện Còn đối với những

Trang 8

loại tài sản khác thì tuỳ thuộc vào tầm quan trong, mức độ trọng yếu của từngloại mà tiến hành kiểm tra cho phù hợp.

Những yếu tố tác động đến bằng chứng thu được từ việc kiểm tra vật chất:

Độ tin cậy của bằng chứng vật chất phụ thuộc vào kỹ năng và hiểu biết của kiểmtoán viên thực hiện kiểm kê Nếu kiểm toán viên thiếu sự am hiểu về đánh giáchủng loại các tài sản cần thiết hoặc kiểm kê không cẩn thận thì bằng chứng thuthập được có thể có sự sai lệch

Ưu điểm của kiểm tra vật chất là một phương tiện trực tiếp của quá trìnhxác minh sự hiện hữu của tài sản có tồn tại hay không mang tính khách quan nhấtnên kỹ thuật kiểm kê cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất Hơn nữa kỹthuật thực hiện đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán

Tuy nhiên kỹ thuật kiểm kê bao giờ cũng có những hạn chế nhất định:

* Đối với một số tài sản cố định như đất đai, nhà xưởng, máy móc thiếtbị… kỹ thuật kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản đó, không cho biếtquyền sở hữu của đơn vị đối với tài sản đó

* Đối với hàng hoá, nguyên vật liệu tồn kho, kiểm tra vật chất chỉ cho biết

sự tồn tại về số lượng, còn chất lượng, tình trạng kỹ thuật, phương pháp tính giáđúng hay sai chưa thể hiện

Trong thực tế, nhiều công ty kiểm toán được mời sau khi đơn vị kiểm toán

đã kiểm kê xong, tạo nên sự rủi ro kiểm toán rất lớn và là một trong những yếu tốtạo ra sự khác biệt về kỳ vọng giữa kiểm toán viên và những người quan tâm.Một số mặt hàng khi về ta được coi là mới nhưng nó đã sử dụng bên nước ngoàinhiều năm song vẫn đuợc tính giá mới, nó còn rất mới đối với Việt Nam Kiểmtoán viên lúc này thực hiện kỹ thuật kiểm kê chỉ đạt được mức chính xác tươngđối mà thôi

Để phát huy tác dụng và nâng cao hiệu quả kinh tế công tác kiểm kê cầnthực hiện theo quy trình sau:

- Chuẩn bị kiểm kê phải căn cứ:

+ Vào mục tiêu quy mô thời hạn kiểm kê dể bố trí lực lượng và cơ cấunhân viên, thiết bị đo lường phù hợp và chính xác và cân nhắc khả năng cần đếncác chuyên gia Đây là yếu tố quyết định chất lượng của cuộc kiểm kê

+ Xem xét hệ thống thông tin và các thủ tục kiểm soát áp dụng đối với cáckhoản mục

+ Địa điểm lưu giữ kho và tầm quan trọng của từng địa điểm

+ Rủi ro tiềm tàng liên quan tới việc kiểm kê

+ Xem xét các hoạt động kiểm soát và các biện pháp do Ban giám đốc đưa

ra nhằm giảm thiểu rủi ro

+ Ghi chép những biến động trong suốt quá trình kiểm kê để xem xét việchạch toán sau này đối với nghiệp vụ trước và sau kiểm kê

Trang 9

+ Tìm hiểu nguyên nhân gây ra chênh lệch đáng kể giữa sổ kho và thực tếkiểm tra và những thủ tục điều chỉnh của khách hàng.

+ Xem xét tính chính xác của doanh mục cuối cùng của các tài khoản

- Kết thúc kiểm kê cần có biên bản kiểm kê trong đó phải nêu rõ chênhlệch, các nguyên nhân và xử lý cụ thể có đầy đủ chữ ký của những người thamgia cuộc kiểm kê Biên bản cần phải được đính kèm phiếu kiểm kê và bản kêchênh lệch về kết quả kiểm kê

- Ngoài ra kiểm tra vật chất đối với vật tư cần đi kèm với các chứng từkhác để chứng minh quyền sở hữu và giá trị tài sản đó

- Đối với hàng hoá được lưu giữ cho đơn vị thứ ba thì thông thường lấyxác nhận của bên thứ ba về số lượng, chất lượng hàng tồn kho do khách hàng giữ

hộ cho đơn vị thứ ba và cân nhắc

+ Bên thứ ba không có tính độc lập với khách hàng kiểm toán

+ Bên thứ ba cử người của họ tham gia vào quá trình kiểm kê Nếu bên thứ ba nhờ kiểm toán viên khác thì có thể thông qua kiểm toán viên này để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của bên thứ ba đối với kiểm kê kho và lưu trữ hànghoá

2.1.2 Kiểm tra tài liệu

Là quá trình xem xét, xác minh tài liệu của kiểm toán viên thông qua việckiểm tra đối chiếu các chứng từ, tài liệu, sổ sách kế toán liên quan có sẵn trongđơn vị để chứng minh thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính là đầy đủ vàtrung thực.Có hai thủ tục để xác minh tài liệu thông thường là: kiểm tra chứng từ

và kiểm tra kết luận * Kiểm tra chứng từ: là so sánh giữa số dư hoặc số phát sinhcủa các nghiệp vụ với chứng từ quá trình này có thể tiến hành theo 2 cách vớimuc tiêu hướng tới khác nhau:

Từ chứng từ gốc lên sổ sách: khi muốn chứng minh rằng nghiệp vụ phát

sinh đã được ghi đầy đủ Kiểm toán viên kiểm tra về thời gian ghi chép về nghiệp

vụ kinh tế nhằm thu thập bằng chứng cho thấy các nghiệp vụ phát sinh có đượcghi chép, phản ánh đầy đủ trong các sổ kế toán không có được ghi chép đúng kìhay không và kiểm toán viên thường tập trung vào kiểm tra các chứng từ phátsinh vào thời điểm cuối năm của các tài khoản doanh thu, thu nhập, chi phí muahàng, Đây là thời điểm “ nhạy cảm”, dễ có nguy cơ xảy ra sai sót nhất Ví dụ,doanh nghiệp thường giữ lại hoá đơn mua hàng, biên bản kiểm kê hàng hoá,chứng từ vận chuyển,… Nếu kiểm tra từ chứng từ lên sổ thì kiểm toán sẽ thuđược bằng chứng về các nghiệp vụ mua hàng phát sinh đã được ghi sổ đầy đủhay chưa

Từ sổ sách kiểm tra ngược về chứng từ gốc: khi muốn thu thập bằng

chứng về tính có thật của mọi nghiệp vụ được ghi sổ, kiểm toán viên sẽ tiến hànhlựa chọn các các nghiệp vụ ghi trong sổ chi tiết các tài khoản rồi kiểm tra ngượclại chứng từ gốc của các nghiệp vụ đó Các nghiệp vụ sẽ được lựa chọn dựa trênnguyên tắc các khoản phát sinh lớn hoặc các khoản bất thường Khi thực hiệnkiểm tra chứng từ gốc kiểm toán viên cần xem xét tính hợp lý, hợp lệ của chúng:Các chữ kí phê duyệt có đầy đủ có hợp lệ hay không, có được áp dụng theo cácbiểu mẫu do bộ tài chính quy định hay không,…

* Kiểm tra kết luận: từ một kết luận có trước, kiểm toán viên thu thập tàiliệu là cơ sở cho việc kết luận mà cần khẳng định.theo cách này kiểm toán viên

Trang 10

cần xác định phạm vi kiểm tra, để tìm được bằng chứng phù hợp với kết luận đã

có trước Ví dụ: kiểm tra các tài liệu, chế độ thuế riêng trong lĩnh vực hoạt độngcủa khách hàng để xem xét nghĩa vụ của doanh nghiệp với nhà nước

Phương pháp này cho ta những bằng chứng là tài liệu chứng minh tươngđối thuận tiện vì nó thường có sẵn, chi phí thu thập bằng chứng cũng thấp hơncác phương pháp khác Bằng chứng kiểm toán thu thập từ kỹ thuật này được gọi

là kiểu mẫu tài liệu chứng minh Đôi khi các kiểu mẫu này là bằng chứng hợp lýduy nhất nếu kiểm toán viên không tìm được các loại bằng chứng khác

Tuy nhiên khi thu thập bằng chứng theo phương pháp xác minh tài liệucũng có những hạn chế nhất định Kiểm toán viên không thể tiến hành kiểm tra,đối chiếu tất cả các sổ sách, chứng từ trong đơn vị được kiểm toán vì số lượngchứng từ sổ sách là rất lớn Hơn nữa việc kiểm tra tất cả các tài liệu sẽ làm mấtthờì gian, tốn kém chi phí mà thật sự không cần thiết, ảnh hưởng tới tính hiệu quảkinh tế đối với công ty kiểm toán Do vậy khi kiểm tra, xác minh tài liệu kiểmtoán viên tiến hành theo các bước sau:

- Kiểm toán viên chọn mẫu kiểm toán, mẫu này có thể được chọn trênnguyên tắc số lớn hoặc có những biến động thất thường Quá trình lấý mẫu kiểmtoán có thể được thực hiện thông qua các phương pháp chọn mẫu đã biết: Chọnmẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ…

- Kiểm toán viên tiến hành kiểm tra, đối chiếu các tài liệu một cách chitiết

Mặt khác độ tin cậy của tài liệu phụ thuộc vào nguồn gốc của bằng chứng; các tàiliệu bị người cung cấp sửa chữa, tẩy xóa, giả mạo làm mất tính khách quan, nênkiểm toán viên cần có sự kiểm tra, xác minh thông qua các phương pháp kỹ thuậtkhác

Kỹ thuật xác minh tài liệu rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộckiểm toán Bằng chứng thu được đáng tin cậy, tuy nhiên bản thân bằng chứngchưa thể hiện tính đầy đủ của bằng chứng do vậy cần kết hợp với các kỹ thuậtkhác Mặt khác, tính hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan đó làtrình độ và kinh nghiệm của kiểm toán viên

2.2 Quan sát

Là việc theo dõi một sự hiện tượng, một chu trình hoặc một thủ tục dongười khác thực hiện Việc quan sát được thực hiện bởi các giác quan của kiểmtoán viên nhằm đánh giá một phạm vi lớn các sự việc.Ví dụ, kiểm toán viên quansát việc kiểm kê thực tế hoặc quan sát các thủ tục kiểm soát do đơn vị tiến hành.Bên cạnh đó, để đảm bảo rằng bằng chứng thu thập được là chính xác, kiểm toánviên sẽ thực hiện phỏng vấn kế toán trưởng về những xử lý của đơn vị nếu xảy ranhững sai sót về sự chênh lệch giữa sổ sách kế toán với kiểm kê thường kỳ; hoặcphỏng vấn giám đốc đối với những sai sót trong hệ thống kiểm soát nội bộ Khitiến hành kĩ thuật quan sát để thu thập thông tin quan sát, kiểm toán viên cần phảithường xuyên ghi chép các thông tin quan sát được cùng với những nhận xét,đánh giá Việc quan sát thực tế sẽ cung cấp cho kiểm toán viên có một cái nhìn

về thực thi công việc tại doanh nghiệp, nhưng nó chỉ đúng ở thời điểm điểm quansát mà không chắc có thực hiện tại thời điểm khác không

Trang 11

2.3 Điều tra - Phỏng vấn

Phỏng vấn là việc tìm kiếm thông tin từ những người có hiểu biết bêntrong hoặc ở bên ngoài đơn vị phỏng vấn được thực hiện bằng lời nói hoặc vănbản sẽ cung cấp những thông tin chưa có, hoặc những thông tin bổ sung để củng

Nghe trả lời câu hỏi

Đánh giá trả lời câu hỏi

Hỏi thêm câu hỏi

Tóm tắt những điểm chính

Ghi chép vào tài liệu làm việc

2.3.1 Lập kế hoạch phỏng vấn

Kiểm toán viên phải xác định mục đích, nội dung, đối tượng phỏng vấn,thời gian địa điểm phỏng vấn Kiểm toán viên chuẩn bị câu hỏi cho qua trìnhphỏng vấn để phù hợp với mục tiêu kiểm toán nhằm thu được bằng chứng kiểmtoán có chất lượng cao nhất, tránh sự lãng phí thời gian cho việc phỏng vấn

2.3.2 Thực hiện phỏng vấn

Kiểm toán viên giới thiệu lý do cuộc phỏng vấn, trao đổi về những trọngđiểm đã xác định Trong giai đoạn kỹ thuật nêu câu hỏi là rất quan trọng Các câuhỏi cần ngắn gọn, dể hiểu, đúng mục đích, tạo tâm lý thoải mái cho người trả lời.Kiểm toán viên thường dùng hai loại câu hỏi cơ bản đó là câu hỏi “đóng” và câuhỏi “mở” Câu hỏi “mở” giúp kiểm toán viên thu được câu trả lời chi tiết và đầyđủ; được sử dụng khi kiểm toán viên muốn thu thập thêm thông tin Thườngdùng cụm từ “thế nào”, “cái gì”, “tại sao”? Câu hỏi “đóng” giới hạn câu trả lờicủa người phỏng vấn, được sử dụng khi kiểm toán viên muốn xác nhận một vấn

đề đã nghe hay biết Các từ khoá thường dùng: “có hay không”, “tôi biết rằng”.Khi phỏng vấn, để khuyến khích khách hàng cung cấp thông tin, kiểm toán viênnên chú ý lắng nghe những điều khách hàng nói, có như thế mới tạo được khôngkhí để buổi phỏng vấn đạt được kết quả mong muốn Sau khi đã thu thập đượccác thông tin cần thiết, kiểm toán viên nhất thiết phải cẩn thận để không đánh giámức độ tin cậy và chính xác của các thông tin đó Để làm được việc này, trướchết đòi hỏi kiểm toán viên phải có một trình độ am hiểu nhất định về vấn đề đangphỏng vấn, thêm vào đó là khả năng chú ý và kết nối các thông tin để nhận ra sựbất thường nếu có Khi phỏng vấn, kiểm toán viên phải đạt được mục đích là thuthập đầy đủ thông tin cần thiết để làm bằng chứng, vì vậy tuỳ theo từng trườnghợp mà kiểm toán viên phải nêu thêm nhiều câu hỏi ngoài bảng câu hỏi đã thiếtlập trước

Trang 12

2.3.3 Kết thúc phỏng vấn

Kiểm toán viên chủ ý đến trình độ của người phỏng vấn để rút ra kết luậnđúng đắn trên cơ sở bằng chứng thu được phục vụ cho mục đích kiểm toán Kiểmtoán viên thường kết lụân từng phần và cuối cùng là tóm tắt phần các điểm chính

Tuy nhiên bằng chứng thu được từ kĩ thuật nay có độ tin cậy không cao,mang tính chủ quan vì đối tượng phỏng vấn chủ yếu là người trong đơn vi; chấtlượng bằng chứng cũng phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của người được hỏi.Phương pháp này thực hiện chủ yếu củng cố cho các phương pháp khác

sự dàn xếp, thoả thuận giữa ban giám đốc với bên thứ ba Do đó, chúng khôngthể dùng trong mọi trường hợp mà chúng có thể áp dụng được

Việc sử dụng hay không sử dụng thư xác nhận phụ thuộc vào nhu cầuđáng tin cậy của tình huống cũng như bằng chứng có sẵn trong phương án Nóichung các thư xác nhận không được dùng để xác minh các nghiệp vụ kinh tế cánhân giữa các tổ chức Ví dụ, như các nghiệp vụ bán hàng, vì kiểm toán viên cóthể sử dụng chứng từ cho mục đích này Tương tự, các xác nhận ít được sử dụngtrong kiểm toán tài sản cố định vì chúng có thể xác minh đầy đủ bằng tài liệuchứng minh và kiểm tra vật chẩt

Thư xác nhận thường được kiểm toán viên soạn sau khi đã có ký duyệtcủa đơn vi cần kiểm toán được gửi trực tiếp cho đối tượng cần xác nhận sau khixác nhận, song gửi trực tiếp cho kiểm toán viên Để được xem là bằng chứngđáng tin cậy, các xác nhận phải được kiểm soát bởi kiểm toán viên từ khâu chuẩn

bị cho đến khi chúng được gửi lại Nếu khách hàng kiểm soát khâu chuẩn bị cácthư xác nhận, thực hiện việc gửi đi hoặc nhận vè các bản trả lời, kiểm toán viên

sẽ mất quyền kiểm soát, cũng như tính độc lập và độ tin cậy của bằng chứngcũng giảm xuống

Kỹ thuật lấy thư xác nhận có thể được thực hiện theo hai hình thức, hìnhthức gửi thư xác nhận phủ định và gửi thư xác nhận khẳng định:

Gửi thư xác nhận dạng phủ định: kiểm toán viên yêu cầu người xác nhậngửi thư phản hồi nếu có sai khác giữa thực tế với thông tin kểm toán viên nhờxác nhận

Gửi thư xác nhận dạng khẳng định: kiểm toán viên yêu cầu người xácnhận thư phản hồi cho tất cả các thư xác nhận dù thực tế có trùng khớp với thôngtin mà kiểm toán viên quan tâm.Hình thức này có độ tin cậy cao hơn cho kỹ thuậtxác nhận, nhưng chi phí lại cao

Khi gửi thư xác nhận kiểm toán viên cần chủ ý:

 Đặc điểm khoản mục đối tượng thông tin cần xác nhận

 Cân nhắc khả năng nhận được thư trả lời

 Cân nhắc đối tượng gửi thư xác nhận để chọn và gửi thư

Trang 13

 Hình thức gửi thư xác nhận

Một số các thông tin thường được gởi thư xác nhận

2.5 Tính toán

Là việc kiểm tra chính xác về mặt toán học của số liệu trên chứng từ, sổ

kế toán, Báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc thực hiện cáctính toán độc lập của kiểm toán viên Phương pháp được kiểm toán viên áp dụngkhá phổ biến trong các cuộc kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng về tính chínhxác số học của các khoản mục trên BCTC khi thực hiên kiểm tra chi tiết số dưcủa các khoản mục Thông qua việc cộng dồn các số dư, số phát sinh theo tháng,quý của từng tài khoản theo đối ứng bên Nợ, bên Có để xác định số dư cuối kỳcủa các tài khoản được kiểm tra Kiểm toán viên còn thu thập bằng chứng về sựchính xác của các phép tính trên hoá đơn, phiếu nhập, xuất kho,… Các số liệusau khi dùng kỹ thuật tính toán loại sẽ được đối chiếu với số liệu trên các sổ chitiểt, sổ tổng hợp Nếu có sự chênh lệch kiểm toán viên cần phỏng vấn kế toántrưởng, kế toán phụ trách từng phần hành để tìm hiểu rõ nguyên nhân của sự saisót này Các bảng số liệu được coi là một bằng chứng về sự chính xác của số liệutrên Báo cáo tài chính của đơn vị Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xácthuần tuý về mặt số học không chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được

áp dụng Do đó kỹ thuật này thường được áp dụng cùng với các kỹ thuât khác

Ưu điểm của kỹ thuật này là thu được bằng chứng có độ tin cậy cao về mặt số học, song nó còn có nhiều các phép tính và phân bổ đôi khi khá phức tạp, tốn thời gian đặc biệt là các cuộc kiểm toán có quy mô lớn, loại hình đa dạng…

2.6 Kỹ thuật phân tích

Là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm

ra những xu hướng, biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với các thôngtin có liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến Đây là kỹnăng bao trùm nhất để khai thác băng chứng kiểm toán trong tất cả các giai đoạnkiểm toán: Giai đoạn lập kế hoach, giai đoạn thực hành, giai đoạn kết thúc kiểmtoán, và được áp dụng đối với tất cả chu trình kiểm toán tài chính

Phân tích là một khả năng chủ yếu của kiểm toán viên để tìm ra quan hệbất thường hay những thay đổi trong thực tế khi tiến hành thiết lập các giả thiết

Tài sản

Tiền gửi ngân hàng

Các khoản phải thu

Hàng tồn kho thuộc sở hữu của bên

Người bánNgân hàng, cá thể cho vay

Trang 14

về sự liên hệ giữa các số liệu, ước tính số liệu cần kiểm tra và so sánh với số liệuthực tế Đối với một số mục tiêu kiểm toán nhất định hoặc số dư tài khoản nhỏ,chỉ kỹ thuật phân tích thôi cũng đủ bằng chứng Tuy vậy, đối với hầu hết trườnghợp, việc có thêm bằng chứng ngoài kỹ thuật phân tích cũng cần thiết thoả mãnquy định bằng chứng có giá trị và đầy đủ Kỹ thuật phân tích cũng được yêu cầuđối với các hợp đồng về dịch vụ xem xét lại

Quy trình phân tích được sử dụng cho các mục đích sau:

- Giúp kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tụckiểm toán khác

- Quy trình phân tích được thực hiện như là một thử nghiệm cơ bản khi việc sửdụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt rủi

ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính;

- Quy trình phân tích để kiểm tra toàn bộ báo cáo tài chính trong khâu soát xétcuối cùng của cuộc kiểm toán

