CƠ sở lý LUẬN CHUNG và KHÁI QUÁT về văn hóa TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM CƠ sở lý LUẬN CHUNG và KHÁI QUÁT về văn hóa TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM CƠ sở lý LUẬN CHUNG và KHÁI QUÁT về văn hóa TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM CƠ sở lý LUẬN CHUNG và KHÁI QUÁT về văn hóa TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Trang 2Cơ sở lý luận
Một số khái niệm cơ bản
Làng- xã
Theo “Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam” làng là tiếng cổ
của Việt Nam dùng để chỉ đơn vị tụ cư của người Việt có từlâu đời Xã là từ Hán – Việt dùng để chỉ đơn vị hành chínhthấp nhất ở nông thôn Việt Nam [44, tr 368 – 706]
Theo Phan Đại Doãn, “làng- xã thường được dùng như mộtkhái niệm chung nhưng thực ra làng và xã có nội hàm khôngđồng nhất Làng là cộng đồng tự nhiên được tập hợp theoquan hệ huyết thống, quan hệ địa vực, quan hệ nghề nghiệp…còn xã là cộng đồng dân cư theo tổ chức hành chính Làngxuất hiện từ lâu trong lịch sử, còn xã chỉ xuất hiện khi nhànước trung ương muốn và có đủ khả năng vươn tới quản lýcác đơn vị dân cư cấp cơ sở.” [11, tr 23]
Dù chưa có một khái niệm nhất quán về khái niệm làng – xã,song có thể thấy “làng xã” vốn không phải từ đồng nhất.Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Làng là một từ thuần việt,xuất hiện từ lâu trong lịch sử, dùng để chỉ điểm tụ cư truyền
Trang 3thống của người nông dân Việt Làng có cội nguồn từ chínhđời sống Việt và được biểu đạt trong ngôn ngữ thuần Việt,gần gũi và gắn bó với mỗi người dân quê Những thành viêntrong làng được phân định vai trò thông qua vị trí là dân chính
cư hay ngụ cư, gắn kết về mặt huyết thống nhiều hay ít vớicác dân cư khác trong làng Cộng đồng làng có lối sống riêng
và thường có đặc trưng riêng về tâm lý, đạo đức, truyền thống
so với các cộng đồng khác Làng có địa vực riêng, có cơ sở hạtầng cùng cơ cấu tổ chức riêng, phong tục tập quán riêng…Làng Việt bao gồm hệ thống các thành tố liên kết với nhau tạothành kết cấu vững chắc trước những biến động của tự nhiên
và xã hội Làng chặt chẽ và là một đơn vị hoàn chỉnh Kháiniệm làng của người Việt bao gồm các phương diện sau:cương vực địa lý nhất định; có lịch sử hình thành và pháttriển; những quan hệ xã hội chi phối dân cư trong làng; nhữngđặc trưng văn hóa đặc thù của làng…
Xã là từ Hán – Việt, về phương diện hành chính, xã là thiếtchế có tính chất pháp lý chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhànước phong kiến ở vùng nông thôn Làng vốn là đơn vị cư trú,đơn vị kinh tế, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng của dân cưbản xã, xuất hiện từ thời Hùng Vương, còn xã thì chỉ mới xuất
Trang 4hiện từ thời thuộc Đường và được khẳng định, củng cố mộtcách vững bền với tư cách là một đơn vị hành chính cấp cơ sởtrong hệ thống chính quyền của nhà nước quân chủ độc lập,biến làng Việt truyền thống trở thành đơn vị quản lý xã hội.
