CƠ sở lý LUẬN và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu NHỮNG vấn đề CHUNG về TPP và QUYỀN TIẾP cận dược PHẨM, y tế CÔNG CỘNG CƠ sở lý LUẬN và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu NHỮNG vấn đề CHUNG về TPP và QUYỀN TIẾP cận dược PHẨM, y tế CÔNG CỘNG
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TPP VÀ QUYỀN TIẾP
CẬN DƯỢC PHẨM, Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2Cơ sở lý luận tình hình nghiên cứu
Quy định về Quyền sở hữu trí tuệ trong TPP tác động tớiquyền tiếp cận thuốc và y tế công cộng
+ ) Nghiên cứu “The Trans-Pacific Partnership Agreement:Implication for Access to Medicines and Public Health”(Bhardwaj và Cecilia Oh, 2014) đã đưa ra phân tích một sốcác quy định về Quyền sở hữu trí tuệ trong TPP dựa vào cácnội dung do Hoa Kỳ đề xuất bị tiết lộ năm 2011 và 2012 Cáctài liệu chính gồm: đề xuất của Hoa Kỳ (trong chương sở hữutrí tuệ), chương trình bảo hiểm y tế đầu tư Từ những phântích dựa trên các tài liệu này, bài nghiên cứu đã đưa ra đượcnhững hàm ý từ những quy định do Hoa Kỳ đề xuất có tácđộng như thế nào đến quyền tiếp cận thuốc và y tế công cộngđối với những quốc gia tham gia đàm phàn TPP Bài nghiêncứu phân tích những quy định về: Bằng sáng chế; Độc quyền
dữ liệu và liên kết sáng chế; Nhãn hiệu và quyền tác giả; Thựcthi quyền sở hữu trí tuệ; đối với mỗi quy định được đề cập tới,nhóm tác giả đều đưa ra những hàm ý về tác động của chúngđối với lĩnh vực y tế đặc biệt là quyền tiếp cận dược phẩm và
y tế công cộng
Trang 3Đối với đề xuất về Bằng sáng chế: Nhiều điều khoản trongchương sở hữu trí tuệ do Hoa Kỳ đề xuất có liên quan đếnsáng chế Về tổng thể, đề xuất của Hoa Kỳ có vẻ như quáthiên vị các nhà sáng chế thông qua các quy định như mức độcông bố thông tin thấp, điều kiện được cấp sáng chế thấp,không có thủ tục phản đối tiền cấp phép, và hàng loạt các cơhội để sửa đổi đơn xin cấp sáng chế Tác động tổng thể củacác quy định này có lẽ sẽ làm tăng số lượng sáng chế đượccấp trong lĩnh vực dược phẩm và công nghệ bào chế thuốc,trong đó có cả các sáng chế “chất lượng thấp”.
Đối với đề xuất về Độc quyền dữ liệu và liên kết sáng chế:Quy định độc quyền dữ liệu trong TPP sẽ yêu cầu các hãngthuốc generic phải tiến hành thử nghiệm lâm sàng để đượccấp phép lưu hành hoặc phải đợi đến khi thời hạn độc quyền
dữ liệu kết thúc (5 năm cộng với việc gia hạn 3 năm cho từngthành phần hóa học của thuốc) trước khi thuốc generic có thểđược lưu hành Biện pháp này tạo ra sự độc quyền về thuốcđộc lập với bảo hộ sáng chế và được áp dụng cho các loạithuốc đã hết hạn bảo hộ Độc quyền dữ liệu có thể gây trởngại cho việc thực hiện các giấy phép bắt buộc Độc quyền dữliệu được nhiều người xem là một biện pháp TRIPS cộng có
Trang 4ảnh hưởng xấu đến việc tiếp cận dược phẩm Đánh giá tạiGuatemala và Jordan về tác động của độc quyền dữ liệu đãcho thấy sự tăng giá thuốc một cách đáng kể Liên kết sángchế là một trong những vấn đề mà các quốc gia đang pháttriển quan tâm Thông qua hệ thống liên kết sáng chế, cáccông ty dược có cơ hội để ngăn chặn thuốc generic.
