MỞ ĐẦUBộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 chính thức có hiệu lực vào ngày 01012017 đã ghi nhận quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong đó có quyền hưởng dụng. Tuy nhiên, trên thể giới việc quy định và nghiên cứu đã có từ rất lâu. Còn đây là một quy định mới ở Việt Nam ghi nhận về quyền hưởng dụng trong BLDS năm 2015, Từ lý do trên em xin chọn đề tài cho bài tập lớn của mình là: Phân tích quyền hưởng dụng được quy định trong BLDS 2015 và nêu quan điểm các nhân về thực tế áp dụng quyền hưởng dụng hiện nay, để có cái nhìn cụ thể hơn về việc áp dụng quy định này có phù hợp với đời sống kinh tế xã hội Việt Nam hay không.NỘI DUNGI.Quyền hưởng dụng1.Khái niệm và đặc điểm của quyền hưởng dụnga.Khái niệmBộ luật dân sự 2015 bên cạnh việc tiếp tục thừa kế và phát triển các quy định về quyền sở hữu, BLDS 2015 đã có những quy định mới, ghi nhận sự tồn tại của các quyền khác đối với tài sản. Theo điều 159 các quyền khác đối với tài sản bao gồm: quyền đối với bất động sản liền kề; quyền hưởng dụng và quyền về mặt. trong đó quyền hưởng dụng và quyền bề mặt là hai quyền mới được quy định tại BLDS 2015.Trong BLDS năm 2015, quyền hưởng dụng được quy định tại điều 257: “Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời gian nhất định”. Lần đầu tiên, BLDS ghi nhận thuật ngữ quyền hưởng dụng thay cho cụm từ “quyền của người không phải chủ sở hữu” vì trước đó ở bộ luật dân sự 2005 chưa có quy định về quyền hưởng dụng, việc quy định giúp các quan hệ xã hội, có những chủ thể chỉ huóng tới nhu cầu được khai thác, hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thay vì xác lập quyền sở hữu đối với tài sản.b.Đặc điểm của quyền hưởng dụngQuyền hượng dụng bao gồm quyền khai thác công dụng và quyền hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài dản thuộc sở hữu của chủ thể khácCó thể thấy về bản chất, quyền hưởng dụng chính là sự kết hợp 2 quyền là quyền khai thác công dụng và quyền hưởng hoa lợi lợi tức. Quyền sử dụng (quyền khai thác) tài sản cho phép chủ thể hưởng dụng thu được các lợi ích của tài sản thông qua khai thác, sử dụng đất để trồng cây, sử dụng nhà để ở,… Quyền hoa lợi, lợi tức cho phép người đó thụ hưởng những giá trị tài sản khi nó phát sinh từ tài sản gốc ban đầu bao gồm đó là các hoa lợi tự nhiên hay hoa lợi dân sự khi nó phát sinh hoa lợi, lợi tức.Quyền hưởng dụng gắn liền với một chủ thể xác định (vật quyền theo người) . Có thể được hiểu ở đây là khi chủ sở hữu của tài sản trao quyền cho một người khác trên chính tài sản của mình thì chỉ có chủ thể được trao quyền đó mới có quyền hưởng dụng, còn những người không được trao quyền thì không có, từ đó có thể thấy Quyền hưởng dụng là một vật quyền gắn với nhân thân người hưởng dụng, điều đó có nghĩa là khi người có quyền hưởng dụng này chấm dứt sự tồn tại thì quyền hưởng dụng này cũng chấm dứt theo.Tại cùng một thời điểm, không thể tồn tại được đồng thời cùng lúc nhiều chủ thể khác nhau mà cùng thực hiện quyền hưởng dụng đối với một tài sản của một người chủ sở hữu tài sản đó.Có thể thấy ở đây nếu trong trường hợp đồng thời nhiều chủ thể mà có cùng quyền hưởng dụng với một tài sản nhất định thì chính họ những người hưởng quyền hưởng dụng sẽ bị hạn chế đi quyền của mình trong việc khai thác, sử dụng hay hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản do chủ thể có quyền hưởng dụng khácQuyền hưởng dụng mang đặc tính thời hạn, điều đó được thể hiện qua việc ghi nhận quyền hưởng dụng gắn bó với chủ thể hưởng dụng trong một thời gian nhất định, có thể thấy quyền hưởng dụng tồn tại và theo người cuộc đời người hưởng dụng, hoặc có thể theo thỏa thuận và các quy định khác của pháp luật. Nhưng đối với quyền hưởng dụng thì thời hạn mà chủ thể được hưởng quyền thì không mang tính vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định.Giá trị của tài sản là đối tượng được bảo toàn của quyền hưởng dụng, được thể hiện khi hết thời hạn hết thời hạn được hưởng quyền, người có quyền hưởng dụng phải có nghĩa vụ giữ nguyên giá trị của đối tượng của quyền hưởng dụng và trả lại đối tượng này đúng với giá trị ban đầu của tài sản khi chủ sở hữu trao quyền hưởng dụng cho người được hưởng quyền hưởng dụng.1.1.Căn cứ xác lập quyền hưởng dụngCăn cứ xác lập quyền hưởng dụng là những sự kiện xảy ra trên thực tế mà theo quy định của pháp luật thì quyền hưởng dụng được xác lập trên tài sản của người khác cho một chủ thể nhất định. tại điều 258 BLDS 2015 quy định “ quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc” Việc quy định các căn cứ xác lập này là phù hợp với thực thế đa dạng của cuộc sống xã hội, đặc biệt ở đây chính là các quan hệ sở hữu đối với việc cùng nhau khai thác tài sản để tài sản đó không bị lãng phí để làm được điều đó thì cần nhiều chủ thể khác nhau phối hợp với nhau hoặc trường hợp thứ hai là xuất phát từ ý chí của người để lại tài sản ví dụ như theo di chúc nhằm duy trì sự tồn tại của tài sản hoặc khai thác tài sản có hiệu quả mà không bị suy hao đi về mặt giá trị của tài sản đó.1.1.1.Theo quy định của pháp luật.“Pháp luật là hệ thống các quy tắc và sử xự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích,định hướng của nhà nước” . bằng các quy định của pháp luật, nhà nước trao cho một người có quyền hưởng dụng dựa trên tài sản của người khác nhằm xác định các quy tắc của các bên có quyền hưởng dụng và bên của người chủ sở hữu để có thể tạo ra sự bình ổn trong các mối quan hệ dân sự.Có thể thấy đây là một trường hợp luật định quy định cho một chủ thể trong một điều kiện nhất định có quyền hưởng dụng đối với tài sản của người khác, và quyền hưởng dụng này phát sinh bởi hiệu lực của pháp luật. nhằm tạo điều kiện tốt nhất để quản lý tài sản và tạo sự bình ổn trong các mối quan hệ dân sự. 1.1.2.Theo thỏa thuận của các bên.Do nhu cầu các nhân mà các hủ thể có thể thỏa thuận với nhau về việc xác lập quyề hưởng dụng cho một bên chủ thể. Sự thỏa thuận này phải là tự nguyện không vi phạm điều cấm của pháp luật và không vi phạm đạo đức của xã hội. Trong BLDS 2015 quy định quyền hưởng dụng được xác lập thông qua sự thỏa thuận giữa một bên là chủ dở hữu tài sản và một bên được cấp quyền hưởng dụng đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng. chủ sở hữu và người hưởng dụng được tự do thỏa thuận và thể hiện ý chí của mình. ở trong thực tế xã hội và các quan hệ dân sự có rất nhiều trường hợp chủ sở hữu cấp quyền hưởng dụng cho người khác để họ hưởng dụng tài sản của mình. Nhưng ở đây việc cấp quyền hưởng dụng cho một người khác thông qua thỏa thuận nhưng thỏa thuận này được xác lập thông qua lời nói hay không còn đối với thỏa thuận qua văn bản thì pháp luật chưa có quy định cụ thể đối với từng loại tài sản khác nhau như: Động sản, hay bất Động sảnBLDS 2015 mới chỉ dừng lại ở bước đầu quy định quyền hưởng dụng thông qua thỏa thuận, còn để thỏa thuận đó có thể xác lập thông qua lời nói hay thông qua xác lập bằng văn bản thì ở đây pháp luật chưa có quy định đối với từng loại tài sản khác nhau. Điều đó đặt ra các nhà làm luật phải bổ xung sau này.1.1.3.Theo di chúcDi chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân, được hình thành bằng ý chí đơn phương của người để lại di sản thừa kế, là một bên chủ thể trong giao dịch dân sự về thừa kế, qua đó người lập di chúc định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người hưởng di sản để xác lập quyền sở hữu cho họ mà không cần biết những người này có nhận di sản hay không. Người lập di chúc có thể định đoạt tài sản cho một người thừa kế và để lại quyền hưởng dụng di sản cho một người khác mà không cần biết người này có nhân di sản hay không, thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc, chứ không giống như hợp đồng là ý chí của cả 2 bên. Điều 258 quy định người có tài sản thể hiện ý chí định đoạt quyền hưởng dụng cho người được hưởng dụng trong nội dung di chúc mà không phải chuyển quyền sở hữu cho những người này. Người lập di chúc có thể định đoạt tài sản cho một người thừa kế và để lại quyền hưởng dụng này cho một người khác.Ví dụ: Ông A lập di chúc để lại tài sản của mình là một mảnh đất cho người con trai của mình là anh B, nhưng người con của ông còn nhỏ tuổi chưa có khả năng để khai thác sử dụng mảnh đất vào mục đích sử dụng và sản xuất. chính vì thế, không để mảnh đất này bỏ không, ông A đã để lại quyền hưởng dụng mảnh đất đó cho bà C là chị của ông A trong thời hạn 5 năm để khai thác mảnh đất.1.2.Hiệu lực quyền hưởng dụngTheo điều 259 BLDS Việt Nam 2015 quy định: “ quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có liên quan. Quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường họp luật liên quan có quy định khác.”Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản. về nguyên tắc, quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, dù hai bên đã có thỏa thuận cụ thể về đối tượng của quyền hưởng dụng, điều kiện và thời hạn, quyền và nghĩa vụ của các bên…nhưng nếu chủ sở hữu chưa giao và người gưởng dụng chưa nhận được tài sản thì chưa phát sinh hiệu lực quyền hưởng dụng . có thể thấy ở đây việc chiếm hữu tài sản trên thực tế là một cơ sở để có thể thực hiện quyền hưởng dụng này. Khi chủ sở hữu tài sản chuyển giao tài sản và bên hưởng dụng đã nhận thì hiệu lực của quyền hưởng dụng này mới phát sinh.Theo thỏa thuận của các bên: chủ sở hữu hữu tài sản và người hưởng dụng có quyền thỏa thuận về thời điểm xác lập quyền hưởng dụng, thời điểm này phụ thuộc vào ý chí của các bên phù hợp với điều kiện của mỗi bên. Có thể thấy bình đẳng thỏa thuận là một nguyên tắc tối thượng của Luật dân sự. về nguyên tắc này có thể thấy thỏa thuận ở đây có thể coi như một hợp đồng có hiêu lực tại thời điểm giao kết, hoặc có thể thỏa thuận phát sinh hiệu lực tại một thời điểm khác. Dựa trên nguyên tắc tự do giao dịch nhưng không được trái pháp luật và trái với bản chất thỏa thuận của hai bên.Theo quy định của pháp luật: thời điểm xác lập quyền hưởng dụng theo quy định của pháp luật trong trường hợp này có thể thấy là hoàn toàn ohụ thuộc vào ý chí của nhà nước thông qua quy định của pháp luật các bên liên quan đối với tài sản không có quyền lựa chọn tại thời điểm hiện tại.Việc xác định thời điểm có hiệu lực của quyền hưởng dụng có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ của các bên về nghĩa vụ chuyển giao tài sản, làm phát sinh những quyền lợi và nghĩa vụ giữa 1 bên là chủ sở hữu và một bên là người được hưởng quyền. Bên cạnh đó, thời điểm phát sinh hiệu lực của quyền hưởng dụng còn là căn cứ xác định thời hạn quyền hưởng dụng, nghĩa vụ hoàn trả tài sản của người hưởng dụng…Quyền hưởng dụng được xác lập có hiệu lực với không chỉ bên chuyển quyền và bên nhận quyền mà quyền này còn có hiệu lực với mọi chủ thể khác không xã hội. Quy định này đã tạo cơ sở đề cao quyền hưởng dụng, yêu cầu các chủ thể khác phải tôn trọng, không được phép xâm phạm, cản trở tới quyền của người hưởng dụng trong việc thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, hưởng lợi ích hợp pháp của họ.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Quyền hưởng dụng 1
1 Khái niệm và đặc điểm của quyền hưởng dụng 1
a Khái niệm 1
b Đặc điểm của quyền hưởng dụng 1
1.1 Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng 2
1.1.1 Theo quy định của pháp luật 3
1.1.2 Theo thỏa thuận của các bên 3
1.1.3 Theo di chúc 4
1.2 Hiệu lực quyền hưởng dụng 4
1.3 Thời hạn của quyền hưởng dụng 5
1.4 Quyền và nghĩa vụ của người hưởng 6
1.4.1 Quyền của người hưởng dụng 6
1.4.2 Nghĩa vụ của người hưởng dụng 7
1.5 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản 8
1.6 Chấm dứt quyền hưởng dụng 9
II Ưu điểm, hạn chế trong thực tế áp dụng quyền hưởng dụng ở Việt Nam 10 2.1 Ưu điểm 10
2.2 Hạn chế: 11
III Một số giải pháp để khắc phục hạn chế 12
3.1 Tham khảo về thực tế áp dụng của một số nước 12
3.2 Cần có các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS Việt Nam về các vấn đề sau 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2MỞ ĐẦU
Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2017
đã ghi nhận quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong đó có quyền hưởng dụng Tuy nhiên, trên thể giới việc quy định và nghiên cứu đã có từ rất lâu Còn đây là một quy định mới ở Việt Nam ghi nhận về quyền hưởng dụng trong BLDS năm 2015, Từ lý do trên em xin chọn đề tài cho bài tập lớn của mình
là: Phân tích quyền hưởng dụng được quy định trong BLDS 2015 và nêu quan điểm các nhân về thực tế áp dụng quyền hưởng dụng hiện nay, để có cái nhìn cụ
thể hơn về việc áp dụng quy định này có phù hợp với đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam hay không
NỘI DUNG
I Quyền hưởng dụng
1 Khái niệm và đặc điểm của quyền hưởng dụng
a Khái niệm
Bộ luật dân sự 2015 bên cạnh việc tiếp tục thừa kế và phát triển các quy định