Như vậy, làng xã là một tổ chức quần cư tự nhiên của ngườidân Việt, là nơi những người dân Việt sống đoàn kết với nhauchống thiên tai, địch họa để lao động, sản xuất và tổ chức đờisống văn hóa vật chất, tinh thần Văn hóa làng xã bao quátgần như toàn bộ những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc Ở
đó, các thành tố, các giá trị văn hóa được hình thành, lưu giữ
và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngoài ra, làng
xã không chỉ là cái nôi nuôi nấng văn hóa Việt mà còn làthành trì vững chắc chống lại các cuộc xâm lăng và đồng hóavăn hóa
Văn hóa truyền thống
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về văn hóa truyền thống, tuynhiên cũng có những điểm rất thống nhất trong các định nghĩa
về văn hóa Đó là: những gì được lưu truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác, có thể là tính cách, đạo đức, phong tục, tậpquán, lối sống, thói quen… chính là văn hóa truyền thống
Trang 5Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Văn hoá truyềnthống được hiểu như là văn hoá gắn với xã hội tiền côngnghiệp, phân biệt với văn hoá, giá trị văn hoá thời đại côngnghiệp hoá.” [54, tr 12]
George Mclean cho rằng: "Truyền thống là sự phát triển củacác giá trị, đức hạnh và sự hội nhập của chúng nhằm tạo ramột nền văn hóa đặc sắc và phong phú trong lịch sử và vì thếphụ thuộc vào kinh nghiệm và sức sáng tạo của nhiều thế hệ.Nền văn hóa được truyền lại được gọi là văn hóa truyềnthống".[17, tr 15]
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa truyềnthống Điều đó tùy thuộc vào cách tiếp cận của mỗi nhànghiên cứu Tuy nhiên, học viên nhận thấy khái niệm của nhànghiên cứu Nguyễn Trọng Chuẩn là phù hợp với vấn đề củaluận văn Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: "Theo nghĩa tổngquát nhất, văn hóa truyền thống - đó là những yếu tố của ditồn văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tưtưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng
xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và
đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác vàđược lưu giữ lâu dài"[8, tr 13]
Trang 6Vậy, ở xã hội người Việt, sự chuyển biến từ loại hình văn hoátruyền thống sang loại hình văn hoá hiện đại được tính mốc từđâu? Điều này liên quan đến việc phân kì văn hoá.
Các nhà nghiên cứu văn hóa cũng có những cách phân kì vănhóa khác nhau, tuy nhiên học viên nhận thấy cách phân kì vănhóa của tác giả Nguyễn Xuân Kính là phù hợp với vấn đềnghiên cứu của học viên:
Nguyễn Xuân Kính quan niệm văn hoá Việt Nam có các thời
kì sau:
+ Thời kì hình thành những nền tảng (tiền sử và sơ sử)
+ Thời kì chuyển tiếp (thiên niên kỉ đầu Công nguyên)
+ Thời kì văn hoá truyền thống (từ thế kỉ X đến cuối thế kỉXIX)
+ Thời kì chuyển tiếp (từ cuối thế kỉ XIX đến nay)
Như vậy, văn hóa truyền thống Việt Nam được tính từ thế kỉ
X đến cuối thế kỉ XIX Luận văn sẽ nghiên cứu văn hóatruyền thống của xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh PhúThọ trong giai đoạn thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX Chứngminh sự biến đổi mạnh mẽ của nó từ năm 1997 đến nay Tức
Trang 7là từ khi Khu công nghiệp Thụy Vân được thành lập và đưavào hoạt động.
Biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa (Cultural change) là chủ đề nghiên cứu rộngcủa nhiều ngành khoa học: văn hóa học, xã hội học, nhân học.Theo từ điển Nhân học, biến đổi văn hóa là quá trình vậnđộng của tất cả các xã hội Có rất nhiều nhà nghiên cứu vềbiến đổi văn hóa và đều có điểm chung giống nhau khi chorằng không có nền văn hóa nào đứng yên một chỗ, cũng nhưkhông có một nền văn hóa nào không có sự thay đổi gì so vớithời kì khai nguyên của nó
Biến đổi văn hóa diễn ra theo nhiều chiều và nhiều cấp độkhác nhau Tuy nhiên đã có sự tương đối thống nhất về địnhnghĩa trong cuốn Từ điển các khái niệm nhân học văn hóa,Robert H.Winthdrop đã nêu rõ: “Biến đổi văn hóa bao hàmnhững sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài củanhững mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnhlịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộnlẫn những sự tiếp nối và biến đổi”
Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Châm: “Biến đổi văn hóa
Trang 8được hiểu là quá trình vận động của các xã hội Để nghiêncứu các chiều cạnh của biến đổi văn hóa, các nhà nhân học, xãhội học, văn hóa học…thường gắn nó với phát triển, với toàncầu hóa, hiện đại hóa, công nghiệp hóa… Ở mức độ cụ thểhơn, sự biến đổi căn hóa được tìm hiểu trong quá trình hiệnđại hóa gắn với sự phát triển kinh tế toàn cầu, đặc biệt ởnhững xã hội đang chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sangkinh tế công nghiệp, từ xã hội truyền thống sang xã hội hiệnđại” [7, 13]
Những nghiên cứu của các tác giả trên đều dễ dàng nhận thấymột điểm chung về biến đổi văn hóa, rằng biến đổi văn hóa làmột hiện tượng phổ biến, là một bước tiến bộ trong sự pháttriển của dân tộc và nhân loại; biến đổi căn hóa là do quá trìnhthay đổi phương thức sản xuất, kĩ thuật sản xuất, dẫn đến thayđổi nếp nghĩ, nếp sống, đời sống tinh thần phù hợp với nhữngbiến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn lịch
sử nhất định của mỗi dân tộc
Như vậy, ở bất kì xã hội nào, trong bất kì giai đoạn lịch sửnhất định nào đều có những biến đổi, cũng trộn lẫn sự tiếp nối
và biến đổi Những tiếp nối và biến đổi văn hóa bao hàm cảbiến đổi về số lượng, chất lượng, trạng thái; biến đổi giữa cái
Trang 9cũ và cái mới; từ cái chưa hoàn thiện đến cái hoàn thiện hơn.
Sự biến đổi văn hóa truyền thống của xã Thụy Vân, thành phốViệt Trì, tỉnh Phú Thọ cũng không nằm ngoài quy luật ấy
Các thành tố văn hóa truyền thống
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều ý kiến khácnhau về cách phân chia các thành tố văn hóa Theo “luật di sảnvăn hóa” của UNESCO, di sản văn hóa được chia làm haithành tố: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Trong đó:
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danhlam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết
và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và cáchình thức lưu giữ, lưu truyền khác Bao gồm tiếng nói, chữviết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyềnmiệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bíquyết về nghề thủ công, truyền thong tri thức về y, dược học
cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dântộc và những trí thức dân gian khác
Trang 10Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, văn hóa được chialàm 4 thành tố cơ bản, đó là: văn hóa nhận thức, văn hóa vậtchất, văn hóa tinh thần, văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng.[55, tr 19]
Tuy nhiên, dù phân chia theo cách nào thì văn hóa truyềnthống cũng bao gồm các thành tố cụ thể sau:
Văn nghệ dân gian
Văn nghệ dân gian bao gồm 2 thành tố cơ bản là văn học dângian và nghệ thuật dân gian Trong đó:
Văn học dân gian là các loại hình văn học do người dân sángtạo và lưu truyền trong dân gian bằng truyền miệng lâu đời.Văn học dân gian bao gồm các thể loại: ca dao, vè, truyệncười, tục ngữ, phương ngữ, thành ngữ, truyền thuyết, cổ tích,thần thoại, giai thoại và một số loại hình văn học dân giankhác
Nghệ thuật dân gian là sáng tác nghệ thuật của các tầng lớpdân chúng, sản phẩm của quá trình sáng tạo tập thể nhằm mụcđích phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời
sống cộng đồng Nghệ thuật dân gian bao gồm: kiến trúc,
Trang 11điêu khắc, hội họa, âm nhạc, dân ca, dân vũ, sân khấu dângian, trò diễn
Tri thức dân gian
Tri thức dân gian là tổng thể sự hiểu biết của người dân địaphương về tự nhiên, xã hội và bản thân mang tính trao truyềnqua truyền khẩu, sự hiểu biết này biến đổi theo quá trình pháttriển của tự nhiên và xã hội
Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên(địa lý, thời tiết, khí hậu ) và vận dụng nó vào canh tác nôngnghiệp; tri thức về kinh nghiệm chữa bệnh và bảo vệ sứckhỏe; Tri thức về những kinh nghiệm,sáng tạo những kỹ thuật
và công cụ lao động sản xuất
Kiến trúc truyền thống
Kiến trúc truyền thống được hình thành và phát triển trên cơ
sở đặc trưng địa hình, khí hậu của mỗi vùng miền và các đặc điểm công nghệ, vật liệu xây dựng Kiến trúc mỗi vùng miền đều có nét đặc trưng riêng nhưng nhìn chung vẫn luôn thể hiện được cái hồn của văn hóa dân tộc trong từng kiến trúc
cụ thể.