Đối với đề xuất về nhãn hiệu và quyền tác giả: Cùng với việctăng thời hạn có hiệu lực của giấy chứng nhận đăng ký nhãnhiệu, đề xuất của Hoa Kỳ sẽ mở rộng đáng kể phạm vi bảo hộnhãn hiệu gồm cả màu sắc, âm thanh, mùi vị và cả những đặcđiểm không nhìn thấy được khác Như vậy với quy định nàythì việc sản xuất thuốc generic sẽ phải khác biệt với hình thứccủa thuốc nguyên gốc; điều này có thể dẫn đến sự nhầm lẫn,làm giảm hiệu quả và tăng các sai sót trong chỉ định thuốc,gây ra hệ quả không tốt cho bệnh nhân
Đối với đề xuất về Thực thi quyền sở hữu trí tuệ: Nhiều điềukhoản trong chương sở hữu trí tuệ liên quan đến các biệnpháp bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ Đối với nhữngquy định nghiêm ngặt về điều khoản Thực thi quyền sở hữutrí tuệ như vậy sẽ có một số ảnh hưởng nhất định như sau:Nguyên tắc suy đoán hữu hiệu gây khó khăn cho việc thu hồi
Trang 5các bằng sáng chế và làm tăng các bằng sáng chế có chấtlượng thấp; Hạn chế khả năng của các chính phủ cân bằnggiữa bảo hộ sở hữu trí tuệ và lợi ích công cộng; Tác động xấuđến các nhà sản xuất thuốc generic; Biện pháp kiểm soát nhãnhiệu tại các cửa khẩu có thể tác động xấu đến xuất nhập khẩuthuốc generic và làm tăng nguy cơ bị giữ thuốc generic khiquá cảnh.
+ Nghiên cứu “Dangers for Access to Medicines in TheTrans-Pacific Free Trade Agreement: Comparative Analysis
of The United States’ TPFTA Intellectual Property Proposaland Vietnamese Law” (Dr.Burcu Kilic và Peter Maybarduck,2011) dựa trên bản đề xuất của Hòa Kỳ trong TPFTA vềquyền sở hữu trí tuệ và Pháp luật Việt Nam, từ những điểmkhác nhau về các vấn đề: Công ước về sáng chế (2000); cácđiều kiện để cấp bằng sáng chế; khả năng áp dụng côngnghiệp với tính hữu dụng; bảo hộ các hình thức mới, cáchthức hoặc phương pháp sử dụng mới của một sản phẩm đã có(cũ); các đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa bằngsáng chế; loại trừ quyền sử dụng của các bên khác; điều chỉnhthời hạn bảo hộ độc quyền sáng chế; các phản đối của bên thứ
ba và các phản đối trước khi cấp bằng bảo hộ; độc quyền dữ
Trang 6liệu; liên kết bằng sáng chế; suy đoán về hiệu lực của vănbằng sáng chế trong các thủ tục tố tụng tư pháp hoặc hànhchính; bồi thường thiệt hại đối với các vi phạm bảo hộ sángchế; các biện pháp tại biên giới… trong đề xuất của Hoa Kỳ
và pháp luật Việt Nam, tác giả phân tích những tác động củacác điểm này tới Việt Nam đặc biệt là tới quyền tiếp cận dượcphẩm và y tế công cộng tại Việt Nam
Quy định về Minh bạch hóa và chống tham nhũng và tác độngcủa nó tới quyền tiếp cận dược phầm và y tế công cộng
+ Nghiên cứu “ How The Trans Pacific PartnershipAgreement could undermine PHARMAC- PharmaceuticalManagemant Agency là Cơ quan quản lý dược phẩm của NewZealand- and threaten access to affordable medicines andhealth equity in New Zealand” (Deborah Gleeson và cộng sự,2013), dựa trên việc nghiên cứu bản nháp của Mỹ tiết lộ năm
2011 về điều khoản Minh bạch và chống tham nhũng, nhómtác giả đã chỉ ra một số những tác động từ TPP có thể gây rađối với PHARMAC là: Ngăn cản việc sử dụng giá tham chiếuđiều trị, tính minh bạch và công bố thông tin yêu cầu mà cóthể làm suy yếu các cuộc đàm phán về giá, … PHARMACđược tạo ra như là một phản ứng với chi phí ngày càng tăng
Trang 7của dược phẩm, mục tiêu chính của cơ quan này chính là đểđảm bảo rằng người dân NewZealand được tiếp cận với dượcphẩm có giá cả tốt nhất Tuy nhiên quá trình hoạt động củaPHARMAC rất dễ bị tác động bởi những đàm phán trongTPP, bất kỳ sự xâm nhập vào trong nước về việc ra quyết địnhđối với dược phẩm – thậm chí những yêu cầu dường nhưmang tính hợp lý cao như là “minh bạch”- đều để lại nhữngtác động bất lợi cho hoạt động của PHARMAC trong quátrình quản lý chi phí y tế, gây ra hiệu ứng nghiêm trọng về chiphí dược phẩm và y tế công cộng.
Quy định về Đầu tư và tác động của nó tới quyền tiếp cậndược phẩm và y tế công cộng
+ Nghiên cứu “The Trans-Pacific Partnership Agreement:Implication for Access to Medicines and Public Health”(Kajal Bhardwaj và Cecilia Oh, 2014) cũng đưa ra nhữngphân tích đối với đề xuất về Đầu tư: Khi nghiên cứu các tácđộng tiềm tàng của chương đầu tư được đề xuất trong TPP lên
y tế công cộng, có ba vấn đề quan tâm cần được xem xét: Thứnhất, các quy định trong chương đầu tư của TPP mở rộngquyền của các nhà đầu tư nước ngoài, và các chính phủ phải
có nghĩa vụ bảo vệ các quyền đó; Thứ hai, chương đầu tư đề
Trang 8xuất việc các quyền của nhà đầu tư sẽ được bảo hộ theo cơchế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước mộtcách rộng rãi, tức là việc thực thi sẽ rất mạnh mẽ; Cuối cùng,cần đặc biệt lưu ý rằng phạm vi thẩm quyền của các hội đồngtrọng tài được xác định trong các quy định của điều ước đầu
tư có liên quan
Phân tích chung các quy định trong TPP, đưa ra các kịch bản
dự đón tác động tới sức khỏe công cộng
+ Nghiên cứu “Negotiating Healthy Trade in Australia –Health Impact Assessment of the Proposed Trans-PacificPartnership Agreement” (Katie Hirono và nhóm cộng sự,2015); dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu rò rỉ được cho làcác vấn đề sẽ đưa ra đàm phán tại TPP và từ những ý kiến củachuyên gia tư vấn, HIA - Health Impact Assessment (HIA): làphương pháp dự đoán những tác động tích cực và tiêu cực vềmặt sức khỏe của một chính sách hoặc một đề nghị từ đó đưa
ra những khuyến nghị để nâng cao, hoàn thiện chính scahshoặc đề nghị đó tập trung vào bốn vấn đề từ TPP được cho là
có tiềm năng ảnh hưởng đến sức khỏe công cộng của ngườidân Australia đó là: Chi phí về thuốc men; Các chính sách
Trang 9kiểm soát về thuốc lá; Các chính sách kiểm soát về chất cồn;Thực phẩm – nhãn hiệu thực phẩm.
Đối với mỗi vấn đề được nêu ra, nhóm tác giả tiến hànhnghiên cứu phân tích những Quy định trong TPP sau đó dựđoán những kịch bản chính sách mà Chính Phủ có thể sẽ đưa
ra, tìm ra những yếu tố quyết định tới sức khỏe và dự đoán tácđộng của chúng tới sức khỏe; sau đó sẽ khoanh vùng nhómđối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội Bằng phương phápnày, nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết luận:
Trong vấn đề về chi phí thuốc men, nhóm tác giả nghiên cứu
và phân tích những nội dung liên quan đến: chương sở hữu trítuệ, chăm sóc sức khỏe và phụ lục minh bạch, chương đầu tư;
từ đó đưa ra kết luận rằng TPP có nguy cơ làm tăng chi phíthuốc thang điều này có thể dẫn tới việc không tuôn thủ việc
sử dụng thuốc theo toa và ưu tiên cho chi phí y tế trên nhữngnhu cầu cần thiết khác (thực phẩm, nhà ở…) Với việc tăngchi phí thuốc men sẽ gây ảnh hưởng tới những nhóm người cóthu nhập thấp, dân tộc thổ dân và dân đảo Torres Strait, ngườigià, phụ nữ…
Trang 10Có một số quy định trong TPP mà có thể tăng rủi ro củaChính phủ trong việc điều chỉnh và hạn chế quảng cáo rượu,thuốc lá – để đưa ra dự đoán này nhóm nghiên cứu tiến hànhphân tích vấn đề này từ những quy định về : giải quyết tranhchấp đầu tư nhà nước, chương các rào cản kỹ thuật đối vớithương mại, quy định liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa trongchương sở hữu trí tuệ, bảo vệ cho các nhà đầu tư, chương dịch
vụ qua biên giới – điều này có khả năng làm gia tăng tỷ lệ hútthuốc lá và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng đặc biệt lànhóm người dễ bị tổn thương: Trẻ vị thành niên, những ngườinghiện ma túy, người vô gia cư, người có thu nhập thấp
Cũng từ việc nghiên cứu các quy định tương tự như rủi ro vềchính sách quản lý thuốc lá và rượu trong TPP, nhóm tác giảnhận thấy rằng có một số quy định sẽ ảnh hưởng tới các nhàquản lý trong việc yêu cầu cải thiện nhãn hiệu thực phẩm dinhdưỡng Với hiệu quả tài liệu của chính sách ghi nhận cho phépngười tiêu dùng lựa chọn được thực phẩm lành mạnh, và cókhả năng rằng quy định trong TPP làm hạn chế việc thực hiệnghi nhãn dẫn đến việc người tiêu dùng có thể không lựa chọnđược những sản phẩm lành mạnh và có thể dẫn đến một số tác
Trang 11động đến sức khỏe thường gặp như béo phì, hội chứng chuyểnhóa không tốt (tiểu đường, máu nhiễm mỡ…).