Quy trình phân tích áp dụng khi lập kế hoạch kiểm toán: KTV phải áp

dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tìnhhình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro Quy trìnhphân tích giúp KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tụckiểm toán khác Quy trình phân tích áp dụng trong quá trình lập kế hoạch kiểmtoán được dựa trên các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính (Ví dụ: Mốiquan hệ giữa doanh thu với số lượng hàng bán hoặc số lượng sản phẩm sản xuấtvới công suất máy móc, thiết bị )

Quy trình phân tích trong thử nghiệm cơ bản: Trong quá trình kiểm toán,

nhằm giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tàichính, KTV phải thực hiện quy trình phân tích hoặc kiểm tra chi tiết hoặc kết hợp

cả hai Nhằm xác định thủ tục kiểm toán thích hợp cho một mục tiêu kiểm toán

cụ thể, KTV phải xét đoán hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán Khi áp dụng quytrình phân tích, kiểm toán viên phải xem xét các yếu tố sau:

- Mục tiêu của phân tích và độ tin cậy của kết quả thu được;

- Đặc điểm của đơn vị và mức độ chi tiết hoá thông tin (Ví dụ: Quy trình phântích áp dụng đối với thông tin tài chính của từng đơn vị thành viên sẽ hiệu quảhơn là chỉ áp dụng đối với thông tin tổng hợp của các đơn vị );

- Khả năng sẵn có của các thông tin tài chính và phi tài chính;

- Độ tin cậy của các thông tin (Ví dụ: Sự đúng đắn của các kế hoạch hoặc dự toán );

- Tính thích đáng của các thông tin (Ví dụ: Kế hoạch được thiết lập có tính khảthi hơn là kế hoạch chỉ là các mục đích phải đạt được);

- Nguồn gốc thông tin (Ví dụ: Thông tin từ bên ngoài thường có độ tin cậy caohơn thông tin do đơn vị cung cấp );

- Khả năng so sánh của thông tin (Ví dụ: Thông tin do đơn vị cung cấp có thể sosánh với thông tin của đơn vị khác trong cùng ngành );

- Những hiểu biết có được từ cuộc kiểm toán các kỳ trước cùng với hiểu biết vềtính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ và các vấn đềnảy sinh đã dẫn đến các bút toán điều chỉnh trong những kỳ trước

Quy trình phân tích áp dụng trong giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán: Trong giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán, KTV phải áp dụng quy

Trang 15

trình phân tích để có kết luận tổng quát về sự phù hợp trên các khía cạnh trọngyếu của báo cáo tài chính với những hiểu biết của mình về tình hình kinh doanhcủa đơn vị Quy trình phân tích giúp KTV khẳng định lại những kết luận có đượctrong suốt quá trình kiểm tra các tài khoản hoặc các khoản mục trên báo cáo tàichính Trên cơ sở đó giúp KTV đưa ra kết luận tổng quát về tính trung thực, hợp

lý của toàn bộ báo cáo tài chính Tuy nhiên, quy trình phân tích cũng chỉ ranhững điểm yêu cầu KTV phải thực hiện công việc kiểm toán bổ sung

Quy trình phân tích được áp dụng cho các thông tin có thực và có mốiquan hệ lẫn nhau Kết quả phân tích các mối liên hệ cung cấp cho kiểm toán viêncác bằng chứng kiểm toán về sự đầy đủ, tính chính xác, tính hợp lý về các dữ liệu

do hệ thống kế toán lập ra Độ tin cậy của quy trình phân tích phụ thuộc vào sựđánh giá của kiểm toán viên về rủi ro mà quy trình phân tích không phát hiệnđược (Ví dụ: Kết quả phân tích không thể hiện sự biến động hay chênh lệch lớnnhưng trong thực tế vẫn có sai sót trọng yếu ) Mức độ tin cậy vào kết quả củaquy trình phân tích phụ thuộc vào các nhân tố sau:

- Tính trọng yếu của các tài khoản hoặc loại nghiệp vụ (Ví dụ: Hàng tồn kho làtrọng yếu thì không chỉ dừng lại ở quy trình phân tích mà còn thực hiện một sốthủ tục kiểm tra chi tiết khác trước khi kết luận Ngược lại khoản mục nợ phảithu được coi là không trọng yếu thì có thể chỉ căn cứ vào kết quả phân tích để kếtluận );

- Các thủ tục kiểm toán khác có cùng một mục tiêu kiểm toán (Ví dụ: Thủ tụckiểm tra nghiệp vụ thu tiền sau ngày khoá sổ của các khoản phải thu sẽ khẳngđịnh hoặc phủ nhận kết quả của quy trình phân tích nợ phải thu theo thời hạn, );

- Độ chính xác có thể dự kiến của quy trình phân tích (Ví dụ: Kiểm toán viênthường so sánh, phân tích tỷ lệ lãi gộp giữa năm nay với năm trước hơn là sosánh các chi phí bất thường giữa năm trước với năm nay );

- Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát (Ví dụ: Nếu việc kiểm soát nội bộcủa bộ phận bán hàng là yếu kém thì nên dựa vào kiểm tra chi tiết hơn là dựa vàoquy trình phân tích )

Đồng thời, KTV phải kiểm tra lại các thủ tục kiểm soát để tạo ra các thôngtin sử dụng trong quy trình phân tích Trường hợp thủ tục kiểm soát có hiệu quảthì KTV sẽ tin tưởng hơn vào độ tin cậy của các thông tin và kết quả phân tíchcũng tin cậy hơn KTV phải kiểm tra đồng thời các thủ tục kiểm soát của kế toánvới thủ tục kiểm soát thông tin phi tài chính (Ví dụ: Trường hợp đơn vị kiểm soátviệc lập hoá đơn bán hàng đồng thời với kiểm soát số lượng bán hàng thì kiểmtoán viên cũng kiểm tra đồng thời thủ tục kiểm soát hoá đơn bán hàng và kiểmsoát số lượng hàng bán)

Trường hợp quy trình phân tích phát hiện được những chênh lệch trọngyếu hoặc mối liên hệ không hợp lý giữa các thông tin tương ứng, hoặc có chênhlệch lớn với số liệu dự tính, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục điều tra đểthu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp Điều tra các khoản chênh lệchtrọng yếu hay mối liên hệ không hợp lý thường bắt đầu bằng việc yêu cầu Giámđốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán cung cấp thông tin, tiếp theo

là thực hiện các thủ tục:

Trang 16

- Kiểm tra lại những câu trả lời của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) bằng cáchđối chiếu với những bằng chứng kiểm toán khác đã thu được trong quá trìnhkiểm toán;

- Xem xét, thực hiện các thủ tục kiểm toán khác nếu Giám đốc (hoặc người đứngđầu) vẫn không thể giải thích được, hoặc giải thích không thoả đáng

Các phân tích thường sử dụng gồm:

So sánh giữa các kỳ: kiểm toán viên so sánh các thông tin tài chính kỳ này

so với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau Cụ thể: so sánh giữa các số dư, sốphát sinh của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ với nhau Thí dụ, quá trình

so sánh tỷ lệ số dư trong năm hiện hành với năm trước đó, phân tích xu hướngbiến đổi của chi phí bán hàng của doanh nghiệp, nếu chi phí này tăng trongnhững năm trước cùng với mức tăng theo tỷ lệ doanh thu thì có nghĩa doanh thubán hàng tăng dẫn tới chi phí bán hàng tăng theo, nếu doanh thu không tăng màchi phí bán hàng tăng thì kiểm toán viên phải đặt sự nghi ngờ về tính hợp lý cáckhoản chi phí, cần thu thập bằng chứng để đưa ra kết luận

Nhược điểm của kỹ thuật này chỉ áp dụng được các thông tin có thể sosánh được tức là các chỉ tiêu khoản mục có cùng nội dung và phương pháp tính Ngoài ra không thể xác định được chính xác ảnh hưởng của các tác động do hoạtđộng khác hoặc môi trường của đơn vị vượt ra khỏi thời điểm so sánh

So sánh giữa giá trị thực tế với giá trị hạch toán: So sánh các chỉ tiêu giữa

các số liệu thực tế với số hạch toán hay kế hoạch, ngân sách là cơ sở để đo lường

và đánh giá rủi ro hoạt động Theo đó kiểm toán viên có thể thấy rõ được sai sóttrong báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn về sản xuất kinh doanh cầnxem xét thẩm định Thí dụ, sự chênh lệch quá lớn giữa giá thành thực tế với giáthành kế hoạch , giữa giá trị thực tế với kế hoạch…

Khi sử dụng phương pháp này, kiểm toán viên xác định xem dự toán đãđược lập một cách xác đáng hay chưa, và có mục tiêu hợp lý hay không Nếungân sách lập một cách cứng nhắc, không hợp lý thì phải xem xét lại

So sánh số thực tế của đơn vị so với chỉ tiêu bình quân của ngành: Thông

thường, trong phạm vi nhất định các chỉ tiêu của đơn vị được kiểm toán có sựtương đồng với các chỉ tiêu về mức lợi nhuận, hệ số quay vòng vốn, hàng tồnkho, hệ số giá thành Nguồn gốc từ bên ngoài của số liệu ngành làm cho nó trởthành một thước đo tin cậy hơn là so sánh đơn thuần với số dự toán hoặc các tiêuchuẩn do đơn vị kiểm toán đặt ra

Tuy nhiên, chỉ tiêu của ngành thường là các chỉ tiêu trung bình và dựa trênmột phạm vi rộng các mức hoạt động có thể xảy ra, chứa đựng những yếu tốkhông đồng đều giữa các đơn vị Do đó, so sánh với các chỉ tiêu của ngànhkhông thể kết luận hoàn toàn được, mà cần phải phân tích và giải thích cẩn thậncác yếu tố thuộc về quy mô, cách thức tổ chức quản lý, phương pháp hạch toánkhác nhau giữa các đơn vị trong ngành

So sánh dựa vào mối liên hệ giữa các tài khoản: Hệ thống thanh toán làm

cho các tài khoản tự động liên hệ lại với nhau Thí dụ : Tài khoản chi phí lãi vay

có khớp được với tài khoản vốn vay Ngoài ra, một vài tài khoản có thể liên hệtheo cách khác Giả sử chi phí hoa hồng có thể là một tỷ lệ phần trăm cụ thể củadoanh thu và các khoản nợ khó đòi không thể vượt quá doanh thu bán hàng trả

Trang 17

chậm Bằng cách kiểm tra mối quan hệ qua lại giữa các tài khoản, kiểm toán viên

có thể phát hiện các sai sót thuộc về xử lý kế toán

So sánh với số liệu hoạt động: Các số liệu do bộ phận điều hành hoạt động

dưa ra các thông tin có giá trị so sánh với các số liệu của báo cáo kế toán Ví dụ:

Số lượng nhân viên so sánh với số tiền lương, khối lượng sản phẩm so sánh vớigiá thành… Các gian lận như ghi nhận hàng tồn kho vượt quá khả năng sản xuất,chí phí lương vượt qua sản lượng tiêu thụ có thể phát hiện bằng phương pháp sosánh này Thậm chí ngay từ khi không có những gian lận đó, phương pháp kiểmtoán này vẫn giúp kiểm toán viên xác định chất lượng của hệ thống kiểm soat nội

bộ và bộ máy kế toán đơn vị

So sánh với các số liệu phi tài chính: Các so cánh phi tài chính và xu

hướng thường có giá trị với kiểm toán viên như: mức thay đổi nhân viên, số liệuthống kê sản xuất, cung cấp một quan điểm toàn diện về đơn vị được kiểm toán.Các thông tin như vậy luôn bổ sung tính xác đáng cho các thông tin tài chính.Các thông tin có nguồn gốc từ bên ngoài các dữ liệu ngành hoặc kinh tế có bổsung hữu ích cho thủ tục phân tích Ví dụ: Đối với một đối tượng kiểm toánthuộc ngành dịch vụ dụ lịch, thì sự thay đổi thời tiết sẽ có giá trị khi kiểm toánviên đánh giá tính hợp lý của những biến đổi doanh thu

Thủ tục phân tích được sử dụng rộng rãi để đánh giá thông tin nhằm thuthập bằng chứng kiểm toán Chúng được coi là phương pháp hiệu quả cao, chiphí thấp, thời gian thu thập ít nhưng bằng chứng lại có tính chính xác cao và cógiá trị số liệu kế toán thể hiện tính bao quát và không rơi vào các nghiệp vụ cụthể Khi một thủ tục phân tích không nêu lên được những biến động bất thườngthì có nghĩa là khả năng sai phạm của các khoản mục này được đánh giá là khôngtrọng yếu có thể bỏ qua Do đó, hầu hết kiểm toán viên thay thế các kỹ thuậtkhác bằng các kỹ thuật phân tích bất cứ khi nào có thể làm được Nếu có thể thaythế hoặc giảm bớt sự xác minh bằng phân tích thì chi phí sẽ giảm đáng kể Tuynhiên khi áp dụng kỹ thuật này kiểm toán viên cần lưu ý tới một số điểm:

 Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu được so sánh: việc phân tích sẽ không có

ý nghĩa khi các chỉ tiêu phân tích không có mối quan hệ Ngoài ra kỹ thuật nàychỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu đồng chất về nội dung và phương pháp tính

 Đối với những khoản mục hay chỉ tiêu trọng yếu, hay hệ thống kiểmsoát nội bộ yếu kém, kiểm toán viên không thể chỉ sử dụng kỹ thuật phân tíchđơn thuần mà cần kết hợp các kỹ thuật khác để tìm được bằng chứng

 Đánh giá chênh lệch khi phân tích sẽ là sai lầm nếu kiểm toán viênkhông hiểu biết gì về những mức chuẩn ngành kinh doanh của đơn vị được kiểmtoán

Trang 18

PHẦN II THỰC TẾ VẬN DỤNG KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC THỰC HIỆN

  

1 Giới thiệu chung về Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC

Tên công ty: Công ty Kiểm toán và kế toán AAC

Tên giao dịch đối ngoại: Auditing and Accounting Company

Tên viết tắt: AAC

Logo:

Công ty Kiểm toán và kế toán AAC là một Công ty kiểm toán độc lập hoạtđộng trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính Với quá trình hoạtđộng trên 15 năm, hiện nay Công ty đang có một đội ngũ kiểm toán viên và nhânviên chuyên nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tàichính - kế toán

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Kiểm toán và kế toán AAC

Công ty Kiểm toán và kế toán AAC là công ty kiểm toán độc lập trựcthuộc Bộ Tài Chính, tiền thân là công ty kiểm toán DAC, được thành lập trên cơ

sở sát nhập hai chi nhánh công ty kiểm toán đóng tại Đà Nẵng, là một trongnhững công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam, được thành lập trên cơ sở quyếtđịnh số 194/TC/TCCB ngày 01 tháng 04 năm 1993 và Quyết định số 106/TC-BTC ngày 13 tháng 02 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Và hiện nay công

ty AAC đã được kết nạp trở thành thành viên của tổ chức Polaris, là tổ chức kiểmtoán quốc tế

Công ty AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất

cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành cóquy chế riêng về việc lựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện

Hiện tại, công ty AAC có đội ngũ gồm 100 nhân viên, trong đó có khoảng

27 người đã có chứng chỉ kiểm toán viên độc lập Đội ngũ kiểm toán viên củaAAC được đào tạo có hệ thống ở Việt Nam, Anh, Bỉ, Pháp, Ai-len, Úc và cónhiều năm kinh nghiệm thực tiễn về kiểm toán và tư vấn tài chính - kế toán - thuế

ở Việt Nam và quốc tế

AAC có 100% đội ngũ kiểm toán viên và trợ lỹ kiểm toán viên cao cấpđược đào tạo trực tiếp bởi các chuyên gia cao cấp về kiểm toán của Cộng đồngChâu Âu thông qua chương trình hợp tác về kiểm toán và kế toán của dự ánEURO – TAPVIET do Cộng đồng Châu Âu tài trợ

Nhờ có đội ngũ chuyên nghiệp chất lượng cao, ý thức trách nhiệm, có đạođức nghề nghiệp trong sáng nên trong quá trình hoạt động, AAC chưa hề để xảy

Trang 19

ra bất kỳ sai sót, rủi ro nào cho khách hàng AAC luôn được các nhà đầu tư, các

cơ quan chức năng tín nhiệm và đánh giá cao về chất lượng phục vụ

Liên tiếp trong hai năm 2007 và 2008, AAC được Hội đồng trao giải “ Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services” - Bộ Công Thương bình chọn là một trong 05 công ty kiểm toán hoạt động tốt nhất tại Việt nam và được trao giải/cup

“Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services”

1.2 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của công ty Kiểm toán và kế toán AAC

1.2.1 Mục tiêu hoạt động

Mục tiêu hoạt động của công ty AAC là giúp khách hàng và những ngườiquan tâm bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ, cung cấp cho họ những thông tin đíchthực và cần thiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp, đồng thờiđưa ra các quyết định quản lý phù hợp với thực tiễn

Công ty AAC không ngừng hoạt động nhằm góp phần phát hiện và ngănngừa những rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp được thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

Công ty AAC thực hiện kiểm toán theo đúng các Nguyên tắc, Chuẩn mựcKiểm toán Việt Nam và thông lệ kiểm toán quốc tế, phù hợp với những quy địnhhiện hành về hoạt động kiểm toán của Nhà nước Việt Nam

1.2.2 Nguyên tắc hoạt động

Công ty AAC hoạt động theo phương châm: độc lập, khách quan, trungthực và bí mật số liệu của khách hàng, đó cũng chính là lời cam kết của AAC vớikhách hàng

1.3 Những dịch vụ do công ty Kiểm toán và kế toán AAC cung cấp

Công ty Kiểm toán và kế toán AAC cung cấp các dịch vụ sau: Kiểm toán,

kế toán, tư vấn Thuế, tư vấn tài chính và quản lý, dịch vụ đào tạo và tuyển dụng,dịch vụ Tin học Trong đó:

Dịch vụ Kiểm toán:

Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Kiểm toán sau:

- Kiểm toán báo cáo tài chính

- Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành

- Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án

- Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế

- Kiểm toán hoạt động

- Kiểm toán tuân thủ

- Kiểm toán nội bộ

- Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành

- Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thoả thuận trước

Dịch vụ Kế toán:

Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Kế toán sau:

- Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán

- Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán

- Lập các Báo cáo tài chính định kỳ

- Chuyển đổi các Báo cáo tài chính được lập theo VAS, IAS

- Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán

Trang 20

Dịch vụ tư vấn Thuế:

Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tư vấn Thuế sau:

- Tư vấn việc áp dụng chính sách Thuế

- Tư vấn công tác kê khai và quyết toán thuế

- Tư vấn về các thủ tục hoàn thuế và khiếu nại về thuế

- Hỗ trợ việc cập nhật thông tin về thuế và thuế quan

Dịch vụ Tư vấn tài chính và quản lý:

Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tư vấn tài chính và quản lý sau:

- Tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp

- Tư vấn thiết lập cơ chế tài chính nội bộ

- Tư vấn việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán – tài chính phù hợp với yêucầu quản lý

- Soát xét báo cáo tài chính

- Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá hoặc phá sản doanh nghiệp

- Thẩm định tình hình tài chính và giá trị tài sản tranh chấp, kiện tụng

Dịch vụ Đào tạo và Tuyển dụng:

Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tư Đào tạo và Tuyển dụng sau:

- Đào tạo, bồi dưỡng kế toán và kiểm toán viên nội bộ

- Cập nhật kiến thức tài chính, kế toán, kiểm toán

- Hỗ trợ tuyển dụng nhân viên kế toán và kiểm toán viên nội bộ

Dịch vụ Tin học:

Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tin học sau:

- Tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán tài chính và kếtoán quản trị

- Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học, cài đặt hệ thống thông

tin quản lý

1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty Kiểm toán và kế toán AAC

Công ty AAC luôn luôn xem yếu tố con người là tài sản lớn nhất và quantrọng nhất trong định hướng hoạt động của mình, công ty luôn coi trọng việc pháttriển và nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên và chuyên viên kỹ thuật

Là một trong số ít công ty kiểm toán đầu tiên ra đời và hoạt động tại ViệtNam, hoạt động của AAC không ngừng phát triển và đã khẳng định được vị trí củamình trên thị trường cung cấp các dịch vụ chuyên ngành kiểm toán, kế toán và tưvấn tài chính Có được thành công đó là nhờ vào chính sách đầu tư phát triển độingũ kiểm toán viên và kỹ thuật viên có năng lực chuyên môn cao, có đạo đức nghềnghiệp trong sáng Đến nay AAC đã xây dựng được đội ngũ với hơn 100 cán bộnhân viên, với 100% đã tốt nghiệp đại học và trên đại học, trong đó có khoảng 27người được công nhận kiểm toán viên cấp quốc gia

Bản lĩnh nghề nghiệp, hiệu quả trong công việc và sự thiện chí của nhân viêntrong quá trình phục vụ khách hàng luôn được khách hàng đánh giá cao, góp phầntạo ra mối quan hệ hợp tác tốt đẹp và bền vững giữa AAC và khách hàng

Trang 21

1.4.1 Sơ đồ tổ chức của công ty Kiểm toán và kế toán AAC

a Tổ chức bộ máy của AAC:

: Quan hệ chỉ đạo: Quan hệ phối hợp

b Tổ chức nhân sự tại công ty AAC:

Những người làm công tác chuyên môn của công ty bao gồm: Ban giám đốc,Trưởng phó phòng, Kiểm toán viên chính, Trợ lý kiểm toán viên cấp 3 (trợ lý caocấp), Trợ lý kiểm toán viên cấp 2, Trợ lý kiểm toán viên cấp 3 (trợ lý mới vào nghề)

và các nhân viên thử việc có liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm toán

Tất cả những người làm công tác chuyên môn phải thường xuyên nâng caonghiệp vụ của mình thông qua việc kết hợp đào tạo tại chỗ với đào tạo chính khoá

và các chương trình tự học Thông qua đó, tuỳ thuộc vào năng lực làm việc, khảnăng đảm đương công việc mới của mỗi nhân viên mà họ có thể được bổ nhiệmlên giữ các chức vụ cao hơn trong công ty

1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận, cá nhân

Ban giám đốc:

Giám đốc là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệmtrước Bộ trưởng Bộ tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của côngty

Các Phó giám đốc chịu trách nhiệm giải quyết các công việc cụ thể theo

sự phân công nhiệm vụ của Giám đốc về nhân lực, hành chính, khách hàng vàcác lĩnh vực nghiệp vụ Phó giám đốc chịu trách nhiệm trước Giám đốc và phápluật Nhà nước về những vấn đề được phân công và uỷ quyền

Kế toán trưởng:

Kế toán trưởng có nhiệm vụ giúp giám đốc công ty tổ chức thực hiện côngtác kế toán, thống kê tài chính và kiểm soát nội bộ, có các quyền và nhiệm vụtheo quy định của pháp luật như: Lập báo cáo tài chính, công khai số liệu tàichính, tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản kế toán, ghi chép,lưu trữ chứng từ, hồ sơ kế toán đúng theo đặc điểm kinh doanh của công ty; chịutrách nhiệm chuẩn bị tất cả những thông tin quản lý, tài chính, lập các kế hoạch vềtài chính, dự trù ngân sách và các vấn đề liên quan đến hệ thống kế toán; quản lýtiền mặt, tính lương, thực hiện công việc thanh toán, quan hệ với ngân hàng, kháchhàng…

Ban Giám Đốc

Phòng

Hành Chính

Phòng Kiểm Toán BCTC

Phòng Kiểm Toán XDCB

Phòng Tư Vấn – Đào Tạo

Trang 22

Trưởng, phó phòng:

Ở mỗi phòng chuyên môn có một trưởng phòng và một phó phòng.Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty và đóng vai trò quantrọng trong nhiều lĩnh vực hoạt động của công ty, đặc biệt là về các vấn đề vềnhân sự, thực hiện việc phối hợp hoạt động và đảm nhiệm các công việc hànhchính Các trưởng, phó phòng giữ vai trò lãnh đạo phòng và có chức năng như làmột cầu nối giữa ban giám đốc và nhân viên trong công ty

Trưởng phòng có chức năng quan trọng đối với hoạt động của công tytrong việc tạo ra một môi trường làm việc đầy tính chuyên môn, góp phần huyđộng tối đa nguồn nhân lực của công ty

Phó phòng làm việc theo sự chỉ đạo của trưởng phòng, thay mặt trưởngphòng điều hành toàn bộ hoạt động của trưởng phòng trong thời gian trưởngphòng đi vắng, và thực hiện các công việc do trưởng phòng uỷ quyền

Kiểm toán viên chính:

Là những người được cấp giấy phép hành nghề hoặc giấy chứng nhận cógiá trị tương đương Kiểm toán viên chính có trách nhiệm giám sát công việc củacác trợ lý, nhân viên; thực hiện các hợp đồng kiểm toán lớn hoặc các vụ việc đặcbiệt khác; sau đó báo cáo trực tiếp cho người quản lý phụ trách một vụ việc kiểmtoán Ngoài ra, kiểm toán viên chính còn có nhiệm vụ hỗ trợ cho ban quản lýtrong việc xem xét các giấy tờ làm việc sơ bộ, hỗ trợ đào tạo nhân viên, bố trínhân sự cho hoạt động kiểm toán, được quyền ký vào các báo cáo kiểm toán theo

sự phân công của trưởng phòng

Trợ lý kiểm toán viên:

Là những người tham gia thực hiện công tác kiểm toán, chưa có chứng chỉkiểm toán viên độc lập Tuỳ vào năng lực, thâm niên công tác, trợ lý kiểm toánviên được chia làm ba cấp theo thứ tự tăng dần về quyền hạn: Trợ lý kiểm toánviên cấp 1, cấp 2 và cấp 3 Chịu sự giám sát chặt chẽ của người có trách nhiệm,thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn nghiệp vụ của cấp trên

1.5 Khái quát về qui trình kiểm toán do công ty Kiểm toán và kế toán AAC thực hiện

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểmtoán, đồng thời để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứcho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên báocáo tài chính, quy trình kiểm toán báo cáo tài chính do công ty AAC thực hiện

qua ba giai đoạn sau: Chuẩn bị kiểm toán, Thực hiện kiểm toán và Hoàn thành cuộc kiểm toán.

Trang 23

Lập kế hoạch Thực hiện

Tìm Hiểu Về Tình Hình Kinh Doanh

Hoàn thành cuộc kiểm toán

1.5.1 Chuẩn bị kiểm toán

Chuẩn bị kiểm toán bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạođược cơ sở pháp lý, kế hoạch kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho côngtác kiểm toán Là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính,Thực tế giai đoạn này được công ty AAC thực hiện theo hai bước:

a Tiền kế hoạch:

Hiện nay AAC có một lượng khách hàng tương đối lớn phân tán rộng trên

cả nước và mỗi năm đều có thêm nhiều khách hàng mới ký kết hợp đồng vớiAAC Quá trình tiếp xúc với khách hàng mới có thể do AAC trực tiếp tìm kiếm,

do khách hàng tự tìm đến với AAC hoặc qua một sự giới thiệu của nhân viêntrong công ty, của khách hàng quen…Sau giai đoạn đó, là quá trình tiếp cậnkhách hàng để thu thập thông tin về các nhu cầu của khách hàng, đánh giá khảnăng thực hiện, đưa ra các thoả thuận ban đầu và xem xét các khía cạnh cần thiếtkhác Qua đó, AAC sẽ tiến hành các thủ tục ký kết hợp đồng kiểm toán với kháchhàng nếu hai bên đạt được các yêu cầu của nhau

Các công việc trong giai đoạn tiền kế hoạch bao gồm việc quyết định cóchấp nhận kiểm toán hay không, tìm hiểu lý do khách hàng có nhu cầu kiểm toán,lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện cuộc kiểm toán và ký kết hợp đồng kiểmtoán

 Quyết định thực hiện kiểm toán:

- Nếu là khách hàng mới thì AAC phải thận trọng xem xét kỹ tất cả các mặt

về tình hình hoạt động, các điểm đặc biệt, cơ cấu tổ chức của khánh hàng…trướckhi chấp nhận kiểm toán nhằm tránh mọi rủi ro có thể xảy trong và sau cuộc kiểmtoán

- Đối với khách hàng AAC đã từng kiểm toán thì công ty chỉ xem xét các

sự kiện đặc biệt xảy ra trong và sau cuộc kiểm toán năm trước, nếu đã có nhữngmâu thuẩn nghiêm trọng xảy ra thì có thể AAC sẽ không tiếp tục kiểm toán chokhách hàng nữa

 Tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán:

- Để hiểu rõ hơn về khách hàng và thuận tiện cho công tác kiểm toán,AAC thường tiến hành tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán Từ đó, AAC

Trang 24

có thể xác định được tầm quan trọng, mục đích và các bước công việc cần làmcủa mỗi cuộc kiểm toán Ví dụ: khách hàng mời kiểm toán báo cáo tài chínhnhằm mục đích công khai thông tin tài chính ra bên ngoài, hoặc là theo yêu cầucủa công ty mẹ ở nước ngoài…

 Lựa chọn nhân viên thực viện cuộc kiểm toán:

Tại công ty AAC, việc lựa chọn đội ngũ nhân viên cho một cuộc kiểmtoán được thực hiện bởi các trưởng phòng, dựa vào đặc điểm riêng biệt và lĩnhvực hoạt động của mỗi khách hàng…mà việc chọn số lượng, kinh nghiệm vànăng lực của đoàn kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán là khác nhau

Ví dụ: để thực hiện kiểm toán tại một công ty có 100% vốn nước ngoài,các nhân viên được chọn thực hiện cuộc kiểm toán này phải có khả năng giaotiếp tiếng Anh tốt để có thể trao đổi với khách hàng và lập báo cáo kiểm toánbằng tiếng Anh…Đối với những khách hàng có quy mô nhỏ, xét thấy công việctương đối đơn giản thì có thể chỉ cần hai nhân viên cho cuộc kiểm toán đó, trong

đó có một kiểm toán viên làm trưởng đoàn

b. Lập kế hoạch kiểm toán:

1.5.2 Thực hiện kiểm toán

a Kiểm tra các hoạt động kiểm soát:

Công việc này được AAC thực hiện nhằm thu thập bằng chứng về sự tồntại và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, làm cơ sở cho kiểmtoán viên xem xét mức độ thực hiện các thử nghiệm cơ bản

Các cơ sở dẫn liệu của kiểm toán viên trong việc kiểm tra các hoạt độngkiểm soát bao gồm:

Tìm hiểu thông tin

hoặc cập nhật ttin

Ký kết hợp đồng kiểm toán

Kiểm tra kế hoạch kiểm

toán

Kế hoạch kiểm toán

Tham chiếu cuộc kiểm

toán năm trước

Tài liệu và thông tin yêu cầu khách hàng lập

Phân tích BC tài chính

Tìm hiểu KH Hệ thống KT Hệ thống KSNB

Thoả thuận về kế hoạch

kiểm toán

Trang 25

- Sự tồn tại: Kiểm tra xem thủ tục kiểm soát có tồn tại ở đơn vị haykhông.

- Tính hiệu lực: Xem xét thủ tục kiểm soát có đạt được mục tiêu kiểmsoát

- Tính liên tục: Xem xét thủ tục kiểm soát có được thực hiện liên tục trong

kỳ kế toán tại đơn vị hay không

b Thực hiện các thủ tục phân tích:

Trong giai đoạn này kiểm toán viên sử dụng kỹ thuật phân tích để kiểm tranhằm phát hiện các trường hợp bất thường trong báo cáo tài chính

c Kiểm tra chi tiết:

Kiểm toán viên thực hiện việc kiểm tra các nghiệp vụ phát sinh và số dưcác tài khoản nhằm xác minh sự chính xác và đáng tin cậy của các tài liệu kếtoán, tính trung thực và hợp lý của số dư các tài khoản

1.5.3 Hoàn thành cuộc kiểm toán

Xem xét những vấn đề liên quan đến khái niệmhoạt động liên tục, sự kiện phát sinh sau ngày

kết toán, kiện tụng

Tổng kết công việc kiểm toán tại đơn vị

Họp trao đổi tại đơn vị

Lập Báo Cáo Kiểm Toán và trình các cấp có

thẩm quyền phê duyệt

Gửi BCTC và BCKT đã được phê duyệt cùngvới xác nhận đối với bản thảo cho khách hàng

a Xem xét những vấn đề liên quan đến khái niệm hoạt động liên tục, sựkiện phát sinh sau ngày kết toán, kiện tụng;

b Tổng kết công việc kiểm toán tại đơn vị:

Các công việc cần tiến hành:

- Tổng kết của các thành viên trong nhóm

- Tổng kết của nhóm trưởng

- Những bàn luận về thư quản lý

- Tổng hợp sai số kiểm toán không điều chỉnh

- Tiến hành thủ tục phân tích sau kiểm toán

c Họp trao đổi tại đơn vị;

Trang 26

d Lập BCKT và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt:

Thống nhất số liệu Viết BCKT và Liệt kê những vấn đề Kiểm tra lần cuối

với đơn vị thư quản lý cần lưu ý cho năm sau trước khi

từ đó làm cơ sở để kiểm toán viên phát hành báo cáo kiểm toán

2 Thực tế vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện

2.1 Kiểm tra

Công ty AAC sử dụng kỹ thuật kiểm tra gần như là nhiều nhất so với các

kỹ thuật khác Như đã trình bày ở trên, kiểm tra bao gồm kiểm tra vật chất ( kiểm

kê ) và kiểm tra tài liệu Thông thường, để tiết kiệm thời gian, kiểm kê được công

ty khách hàng thực hiện trước khi bắt đầu cuộc kiểm toán và có sự chứng kiếncủa KTV từ AAC Chính vì vậy, khi tiến hành kiểm toán các tài khoản cần ápdụng kỹ thuật kiểm kê, KTV chỉ cần sử dụng lại biên bản kiểm kê đã được lậptrước đó như một bằng chứng đầy đủ hiệu lực Lấy việc kiểm toán tài khoảnHàng tồn kho tại công ty A làm ví dụ Cuộc kiểm toán tại A chính thức bắt đầu từngày15/3, nhưng trước đó, vào ngày3/3, KTV đã được công ty mời chứng kiếnkiểm kê hàng tồn kho và lập biên bản Kết quả như sau:

Các công việc tiến hành trước khi trìnhBCKT cho cấp có thẩm quyền phê duyệt

Trang 27

(chữ ký của những người tham gia kiểm kê)

Ngoài hàng tồn kho, tài sản cố định cũng là một tài khoản bắt buộc phải

có biên bản kiểm kê để làm bằng chứng đối chiếu với số liệu trên sổ sách Đặcbiệt, khi nhắc đến kiểm kê thì không thể bỏ sót tài khoản tiền mặt Tuỳ theo từngcông ty mà lượng tiền trong quỹ là nhiều hay ít Nhưng dù sự khác biệt này cólớn đến đâu thì nguyên tắc kế toán cơ bản đó là phải kiểm quỹ một cách thườngxuyên Đối với kế toán, công việc này giúp kiểm soát nội bộ được tốt hơn, đồngthời nhanh chóng phát hiện ra các sai sót, chênh lệch nếu có và điều chỉnh ngay.Việc kiểm quỹ có thể diễn ra hằng ngày, vào cuối các buổi làm việc ( nếu giá trịtiền mặt đủ nhỏ để thực hiện một cách dễ dàng ), nhưng cũng có thể được tiếnhành vào cuối các tháng nếu số dư tiền mặt quá lớn và mất nhiều thời gian đểthực hiện Còn đối với kiểm toán, bằng chứng để đối chiếu với sổ sách cũng nhưđưa ra kết luận chính là biên bản kiểm quỹ tại thời điểm lập báo cáo tài chính.Không giống như hàng tồn kho hay tài sản cố định, việc kiểm quỹ có thể diễn rarất nhiều lần trong năm, tuy nhiên, bằng chứng kiểm toán “liên quan”, “phù hợp”chỉ là kết quả kiểm kê tại thời điểm kết thúc của kỳ kế toán đang được kiểm toán

Trong trường hợp sử dụng kỹ thuật kiểm tra vật chất, các bằng chứngđược coi là có hiệu lực chính là các biên bản kiểm kê có đầy đủ các chữ ký vàphù hợp với các qui định về mẫu biểu Tuy nhiên, bằng chứng kiểm kê này cũng

có thể trở nên vô hiệu nếu qui trình kiểm kê không được thực hiện một cách đúngđắn Đặc biệt, đối với các tài khoản có số dư lớn, có tính trọng yếu cao thì việckiểm kê mà không có sự chứng kiến của KTV là coi như không có tác dụng Lúc

đó, để thu thập bằng chứng phục vụ cho việc kiểm toán, KTV bắt buộc phải tiếnhành kiểm kê lại

Phần còn lại của kỹ thuật kiểm tra là kiểm tra tài liệu Thực tế cho thấyđây chính là kỹ thuật mà các KTV của AAC sử dụng phổ biến nhất AAC cũng

có hai cách kiểm tra tài liệu: kiểm tra từ chứng từ gốc lên sổ sách và kiểm tra từ

sổ sách lên chứng từ gốc, tuy nhiên cách kiểm tra thứ nhất là thông dụng hơn.Khi bắt đầu kiểm toán một công ty, KTV sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủcác sổ cái, báo cáo tài chính cho giai đoạn được kiểm toán và tất cả các chứng từ

có liên quan Sau khi đã phân công các tài khoản cho từng cá nhân, các bướcthực hiện của KTV như sau:

* Đầu tiên, KTV phải kiểm tra số dư đầu kỳ của các tài khoản để đảm bảorằng đơn vị đã kết chuyển số dư đúng Mức độ đầy đủ và tính thích hợp của bằngchứng kiểm toán về số dư đầu năm phải thu thập phụ thuộc vào:

 Chế độ kế toán mà đơn vị áp dụng;

 Báo cáo tài chính năm trước đã được kiểm toán hoặc chưa được kiểm toán

và nội dung của báo cáo kiểm toán năm trước (nếu đã kiểm toán);

 Nội dung, tính chất của các tài khoản và các rủi ro có sai sót trọng yếu ảnhhưởng đến báo cáo tài chính năm nay;

 Tính trọng yếu của các số dư đầu năm liên quan đến báo cáo tài chính nămnay

KTV phải xem xét các số dư đầu năm đã được phản ánh theo chế độ kếtoán được áp dụng trong năm trước và được áp dụng nhất quán trong năm nay.Nếu có thay đổi chế độ kế toán thì KTV phải xem xét những thay đổi đó cũng

Trang 28

như việc thực hiện và trình bày trong báo cáo tài chính năm nay Một cách chínhxác nhất, KTV đối chiếu số dư đầu kỳ của tất cả các tài khoản trên báo cáo tàichính mà đơn vị vừa đưa với báo cáo kiểm toán của AAC cho kỳ kế toán liềntrước đó của đơn vị Tuy nhiên, thao tác này chỉ có thể áp dụng trong trường hợpcông ty đang được kiểm toán là khách hàng cũ và đã được kiểm toán trong kỳ kếtoán gần nhất Nếu AAC bắt đầu kiểm toán một đơn vị lần đầu tiên thì KTV nămnay có thể thu thập bằng chứng kiểm toán về số dư đầu năm bằng cách xem xét

hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên năm trước Trong trường hợp này, kiểm toánviên năm nay cần lưu ý đến năng lực chuyên môn và tính độc lập của kiểm toánviên năm trước Nếu báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên năm trước khôngchấp nhận toàn phần thì kiểm toán viên năm nay phải lưu ý đến những nguyênnhân không chấp nhận toàn phần của ý kiến kiểm toán năm trước Khi báo cáo tàichính năm trước chưa được kiểm toán hoặc đã được kiểm toán nhưng kiểm toánviên năm nay không thoả mãn sau khi đã thực hiện các thủ tục kiểm tra màkhông thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, thì kiểm toán viênphải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung như sau:

Đối với số dư đầu năm về nợ ngắn hạn và tài sản lưu động, kiểm toán viên

có thể thu thập được bằng chứng kiểm toán khi thực hiện thủ tục kiểm toán nămnay Ví dụ như:Khi xem xét việc thanh toán các khoản phải thu, phải trả trongnăm nay, kiểm toán viên sẽ thu thập được bằng chứng kiểm toán về số dư cáckhoản phải thu, phải trả đầu năm Đối với hàng tồn kho đầu năm, kiểm toán viênphải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung bằng cách giám sát kiểm kê thực tếtrong năm hoặc cuối năm nay, đối chiếu số lượng, giá trị nhập, xuất từ đầu nămđến thời điểm kiểm kê thực tế và tính ra hàng tồn kho đầu năm Đối với số dưtiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu, phải trả cũng có thể thực hiện thủ tục xácnhận số dư đầu năm của người thứ ba

Sự kết hợp các thủ tục kiểm toán này sẽ cung cấp cho kiểm toán viên đầy

đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp

Đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư và nợ dài hạn, kiểm toán viênphải kiểm tra các chứng từ chứng minh cho số dư đầu năm Trong một số trườnghợp nhất định, đối với các khoản đầu tư và nợ dài hạn, kiểm toán viên có thể lấyxác nhận về số dư đầu năm từ bên thứ ba hoặc thực hiện các thủ tục kiểm toán bổsung Công việc này thường được KTV trưởng đoàn thực hiện cùng một lúc chotất cả các tài khoản và được ghi trên giấy làm việc là “Kiểm tra số dư đầu kỳ” vàthể hiện như sau:

CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN - AAC

Phương pháp: Đối chiếu số dư đầu kỳ với số dư cuối kỳ trên báo cáo kiểmtoán của kỳ kế toán liền trước

Tên khách hàng: Công ty TNHH ABC

Chủ đề: Kiểm tra số dư đầu năm…

Trần Dương Nghĩa 05/03/200x+1Ngày

Trang 1

Trang 29

Kết luận: Tất cả đều khớp  Đồng ý số liệu đơn vị

* Sau khi kiểm tra số dư đầu kỳ và khớp đúng, tuỳ theo từng tài khoản đãđược phân công mà mỗi KTV sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra số liệu trên tài khoảncủa mình KTV sẽ kiểm tra, đối chiếu số liệu trên sổ cái với bảng cân đối số phátsinh, bảng cân đối kế toán Nếu công ty khách hàng có sử dụng bảng kê chứng từthì để thuận tiện cho việc kiểm tra chứng từ sau đó, KTV cũng phải đối chiếugiữa các bảng kê và sổ cái để đảm bảo bảng kê có thể được sử dụng để làm căn

cứ để kiểm tra lên chứng từ gốc Sau đó, KTV tiếp tục kiểm tra chi tiết từngnghiệp vụ Nhưng rõ ràng là không KTV nào có thể thực hiện việc kiểm tra chitiết đó một cách đầy đủ cả, vì số lượng nghiệp vụ phát sinh là vô cùng lớn Do

đó, KTV sẽ tiến hành chọn mẫu trước khi kiểm tra Trong trường hợp đơn vịkhách hàng có thể cung cấp sổ tổng hợp đối ứng của từng tài khoản thì việckhoanh vùng kiểm tra trở nên tương đối dễ dàng Khi xem qua sổ tổng hợp đốiứng, KTV sẽ xác định được những nghiệp vụ lạ, bất thường và đặt trọng tâm chú

ý Còn lại, dù kiểm toán tài khoản gì đi nữa thì tất cả các nghiệp vụ làm phát sinhchi phí đều phải được xem xét kỹ lưỡng Tuy nhiên, để kiểm tra hết các nghiệp

vụ như thế cũng tốn rất nhiều thời gian, vì vậy, KTV thường chọn mẫu để tiếnhành kiểm tra lên chứng từ Thông thường KTV dựa vào sổ cái, lựa chọn cácnghiệp vụ có giá trị khoản phát sinh lớn hơn 2 triệu để kiểm tra chứng từ Đồngthời, KTV cũng nhận thấy tất cả các nghiệp vụ ghi Nợ TK 642 đều là phí ngânhàng, nhờ đó mà KTV có thể bỏ qua một số lượng các bút toán không cần kiểm

tra để tiết kiệm thời gian Đối với các khoản phát sinh Nợ, KTV yêu cầu phải có đầy đủ Giấy báo có của Ngân hàng Nếu đó là bút toán ghi nhận lãi tiền gửi thì

phải có giấy báo tính lãi Ngoài ra, cuối các tháng đều phải có Sổ phụ ngân hàng

để đối chiếu từng bút toán Đối với các khoản phát sinh Có, các chứng từ được xem là đầy đủ hiệu lực để làm căn cứ ghi sổ là Giấy ủy nhiệm chi, Hoá đơn tài chính hợp lệ (Hoá đơn tài chính hợp lệ là hoá đơn có ghi đầy đủ ngày tháng năm,

đúng Mã số thuế, không chỉnh sửa và đầy đủ chữ ký của người mua, người bán

và thủ trưởng đơn vị) Nếu các khoản chi đối ứng với TK 331 thì thông thườngđơn vị chỉ lưu hoá đơn phô tô ở bộ chứng từ ngân hàng, hoá đơn gốc được lưubên thanh toán, vì vậy, khi kiểm tra các nghiệp vụ này, KTV thường chỉ trên giấylàm việc như sau:

CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN - AAC

Trần Dương Nghĩa 05/03/200x+1Ngày

C2 Trang 1

Trang 30

Dư cuối kỳ 157.977.920 ( : khớp chi tiết )

Chi tiết số dư cuối kỳ:

 Ngân hàng Ngoại Thương: 120.636.500

 Ngân hàng NN&PTNT 37.341.420

Kết luận:

 Một số hoá đơn sửa ngày tháng, thiếu chữ ký người mua hàng, ghi tên

cá nhân  đề nghị đơn vị bổ sung 

 Trả lương cho công nhân thuê ngoài bốc xếp không có bảng chấm

công  đề nghị đơn vị bổ sung 

 Nộp tiền phạt chậm nộp nhưngs không thấy biên bản phạt  đề nghị đơn vị xem xét bổ sung 

CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN - AAC

Phương pháp:

 Đối chiếu số liệu giữa sổ cái, sổ chi tiết với xác nhận ngân hàng, sổ

phụ và báo cáo tài chính

 Kiểm tra tổng hợp đối ứng, các nghiệp vụ lạ, bất thường

 Chọn mẫu kiểm tra chứng từ

Tổng hợp đối ứng:

PSN: 111 Rút quỹ tiền mặt gởi ngân hàng

131 Thu tiền hàng

511 Doanh thu bán hàng

515 Lãi tiền gửi

PSC: 111 Rút tiền gởi ngân hàng nhập quỹ tiền mặt

331 Thanh toán tiền hàng

Trần Dương Nghĩa

Ngày 05/03/200x+1

C2 Trang 1

Trang 31

Kiểm tra chi tiết:

UN12/9 Chuyển tiền thanh toán vận

chuyển nguyên liệu 627/ 16.630.000 HĐTC sửa ngày tháng 

133/ 1.663.000UN36/11 Trả tiền nhập nguyên liệu 152/ 58.450.000 HĐTC không có chữ ký

người mua hàng  133/ 5.845.000

UN15/12 Chuyển tiền lương cho công

nhân bốc xếp

334/ 6.426.000 Không có bảng chấm

công UN18/12 Thanh toán tiền sách hướng

dụ, khi AAC kiểm toán tại công ty X, KTV chịu trách nhiệm kiểm toán tài khoản

211, trong lúc thu thập tài liệu và bằng chứng vật chất để lưu hồ sơ thì nhờ quansát đã phát hiện ra rằng tại công ty không có máy Photocopy như trong biên bảnkiểm kê tài sản cũng như sổ chi tiết 211 Để giải đáp thắc mắc, KTV đã hỏi kếtoán của công ty và được biết là tài sản cố định này đang được đưa đi sửa chữa,đồng thời, KTV xem xét lại sổ sách của công ty và nhận thấy là chưa có bút toántăng chi phí sửa chữa nào được ghi nhận mặc dù các chi phí đã thực sự phát sinh

và được thanh toán Như vậy, nhờ vào việc quan sát, KTV đã phát hiện ra đượcmột thiếu sót trong quá trình hạch toán của đơn vị và đã yêu cầu bổ sung

Không chỉ được thực hiện một cách ngẫu nhiên khi bắt gặp một sự việcbất thường nào đó, kỹ thuật quan sát còn được sử dụng phần lớn là để bước đầuđánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Bằng việc quan sát, KTV có thểnhìn thấy được sự phân công, phân nhiệm được thực hiện như thế nào, các cáchthức lập và luân chuyển chứng từ ra sao Ngoài ra, nếu tinh tế, KTV hoàn toàn cóthể đánh giá khả năng thực hiện công việc của các kế toán viên ở công ty kháchhàng thông qua việc quan sát quá trình thao tác và thực hiện các công việc kếtoán Về khía cạnh này, quan sát có thể giúp trả lời những câu hỏi như: đội ngũ

kế toán có kinh nghiệm hay không? Họ có sử dụng thành thạo phần mềm kế toán

Trang 32

hiện tại không? Việc phân công phân nhiệm giữa họ như thế nào? Có khoa học

và hợp lý? Hay đơn giản, họ có tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc kế toánhay qui định của công ty hay không? Đáp án cho những vấn đề trên góp phầnkhông nhỏ trong việc đánh giá rủi ro kiểm soát trước khi đi vào kiểm tra chi tiếttừng tài khoản Ví dụ, KTV của AAC khi kiểm toán tài khoản “Tiền mặt” thường

sẽ để ý xem tại công ty có két sắt hay không Nếu có thì ai là người có thẩmquyền được sử dụng và quản lý ra sao Trên thực tế, nếu chỉ có thủ quỹ là ngườiđược mở két sắt thì có thể xem như tiền tại quỹ là được kiểm soát tốt Trongtrường hợp đơn vị khách hàng không có két sắt và việc tách biệt tiền của công tychưa được thực hiện một cách đúng đắn thì khi tiến hành kiểm toán, KTV luônchú ý tăng thêm các thử nghiệm cơ bản để giảm thiểu tối đa rủi ro kiểm toán

Tóm lại, mặc dù quan sát không phải là một kỹ thuật được thể hiện rõ ràngtrong quá trình làm việc, nhưng các KTV của AAC đều phát huy tối đa hiệu quảcủa phương pháp này, vì nó là một sự bổ sung rất cần thiết cho các kỹ thuật cònlại, là một cách kiểm chứng hữu hiệu và nâng cao độ tin cậy của các bằng chứngvật chất khác

2.3 Điều tra - Phỏng vấn

Điều tra - phỏng vấn là một kỹ thuật rất quan trọng để thu thập thông tin,

vì đây là cách khai thác trực tiếp từ đơn vị khách hàng Mặc dù những bằngchứng có được từ phương pháp này thường mang tính chủ quan rất lớn, nhưng ởmột chừng mực nào đó, KTV vẫn có cơ sở để sử dụng và làm căn cứ cho các kếtluận của mình

Đối với các khách hàng được kiểm toán lần đầu tiên thì điều tra phỏng vấn

là thao tác không thể thiếu trong bất kỳ trường hợp nào Kỹ thuật này sẽ đượcKTV sử dụng kỹ hơn và với khối lượng công việc nhiều hơn, vì là lần đầu tiêntiếp xúc với hệ thống kế toán của đơn vị, việc thu thập những thông tin cần thiếtban đầu đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình kiểm toán Ở giai đoạn thựchiện các thử nghiệm kiểm soát, KTV sẽ sử dụng kỹ thuật này để thu thập bằngchứng về sự tồn tại và sự vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ Trong thực tế,đối với những khách hàng có quy mô hoạt động lớn, cơ cấu tổ chức của bộ máy

kế toán phức tạp, AAC sẽ sử dụng bảng câu hỏi đã chuẩn bị trước để phỏng vấntìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, quá trình thực hiện phỏngvấn và lưu kết quả sẽ được thực hiện trên máy tính cá nhân của nhân viên AAC.Các bảng câu hỏi này liên quan trực tiếp đến một số phần hành, khoản mục quantrọng Ví dụ, Khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Y, xác địnhđây là một công ty lớn, với cơ cấu tổ chức và các quy chế nội bộ phức tạp, kiểmtoán viên đã sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn theo mẫu của AAC để phỏng vấnGiám đốc và Kế toán trưởng của đơn vị nhằm thu thập bằng chứng đánh giá banđầu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị

Trang 33

TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

1 Việc mua sắm TSCD được qui định như thế

nào (chính sách mua, thẩm quyền phê duyệt)? Phó GD phụ trách SX đề xuất vớiHDQT

HDQT họp thống nhất chủ trương vàlập tờ trình báo cáo NXB phê duyệt

Tổ chức đấu thầu: gửi hồ sơ mờithầu để NXBGD phê duyệt; có kếhoạch đấu thầu, đăng báo, bán hồ sơmời thầu, mở thầu, xét thầu báo cáokết quả xét thầu và xin ý kiến phêduyệt của NXBGD

Sau khi có sự phê duyệt củaNXBGD, công ty tiến hành ký hợpđồng thực hiện việc mua TS

2 Doanh nghiệp có thực hiện những thủ tục để

đảm bảo rằng TSCD đã mua theo đúng đơn đặt

hàng đã được phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền

(về mô tả, số lượng, chất lượng và việc chuyển

giao quyền sở hữu);rằng tất cả những khoản

thanh toán đới với TSCĐ đều được cấp có thẩm

quyền phê duyệt, được thực hiện kịp thời và liên

quan đến việc mua sắm những TS này (bao gồm

cả những thủ tục về ứng trước cho nhà cung cấp,

hoặc mua hàng trả ngay);và được ghi chép vào sổ

kế toán có liên quan một cách kịp thời?

-Khi nhận TS về thì thành lập tổ giúpviệc thực hiện việc kiểm tra, giaonhận TS theo đúng hợp đồng và lậpbiên bản nghịêm thu TS

-Việc thanh toán được thực hiệnđúng theo tiến độ hợp đồng đã được

ký kết theo hồ sơ dự thầu

-Việc ghi sổ kế toán đối với nghiệp

vụ thanh toán việc mua tài sản đượcthực hiện kịp thời ngay khi phátsinh

3.Doanh nghiệp có thực hiện những thủ tục để

đảm bảo rằng tất cả các hoá đơn mua TSCĐ và

các chi phí có liên quan đến các TS này đã được

ghi nhận một cách đầy đủ và hợp lý

-Đơn vị theo dõi và tập hợp chi tiếtđầy đủ các hoá đơn liên quan cũngnhư chi phí phát sinh liên quan đếnviệc mua TS

4 Đối với mỗi nghiệp vụ thanh lý TSCĐ, doanh

nghiệp có đảm bảo rằng việc cung cấp tín dụng

cho người mua hoặc định giá bán TSCĐ đều

được cấp có thẩm quyền phê duyệt?

-Khi tiến hành thanh lý TS đơn vịthành lập HĐ thanh lý TS, có quyếtđịnh phê duyệt của HĐQT, tiến hànhcác thủ tục thanh lý: đăng báo, mờithầu

5 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng tất cả các TS thanh lý đã được phát hành hoá

đơn và ghi nhận đầy đủ trong sổ sách kế toán?

-Sau khi HĐ thanh lý thống nhấtviệc thanh lý TS, thì phòng kế toántiến hành xuất hoá đơn thanh lý vàghi sổ kế toán

6 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng tỷ lệ khấu hao áp dụng phù hợp với chính

sách kế toán của doanh nghiệp?

-Tỷ lệ khấu hao của đơn vị đượcthực hiện theo quy định của Nhànước (QĐ 206/2003-QĐ-BTC)

7 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng các bút toán ghi chép trên sổ kế toán liên

quan đếnm TSCĐ là chính xác và được cấp có

-TSCĐ của đơn vị được mở thẻ theodõi TSCĐ và việc ghi chép liên quanđến TSCĐ được GĐ phê duyệt

Trang 34

thẩm quyền phê duyệt?

8 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng có sự đối chiếu thường xuyên giữa sổ cái và

sổ chi tiết?

-Hằng tháng đơn vị lập bảng khấuhao và đối chiếu giữa chi tiết và tổnghợp của TS

9 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo an

toàn đối với tài liệu chứng nhận quyền sở hữu

của TS? Đối với những TSCĐ có khả năng di

chuyển được và có thể nhượng bán được thì

doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo rằng

chúng được bảo vệ an toàn và kiểm tra thường

xuyên?

-Hồ sơ TS do phòng KT giữ Phươngtiện vận tải khi không hoạt động thìđược bảo quản tại công ty do bảo vệgiữ và việc di chuyển phương tiệnphải có giấy điều động của GĐ

MUA HÀNG

1 Số lượng và giá cả đặt mua hàng được thiết lập

và duy trì như thế nào (ví dụ: chính sách đặt mua

lại, việc xem xét tỷ lệ chiết khấu, nguồn cung

cấp, )?

- Phòng kế hoạch SX lập dự trù vềviệc sử dụng vật tư, sau đó trình GĐcông ty duyệt và chuyển cho cán bộvật tư (phòng tổ chức hành chính)

- So sánh đối chiếu giá cả của ít nhấthai nhà cung cấp, đối với vật tư đặcthù thì được đăt mua ngay tại nhàcung cấp

2 Bằng cách nào doanh nghiệp đảm bảo rằng các

đơn đăt hàng đều được cấp có thẩm quyền phê

duyệt?

-Phòng kế hoạch sản xuất và phòng

kế toán tài vụ cùng phối hợp tiếnhành làm hợp đồng mua vật tư vàtrình GĐ phê duyệt

3 Bằng cách nào doanh nghiệp đảm bảo rằng (1)

những người chịu trách nhiệm phê duyệt đơn đặt

hàng không chịu trách nhiệm nhận hàng hoặc ghi

chép vào sổ kế toán; (2) người chịu trách nhiệm

nhận hàng không phải là người ghi chép sổ sách

kế toán; (3) những người phê duyệt việc mua

hàng sẽ không phải là người thực hiện việc thanh

toán; (4) những người chịu trách nhiệm chuyển

tiền đến cho người thụ hưởng không phải là

người ghi chép sổ kế toán (nguyên tắc bất kiêm

nhiệm)?

-Phòng kho vận và cán bộ vật tư chịutrách nhiệm nhận hàng theo đơn đăthàng; và chuyển chứng tư nhận hànglên cho phòng kế toán để thực hiệnviệc ghi sổ; phòng kế toán chịu tráchnhiệm việc thực hiện thanh toán vớinhà cung cấp; kế toán chịu tráchnhiệm chuyển tiền cho nhà cung cấpviệc ghi sổ do kế toán tổng hợp

4 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng chất lượng và số lượng hàng đặt mua phù

hợp với đơn đặt hàng đã được cấp có thẩm quyền

phê duyệt và hàng đặt mua được ghi chép kịp

thời?

-Phòng kho vận sau khi kiểm tralượng hàng thực tế với đơn hàng vàxác nhận lượng hàng nhập kho thực

tế chuyển chứng từ cho kế toán kholàm phiếu nhập kho, kế toán khochuyển kế toán trưởng và GĐ phêduyệt rồi mới tiến hành nhập kho vàhạch toán ghi sổ

5 Liên quan đến việc mua hàng hoá doanh

nghiệp có những thủ tục để đảm bảo rằng hoá

đơn mua hàng là trung thực (có nghĩa là những

-Kế toán kho đồng thời kiểm tra giữalượng hàng thực nhập và hoá đơn

Trang 35

khoản mục và số lượng hàng mua phù hợp với

hàng thực nhận, đặc điểm của hàng mua và giá cả

phù hợp với đơn đặt hàng, tính chính xác của hoá

đơn)?

6 Liên quan đến việc mua dịch vụ hoặc hàng hoá

được người sử dụng nhận trực tiếp (ví dụ văn

và bàn giao cho các bộ phận để sửdụng (có ký nhận)

7 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng tất cả các nghiệp vụ mua hoặc nghiệp vụ

liên quan đến chi phí đều được ghi chép đầy đủ

và đúng niên độ?

-Phải có giấy đề nghị mua vật tư phêduyệt của GĐ Cuối tháng kế toántiến hành kiểm tra việc thanh toánmua vật tư đã có phê duyệt của GĐhay chưa và tiến hành hạch toán

8 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng tất cả những khoản thanh toán đều được cấp

có thẩm quyền phê duyệt và kịp thời (lưu ý đến

việc xem xét mức độ chiết khấu) và liên quan đến

việc mua sắm hàng hoá và dịch vụ (bao gồm cả

thủ tục ứng trước tiền cho nhà cung cấp và mua

hàng trả ngay)?

-Trước khi thanh toán phải có giấy

đề nghị thanh toán được Kế toántrưởng và GĐ duyệt (phải có báogiá)

-Việc ứng trước được thực hiện theohợp đồng

9 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng việc tiếp cận với tiền hoặc séc chưa sử dụng

được hạn chế trong phạm vi những người có

thẩm quyền?

-Kế toán thanh toán giữ séc, thủ quỹgiữ tiền mặt

10 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng các bút toán ghi chép trên sổ kế toán liên

quan đến việc mua hàng là chính xác và được cấp

có thẩm quyền phê duyệt?

-Trùng TS

11 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng có sự đối chiếu thường xuyên giữa sổ cái và

sổ chi tiết mua hàng?

-Trùng TS

12 Doanh nghiệp có những thủ tục để đảm bảo

rằng có sự đối chiếu thường xuyên giữa sổ chi

tiết tiền gửi ngân hàng và báo cáo ngân hàng; sổ

quỹ, sổ chi tiết tiền mặt và tiền tồn quỹ?

-Hằng ngày đều có đối chiếu-Cuối tháng đều có biên bản kiểm kê

13 Tiền và những công cụ có khả năng chuyển

đổi thành tiền có được bảo vệ trước khi thanh

toán?

-Có

Còn đối với những khách hàng có quy mô hoạt động nhỏ, bộ máy kế toán

đơn giản hoặc có quy mô lớn nhưng mới đi vào hoạt động được một khoảng thời

gian tương đối ngắn, bộ máy kế toán chưa ổn định và chưa có quy định rõ ràng

về quy chế kiểm soát nội bộ thì AAC chỉ thực hiện phỏng vấn trực tiếp kết hợp

với một số kỹ thuật khác mà không cần sử dụng bảng câu hỏi để giảm bớt khối

lượng công việc của KTV Sở dĩ AAC có thể thực hiện như vậy vì lúc này KTV

Ngày đăng: 10/04/2020, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w