về quyền sở hữu, BLDS 2015 đã có những quy định mới, ghi nhận sự tồn tại của các quyền khác đối với tài sản Theo điều 159 các quyền khác đối với tài sản bao
gồm: quyền đối với bất động sản liền kề; quyền hưởng dụng và quyền về mặt trong
đó quyền hưởng dụng và quyền bề mặt là hai quyền mới được quy định tại BLDS 2015
Trong BLDS năm 2015, quyền hưởng dụng được quy định tại điều 257:
“Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời gian nhất định” Lần đầu tiên, BLDS ghi nhận thuật ngữ quyền hưởng dụng thay cho
cụm từ “quyền của người không phải chủ sở hữu” vì trước đó ở bộ luật dân sự 2005 chưa có quy định về quyền hưởng dụng, việc quy định giúp các quan hệ xã hội, có những chủ thể chỉ huóng tới nhu cầu được khai thác, hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thay vì xác lập quyền sở hữu đối với tài sản
b Đặc điểm của quyền hưởng dụng
- Quyền hượng dụng bao gồm quyền khai thác công dụng và quyền hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài dản thuộc sở hữu của chủ thể khác
Có thể thấy về bản chất, quyền hưởng dụng chính là sự kết hợp 2 quyền là quyền khai thác công dụng và quyền hưởng hoa lợi lợi tức Quyền sử dụng (quyền khai thác) tài sản cho phép chủ thể hưởng dụng thu được các lợi ích của tài sản thông qua khai thác, sử dụng đất để trồng cây, sử dụng nhà để ở,… Quyền hoa lợi, lợi tức cho phép người đó thụ hưởng những giá trị tài sản khi nó phát sinh từ tài sản
Trang 3gốc ban đầu bao gồm đó là các hoa lợi tự nhiên hay hoa lợi dân sự khi nó phát sinh hoa lợi, lợi tức
- Quyền hưởng dụng gắn liền với một chủ thể xác định (vật quyền theo người)1 Có thể được hiểu ở đây là khi chủ sở hữu của tài sản trao quyền cho một người khác trên chính tài sản của mình thì chỉ có chủ thể được trao quyền đó mới
có quyền hưởng dụng, còn những người không được trao quyền thì không có, từ đó
có thể thấy Quyền hưởng dụng là một vật quyền gắn với nhân thân người hưởng dụng, điều đó có nghĩa là khi người có quyền hưởng dụng này chấm dứt sự tồn tại thì quyền hưởng dụng này cũng chấm dứt theo
- Tại cùng một thời điểm, không thể tồn tại được đồng thời cùng lúc nhiều chủ thể khác nhau mà cùng thực hiện quyền hưởng dụng đối với một tài sản của một người chủ sở hữu tài sản đó
Có thể thấy ở đây nếu trong trường hợp đồng thời nhiều chủ thể mà có cùng quyền hưởng dụng với một tài sản nhất định thì chính họ những người hưởng quyền hưởng dụng sẽ bị hạn chế đi quyền của mình trong việc khai thác, sử dụng hay hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản do chủ thể có quyền hưởng dụng khác
- Quyền hưởng dụng mang đặc tính thời hạn, điều đó được thể hiện qua việc ghi nhận quyền hưởng dụng gắn bó với chủ thể hưởng dụng trong một thời gian nhất định, có thể thấy quyền hưởng dụng tồn tại và theo người cuộc đời người hưởng dụng, hoặc có thể theo thỏa thuận và các quy định khác của pháp luật Nhưng đối với quyền hưởng dụng thì thời hạn mà chủ thể được hưởng quyền thì không mang tính vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định
- Giá trị của tài sản là đối tượng được bảo toàn của quyền hưởng dụng, được thể hiện khi hết thời hạn hết thời hạn được hưởng quyền, người có quyền hưởng dụng phải có nghĩa vụ giữ nguyên giá trị của đối tượng của quyền hưởng dụng và trả lại đối tượng này đúng với giá trị ban đầu của tài sản khi chủ sở hữu trao quyền hưởng dụng cho người được hưởng quyền hưởng dụng
1.1 Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng
Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng là những sự kiện xảy ra trên thực tế mà theo quy định của pháp luật thì quyền hưởng dụng được xác lập trên tài sản của người khác cho một chủ thể nhất định.2 tại điều 258 BLDS 2015 quy định “ quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc”
1 Vật quyền có nguồn gốc từ luật học La Mã Vật quyền được chia thành 2 loại là quyền sở hữu và các loại vật quyền khác (mà các nước gọi là vật quyền hạn chế).Quyền sở hữu là quyền đối với vật của mình, còn các vật quyền khác là quyền đối với vật của người khác Một người có thể cùng một lúc là chủ thể của nhiều vật quyền khác nhau
2 Nguyễn văn Cừ - Trần Thị Huệ ( chủ biên) (2017), Bình luận khoa học BLDS 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, tr421