Trang 12Kiến trúc truyền thống bao gồm: kiến trúc nhà ở; kiến trúc đình, chùa, miếu; kiến trúc cảnh quan….
Phong tục tập quán
Phong tục tập quán là một bộ phận của văn hoá, có vai tròquan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dântộc, địa phương, nó ảnh hưởng, thậm chí chế định nhiều ứng
xử của cá nhân trong cộng đồng Phong tục được tuân thủtheo quy định của luật tục hay hương ước Người vi phạm cóthể bị phạt vạ Cùng với sự phát triển của xã hội, một sốphong tục không còn phù hợp với thời đại mới, bị đào thải,trong khi một số phong tục mới được hình thành
Phong tục tập quán bao gồm cả hội hè, lễ tết, trang phục, ănuống, cưới xin, ma chay, hôn nhân…
Lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩmtinh thần của người dân được hình thành và phát triển trongquá trình lịch sử Lễ hội là sự kiện thể hiện sự tưởng nhớ, lòngbiết ơn của cộng đồng đối với những vị Thần - những người
có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các
Trang 13vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người.
Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những ngườikhai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những ngườichống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnhcứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộcsống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộcsống hạnh phúc
Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo nhữngnguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định Tín ngưỡng phảnánh những ước nguyện tâm linh của con người và cả cộngđộng, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắnliền với phong tục tập quán, truyền thống
Tín ngưỡng là một hình thái biểu thị đức tin, niềm tin của conngười và của cộng đồng người ở một trình độ phát triển xã hội
và nhận thức nhất định vào một thái thiêng liêng, cái cao cả,cái đáng sùng kính trong thế giới người hoặc thế giới siêunhiên nào đó
Quan hệ ứng xử
Trang 14Ứng xử là cách thể hiện ra bên ngoài của những thái độ – yêu,thích, ghét, trọng, khinh,… và người ta có thể học hỏi, chia sẻnhững điều này với nhau.
