Tuy nhiên, nghiên cứu của Hannig và Jansen 2010 lại có quan điểm TCTC là thúc đẩy người dân không sử dụng dịch vụ ngân hàng sang sử dụng dịch vụ tài chính chính thức để họ có cơ hội tiếp
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -o0o -
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -o0o -
Trang 3ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các
số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công
bố trong bất kỳ nghiên cứu của tác giả nào khác
Nghiên cứu sinh
Trần Thị Thắng
Trang 4ỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Học viện Ngân hàng và đặc biệt là Ban giám đốc Học viện Ngân hàng, Ban giám đốc Học viện Ngân hàng - Phân viện Bắc Ninh cùng các đồng nghiệp đã luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu giúp tác giả hoàn thành luận án
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Sau đại học cùng các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình nghiên cứu sinh Chính những kiến thức, phương pháp nghiên cứu được tiếp thu từ các thầy cô là hành trang quan trọng giúp tác giả thực hiện nghiên cứu
Lời tri ân sâu sắc nhất xin được gửi đến hai nhà khoa học hướng dẫn là PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh và TS Nguyễn Xuân Quang đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, chia sẻ và giúp đỡ tác giả trong quá trình tìm tài liệu, số liệu thực
tế và thực hiện điều tra khảo sát Các định hướng đúng đắn cùng sự chỉ bảo tận tâm của thầy và cô đã giúp tác giả hoàn thành luận án
Cuối cùng, xin được gửi tặng kết quả đến gia đình thân yêu và những người bạn đã đồng hành cùng tác giả trong quá trình nghiên cứu; chính sự yêu thương, chia sẻ và niềm tin của mọi người là động lực to lớn cho tác giả hoàn thành luận án
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, 2019 Tác giả luận án
Trang 5MỤC ỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VIII
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN 25
1.1 TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN 25
1.1.1 Khái niệm tiếp cận tài chính toàn diện 25
1.1.2 Vai trò của tiếp cận tài chính 27
1.2 CÁC CHỈ TIÊU Đ NH GIÁ TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN 31
1.2.1 Chỉ tiêu đánh giá tiếp cận tài chính toàn diện của Global Findex 32
1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá tiếp cận tài chính toàn diện theo phương pháp phân tích thành phần cơ bản (PCA) 35
1.2.3 Chỉ số tiếp cận tài chính toàn diện của Sarma 37
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN 39
1.3.1 Nhóm nhân tố từ phía cầu 40
1.3.2 Nhóm nhân tố từ phía cung 41
1.3.3 Nhóm nhân tố môi trường kinh tế - xã hội 44
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 46
1.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tiếp cận tài chính toàn diện 46
1.4.2 Bài học cho Việt Nam 57
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 66
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN| TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 67
Trang 62.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC TỈNH ĐỒNG
BẰNG BẮC BỘ 67
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 67
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 68
2.2 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 71
2.2.1 Lựa chọn bộ chỉ số đánh giá 71
2.2.2 Thực trạng tiếp cận tài chính toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ 72
2.3 Đ NH GIÁ THỰC TRẠNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 87
2.3.1 Những kết quả đạt được 87
2.3.2 Hạn chế 88
2.3.3 Nguyên nhân 90
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 97
CHƯƠNG 3 98
MÔ HÌNH ƯỢNG HÓA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 98
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 98
3.2 MÔ TẢ DỮ LIỆU THU THẬP 100
3.2.1 Giới tính và độ tuổi của khách hàng 100
3.2.2 Nghề nghiệp của khách hàng 101
3.2.3 Thu nhập của khách hàng 102
3.2.4 Nơi sống của khách hàng 103
3.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN 105
3.3.1 Các nhân tố từ phía cầu 105
3.3.2 Các nhân tố từ phía cung 127
3.4 ƯỢNG HÓA ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 135
Trang 73.4.1 Lựa chọn mô hình 135
3.4.2 Kết quả và bình luận 140
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 148
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 149
4.1 ĐỊNH HƯỚNG THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIÊN TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 149
4.1.1 Định hướng, chiến lược phát triển kinh tế các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ đến năm 2025 149
4.1.2 Định hướng thúc đẩy tiếp cận tài chính toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ 151
4.2 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIÊN TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 154
4.2.1 Khuyến nghị 1 154
4.2.2 Khuyến nghị 2 156
4.2.3 Khuyến nghị 3 158
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 161
KẾT LUẬN 162
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN 164
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
PHỤ LỤC 178
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Tên đầy đủ bằng Tiếng Việt Tên đầy đủ bằng Tiếng Anh
1 ATM Máy rút tiền tự động Automated teller machine
4 CSDL Cơ sở dữ liệu
5 FATF Tổ công tác hành động tài chính
6 Fintech Công nghệ tài chính số Financial Technology
7 GDP Thu nhập bình quân đầu người
8 G2P Chính phủ với cá nhân Government to person
9 ICT Công nghệ thông tin và truyền
thông
Information and Communication Technology
10 KYC Yêu cầu về khách hàng Know Your Customer
11 MCC Công ty tín dụng nhỏ MicroCredit Mompany
12 MSE Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ Micro and small enterprises
13 NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
14 NHHTX Ngân hàng Hợp tác xã
15 NHNN Ngân hàng Nhà nước
16 NHNNo & PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triên nông thôn
17 NHTM Ngân hàng thương mại
23 RBI Ngân hàng Trung ương Ấn Độ Reserve Bank of India
24 RCC Hợp tác xã tín dụng nông thôn Rural credit cooperatives
25 QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
26 TCTD Tổ chức tín dụng
Trang 927 TCTC Tiếp cận tài chính
28 TCVM Tài chính vi mô
29 TCTCVM Tổ chức tài chính vi mô
30 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC C C BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các yếu tố về dân số vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 - 2017 68
Bảng 2.2: Chỉ số đánh giá tiếp cận tài chính toàn diện của Global Findex sử dụng trong nghiên cứu 72
Bảng 2.3: Số lượng chi nhánh ngân hàng tại các tỉnh của vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 - 2017 (Số chi nhánh/100.000 người trưởng thành) 74
Bảng 2.4: Số lượng chi nhánh ngân hàng tại các tỉnh của vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 - 2017 (Số chi nhánh/1.000km2) 75
Bảng 2.5: Số lượng máy ATM và thẻ ATM tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 – 2017 77
Bảng 2.6: Tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng của các tỉnh tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 – 2017 80
Bảng 2.7: Vay vốn tại ngân hàng của các tỉnh tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 - 2017 82
Bảng 2.8: Số lượng của POS và thẻ các loại vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 – 2017 86
Bảng 3.1: Độ tuổi của khách hàng tham gia khảo sát 101
Bảng 3.2: Nghề nghiệp của khách hàng tham gia khảo sát 102
Bảng 3.3: Thu nhập của khách hàng tham gia khảo sát 103
Bảng 3.4: Địa phương của khách hàng tham gia khảo sát 104
Bảng 3.5: Số lượng tài khoản ngân hàng giao dịch của khách hàng 105
Bảng 3.6: Số lượng tài khoản ngân hàng giao dịch theo độ tuổi 106
Bảng 3.7: Số lượng tài khoản ngân hàng giao dịch theo nghề nghiệp 107
Bảng 3.8: Số lượng tài khoản ngân hàng giao dịch theo thu nhập 109
Bảng 3.9: Số lượng tài khoản ngân hàng giao dịch theo nơi sống 110
Bảng 3.10: Số người sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng theo độ tuổi 112
Bảng 3.11: Số người sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng theo nghề nghiệp 113
Trang 11Bảng 3.12: Số người sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng theo thu nhập 114
Bảng 3.13: Số người sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng theo nơi ở 115
Bảng 3.14: Tần suất gửi tiết kiệm của khách hàng theo giới tính 116
Bảng 3.15: Tần suất gửi tiết kiệm của khách hàng theo độ tuổi 117
Bảng 3.16: Tần suất gửi tiết kiệm của khách hàng theo nghề nghiệp 117
Bảng 3.17: Số lượng người sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng theo độ tuổi 119
Bảng 3.18: Số lượng người sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng theo nghề nghiệp 120
Bảng 3.19: Số lượng người sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng theo thu nhập 121 Bảng 3.20: Các hình thức thanh toán qua ngân hàng được khách hàng sử dụng 122
