1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố hà nội

249 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 8,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mai Ngọc Anh 2014 trong nghiên cứu về "Mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp" đã nghiên cứu tổng quan về khuôn khổ quy định về kế toán v

Trang 2

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Ngô Thị Thu Hồng

2 PGS.TS Nguyễn Thị Lời

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án

là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

T¸c gi¶ luËn ¸n

Trần Thị Hương

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH

NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP

22

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán thuế thu nhập

doanh nghiệp

22

1.1.2 Bản chất của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp 23 1.1.3 Mục tiêu của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp 25 1.1.4 Vai trò của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp 27 1.1.5 Khung pháp lý về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp 28

1.2 Mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách

thuế thu nhập doanh nghiệp

30

1.2.1 Các quan điểm về mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về

kế toán và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp

30

1.2.2 Hệ quả của quan điểm xây dựng chính sách thuế có sự độc lập

tương đối với khuôn khổ pháp lý về kế toán

33

1.3 Nhu cầu thông tin về thuế thu nhập doanh nghiệp trên báo cáo

tài chính của các đối tƣợng sử dụng thông tin

34

1.4.1 Thu thập thông tin phục vụ công tác kế toán thuế thu nhập

doanh nghiệp

36

Trang 5

1.4.4 Kê khai và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp 53 1.4.5 Xử lý kế toán sau quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp 54 1.4.6 Trình bày thông tin về thuế thu nhập doanh nghiệp trên báo

cáo tài chính

54

1.5 Các lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán

thuế thu nhập doanh nghiệp

57

1.5.1 Lý thuyết về hành vi 57 1.5.2 Lý thuyết về hệ thống thông tin 57 1.5.3 Lý thuyết về lợi ích và chi phí 58

1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp 59 1.6.1 Hệ thống chính sách pháp luật 59 1.6.2 Lãnh đạo doanh nghiệp 60 1.6.3 Chất lượng nhân lực kế toán 61 1.6.4 Công nghệ thông tin 61 1.6.5 Tổ chức hướng dẫn thực hiện, kiểm tra và tư vấn 62 1.6.6 Đặc điểm nền kinh tế 62 1.6.7 Áp lực về cân đối lợi ích - chi phí 62

Chương 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

65

2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố

Hà Nội

65

2.1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

65

2.1.2 Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp xây lắp đến công tác kế toán thuế thu nhập

doanh nghiệp

66

Trang 6

doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội đến công

tác kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

2.1.5 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán 70

2.2 Nhu cầu thông tin về thuế thu nhập doanh nghiệp trên báo cáo

tài chính của các đối tượng sử dụng thông tin

72

2.3 Thực trạng kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh

nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

cáo tài chính

101

2.4 Hạn chế của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong việc đáp

ứng nhu cầu thông tin về thuế thu nhập doanh nghiệp trên báo

cáo tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin

104

2.4.1 Cơ sở đánh giá 104 2.4.2 Nội dung đánh giá 105

2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế thu nhập doanh

nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố

Hà Nội

111

2.5.1 Xây dựng giả thuyết 111 2.5.2 Mô hình lý thuyết 115 2.5.3 Xây dựng thang đo trong mô hình 117

Trang 7

2.6 Kết luận chung về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong

các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội và các

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN

THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG CÁC DOANH NGHỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

130

3.1 Định hướng phát triển kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

trong hệ thống kế toán đến năm 203

130

3.2 Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh

nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố

Hà Nội

131

3.3 Một số giải pháp hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh

nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố

Hà Nội

133

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện việc thu nhận thông tin phục vụ kế toán

thuế thu nhập doanh nghiệp

3.3.4 Giải pháp hoàn thiện việc xử lý kế toán thuế thu nhập doanh

nghiệp sau quyết toán

148

3.3.5 Giải pháp hoàn thiện việc trình bày thông tin về thuế thu nhập

doanh nghiệp trên báo cáo tài chính

150

Trang 8

3.4.1 Đối với Nhà nước 154 3.4.2 Đối với các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội 159 3.4.3 Đối với hiệp hội hành nghề kế toán, tổ chức cung cấp dịch vụ

và đào tạo kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

163

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

APB : Hội đồng nguyên tắc kế toán Mỹ

BETL (Bookearlier taxlater) : Cơ sở kế toán ghi nhận trước, cơ sở thuế

ghi nhận sau

FASB : Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính GAAP : Các nguyên tắc ké toán được chấp nhận chung

IASB : Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế

IASC : Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế

IFRS : Chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính

TEBL (Taxearlier booklater) : Cơ sơ sở tính thuế ghi nhận trước, cơ sở kế

toán ghi nhận sau

Trang 10

Số hiệu

1.1 Bảng tổng hợp nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN 63 2.1 Đặc điểm công tác kế toán của các đối tượng khảo sát 70 2.2 Thống kê mô tả nhu cầu thông tin và mức độ đáp ứng nhu cầu

thông tin về thuế TNDN trên BCTC

2.8 Thống kê mô tả về xác định thuế TNDN hiện hành tại các

doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

80

2.9 Kế hoạch chuyển lỗ phát sinh các kỳ trước và đăng ký kế

hoạch chuyển lỗ kỳ này

87

2.10 Bảng tổng hợp một số sai sót trọng yếu trong việc xác định

thuế TNDN hiện hành

87

2.11 Thống kê mô tả về xác định thuế TNDN hoãn lại tại các doanh

nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

90

2.12 Bảng xác định chênh lệch tạm thời được khấu trừ năm 2016 92 2.13 Bảng xác định tài sản thuế TNDN hoãn lại năm 2016 92 2.14 Bảng xác định chênh lệch tạm thời chịu thuế 94 2.15 Bảng xác định thuế TNDN hoãn lại phải trả năm 2016 94

Trang 11

2.18 Quyết toán Thuế TNDN phải nộp trong năm 2017 của công ty

cổ phần phát triển Từ Liêm và CTCP xây dựng FLC FAROS

98

2.19 Thống kê mô tả thực trạng xử lý kế toán sau quyết toán thuế TNDN 99 2.20 Thống kê mô tả thực trạng trình bày thuế TNDN trên BCTC 102 2.21 Kiểm định KMO và Bartlett's Test 122 2.22 Kết quả kiểm định các giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng

đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên

địa bàn thành phố Hà Nội

127

2.23 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kế toán thuế TNDN

trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

128

3.1 Lợi ích của các khoản lỗ chưa sử dụng 2017 146 3.2 Xác định thuế TNDN phải nộp năm 2018 147

Trang 12

Số hiệu

sơ đồ

1.1 Sơ đồ tổ chức hệ thống sổ kế toán thuế riêng 38 1.2 Sơ đồ xác định thuế TNDN phải nộp trên cơ sở LNKT 38 1.3 Phân bổ lỗ năm hiện tại 45 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp xây lắp 68 2.2 Tổ chức hoạt động sản xuất của doanh nghiệp xây lắp 69 2.3 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN 117

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tổng quan nghiên cứu

Phần này sẽ trình bày về xu hướng nghiên cứu về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trên thế giới và ở Việt Nam Dựa trên các kết quả nghiên cứu đó, khoảng trống nghiên cứu sẽ được xác định làm định hướng cho nội dung nghiên cứu của luận án Các nghiên cứu về kế toán thuế TNDN chủ yếu tập trung vào ba quan điểm nghiên cứu chính:

(i) Mối quan hệ giữa kế toán và thuế TNDN

(ii) Thuế và Kế toán thuế TNDN

(iii) Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN

1.1 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa kế toán và thuế thu nhập doanh nghiệp

Aisbit (2002), đã chỉ ra rằng thuế và kế toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mục tiêu của thuế TNDN là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện mục tiêu quản lý vĩ mô nền kinh tế, trong khi mục tiêu của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho việc ra quyết định của đối tượng sử dụng thông tin Chính vì vậy, mối quan hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc cung cấp thông tin hữu ích trên báo cáo tài chính (BCTC)

Tiếp tục vấn đề nghiên cứu của Aisbit (2002), Speake (2011) đã khẳng định rằng các quy định của luật thuế chỉ dùng để tính toán thuế TNDN phải nộp Phương pháp nghiên cứu của Aisbit (2002) và Speake (2011) là dựa trên cơ sở lý thuyết, những quy định về kế toán và thuế để phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm cá nhân về mối quan hệ giữa kế toán và thuế nhằm gợi mở hướng nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu kế toán và các đơn vị có trách nhiệm xây dựng chuẩn mực, chế độ

kế toán, các doanh nghiệp, người làm kế toán hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa kế toán và thuế Nghiên cứu không đề cập đến các biện pháp kỹ thuật làm thế nào để cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC khi kế toán và thuế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Trang 14

Mai Ngọc Anh (2014) trong nghiên cứu về "Mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp" đã nghiên cứu tổng

quan về khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế TNDN, các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này, đồng thời đánh giá ưu nhược điểm của quan điểm liên kết và quan điểm có sự độc lập tương đối giữa các quy định của chính sách thuế và

hệ thống kế toán Nghiên cứu không đặt trọng tâm vào hoàn thiện kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC phục vụ cho các cổ đông và nhà đầu tư mà tập trung hướng tới những giải pháp vĩ mô trong việc hoàn thiện khuôn khổ quy định về kế toán Việt Nam trong mối quan hệ với chính sách thuế TNDN

Ngoài các nghiên cứu trên, có rất nhiều các nghiên cứu khác về mối quan

hệ giữa kế toán và thuế TNDN như nghiên cứu của Radcliffe (1993); Hoogendoorm (1996); James (2009); Napoca (2014); Cuzdriorean (2010); Aisbit (2002); Logan (2011); Freedman (2004) Hầu hết các nghiên cứu này đều thừa nhận mối quan hệ phức tạp giữa kế toán và thuế, mối quan hệ phức tạp này này làm ảnh hưởng đến tính hữu ích của thông tin cung cấp trên BCTC Xu hướng chung của các nghiên cứu đều hướng đến sự độc lập tương đối giữa kế toán và thuế Các nghiên cứu đều dựa trên cơ sở lý thuyết, xu hướng phát triển của nền kinh tế để đưa ra nhận định về mối quan hệ này phục vụ chủ yếu cho việc nghiên cứu, xây dựng chuẩn mực kế toán thuế TNDN

1.2 Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp và kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Carey (1944) đã lý giải việc ghi nhận khoản thuế TNDN là một khoản chi phí hay là một khoản lợi nhuận được phân phối? Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ghi nhận thuế TNDN như là một khoản nợ phải trả sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên BCTC tùy thuộc vào các quan điểm lý thuyết và loại hình kế toán nhưng chưa đưa

ra quan điểm nên ghi nhận thuế TNDN là một khoản chi phí hay phân phối lợi nhuận để cung cấp thông tin hữu ích nhất về thuế TNDN trên BCTC Tiếp tục nghiên cứu vấn đề Carey (1944) đã đưa ra

Nurnber (1971) cho rằng, việc ghi nhận và xem xét các loại thuế TNDN như một khoản chi phí là phù hợp với lý thuyết độc quyền, còn ghi nhận nó là một

Trang 15

khoản phân phối thu nhập sẽ phù hợp với lý thuyết thực thể So với Carey (1944), Nurnber (1971) đã có phân tích, luận giải cụ thể và sát thực hơn trong việc ghi nhận thuế TNDN Ông cho rằng, lý thuyết độc quyền sẽ phát triển mạnh trong xu thế phát triển kinh tế Vì vậy, việc ghi nhận thuế TNDN là một khoản chi phí sẽ phù hợp hơn trong tương lai Phương pháp nghiên cứu của Carey (1944) và Nurnber (1971) là vận dụng các quan điểm lý thuyết kế toán trong việc ghi nhận thuế TNDN hiện hành, không đề cập đến việc ghi nhận thuế TNDN là một khoản chi phí sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các chỉ tiêu liên quan trên BCTC cũng như các phương pháp

kế toán ghi nhận thuế TNDN hoãn lại trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa mục tiêu của kế toán và chính sách thuế nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin Cả hai nghiên cứu đều hướng đến mục tiêu phục vụ cho đối tượng là các nhà lập pháp trong việc xây dựng chuẩn mực kế toán và các nhà nghiên cứu về kế toán, chưa đặt trọng tâm hoàn thiện công tác kế toán thuế TNDN trong doanh nghiệp cụ thể

Buckwold (2000), đã làm rõ cách xác định thu nhập và thuế TNDN cho hai thực thể chính là doanh nghiệp và người lao động, nghiên cứu đã đánh giá được ảnh hưởng của cơ cấu doanh nghiệp, hình thức tổ chức kinh doanh trong doanh nghiệp đến phương pháp xác định thuế, những khoản thu nhập và chi phí phát sinh trong việc xử lý tài sản, tăng giảm vốn khi xác định nghĩa vụ thuế Nghiên cứu đã làm rõ được bản chất của thuế TNDN, các nhân tố ảnh hưởng đến thuế TNDN và tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược về thuế Phương pháp nghiên cứu của ông là dựa trên cơ sở lý thuyết về thuế, chính sách thuế của quốc gia và thực tế việc xác định thuế TNDN của một số doanh nghiệp và người lao động để đánh giá và đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong việc xác định thuế TNDN Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra phương pháp xây dựng chiến lược về thuế cho doanh nghiệp, chưa đề cập đến việc ghi nhận thuế TNDN hiện hành, việc xác định và ghi nhận thuế TNDN hoãn lại cũng như việc cung cấp các thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC

Doehring (2011) đã làm rõ bản chất của thuế TNDN hoãn lại và vai trò của thuế TNDN hoãn lại trong việc ra quyết định quản lý và giám sát tình hình hoạt

Trang 16

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mục tiêu của nghiên cứu là dựa trên cơ

sở lý thuyết, thực trạng vai trò của thuế TNDN đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm tập trung làm rõ tác động của thuế TNDN hoãn lại đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC, nghiên cứu không trực tiếp giải quyết những vấn đề kỹ thuật trong việc xác định, ghi nhận và trình bày thuế TNDN hoãn lại trên BCTC làm cho thông tin về thuế TNDN trên BCTC hữu ích hơn đối với người sử dụng

Kieso, Weygandt, Warfield (2015) đã phân tích một cách sâu sắc ảnh hưởng của thuế TNDN đến thông tin cung cấp trên BCTC, nghiên cứu đã làm rõ chênh lệch tạm thời tạo ra tài sản thuế TNDN hoãn lại và thuế TNDN hoãn lại phải trả, thời điểm và mức phân bổ tài sản thuế TNDN hoãn lại và thuế TNDN hoãn lại phải trả trong kỳ tính thuế Nghiên cứu cũng giải thích tại sao sự khác biệt vĩnh viễn không dẫn đến thuế hoãn lại, giải thích việc trình bày các thông tin về thuế TNDN hoãn lại phải trả và tài sản thuế TNDN hoãn lại được phân loại và trình bày trên BCTC So với nghiên cứu của Buckwold (2000), nghiên cứu này đã có những bước tiến mới trong việc làm rõ cơ sở xác định thuế TNDN hiện hành và hoãn lại và chú trọng hơn đến việc trình bày thông tin về thuế TNDN trên BCTC Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ hơn các nội dung được quy định tại IAS12, chưa đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN, chưa đưa

ra được hệ thống các giải pháp cho doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích

về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin

Tại Việt nam, các công trình nghiên cứu về kế toán thuế TNDN ở Việt Nam cũng tập trung chủ yếu vào nghiên cứu về mối quan hệ giữa kế toán và thuế, những bất cập trong việc vận dụng VAS 17 vào thực tiễn, phân tích, đề xuất các giải pháp giúp doanh nghiệp vận dụng và thực hiện VAS 17

Nguyễn Tuấn Duy (2006) đã nghiên cứu và phân tích kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp thương mại Việt Nam Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống trên cơ sở phân tích cơ sở lý thuyết về thuế TNDN, kế toán thuế TNDN, thực trạng kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp thương

Trang 17

mại, đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán thuế TNDN gắn với đặc thù hoạt động của các doanh nghiệp thương mại, giải pháp nghiên cứu đưa ra tập trung chủ yếu vào các giải pháp vĩ mô nhằm hoàn thiện chính sách, chế độ chưa chú trọng nhiều đến những giải pháp cụ thể cho doanh nghiệp thực hiện nhằm cung cấp thông tin hữu ích hơn về thuế TNDN trên BCTC trên cơ sở tác động đến những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong doanh nghiệp

Phan Thị Anh Đào (2011), sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống trên cơ sở khái quát lý luận chung về kế toán thuế TNDN tại các doanh nghiệp, thực trạng kế toán thuế TNDN tại các doanh nghiệp hàng hải và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán thuế TNDN mà trọng tâm hướng tới giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn và thực hiện tốt kế toán thuế TNDN theo VAS 17 và IAS 12 Mặc dù mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế là nguyên nhân hình thành nên thuế TNDN hoãn lại nhưng chưa được luận án luận giải rõ Luận án chưa đánh giá nhu cầu thông tin về thuế TNDN của các đối tượng sử dụng thông tin nên chưa có cơ sở so sánh giữa nhu cầu sử dụng thông tin về thuế TNDN trên BCTC với mức độ đáp ứng từ phía doanh nghiệp làm cơ sở đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao tính hữu ích của các thông tin về thuế TNDN trên BCTC nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin Giải pháp hoàn thiện kế toán thuế TNDN của luận án chưa xét đến những nhân tố tác động đến kế toán thuế TNDN

Vũ Thị Vân Anh (2014) đã chỉ ra những vướng mắc về phương pháp tiếp cận để xác định thuế TNDN hiện hành Nghiên cứu nhấn mạnh việc xác định thuế TNDN theo cách tiếp cận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ dẫn đến việc hiểu sai thời điểm phát sinh chênh lệch tạm thời và thời điểm hoàn nhập chênh lệch tạm thời Bất cập thứ hai là việc hiểu và vận dụng VAS 17 vào kế toán trong doanh nghiệp còn rất lúng túng Ngoài hai khó khăn trên, vẫn tồn tại rất nhiều khó khăn khác như trình độ và ý thức thực hiện chuẩn mực của kế toán viên, mục tiêu và nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp, khâu tổ chức hướng dẫn thực hiện, kiểm tra

và tư vấn việc vận dụng VAS 17 chưa được nghiên cứu đề cập và nghiên cứu cũng chưa định hướng đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập trên Nghiên cứu mới

Trang 18

chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những bất cấp trong việc vận dụng VAS 17 chưa hướng đến mục tiêu cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC làm rút ngắn khoảng cách giữa thực trạng cung cấp thông tin về thuế TNDN trên BCTC với nhu cầu sử dụng thông tin về thuế TNDN trên BCTC

Khác với mục tiêu nghiên cứu của Vũ Thị Vân Anh (2014), nghiên cứu của Bùi Minh Tân (2014) đã đề cập đến các quan điểm về mối quan hệ giữa kế toán và thuế làm cơ sở đề đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán phục vụ kê khai nghĩa vụ thuế TNDN chứ không hướng đến việc giải quyết mối quan hệ giữa kế toán và thuế nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin

Trần Phương Thúy (2015) đã chỉ ra thực trạng các doanh nghiệp dệt tỉnh Nam Định mới chỉ quan tâm đến thuế TNDN hiện hành mà bỏ qua thuế TNDN hoãn lại làm cho thông tin về thuế TNDN trên BCTC kém hữu ích Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ kế toán còn hạn chế, sự thiếu kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý và mục tiêu tối thiểu hóa chi phí của doanh nghiệp Tuy nhiên, còn rất nhiều nguyên nhân khác như yếu tố công nghệ thông tin; hạn chế của đặc điểm nền kinh

tế hay áp lực cân đối giữa lợi ích và chi phí trong việc hoàn thiện kế toán thuế TNDN chưa được nghiên cứu đề cập Chính vì vậy, nghiên cứu chưa đưa ra được hệ thống các giải pháp đồng bộ tác động kế toán thuế TNDN trên cả mặt cung - mặt cầu và điều kiện môi trường nhằm giúp doanh nghiệp có những giải pháp cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC

Nguyễn Thị Sâm (2017) đã nghiên cứu về thực trạng việc vận dụng VAS 17,

cơ sở tính thuế TNDN theo chính sách thuế TNDN và VAS17, nghiên cứu đã chứng

tỏ mỗi sự chênh lệch về ghi nhận giá trị tài sản hay các khoản nợ phải trả đều ảnh hưởng đến TNCT và hệ quả là ảnh hưởng đến chi phí thuế TNDN, sự chênh lệch này chỉ là tạm thời và sẽ chấm dứt khi toàn bộ giá trị tài sản được thu hồi, toàn bộ các khoản nợ được thanh toán, nghiên cứu cũng đưa ra các giải pháp thực hiện tốt hơn VAS 17 đối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp, kế toán, tổ chức nghề nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập mới hướng đến việc làm rõ cơ cở tính thuế, các giải pháp

Trang 19

để thực hiện tốt hơn chuẩn mực kế toán thuế TNDN chưa hướng đến mục tiêu cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin

Đỗ Thị Thanh Tâm, Mai Thị Sen (2018), đã nghiên cứu về thực trạng kế toán thuế TNDN tại các công ty kinh doanh thiết bị y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán thuế TNDN trong loại hình doanh nghiệp này, tuy nhiên cũng giống như các nghiên cứu trước, nghiên cứu cũng hướng đến những giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện tốt hơn chuẩn mực kế độ kế toán về thuế TNDN, chưa đặt trọng tâm vào những giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin

1.2 Các công trình nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Nobes và Parker (1995) nghiên cứu trên quan điểm của lý thuyết thực thể nên xem các nhà đầu tư vốn, chủ sở hữu và cung cấp tín dụng đều là các nhà cung cấp vốn nên nhân tố ảnh hưởng đến kế toán trong đó có kế toán thuế TNDN ông đưa ra thuộc về chủ doanh nghiệp; nhân tố biến cố lịch sử và tình hình lạm phát, ông gọi chung là nhân tố tình hình kinh tế chính trị của quốc gia Nhân tố mà Nobes

và Parker (1995) thuộc nhóm nhân tố vĩ mô, hướng tới sự tác động của môi trường (tình hình kinh tế chính trị của quốc gia) đến công tác kế toán Kế toán thuế TNDN chịu sự tác động nhiều của môi trường kinh tế do thuế TNDN là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước nên nhân tố này sẽ được luận án tiếp tục xem xét và đưa vào đánh giá mức độ tác động đến kế toán thuế TNDN

Short (1990) khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán cho rằng, doanh nghiệp kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định của công ty trong việc vận dụng chuẩn mực kế toán của doanh nghiệp trong đó

có chuẩn mực kế toán về thuế TNDN

Holland & Jackson (2002) đã chứng minh 5 nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp, nhà quản lý điều chỉnh thu nhập, đó là: Lợi ích mang lại từ cổ phiếu; Che dấu thông tin (điểm yếu, thua lỗ…); Tạo hình ảnh cho giám đốc; Đối phó với chính

Trang 20

sách pháp luật và các động cơ nội bộ khác Nhìn chung 5 yếu tố này đều thuộc về mục tiêu của lãnh đạo doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến tính hữu ích của thông tin

về thuế TNDN

Noor và cộng sự (2007) thì cho rằng sự hỗ trợ chuyên môn của các chuyên gia quốc tế, chuyên viên về kế toán và chính sách tuyển dụng và đào tạo nhân viên kế toán có tác động rất lớn đến vận dụng và cải cách chính sách kế toán Noor & cộng

sự (2007); cho rằng nhân tố công nghệ thông tin có ảnh hưởng đáng kể đến việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp, trong đó bao gồm các thông tin

về kế toán thuế TNDN Các nhân tố này cũng thuộc nhóm các nhân tố mặt cung

Cũng cùng quan điểm nghiên cứu của Holland và Jackson (2002) cho rằng, các doanh nghiệp lớn thì có thể theo đuổi mục tiêu gia tăng giá trị cổ phiếu, tạo

"hình ảnh" cho doanh nghiệp thông qua việc điều chỉnh tăng thu nhập Một số khác thì muốn che giấu thông tin, che dấu các khoản lỗ/ lãi hoặc các điểm yếu khác bằng việc điều chỉnh tăng giảm lợi nhuận Các mục tiêu này đều ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN Luận án sẽ tiếp tục kế thừa những nhân tố này làm thước đo cho nhân

tố thuộc về nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp ảnh hưởng đến công tác kế toán thuế TNDN

Komala (2012) cho rằng nhân lực kế toán có ảnh hưởng lớn đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp Nếu Nobes và Parker (1995) hướng tới nhân tố tác động từ điều kiện hoàn cảnh, thì nhân tố mà Komala (2012) đưa ra thuộc mặt cung (chủ thể cung cấp thông tin kế toán) Mặc dù nhân lực kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp nhưng vẫn thuộc bên cung cấp dịch vụ kế toán cho công tác kế toán của doanh nghiệp

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến kế toán nói chung và kế toán thuế TNDN nói riêng thấy rằng, kế toán không chỉ là sự áp đặt thực hiện theo các quy định có sẵn mà cũng chịu sự tác động của mối quan hệ cũng - cầu và đặc điểm của thực trạng nền kinh tế - văn hóa - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2008) đã chỉ ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu ích của BCTC đó là: Các nguồn lực tài chính chủ yếu; Đặc

Trang 21

điểm nền kinh tế; Đặc điểm hệ thống pháp luật và thuế; Đặc điểm nền văn hóa giáo dục; Xu hướng hòa hợp trong tiến trình toàn cầu hóa Đồng thời tác giả cũng đã phân tích những nhân tố làm cho thông tin kế toán trong đó có các thông tin về thuế TNDN

cung cấp trên BCTC kém hữu ích bao gồm: Áp lực về cân đối lợi ích - chi phí, đặc điểm nền kinh tế, luật pháp, văn hóa, giáo dục v.v… Ngưỡng nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin Mặc dù, các nhân tố này không

được kiểm định Nghiên cứu chỉ đánh giá, xét đoán định tính nhưng đã có những luận giải tương đối thuyết phục trên cả góc độ mặt cung, cầu và điều kiện môi trường kinh tế Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, lựa chọn những nhân tố phù hợp ảnh hưởng đến tính hữu ích của các thông tin về thuế TNDN trên BCTC để đánh giá định lượng

Nghiên cứu của Mai Ngọc Anh (2014) đã tóm lược ba nhân tố chính ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hệ thống chuẩn mực kế toán và chính sách thuế đó là: (1) Mô hình cấu trúc pháp lý của từng quốc gia; (2) Tính chất sở hữu và hệ thống chính trị của quốc gia; (3) Trình độ phát triển kinh tế và đặc biệt là sự phát triển của thị trường chứng khoán Các nhân tố mà nghiên cứu đưa ra mang tính chất vĩ mô, ảnh hưởng đến việc xây dựng khuôn khổ pháp lý về kế toán thuế TNDN, không tác động trực tiếp đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp cụ thể Tuy nhiên, các nhân tố này thuộc về tác động từ đều kiện môi trường kinh tế đến kế toán như Nobes và Parker (1995) đã đề cập nhưng được xem xét trên một khía cạnh khác

Bùi Thị Mai Hòa và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015) đã kiểm định 10 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thuế TNDN của các doanh nghiệp Việt Nam đó là: Việc thay đổi giám đốc điều hành; Tỷ lệ sở hữu cổ phần của giám đốc; Loại thu nhập ưu đãi;Thay đổi chính sách thuế TNDN; Chính sách giảm thuế tháo gỡ khó khăn của Nhà nước; Quy mô doanh nghiệp; Chủ trương của nhà quản lý về tối đa hóa lợi nhuận; Công ty có dự tính phát hành cổ phiếu; Chính sách kế toán Kết quả

dự báo đúng của toàn bộ mô hình là 93,96% Những nhân tố mà nghiên cứu lựa chọn, kiểm định có ảnh hưởng trực tiếp đến tính hữu ích của thông tin về thuế TNDN trên BCTC với kết quả dự báo đúng tương đối cao Có thể xếp các nhân tố

mà nghiên cứu đưa ra thuộc về nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp, luận án sẽ tiếp

Trang 22

tục kế thừa, nghiên cứu để lựa chọn những nhân tố, thang đo nhân tố tác động đến

kế toán thuế TNDN

Nguyễn Thị Thu Hoàn (2016) đã nghiên cứu về 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chuẩn mực kế toán thuế TNDN tại Việt Nam, bao gồm: (i) Tài liệu thực hành; (ii) Trình độ học vấn của kế toán viên; (iii) Hệ thống thuế TNDN; (iv) Vai trò của kiểm toán và các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán; (v) Sự giám sát chế tài của cơ quan chức năng Kết quả nghiên cứu cho thấy 71% lợi ích của VAS 17 được giải thích bởi các biến độc lập như trình độ chuyên môn, công tác thanh tra, tư vấn bên trong, bên ngoài, hệ thống chính sách thuế, tài liệu thực hành còn lại là 29% là do các nhân tố khác tác động đến việc thực thi và tuân thủ VAS 17 Theo nghiên cứu của Trần Đình Khôi Nguyên (2013) thì có đến 71% cơ quan thuế và 61% các doanh nghiệp cho rằng sự giám sát chế tài của các cơ quan chức năng dẫn đến kế toán hiểu sai vai trò của thông tin kế toán Kết quả nghiên cứu này có tác động trực tiếp đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp Luận án sẽ tiếp tục

kế thừa, lựa chọn để kiểm định đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Đoàn Ngọc Phi Anh và Cao Thị Hoa (2016), đã chỉ ra 05 nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán thuế TNDN tại Việt Nam bao gồm: (i) Đặc thù kinh tế - xã hội; (ii) Sự phức tạp của chuẩn mực kế toán; (iii) Ảnh hưởng của công tác kiểm toán; (iv) Nhận thức của nhà quản trị; (v) Trình độ của kế toán viên, các nhân tố này đã được nghiên cứu đo lường, đánh giá Kết quả cho thấy 05 nhân tố trên đều ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán thuế TNDN tại Việt Nam

Ngoài những nghiên cứu trên còn rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán nói chung và kế toán thuế TNDN nói riêng như nghiên cứu của Trần Đình Khôi Nguyên (2011); Nguyễn Thị Thu Hoàn (2016) cho rằng tài liệu thực hành có ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán tại Đà Nẵng Phạm Thị Bích Vân (2012), Bùi Thị Mỹ Ngân (2012), Trần Đình Khôi Nguyên (2012) đã nghiên cứu và đánh giá về ảnh hưởng của hệ thống thuế TNDN đến việc lựa chọn chính sách kế toán Đậu Thị Kim Thoa (2015); Tô Hồng Thiên (2017) cho rằng

Trang 23

nhân tố công nghệ thông tin có ảnh hưởng đánh kể đến việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp

Như vậy, mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau sẽ có các nhân tố tác động đến vấn đề nghiên cứu khác nhau Mặc dù cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN Phạm vi nghiên cứu kế toán thuế TNDN của luận án trên góc độ là một phần hành của kế toán tài chính, được hình thành trên cơ sở mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế nên các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán tài chính hay đến sự lựa chọn phương pháp kế toán, việc xác định thuế TNDN đều có thể ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về các nhân tố tác động đến hệ thống kế toán nói chung và kế toán thuế TNDN nói riêng, tác giả sẽ lựa chọn những nhân tố có ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội để đánh giá, phân tích và đo lường làm cơ sở đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán thuế TNDN

2 Khoảng trống nghiên cứu

Về định hướng nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều sử dụng

phương pháp nghiên cứu định tính, trên cơ sở các lý thuyết về kế toán, thuế, thực trạng

kế toán thuế TNDN để đánh giá mối quan hệ giữa kế toán và thuế, làm rõ hơn các quy định của IAS 12 và VAS 17, chỉ ra những bất cập trong quá trình thực hiện chuẩn mực nhằm giúp các chủ thể ban hành chính sách chế độ kế toán có thêm cơ sở để hoàn thiện chuẩn mực và chế độ kế toán về thuế TNDN đồng thời giúp cho các doanh nghiệp hiểu

rõ hơn sự khác biệt giữa khuôn khổ pháp lý về kế toán và chính sách thuế, nội dung của VAS 17 từ đó thực hiện tốt hơn chuẩn mực, chế độ kế toán về thuế TNDN

Về phương pháp nghiên cứu: Chưa có một công trình nào áp dụng phương

pháp nghiên cứu đa dạng với định hướng hoàn thiện kế toán thuế TNDN trong doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin trên cơ sở xuất phát từ nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC của các đối tượng sử dụng, đánh giá thực trạng kế toán thuế TNDN, mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC, đo lường các nhân tố

Trang 24

ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác

kế toán thuế TNDN nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC của các đối tượng sử dụng thông tin Đây là khoảng trống về về phương pháp nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu mà đề tài sẽ tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Về phạm vi nghiên cứu: Xây lắp là hoạt động đặc thù có nhiều giao dịch

phức tạp trong việc ghi nhận doanh thu, chi phí ảnh hưởng đến việc xác định và ghi nhận thuế TNDN hiện hành, thuế TNDN hoãn lại Việc nghiên cứu kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này có thể mang tính phổ quát cho nhiều loại hình doanh nghiệp khác về công tác kế toán thuế TNDN nhưng chưa được các công trình nghiên cứu trước đây sử dụng làm đối tượng nghiên cứu Đây là khoảng trống tri thức mà đề tài tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trước về kế toán thuế TNDN, các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN để xây dựng và thực hiện mục tiêu nghiên cứu của luận án

3 Lý do chọn đề tài

Kế toán thuế TNDN được quan tâm, thảo luận từ những năm 1930 và liên tục phát triển theo thời gian cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của thị trường chứng khoán Cho đến nay, kế toán thuế TNDN vẫn là một trong những phần hành kế toán khó, gây nhiều tranh cãi và ngày càng trở thành chủ đề nóng trên các cuộc hội thảo, diễn đàn, trang mạng trong nước và quốc tế Tính phức tạp của

kế toán thuế TNDN chủ yếu là việc xử lý mối quan hệ giữa kế toán và thuế TNDN trong việc kê khai xác định thuế TNDN hiện hành và thuế TNDN hoãn lại nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC Đây là mối quan hệ nội tại bên trong của kế toán thuế TNDN Do các quy định về chính sách thuế chưa được vận dụng thống nhất trên phạm vi toàn cầu mà phụ thuộc vào hệ thống luật pháp, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội riêng của mỗi quốc gia, trong khi các quy định về kế toán mang tính hội nhập quốc tế cao hơn Mục tiêu của kế toán và thuế có những điểm khác nhau, thậm trí có thể là xung đột Kế toán thuế TNDN cần phải giải quyết vấn đề xung đột này Mặt khác, thuế TNDN còn ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Nếu các thông tin về thuế TNDN cung cấp trên BCTC không

Trang 25

hữu ích sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của những người sử dụng thông tin Citigroup là một ví dụ điển hình về một công ty đã sử dụng các khoản lỗ để giảm thuế TNDN phải nộp Trong năm 2008 công ty này đã có tài sản thuế TNDN là 28,5 tỷ USD, chiếm 80% vốn chủ sở hữu và gần như làm lu mờ giá trị cổ phần, các nhà phân tích quan ngại về giá trị tài sản thuế TNDN của Citigroup trong việc đánh giá tình hình tài chính của công ty này, liệu rằng đến bao giờ Citigroup mới có đủ lợi

nhuận để thu hồi giá trị tài sản thuế TNDN hoãn lại đó (nguồn Guerra and Eagles Ham (2010)) Rõ ràng, kế toán thuế TNDN liên quan đáng kể đến phán đoán về tình

hình tài chính của doanh nghiệp trong cả hiện tại và tương lai Các nhà đầu tư cần phải có hiểu biết về các quy định kế toán liên quan đến thuế để có thể đánh giá được những phán đoán này Các doanh nghiệp cũng phải cung cấp một bức tranh rõ ràng

về lợi ích và nghĩa vụ thuế hiện tại và trong tương lai trên BCTC của doanh nghiệp

Vì vậy, việc hoàn thiện kế toán thuế TNDN nhằm cung cấp thông tin hữu ích nhất

về thuế TNDN trên BCTC phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng bên ngoài doanh nghiệp đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết trên phạm vi toàn cầu

Ở Việt Nam, vấn đề kế toán thuế TNDN cũng không nằm ngoài xu hướng đó nhưng đến năm 2005 Bộ Tài chính mới ban hành VAS 17 Cho đến nay, kế toán thuế TNDN vẫn là một trong những vấn đề phức tạp, cần được quan tâm giải quyết đối với Nhà nước và các doanh nghiệp Kế toán thuế TNDN hoãn lại vẫn chưa được nhiều doanh nghiệp quan tâm và ghi nhận dẫn đến thông tin về thuế TNDN cung cấp trên BCTC chưa thật đầy đủ, rõ ràng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin cung cấp trên BCTC Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, các quan điểm đưa ra vẫn mang tính rời rạc trên cơ sở nghiên cứu định tính về mối quan hệ giữa kế toán và thuế; làm rõ hơn nội dung của chuẩn mực hoặc đo lường phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực Chưa có một công trình nào sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để làm rõ bản chất của

kế toán thuế TNDN, thực trạng kế toán thuế TNDN, đo lường đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin về thuế TNDN trên BCTC, đòi hỏi cần có một hướng nghiên cứu mới cho kế toán thuế TNDN

Trang 26

Trong số các lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam thì lĩnh xây lắp mang nét đặc trưng, đại diện cho nhiều ngành kinh tế khác nhau trong cả nước về kế toán thuế TNDN Đối với các doanh nghiệp này, quá trình thực hiện kế toán thuế TNDN hiện vẫn còn gặp nhiều vướng mắc do có nhiều giao dịch phức tạp ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN, có thể làm phát sinh thuế TNDN hoãn lại nhưng chưa được nhiều doanh nghiệp ghi nhận Xuất phát từ tính đại diện đặc trưng của ngành, từ những hạn chế trong công tác kế toán thuế TNDN của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội nói riêng, tác giả đã lựa chọn các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội làm phạm vi nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình

với đề tài nghiên cứu được lựa chọn là: "Hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh

nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội"

4 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

(i) Làm rõ những vấn đề lý luận về kế toán thuế TNDN

(ii) Nghiên cứu thực trạng kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

(iii) Đánh giá và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kế toán thuế TNDN

(iv) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin

4.2 Câu hỏi nghiên cứu

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu đã đề ra như trên, câu hỏi nghiên cứu được xây dựng như sau:

(i) Kế toán thuế TNDN bao gồm những nội dung nào?

(ii) Các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện kế toán thuế TNDN như thế nào?

(iii) Nhân tố nào ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội?

Trang 27

(iv) Giải pháp và khuyến nghị cần đưa ra nhằm hoàn thiện kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội?

Bốn câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra để giải quyết 04 mục tiêu nghiên cứu tương ứng tại mục 4.1

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu đã nêu ở trên, đối tượng nghiên cứu của luận án là

kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

và các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu kế toán thuế TNDN là một phần

hành của kế toán tài chính Cụ thể, nghiên cứu việc xác định, ghi nhận và trình bày thông tin về thuế TNDN hiện hành, thuế TNDN hoãn lại trên BCTC riêng của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận án không nghiên cứu, đề cập đến vấn đề hợp nhất các chỉ tiêu về thuế TNDN và thực hiện các khoản điều chỉnh các giao dịch nội bộ làm phát sinh các khoản thuế TNDN hoãn lại khi lập BCTC hợp nhất Nền tảng lý luận về kế toán thuế TNDN được dựa trên chuẩn mực

và thông lệ kế toán Việt Nam và kế toán quốc tế

Về không gian: Khoảng 200 doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà

Nội đã, đang và sẽ tham gia giao dịch chứng khoán trên thị trường HOSE, HNX, UPCOM, OTC Đây là những doanh nghiệp có yêu cầu cao về tính hữu ích của các thông tin về thuế TNDN trên BCTC BCTC của các công ty này đều được kiểm toán nên các số liệu, thông tin được thu thập phục vụ cho nghiên cứu có độ tin cậy cao

Thời gian nghiên cứu: Việc thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu được

thực hiện trong khoảng thời gian từ 2015 - 2018

6 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

Trang 28

6.1 Phương pháp định tính

Phương pháp định tính gồm thu thập tài liệu từ những công trình nghiên cứu, bài báo, các đề tài nghiên cứu, BCTC, Báo cáo kiểm toán, quan sát thực địa, nghiên cứu trường hợp điển hình về kế toán thuế TNDN trong một số doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội như Công ty cổ phần tập đoàn TELIN, Công

ty cổ phần Xây dựng FLC, Công ty cổ phần Cơ điện Hà Đô, Công ty cổ phần Phát

triển Đô thị Nam Hà Nội…; phỏng vấn chuyên sâu TS Trần Huy Hoàng (Tổng giám đốc Trung tâm Đào tạo tài chính, kế toán thuế CENSTAF), Ông Bùi Minh Vương (Phó giám đốc Công ty TNHH kiểm toán BDO), Bà Bùi Thị Hợp (Giám đốc Công ty TNHH tư vấn và DVKT MIRAI), TS Nguyễn Văn Thành, bà Trần Thị Chung Anh (chuyên viên Cục thuế thành phố Hà Nội), bà Nguyễn Thị Biên (kế toán trưởng Công ty cổ phần tập đoàn TELIN); Nguyễn Thị Thu Hòa (kế toán Công ty

cổ phần Tasco) Đồng thời tổng hợp các kết quả kiểm toán BCTC và các thông tin

giải trình chênh lệch giữa số liệu trên BCTC với kết quả kiểm toán Kết quả nghiên cứu định tính giúp cho việc thu thập thông tin cơ bản để đánh giá thực trạng kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội; xác định thang đo và các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội; xây dựng giả thuyết nghiên cứu; thu thập, thiết kế bảng hỏi phục vụ cho việc nghiên cứu định lượng; xác định phương hướng, đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán thuế TNDN

6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Mục đích của nghiên cứu định lượng là xây dựng mô hình để đo lường ảnh hưởng của các nhân tố đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội, kiểm định các thang đo kế thừa từ các nghiên cứu trước

và các thang đo được bổ sung mới

Mẫu nghiên cứu:

Đối tượng điều tra là các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội, đối tượng trả lời phiếu khảo sát là (i) kế toán trưởng, (ii) kế toán tổng hợp và (iii) kế toán phần hành thuế TNDN tại các doanh nghiệp xây lắp Nhóm nghiên cứu gửi

Trang 29

phiếu khảo sát bằng các hình thức như: Google doc, email, gửi trực tiếp tại các lớp học về chế độ kế toán, pháp luật thuế hoặc gửi trực tiếp tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội Kết quả thu về 205 phiếu, sau khi làm sạch, loại

bỏ 05 phiếu không hợp lệ, 200 phiếu khảo sát được đưa vào xử lý

Quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu được thể hiện như sau:

Bước 1: Thu thập, nhập và xử lý số liệu

Sau khi làm sạch, toàn bộ kết quả trả lời trong 200 phiếu được nhập vào phần mềm SPSS 23 Dữ liệu của 200 phiếu trả lời của các đối tượng khảo sát sẽ được sử dụng trong các nội dung phân tích tiếp theo

Bước 2: Phân tích thang đo

(i) Thống kê mô tả

Tác giả xây dựng bảng câu hỏi để mở rộng việc khảo sát đến nhiều đối tượng đang làm kế toán thuế TNDN tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm kế toán trưởng, kế toán tổng hợp và kế toán viên phụ trách phần hành kế toán thuế TNDN, trên cơ sở những nhận định từ quá trình nghiên cứu, tác giả tiến hành thống kê và củng cố quan điểm của mình và có sơ sở đưa ra các đề xuất thiết thực và khách quan hơn

Quá trình thống kê mô tả được thực hiện chủ yếu bằng hai phương pháp:

Mô tả một biến và mô tả các biến cùng thang bậc

+ Mô tả một biến:

Bảng thống kê tỷ lệ và tần suất được tác giả sử dụng đối với các biến định danh trong bảng câu hỏi Kết quả của việc làm này sẽ cho biết sự phù hợp của mẫu nghiên cứu với mục tiêu nghiên cứu như thế nào

+ Mô tả các biến cùng nhân tố

Tác giả sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tạo ra một bảng chứa các giá trị thống kê mô tả như giá trị trung bình (mean), giá trị lớn nhất (max), giá trị nhỏ nhất (min), tổng cộng (sum) và độ lệch chuẩn (std Deviation) Bằng cách quan sát giá trị trung bình của từng biến trong bảng khảo sát giúp tác giả xác định ý kiến của các đối tượng khảo sát đối với mỗi biến được khảo sát căn cứ vào thang đo Likerts

Trang 30

5 bậc Đối với biến phụ thuộc, từ 1 "không đồng ý" đến 5 "hoàn toàn đồng ý"; đối với biến độc lập, từ 1 "không ảnh hưởng" đến 5 "hoàn toàn ảnh hưởng"

(ii) Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo

Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo được thực hiện thông qua phân tích hệ số tin cậy - Cronbach’s alpha, thông qua phần mềm SPSS để sàng lọc, loại

bỏ các biến quan sát không đáp ứng tiêu chuẩn (biến rác) Trong đó, Cronbach’s Alpha là phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ (khả năng giải thích cho một khái niệm nghiên cứu) của tập hợp các biến quan sát (các câu hỏi) trong thang đo Nguyễn Đình Thọ (2012) cho rằng, hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên, hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 thì các thang đo đều được sử dụng trong phân tích

Bước 4: Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích EFA được ứng dụng để tóm tắt các biến quan sát vào một số nhân

tố nhất định, đo lường các khía cạnh khác nhau của các khái niệm nghiên cứu Tiêu chuẩn Bartlett và hệ số KMO dùng để đánh giá sự thích hợp của EFA EFA được gọi là thích hợp khi: 0,5 < KMO < 1 và Sig < 0,05 Tiêu chuẩn rút trích nhân tố gồm chỉ số Eigenvalue (đại diện cho lượng biến thiên được giải thích bởi các nhân tố) và chỉ số Cumulative (tổng phương sai trích) cho biết phân tích nhân tố giải thích được bao nhiêu % Các nhân tố chỉ được rút trích tại Eigenvalue > 1 và được chấp nhận khi tổng phương sai trích > 50%

Tiêu chuẩn hệ số tải nhân tố (Factor loadings) biểu thị tương quan đơn giữa các biến với các nhân tố, dùng để đánh giá mức ý nghĩa của EFA Theo Nguyễn Đình Thọ (2012), Factor loading > 0,3 được xem là đạt mức tối thiểu; Factor loading > 0,4 được xem là quan trọng; Factor loading > 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn

Bước 5: Hồi quy tuyến tính đa nhân tố

Mục đích của hồi quy đa biến: dự báo (prediction): tìm hiểu/phát hiện các yếu tố có thể dự báo một hiện tượng (biến kết quả); giải thích (explaination): tìm hiểu/phát hiện các hệ thống/quy trình hoặc nguyên nhân dẫn tới một hiện tượng Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng kiểm định thống kê, nghiên cứu còn thiết lập mô hình

Trang 31

hồi quy để đo lường sự ảnh hưởng của các nhân tố đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội Kết quả sẽ cho biết mức

độ ảnh hưởng khác nhau của từng nhân tố đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội Mô hình hồi quy tuyến tính bằng phương pháp Enter

Cấu trúc bảng câu hỏi khảo sát

Trong nghiên cứu này, bảng câu hỏi được xây dựng từ những vấn đề về kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: (i) Thu thập thông tin phục vụ công tác kế toán thuế TNDN; (ii) Kế toán thuế TNDN hiện hành; (iii) Kế toán thuế TNDN hoãn lại; (iv) Kê khai và quyết toán thuế TNDN; (v) Xử lý kế toán sau quyết toán thuế; (vi) Trình bày các thông tin về thuế TNDN trên BCTC Câu hỏi về các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN được xây dựng dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước và kết quả thảo luận với các chuyên gia để đảm bảo phù hợp với bối cảnh, đặc điểm và mục tiêu nghiên cứu của

đề tài Mục đích nhằm thu được những phản hồi chính xác và đáng tin cậy mà chỉ cần người trả lời có kiến thức về kế toán thuế TNDN Bảng câu hỏi bao gồm 3 phần (phụ lục 10)

Phần 1: Thông tin chung về doanh nghiệp: Bao gồm: tên doanh nghiệp, địa chỉ, niêm yết cổ phiếu, chế độ kế toán áp dụng, hình thức tổ chức bộ máy kế toán, người thực hiện công tác kế toán thuế TNDN, nhiệm vụ của kế toán thuế TNDN, mục tiêu của kế toán thuế TNDN

Phần 2: Thông tin của người trả lời: phần này bao gồm những câu hỏi thông tin chung của người trả lời như họ và tên, giới tính, email, vị trí công việc, số năm công tác

Phần 3: Nội dung khảo sát, gồm hai nội dung

(i) Thực trạng kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

(ii) Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 32

Ngoài ra, tác giả còn xây dựng bảng hỏi khảo sát về nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC của các đối tượng sử dụng thông tin, bao gồm các thông tin chung về người được hỏi, nhu cầu thông tin về thuế TNDN của các đối tượng sử dụng thông tin, mức độ đáp ứng của doanh nghiệp, vai trò của thông tin về thuế TNDN trên BCTC, mức độ hài lòng về các thông tin về thuế TNDN của các đối tượng sử dụng thông tin (Phụ lục 9) Bảng hỏi này được gửi cho 50 đối tượng sử dụng thông tin bao gồm 30 nhà đầu tư và tư vấn tài chính, 10 cán bộ thuế và 10 cán bộ tín dụng

7 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

Luận án có những time mới và đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

Về định hướng nghiên cứu

So với các nghiên cứu Nguyễn Tuấn Duy (2006), Phan Thị Anh Đào (2011)

về hoàn thiện kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp Hàng Hải cũng như các nghiên cứu khác đều dựa trên cơ sở phương pháp nghiên cứu định tính và các giải pháp tập trung chủ yếu vào việc hoàn thiện VAS 17 và chế

độ kế toán về thuế TNDN đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện tốt hơn các quy định pháp lý về kế toán thuế TNDN, hướng nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện

kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội trên cơ sở nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin, rút gắn khoảng cách giữa nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC của các đối tượng sử dụng thông tin với mức độ đáp ứng của doanh nghiệp

Về phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp định lượng Trong đó:

Phương pháp định tính dùng để xây dựng bảng hỏi khảo sát, đánh giá nhu cầu thông tin về thuế TNDN trên BCTC của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội, thực trạng kế toán thuế TNDN tại các doanh nghiệp, xác định những mặt còn hạn chế của kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Phương pháp định lượng dùng để đo lường, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành

Trang 33

phố Hà Nội mà có thể ứng dụng phổ quát, mang lại nhiều ý nghĩa cho các nhà nghiên cứu, xây dựng chính sách và hoạt động thực tiễn, làm cơ sở đề xuất những giải pháp và điều kiện để hoàn thiện kế toán thuế TNDN cho doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho các đối tượng sử dụng thông tin

Về mặt thực tiễn

Luận án đã góp phần nâng cao tính hữu ích của các thông tin về thuế TNDN trên BCTC phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin Xây lắp là một hoạt động đặc thù, thời điểm ghi nhận doanh thu chi phí không đồng nhất, việc tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm liên quan đến nhiều kỳ kế toán khác nhau dễ phát sinh sai sót trong việc xác định thuế TNDN hiện hành và dễ phát sinh các khoản thuế TNDN hoãn lại nhưng hầu hết chưa được doanh nghiệp quan tâm ghi nhận, đặc biệt là đối với những khoản lỗ và ưu đãi thuế chưa sử dụng Điều này làm cho thông tin trên BCTC của doanh nghiệp chưa thực

sự đầy đủ Với những giải pháp luận án đề xuất trên cơ sở kết quả đánh giá những mặt hạn chế trong công tác kế toán thuế TNDN và các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp cho doanh nghiệp nghiên cứu, vận dụng hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng thông tin về thuế TNDN trên BCTC, không chỉ hữu ích đối với các đối tượng sử dụng thông tin mà còn nâng cao uy tín và giá trị của doanh nghiệp với nhà đầu tư, cơ quan quản lý thuế và cung cấp tín dụng

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội

dung của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong

doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh

nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán thuế thu nhập

doanh nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 34

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Kế toán hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá - tiền tệ Vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, với sự phát triển mạnh mẽ và thống trị của đế chế La Mã ở thành Rome, hệ thống kế toán được thiết lập để theo dõi, giám sát hoạt động thương mại và hệ thống thuế rất phức tạp của Chính quyền La Mã Công tác kế toán phục vụ cho mục đích thuế cũng đã manh nha từ thời kỳ này Tuy nhiên, thời kỳ này vẫn chưa hình thành các thông lệ kế toán mang tính thống nhất cao, kế toán thuế TNDN cũng vì thế chưa được hình thành Sau cuộc đại suy thoái kinh tế (1929 - 1933), nhu cầu về tính minh bạch của các thông tin cung cấp trên BCTC ngày càng cao, các quy định của pháp luật về kế toán được các quốc gia quan tâm hơn Khung pháp lý về kế toán đã hình thành và đã trở thành một bộ phận riêng biệt của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia Tuy nhiên, giai đoạn này vẫn chưa có chuẩn mực riêng về kế toán thuế TNDN Khoảng nửa đầu thế

kỷ thứ XX, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ đã phát sinh nhiều giao dịch phức tạp khiến cho việc quản lý nhà nước về thuế TNDN đối với doanh nghiệp ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn Để cung cấp thông tin đầy đủ khách quan

về tình hình tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà đầu tư, vấn đề kế toán ngày càng trở lên phức tạp hơn, như: kế toán trên cơ sở giá trị hợp lý, kế toán phòng ngừa rủi ro tài chính hướng tới việc coi trọng tính thích hợp của thông tin Ngược lại, để thực hiện chức năng quản lý kinh tế và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, chính sách thuế vẫn thiên về sử dụng thông tin về kết quả thực hiện trong quá khứ của đơn vị Để giải quyết vấn đề

Trang 35

này, các tiêu chuẩn chuyên nghiệp đầu tiên về kế toán thuế TNDN bắt đầu được bàn thảo trong những năm 1930, 1940 và dần được phát triển trên các tạp chí chuyên nghiệp vào những năm 1950 Vấn đề vướng mắc đặt ra trong giai đoạn này là các loại thuế thu nhập được ghi nhận là một khoản chi phí hay được ghi nhận là một khoản phân phối lợi nhuận? Câu hỏi này đã được đưa ra trong một hội nghị chuyên

đề năm 1944 về vấn đề kế toán thuế TNDN Sau đó cũng đã có nhiều quan điểm cho rằng việc ghi nhận thuế TNDN như một khoản chi phí là phù hợp với lý thuyết độc quyền hơn là việc xem xét chúng là một phần thu nhập được phân phối theo quan điểm của lý thuyết thực thể Bên cạnh đó, các giao dịch phức tạp của nền kinh

tế đã đẩy khoảng cách về sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán (LNKT) và thu nhập chịu thuế (TNCT) ngày càng xa dẫn đến cần phải xem xét lại các vấn đề thuế thu nhập hoãn lại của Hội đồng nguyên tắc kế toán Mỹ (APB) trong những năm

1960, Ủy ban về các thủ tục kế toán (CAP), Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính (FASB) Tuy nhiên, giai đoạn này vẫn còn thiếu sự thống nhất về các giải pháp cho vấn đề phức tạp của kế toán thuế TNDN Cho đến đầu tháng 6 năm 1979 chuẩn mực

kế toán quốc tế số 12 (IAS 12) được chính thức ban hành trên cơ sở bản dự thảo công bố vào tháng 4/1978 Cho đến nay IAS 12 liên tục được bổ sung, sửa đổi để đạt được mục tiêu làm rõ cách thức xử lý kế toán thuế TNDN nhằm trình bày thông tin thuế TNDN trên BCTC một cách rõ ràng và trung thực hơn

Phụ lục 1 Diễn biến chính sửa đổi và bổ sung các quy định của IAS 12

Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của kế toán thuế TNDN có thể thấy rằng, kế toán thuế TNDN hình thành và phát triển xuất phát từ sự cần thiết xử

lý mối quan hệ giữa quy định và nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung với các quy định của chính sách thuế về thuế TNDN nhằm thực hiện mục đích của chính sách thuế và của kế toán trong việc cung cấp các thông tin trên BCTC

1.1.2 Bản chất của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Kế toán thuế TNDN được hiểu là việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về thuế TNDN, là cầu nối giữa khuôn khổ quy định về kế toán và chính sách thuế Trên thực tế vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về bản chất của kế toán thuế TNDN

Trang 36

Theo Phan Thị Anh Đào (2012), "Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là kế toán ghi nhận doanh thu, chi phí và đo lường kết quả kinh doanh theo các quy định của thuế" Theo quan điểm này, kế toán thuế xuất phát từ thái độ nhằm liên kết các

qui định về kế toán và thuế, tức là có sự thống nhất cao trong việc tuân thủ các qui định của thuế để xác lập cách thức kế toán tại doanh nghiệp; doanh thu, chi phí được ghi nhận một cách khá cứng nhắc theo các quy định cụ thể của chính sách thuế nhằm xác định chỉ tiêu TNCT phục vụ cho mục đích tính và nộp thuế thu nhập Tuy nhiên, việc ghi nhận doanh thu, chi phí đơn thuần như vậy sẽ không đảm bảo tính khách quan và nguyên tắc phù hợp trong việc ghi nhận doanh thu, chi phí theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung Khái niệm kế toán thuế TNDN mà tác giả Phan Thị Anh Đào đưa ra mới chỉ đề cập đến một góc độ của kế toán thuế TNDN, chưa thực sự phù hợp, chưa phản ánh hết bản chất của kế toán thuế TNDN Speake (2011) cũng cho rằng, các quy định của luật thuế chỉ dùng để tính toán thuế TNDN phải nộp

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS17): "Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là kế toán những nghiệp vụ do ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm hiện hành và trong tương lai của: Việc thu hồi hoặc thanh toán trong tương lai giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả đã được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp; Các giao dịch và các sự kiện khác trong năm hiện tại đã được ghi nhận trong báo cáo kết quả kinh doanh"

(Bộ Tài chính, 2006)

Theo FASB: "Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là việc xác định số thuế phải nộp hoặc hoàn lại cho năm hiện hành và thuế thu nhập hoãn lại phải trả, tài sản thuế thu nhập hoãn lại trong tương lai của các sự kiện đã được ghi nhận trong báo cáo tài chính của một doanh nghiệp" (FASB, 2007)

Theo IAS 12: "Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là việc phản ánh các hậu quả về thuế ở kỳ hiện tại và tương lai của sự phục hồi trong tương lai về giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản, nợ phải trả và các giao dịch, sự kiện khác được ghi nhận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp" (IAS 12, 2012)

Trang 37

Theo quan điểm của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam thì

kế toán thuế TNDN là một phần hành của kế toán tài chính Thực chất thuế TNDN chỉ

là đối tượng mà kế toán tài chính cần phản ánh, ghi chép và lập báo cáo Các quy định của chính sách thuế về doanh thu tính thuế và chi phí được trừ chỉ nhằm mục đích xác định số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật thuế, nó chỉ mang tính chất làm rõ đối tượng thuế TNDN của kế toán Kế toán thuế TNDN không chỉ đơn thuần là việc xác định và trình bày số thuế TNDN phải nộp theo luật thuế mà còn bao gồm các kỹ thuật xử lý mối quan hệ giữa kế toán và thuế nhằm xác định, ghi nhận

và trình bày những thông tin về thuế TNDN hoãn lại phát sinh từ chênh lệch tạm thời do có quy định khác biệt trong việc ghi nhận của chính sách thuế và kế toán về các khoản mục tài sản, nợ phải trả hay các giao dịch, sự kiện khác có liên quan đã được ghi nhận trên BCĐKT và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Xuất phát từ những phân tích trên cho thấy, kế toán thuế TNDN phải dựa trên các quy định và nguyên tắc kế toán để thực hiện mục tiêu của chính sách thuế và

mục tiêu của kế toán tài chính Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng: Kế toán thuế TNDN

là việc vận dụng những nguyên tắc, phương pháp kế toán để xác định số thuế TNDN phải nộp (hoặc được hoàn lại) theo quy định của pháp luật thuế trong năm hiện hành và ghi nhận số thuế TNDN phải nộp, hoặc được khấu trừ trong tương lai do những quy định khác biệt giữa khung pháp lý về kế toán và chính sách thuế của các khoản mục tài sản, nợ phải trả đã được ghi nhận trên BCTC của năm hiện hành

1.1.3 Mục tiêu của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Xuất phát từ những quan điểm khác nhau về kế toán thuế dẫn đến những quan điểm khác nhau về mục tiêu của kế toán thuế TNDN

Theo quan điểm của Phan Thị Anh Đào (2012): "Kế toán thuế là loại hình

kế toán có sự liên kết giữa kế toán và thuế Loại hình kế toán này khi được áp dụng trong doanh nghiệp hoàn toàn dựa vào các qui định của chính sách thuế trong việc ghi chép và xử lý số liệu Thông tin cung cấp đồng thời cho cả mục tiêu kế toán và mục tiêu xác định thuế thu nhập doanh nghiệp nên không có sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế"

Trang 38

Theo quan điểm này, kế toán thuế chỉ nhằm mục tiêu xác định số thuế phải nộp và thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp do hoàn toàn dựa trên các quy định của chính sách thuế Tác giả luận án cho rằng, mục tiêu này chưa thật sự đầy

đủ Nếu xem xét bản chất của kế toán thuế TNDN như phân tích trên thì mục tiêu của kế toán thuế TNDN không chỉ dừng lại ở việc xác định số thuế TNDN phải nộp theo luật thuế mà cần phải cung cấp các thông tin về sự ảnh hưởng từ những quy định khác biệt giữa khuôn khổ pháp lý về kế toán và chính sách thuế đến các chỉ tiêu liên quan trên BCTC

Theo IAS 12 và VAS 17: Mục tiêu của kế toán thuế TNDN là kế toán những nghiệp vụ do ảnh hưởng của thuế TNDN trong năm hiện hành và trong tương lai của việc thu hồi và thanh toán trong tương lai giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả đã được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp và các giao dịch và sự kiện khác trong năm hiện tại đã được ghi nhận trong BCTC

Theo quan điểm của Kieso, Weygandt, Warfield (2015): "Mục tiêu thứ nhất của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là để ghi nhận số tiền thuế phải nộp hoặc được hoàn lại trong năm hiện hành, mục tiêu thứ hai là phải ghi nhận thuế thu nhập hoãn lại phải trả và tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh do các hậu quả về thuế trong tương lai của các sự kiện đã được ghi nhận trong báo cáo tài chính" Mục

tiêu của thuế TNDN mà Kieso, Weygandt, Warfield (2015) đưa ra phù hợp với IAS 12

và VAS 17 đồng thời cũng phù hợp với bản chất của kế toán như đã phân tích tại mục 1.1.2 Như vậy, mục tiêu của kế toán thuế TNDN không chỉ nhằm xác định số thuế TNDN phải nộp theo chính sách thuế và báo cáo tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế TNDN đối với Nhà nước mà còn xử lý những tác động của thuế TNDN đến các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả đã được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán (BCĐKT) và các sự kiện khác của doanh nghiệp trong năm hiện hành và các năm trong tương lai Bằng việc thực hiện các mục tiêu trên, kế toán thuế TNDN đã thể hiện một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin toàn diện và đầy đủ về thuế TNDN trên BCTC, giúp cho doanh nghiệp, nhà đầu tư và chủ nợ hiểu một cách đầy đủ

Trang 39

nhất về quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp về thuế TNDN, tạo tiền đề, cơ sở cho những quyết định phù hợp, đúng đắn khi sử dụng thông tin kế toán Như vậy, có thể khái quát mục tiêu cuối cùng của kế toán thuế TNDN trên các nội dung cụ thể sau:

Một là, xác định và ghi nhận số tiền thuế phải nộp hoặc được hoàn lại trong năm hiện hành

Hai là, xác định và ghi nhận thuế thu nhập hoãn lại phải trả và tài sản thuế

thu nhập hoãn lại phát sinh do tác động về thuế trong tương lai của các sự kiện đã

được ghi nhận trong BCTC

Ba là, cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN hiện hành và hoãn lại trên BCTC cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế

1.1.4 Vai trò của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Vai trò của kế toán thuế TNDN thể hiện qua ý nghĩa của các thông tin về thuế TNDN trên BCTC đối với các đối tượng sử dụng thông tin phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin Thuế TNDN là một đối tượng kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc hạch toán thuế TNDN liên quan nhiều đến việc đánh giá, phán đoán tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông tin về thuế TNDN hiện hành không chỉ phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp với Nhà nước mà còn thể hiện hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trong việc chấp hành và tuân thủ quy định pháp luật của Nhà nước về thuế Thông tin về thuế TNDN hoãn lại trên BCTC lại vô cùng quan trọng trong việc ra quyết định kinh tế và giám sát hoạt động doanh nghiệp của các đối tượng sử dụng thông tin Nghiên cứu của Kieso, Weygandt, Warfield (2015) cũng cho thấy, việc ghi nhận thuế TNDN hoãn lại phải trả hay tài sản thuế TNDN hoãn lại sẽ làm tăng, giảm thuế TNDN phải nộp trong tương lai vì việc hạch toán thuế TNDN liên quan đáng kể đến phán đoán về dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai Đặc biệt là khi phân bổ các khoản lỗ hiện tại cho các năm trong tương lai, làm giảm chi phí thuế TNDN trong tương lai, tăng thu nhập ròng Nếu không ghi nhận tài sản thuế TNDN hoãn lại từ các khoản lỗ được phân bổ sẽ không thể đánh giá được một

Trang 40

cách toàn diện lợi ích và dòng tiền của doanh nghiệp từ những khoản lỗ, làm sai lệch thông tin trên BCTC Như vậy, việc xử lý và cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC sẽ giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin về thuế TNDN trên BCTC đánh giá tốt hơn về tình hình tài chính, dòng tiền của doanh nghiệp từ đó có những quyết định đúng đắn, hợp lý trong quản

lý và đầu tư Khi nhìn vào BCĐKT nhiều chuyên gia tài chính sẽ không tin tưởng hoàn toàn vào giá trị của vốn chủ sở hữu nếu trên BCĐKT không ghi nhận thuế TNDN hoãn lại (Doehring, 2011) Doehring (2011) đã chỉ ra bốn lý do chính khiến cho thuế TNDN hoãn lại trở nên quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính

của doanh nghiệp đó là: "Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại góp phần xác định thu nhập tích lũy của doanh nghiệp chính xác hơn; cung cấp một thước đo chính xác hơn về giá trị vốn chủ sở hữu; Kiểm soát thu nhập bằng cách tăng nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm "tốt" và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm "xấu"; Khi thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại giảm trên bảng cân đối kế toán, việc hoàn nhập thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại sẽ mang lại giá trị lợi ích cho doanh nghiệp về thuế Đây sẽ là một bước đệm cho hoạt động của doanh nghiệp"

Ngoài những tác động từ thuế TNDN đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như phân tích trên thì việc thuyết minh rõ ràng, đầy đủ và chi tiết về cơ sở tính thuế TNDN hiện hành, hoãn lại trên BCTC cũng góp phần không nhỏ trong việc đánh giá về tính minh bạch, rõ ràng của BCTC, vì thuế TNDN là các chỉ tiêu hết sức nhạy cảm đến lợi ích, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp với Nhà nước Vì vậy, các doanh nghiệp phải cung cấp một bức tranh rõ ràng về nghĩa vụ thuế hiện tại, tiềm năng và lợi ích về thuế TNDN trong tương lai cho các nhà đầu tư

1.1.5 Khung pháp lý về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Khung pháp lý về kế toán quy định các nguyên tắc và phương pháp kế toán phục vụ cho việc lập BCTC Kế toán thuế TNDN là một phần hành của kế toán tài chính nên khung pháp lý về kế toán thuế TNDN cũng thuộc hệ thống khung pháp lý

về kế toán Tùy thuộc vào đặc điểm cấu trúc pháp lý, tính chất sở hữu, trình độ phát

Ngày đăng: 10/04/2020, 15:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w