Quan hệ ứng xử là là hệ thống thái độ và hành vi, cách đốinhân xử thế thích hợp giữa các mối quan hệ trong cộng đồngtrên các mặt đạo lý, tình cảm, nhận thức, tri thức, tâm lý ứng
xử, yếu tố ý thức ít hay nhiều, sâu hay rộng, tích cực hay tiêucực của các cá nhân tham gia trong quá trình tiếp xúc…Việc ứng xử có văn hóa không chỉ tạo nên nét đẹp cho từng cánhân, mà còn phản ánh bản sắc văn hóa của một cộng đồng
Văn hóa truyền thống là một khái niệm rộng bao gồm nhiềuthành tố khác nhau cần phải phân tích Tuy nhiên, không phảigiá trị văn hóa truyền thống nào ở Thụy Vân cũng biến đổi màcùng với đó vẫn còn những giá trị văn hóa được nhân dân lưugiữ và bảo tồn cho đến ngày nay Vì vậy, trong phạm vi luậnvăn, học viên sẽ chỉ tập trung phân tích một số thành tố củavăn hóa truyền thống ở xã Thụy Vân đó là: kiến trúc truyềnthống; một số phong tục tập quán; lễ hội truyền thống; quan
hệ ứng xử Đây là những thành tố văn hóa mà học viên chorằng đang có những biến đổi nhanh, rõ nét nhất dưới tác độngcủa quá trình CNH ở xã Thụy Vân
Trang 15Lý thuyết về biến đổi văn hóa
Từ giữa thế kỷ XIX các nhà văn hóa học bắt đầu có nhữngquan sát, thu thập các dữ liệu về văn hóa và các nền văn hóakhác nhau nhằm giải thích cho sự khác biệt, tương đồng vàbiến đổi của các nền văn hóa Những nhà khoa học ủng hộ
thuyết tiến hóa văn hóa như Lewis Henry Morgan (1877) và
Edward B.Tylor (1871) được coi là những người đầu tiên đềcập đến vấn đề biến đổi văn hóa Theo thuyết tiến hóa văn hóa,mọi xã hội loài người đều biến đổi theo một mô hình vớihướng biến đổi từ thấp đến cao (từ xã hội nguyên thủy đến xãhội văn minh) Thuyết này đã tạo tiền đề quan trọng cho việc
ra đời và phát triển của các học thuyết khác nghiên cứu về biếnđổi văn hóa cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX như thuyết truyền
bá văn hóa, thuyết vùng văn hóa, thuyết tiếp biến văn hóa,thuyết chức năng
Trong mỗi thời kỳ các quan điểm lý thuyết này đều có ý nghĩanhất định trong việc nhìn nhận về biến đổi văn hóa Vàonhững thập kỷ đầu của thế kỷ XX, thuyết truyền bá văn hóa
có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà nhân học Bắc Mỹ khinhìn nhận về biến đổi văn hóa Những người theo thuyếttruyền bá văn hóa cho rằng, trọng yếu của biến đổi văn hóa
Trang 16chính là sự truyền bá hay vay mượn những đặc trưng văn hóacủa xã hội này sang xã hội khác.
Ngoài việc quan tâm đến thuyết truyền bá văn hóa, các nhànghiên cứu Mỹ còn quan tâm đến thuyết tiếp biến văn hóa.Theo thuyết này, quá trình biến đổi văn hóa diễn ra khi có sựtiếp xúc giữa hai nền văn hóa độc lập nhau, sự tiếp xúc đó sẽlàm tăng những đặc tính của nền văn hóa này với nền văn hóakia Sự biến đổi văn hóa diễn ra theo hình thức này đượcnhững người theo thuyết tiếp biến văn hóa đề cập đến khi có
sự tiếp xúc lâu dài giữa xã hội phương Tây và phi phươngTây
Một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hưởngtrong những năm 1920 đến 1950 ở Anh là thuyết chức năng.Những người có đóng góp xây dựng thuyết chức năng làBronislaw Malinowski và Radcliffe Brown Quan điểm củaRadcliffe Brown về thuyết chức năng có ảnh hưởng lớn từnhững quan điểm của Durkheim - nhà xã hội học người Pháp.Theo thuyết chức năng thì mọi nền văn hóa đều có sự hòanhập tương đối tốt và ổn định, do đó văn hóa sẽ ít có nhữngthay đổi và nếu có thì chủ yếu là do những tác động từ bênngoài Quan điểm này cho thấy, những người theo thuyết
Trang 17chức năng chủ yếu quan tâm đến các mối quan hệ qua lại giữacác chức năng của hệ thống xã hội và văn hóa chứ chưa chú ýnhiều đến sự thay đổi của xã hội và văn hóa.