Qua những đánh giá đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một sốkhuyến nghị chia làm ba nhóm như sau:
Kiến nghị với Bộ Ngoại giao và Thương mại và Chính phủ vềcác quy định trong TPP;
Kiến nghị với Chính phủ về quá trình đàm phán TPP;
Khuyến nghị chính sách rộng hơn cho Chính phủ trong lĩnhvực dược phẩm, thuốc lá, rượu, dược phẩm;
+ Báo cáo “Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái BìnhDương (TPPA) – Những tác động đến ngành y tế Việt Nam(Lê Văn Truyền, 2015), bài báo cáo của tác giả đã tóm tắt sơlược về TPPA đồng thời đưa ra những đánh giá về một sốchương quan trọng có thể có tác động tới ngành y tế của ViệtNam Tại mỗi chương này tác giả có đưa ra một số nội dungtrong các quy định và phân tích được những cơ hội cũng nhưnhững thách thức mang đến cho ngành y tế Việt Nam Từnhững phân tích đó, tác giả đưa một một số ý kiến thay cholời kết luận về những mối quan tâm lớn nhất từ TPPA mà
Trang 12ngành y tế nên chú ý đó là: Thách thức từ việc giảm thuế quanđối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP, thách thức từ việc
mở cửa thị trường dịch vụ, thách thức từ việc thực thi các yêucầu cao liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tháchthức trong việc thực thi những yêu cầu cao về môi trường, laođộng, cạnh tranh, … và các ràng buộc mang tính thủ tục khiban hành các quyết định liên quan đến rào cản kỹ thuật, vệsinh dịch tễ…
Tóm lược các nghiên cứu: Như vậy có thể nhận thấy rằng cácnghiên cứu trên đã bước đầu tiếp cận, phân tích đồng thời đưa
ra được những dự đoán có thể gây ra bởi các quy định trongTPP đối với dược phẩm và sức khỏe Tuy nhiên, các bàinghiên cứu trên đều phân tích dựa trên những tài liệu khôngchính thức do đó còn tồn tại những thông tin chưa được xácthực đồng thời tại Việt Nam cũng chưa có nghiên cứu sâu sắc
về vấn đề được đưa ra Dựa vào những văn bản đã được kýkết chính thức của hiệp định TPP vào ngày 4/2/2016, với đề
tài “ Tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái bình Dương tới quyền tiếp cận dược phẩm và y tế công cộng tại Việt Nam” tác giả cũng sẽ đi sâu phân tích một số chương
quy định trong Hiệp định TPP mà theo tác giả những quy định
Trang 13trong các chương đó sẽ có ảnh hưởng rõ rệt nhất và đưa ranhững dự đoán về tác động của các quy định này tới quyềntiếp cận dược phẩm và y tế công cộng tại Việt Nam.
Những vấn đề chung về TPP, quyền tiếp cận dược phẩm
từ 28/5/2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand,Brunei
Tháng 9/2008: Mỹ tuyên bố tham gia đàm phán TPP
Tháng 11/2008: Australia và Peru tham gia đàm phán TPP Tạibuổi họp báo công bố sự tham gia của Australia và Peru, đạidiện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập khuôn khổ
Trang 14mới cho TPP Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên kếhoạch và diễn ra.
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia TPP với tưcách thành viên liên kết Tháng 11/2010, sau khi tham gia baphiên đàm phán TPP với tư cách này, Việt Nam đã chính thứctham gia đàm phán TPP
Tháng 10/2010: tại vòng đàm phán thứ ba diễn ra ở Brunei,Malaysia chính thức tham gia đàm phàn TPP, nâng tổng sốnước tham gia đàm phán lên 9 nước
Tháng 6/2012: Canada và Mexico tham gia đàm phán
Tháng 7/2013: Nhật Bản tham gia đàm phán và trở thànhthành viên thứ 12 tại vòng đàm phán thứ 18 diễn ra ởMalaysia
Tháng 12/2013: Bộ trưởng 12 nước từ bỏ mục tiêu hoàn tấtvăn kiện này trong năm 2013 sau khi không thu hẹp được bấtđồng tại cuộc họp kéo dài 4 ngày ở Singapore
Tháng 2/2014: Cuộc họp cấp bộ trưởng tại Singapore kết thúc
mà không đạt mục tiêu mong muốn
Trang 15Tháng 4/2014: Nhật Bản và Mỹ khép lại các cuộc đàm phánmarathon tại Tokyo, nhưng vẫn chưa thu hẹp được bất đồng.
Tháng 11/2014: Thủ tướng Nhật Bản và Tổng thống Mỹ cùnglãnh đạo 10 nước đàm phán TPP còn lại nhóm họp bên lềDiễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)tại Bắc Kinh (Trung Quốc) nhất trí sớm kết thúc đàm phán,nhưng không đưa ra mốc cụ thể
Tháng 4/2015: Nghị sỹ Mỹ trình Quốc hội dự luật Quyền đàmphán nhanh để thúc đẩy đàm phán TPP
Tháng 6/2015: Tổng thống Mỹ ký ban hành Luật Quyền đàmphán nhanh
Tháng 7/2015: Bộ trưởng 12 nước đàm phán TPP họp tạiHawaii (Mỹ), nhưng vẫn không khai thông được bất đồng
Ngày 30/09/2015: Bộ trưởng 12 nước bắt đầu đàm phán tạiAtlanta (Mỹ) với mục tiêu hoàn tất thỏa thuận Cuộc họp căngthẳng kéo dài 5 ngày và đến ngày 5/10 các nước chính thứcđạt thảo thuận cuối cùng về TPP
Ngày 4/2/2016, tại Auckland, New Zealand, Thủ tướng NewZealand John Key đã chứng kiến lễ ký kết Hiệp định TPP sau
Trang 1610 kể từ ngày có ý tưởng hình - Những đặc điểm chính của TPP
Tiếp cận thị trường toàn diện: xóa bỏ hoặc giảm thuế quan vàcác rào cản phi thuế quan đối với thương mại hàng hóa, dichvụ
Cách tiếp cận các cam kết khu vực: hỗ trợ sự phát triển sảnxuất, chuỗi cung ứng và thương mại thông suốt, tăng cườnghiệu quả, tạo và hỗ trợ việc làm, nâng cao mức sống, tăngcường các nỗ lực bảo tồn, hỗ trợ hội nhập xuyên biên giới, mởcửa thị trường trong nước
Giải quyết các thách thức thương mại mới: thúc đẩy sự đổimới, nâng cao năng suất và tính cạnh tranh
Thương mại toàn diện: các nền kinh tế ở các mức độ pháttriển khác nhau và các doanh nghiệp có quy mô khác nhauđều có thể đạt được các lợi ích từ thương mại
Nền tảng hội nhập khu vực: hội nhập nền kinh tế khu vực và
cả những nền kinh tế khác trong khu vực Châu Á – Thái BìnhDương
- Giới thiệu về những nội dung quy định trong TPP.
Trang 17Dựa trên những mục đích xây dựng TPP, các bên tham gia đãtiến tới thỏa thuận và ký kết Hiệp định TPP gồm 30 chươngnhư sau: Quy định chung và các định nghĩa, Xử sự quốc gia
và thị trường lưu thông hàng hóa, Quy tắc xuất xứ và thủ tục
về xuất xứ, Dệt may, Quản lý hải quan và tạo thuận lợi trongthương mại, Biện pháp phòng vệ thương mại, Biện pháp vệsinh và kiểm dịch, Rào cản kỹ thuật, Đầu tư, Thương mại vàdịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ tài chính, Nhập cảnh tạmthời đối với doanh nhân, Viễn Thông, Thương mại điện tử,Mua sắm chính phủ, Chính sách cạnh tranh, Các doanhnghiệp nhà nước và các đơn vị độc quyền, Sở hữu trí tuệ, Laođộng, Môi trường, Hợp tác và nâng cao năng lực, Tạo thuậnlợi trong kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Phát triển,Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Sự đồng nhất trong quản lý, Sựminh bạch và chống tham nhũng, Các điều khoản về hànhchính và thể chế, Giải quyết tranh chấp, Trường hợp ngoại lệ,Điều khoản thi hành
Trong phạm vi của bài nghiên cứu, tác giả sẽ tập trung nghiêncứu các chương như sau: Đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Minh bạchhóa và chống tham nhũng
Chương 9 – Đầu tư
Trang 18Đối xử với nhà đầu tư
“Nhóm này bao gồm 03 nguyên tắc cơ bản, được ghi nhậnkhá phổ biến trong nhiều FTA thời gian gần đây, bao gồm:
Các nguyên tắc không phân biệt đối xử : (National Treatment
– NT và Most Favoured-Nation Treatment – MFN) Cácnguyên tắc NT và MFN đòi hỏi Nhà nước nơi nhận đầu tưphải đối xử với các nhà đầu tư tới từ các nước TPP ít nhất làbằng đối xử với nhà đầu tư nội địa của mình (gọi là “đối xửquốc gia” – NT) và không kém hơn đối xử với bất kỳ nướcnào khác (gọi là “đối xử tối huệ quốc” – MFN) Tuy nhiên,TPP cho phép các nước được đặt ra các thủ tục/quy định riêngcho nhà đầu tư nước ngoài, miễn là các thủ tục này không làmảnh hưởng đáng kể tới mức độ bảo hộ nhà đầu tư theo cácnguyên tắc TPP
Nguyên tắc liên quan tới “Các yêu cầu về hoạt động” (Performance Requirements): Nguyên tắc này cấm Nhà nước
nơi nhận đầu tư đặt ra các yêu cầu bắt buộc liên quan tới: Việcthành lập, mua lại, mở rộng, quản lý, hoạt động/vận hành củakhoản đầu tư (kiểu như phải xuất khẩu một tỷ lệ nhất định sảnphẩm sản xuất ra; phải đạt được một tỷ lệ nội địa hóa nhất
Trang 19định; phải mua, sử dụng sản phẩm cho một chủ thể nào đóđược chỉ định; phải đảm bảo tỷ lệ nhất định giữa kimngạch/giá trị xuất khẩu với khoản ngoại tệ được chuyển; phảichuyển giao công nghệ, quy trình hoặc kiến thức cụ thể nào
đó cho một chủ thể nội địa….) Mức giá hay trị giá bản quyềntheo hợp đồng li-xăng hay thời hạn bắt buộc đối với hợp đồngnày Nhà nước cũng bị cấm không được dùng các yêu cầu trênlàm điều kiện để xem xét cấp hay không cấp các ưu đãi dànhcho nhà đầu tư Tuy nhiên, các nước được đặt ra yêu cầu vềviệc sử dụng lao động nội địa trong các dự án đầu tư của cácnhà đầu tư TPP
Nhóm các nguyên tắc nhằm đảm bảo quyền tự chủ của nhà đầu tư: Nguyên tắc “chuẩn đối xử tối thiểu”; Nguyên tắc Bảo
vệ tài sản của nhà đầu tư trước các biện pháp tịch thu, cưỡngchế, quốc hữu hóa; Nguyên tắc Bảo đảm việc chuyển vốn tựdo; Nguyên tắc liên quan tới “Nhân sự quản lý cao cấp và Ban
Trang 20lệ trong các trường hợp được liệt kê (mua sắm công, trợ cấp
và hỗ trợ của Nhà nước, các ngoại lệ trong TRIPS củaWTO…)
Nhóm các ngoại lệ/bảo lưu riêng: Các Danh mục bảo lưu của
từng nước TPP, Các Bảo lưu riêng khác
Cơ chế giải quyết tranh chấp
Bên cạnh phần chung về các nguyên tắc đầu tư, Chương Đầu
tư của TPP còn có một phần riêng quy định về Cơ chế giảiquyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài(Investor-State Disputes Settlement – Cơ chế ISDS) Cơ chếnày cho phép Nhà đầu tư TPP được kiện Nhà nước nơi nhậnđầu tư ra Trọng tài quốc tế độc lập với Tòa án hay Cơ quangiải quyết tranh chấp của Nhà nước đó
Trang 21diện tham gia ý kiến bình luận và hạn chế tình trạng lạm dụngviệc đi kiện Cụ thể:
Cơ quan giải quyết tranh chấp theo Cơ chế ISDS của TPP là
Trọng tài ICSID (bao gồm cả cơ chế Trọng tài chính thức và
Cơ chế Trọng tài phụ trợ của ICSIS) nếu một trong hai Bênhoặc cả hai là thành viên Công ước ICSID về giải quyết tranhchấp đầu tư quốc tế năm 1965; Trọng tài theo nguyên tắc tốtụng UNCITRAL; hoặc bất kỳ thiết chế hoặc quy tắc trọng tàinào mà Nguyên đơn và Bị đơn thống nhất được với nhau
Thủ tục khởi kiện theo Cơ chế ISDS được quy định khá chi
tiết trong TPP Theo đó để khởi kiện, trước hết Nguyên đơn và
Bị đơn phải tìm giải pháp giải quyết tranh chấp thông quatham vấn, đàm phán trực tiệp hoặc thông qua các chủ thểtrung gian hòa giải trên cơ sở yêu cầu tham vấn chính thứcbằng văn bản của Nguyên đơn gửi Bị đơn Và chỉ khi sau 06tháng kể từ ngày Bị đơn nhận được yêu cầu tham vấn màtranh chấp không thể được giải quyết thì lúc này Nguyên đơnmới có thể khởi kiện theo ISDS
Thủ tục tố tụng theo Cơ chế ISDS được quy định trong
Chương Đầu tư của TPP và sẽ áp dụng bắt buộc cho tất cả các
Trang 22tranh chấp giải quyết theo Cơ chế được cho là đã bổ sung một
số điểm nhằm tăng cường tính minh bạch của quy trình, tínhkhách quan của trọng tài và hạn chế các khiếu kiện vô lý (chỉkhiếu kiện để “dọa”/gây sức ép đối với Nhà nước nơi nhậnđầu tư)”
Chương 18 – Sở hữu trí tuệ
“Các cam kết trong Chương này có thể được xếp vào 04nhóm chủ yếu, bao gồm:
Nhóm cam kết chung: Nhóm này bao gồm các cam kết về việc
gia nhập các Công ước về SHTT được liệt kê (Việt Nam đượchưởng lộ trình 2-3 năm tùy Công ước); về các nguyên tắcchung như đối xử quốc gia, minh bạch; và về các vấn đề khácnhư hợp tác giữa các nước TPP trong bảo vệ quyền SHTT
Nhóm các cam kết về các tiêu chuẩn bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ: TPP bao gồm các cam kết về tiêu chuẩn bảo hộ đối
với phần lớn các loại tài sản SHTT như nhãn hiệu thươngmại, sáng chế, quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp, bí mậtkinh doanh, chỉ dẫn địa lý Các tiêu chuẩn của TPP dựa trên
và trong nhiều trường hợp là cao hơn so với các tiêu chuẩntương ứng của Hiệp định về các khía cạnh thương mại của
Trang 23quyền SHTT của WTO (TRIPS).
Nhóm các cam kết về một số sản phẩm SHTT đặc thù: Bên
cạnh các tiêu chuẩn chung đối với các nhóm tài sản SHTT,TPP còn bao gồm các cam kết riêng về một số loại sản phẩmSHTT đặc thù như dược phẩm, nông hóa phẩm, giống câytrồng, các vấn đề SHTT thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin(tín hiệu vệ tinh, các công cụ bảo mật, trách nhiệm của cácnhà cung cấp dịch vụ mạng…)
Nhóm các cam kết liên quan tới việc thực thi các quyền SHTT: Nhóm này bao gồm các cam kết tăng cường mức độ
hiệu quả thực thi và bảo hộ các quyền SHTT và xử lý nghiêmkhắc hơn các vi phạm quyền SHTT
Bảo hộ nhãn hiệu thương mại
Các cam kết trong TPP về nhãn hiệu thương mại (tươngđương với nhãn hiệu, tên thương mại theo pháp luật ViệtNam) tập trung vào các khía cạnh sau đây:
Đối tượng được bảo hộ: Ngoài các đối tượng truyền thống mà
pháp luật Việt Nam đang bảo hộ (như chữ, ký hiệu, từ ngữ,
hình ảnh), TPP còn mở rộng ra cả âm thanh, và khuyến khích
Trang 24các nước bảo hộ cả mùi; đối với tất cả các đối tượng được bảo
hộ, không bắt buộc phải “nhìn thấy được” Về việc phải bảo
hộ nhãn hiệu thương mại dưới hình thức âm thanh, Việt Namchỉ phải thực hiện nghĩa vụ này sau 3 năm kể từ ngày TPP cóhiệu lực
Đối với trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng, TPP yêu cầu các
nước không được lấy tiêu chí số lượng các quốc gia đã bảo hộnhãn hiệu, đã công nhận nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đã nằmtrong danh mục nhãn hiệu nổi tiếng để quyết định bảo hộnhãn hiệu nổi tiếng Pháp luật Việt Nam hiện vẫn còn một sốtiêu chí dạng này, và vì vậy sẽ phải điều chỉnh cho phù hợp
Thời gian bảo hộ: TPP yêu cầu các nước Thành viên phải bảo
hộ nhãn hiệu thương mại tối thiểu là 10 năm, và có thể đượcgia hạn nhiều lần, tương tự như pháp luật Việt Nam hiệnhành;
Quyền của chủ sở hữu: Chủ thể này có đặc quyền ngăn cản
các chủ thể khác sử dụng các dấu hiệu (bao gồm cả chỉ dẫnđịa lý có sau) giống hệt hoặc tương tự cho các sản phẩmhàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc gần với loại hàng hóa, dịch
vụ đã đăng ký nhãn hiệu của mình nếu việc sử dụng này có
Trang 25thể gây ra nhầm lẫn (dấu hiệu trùng được suy đoán đươngnhiên là “có thể gây nhầm lẫn”) Tuy nhiên, TPP vẫn cho phépviệc sử dụng các thuật ngữ mô tả có trong nhãn hiệu nếu việc
sử dụng đó là ngay tình, và có tính đến lợi ích của chủ nhãnhiệu và các bên thứ ba;
Cải cách thủ tục hành chính: TPP yêu cầu các nước Thành
viên phải áp dụng các biện pháp cụ thể để đảm bảo thủ tụchành chính ngắn gọn, minh bạch trong đăng ký, gia hạn nhãnhiệu thương mại, đảm bảo cơ hội phản hồi của người nộp đơncũng như cơ hội phản đối của các bên thứ ba, đồng thờikhuyến khích các nước sử dụng hệ thống đăng ký nhãn hiệuthương mại điện tử để minh bạch hóa các quy trình này;
Đối với Tên miền cao cấp mã quốc gia (ccTLD), TPP yêu cầu
các nước thành viên phải thực hiện các biện pháp nhất địnhnhư quy định cơ chế giải quyết tranh chấp (theo nguyên tắccủa ICANN hoặc tương tự); phải có biện pháp xử lý các chủthể đăng ký hoặc nắm giữ tên miền tương tự hoặc gần giốngđến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu nhằm mục đích thulợi
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Trang 26TPP cho các nước được quyền lựa chọn cơ chế bảo hộ đối vớichỉ dẫn địa lý, hoặc là theo cơ chế riêng chỉ áp dụng cho chỉdẫn địa lý, hoặc là theo cơ chế chung với nhãn hiệu thươngmại.
Điều này có nghĩa là các nước như Việt Nam sẽ vẫn được tiếptục sử dụng hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý của mình trong khicác nước như Hoa Kỳ sẽ vẫn duy trì bảo hộ chỉ dẫn địa lý nhưmột dạng của nhãn hiệu thương mại Đây được xem là giảipháp hợp lý với Việt Nam bởi Việt Nam đang và sẽ đồng thời
có cam kết về chỉ dẫn địa lý với các đối tác sử dụng các cơchế khác nhau
Quyền bảo hộ theo chỉ dẫn địa lý và quyền theo nhãn hiệu
Do TPP chấp thuận việc bảo hộ các chỉ dẫn địa lý cả theohình thức dành riêng cho chỉ dẫn địa lý và theo hình thứcchung với nhãn hiệu, TPP có một số quy định để xác định mốiquan hệ giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu trong trường hợp cóchồng lấn
Đây thực tế cũng là vấn đề gây tranh cãi trong quá trình đàm
phán TPP, bởi chỉ dẫn địa lý có thể được xem là thuộc sở hữu
đặc biệt (không hạn chế chủ thể sử dụng, miễn là có sản phẩm
Trang 27đáp ứng yêu cầu liên quan của chỉ dẫn địa lý) trong khi nhãn
hiệu lại thuộc sở hữu riêng của một chủ thể (và chủ thể này có
độc quyền ngăn cản bất kỳ chủ thể nào khác sử dụng nhãnhiệu của mình) Đàm phán diễn ra chủ yếu quanh việc bảo vệchủ nhãn hiệu hay người sử dụng chỉ dẫn địa lý trong trườnghợp có chồng lấn (chỉ dẫn địa lý tương tự nhãn hiệu)
Về vấn đề này, TPP đã đi đến cam kết như sau: Trong trườnghợp có nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với một chỉ dẫn địa lý
mà nhãn hiệu lại được bảo hộ trước (đã đăng ký trước hoặc đãtrở nên nổi tiếng trước), mặc dù chỉ dẫn địa lý vẫn được bảo
hộ nhưng quyền của chủ nhãn hiệu sẽ được ưu tiên hơn, theohướng:
Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền ngăn cấm việc sử dụng chỉdẫn địa lý đó nếu việc sử dụng này có khả năng gây ra nhầmlẫn về nguồn gốc thương mại của hàng hóa; Tuy nhiên, chỉdẫn địa lý chỉ có ý nghĩa mô tả xuất xứ của hàng hóa thì đượcxem là ngoại lệ, vẫn được phép sử dụng song song cùng nhãnhiệu đó;
Không bảo hộ chỉ dẫn địa lý nếu có khả năng gây nhầm lẫnvới nhãn hiệu về nguồn gốc thương mại của hàng hóa (trừ khi
Trang 28việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó thuộc trường hợp ngoại lệ đốivới quyền của nhãn hiệu).
Quy định gì mới về các tiêu chí, đối tượng bảo hộ sáng chế
Các cam kết về tiêu chí và đối tượng bảo hộ sáng chế trongTPP có các điểm mới đáng chú ý sau:
nhiên, TPP buộc các nước phải bảo hộ cho sáng tạo đã công
bố công khai (tức là không còn tính mới) nếu việc công bố đó
là do chính chủ thể nộp đơn xin bảo hộ thực hiện hoặc nếu là
do người khác thì người đó đã lấy thông tin công bố từ chínhchủ thể nộp đơn, và nếu việc công bố đó thực hiện trong vòng
12 tháng liền trước thời điểm nộp đơn đăng ký (gọi là “Giaiđoạn ân hạn” cho tính “mới” của sáng chế)
Về phạm vi các đối tượng có thể được bảo hộ:
Trong khi nhắc lại các trường hợp loại trừ không được phép