Bảng 3.21: Các dịch vụ được thanh toán qua điện thoại di động 123
Bảng 3.22: Khách hàng sử dụng vốn vay theo độ tuổi 124
Bảng 3.23: Khách hàng sử dụng vốn vay theo nghề nghiệp 125
Bảng 3.24: Khách hàng sử dụng vốn vay theo thu nhập 125
Bảng 3.25: Khách hàng sử dụng vốn vay theo nơi ở 126
Bảng 3.26: Nguồn vốn vay khách hàng sử dụng 127
Bảng 3.27: Lý do không gửi tiền tiết kiệm ngân hàng của khách hàng 130
Bảng 3.28: Lý do khách hàng không vay được vốn ngân hàng 132
Bảng 3.29: Lý do khách hàng sử dụng nguồn vốn phi chính thức 134
Bảng 3.30: Lý do khách hàng sử dụng nguồn vốn phi chính thức 142
Bảng 3.31: Các nhân tố ảnh hưởng đến TCTC ở vùng Đồng bằng Bắc bộ 143
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính toàn diện 45
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số lượng máy ATM tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 - 2017 76 Biểu đồ 2.2: Quy mô và tốc độ tăng trưởng tiền gửi của dân cư vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 – 2017 78
Biểu đồ 2.3: Tình hình vay vốn tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 - 2017 81
Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng thẻ ngân hàng vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 – 2017 84
Biểu đồ 2.5: Số lượng POS và giá trị giao dịch qua POS vùng Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 2013 – 2017 85
Biểu đồ 3.1: Giới tính của khách hàng tham gia khảo sát 100
Biểu đồ 3.2: Nơi sống của khách hàng tham gia khảo sát 103
Biểu đồ 3.3: Số lượng khách hàng có tài khoản ngân hàng 105
Biểu đồ 3.4: Số lượng người sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng 111
Biểu đồ 3.5: Số người gửi tiết kiệm ngân hàng 116
Biểu đồ 3.6: Số lượng người sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng 118
Biểu đồ 3.7: Số người sử dụng vốn vay 123
Biểu đồ 3.8: Lý do khách hàng không có tài khoản ngân hàng 129
Biểu đồ 3.9: Lý do khách hàng không sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng 131
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Tài chính toàn diện hay tiếp cận tài chính toàn diện được hiểu khái quát
là các dịch vụ tài chính được cung ứng tới mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là đối với nhóm người dễ bị tổn thương, theo cách thức thuận tiện và phù hợp với nhu cầu, nhằm thông qua đó góp phần tạo cơ hội sinh kế, luân chuyển dòng vốn đầu tư
và tiết kiệm trong xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Trải qua nhiều thập kỷ, tài chính toàn diện đã trở thành tầm nhìn chung của toàn thế giới trong sứ mệnh xóa đói, giảm nghèo, hướng tới một xã hội ổn định, công bằng và thịnh vượng, nơi mọi người đều được thụ hưởng những thành quả do phát triển kinh tế đem lại Chính vì thế tiếp cận tài chính toàn diện đã trở thành chương trình nghị sự không chỉ ở cấp quốc gia của một nước mà còn ở hầu hết các nước trên thế giới
Mặc dù trong thời gian qua các nước đã đạt được những thành quả nhất định
về tăng trưởng kinh tế và mở rộng tiếp cận tài chính, song vẫn còn khoảng trống lớn trong việc tiếp cận tài chính vì trên thế giới vẫn còn rất nhiều người chưa được tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng Ở Việt Nam, có đến 70% người dân Việt Nam chưa tiếp cận với dịch vụ ngân hàng1, một tỷ lệ đáng kể người dân không có cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức, cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch dịch vụ tài chính chính thức thấp so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Nhất là người dân nghèo, phụ nữ và các đối tượng dễ bị tổn thương, họ gặp nhiều rào cản khi tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức do thiếu khuôn khổ pháp lý đồng bộ; cơ sở hạ tầng tài chính phát triển chưa đồng đều và, kiến thức về tài chính và bảo vệ người tiêu dùng còn hạn chế Có đến một nửa dân số của Việt Nam không có tài khoản ngân hàng tại một tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính chính thức (Đức Dũng, 2018) Phần lớn người dân sống ở khu vực nông thôn chưa được tiếp cận với những dịch vụ tài chính cơ bản của các tổ chức tài chính chính thức, họ vẫn quen với cách sử dụng tài chính truyền thống Những lý do chính được đưa ra là vì địa
1
https://vtv.vn/kinh-te/70-nguoi-dan-viet-nam-chua-tiep-can-voi-dich-vu-ngan-hang-20180323150709367.htm
Trang 14bàn quá xa, mạng lưới quy mô ngân hàng còn hạn chế, số lượng máy ATM ít, chi phí dịch vụ cho khoản tiết kiệm và cho vay nhỏ cao, thông tin tín dụng còn nghèo, yêu cầu khi mở tài khoản nhiều giấy tờ, thủ tục rườm rà
Đồng bằng Bắc Bộ là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, là một vùng nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, với mật
độ dân số cao nhất Việt Nam, hơn 22 triệu người, chiếm tỷ lệ 22,3% tổng dân số cả nước (Niên giám thông kê, 2017) Trong đó, người dân sống bằng nghề nông nghiệp chiếm xấp xỉ 62% tổng người dân cả vùng, những người này thường không
có trình độ, thu nhập không ổn định và kiến thức về tài chính chưa nhiều Cho nên dân ở nông thôn thì khó tiếp cận tài chính hơn so với người người dân thành thị do thu nhập thấp, mật độ chi nhánh ngân hàng thưa, trình độ hiểu biết về tài chính chưa cao, việc sở hữu tài khoản của người dân trong vùng chưa cao, khả năng tiếp cận với dịch vụ tiết kiệm, tín dụng còn gặp nhiều khó khăn… mà đây lại là nhóm khách hàng tiềm năng Nếu thúc đẩy TCTC ở đây thì sẽ thúc đẩy TCTC chung của cả nước, kích thích tăng trưởng kinh, giảm đói nghèo và bất bình đẳng trong xã hội
Chính vì thế, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu ―Thúc đẩy tiếp cận tài chính
toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ‖ với mong muốn tìm hiểu thực trạng tiếp cận
tài chính toàn diện tại Việt Nam thông qua các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ Trên cơ sở nghiên cứu những kết quả đạt được, một số hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại
để đề xuất một số khuyến nghị chính sách với các cơ quan chức năng nhằm thúc đẩy tiếp cận tài chính toàn diện các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ nói riêng và trên cả nước nói chung
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, chủ đề tiếp cận tài chính (TCTC) hay tiếp cận tài chính toàn diện (Financial Inclusion) đã được các tổ chức, các nước trên thế giới quan tâm, đồng thời có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Nhưng cho đến nay chưa có định nghĩa thống nhất nào về TCTC, bản thân nó luôn có những điều chỉnh và cụ thể hóa theo từng góc độ tiếp cận mà nó được sử dụng Do vậy, khái niệm về TCTC được thể hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào mục tiêu của từng quốc gia
Trang 15đối với TCTC, từng mục đích hoạt động của các tổ chức quốc tế
a/ Về khái niệm TCTC toàn diện
Nhìn từ góc độ người dân và doanh nghiệp, TCTC là mức độ tiếp cận của các
hộ gia đình và doanh nghiệp, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo hơn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối với các dịch vụ tài chính Nhưng có sự khác biệt quan trọng trong cách sử dụng và theo thời gian Nếu như Cyn-Young Park & Rogelio V Mercado Jr (2015) khẳng định "TCTC là sẵn sàng tiếp cận các hộ gia đình và doanh nghiệp với các dịch vụ tài chính có giá cả hợp lý" thì năm 2014 WB cho rằng
―TCTC là tỷ lệ cá nhân và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tài chính" Đến năm 2017,
WB một lần nữa đưa ra khái niệm ―TCTC là các cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính hữu ích và giá cả phải chăng đáp ứng được nhu cầu của họ - giao dịch, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm - được thực hiện một cách có trách nhiệm và bền vững
Kể từ đầu những năm 2000, việc TCTC đã được triển khai rộng rãi như một mối quan tâm chính sách ở nhiều quốc gia và có nhiều quan điểm khác nhau về TCTC Theo quan điểm của Peru, TCTC là phần lớn dân số có quyền truy cập rộng rãi vào danh mục sản phẩm và dịch vụ tài chính chất lượng như các khoản vay, dịch
vụ gửi tiền, bảo hiểm, lương hưu và hệ thống thanh toán (Giovanna Prialé Reyes và cộng sự, 2011) Cũng quan niệm này, WB (2014) khẳng định về sự TCTC là "phần của dân số sử dụng dịch vụ tài chính" là "định nghĩa hữu ích nhất vì nó có thể được
đo lường và kết hợp dễ dàng vào lý thuyết và công việc thực nghiệm" (Naceur và cộng sự, 2015) Do vậy, ở đây TCTC được mô tả một tình huống mà phần lớn các dịch vụ tài chính ở một quốc gia đạt được một tỷ lệ phần lớn dân số sử dụng Tuy nhiên, các quốc gia có thu nhập thấp lại có xu hướng xem xét TCTC trên giác độ tỷ
lệ dân số và doanh nghiệp không tiếp cận được dịch vụ tài chính chính thức với một
số các lý do, bao gồm: mạng lưới quy mô ngân hàng và các định chế tài chính khác còn hạn chế, số lượng máy ATM còn ít, chi phí dịch vụ với khoản tiết kiệm và cho vay nhỏ còn cao, hạn chế tài sản thế chấp và thông tin tín dụng còn nghèo nàn (Morgan và Pontines, 2014)
Trang 16Nếu như Clámara & cộng sự (2014) xác định TCTC là quá trình tối đa hoá việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức, đồng thời giảm thiểu những rào cản không chủ ý, được nhận thức bởi những cá nhân không tham gia vào
hệ thống tài chính chính thức thì WB (2008) lại nhấn mạnh TCTC là loại bỏ các rào cản về phí và chi phí trong việc sử dụng các dịch vụ tài chính Như vậy, có thể nói TCTC là xu thế đưa các dịch vụ tài chính chính thức (tài khoản ngân hàng, tiết kiệm
và tín dụng) đến cho mọi đối tượng, đặc biệt là các đối tượng khó khăn nhất do gặp phải các rào cản như thu nhập với chi phí hợp lý cho cả người dùng và đơn vị cung cấp dịch vụ (Sarma, 2015)
TCTC là giúp cho tất cả mọi người có quyền tiếp cận và sử dụng hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu, có chất lượng, tiện lợi, nhanh chóng ở mức chi phí chấp nhận được Theo Khan (2011), TCTC là quá trình đảm bảo tiếp cận dịch vụ tài chính và nhu cầu tín dụng cho đối tượng yếu thế như nhóm khách hàng có thu nhập thấp với chi phí hợp lý Cũng cùng quan điểm này, Ủy ban Rangarajan (2008) lập luận rằng TCTC là quá trình tiếp cận các dịch vụ tài chính và tín dụng kịp thời và đầy đủ khi cần thiết bởi các nhóm dễ bị tổn thương như các bộ phận yếu hơn và các nhóm thu nhập thấp với chi phí phải chăng Và WB (2014) cũng chỉ ra, TCTC bao gồm từ "tiếp cận và sử dụng các dịch vụ được cung cấp một cách có trách nhiệm và bền vững" tới "cung cấp các dịch vụ tài chính với chi phí phải chăng cho các nhóm có hoàn cảnh khó khăn và có thu nhập thấp" Tuy nhiên, nghiên cứu của Hannig và Jansen (2010) lại có quan điểm TCTC là thúc đẩy người dân không sử dụng dịch vụ ngân hàng sang sử dụng dịch vụ tài chính chính thức để
họ có cơ hội tiếp cận dịch vụ từ tiết kiệm, thanh toán đến tín dụng, bảo hiểm
Tác giả Park, C.-Y., and R V Mercado (2015) cho rằng TCTC là tập trung vào việc mở rộng các dịch vụ tài chính cho người nghèo, đồng quan điểm này nhóm tác giả Demirguc-Kunt A and Levine R E (2008) lập luận TCTC không chỉ là sự tăng trưởng thân thiện mà còn có lợi cho người nghèo Nhưng nhóm tư vấn cho Người nghèo (CGAP, 2013) lại cung cấp cái nhìn rộng hơn, TCTC là một thế giới
mà mọi người có thể truy cập và sử dụng có hiệu quả các dịch vụ tài chính mà họ
Trang 17cần để cải thiện cuộc sống của họ, chứ không chỉ phát triển thị trường tài chính riêng cho người nghèo
Cũng tương tự, nghiên cứu của Chakraborty (2011) cho biết TCTC là quá trình đảm bảo tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính thích hợp cần thiết cho các nhóm dễ bị tổn thương như các bộ phận yếu hơn và các nhóm thu nhập thấp với chi phí hợp lý một cách công bằng và minh bạch bởi các thể chế chính thống Nghĩa là,
bộ phận yếu thế không chỉ là những người nghèo mà còn bao gồm cả những người
có thu nhập thấp Ngoài ra RBI (2014) có bổ sung thêm TCTC là quá trình đảm bảo tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính thích hợp cần thiết cho tất cả các bộ phận của xã hội chứ không chỉ riêng các nhóm dễ bị tổn thương Đồng thời, theo FATF (2011a) cũng cho rằng TCTC là cung cấp các dịch vụ tài chính an toàn, tiện lợi và giá cả phải rộng rãi hơn cho các tất cả các cá nhân (không chỉ các nhóm thiệt thòi và
dễ bị tổn thương, như những người có thu nhập thấp, ở nông thôn và không có giấy
tờ, những người chưa được phục vụ hoặc loại trừ khỏi khu vực tài chính chính thức) Có thêm ý kiến của Hội đồng về TCTC Ấn Độ khẳng định TCTC là quá trình đảm bảo tiếp cận các dịch vụ tài chính và các khoản tín dụng đủ và kịp thời cho các nhóm gặp khó khăn nhất, như nhóm có thu nhập thấp, và ở mức chi phí hợp lý (Kumar và Mishra, 2011) Tác giả Sarma (2015) cũng bày tỏ quan niệm TCTC là quá trình đảm bảo sự dễ dàng, sẵn có và sử dụng của hệ thống tài chính chính thức cho tất cả các thành viên trong xã hội Thực vậy, các dịch vụ tài chính được xem như tài sản công và được cho là nên để cho mọi người tiếp cận và không nên bị phân biệt đối xử (Mehrotra và cộng sự, 2014)
TCTC không chỉ giới hạn trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng, mà bao gồm cả nâng cao hiểu biết về tài chính cho người dân và bảo vệ người tiêu dùng Nghĩa là, "tiếp cận" không có nghĩa là bất kỳ tiếp cận nào, mà là tiếp cận kèm theo các biện pháp tự vệ, chẳng hạn như quy định đầy đủ của các công ty cung cấp dịch vụ tài chính, luật pháp và các tổ chức để bảo vệ người tiêu dùng chống lại các sản phẩm không phù hợp Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải có nền giáo dục tài chính đầy đủ, vì người tiêu dùng không thể tận dụng được lợi ích của việc tiếp cận
Trang 18các dịch vụ tài chính nếu họ không hiểu đúng
Trong nghiên cửu của mình nhóm tác giả Islam và Mamun (2011) cho rằng, TCTC là khả năng cá nhân tiếp cận dịch vụ và sản phẩm tài chính phù hợp Hiểu biết về sự phù hợp dịch vụ và sản phẩm tài chính bao gồm sự nhận thức về tài chính, hiểu biết về ngân hàng, kênh dịch vụ ngân hàng và lợi ích khi sử dụng dịch
vụ tài chính qua ngân hàng Dịch vụ tài chính cơ bản bao gồm dịch vụ tiết kiệm, tín dụng ngắn hạn và dài hạn, cho vay mua nhà, cho thuê tài chính và bao thanh toán, dịch vụ bảo hiểm, hưu trí, thanh toán, chuyển tiền trong nước và kiều hối Gần giống với đó, quan niệm của Atkinson và Messy (2013) cho biết TCTC là quá trình quảng bá các sản phẩm và dịch vụ tài chính được kiểm soát và mở rộng phạm vi sử dụng của họ cho tất cả các phân đoạn của xã hội thông qua việc thực hiện các cách tiếp cận hiện tại và sáng tạo bao gồm nhận thức và giáo dục về tài chính Nhưng Giovanna Prialé Reyes và cộng sự (2011) còn khẳng định rằng TCTC ở Peru vừa có
cơ chế giáo dục tài chính và vừa có chế độ bảo vệ người tiêu dùng tài chính
Theo European Commissions Report (2008) TCTC là phương tiện cung cấp dịch vụ tài chính tới những đối tượng thiếu tiếp cận dịch vụ tài chính,bao gồm ba yếu tố cấu thành cốt lõi đó là tiếp cận, sử dụng và chất lượng dịch vụ tài chính Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ tài chính trong hệ thống toàn diện đầy đủ được cung cấp với giá cả hợp lý, thuận tiện và đảm bảo chất lượng cho khách hàng
Trong khi quan điểm về TCTC của Hồi giáo dựa trên hai trụ cột chính là các công cụ phân chia lại và chia sẻ rủi ro với nghiên cứu của Iqbal (2014) Cả hai công
cụ này là hình thức thực hiện các nguyên tắc Hồi giáo về công bằng xã hội, sự bao gồm và chia sẻ các nguồn lực Cuối cùng, các công cụ này có thể bổ sung cho nhau
để cho phép người nghèo tiêu thụ được, xây dựng tài sản, tăng thu nhập và bắt đầu kinh doanh (Ali, 2014) Iqbal (2014) giải thích cách tiếp cận có cấu trúc để tăng cường sự tiếp cận tài chính Thì tác giả Nhuệ Mẫn (2017) của Việt Nam lại cho rằng TCTC là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi cá nhân và
tổ chức, đặc biệt đối vơi người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tài chính, góp phần tạo cơ hội sinh kế, luận chuyển dòng vốn
Trang 19đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
b/ Về vai trò của TCTC toàn diện
Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trên toàn thế giới cho thấy tiếp cận tài chính đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo, giảm sự chênh lệch về thu nhập và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đó là, mở rộng TCTC có tác động tiêu cực đến sự nghèo nàn, tác động tích cực đến đầu tư và tăng trưởng kinh tế
TCTC có tác động giảm nghèo
TCTC là một thành phần thiết yếu của phát triển kinh tế và giảm nghèo
Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh về vấn đề này Tiêu biểu là Kunt, Beck và Honohan (2007), nhóm tác giả cho rằng TCTC không chỉ tạo sự tăng trưởng thân thiện mà còn người đem lại lợi ích cho người nghèo Sau đó đến Odhiambo (2010) cũng nhận thấy rằng phát triển tài chính dẫn đến giảm đói nghèo thông qua kênh tiết kiệm và Khan và cộng sự (2012) gợi ý rằng phát triển tài chính
Demirguc-sẽ làm giảm nghèo đói Đồng quan điểm việc mở rộng tiếp cận các dịch vụ tài chính đến công chúng sẽ làm giảm tác động trực tiếp của đói nghèo thông qua tăng trưởng thu nhập (Fadun, 2013) Rộng hơn nữa, việc TCTC là bổ sung cho tăng trưởng kinh
tế và cả hai bên đóng góp cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo Đây là nghiên cứu của Hannig và Jansen (2010), các tác giả đã lưu ý rằng sự phát triển của TCTC là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gián tiếp làm giảm đói nghèo và cải thiện phúc lợi cho người nghèo Có cùng quan điểm này nhưng tác giả Beck, Demirgüç-Kunt & Levine (2007) lại lập luận theo một cách khác, đó là việc thiếu các dịch vụ tài chính
có thể dẫn đến bẫy đói nghèo và sự gia tăng khoảng cách bất bình đẳng
Như vậy, nếu như các nghiên cứu trên đều cho rằng việc tiếp cận rộng rãi với các sản phẩm và dịch vụ tài chính dẫn đến việc phân bổ nguồn lực hiệu quả và mang lại đòn bẩy tài chính tốt hơn cho người nghèo để giảm nghèo Thì nhóm tác giả Aghion & Bolton (1997) lại khẳng định sự sẵn có của nguồn lực tài chính tăng cường tiếp cận giáo dục, tăng việc làm và phát triển con người giúp giảm nghèo Các chính sách TCTC có hiệu quả tác động lên các nền kinh tế vì nó góp phần giảm nghèo đói Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu kết luận rằng tăng cường
Trang 20TCTC đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo, trong đó có Honohan (2008) Ngoài ra, tác giả Collins (2009) đã tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa tiếp cận các dịch vụ tài chính phù hợp, giá cả phải chăng với cải thiện phúc lợi, thu nhập của người nghèo trong một nghiên cứu về theo dõi nhật ký tài chính của người nghèo ở Bangladesh, Ấn Độ và Nam Phi Hơn thế nữa Aghion & Bolton (1997) cũng đưa ra lập luận về sự sẵn có của nguồn lực tài chính sẽ tăng cường tiếp cận giáo dục, tăng việc làm và phát triển con người giúp giảm nghèo
Trái ngược với quan điểm trên, tác giả Honohan (2008) lại cho rằng TCTC chỉ làm giảm đói nghèo ở các thị trường tài chính kém phát triển Bởi vì cả hai nghiên cứu này đều nghiên cứu gộp chung phần lớn các quốc gia không đồng nhất, do đó kéo theo tính đa dạng có thể xảy ra Và những yếu tố này đã làm cho mối quan hệ ước tính yếu ớt giữa TCTC và nghèo đói
TCTC giúp tạo việc làm
TCTC có nghĩa là cung cấp các dịch vụ tài chính sẵn có cho người nghèo, cho
họ các cơ sở tín dụng phù hợp với nhu cầu của họ và tạo cơ hội việc làm cho họ - đó chính là điều mà Thorat (2008) đã nhận định trong nghiên cứu của mình Xuất phát
từ đó, có nhiều nghiên cứu đã chứng minh TCTC có tác động đến chất lượng cuộc sống của người dân Điển hình là World Bank, 2016 cho rằng mở rộng TCTC là việc đầu tiên giúp mọi người xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn Kết luận này dựa trên bằng chứng chứng minh rằng người nghèo đã đang dần sử dụng tài chính vào việc quản lý cuộc sống hàng ngày (Collins và cộng sự, 2009) Đó là, tăng khả năng TCTC có tác động tích cực đến đầu tư cho giáo dục và sức khỏe, Dupas và Robinson (2013b) cho biết khi sử dụng một sản phẩm cam kết tiết kiệm thì các khoản đầu tư cho dự phòng sức khỏe đã tăng lên và giúp người dân có thể đối phó với các cú sốc Ngoài ra, nghiên cứu của Attanasio & cộng sự (2011) về Mông Cổ cho thấy các khoản cho vay nhóm đối với tiêu dùng thực phẩm có tác động lớn đối
với cuộc sống của người dân
TCTC thúc đẩy tiết kiệm
Đối với các hộ gia đình, TCTC như một con đường thực sự cải thiện việc tạo
Trang 21ra các cơ hội tiết kiệm và hình thành vốn cho người nghèo (Ahmed, 2006) Đồng thời, các bằng chứng thực nghiệm của Ashraf & cộng sự (2010) cho thấy việc tiếp cận các công cụ tài chính làm tăng mức tiết kiệm và mức tiêu dùng (Ashraf và cộng
sự, 2010b) Ngoài ra, nghiên cứu của Han và Melecky (2013) còn đưa ra bằng chứng về việc tiếp cận và sử dụng các khoản tiền gửi rộng rãi hơn của các hộ gia đình có thể làm giảm đáng kể các khoản rút tiền gửi trong thời gian căng thẳng về tài chính
TCTC giúp hạn chế bất bình đẳng thu nhập
Trong nghiên cứu của mình, Beck và cộng sự (2004) kết luận rằng nếu nhu cầu về các dịch vụ tài chính không được đáp ứng thông qua hệ thống tài chính chính thức thì nó sẽ tự động chuyển sang nhiều nguồn không chính thức đắt đỏ Những người nghèo và bị tước đoạt buộc phải vay vốn với chi phí cao hơn làm giảm thu nhập của họ và do đó họ tiếp tục bị từ chối các khoản trợ cấp tích lũy Vì thế mà nếu thiếu nguồn tài chính thì không chỉ làm cản trở tăng trưởng kinh tế mà còn dẫn đến
sự bất bình đẳng về thu nhập Kakwani và Pernia (2000) nhận thấy rằng cải thiện TCTC có thể dẫn đến giảm đáng kể sự chênh lệch thu nhập hay TCTC có mối quan
hệ tích cực với mức thu nhập (Beck & cộng sự, 2007) Cùng quan điểm, Fadun (2013) cho biết việc mở rộng các dịch vụ tài chính cho người dân có thể thúc đẩy tăng trưởng thu nhập, song song với đó nghiên cứu của Townsend (2010) cũng nhấn mạnh sự phát triển tài chính cho phép các hộ gia đình tiếp cận với nhiều quỹ đầu tư cần thiết để tăng lương
TCTC đem lại hiệu quả trong đầu tư
Tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản như tín dụng, huy động tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đạt được hiệu quả đầu tư cao (Dupas & Robinson, 2009) Có cùng quan niệm này, các nghiên cứu của Karlan & Valdivia (2011) đã chứng minh rằng có một mối quan hệ tích cực và quan trọng giữa việc sử dụng tín dụng và phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu đã nghiên cứu sự tác động của việc thúc
Trang 22đẩy TCTC đến các hộ gia đình Karlan & Valdivia (2011) đều cho biết thông qua dịch vụ gửi tiền, tín dụng các hộ gia đình có thể ổn định tài chính, hoặc chủ động hơn trong việc tích lũy và tiêu thụ hàng hóa trong thời gian dài để phục vụ cho việc sản xuất, tăng cường đầu tư và kinh doanh hiện tại Đặc biệt, Brune và cộng sự (2011) đã lập luận mở rộng TCTC sẽ cải thiện các khoản tiết kiệm có tác động tích cực đến việc tăng năng suất nông nghiệp cho các hộ gia đình
TCTC thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định hệ thống tài chính
TCTC là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi cá nhân và tổ chức, đặc biệt đối với người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tài chính, góp phần tạo cơ hội sinh kế, luân chuyển dòng vốn đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Về phía các tổ chức kinh tế, đã có một số nghiên cứu chứng minh sự liên kết chắc chắn giữa TCTC và tăng trưởng của các doanh nghiệp Trong nghiên cứu của mình vào năm 1998, các tác Rajan & Zingales chứng minh TCTC phát triển sẽ tạo điều kiện cho các công ty tăng trưởng tốt Và thời gian lại một lần nữa đưa ra bằng chứng thực nghiệm nhấn mạnh về lập luận này, đó là vào năm 2006, Beck, Demirguc-Kunt & Levine đã tiếp tục sử dụng phương pháp tiếp cận của Rajan và Zingales (1998) và cung cấp các bằng chứng bổ sung cho thấy sự phát triển TCTC ngày càng tăng lên sẽ thúc đẩy cho sự tăng trưởng của các công ty Bên cạnh sự tăng trưởng của các doanh nghiệp mà TCTC mang lại, nghiên cứu của Bruhn & Love (2014) đã có bằng chứng về hiệu quả của việc thúc đầy TCTC làm tăng trưởng mở rộng mạng lưới các chi nhánh ngân hàng của Ấn Độ, Mexico và Ma-rốc Tuy nhiên khi nói đến tăng trưởng kinh tế là đề cập đến sự gia tăng bền vững về giá trị của các hoạt động kinh tế của một quốc gia trong một khoảng thời gian, trong đó
có hệ thống tài chính Nếu hệ thống tài chính phát triển tốt sẽ có tác động tích cực mạnh mẽ đối với tăng trưởng kinh tế (Hanning & Jansen, 2010) Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu đã kết nối các hoạt động của hệ thống tài chính với tăng trưởng kinh tế Theo Levine (2005), cơ sở hạ tầng của hệ thống tài chính góp phần làm giảm sự không đối xứng về thông tin tài chính, giảm chi phí giao dịch, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh
Trang 23tế Tác giả Demirguc-Kunt & Klapper (2012) cũng cho thấy một hệ thống tài chính hoạt động tốt và liên kết gắn liền với tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Cùng với đó, trong nghiên cứu của mình Rajan & Zingales (2003) cũng đưa ra quan điểm phát triển hệ thống tài chính thực sự đã nói lên sự tăng trưởng kinh tế Có một sự đồng ý rộng rãi giữa các nhà kinh tế về sự kết nối các hoạt động của hệ thống tài chính với tăng trưởng kinh tế Theo Levine (2005), cơ sở hạ tầng của hệ thống tài chính góp phần làm giảm
sự không đối xứng về thông tin tài chính, giảm chi phí giao dịch, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, Collins & cộng sự (2009) cũng lập luận, nền móng của một
hệ thống tài chính tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí thông tin và giao dịch từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh các nghiên cứu chứng minh việc mở rộng TCTC sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua sự phát triển của hệ thống tài chính Còn có rất nhiều nghiên cứu khác xác định mối liên hệ giữa phát triển TCTC với tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn khác nhau Đó là, các bằng chứng khảo sát của Ayyagari, Demirguc-Kunt & Maksimovic (2007) đã chứng minh TCTC thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc tăng năng suất Vào năm 2008, WB nhận định một cách tổng thể là mở rộng TCTC giúp các cá nhân bị bỏ qua có thể hòa nhập vào nền kinh
tế bằng cách tạo ra cơ hội cho mọi người từ đó sẽ dẫn tới sự phân tán công bằng hơn
về các lợi ích tăng trưởng Tác giả Johnson và Nino-Lazarawa (2009) đã phân tích chi tiết hơn về việc huy động tiết kiệm và đầu tư vào lĩnh vực sản xuất sẽ làm tăng trưởng kinh tế Với một góc nhìn khác, Martinez (2011) lập luận việc TCTC như là một công cụ chính sách quan trọng được chính phủ sử dụng để kích thích tăng trưởng nhờ khả năng phân bổ hiệu quả các nguồn lực sản xuất hiệu quả thông qua giảm chi phí vốn
Mặc dù phần lớn các nghiên cứu đều cho rằng TCTC thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song vẫn còn có một số nhà nghiên cứu như Banerjee & cộng sự (2015) đã không tìm ra các tác động biến đổi của tiếp cận tín dụng với thu nhập và việc làm của người dân Hay Sahay & cộng sự (2015) không có bằng chứng thuyết phục ở cấp vĩ mô về việc TCTC gắn liền với tăng trưởng cao hơn
Trang 24Có nhiều giải thích lý thuyết về mối liên hệ giữa TCTC và tăng trưởng kinh tế bao gồm bốn mô hình chính như sau Thứ nhất, có một giả thiết cung cấp hàng đầu đưa ra giả thuyết rằng sự điều khiển nhân quả xuất phát từ TCTC sang lĩnh vực thực (Calderón và Liu, 2003) Thứ hai, có giả thuyết về nhu cầu mà giả định rằng tăng trưởng kinh tế dẫn đến sự phát triển các nhu cầu về dịch vụ tài chính (Demetriades
& Hussein, 1996) Thứ ba, có giả thuyết nhân quả hai hướng, là sự kết hợp của giả thuyết dẫn đầu về cung và nhu cầu (Dermiguc-Kunt & Levine, 2001) Cuối cùng, có một giả thuyết độc lập cho rằng việc tăng cường TCTC và tăng trưởng kinh tế là độc lập về mặt nguyên tắc (Habibullah & Eng 2006)
Để làm rõ hơn các giả thuyết đó, Calderon và Liu (2002) đã chứng minh tất cả
sự phát triển tài chính đã dẫn đến tăng trưởng kinh tế một cách tự nhiên Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa Granger giữa sự phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế vẫn tồn tại song sự phát triển tài chính trong việc gây ra tăng trưởng kinh tế cao hơn ở các nước phát triển hơn ở các nước đang phát triển Một nghiên cứu quan tâm khác là Christopoulos và cộng sự (2004) đã xác minh xem mối quan
hệ dài hạn có tồn tại giữa TCTC và tăng trưởng kinh tế trong khuôn khổ đa biến cho
10 nước đang phát triển trong giai đoạn 30 năm (1970-2000) Tuy nhiên, nghiên cứu về những nhận định trên ở Nigeria lại có phần không thuyết phục trong Trong
đó có nghiên cứu của Ayadi và cộng sự (2008), điều tra mối quan hệ giữa phát triển TCTC và tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế chương trình điều chỉnh giai đoạn sau Kết quả cho thấy sự thiếu nhất quán trong mối quan hệ giữa các biến chính Tương tự, Onwioduokit (2007) đã tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả từ biến đổi của TCTC đối với tăng trưởng kinh tế nhưng không có bằng chứng phản hồi về chỉ số phát triển của phát triển tài chính tác động tích cực như thế nào đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria
Song song với các lập luận về TCTC thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có nhiều nghiên cứu chứng minh mức độ TCTC có thể mang lại ổn định về tài chính và phát triển kinh tế bền vững (Hannig & Jansen, 2010) Ngoài ra, Cull và cộng sự (2012) cùng cho rằng việc đa dạng hóa các khoản vay và tiền gửi là kênh truyền dẫn chính
Trang 25từ TCTC vào ổn định hệ thống tài chính
ên cạnh đó, Beck và cộng sự (2006) còn bày tỏ quan điểm rằng TCTC đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nhẹ tác động của các cú sốc từ bên ngoài đối với nền kinh tế trong nước
là những yếu tố quan trọng cho việc TCTC ở một quốc gia Họ cho rằng các nước
có GDP bình quân đầu người thấp có kết nối tương đối thấp hơn và tỷ lệ biết chữ thấp hơn và dường như độc quyền về tài chính hơn Ở Trung Quốc, Fungáčová & Weill (2015) cho thấy giáo dục tốt hơn và thu nhập cao hơn có liên quan đến việc
sử dụng các tài khoản chính thức và tín dụng chính thức cao hơn Ở Argentina, Tuesta & cộng sự (2015) nhận thấy rằng thu nhập và giáo dục là tất cả các yếu tố quan trọng để TCTC Tại Ấn Độ, Chithra & Selvam (2013) nhận thấy thu nhập, dân
số, sự biết chữ, tiền gửi và tín dụng thâm nhập có liên quan đáng kể đến việc TCTC Kumar (2013) cũng nhận thấy rằng cấu trúc kinh tế xã hội và môi trường rất quan trọng trong việc định hình thói quen ngân hàng của người dân ở Ấn Độ Tại Peru, Camara, Peña & Tuesta (2014) cho thấy mức thu nhập và giáo dục là những biến số quan trọng cho mức độ TCTC Trong nghiên cứu của Olaniyi Evans và Babatunde Adeoye, Ph.D (2016), đã đánh giá các yếu tố quyết định sự TCTC ở 15 nước châu Phi Nhóm tác giả cho thấy GDP bình quân đầu người, tỷ lệ người lớn biết đọc biết viết, truy cập internet và hoạt động ngân hàng Hồi giáo là những nhân tố quan trọng giải thích mức độ tiếp cận tài chính ở Châu Phi Còn các nhân tố lãi suất tiền gửi, lạm phát và dân số có tác động không đáng kể đến việc tiếp cận tài chính ở châu Phi Còn nhóm tác giả Kalsoom Zulfiqar & cộng sự (2016) lại lập luận thu nhập, giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn của một cá nhân đóng vai trò quan trọng trong TCTC Tuy nhiên, có một số nhà nghiên cứu đi sâu nghiên cứu một vài nhân tố cụ thể để
Trang 26xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến TCTC Tania Lopez & Adalbert Winkler (2016) đã tiến hành khảo sát các rào cản về đặc điểm và nhận thức của cá nhân đến TCTC Kết quả cho thấy trình độ học vấn, thu nhập và phân biệt đối xử về giới là những yếu tố quan trọng quyết định sự TCTC
Về đặc điểm cá nhân, giáo dục là một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất tới việc TCTC Nghiên cứu của Ximena Peña & cộng sự (2014) đã chứng minh mối tương quan là tích cực và chỉ ra rằng, với giáo dục nhiều hơn, sự tham gia vào hệ thống tài chính chính thức tăng lên Tuy nhiên, Goodwin và cộng sự (2000) lại chứng minh việc làm là yếu tố liên quan trực tiếp đến việc loại trừ tài chính
Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Kempson & Whyley (2001) nhấn mạnh rằng khoảng cách địa lý mà người dân sống ở các vùng nông thôn và ở các địa điểm xa trung tâm tài chính thường bị loại trừ về mặt tài chính nhiều hơn Nghĩa là cộng đồng nông thôn thường bị ảnh hưởng nhiều hơn các cộng đồng đô thị vì khoảng cách địa lý đến các trung tâm tài chính Gần với đó, mật độ dân số có ý nghĩa quan trọng đối với việc TCTC (Allen và cộng sự, 2014) Cũng cùng nhận định này, Honohan and King (2009) có thực hiện cuộc điều tra chéo giữa các quốc gia, bằng cách gộp dữ liệu từ nhiều quốc gia sau đó phân tích các lý do và tác động của TCTC Các kết quả ban đầu cho thấy TCTC ở khu vực thành thị lớn hơn, cao hơn ở nam giới và những người có học thức
Ngoài những nghiên cứu đề cập đến các nhân tố về phía cầu, có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã chứng minh sự hạn chế của TCTC đến từ phía các nhà cung cấp Đặc biệt là nghiên cứu của Asli Demirguc-Kunt & Leora Klapper (2013), đã chứng minh các rào cản về sử dụng tài khoản là chi phí và yêu cầu tài liệu của ngân hàng Hay Era Dabla-Norris và cộng sự (2015) nhận định rằng nếu giảm chi phí vay, đơn giản thủ tục về tài sản thế chấp, tăng cường môi trường pháp lý sẽ thu hẹp khoảng cách về tài chính ở các quốc gia Mỹ Latinh và vùng Caribbean
Ngoài ra, sự đổi mới công nghệ sẽ làm giảm sự loại trừ tài chính bằng cách giảm khoảng cách, rào cản về chi phí và mất an ninh giao dịch Từ đó làm tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính Nhóm tác giả Demirguc-kunt, Klapper, Singer
Trang 27& Oudheusden (2015) nhận thấy rằng việc TCTC thông qua đổi mới công nghệ, đặc biệt là tiền di động, tăng cường nhanh chóng mở rộng các dịch vụ tài chính ở Tiểu vùng Sahara Châu Phi Rộng hơn thế, nghiên cứu của Naceur và cộng sự (2015) đã xác định các yếu tố liên quan đến chính sách, có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho việc TCTC Và Love & Martínez Pería (2012) nhận thấy rằng các quốc gia có hệ thống ngân hàng cạnh tranh hơn có thể được hưởng sự TCTC chính lớn hơn
Mặc dù phần lớn các nghiên cứu đều nhận định TCTC chịu ảnh hưởng bời nhiều nhân tố khách quan từ phía cá nhân người dân, nhưng vẫn có một số nghiên cứu nhận định rằng việc không tiếp cận với các dịch vụ tài chính là tự nguyện Nghiên cứu của Beck, Demirgüç-Kunt & Honohan (2009) đã chứng minh việc tự nguyện loại trừ sử dụng các dịch vụ tài chính vì người dân không cần đến hoặc vì tôn giáo Ngoài ra, do thiếu sự tin tưởng vào hệ thống tài chính hoặc gặp phải các rào như mẫu mã và chất lượng sản phẩm không phù hợp với nhu cầu của người dân (Dittus & Klein, 2011) Cũng theo Ellison, Whyley và Forster (2010), thì hành động rút lui khỏi hệ thống tài chính có thể là do thiếu lòng tin, thiết kế sản phẩm không phù hợp và khó khăn trong việc quản lý chi tiêu Và trong các nghiên cứu gần đây
về việc TCTC ở các nước Hồi giáo Naceur và cộng sự (2015) đã phân tích dữ liệu cấp quốc gia hiện có về mối quan hệ giữa ngân hàng Hồi giáo và việc TCTC ở các quốc gia Hồi giáo Đáng ngạc nhiên là họ nhận thấy rằng, mặc dù việc TCTC đã tăng lên nhanh chóng ở những quốc gia này, nhưng việc sử dụng tài chính không tăng nhanh
d/ Mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến TCTC
Mặc dù có nhiều khái niệm đưa ra sự khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến TCTC toàn diện, nhưng rất ít nghiên cứu xác định một cách thực nghiệm các yếu tố quyết định TCTC hoặc các yếu tố thúc đẩy TCTC toàn diện Tính đến nay mới có một số nghiên cứu dành cho đo lường ảnh hưởng của các nhân tố đến TCTC
Kalsoom Zulfiqar & cộng sự (2016) đã nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến TCTC ở Pakistan thông qua mô hình Probit, để tìm hiểu các yếu tố định tính và các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc TCTC Đây là mô hình được sử dụng rộng rãi cho
Trang 28điều tra kinh tế lượng, là mô hình phân loại nhị phân, trong đó biến phụ thuộc là nhị phận Ước lượng của mô hình cho thấy, các yếu tố kinh tế xã hội, khoảng cách địa
lý và các rào cản về nhận thức có ảnh hưởng đến TCTC của các cá nhân
Ximena Peña, Carmen Hoyo & David Tuesta (2014) tìm hiểu các yếu tố quyết định đến TCTC ở Mehico từ phía cầu thông qua phương pháp phân tích hồi quy phi tuyến tính Các tác giả cố gắng giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến TCTC của người dân có tài khoản ngân hàng mà còn cho nhóm nhỏ trong thị trường lao động phi chính thức, khu vực dân số bị ảnh hưởng nhiều nhất về tài chính Kết quả cho thấy, nhu cầu phân tích chi tiết để khuyến khích sự tham gia nhiều hơn vào hệ thống tài chính chính thức bằng cách thiết kế từng sản phẩm cụ thể phù hợp với từng nhóm dân số có hoàn cảnh kinh tế và vị trí địa lý khác nhau
Như đã chỉ ra bởi Cano và cộng sự (2013), các nghiên cứu thực nghiệm về bao gồm tài chính áp dụng kỹ thuật kinh tế lượng có khuynh hướng bị ảnh hưởng bởi sự mất mát thông tin vì chúng dựa trên các chỉ số ràng buộc khái niệm bao gồm tài chính vào việc sở hữu một sản phẩm cụ thể như khoản vay hoặc tài khoản tổ chức tài chính chính thức Áp dụng một phương pháp như MCA giúp tận dụng tối đa tất
cả các thông tin sẵn có, bởi vì nhiều biến số có thể được sử dụng trong phân tích, cho biết đối tượng nghiên cứu có trách nhiệm (tín dụng), tài sản (tiết kiệm, bảo hiểm) (tài khoản vãng lai) hay không
Sarma và Pais (2008) cho thấy một phân tích thực nghiệm giữa các nước về các nhân tố ảnh hưởng đến TCTC Nghiên cứu đưa ra các nhân tố TCTC như, mức độ phát triển con người và sự hòa nhập tài chính có xu hướng di chuyển chặt chẽ với nhau, mặc
dù có một số trường hợp ngoại lệ Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các nước có mức
độ phát triển cao ở con người làm cho mức độ TCTC tương đối cao
Olaniyi Evans & Babatunde Adeoye, Ph.D (2016) xác định các yếu tố quyết
định sự TCTC ở Châu Phi Nghiên cứu này sử dụng mô hình kinh tế lượng đồng thời đã kết hợp phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng Arrelano-Bond và Arrelano-Bover / Bundell-Bond để đánh giá các yếu tố quyết định sự TCTC ở 15 nước châu Phi Kết quả cho thấy GDP bình quân đầu người, tỷ lệ người lớn biết đọc biết viết,
Trang 29truy cập internet và hoạt động ngân hàng Hồi giáo là những nhân tố quan trọng giải thích mức độ TCTC ở Châu Phi Ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy lãi suất tiền gửi, lạm phát và dân số có tác động không đáng kể đến việc TCTC ở châu Phi
Phù hợp với các nghiên cứu hiện có (Demirgüc-Kunt and Klapper, 2013) phân tích việc sử dụng các dịch vụ tài chính tại các quốc gia thông qua ba chỉ tiêu chính:
sở hữu tài khoản ngân hàng, tiết kiệm tại ngân hàng, và sử dụng tín dụng ngân hàng Kết quả cho thấy yếu tố thu nhập là nhân tố chính ảnh hưởng đến TCTC cá nhân toàn diện Allen và cộng sự (2012) phân tích đặc điểm cá nhân và đặc điểm quốc gia ảnh hưởng đến việc sở hữu tài khoản tại ngân hàng, tiết kiệm tại ngân hàng ở
123 quốc gia Kết quả cho thấy thu nhập và trình độ học vấn tác động đến tiếp cận tài chính cá nhân toàn diện
e/ Các chỉ tiêu đo lường TCTC toàn diện
Việc thúc đẩy TCT là một ưu tiên chính sách ở nhiều quốc gia Mặc dù tầm quan trọng của việc TCTC được công nhận rộng rãi, nhưng vẫn thiếu tài liệu về đo lường TCTC của các nền kinh tế Các nghiên cứu về đo lường TCTC đang phát triển
Có một số nghiên cứu cố gắng đo lường sự TCTC bằng cách đơn giản nhất là
đo tỷ lệ dân số trưởng thành hoặc tỷ lệ hộ gia đình (của một nền kinh tế) có quyền tiếp cận vào các dịch vụ tài chính chính thức (tức là có tài khoản ngân hàng) Vì biện pháp này chỉ có thể đạt được thông qua các cuộc điều tra chính trên toàn quốc
và do các cuộc khảo sát về tiếp cận dịch vụ tài chính chỉ được thực hiện ở một số ít các quốc gia
Nên đối với các quốc gia không thực hiện khảo sát như vậy, một biện pháp TCTC phải được lấy từ dữ liệu có sẵn về tiếp cận khu vực ngân hàng từ các nguồn thứ cấp Honohan (2008) đã cố gắng kết hợp thông tin dựa trên khảo sát và dữ liệu thứ cấp về số lượng tài khoản ngân hàng để ước tính kinh tế lượng tỷ lệ hộ gia đình/người lớn có quyền truy cập vào các dịch vụ tài chính cho tới 160 quốc gia Mặc dù có một số hạn chế, những ước tính này cung cấp thông tin thú vị; tuy nhiên, họ chỉ cung cấp một biện pháp TCTC một lần và không hữu ích để hiểu những thay đổi theo thời gian và trên khắp các quốc gia
Trang 30Một cách tiếp cận khác, được sử dụng bởi các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia khác nhau, là sử dụng nhiều chỉ số tiếp cận khu vực tài chính để nắm giữ tình trạng TCTC Các chỉ số được sử dụng phổ biến nhất là số tài khoản ngân hàng (trên 1000 người trưởng thành), số chi nhánh ngân hàng (trên một triệu người), số lượng ATM (trên một triệu người), số tiền tín dụng ngân hàng và số tiền gửi ngân hàng Trong Beck và cộng sự (2007), các chỉ số khác về phạm vi hoạt động của ngành ngân hàng đã được sử dụng - thâm nhập chi nhánh, tài khoản cho
vay và tiền gửi bình quân đầu người, tỷ lệ thu nhập cho vay và thu nhập tiền gửi,
Bên cạnh đó nghiên cứu của Sarma (2008) đã đề xuất một chỉ số tổng hợp kết hợp tất cả ba chiều trong một số duy nhất để đo lường TCTC Các chỉ số được phân loại thành ba chiều: khả dụng, khả năng tiếp cận và sử dụng Tính khả dụng đề cập đến sự sẵn có của các dịch vụ ngân hàng, có thể được đo lường, như có sẵn bao nhiêu ngân hàng trên 100.000 người dân Khả năng tiếp cận được thiết kế để nắm bắt được tỷ lệ những người có tài khoản ngân hàng Sử dụng để biết được có khối lượng tín dụng và tiền gửi đã được sử dụng bởi dân số Ba khía cạnh này rất quan trọng để đạt được mức độ TCTC Tuy nhiên, đến năm 2009, Sarma đã đề xuất một chỉ số đa chiều kết hợp ba chiều TCTC (khả năng tiếp cận, sẵn có và sử dụng) bằng cách sử dụng phương pháp dựa trên khoảng cách Hơn nữa, một nghiên cứu gần đây
của Sarma (2012) đưa ra chỉ số TCTC cho 94 quốc gia trong giai đoạn 2004-2010
Theo Sama (2015) chỉ tiêu đánh giá mức độ tiếp cận tài chính toàn diện được xác định trên ba nội dung (i) Sự thâm nhập của hệ thống ngân hàng, để đo lường thành phần số lượng tài khoản ngân hàng trên 1.000 dân (ii) Sự thuận tiện của các dịch vụ ngân hàng, cho biết mức độ sẵn có của các dịch vụ ngân hàng (iii) Mức độ
sử dụng, để đo lường tỷ lệ tiền gửi và cho vay của hệ thống ngân hàng trên GDP Ngoài ra, tác giả Ezazul và Salim (2011) cung cấp phương pháp đo lường định lượng về TCTC và chỉ số TCTC của Bangladesh như các chỉ số (i) số tài khoản cho vay trên 1.000 người, (ii) số tài khoản tiền gửi trên 1.000 người
Tuy nhiên, theo Cárama (2014), TCTC toàn diện được là quá trình tối đa hóa việc sử dụng và tiếp cận tài chính, đồng thời giảm thiểu việc loại trừ tài chính không
Trang 31tự nguyện Do đó, theo tác giả mức độ TCTC có thể được xác định bởi ba khía cạnh: sử dụng, rào cản và sự tiếp cận Được thực hiện theo 2 bước Đó là ước lượng từng khía cạnh của tiếp cận tài và xây dựng chỉ tiêu tổng hợp TCTC bằng cách tổng hợp trung bình trọng số của các giá trị tính toán từ bước đầu tiên Chỉ số TCTC tổng thể được tính toán bao gồm cả thông tin về cung và cầu
Một sáng kiến gần đây của Ngân hàng Thế giới, cơ sở dữ liệu Toàn cầu Findex (Demirguc-Kunt và Klap-per, 2012) cung cấp các chỉ số thú vị về sự bao gồm tài chính
từ các quan điểm vi mô (người lớn cá nhân), dựa trên các khảo sát chính của 150.000 người trưởng thành ở 148 quốc gia trong Năm 2011, các chỉ số này bao gồm tỷ lệ người lớn có tài khoản với tổ chức tài chính chính thức, người lớn đã lưu và vay bằng tài khoản chính thức, người lớn sử dụng phương thức không chính thức để tiết kiệm và nguồn không chính thức để vay và chia sẻ của người lớn bằng thẻ tín dụng / thẻ ghi nợ, với thế chấp và với một bảo hiểm y tế Các chỉ số này cũng được cung cấp bởi nhóm thu nhập, giới tính và trình độ học vấn của người trả lời
3 Khoảng trống nghiên cứu
Tổng quan các công trình trong nước và trên thế giới chỉ ra rằng nghiên cứu về TCTC toàn diện không phải là điều mới, nhất là trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên tại Việt Nam mới chỉ có một số nghiên cứu về ‖Vai trò của ngân hàng đối với phát triển tài chính toàn diện tại Việt Nam‖ của Nguyễn Thùy Dương, Nguyễn Thị Thu Trang (2017), ‖Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tài chính toàn diện - Giải pháp đối với Việt Nam‖ của Phạm Thị Hồng Vân, Trần Thị Thu Hường (2017), ‖Giải pháp thúc đẩy có hiệu quả tiếp cận tài chính tại Việt Nam‖ của Nguyễn Đức Long (2017) Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở góc độ định tính khi đánh giá về tài chính toàn diện Cơ sở
dữ liệu của các nghiên cứu đó chủ yếu dựa vào dữ liệu thứ cấp của toàn bộ nền kinh
tế Chính vì vậy tác giả cho rằng có một khoảng trống nghiên cứu về đánh giá tình hình TCTC toàn diện của người dân Việt Nam nói chung và Đồng bằng Bắc Bộ nói
riêng Đây chính là căn cứ quan trọng để tác giả lựa chọn đề tài của luận án: ―Thúc
đẩy tiếp cận tài chính toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ‖ Nghiên cứu không
Trang 32có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó Và tính đến tháng 4/2019 đây có thể được coi là công trình nghiên cứu đầy đủ về lý luận và thực tiễn TCTC toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ được thể hiện ở hai khía cạnh sau:
(i) Thực trạng TCTC toàn diện tại Việt Nam nói chung, về Đồng bằng Bắc Bộ nói riêng
(ii) Các nhân tố ảnh hưởng đến TCTC toàn diện dựa trên các mô hình nghiên cứu định lượng tại Việt Nam và tại Đồng bằng Bắc Bộ
4 Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích thực trạng cũng như các nhân tố tác động đến mức độ tiếp cận tài chính toàn diện của vùng Đồng bằng Bắc Bộ Các mục tiêu cụ thể là:
(i) Cung cấp một phân tích so sánh về thực trạng tiếp cận các sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng của người nghèo, người sống ở vùng nông thôn, người có thu nhập thấp của vùng Đồng bằng Bắc Bộ
(ii) Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cơ bản của người nghèo, người dân nông thôn, người có thu nhập thấp của vùng Đồng bằng Bắc Bộ
(iii) Đề xuất một số khuyến nghị chính sách đối với các bên có liên quan nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của người nghèo, người dân nông thôn, người có thu nhập thấp đến các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cơ bản với chi phí phù hợp với họ
4.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng cơ bản của các tỉnh Đồng Bằng Bắc bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến TCTC toàn diện tại vùng này
4.3 Phạm vi nghiên cứu
a/ Phạm vi nội dung
Phạm vi về không gian nghiên cứu:
Luận án chỉ giới hạn ở việc đánh giá thực trạng tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cơ bản của cá nhân người dân các tỉnh vùng Đồng bằng Bắc bộ đó là
Trang 33việc sử dụng tài khoản ngân hàng, dịch vụ tiết kiệm, vay vốn và thanh toán qua
Thêm vào đó, để đánh giá toàn diện hơn các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tài chính toàn diện, Luận án đã thực hiện nghiên cứu khách hàng trên 11 tỉnh, thành phố thông qua lấy phiếu khảo sát trực tiếp Đối với khách hàng, mẫu khách hàng nghiên cứu là các khách hàng cá nhân, đây là đối tượng khách hàng chủ yếu chưa tiếp cận với các dịch vụ tài chính và đồng thời cũng là khách hàng tiềm năng của các tổ chức tài chính
b/ Phạm vi thời gian
Dữ liệu thứ cấp về ngành ngân hàng được thu thập trong giai đoạn 2013 –
2017 tại 10 chi nhánh NHNN thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ
Dữ liệu thứ cấp về dân số, điều kiện tự nhiên được thu thập trong giai đoạn
2013 – 2017 tại niên giám thống kê và báo cáo tổng kết hàng năm của các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ
Dữ liệu thứ cấp so sánh các chỉ tiêu tiếp cận các sản phẩm dịch vụ cơ bản trong giai đoạn 2013 – 2017 được tính toán từ năm 2013 – 2017 để đưa ra các con
số bình quân cho giai đoạn này
Dữ liệu sơ cấp về khách hàng được thu thập từ cuộc khảo sát trực tiếp thông qua phiếu hỏi đối với người trưởng thành trong vùng, chủ yếu là những người sống ở vùng nông thôn, từ tháng 1 - 7/2018
5 Các câu hỏi nghiên cứu
Sau quá trình tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số công trình khoa học thuộc phạm vi đề tài đã công bố, những câu hỏi mới cần tác giả luận án định hướng nghiên cứu nhằm tìm ra giải đáp cụ thể; bao gồm:
(i) Thực trạng TCTC toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ?
(ii) Những nhân tố nào ảnh hưởng từ phía cầu và từ phía cung đến TCTC toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ?
(iv) Giải pháp nào để thúc đẩy TCTC toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ?
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 346.1 Phương pháp thống kê
6.2 Phương pháp điều tra khảo sát
Tác giả tiến hành khảo sát để thăm dò ý kiến khách hàng là cá nhân thông qua Phiếu điều tra khảo sát để tìm hiểu các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mà khách hàng đang sử dụng Tìm ra các nguyên nhân và một số đề xuất của khách hàng
6.3 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Việc xác định các chỉ tiêu dùng để nghiên cứu về mức độ TCTC toàn diện của vùng Đồng bằng Bắc bộ dựa trên cơ sở tham khảo các tài liệu, sách, tạp chí, bài báo, trang web, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của NHNN chi nhánh các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ, báo cáo tổng kết thường niên của UBND các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ, và niên giám thống kê hàng năm của Tổng cục Thống kê
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp được thu thập từ phiếu điều tra thực tế thông qua bảng hỏi được chuẩn bị sẵn
Chọn mẫu nghiên cứu: Điều tra tổng thể
Số phiếu khảo sát được phát ra là 425 phiếu
Phiếu điều tra khảo sát và đánh giá khả năng của khách hàng về sử dụng sản phẩm dịch vụ tài chính cơ bản Điều này cho biết mức độ tiếp cận tài chính của khách hàng về Từ đó đánh giá về thực trạng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tiếp cận tài chính Trong nghiên cứu này, mẫu được chọn chủ yếu từ những người dân sống ở vùng nông thôn, người có thu nhập thấp và một phần là khách hàng của NHNNo&PTNT, NHCSXH, QTDND Do tổng thể nghiên cứu được cấu tạo bởi nhiều loại khách hàng sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau tại ngân hàng và
ý kiến đánh giá của các khách hàng có độ tuổi khác nhau, thu nhập khác nhau, nơi ở khác nhau, thu nhập khác nhau nên mức độ chính xác của việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tiếp cận tài chính toàn diện là tổng thể, số liệu thu thập đảm bảo khá toàn diện, tác giả phân bổ ra theo từng tỉnh, đồng thời tại mỗi tỉnh tác
Trang 35giả phân bổ việc khảo sát đến các phòng giao dịch của mỗi ngân hàng
6.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin
6.4.1 Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp
Trong quá trình nghiên cứu, các thông tin về những chỉ tiêu của ngân hàng được tác giả thu thập dựa vào các báo thường niên của NHNN chi nhánh các tỉnh Bao gồm số lượng chi nhánh NHTM, số lượng thẻ các loại, số lượng cây ATM, số lượng máy POS, tổng nguồn huy động từ nền kinh tế, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế… Các số liệu được tác giả chọn lọc, xử lý và đưa vào nghiên cứu này dưới dạng các bảng thống kê Nội dung phân tích các số liệu này bao gồm phân tích so sánh số liệu giữa các giai đoạn, cụ thể là theo từng năm
6.4.2 Phương pháp thống kê mô tả và thống kê suy luận
Thống kê mô tả cho phép các nhà nghiên cứu trình bày các dữ liệu thu thập được dưới hình thức cơ cấu và tổng kết Các thống kê mô tả sử dụng trong nghiên cứu này để phân tích, mô tả dữ liệu bao gồm: số lượng của chi nhánh ngân hàng trên 100.000 người dân, số lượng của chi nhánh ngân hàng trên 1.000km2,
Lập bảng tần số để mô tả mẫu
Mẫu thu được sẽ được mô tả theo các thuộc tính như giới tính, độ tuổi, thu nhập, nghề nghiệp, nơi ở
7 Những đóng góp mới của luận án
(i) Luận án khái quát hóa quá trình phát triển của TCTC trên thế giới và Việt Nam đồng thời tổng hợp lý luận chung về TCTC toàn diện, các nhân tố ảnh hưởng đến TCTC, vai trò của TCTC và những bài học kinh nghiệm quốc tế về TCTC toàn diện áp dụng cho Việt Nam
(ii) Luận án là tài liệu đầu tiên nghiên cứu về thực trạng TCTC toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ trên cơ sở tổng hợp số liệu từ ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, dụng số liệu của Tổng cục thống kê và bộ số liệu khảo sát Từ bộ chỉ số đánh giá TCTC của Global Findex luận án tính toán các chỉ tiêu TCTC phù hợp với Đồng bằng Bắc Bộ và so sánh với cả nước
(iii) Luận án sử dụng mô hình định lượng probit dựa trên bộ số liệu khảo sát
Trang 36thu được từ phiếu điều tra trực tiếp để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến TCTC toàn diện các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ
(v) Trên cơ sở phân tích thực trạng, nguyên nhân ảnh hưởng đến tiếp cận tại chính toàn diện trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ luận án đề xuất một số khuyến nghị với các bên liên quan nhằm thúc đẩy TCTC tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ và Việt Nam
8 ết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được chia thành bốn chương, cụ thể:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về tiếp cận tài chính toàn diện
Chương 2: Thực trạng tiếp cận tài chính toàn diện tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ Chương 3: Mô hình và kết quả nghiên cứu tiếp cận tài chính toàn diện tại các
tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ
Chương 4: Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy tiếp cận tài chính toàn diện tại
các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ
Trang 37CHƯƠNG 1 NHỮNG Ý UẬN CƠ BẢN VỀ THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÀI CHÍNH
TOÀN DIỆN
1.1 TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
1.1.1 Khái niệm tiếp cận tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện hoặc tiếp cận tài chính (TCTC) toàn diện đều là cách dịch khác nhau của thuật ngữ Financial Inclusion ―TCTC là quá trình quảng bá các sản phẩm, dịch vụ tài chính và mở rộng phạm vi sử dụng cho tất cả các phân đoạn của
xã hội thông qua việc thực hiện các cách tiếp cận hiện tại và sáng tạo, bao gồm nhận thức và giáo dục về tài chính nhằm thúc đẩy tiếp cận tài chính và hội nhập kinh tế,
xã hội‖ Atkinson & Messy (2013)
Hiện nay, do có sự khác biệt trong cách sử dụng và sắc thái thời gian nên có nhiều quan niệm khác nhau về tiếp cận tài chính
Theo Hannig và Jansen (2010) ―TCTC là thúc đẩy người dân không sử dụng dịch vụ ngân hàng sang sử dụng dịch vụ tài chính chính thức để họ có cơ hội tiếp cận dịch vụ từ tiết kiệm, thanh toán đến tín dụng, bảo hiểm‖ Cùng chung quan điểm tổ công tác hành động tài chính (FATF) trong báo cáo năm 2011 cho biết
"TCTC là cung cấp các dịch vụ tài chính an toàn, tiện lợi và giá cả phải chăng cho các nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương, bao gồm những người có thu nhập thấp, ở nông thôn và không có giấy tờ, những người chưa được phục vụ hoặc loại trừ khỏi khu vực tài chính chính thức Mặt khác, nó cũng cung cấp các dịch vụ tài chính rộng rãi hơn cho các cá nhân hiện đang chỉ được sử dụng các sản phẩm tài chính cơ bản" (FATF 2011a) Hay một góc nhìn sâu sắc hơn của Trung tâm tài chính tại Washington là ―TCTC là một trạng thái mà tất cả mọi người đều có quyền truy cập vào một bộ đầy đủ các dịch vụ tài chính chất lượng, được cung cấp với giá cả phải chăng, một cách thuận tiện và có phẩm giá cho khách hàng Các dịch vụ tài chính được cung cấp bởi một loạt các nhà cung cấp, hầu hết trong số họ là tư nhân và tiếp cận tất cả những người có thể sử dụng chúng, bao gồm cả người khuyết tật, người
Trang 38nghèo, nông thôn và các nhóm bị loại trừ khác‖ (Ardic & cộng sự, 2012) Đồng thời, Khan (2011) cho rằng ―TCTC là quá trình đảm bảo tiếp cận dịch vụ tài chính
và nhu cầu tín dụng được đáp ứng cho đối tượng yếu hơn như nhóm khách hàng có thu nhập thấp với chi phí hợp lý Những điều được thể hiện khả năng tiếp cận tài khoản ngân hàng như tài khoản tiết kiệm, tiếp cận tín dụng và hệ thống thanh toán qua ngân hàng‖ Còn Việt Nam cho rằng ―Tài chính toàn diện hiểu khái quát nhất là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là đối với nhóm người dễ bị tổn thương nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính, góp phần tạo cơ hội sinh kế, luân chuyển dòng vốn đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế‖ (Sơ lược tài chính toàn diện, 2018)
Tuy nhiên, TCTC toàn diện còn được hiểu ở phạm vi rộng hơn, đó là TCTC là việc mọi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch
vụ tài chính một cách thuận tiện, phù hợp nhu cầu với chi phí hợp lý do các tổ chức tài chính cung cấp một cách có trách nhiệm và bền vững, trong đó chú trọng đến nhóm người nghèo, người thu nhập thấp, người yếu thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ Bằng chứng là WB (2017) cho biết ―TCTC là việc các cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ tài chính hữu ích với giá cả phải chăng, đáp ứng được các nhu cầu của họ bao gồm: chuyển tiền, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm - được cung cấp một cách có trách nhiệm và bền vững‖
Như vậy khái niệm về TCTC được thể hiện rất đa dạng theo từng tổ chức, từng quốc gia, phụ thuộc vào mục tiêu của từng tổ chức, từng nước đối với TCTC Trên cơ sở đó, để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu luận án sử dụng khái niệm TCTC toàn diện như sau: ―TCTC là phần lớn người dân tiếp cận và sử dụng rộng rãi các sản phẩm và dịch vụ tài chính hữu ích một cách thuận tiện, có chất lượng với giá cả phải chăng đáp ứng nhu cầu của họ, nhất là người nghèo, người có thu nhập thấp, sống ở nông thôn, vùng sâu vùng xa Bao gồm các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng, giao dịch, thanh toán, bảo hiểm Đồng thời có cơ chế giáo dục tài chính và bảo vệ
Trang 39người tiêu dùng‖
Nghĩa là TCTC đòi hỏi khuyến khích thị trường phát triển và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính tập trung vào những người có mức truy cập thấp, người có hoàn cảnh khó khăn TCTC lớn hơn có thể thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc thiết lập các cơ chế cho phép truy cập nhiều hơn vào các sản phẩm và dịch vụ của các tổ chức tài chính; kiến thức sâu hơn về ngân hàng và các tổ chức tài chính
vi mô
Do vậy theo cách hiểu chung thì TCTC là phương tiện cung cấp dịch vụ tài chính tới những đối tượng thiếu tiếp cận sản phẩm, dịch vụ tài chính và bao hàm ba yếu tố cấu thành cốt lõi đó là tiếp cận, sử dụng và chất lượng dịch vụ tài chính TCTC không chỉ giới hạn trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng, mà còn nâng cao hiểu biết về tài chính cho người dân và bảo vệ người tiêu dùng Triển khai tiếp cận tài chính giúp cho tất cả mọi người có quyền tiếp cận và sử dụng hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu, có chất lượng, tiện lợi, nhanh chóng ở mức chi phí chấp nhận được
1.1.2 Vai trò của tiếp cận tài chính
1.1.2.1 Vai trò của tiếp cận tài chính với nền kinh tế
a/ TCTC là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
TCTC có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh, theo nghiên cứu của Calderon & Liu (2002) nhóm tác giả đã kiểm tra về sự phát triển tài chính có dẫn đến tăng trưởng kinh tế một cách tự nhiên không Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa sự tiếp cận tài chính và tăng trưởng kinh tế vẫn tồn tại, song sự tiếp cận tài chính sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển cao hơn ở các nước phát triển đang phát triển Nghiên cứu AnasIswanto Anwar & cộng sự (2016) xem xét mối quan hệ giữa một hệ thống tài chín), bao gồm xóa đói giảm nghèo, trung gian ngân hàng và tăng trưởng kinh tế Nhóm tác giả cho biết sự loại trừ tài chính và nghèo nàn có mối quan hệ trực tiếp đến trung gian ngân hàng, giảm đói nghèo thông qua việc tiếp cận tài chính Từ đó có tác động trực tiếp tăng trưởng kinh tế Điều đó có nghĩa là tăng trưởng kinh tế không thể phát triển được trong một
Trang 40quốc gia nếu phần lớn dân số bị loại trừ về tài chính khi tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng Chakraborty (2010) đã khẳng định rằng không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế tổng thể nếu không có sự tham gia tích cực của những người bị loại trừ và bị gạt ra ngoài lề xã hội
Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng TCTC có tác động tích cực đến đầu tư và tăng trường, bất kể sự gia tăng tài chính nào cũng sẽ làm tăng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng Và TCTC lại có tác động tiêu cực đến nghèo đói, nghĩa là bất kỳ sự gia tăng tài chính nào sẽ làm giảm đói nghèo xuống Đồng thời, tăng trưởng kinh tế và tăng đầu tư cũng làm giảm đói nghèo trong xã hội (AnasIswanto Anwar và cộng sự,2016)
b/ TCTC giúp giảm đói nghèo và bất bình đẳng xã hội
Các nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ tích cực mạnh mẽ ở cấp độ quốc gia giữa TCTC với mức thu nhập và giảm nghèo Cụ thể là có nhiều bằng chứng từ các nghiên cứu trên toàn thế giới cho thấy TCTC đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo, giảm sự chênh lệch về thu nhập và giảm sự bất bình đẳng xã hội Đó
là, TCTC giúp tạo ra giá trị cho các doanh nghiệp nhỏ, đem lại tác động lớn cho việc cải thiện các chỉ số phát triển con người như y tế, dinh dưỡng và giáo dục - và đẩy lùi bất bình đẳng, nghèo đói (CIMP, 2011) Ngoài ra, Johnson và Nino - Lazarawa (2009) đã chỉ ra rằng việc huy động tiết kiệm sẽ tạo điều kiện cho các đối tượng bị loại trừ trong hệ thống tài chính chính thức có thể tiếp cận tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ giảm nghèo để đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và giảm đói nghèo Đồng thời, cơ sở hạ tầng của hệ thống tài chính góp phần hạn chế thông tin tài chính bất đối xứng, giảm chi phí giao dịch ký kết hợp đồng Các chính sách tài chính toàn diện hiệu quả tác động lên các ngành kinh tế, góp phần giảm nghèo và bất bình đẳng xã hội
c/ TCTC tạo điều kiện cho việc thanh toán, chuyển tiền an toàn, tiện lợi, bảo mật
và tăng tiết kiệm quốc gia
Jack và Suri (2014) kiểm tra tác động của việc giảm chi phí giao dịch của tiền
di động đối với chia sẻ rủi ro ở Kenya Việc chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản ngân hàng thụ hưởng, thay vì thanh toán bằng tiền mặt đối với các khoản trợ cấp sẽ