Trong những năm gần đây, quá trình toàn cầu hóa đã tác độngđến mọi mặt của đời sống xã hội, vì vậy, nghiên cứu về sựbiến đổi văn hóa cũng được đặt trong bối cảnh của toàn cầuhóa, sự hội nhập kinh tế, xã hội, công nghiệp hóa và đô thịhóa Dù vẫn còn những quan điểm khác nhau khi nghiên cứu
về biến đổi văn hóa, song các nhà nghiên cứu khoa học xã hộiđều tương đối thống nhất với luận điểm cho rằng biến đổi vănhóa là một xu hướng tất yếu của quá trình toàn cầu hóa và nóđang diễn ra khá đa dạng với nhiều cấp độ và chiều hướngkhác nhau Điều này có thể nhận thấy rõ nhất trong những xãhội đang có sự chuyển đổi kinh tế từ nông nghiệp sang côngnghiệp và chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiệnđại Qua đây có thể thấy, những quan điểm nghiên cứu vềbiến đổi văn hóa chịu sự tác động của bối cảnh phát triển xãhội
Như vậy, biến đổi văn hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu ởnhững thế hệ khác nhau nghiên cứu trong sự gắn kết với quátrình chuyển đổi xã hội, công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn
Trang 18cầu hóa Nó trở thành một trong những trọng tâm nghiên cứucủa các nhà văn hóa học Cũng chính vì vậy mà có khá nhiều
quan điểm về biến đổi văn hóa, song trong “Biến đổi văn hóa
và hiện đại hóa” Spindler đã đưa ra một quan điểm tương đối
thống nhất đó là: “Biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia
sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài của những mô hìnhứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hộinào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sựtiếp nối và biến đổi”
Khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa còn phải nhắc đến DennisO’Neil Trong công trình nghiên cứu về quá trình biến đổi vănhóa, Dennis O’Neil cho rằng, tất cả các nền văn hóa đều phảiđổi thay, đồng thời cũng xuất hiện xu hướng chống lại sự thayđổi Theo tác giả có ba nguồn gốc dẫn tới thay đổi hoặc chốnglại sự thay đổi bao gồm: áp lực về công việc; sự liên hệ giữacác xã hội; sự thay đổi của môi trường tự nhiên
Lý thuyết quá trình thay đổi văn hóa được Dennis O’Neil tómtắt như sau:
Trong xã hội Giữa các xã hội
Trang 19Truyền báTiếp biếnLiên văn hóa
Năng động củanhóm bên trong vàbên ngoài
Nguồn:[61, tr.36]
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống lý thuyết về biến đổi văn hóa,luận văn vận dụng lý thuyết quá trình thay đổi văn hóa củaDennis O’Neil để phân tích sự biến đổi văn hóa trong quátrình CNH hiện nay Bên cạnh đó, lý thuyết tiếp biến văn hóacũng được vận dụng trong quá trình phân tích, đánh giá.Thuyết tiếp biến văn hóa cho rằng, biến đổi văn hóa xảy ra
Trang 20khi có sự tiếp xúc của hai nền văn hóa độc lập nhau và sự tiếpxúc sẽ làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trước nền vănhóa kia Ở đây, biến đổi văn hóa ở xã Thụy Vân diễn ra khi có
sự tiếp xúc của văn hóa nông nghiệp với văn hóa công nghiệp
Sự tiếp xúc này sẽ dẫn đến những thay đổi và thích nghi vớinhững giá trị văn hóa công nghiệp của dân cư xã Thụy Vân
Khái quát về văn hóa truyền thống củ
Khái quát chung
Xã Thụy Vân nằm ở phía Tây Nam thành phố Việt Trì, cáchtrung tâm thành phố Việt Trì 5km, phía Đông giáp phườngMinh Nông và xã Tân Đức, phía Tây giáp xã Thanh Đình,phía Bắc giáp phường Minh Phương và Vân Phú, phía Namgiáp xã Cao Xá ( Huyện Lâm Thao)
Xã Thụy Vân có diện tích đất tự nhiên rộng 9,86 km2 với
14.200 nhân khẩu Đất đai của Thụy Vân phía Tây Bắc chủ
yếu là đất đồi màu, hiện nay phần lớn diện tích vùng nàythuộc KCN Thụy Vân và đất ở dân cư Phía Nam –Đông Nam địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho sảnxuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, với phầndiện tích là đất ruộng Xã có một số cánh đồng như Nỗ Lực;
Trang 21Xóm Nội; Xóm Ngoại; Cẩm Đội; Phú Thịnh là đất canh táchạng 1, sản xuất được 3 vụ/năm Thụy Vân hiện được phân bốthành 7 khu dân cư, số người trong độ tuổi lao động hiệnchiếm trên 40% dân số toàn xã Một số lao động của ThụyVân được đào tạo chủ yếu làm việc trong các KCN và một sốdoanh nghiệp tư nhân.