Trang 4Việc quy định các căn cứ xác lập này là phù hợp với thực thế đa dạng của cuộc sống xã hội, đặc biệt ở đây chính là các quan hệ sở hữu đối với việc cùng nhau khai thác tài sản để tài sản đó không bị lãng phí để làm được điều đó thì cần nhiều chủ thể khác nhau phối hợp với nhau hoặc trường hợp thứ hai là xuất phát từ
ý chí của người để lại tài sản ví dụ như theo di chúc nhằm duy trì sự tồn tại của tài sản hoặc khai thác tài sản có hiệu quả mà không bị suy hao đi về mặt giá trị của tài sản đó
1.1.1 Theo quy định của pháp luật.
“Pháp luật là hệ thống các quy tắc và sử xự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích,định hướng của nhà nước”3 bằng các quy định của pháp luật, nhà nước trao cho một người có quyền hưởng dụng dựa trên tài sản của người khác nhằm xác định các quy tắc của các bên có quyền hưởng dụng và bên của người chủ sở hữu để
có thể tạo ra sự bình ổn trong các mối quan hệ dân sự
Có thể thấy đây là một trường hợp luật định quy định cho một chủ thể trong một điều kiện nhất định có quyền hưởng dụng đối với tài sản của người khác, và quyền hưởng dụng này phát sinh bởi hiệu lực của pháp luật nhằm tạo điều kiện tốt nhất để quản lý tài sản và tạo sự bình ổn trong các mối quan hệ dân sự
1.1.2 Theo thỏa thuận của các bên.
Do nhu cầu các nhân mà các hủ thể có thể thỏa thuận với nhau về việc xác lập quyề hưởng dụng cho một bên chủ thể Sự thỏa thuận này phải là tự nguyện không
vi phạm điều cấm của pháp luật và không vi phạm đạo đức của xã hội
Trong BLDS 2015 quy định quyền hưởng dụng được xác lập thông qua sự thỏa thuận giữa một bên là chủ dở hữu tài sản và một bên được cấp quyền hưởng dụng đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng chủ sở hữu và người hưởng dụng được tự do thỏa thuận và thể hiện ý chí của mình ở trong thực tế xã hội và các quan hệ dân sự có rất nhiều trường hợp chủ sở hữu cấp quyền hưởng dụng cho người khác để họ hưởng dụng tài sản của mình Nhưng ở đây việc cấp quyền hưởng dụng cho một người khác thông qua thỏa thuận nhưng thỏa thuận này được xác lập thông qua lời nói hay không còn đối với thỏa thuận qua văn bản thì pháp luật chưa có quy định cụ thể đối với từng loại tài sản khác nhau như: Động sản, hay bất Động sản
3 PGS.TS Nguyễn Minh Đoan – Nguyễn Văn Năm( chủ biên)( 2017) Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật tr 209.
Trang 5BLDS 2015 mới chỉ dừng lại ở bước đầu quy định quyền hưởng dụng thông qua thỏa thuận, còn để thỏa thuận đó có thể xác lập thông qua lời nói hay thông qua xác lập bằng văn bản thì ở đây pháp luật chưa có quy định đối với từng loại tài sản khác nhau Điều đó đặt ra các nhà làm luật phải bổ xung sau này
1.1.3 Theo di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân, được hình thành bằng ý chí đơn phương của người để lại di sản thừa kế, là một bên chủ thể trong giao dịch dân sự về thừa
kế, qua đó người lập di chúc định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người hưởng di sản để xác lập quyền sở hữu cho họ mà không cần biết những người này có nhận di sản hay không Người lập di chúc có thể định đoạt tài sản cho một người thừa kế và để lại quyền hưởng dụng di sản cho một người khác mà không cần biết người này có nhân di sản hay không, thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc, chứ không giống như hợp đồng là ý chí của cả 2 bên Điều 258 quy định người có tài sản thể hiện ý chí định đoạt quyền hưởng dụng cho người được hưởng dụng trong nội dung di chúc mà không phải chuyển quyền sở hữu cho những người này Người lập di chúc có thể định đoạt tài sản cho một người thừa kế
và để lại quyền hưởng dụng này cho một người khác
Ví dụ: Ông A lập di chúc để lại tài sản của mình là một mảnh đất cho người con trai của mình là anh B, nhưng người con của ông còn nhỏ tuổi chưa có khả năng để khai thác sử dụng mảnh đất vào mục đích sử dụng và sản xuất chính vì thế, không để mảnh đất này bỏ không, ông A đã để lại quyền hưởng dụng mảnh đất
đó cho bà C là chị của ông A trong thời hạn 5 năm để khai thác mảnh đất
1.2.Hiệu lực quyền hưởng dụng
Theo điều 259 BLDS Việt Nam 2015 quy định: “ quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có liên quan Quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường họp luật liên quan có quy định khác.”
- Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản về
nguyên tắc, quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản,
dù hai bên đã có thỏa thuận cụ thể về đối tượng của quyền hưởng dụng, điều kiện
và thời hạn, quyền và nghĩa vụ của các bên…nhưng nếu chủ sở hữu chưa giao và người gưởng dụng chưa nhận được tài sản thì chưa phát sinh hiệu lực quyền hưởng dụng4 có thể thấy ở đây việc chiếm hữu tài sản trên thực tế là một cơ sở để có thể
4 Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ ( chủ biên) (2017) tr 424
Trang 6thực hiện quyền hưởng dụng này Khi chủ sở hữu tài sản chuyển giao tài sản và bên hưởng dụng đã nhận thì hiệu lực của quyền hưởng dụng này mới phát sinh
- Theo thỏa thuận của các bên: chủ sở hữu hữu tài sản và người hưởng dụng
có quyền thỏa thuận về thời điểm xác lập quyền hưởng dụng, thời điểm này phụ thuộc vào ý chí của các bên phù hợp với điều kiện của mỗi bên.5
Có thể thấy bình đẳng thỏa thuận là một nguyên tắc tối thượng của Luật dân
sự về nguyên tắc này có thể thấy thỏa thuận ở đây có thể coi như một hợp đồng có hiêu lực tại thời điểm giao kết, hoặc có thể thỏa thuận phát sinh hiệu lực tại một thời điểm khác Dựa trên nguyên tắc tự do giao dịch nhưng không được trái pháp luật và trái với bản chất thỏa thuận của hai bên
- Theo quy định của pháp luật: thời điểm xác lập quyền hưởng dụng theo quy định của pháp luật trong trường hợp này có thể thấy là hoàn toàn ohụ thuộc vào ý chí của nhà nước thông qua quy định của pháp luật các bên liên quan đối với tài sản không có quyền lựa chọn tại thời điểm hiện tại
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của quyền hưởng dụng có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ của các bên về nghĩa vụ chuyển giao tài sản, làm phát sinh những quyền lợi và nghĩa vụ giữa 1 bên là chủ sở hữu và một bên là người được hưởng quyền Bên cạnh đó, thời điểm phát sinh hiệu lực của quyền hưởng dụng còn
là căn cứ xác định thời hạn quyền hưởng dụng, nghĩa vụ hoàn trả tài sản của người hưởng dụng…
Quyền hưởng dụng được xác lập có hiệu lực với không chỉ bên chuyển quyền
và bên nhận quyền mà quyền này còn có hiệu lực với mọi chủ thể khác không xã hội Quy định này đã tạo cơ sở đề cao quyền hưởng dụng, yêu cầu các chủ thể khác phải tôn trọng, không được phép xâm phạm, cản trở tới quyền của người hưởng dụng trong việc thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, hưởng lợi ích hợp pháp của họ
1.3.Thời hạn của quyền hưởng dụng
Thời hạn của quyền hưởng dụng được quy định theo điều 260 BLDS 2015, như sau:
“ 1 Thời hạn của quyền hưởng dụng cho các bên thỏa thuận hoặc do luật quy đinh nhưng tối đa đến hết cuộc đời ảu người hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dung là các nhân và đến khi pháp nhân chấm dứt sự tồn tại nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân.
5 Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ ( chủ biên) (2017) tr 425
Trang 72, người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng trong thời hạn quy định tại khoản 1 điều này”
Theo quy định tại điều 144 của BLDS 2015: Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ một thời điểm này đến thời điểm khác Giới hạn khoảng thời gian này dể các bên thực hiện nghĩa vụ của mình thông thường do các bên chủ thể thỏa thuận với nhau, tuy nhiên ở đây còn trường hợp là pháp luật quy định hoặc quyết đinh của cơ quan có thẩm quyền ấn định khoảng thời gian này, các bên chủ thể sẽ buộc phải thực hiện theo
Khi chủ sở hữu trao quyền hưởng dụng cho một người trên tài sản của mình chủ sở hữu đã bị giảm quyền nhưng vẩn là quyền sở hữu vĩnh viễn quyền hưởng dụng là quyền mà ở đây là quyền của một người giống như chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng và thu lợi trong một thời gian nhất định đối với tài sản thuộc quyền
ở hữu của người khá mà không mang tính vĩnh viễn như quyền của chủ sở hữu
- Nếu chủ thể hưởng dụng là cá nhân: Thời hạn hưởng dụng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên Quy định này xác định rõ đối với trường hợp nhiều các nhân được hưởng dụng trên một tài sản thì đời người sẽ được xác định theo người hưởng dụng đầu tiên
- Chủ thể hưởng dụng là pháp nhân: pháp nhân là chủ thể hưởng dụng thì thời gian hưởng dụng tối đa của pháp nhân cho đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng không quá 30 năm Pháp nhân bị chấm dứt tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự khi có sự kiện pháp lý sảy ra theo quy định của pháp luật như phá sản, giải thể
- Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng: về nội dung quyền hưởng dụng vẩn yếu hơn quyền sở hữu nhưng về cơ bản, mạnh hơn quyền sử dụng
trong hợp đồng thuê, hợp đồng mượn tài sản Người hưởng dụng được “tự mình hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi , lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng” 6 nhưng thời hạn phải bằng hoặc ngắn hơn thời hạn mà người hưởng dụng được hưởng dụng, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên: quy định của pháp luật và tuổi đời của người hưởng dụng đầu tiên
1.4.Quyền và nghĩa vụ của người hưởng
1.4.1 Quyền của người hưởng dụng
Theo điều 261 BLDS 2015 thì người hưởng dụng có các quyền như sau:
Thứ nhất, người hưởng dụng có quyền tự mình hoặc cho phép người khác khai
thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng
6 (khoản 1 điều261 BLDS 2015)
Trang 8Quy định này phù hợp với quy định của pháp luật thì việc thu hoa lợi, lợi tưc
là một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức người hưởng dụng sẽ không phải hoàn trả khi hết thời hạn hưởng dụng, người hưởng dụng được xác lập quyền sở hữu với tài sản này
Thứ hai, yêu cầu chủ sở hữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa đối với tài
sản theo quy định tại khoản 4 điều 263 củ BLDS 2015
Người hưởng dụng có quyền hưởng dụn tài sản trong trạng thái như trạng thái tài sản tại thời điểm phát sinh quyền hưởng dụng, do đó, nếu tài sản hưởng dụng không đảm bảo được công dụng và giá trị của nó thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người hưởng dụng Vì vậy có thể yêu cầu chủ sở hữu thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản để đảm vảo không bị suy giảm đáng kể dẫn đến tài sản không sử dụng được hay mất giá trị của tài sản,…
Thứ ba, cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản.
Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu, còn người sử dụng trong hợp đồng thuê, hợp đồng mượn chủ được cho thuê lại tài sản hoặc cho mượn lại tài sản mà mình đã thuê/ mượn khi được sự đồng ý của bên cho thuê7 Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng, tuy nhiên, các quyền này cùng chấm dứt theo quyền hưởng dụng, khi quyền hưởng dụng bị chấm dứt
1.4.2 Nghĩa vụ của người hưởng dụng.
Theo điều 262 BLHS 2015, người hưởng dụng bên cạnh việc được hưởng các quyền lợi thì phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
Thứ nhất, tiếp nhận tài sản theo hiện trạng và thực hiện đăng ký nếu luật có quy định: Vì yếu tố không làm thay đổi đặc tính của tài sản do đó việc tiếp nhận tài
sản theo hiện trạng là cơ sở để người hưởng dụng sử dụng, khai thác hoa lợi, lợi tức trên tài sản đó, và sau khi hết thời hạn hưởng dụng thì sẽ hoàn trả đúng hiện trạng tài sản cho chủ sở hữu
Thứ hai, khai thác tài sản phù hợp với công dụng, mục đích sử dụng của tài sản.
Việc sử dụng không đúng công dụng, không đúng mục đích sử dụng của tài sản có thể khiến cho giá trị sử dụng của tài sản bị giảm sút, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chủ sở hữu Do đó, người hưởng dụng phải tuân thủ quy định
7 Điều 475 BLDS 2015
Trang 9của pháp luật cũng như sự thỏa thuận với chủ sở hữu về việc sử dụng tài sản một cách phù hợp
Thứ ba, giữ gìn, bảo quản tài sản của mình.
Việc thực hiện nghĩa vụ này ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của chủ sở hữu cũng như của người liên quan Bởi vì, khi kết thúc quá trình hưởng dụng, tài sản được trả lại cho chủ sở hữu tiếp tục sử dụng, nên nếu tài sản bị hư hỏng, giảm sút giá trị sẽ gây ảnh hưởng đến việc sử dụng tài sản của chủ sở hữu
Thứ tư, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ để bảo đảm cho việc sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và khắc phục các hậu quả xấu đối với tài sản do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù hợp với yêu cầu
kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo quản tài sản.
Đây có thể coi là những sửa chữa nhỏ, bởi việc sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ này không làm tăng giá trị của tài sản mà chỉ duy trì tình trạng hoạt động bình thường của tài sản đó, nhằm sự hạn chế thiệt hại, nếu làm tăng giá trị của tài sản thi chủ sở hữu phải thanh toán chi phí sửa chữa này, nếu để tài sản hư hỏng thì người hưởng dụng phải chịu trách nhiệm về những nhậu quả này
Thứ 5, hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu khi hết thời hạn hưởng dụng.
Khi hết thời hạn hưởng dụng, người hưởng dụng phải hoàn trả tài sản cho chủ
sở hữu tài sản, nhưng cũng phải giữ tài sản nguyên vẹn và trả lại nguyên trạng khi quyền hưởng dụng được cấp Việc xác đinh thời điểm hoàn trả đối với từng trường hợp cũng sẽ khác nhau, tùy thuộc vào trường hợp hưởng dụng là cá nhân hay pháp nhân, người hưởng dụng đó là người đầu tiên hay người hưởng dụng kế tiếp
1.5.Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản
Khi người khác đang thực hiện quyền hưởng dụng đối với tài sản của mình thì đồng nghĩa với việc chủ sở hữu sẽ không được trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản Tuy nhiên, chủ sở hữu vẩn có những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với tài sản cũng như với người hưởng dụng
Theo điều 263 BLDS 2015 quy định Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gồm:
Thứ nhất, “ định đoạt tài sản nhưng không được làm thay đổi quyền hưởng dụng đã được xác lập”; có thể thấy quyền định đoạt là quyền quan trọng nhất của
chủ sở hữu và quyền này sẽ không bị mất đi khi chủ sở hữu của tài sản này hiện
Trang 10không đang chiếm hữu và sử dụng tài sản Nếu quyền định đọa này gây ảnh hưởng đến việc khai thác công dụng, hoa lợi, lợi tức thì người hưởng dụng có thể yêu cầu tahm ngừng thực hiện quyền định đoạt này cho đến khi chấm dứt quyền hưởng dụng
Thứ hai, yêu cầu tòa án truất quyền hưởng dụng trong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình.
Quy định chủ sở hữu yêu cầu tòa án truất quyền hưởng dụng của người hưởng dụng khi người này vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu đã tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu tuy nhiên hiện giờ mức độ thế nào là nghiêm trọng thì vẩn đang bị bỏ ngỏ, do đó phải có bằng chứng vi phạm đó Để tòa án quyết định nó
có phải nghiêm trọng hay không
Thứ 3,không được cản trở, thực hiện hành vi khác gây khó khăn hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng dụng;
Trong quá trình cá nhân, pháp nhân thực hiện quyền hưởng dụng của mình Chủ sở hữu vẩn được thực hiện những quyền của đối với chính tài sản của mình mà pháp luật quy định, nhưng nếu nó làm ảnh hưởng tới quyền hưởng dụng , thì bên bên có quyền hưởng dụng có thể yêu cầu chủ sở hữu chấm dứt hành vi hoặc yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền can thiệp yêu cầu chủ sở hữu chấm dứt hành
vi của mình
Thứ tư: chủ sở hữu phải thực hiện việc sửa chữa tài sản hư hỏng nếu sự hư
hỏng đó làm giảm sút giá trị sử dụng, khiến cho tài sản không sử dụng được bình thường hoặc người hưởng dụng không thể khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, Nếu chủ sở hữu không thực hiện việc sửa chữa thì phải thanh toán chi phí mà người hưởng dụng đã phải bỏ ra để sửa chữa tài sản
1.6.Chấm dứt quyền hưởng dụng
Theo điều 265 BLDS 2015 quyền hưởng dụng có thể chấm dứt khi hết thời hạn hưởng dụng; theo thỏa thận của các nên; người hưởng dụng trở thành chủ tài sản; người hưởng dụng từ bỏ quyền hưởng dụng trong thời hạn do luật định; tài sản hưởng dụng không còn; theo quyết định của toàn ấn và các quy định khác của pháp luật
Sau khi chám dứt quyền hưởng dụng tài sản phải được hoàn trả cho chủ sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, hoặc theo quy định khác của pháp luật