Trong phát triển kinh tế, những năm qua, Đảng ủy, HĐND,UBND xã Thụy Vân đã chủ động khắc phục khó khăn, đẩymạnh sản xuất nông nghiệp, kịp thời chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Hiện nay, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệpchiếm 60%; nông nghiệp chiếm 30%, chăn nuôi chiếm 10%
tỷ trọng các ngành
Thụy Vân có thế mạnh trong phát triển các ngành nghề dịch
vụ Đây là địa phương có KCN lớn nhất tỉnh Phú Thọ, là điềukiện cho sản xuất các ngành như cơ khí, gò hàn, nhôm kính,sản xuất vật liệu xây dựng… Nhiều hộ gia đình đã mở cácdịch vụ nhà trọ, ăn uống, kinh doanh xây dựng… đã gópphần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trên địabàn Thế mạnh của Thụy Vân là ngành nghề xây dựng, hiệntrên địa bàn có hàng chục công ty được cấp phép kinh doanh,người lao động làm trong lĩnh vực này có thu nhập khoảng
Trang 22Nhờ sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ xã, đời sống vật chất vàtinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, bộ mặtkinh tế - xã hội của Thụy Vân đang ngày càng khởi sắc Xãcũng đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến công;Huân chương Lao động Hạng Nhì, Hạng Ba; UBND tỉnh tặng
Kỷ niệm chương cùng nhiều Bằng khen, giấy khen của Tỉnh
và Thành phố
Lịch sử hình thành xã
Trang 23Theo các kết quả khảo cổ học, tỉnh Phú Thọ là nơi tập trungdày đặc những di chỉ khảo cổ Trong đó, xã Thụy Vân có 3 dichỉ khảo cổ học đã được khai quật là: Di chỉ Đồng Sấu, di chỉ
Gò Tro dưới và di chỉ Gò Tro trên Đây là những địa điểm tụ
cư lâu đời của người Việt cổ từ vài trăm năm đến vài nghìnnăm Tầng văn hóa có khi mỏng và thưa thớt, có khi dày tới3-4m chứa đựng các giai đoạn phát triển xuyên suốt thời đạiHùng Vương Như vậy, xã Thụy Vân nằm trong vùng ViệtTrì- Phong Châu, kinh đô của nước Văn Lang từ thế kỉ VIIđến thế kỉ III TCN
Dưới các triều đại Hùng Vương, các vua Hùng đã chọn làngCẩm Đội là nơi đóng quân và huấn luyện binh sĩ để có sứcmạnh giữ gìn non sông Khu “Rừng Cấm” của Thụy Vân lànơi gần chỗ luyện binh đao, tuyệt đối cấm người dân qua lại.Còn quả đồi “Nhà Săn” dành riêng cho các Vua Hùng đi sănbắn Đây đều là những địa danh xung quanh núi Nghĩa Lĩnh,nơi cội nguồn của dân tộc
Đến thời Trần, xã Thụy Vân thuộc lộ Tam Đái Thời thuộcMinh, xã Thụy Vân thuộc châu Tam Đái, lộ Đông Đô Thời
Lê, Thụy Vân thuộc Vân Đội xá, tổng Cao Xá, huyện Sơn Vi,phủ Lâm Thao, trấn Sơn Tây Đến thời Nguyễn, Thụy Vân
Trang 24thuộc huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây
Năm 1903, Thụy vân thuộc huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ.Năm 1927, huyện Hạc Trì có 4 tổng, 32 làng, trong đó làngBầu Nọ (Nỗ Lực nay) thuộc tổng Minh Nông; Thụy Vân vàCẩm Đội thuộc tổng Cao Xá
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, các làng Nỗ Lực, ThụyVân, Cẩm Đội đều đổi thành các xã thuộc huyện Hạc Trì, tỉnhPhú Thọ Đến cuối tháng hai năm 1947, ba xã nhỏ hợp lạithành một xã lớn lấy tên là xã Thống Nhất, huyện Hạc Trì,tỉnh Phú Thọ Ngày 1/9/1962, chính phủ có quyết định giảithể huyện Hạc Trì, xã Thống Nhất được nhập vào huyện LâmThao Tháng 8/1964 xã Thống Nhất được đổi tên thành xãThụy Vân
Đến năm 1968, hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thànhtỉnh Vĩnh Phú, xã Thụy Vân thuộc huyện Lâm Thao, tỉnhVĩnh Phú Ngày 5/7/1977 xã Thụy Vân được chính phủ quyếtđịnh phân về thành phố Việt Trì
Từ năm 1977 đến 1996 xã Thụy Vân thuộc thành phố Việt Trì,tỉnh Vĩnh Phú Từ ngày 1/1/1997 đến nay, xã Thụy Vân thuộcthành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Trang 25Khu công nghiệp Thụy Vân
KCN Thụy Vân là KCN đầu tiên của tỉnh, được thành lập từnăm 1997 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000 KCNThụy Vân có quy hoạch nằm ở trên địa bàn xã Thụy Vân,thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Đến nay KCN Thụy Vân cótổng diện tích là 356 ha, có tổng số 57 doanh nghiệp, nhà máyđang hoạt động, thu hút trên 20 nghìn lao động; có 32 doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động sản xuấtkinh doanh trong tổng 96 dự án với tổng số vốn đầu tư đến
320 triệu USD So với các cụm, các KCN khác trong tỉnh thìKCN Thụy Vân hiện vẫn là KCN lớn nhất, thu hút được nhiều
dự án đầu tư nhất, đóng góp nhiều nhất vào ngân sách Nhànước, thu hút và giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn laođộng
Theo định hướng thu hút đầu tư trong quy hoạch từng KCN,KCN Thụy Vân các lĩnh vực được ưu tiên đầu tư bao gồmcông nghiệp cơ khí, điện - điện tử, sản xuất VLXD cao cấp,may mặc, da giày XK, chế biến nông lâm sản, thực phẩm vàsản xuất các mặt hàng tiêu dùng khác,…
Kết quả sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp KCN Thụy
Trang 26Vân năm 2015 nhìn chung có những bước phát triển, đónggóp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung của tỉnh PhúThọ, cụ thể như sau:
Bình quân 5 năm qua, các chỉ số kinh tế chủ yếu của KCNThụy Vân có mức tăng trưởng trên 35% so với năm trước liền
kề Đóng góp về giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuấtnhập khẩu và thu ngân sách chiếm tỷ lệ ngày càng cao so vớitoàn tỉnh
Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp năm 2015 đạt 267triệu USD, đạt 102% so với kế hoạch năm, bằng 117% socùng kỳ năm ngoái; giá trị nhập khẩu đạt 166 triệu USD, đạt71% kế hoạch năm, bằng 76% so cùng kỳ năm ngoái
Tính đến nay, tổng số lao động Việt Nam đang làm việc trongcác doanh nghiệp KCN Thụy Vân là 23.480 người, trong đó:
số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong nước 3.997người; số lao động làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài19.483 người
Việc xây dựng và phát triển KCN Thụy Vân đã góp phần khaithác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tại chỗ Sảnphẩm chủ yếu của KCN là xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi