1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu chi phí điều trị viêm ruột thừa cấp tại bệnh viện đa khoa tỉnh sơn la

172 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trongkinh tế y tế, việc đo lường, tính toán và phân tích chi phí là bước bắt buộcgiúp các nhà quản lý định giá dịch vụ y tế một cách hợp lý, phù hợp với chấtlượng dịch vụ và kh

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa công bố trong bất kỳ một côngtrình nào khác./.

Tác giả luận án

Nguyễn Đức Toàn

Trang 3

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chânthành nhất tới Ban Giám đốc, Phòng Sau đại học, Khoa Chỉ huy tham mưuquân y (K10) và các Bộ môn/khoa, phòng chức năng của Học viện Quân y đãquan tâm, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất chotôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản Luận án tiến sĩ.

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.Ts Phạm LêTuấn; PGS Ts Quách Thị Cần, hai người Thầy đã hướng dẫn và giúp đỡ tôitrong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Sở Y tế, BanGiám đốc, các khoa, phòng cùng toàn thể cán bộ, nhân viên của Bệnh viện đakhoa tỉnh Sơn La và nhóm bệnh nhân/người nhà bệnh nhân trong mẫu nghiêncứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quả trình học tập vànghiên cứu tại thực địa

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phòng Quản lý phương thức chi trảcủa Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Y tế) đã hỗ trợ tôi về mặt kỹ thuật trong việctính toán và phân bổ các cấu phần chi phí nghiên cứu trong Luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã luônbên cạnh động viên, hỗ trợ và giúp đỡ tôi, là động lực và truyền nhiệt huyết

để tôi hoàn thành Luận án này./

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Đức Toàn

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN………

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Chi phí y tế và một số khái niệm liên quan 3

1.1.1 Khái niệm chi phí y tế 3

1.1.2 Mối liên quan giữa chi phí y tế và giá dịch vụ y tế 4

1.1.3 Phân loại chi phí y tế 5

1.2 Tính toán chi phí 7

1.2.1 Nguyên tắc tính toán chi phí y tế 7

1.2.2 Phương pháp tiếp cận trong tính toán chi phí y tế 8

1.2.3 Các kỹ thuật tính toán chi phí y tế 9

1.2.4 Các bước tiến hành tính toán chi phí 13

1.3 Tài chính y tế cho bệnh viện công ở Việt Nam 17

1.3.1 Khái niệm về tài chính y tế …17

1.3.2 Các nguồn tài chính y tế cho bệnh viện công ở Việt Nam 18

1.4 Viêm ruột thừa cấp và điều trị viêm ruột thừa cấp 21

1.4.1 Dịch tễ 21

1.4.2 Triệu chứng và chẩn đoán 22

1.4.3 Các phương pháp điều trị viêm ruột thừa cấp 24

Trang 5

1.5.2 Ở Việt Nam 29

1.6 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La 34

1.6.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ 34

1.6.2 Các nguồn tài chính của bệnh viện 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 37

2.2 Đối tượng nghiên cứu 37

2.2.1 Người bệnh điều trị Viêm ruột thừa cấp tại bệnh viện 37

2.2.2 Hồ sơ, sổ sách, tài liệu sẵn có của bệnh viện 37

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 38

2.3.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 38

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 40

2.3.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 41

2.3.5 Nội dung các biến số nghiên cứu 48

2.4 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 56

2.5 Xử lý số liệu 56

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 57

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59

3.1 Một số thông tin chung về địa bàn và đối tượng nghiên cứu 59

3.1.1 Thông tin về Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La 59

3.1.2 Thông tin về người bệnh viêm ruột thừa cấp 60

3.2 Chi phí thực tế của BV cho phẫu thuật điều trị VRTC (2012-2013) 63

3.2.1 Phân bổ chi phí cho các khoa, phòng 63

3.2.2 Phân bổ chi phí cho từng dịch vụ ở các khoa, phòng 67

3.2.3 Chi phí phân bổ dưới lên trực tiếp từ các người bệnh 70 3.2.4 Tổng hợp chi phí trung bình của bệnh viện cho điều trị người

Trang 6

thừa cấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La (2012-2013)………… 75

3.3.1 Tổng chi phí cho điều trị 75

3.3.2 Chi phí trực tiếp cho điều trị của người bệnh 79

3.3.3 Chi trả tiền túi của người bệnh 84

Chương 4 BÀN LUẬN 90

4.1 Đặc điểm bệnh tật và điều trị của người bệnh 90

4.2 Chi phí thực tế phẫu thuật điều trị viêm ruột thừa cấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La (2012-2013) 91

4.2.1 Tổng chi phí trung bình của bệnh viện cho điều trị 91

4.2.2 Chi phí điều trị theo phương pháp phẫu thuật 93

4.2.3 Cơ cấu chi phí điều trị của bệnh viện 98

4.3 Gánh nặng kinh tế trên người bệnh phẫu thuật điều trị VRTC: 103

4.3.1 Tổng chi phí điều trị 103

4.3.2 Chi phí trực tiếp cho điều trị 106

4.3.3 Chi trả tiền túi cho điều trị 110

4.4 Chênh lệch giữa chi phí của bệnh viện và chi trả của người bệnh….111 4.5 Một số hạn chế của nghiên cứu 115

KẾT LUẬN 116

KHUYẾN NGHỊ 118

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN………

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Phần viết tắt Phần viết đầy đủ

ABC Activity Based Costing

(Phân bổ chi phí theo hoạt động)

(Phân bổ chi phí theo khối lượng dịch vụ)

VRTC Viêm ruột thừa cấp

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 8

1.1 So sánh hai phương pháp phân bổ chi phí trên xuống và dưới lên 91.2 Cơ cấu các nguồn thu của Bệnh viện năm 2012-2013 362.1 Các yếu tố phân bổ áp dụng trong nghiên cứu 472.2 Tổng hợp các biến số nghiên cứu về chi phí thực tế của BV 512.3 Tổng hợp các biến số nghiên cứu về gánh nặng kinh tế của NB 542.4 Sai số và biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu 56

3.2 Thông tin về nhà cửa và giá trị tài sản của Bệnh viện 59

3.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp và đối tượng chi trả 613.6 Phương tiện và thời gian tiếp cận tới Bệnh viện 613.7 Thông tin về tiến triển và điều trị của người bệnh 623.8 Tổng hợp chi phí khấu hao tài sản của Bệnh viện 633.9 Tổng hợp chi thường xuyên của Bệnh viện 633.10 Các bước phân bổ chi phí cho các khoa, phòng 2012-2013 643.11 Kết quả phân bổ chi phí cho các khoa, phòng 2012-2013 643.12 Cơ cấu chi phí phân bổ cho Khoa PT- GMHS 65

3.14 Phân bổ chi phí cho dịch vụ phẫu thuật tại Khoa PT - GMHS 673.15 Phân bổ các khoản chi cho phẫu thuật VRTC 673.16 Phân bổ chi phí ngày giường điều trị tại Khoa Ngoại 683.17 Chi phí ngày giường điều trị trung bình tại Khoa Ngoại 683.18 Phân bổ chi phí khám tại Khoa Khám bệnh 693.19 Chi phí trung bình cho các dịch vụ điều trị theo khoa, phòng 703.20 Phân bổ chi phí trực tiếp cho điều trị của người bệnh VRTC 703.21 Trung bình các khoản chi phí trực tiếp từ phía người bệnh 713.22 Chi phí cho một lần điều trị VRTC theo phương pháp mổ 733.23 Tổng hợp chi phí cho điều trị của người bệnh VRTC 753.24 Chi phí cho điều trị của người bệnh VRTC theo năm 763.25 Chi phí cho điều trị một người bệnh theo phương pháp mổ 773.26 Chi phí cho điều trị một người bệnh theo đối tượng chi trả 783.27 Cơ cấu các khoản chi trực tiếp cho điều trị của người bệnh 793.28 Các khoản chi trực tiếp cho điều trị của NB theo nguồn chi trả 803.29 Chi phí thuốc cho điều trị của người bệnh theo nguồn chi trả 813.30 Trung vị các khoản chi trả trực tiếp cho điều trị theo năm 813.31 Trung vị chi trả trực tiếp cho điều trị theo phương pháp mổ 82

Trang 9

3.34 Các khoản chi trả tiền túi cho điều trị của người bệnh theo năm 863.35 Cơ cấu chi trả trực tiếp từ tiền túi theo phương pháp mổ 873.36 Trung vị các khoản chi trực tiếp tiền túi theo đối tượng chi trả 883.37 Chi trả tiền túi cho điều trị so với thu nhập bình quân của NB 893.38 So sánh chi trả từ phía người bệnh với chi phí của bệnh viện 89

Trang 10

Biểu đồ Tên biểu đồ Trang

3.1 Tổng hợp chi phí trung bình của bệnh viện cho điều trị người

Trang 11

Hình Tên hình Trang

1.1 Sơ đồ mối liên quan giữa chi phí và giá 41.2 Nguồn và cơ chế tài chính cho các cơ sở y tế ở Việt Nam 181.3 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La năm 2013 35

2.2 Các bước tính toán, phân bổ chi phí thực tế của Bệnh viện 452.3 Các thành phần trong chi phí của Bệnh viện cho điều trị NB 49

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

“Chi phí” đề cập đến giá trị tiền tệ của các tài nguyên được sử dụng đểsản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ, dựa trên khái niệm chi phí cơ hội Trongkinh tế y tế, việc đo lường, tính toán và phân tích chi phí là bước bắt buộcgiúp các nhà quản lý định giá dịch vụ y tế một cách hợp lý, phù hợp với chấtlượng dịch vụ và khả năng chi trả của người dân Tính toán và phân tích chiphí cũng giúp các nhà hoạch định chính sách y tế xác định các vấn đề sứckhoẻ ưu tiên cũng như thực hiện quản lý tài chính và ngân sách hiệu quả dựatrên bằng chứng [1]

Để tăng cường khả năng tiếp cận của người dân với dịch vụ y tế cần sựminh bạch cả về chất lượng cũng như cách định giá dịch vụ Việc tính toán chiphí và định giá chính xác, minh bạch giúp người bệnh có quyết định sáng suốthơn trong việc lựa chọn dịch vụ phù hợp [2] Đồng thời, nó cũng góp phầnkhuyến khích các bệnh viện cắt giảm các khoản chi phí để tăng tính cạnhtranh về giá cả và chất lượng dịch vụ; từ đó tăng cường hiệu quả hoạt độngcung ứng dịch vụ nói chung [3], [4], [5]

Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách thu một phần viện phí (giá dịch

vụ khám chữa bệnh) trong các cơ sở khám, chữa bệnh Nhà nước từ năm 1989

và tiếp đó là chính sách Bảo hiểm y tế năm 1992 [6] nhằm góp phần cải thiệnđiều kiện phục vụngười bệnh [7] Nguồn thu từ viện phí và Bảo hiểm y tếđược coi là nguồn tài chính công [8], chiếm tỷ trọng ngày càng tăng và dầntrở thành nguồn thu chính, góp phần quan trọng trong việc tăng cường đầu tưnâng cao năng lực và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế của các bệnh việncông lập [9] Tuy nhiên, hiện nay mức thu viện phí vẫn chưa tính đủ các cấuphần của chi phí làm hạn chế tính tự chủ của các bệnh viện trong khi Nhànước vẫn phải bao cấp một phần cho cả người giàu lẫn người nghèo Điều này

Trang 13

đòi hỏi phải nghiên cứu và tìm được phương thức tính đúng tính đủ giá dịch

vụ dựa trên bằng chứng để áp dụng cho các bệnh viện công

Trong khi đó, các nghiên cứu về chi phí điều trị ở Việt Nam hiện chỉmới tập trung vào chi trả của người bệnh, chưa có nhiều nghiên cứu về chi phíđầy đủ của bệnh viện Bởi vậy, chúng tôi lựa chọn phân tích chi phí cho điềutrị phẫu thuật viêm ruột thừa cấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La, cả từphía bệnh viện cũng như người bệnh để góp phần cung cấp thêm thông tincho việc định giá dịch vụ y tế Viêm ruột thừa cấp được chọn vì đây là mộtphẫu thuật tương đối thường gặp, có quy trình chuẩn và toàn bộ quá trình điềutrị thường gói gọn trong khuôn khổ bệnh viện [10] Trong bối cảnh việc phẫuthuật nội soi viêm ruột thừa cấp đang được triển khai rộng rãi ở nhiều bệnhviện tuyến tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên cả hai nhóm người bệnhphẫu thuật mở và phẫu thuật nội soi

Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là chi phí thực tế cho một trường hợp điều trịviêm ruột thừa cấp tại một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh là bao nhiêu? Chênhlệch giữa chi phí thực tế của bệnh viện với giá mà người bệnh phải chi trả(trực tiếp hoặc qua bảo hiểm y tế) là bao nhiêu? Liệu ngân sách Nhà nước đãcấp bù đủ cho các cấu phần chưa được tính vào giá dịch vụ hay chưa? Để từ

đó cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc tính đúng tính đủ giá dịch vụ y tế

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Phân tích chi phí thực tế phẫu thuật điều trị Viêm ruột thừa cấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La (2012-2013).

2 Phân tích gánh nặng kinh tế trên người bệnh phẫu thuật điều trị Viêm ruột thừa cấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La (2012-2013).

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Chi phí y tế và một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm chi phí y tế

Theo cách hiểu thông thường, chi phí là giá trị của các nguồn lực(thường quy ra tiền) được sử dụng để sản xuất một sản phẩm hàng hóa, dịch

vụ [11] Trong Kinh tế y tế, chi phí là toàn bộ nguồn lực quy ra tiền mà một

cơ sở y tế (CSYT) phải chi ra để tạo ra được một sản phẩm hay dịch vụ y tế(DVYT) nào đó [12], [13] Khi đề cập đến chi phí, người ta thường phân biệtgiữa “chi phí kế toán” và “chi phí kinh tế” [11]

Chi phí kế toán có liên quan trực tiếp đến chi phí bằng tiền của tất cảcác yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất dịch vụ [11] và là cơ sở cho việcđịnh giá dịch vụ y tế Tuy nhiên, chi phí kế toán chỉ tập trung vào khía cạnhtài chính để lập kế hoạch, quản lý chi tiêu và thường không cung cấp thông tinchi tiết về chi phí cho một người bệnh (NB) cụ thể cũng như tất cả mọi chi phí

từ phía NB và gia đình, chẳng hạn như chi phí tiền túi [14]

Trong khi đó, chi phí kinh tế có liên quan đến chi phí cơ hội; nghĩa là,chi phí mất đi của những lợi ích có thể đạt được từ một phương án khác khibuộc phải lựa chọn phương án hiện tại [15] Từ đó, chi phí kinh tế hướng tớiviệc phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả để tối đa hóa lợi ích sức khoẻ cho

NB, giảm tình trạng bệnh tật và tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian sống, giảm sửdụng DVYT và thúc đẩy tăng năng lực sản xuất của người lao động [15]

Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận (kế toán và kinh tế) dẫn đến cácphương pháp tính toán và phân tích chi phí khác nhau Chi phí kế toán thườngkhông tính đến các chi phí phi tiền tệ, những chi phí được đánh giá theo quanđiểm xã hội (ví dụ, chi phí không chính thức, chi phí do mất năng suất lao

Trang 15

động) Ngoài ra, chi phí kế toán cũng không tính đến tác động của công nghệmới đối với việc sử dụng nguồn lực [16]

1.1.2 Mối liên quan giữa chi phí y tế và giá dịch vụ y tế

Hình 1.1 Sơ đồ mối liên quan giữa chi phí và giá

Hình 1.1 thể hiện mối liên quan giữa chi phí và giá Khác với chi phí(hay giá thành) là nguồn lực được sử dụng để tạo ra một loại sản phẩm hànghoá, dịch vụ, giá là mức tiền mà nhà sản xuất muốn bán sản phẩm đó haycũng chính là số tiền mà người mua phải trả để nhận được sản phẩm [13] Chiphí và giá DVYT là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối liên quan hữu cơvới nhau Chi phí y tế là căn cứ cho việc định giá DVYT Thông thường, giáDVYT = chi phí trung bình cho DVYT + lợi nhuận của CSYT (do người sửdụng dịch vụ trả hoặc được Nhà nước bao cấp) Thị trường chăm sóc sứckhỏe (CSSK) là một dạng thị trường không hoàn hảo, dịch vụ CSSK khôngđược thúc đẩy thông qua thị trường cạnh tranh tự do, bởi vậy giá DVYT nhiềukhi không tương xứng với chi phí của sản phẩm hoặc dịch vụ [17]

Chi phí cố

Phần tăng thêm

Tổng chi phí (giá thành)

Giá dịch vụ

Trang 16

1.1.3 Phân loại chi phí y tế

Có rất nhiều cách phân loại chi phí khác nhau Theo truyền thống, chiphí thường được đề cập: (i) chi phí trực tiếp, (ii) chi phí gián tiếp, (iii) chi phí

vô hình và (iv) tổng chi phí [18] Tuy nhiên, dưới góc độ người cung ứngDVYT, chi phí y tế có thể được phân loại chi tiết theo các nhóm như sau

1.1.3.1 Theo chức năng

- Chi phí trực tiếp (direct costs): là những chi phí liên quan trực tiếpđến việc sản xuất hàng hoá hay cung cấp dịch vụ Ví dụ: lương và phụ cấp củacác cán bộ y tế (CBYT) trực tiếp tham gia vào một ca mổ ruột thừa

- Chi phí gián tiếp (indirect costs): là những chi phí không liên quantrực tiếp đến việc sản xuất hàng hoá hay cung cấp dịch vụ Ví dụ: chi phí cho

sự tham gia của bộ phận hành chính, kế toán trong tổng chi phí cho một ca mổviêm ruột thừa

1.1.3.2 Theo tính chất của chi phí

- Chi phí cố định (fixed costs): Là những mục chi phí không bị ảnhhưởng bởi những thay đổi về qui mô hoạt động của CSYT Ví dụ lương vàphụ cấp của bác sĩ tham gia một ca mổ không phụ thuộc vào số ca mổ củaCSYT đó

- Chi phí biến đổi (variable costs): Là những hạng mục chi phí thay đổitheo qui mô hoạt động của CSYT Ví dụ: chi phí cho điện nước, vật tư tiêuhao (VTTH) thay đổi theo số lượng người bệnh

1.1.3.3 Theo loại đầu vào

- Chi phí vốn hay chi phí đầu tư (capital costs): Là những mục chi phíthông thường phải trả một lần, ngay từ khi bắt đầu một dự án hay một canthiệp y tế Đó thường là các khoản chi phí lớn, và có giá trị sử dụng trên mộtnăm Ví dụ: chi phí đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc

Trang 17

- Chi phí thường xuyên (recurrent costs): Là những chi phí xảy ra nhiềulần, lặp đi lặp lại trong một năm hoặc nhiều năm Ví dụ: chi phí cho lươngthưởng, phụ cấp của CBYT.

1.1.3.4 Theo mối quan hệ giữa chi phí và sản phẩm

- Tổng chi phí (total cost): Là tổng của tất cả các chi phí để sản xuất,cung cấp một lượng sản phẩm, dịch vụ nhất định Tuỳ theo góc độ phân tích ởtrên, tổng chi phí có thể tính bằng chi phí trực tiếp + chi phí gián tiếp, bằngchi phí cố định + chi phí biến đổi hay bằng chi phí vốn + chi phí thườngxuyên

- Chi phí trung bình (average cost): Là chi phí trung bình cho một đơn

vị sản phẩm đầu ra như một trường hợp điều trị VRTC Chi phí trung bìnhbằng tổng chi phí cho loại sản phẩm, dịch vụ đó chia cho số lượng sản phẩm,dịch vụ

- Chi phí biên: Là chi phí tăng thêm để sản xuất thêm một lượng nhỏ(thường là một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đầu ra), được xác định bằng cáchtính toán tất cả các phần tăng thêm trong tổng chi phí phát sinh từ việc tăngthêm hoặc giảm đi một lượng nhỏ đầu ra Chi phí biên thường không bao gồmchi phí cố định

- Chi phí gián tiếp, bao gồm chi phí mất đi do mất thu nhập vì tử vongsớm hoặc do giảm năng suất lao động do ốm đau, bệnh tật

Trang 18

- Ngoài ra, nhiều tác giả còn đề cập đến một loại chi phí nữa là chi phí

vô hình, liên quan đến những đau khổ, lo lắng và những tác động đến chấtlượng cuộc sống do ốm đau, bệnh tật hoặc trong quá trình điều trị [1], [13]

1.2 Tính toán chi phí

Tính toán chi phí là quá trình ước tính và phân loại chi phí phát sinhcủa một tổ chức Các chi phí có thể được phân tích ở cấp tổ chức hoặc bộphận, nhưng lý tưởng nhất là ở mức dịch vụ hoặc từng người bệnh [19] Theo

đó, đã có rất nhiều phương pháp và kỹ thuật tính toán chi phí được phát triển

và áp dụng cho tính toán chi phí sản phẩm, dịch vụ, không chỉ trong lĩnh vực

y tế mà cả trong nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống Chất lượng của cácnghiên cứu phân tích chi phí phụ thuộc vào chất lượng đo lường chi phí và kếtquả Mức độ chi tiết và độ chính xác cũng thay đổi tuỳ theo mục đích củatừng nghiên cứu [20]

1.2.1 Nguyên tắc tính toán chi phí y tế

Nguyên tắc chung là phải tính đúng, tính đủ và tính chính xác Theo Bộ

Y tế Anh, có 7 nguyên tắc trong tính toán chi phí y tế như sau [21]:

- Việc tính toán chi phí phải được thực hiện dựa trên dữ liệu có chấtlượng cao để bảo đảm độ tin cậy của kết quả tính toán

- Tất cả các khoản chi của cơ sở y tế đều phải được đưa vào tính toán

để đem lại kết quả đáng tin cậy và có thể so sánh được

- Quá trình tính toán phải cho thấy được mối liên quan giữa các hoạtđộng và các nguồn lực sử dụng để tạo ra dịch vụ y tế

- Quá trình tính toán phải minh bạch và cho phép phân tích chi tiết

- Cần phải tính đúng, tính đủ giá trị vật chất của nguồn lực

- Bảo đảm sự nhất quán giữa các dịch vụ, cho phép so sánh chi phítrong nội bộ cơ sở y tế và giữa các cơ sở y tế với nhau

Trang 19

- Có sự phối hợp giữa các bộ phận lâm sàng và phi lâm sàng và khuyếnkhích sử dụng đầy đủ các thông tin trong tính toán chi phí [21]

1.2.2 Phương pháp tiếp cận trong tính toán chi phí y tế

Có hai cách tiếp cận chính trong tính toán chi phí DVYT là phân bổ từtrên xuống (top down) và tiếp cận từ dưới lên (bottom up) [22], [23]

- Phương pháp tính toán chi phí từ trên xuống (phương pháp vĩ mô haytiếp cận tổng chi phí) thông qua việc phân bổ tổng ngân sách (chi tiêu) chotừng bộ phận và dịch vụ để ước tính chi phí trung bình cho mỗi dịch vụ Nóbắt đầu từ việc thu thập cơ sở dữ liệu về tổng chi phí nguồn lực được sử dụng,phân bổ cho các đơn vị (khoa phòng của bệnh viện) và chia cho các đơn vịdịch vụ như số lượt khám bệnh hoặc số ngày nằm viện của người bệnh [24]

- Tính toán chi phí từ dưới lên (phương pháp vi mô) thông qua tínhtoán, tổng hợp chi phí cho mỗi đầu vào được sử dụng để tạo ra một dịch vụhay nói cách khác, tính toán chi phí từ việc thu thập dữ liệu từng khoản mụcchi phí của mỗi cá nhân Phương pháp này chính xác hơn, mặc dù cũng tốnnhiều thời gian hơn và việc định giá sử dụng đôi khi phải tùy chỉnh vì không

có sẵn thông tin về giá [25]

Các ưu và nhược điểm của hai phương pháp này được tổng hợp trongbảng 1.1 Phương pháp phân bổ từ trên xuống thường đơn giản, dễ thực hiện

và ít tốn kém, nhưng thường không chi tiết, thiếu chính xác và có độ nhạykhông cao, do phụ thuộc vào loại dữ liệu thông thường có sẵn Bởi vậy,phương pháp này được sử dụng chủ yếu để cung cấp tổng quan về tác độngcủa chi phí, và mặc dù dễ dàng hơn và tốn ít thời gian hơn nhưng không phùhợp cho đánh giá kinh tế vì thiếu chi tiết [26] Mặc dù nhiều nhà phân tíchủng hộ phương pháp tính toán chi phí từ dưới lên vì chi tiết hơn, song phươngpháp này thường tốn kém và phụ thuộc nhiều vào các bối cảnh cụ thể [27]

Trang 20

Bên cạnh đó, do có sự khác nhau về chi phí rất lớn giữa các người bệnh nêncần cẩn trọng khi sử dụng kết quả để xây dựng chính sách [28].

Bảng 1.1 So sánh phương pháp phân bổ chi phí trên xuống và dưới lên

Đặc điểm Phương pháp trên xuống Phương pháp dưới lên

*Nguồn: Theo Waters H R và cộng sự (2004) [20]

Chất lượng của các nghiên cứu phân tích chi phí cũng phụ thuộc vàophương pháp tiếp cận, kỹ thuật và chất lượng đo lường chi phí và kết quả[20] Mức độ chi tiết và độ chính xác cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mục đíchcủa các nghiên cứu khác nhau Mỗi cách tiếp cận đều có những yêu cầu vàmức chi phí khác nhau, đòi hỏi phải được cân nhắc và vận dụng cho phù hợpvới hoàn cảnh thực tế Sự lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào nhu cầucủa phân tích, tính sẵn có của số liệu cũng như chi phí của từng phương pháp.Ngày nay, các nhà nghiên cứu có xu hướng kết hợp cả hai phương pháp này,

sử dụng phương pháp dưới lên cho các chi phí trực tiếp của dịch vụ, vàphương pháp trên xuống cho các chi phí khác [22], tùy thuộc vào tính khảdụng của dữ liệu và tính khả thi của việc thực hiện [25]

1.2.3 Các kỹ thuật tính toán chi phí y tế

Có rất nhiều kỹ thuật tính toán đã được phát triển và áp dụng trongphân tích chi phí y tế, trong số đó, có 5 kỹ thuật sau đây được nhiều tác giả đềcập và sử dụng [2], [11], [29]

Trang 21

1.2.3.1 Phân bổ chi phí truyền thống

Là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để tính toán và phân bổchi phí kế toán theo khối lượng dịch vụ (Volume-based costing: VBC) Trong

đó, chi phí được phân bổ cho từng đơn vị phát sinh chi phí (khoa, phòng hoặcdịch vụ của bệnh viện) [30] sử dụng các yếu tố phân bổ (ví dụ: giờ lao động,doanh thu hoặc số NB) theo tỷ lệ phần trăm được xác định trước [31] Kỹthuật này đơn giản, dễ áp dụng, ít tốn kém về thời gian và tài chính nên đượcchấp nhận và sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, nó không tính đến sự khác biệttrong dòng sản phẩm, dịch vụ [32], và thường cho kết quả thô, đôi khi khôngphản ánh chính xác chi phí thực tế của sản phẩm, dịch vụ [33], [34]

1.2.3.2 Phân bổ chi phí dựa trên hoạt động (Activity-based costing: ABC)

Kỹ thuật này được Kaplan R S (1991) đề xuất vào giữa những năm

1980 [35], [36] và được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực CSSK từ những năm

1990 [37] Theo đó, tất cả các sự kiện hoặc giao dịch có chi phí được ghi nhận

là “hoạt động” để phân bổ chi phí gián tiếp cho từng hoạt động và sau đó chotừng sản phẩm, dịch vụ Trước hết, các hoạt động cơ bản và các nguồn lựcliên quan được xác định dựa theo hệ thống thông tin sẵn có của CSYT Chiphí gián tiếp sau đó được phân bổ cho các hoạt động theo các yếu tố phân bổ

đã được xác định [36], [38]

Kỹ thuật này cấu thành mối quan hệ nhân quả giữa các hoạt động vàchi phí [39] nên cung cấp kết quả chính xác hơn và do đó được áp dụng rộngrãi trong lập kế hoạch và chuẩn bị ngân sách của các tổ chức [2] Tuy nhiên,

kỹ thuật này không tính đến các năng lực thực tế chưa được sử dụng Ngoài

ra, nó cũng phức tạp hơn, nên mất nhiều thời gian và đòi hỏi chi phi lớn hơn,đồng thời phụ thuộc nhiều vào hệ thống dữ liệu của bệnh viện [40]

Trang 22

1.2.3.3 Phân bổ chi phí theo hoạt động dựa vào thời gian (Time driven activity based costing: TDABC)

Kỹ thuật này được Kaplan R S và Anderson S R giới thiệu vào năm

2004 [39] với giả thiết là hầu hết các nguồn lực (nhân lực, thiết bị và phươngtiện) đều có khả năng đo được theo thời gian Bởi vậy, mặc dù cũng áp dụngquy trình hai bước như với kỹ thuật ABC truyền thống, tuy nhiên trong đó,yếu tố thời gian, chứ không phải hoạt động, được sử dụng làm yếu tố phân bổthứ hai và là yếu tố phân bổ chi phí chính [38] Nó không quá chú trọng vàoviệc xác định 'hoạt động' như trong kỹ thuật ABC truyền thống mà quan tâmnhiều hơn đến năng lực của các bộ phận và việc thực hiện các hoạt động trongtừng bộ phận [39]

Kỹ thuật này đơn giản hơn so với kỹ thuật ABC truyền thống, có khảnăng tích hợp tốt với dữ liệu có sẵn giúp ước tính và cập nhật chi phí mộtcách nhanh chóng, dễ sử dụng và ít tốn kém [41] Hơn nữa, nó còn tính đến cảnhững năng lực chưa được sử dụng, giúp cho các nhà quản lý có thể dễ dàngđưa ra quyết định để làm giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động và giá trị củađơn vị [39]

Tuy nhiên, trong kỹ thuật này, các chi phí gián tiếp liên quan đến cáchoạt động không được xác định, việc sử dụng một phép đo hoạt động đơn lẻ

và duy nhất dựa trên mối quan hệ chi phí-thời gian có thể không đại diện chotác động thực tế của các chi phí [38] Việc sử dụng thời gian để đo lường cácnguồn lực thực tế không phù hợp với các doanh nghiệp phức tạp hơn với kếtquả đầu ra khác nhau do chi phí gián tiếp không thể gắn liền với thời gian làmviệc của nhân viên [38] Yêu cầu về việc thu thập số liệu để bảo đảm độ chínhxác cũng có thể gây khó khăn cho người quản lý, trong khi đó, số liệu khôngđược cập nhật có thể dẫn đến những quyết định không chính xác [39]

Trang 23

1.2.3.4 Phân bổ chi phí theo hoạt động dựa trên hiệu suất

Đây là phiên bản tiếp theo của kỹ thuật phân bổ chi phí theo hoạt độngvới một quá trình phân tích chi phí chuyên sâu đòi hỏi một số bước để phân

bổ đúng chi phí gián tiếp Kỹ thuật này đánh giá các nguồn lực thực tế chomỗi hoạt động theo nhiều cách khác nhau, bao gồm phỏng vấn, khảo sát, dựatrên thời gian sử dụng thực tế hoặc các tài liệu và nguồn lực khác [38]

Thông qua tính toán tỷ lệ chuẩn (số lượng) và phương sai giá của yếu

tố phân bổ, kỹ thuật này giúp đánh giá chi tiết hơn các yếu tố phân bổ thực sựcho chi phí và quan tâm đến chênh lệch ngân sách giúp các nhà quản lý xácđịnh năng lực dư thừa Qua đó, nó cung cấp cho người quản lý nhiều thông tinhơn các phương pháp kế toán khác Đây là cơ chế chi phí được sử dụng đểđánh giá hiệu suất và hiệu quả của một tổ chức [38]

1.2.3.5 Phân bổ chi phí theo tỷ số chi phí và chi trả (Ratio of cost to charges)

Kỹ thuật này được áp dụng rộng rãi trong chương trình Medicare vàMedicaid ở Mỹ Trong báo cáo tài chính cho cơ quan bảo hiểm, các bệnh viện

sử dụng các phương pháp truyền thống để phân bổ chi phí quản lý cho cáckhoa lâm sàng và ước tính toàn bộ chi phí của từng bộ phận Kết hợp vớithông tin về tổng chi phí cho tất cả các dịch vụ được cung cấp bởi bộ phậnlâm sàng, bệnh viện tính toán được tỷ số giữa mức chi phí và chi trả ở cấp độkhoa phòng Tỷ số này, khi nhân với chi phí của bệnh viện đối với một dịch

vụ cụ thể, có thể ước tính chi phí cung cấp dịch vụ cho người bệnh (NB) [2]

Kỹ thuật này khá đơn giản, hầu như không đòi hỏi phải đầu tư thêmthời gian và nguồn lực vì các thông tin hầu như đã có sẵn trong các báo cáo.Tuy nhiên, độ chính xác không cao do bệnh viện có thể điều chỉnh chi phíthực trong báo cáo [2] và dựa trên giả định rằng chi phí cho tất cả các dịch vụđược cung cấp bởi một bộ phận lâm sàng đều có chung một tỷ lệ lợi nhuậnnhư nhau [19]

Trang 24

1.2.4 Các bước tiến hành tính toán chi phí

Có nhiều phương pháp và kỹ thuật tính toán chi phí khác nhau nhưngkhông có một phương pháp tính toán chi phí nào hoàn hảo cho mọi nghiêncứu Việc áp dụng phương pháp nào tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu và bốicảnh cụ thể Dù theo phương pháp nào thì kỹ thuật ước tính chi phí và khungthời gian chi phí cũng đều phải được mô tả rõ ràng, cụ thể [20]

Sau khi đã xác định rõ phạm vi tính toán, về nguyên tắc, có 3 khâuchính cần phải được thực hiện trong mọi nghiên cứu phân tích chi phí là: (1)xác định chi phí, (2) đo lường các chi phí đã được xác định, và (3) định giátức quy đổi các chi phí sang giá trị tiền tệ Các phương pháp khác nhau, có thểđòi hỏi các bước thực hiện khác nhau, song trong nhiều nghiên cứu phân tíchchi phí đều thống nhất thừa nhận quy trình với 5 bước chung sau đây [18],[42], [43]

1.2.4.1 Xác định phạm vi nghiên cứu, tính toán

Trước hết, cần phải xác định rõ phạm vi, tức xác định các chi phí nàođược phân tích, đánh giá [18] Nhiều nhà kinh tế học khuyến khích đánh giámột cách toàn diện, dưới góc độ xã hội, bao gồm cả các chi phí gián tiếp,thậm chí cả các chi phí vô hình khác như chi phí cơ hội và sở thích cộng đồng[18], [44] Tuy nhiên, trên thực tế, khi phân tích chi phí của CSYT, thường chỉ

đề cập đến các chi phí tạo nên giá thành của sản phẩm, dịch vụ Phần lớn cácnghiên cứu về gánh nặng chi phí y tế của người sử dụng cũng chỉ tập trungvào các chi phí hữu hình, là chi phí trực tiếp, đặc biệt là chi phí tiền túi do cóliên quan đến chi tiêu y tế thảm hoạ và nghèo hoá do chi tiêu y tế [45]

1.2.4.2 Xác định và phân loại các nguồn lực đầu vào được sử dụng

Bước tiếp theo cần phân loại chi phí để lựa chọn phương pháp và công

cụ để đo lường phù hợp Tuỳ theo quan điểm của người nghiên cứu và bảnchất của số liệu, các chi phí trực tiếp có thể được chia thành ba nhóm chính:

Trang 25

chi phí vốn (đất đai, nhà cửa, thiết bị), chi phí điều trị (bác sĩ, can thiệp,thuốc) và chi phí khác (dịch vụ hỗ trợ, chi phí tiện ích và các chi phí khôngchính thức khác) Các khoản chi phí này có thể được phân loại thành chi phí

cố định và chi phí biến đổi, cho phép sử dụng các phương pháp khác nhau đểước tính Bên cạnh đó, cần xác định đo lường chi phí trong thời gian ngắn hạnhay dài hạn, để có thể cân nhắc việc áp dụng tỷ lệ chiết khấu, nếu cần

1.2.4.3 Xác định số lượng và chi phí cho mỗi nguồn lực đầu vào sử dụng

Sau khi tất cả các dịch vụ và vật tư được xác định, điều quan trọng làphải xác minh bản chất của mỗi mục chi phí và quy trình thanh toán của nó đểchọn phương pháp tính toán chi phí Tuỳ theo tính chất của số liệu và tính khảthi của việc tính toán chi phí, có thể chọn một trong hai phương pháp tiếp cận

từ trên xuống hoặc từ dưới lên hoặc kết hợp cả hai [22], [25]

Phương pháp tiếp cận từ trên xuống thường hữu ích và dễ dàng hơn đểước tính các chi phí cố định, chẳng hạn như nguồn nhân lực, trong ngắn hạnnhưng phức tạp hơn khi ước lượng chi phí biến đổi Với các chi phí dùngchung, ví dụ như chi tiền điện, rất khó để xác định lượng điện tiêu thụ củatừng đơn vị và của mỗi NB nên đòi hỏi phải thực hiện các kỹ thuật phân bổ[18], [46] Phương pháp này cũng không chính xác khi chi phí có sự thay đổilớn giữa các NB Tiếp cận từ dưới lên đặc biệt hữu ích khi người bệnh sửdụng nhiều dịch vụ ở nhiều bộ phận, đơn vị khác nhau [47] Hạn chế lớn nhấtcủa phương pháp này là không có sẵn thông tin hoặc bị ảnh hưởng bởi sai sốnhớ lại [18] Bởi vậy, nhiều nghiên cứu thường kết hợp cả hai phương pháptiếp cận này [18], [22], [25]

1.2.4.4 Ước tính chi phí thành phần cho mỗi đơn vị sản phẩm

Nhìn chung, việc ước lượng chi phí dựa trên tần suất nguồn lực tiêu thụ

và chi phí đơn vị Trong phân tích chi phí vi mô, dữ liệu về tần suất sử dụngnguồn lực, chẳng hạn như số lượt khám hay số ngày nằm viện, chi phí của

Trang 26

một lượt khám hay một ngày nằm viện cũng được ước tính Trong trường hợpkhông có cơ sở dữ liệu để ước tính chi phí cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ,bắt buộc phải ước tính chi phí đơn vị của từng nguồn lực có liên quan

- Chi phí vốn: Bao gồm đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng và trangthiết bị, tiền sửa chữa và bảo trì các tòa nhà và thiết bị Một trong nhữngphương pháp được sử dụng phổ biến để ước tính chi phí vốn là phương phápkhấu hao giảm dần đều (hay khấu hao theo đường thẳng) do Drummond M F

và cộng sự đề xuất [18] Phương pháp này xem xét giá hiện tại, tỷ lệ chiếtkhấu và vòng đời thiết bị Ví dụ, một tài sản mới có thời gian khấu hao là 10năm thì mỗi năm, giá trị tài sản sẽ được tính giảm đi 10% cho đến khi hết thờigian khấu hao thì giá trị tài sản còn lại bằng 0

- Chi phí nhân công: Bao gồm nhân lực trực tiếp điều trị cho NB (ví dụ,bác sĩ, điều dưỡng,…) và những người hỗ trợ (hành chính, vệ sinh, bảo vệ,

….) Chi phí nhân lực được ước tính dựa trên mức lương và phụ cấp của từngnhóm nhân viên theo thời gian công việc và số lượng NB được hỗ trợ nên phụthuộc vào loại CSYT, cơ cấu tổ chức và việc phân công nhiệm vụ giữa cáckhoa phòng Với những người làm việc cho các khoa phòng khác nhau, cầnphải phân bổ tỷ lệ hợp lý thời gian làm việc cho từng đơn vị

Chi phí cho nhân lực hỗ trợ không thay đổi nhiều giữa các NB trongcùng một đơn vị hay cùng một loại bệnh tật nên phân bổ chi phí từ trên xuốnghữu ích và tốn ít thời gian hơn Tuy nhiên, đôi khi phân tích chi phí vi môđược ưu tiên, nhất là với những NB sử dụng dịch vụ từ nhiều đơn vị khoaphòng khác nhau

- Chi phí quản lý hành chính (overhead): Bao gồm các chi phí liên quanđến các dịch vụ hành chính cho nhiều đơn vị và dịch vụ của bệnh viện Chiphí quản lý rất khác nhau giữa các cơ sở y tế và có thể chia thành hai nhómchính: (a) chi phí liên quan trực tiếp đến quản lý và dịch vụ hành chính, (b)chi phí quản lý cho các bộ phận không liên quan trực tiếp đến can thiệp y tế

Trang 27

hay “chi phí khách sạn” (phục vụ, vệ sinh, dinh dưỡng, xét nghiệm, điện,nước, an ninh,…).

- Chi phí cho các dịch vụ hỗ trợ: Bao gồm tất cả các dịch vụ cần thiếtcho việc vận hành và duy trì các DVYT, chẳng hạn như chế độ ăn uống, quần

áo, giặt ủi, làm sạch, an ninh, dịch vụ hành chính, tin học, dược phẩm và sửachữa, bảo dưỡng Các dịch vụ này có thể được chia nhỏ thành nguồn nhânlực, phục vụ, vận chuyển, dịch vụ bên ngoài (dịch vụ sửa chữa), tiện ích (ví

dụ điện, nước, điện thoại, nhiên liệu) và dịch vụ quản lý hành chính được đềcập ở phần trên

- Chi phí vật tư tiêu hao: Chi phí cho tất cả các vật liệu dùng một lần cóthể được ước tính bằng cách sử dụng phương pháp vĩ mô trong trường hợp chiphí này tương đương nhau trong cùng một đơn vị, với các quy trình can thiệp

và chẩn đoán giống nhau Nếu tiêu thụ vật tư tiêu hao thay đổi nhiều giữa cácngười bệnh, thì phương pháp vi mô sẽ thích hợp hơn

- Chi phí thuốc men, dịch truyền: Thường bao gồm cả chi phí sản xuất(chi phí cho công ty), chi phí thị trường (người tiêu dùng) và (c) chi phí chongành y tế công cộng (Chính phủ) Thuốc thường có nhiều sản phẩm vớinhiều nhà sản xuất, gây khó khăn cho việc tính toán chi phí Hơn nữa, chỉđịnh thuốc thường khác nhau đáng kể giữa các NB dẫn đến những khó khăntrong việc ước tính khoản chi phí này theo phương pháp vĩ mô Bởi vậy, nhiềunghiên cứu tính toán chi phí thuốc theo phương pháp vi mô, dựa trên hồ sơbệnh án và chứng từ thanh toán của NB

1.2.4.5 Đánh giá độ nhạy và sai số

Trong quá trình tính toán chi phí, có thể gặp các sai số khác nhau đến từphương pháp kỹ thuật, bản chất và độ chính xác của dữ liệu, sự biến thiên củachi phí giữa các đơn vị, cũng như các giả định đặt ra khi tính toán Các saichệch và sự không chắc chắn của dữ liệu cần được đề cập và hiệu chỉnh trong

Trang 28

các phân tích thống kê Chi phí có thể thay đổi giữa các CSYT và phạm vi của

sự thay đổi này nên được tính đến thông qua phân tích độ nhạy

1.3 Tài chính y tế cho bệnh viện công ở Việt Nam

1.3.1 Khái niệm về tài chính y tế

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2000, tài chính y

tế là một chức năng của hệ thống y tế liên quan đến việc huy động, tích lũy vàphân bổ tiền để trang trải nhu cầu sức khỏe của người dân, cũng như thiết lậpcác ưu đãi tài chính phù hợp cho các nhà cung cấp dịch vụ, để đảm bảo rằngtất cả các cá nhân đều có quyền tiếp cận với sức khỏe cộng đồng và chăm sócsức khỏe cá nhân hiệu quả [48]

Định nghĩa được mở rộng vào năm 2007 như sau: “Một hệ thống tàichính y tế tốt sẽ gây quỹ đầy đủ cho sức khỏe, để mọi người có thể sử dụngcác dịch vụ cần thiết và được bảo vệ khỏi chi phí thảm họa hoặc nghèo đóiliên quan đến việc chi trả cho các dịch vụ đó Hệ thống tài chính y tế tốt phảibảo đảm hiệu quả cho cả nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ” [49]

Tài chính y tế là một bộ phận quan trọng của hệ thống y tế với 4 mụctiêu chính: (1) huy động đủ nguồn lực cho CSSK; (2) quản lý và phân bổnguồn lực công bằng và có hiệu suất cao; (3) khuyến khích nâng cao chấtlượng và hiệu suất cung ứng dịch vụ; và (4) bảo vệ người dân trước các rủi ro

về tài chính gây ra bởi chi phí y tế [50] Để đạt được mục tiêu này, hệ thốngtài chính y tế phải thực hiện tốt 3 chức năng chính là: huy động tài chính, chia

sẻ rủi ro và mua dịch vụ y tế [51], [52]

Trang 29

1.3.2 Các nguồn tài chính y tế cho bệnh viện công ở Việt Nam

Hình 1.2 Nguồn và cơ chế tài chính cho các cơ sở y tế ở Việt Nam

*Nguồn: Hội Kinh tế Y tế Việt Nam (2010) [53] 1.3.2.1 Ngân sách Nhà nước

Cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, ngân sách Nhà nước(NSNN) vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho các bệnh viện, được bao cấp dướidạng chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Việc phân bổ NSNN cho các

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KCB) được thực hiện dựa trên các yêu cầunguồn lực đầu vào để bảo đảm vận hành cơ sở KCB, như số giường bệnh,biên chế, trang thiết bị, Với khả năng tài chính hạn hẹp, hầu như mọi ngườidân được KCB miễn phí với chất lượng dịch vụ hạn chế [53]

Trước khi có Luật ngân sách năm 2002, NSNN được phân bổ cho cácbệnh viện theo những định mức chung theo khu vực kinh tế - xã hội [54] Từkhi có Luật ngân sách, định mức ngân sách cho bệnh viện tuyến tỉnh và huyệnchủ yếu do chính quyền địa phương quyết định và có sự khác nhau đáng kể

Trang 30

Từ 2007, phương thức phân bổ ngân sách đã có những chuyển đổi theohướng “cấp ngân sách ở mức ổn định theo giai đoạn 3 năm” - một bướcchuyển theo hướng khoán ngân sách cho các bệnh viện và cơ sở y tế công[53].Năm 2011, thực hiện Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ [55], định mức phân bổ ngân sách sự nghiệp y tế theo đầu dânđược sử dụng làm cơ sở để xác định và phân bổ chi sự nghiệp y tế cho các địaphương Từ năm ngân sách 2017, thực hiện theo Quyết định số 46/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [56], hầu hết các địa phương đang phân bổngân sách cho các bệnh viện theo định mức chi/giường bệnh, phần lớn cácbệnh viện tuyến tỉnh có định mức phân bổ cao hơn tuyến huyện [57].

Cùng với việc thực hiện chính sách thu một phần viện phí, nhất là chínhsách xã hội hóa, giao quyền tự chủ cho bệnh viện, tỷ trọng NSNN cấp chobệnh viện có xu hướng ngày càng giảm với mức độ khác nhau giữa các tuyến.Năm 2010, tỷ lệ ngân sách cấp chobệnh viện tuyến trung ương chiếm khoảng28%; bệnh viện tuyến tỉnh khoảng 12% và bệnh viện tuyến huyện khoảng40% NSNN cấp cho các bệnh viện công lập hiện nay chủ yếu là để chi cholương và hỗ trợ cho đầu tư phát triển (tùy theo khả năng tự chủ về tài chínhcủa bệnh viện) và một phần cho chi thường xuyên [53]

1.3.2.2 Nguồn thu từ Bảo hiểm y tế

Kể từ khi bắt đầu được triển khai từ năm 1992, chính sách bảo hiểm y

tế (BHYT) đang dần được hoàn thiện, đặc biệt với việc ban hành Luật BHYTnăm 2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT vào năm

2014 Theo đó, đối tượng tham gia BHYT ngày càng được mở rộng, tỷ lệ baophủ ngày càng cao, phạm vi quyền lợi của người có BHYT không ngừngđược nâng cao Bên cạnh đó, chúng ta cũng áp dụng cơ chế đồng chi trả nhằmnâng cao trách nhiệm của người tham gia và hạn chế việc lạm dụng quỹBHYT [9], [57], [58]

Trang 31

Tính đến cuối năm 2016, đã có 81,7% dân số nước ta được bao phủBHYT [9] BHYT cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu tàichính y tế của các bệnh viện công lập [57] Thu từ BHYT thường được ghépchung với nguồn thu từ viện phí trực tiếp trong nguồn thu sự nghiệp Tuynhiên, có thể thấy tỷ lệ đóng góp từ Quỹ BHYT trong tổng chi y tế gia tăngqua các năm, từ 7,9% năm 2005 lên 17,6% năm 2008 [53] Số thu viện phí vàBHYT thanh toán giai đoạn 2011-2015 ước khoảng 276.598 tỷ đồng, tăngnhanh do mở rộng dịch vụ và điều chỉnh giá, bằng 3,3 lần so với giai đoạn2006-2010, bằng 15 lần giai đoạn 2001-2005, đáp ứng được khoảng 60-70%chi thường xuyên [57] Năm 2016, riêng số chi cho khám chữa bệnh BHYTước đạt 69.410 tỷ, tăng 41,6% so với năm 2015 [9].

1.3.2.3 Viện phí trực tiếp

Chính sách thu một phần viện phí được thực hiện từ tháng 4/1989, theoQuyết định số 45/HĐBT ngày 24/4/1989 của Hội đồng Bộ trưởng Từ đó đếnnay, đã có nhiều thay đổi trong định hướng chính sách chung về thu, quản lý,

sử dụng nguồn thu viện phí cũng như quy định mức giá cho các DVYT

Từ năm 2005, Chính phủ đã khẳng định sự cần thiết phải “Đổi mới chế

độ viện phí trên cơ sởtừng bước tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp phục

vụ người bệnh Từng bước chuyển đổi việc cấp kinh phí hoạt động thường

xuyên cho các cơ sở KCB sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ

y tế do Nhà nước cung cấp thông qua BHYT” [51] Một khi BHYT thanh toán

đủ chi phí KCB cho người bệnh BHYT sẽ góp phần xóa bỏ sự phân biệt đối

xử với người bệnh BHYT và bảo đảm tài chính cho các bệnh viện [53]

Tính chung, nguồn thu từ viện phí ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơntrong tổng ngân sách của các bệnh viện công Kết quả từ báo cáo kiểm tra 731bệnh viện năm 2007 của Bộ Y tế cho thấy nguồn thu từ viện phí chiếm đến59,4% tổng nguồn thu; tăng 26,5% so với năm 2006 [53]

Trang 32

Việc tính đúng, tính đủ giá DVYT cũng đang được thực hiện theo lộtrình theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP [59] Năm 2012, các yếu tố chi phítrực tiếp (thuốc, máu, dịch truyền, vật tư tiêu hao; điện, nước, nhiên liệu, vệsinh môi trường, chống nhiễm khuẩn; duy tu, bảo dưỡng TTB) đã được tính

đủ trong giá dịch vụ KCB theo Thông tư liên tịch số BTC Từ năm 2015, thêm tiền lương được tính vào giá dịch vụ KCB theoThông tư số 37/2015/TTLT-BYT-BTC theo lộ trình 2 giai đoạn, đến hết năm

04/2012/TTLT-BYT-2017 thực hiện tại 63 tỉnh, thành phố Năm 2018 tính thêm chi phí quản lý,đến năm 2020 sẽ tính đầy đủ tất cả các yếu tố, bao gồm cả khấu hao vào giáDVYT [57]

Bên cạnh đó, ngay từ năm 2002, một số đơn vị sự nghiệp y tế công,phần lớn là các bệnh viện đã thực hiện điểm cơ chế tự chủ tài chính theo Nghịđịnh số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ Tính đến nay đã có 89 cơ sở tự bảođảm chi thường xuyên (4,2%); 1.441 cơ sở tự bảo đảm một phần chi thườngxuyên (68%) và 592 cơ sở do Ngân sách nhà nước (NSNN) bảo đảm chithường xuyên (27,8%), theo các Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, 85/2012/NĐ-

CP và 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ [57] Để tạo hành lang pháp lý cho cácđơn vị tự chủ xác định giá DVYT, năm 2017, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư

số 02/2017/TT-BYT về khung giá DVYT không thuộc phạm vi thanh toán củaBHYT [60]

1.4 Viêm ruột thừa cấp và điều trị viêm ruột thừa cấp

1.4.1 Dịch tễ

Viêm ruột thừa cấp (VRTC) là một cấp cứu bụng ngoại khoa hay gặpnhất, với tỷ lệ 4 - 5 người/1000 dân và khoảng 6-7% dân số trong suốt cuộcđời [61] Ở Mỹ, mỗi năm có khoảng 300.000 trường hợp VRTC, chiếmkhoảng 1% tổng số trường hợp phẫu thuật Ở Việt Nam, theo Tôn Thất Bách,VRTC chiếm 53,38% các trường hợp mổ cấp cứu do bệnh lý ổ bụng tại Bệnh

Trang 33

viện Việt Đức Con số này vào khoảng 40,5% - 49,8% theo một số tác giảkhác [62].

Viêm ruột thừa cấp xảy ra ở mọi lứa tuổi, hiếm gặp ở trẻ em dưới 3tuổi, tăng dần và hay gặp nhất ở tuổi thanh thiếu niên, nhất là ở lứa tuổi 20-

40, sau đó giảm dần theo tuổi Bệnh có thể gặp ở cả hai giới, ở nam cao hơn

so với nữ, tỷ lệ nam/nữ là 3/2 ở người trẻ và 1/1 ở người cao tuổi [63]

1.4.2 Triệu chứng và chẩn đoán

1.4.2.1 Triệu chứng cơ năng

Đau âm ỉ ở vùng hố chậu phải, lúc đầu có thể ở vùng trên rốn hayquanh rốn rồi khu trú ở vùng hố chậu phải Nôn, buồn nôn là dấu hiệu haygặp, nhất là ở trẻ em Ngoài ra, có thể gặp rối loạn tiêu hóa như chán ăn, táobón, ỉa chảy Người bệnh thường thấy người mệt mỏi [63]

1.4.2.2 Triệu chứng toàn thân

Người bệnh thường có sốt vừa phải khoảng 37,5oC-38oC; khi sốt caohơn cần phải nghĩ đến và tìm các nguyên nhân khác Có thể có hội chứngnhiễm khuẩn với vẻ mặt hốc hác, môi khô, lưỡi bẩn [63]

1.4.2.3 Triệu chứng thực thể

Khám nhẹ nhàng từ vùng không đau tới vùng đau để phát hiện các dấuhiệu phản ứng thành bụng; các điểm đau Mac-Burney (giữa đường nối gaichậu trước trên đến rốn), điểm Lanz (giữa 1/3 phải và 2/3 trái đường liên gaichậu trước trên), điểm Clado (liên chậu trước trên gặp bờ ngoài cơ thẳng tophải), điểm trên mào chậu phải; dấu hiệu co cứng thành bụng vùng hố chậuphải trong giai đoạn ruột thừa viêm tiến triển muộn; dấu hiệu Blumberg,

Thăm trực tràng hay thăm âm đạo ở phụ nữ thấy thành phải trực trànghay bờ phải túi cùng âm đạo đau [63]

Trang 34

1.4.2.4 Triệu chứng cận lâm sàng

Xét nghiệm công thức máu: bạch cầu tăng trên 10.000/mm3, chủ yếu là

đa nhân trung tính Xquang: có thể thấy hình ảnh nhiều mức nước hơi của cácquai ruột non tập trung ở hố chậu phải khi chụp bụng không chuẩn bị ở trẻnhi, giai đoạn muộn Siêu âm: có thể thấy ruột thừa to, có dịch quanh ruộtthừa nhưng chưa có những tiêu chuẩn rõ ràng và chưa được áp dụng rộng rãi.Soi ổ bụng chẩn đoán trong những trường hợp khó, nhất là ở phụ nữ để phânbiệt với các bệnh phụ khoa [63]

lý ở ổ bụng như thủng dạ dày tá tràng, viêm túi mật cấp, viêm tuỵ cấp, tắcruột,…; bệnh lý đường tiết niệu như cơn đau quặn thận, nhiễm trùng đườngtiểu, viêm cơ đái chậu; và một số bệnh lý nội khoa khác [63]

Do bệnh cảnh đa dạng, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng đôi khikhông điển hình, tỷ lệ chẩn đoán nhầm VRTC dao động từ 10 – 20% Ngàynay, chẩn đoán VRTC được sự hỗ trợ của nhiều phương tiện, nhưng tỷ lệ mổcắt ruột thừa không viêm vẫn còn cao, tới gần 30% [64]

Trang 35

1.4.3 Các phương pháp điều trị viêm ruột thừa cấp

Khi đã có chẩn đoán chắc chắn là VRTC thì phương pháp điều trị duynhất là phẫu thuật cấp cứu cắt bỏ ruột thừa càng sớm càng tốt, do càng đểmuộn nguy cơ xảy ra các biến chứng càng cao Điều trị VRTC không đượctrông cậy vào kháng sinh, mặc dù trong một chừng mực nào đó kháng sinh

có thể làm chậm quá trình tiến triển nhanh chóng của bệnh và có thể làm dịu

đi các triệu chứng Trong những hoàn cảnh đặc biệt, ở xa cơ sở phẫu thuậtcần chuyển người bệnh đi thì nên dùng kháng sinh liều cao; lúc này khángsinh có tác dụng kéo dài thời gian từ VRTC đến viêm phúc mạc ruột thừa.Hiện nay, phẫu thuật cắt ruột thừa có thể thực hiện theo phương pháp phẫuthuật mở (PTM) kinh điển hoặc phẫu thuật nội soi (PTNS) [65]

1.4.3.1 Phẫu thuật mở

Phẫu thuật mở là phẫu thuật cắt ruột thừa viêm và mạc treo ruột thừaqua đường rạch đủ rộng trên thành bụng Đây là phương pháp kinh điển đượcMac-Burney tiến hành để điều trị VRTC lần đầu tiên năm 1894 Từ đó, điểmđau ruột thừa ở hố chậu phải và đường mổ tách cơ được mang tên ông [66]

Ưu điểm của phương pháp này là vào thẳng vùng manh tràng, ruột thừa vàchỉ làm tổn thương cân, cơ, thần kinh một cách tối thiểu Trong nhữngtrường hợp khó khăn, nghi ngờ có viêm phúc mạc, hoặc chưa xác định chẩnđoán có thể rạch da theo đường trắng bên bên phải hoặc đường trắng giữadưới rốn Đường mổ này có ưu điểm là rộng rãi, thuận lợi cho việc kiểmsoát, xử trí các thương tổn nhưng lại ảnh hưởng tới thẩm mỹ

Với các biến chứng như viêm phúc mạc ruột thừa thì sau khi cắt ruộtthừa, cần lau rửa ổ bụng Nếu ổ bụng sạch thì không cần đặt dẫn lưu, vớiđiều kiện phẫu thuật viên phải chắc chắn là sẽ không để áp xe tồn dư trong ổbụng Trường hợp trong ổ bụng có nhiều giả mạc, mủ, có nhiều mô hoại tử

mà trong lúc mổ không thể lấy hết được, lúc này dẫn lưu ổ bụng là bắt buộc

Trang 36

Đóng bụng, khâu da thưa, khâu chỉ chờ hoặc để hở da Sau phẫu thuật nên

sử dụng kháng sinh phổ rộng, đường tĩnh mạch là tốt nhất nếu có thể

1.4.3.2 Phẫu thuật nội soi

Năm 1984, Litynski G S (1998) là người đầu tiên báo cáo về việcứng dụng phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa trong điều trị viêm ruột thừa cấp[67] Những năm tiếp theo, phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa đã được phát triểnnhanh ở Mỹ và áp dụng rộng rãi ở nhiều nước khác Wu H.S và cộng sự(2011) hồi cứu 1.366 trường hợp VRTC thấy tỷ lệ PTNS tăng nhanh, từ8,1% năm 2004 lên 90,3% trong năm 2009 Tỷ lệ PTNS tăng lên ở cả VRTC

có và không có biến chứng và biến chứng, ở cả hai giới tính và tất cả cácnhóm tuổi [68]

Những ưu thế của PTNS đã được ghi nhận, bao gồm: cho phép quansát toàn bộ ổ bụng [65]; chẩn đoán và xử trí các thương tổn không phải làviêm ruột thừa khi chẩn đoán trước mổ chưa rõ ràng [69]; giảm bớt chấnthương tổ chức, nhanh chóng lập lại lưu thông ruột [70], [71]; giảm đau sau

mổ, rút ngắn thời gian nằm viện [72], [73]; người bệnh nhanh chóng trở lạihoạt động bình thường [74], [75]; và giảm tỷ lệ nhiễm trùng thành bụng sau

mổ [76] Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu cho thấy PTNS chỉ giúp giảmthời gian nằm viện nhưng không có tác động đáng kể đến tỷ lệ biến chứng[77] hay PTNS có tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ thấp hơn nhưng thời gian nằmviện tương đương với PTM [78]

Trên thực tế, PTNS có vai trò quan trọng trong điều trị VRTC ở nhữngtrường hợp chẩn đoán khó như VRTC ở người già, vị trí ruột thừa bấtthường, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [70], [79] Đối với các trường hợpVRTC phức tạp, do tỷ lệ có biến chứng sau PTNS cao hơn nên các bệnh việnthường có xu hướng PTM [80]

Trang 37

Tại Việt Nam, từ năm 1996, việc cắt bỏ ruột thừa viêm qua nội soiđược thực hiện ở một số bệnh viện lớn như Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy.Cho đến nay, PTNS cắt bỏ ruột thừa viêm đã phát triển gần khắp các tỉnhthành trong cả nước [81] Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho thấy ưu điểmcủa PTNS là thời gian trung tiện sau mổ sớm hơn, sau mổ NB có cảm giácđau nhẹ và ít hơn so với PTM; ngày thứ nhất sau mổ NB đã có thể tự thựchiện được mọi sinh hoạt cá nhân; thời gian nằm viện ngắn, trước mổ 01 ngày,sau mổ 01- 03 ngày hoặc sớm ngay trong 24h sau mổ; ngay sau khi ra viện

NB đã phục hồi được khả năng lao động, có thể lao động trở lại; ít có nhiễmkhuẩn ở thành bụng và các biến chứng vết mổ [70], [81]

1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

1.5.1 Trên thế giới

Trên thế giới, chi phí cho các DVYT đã được nghiên cứu tương đốirộng rãi, cả ở các nước có thu nhập cao cũng như các nước có thu nhập thấp

và trung bình, từ phía người cung ứng lẫn người sử dụng dịch vụ Trong số

đó, có nhiều nghiên cứu về chi phí cho điều trị VRTC, áp dụng cả phươngpháp phân tích vĩ mô và vi mô Các nghiên cứu này không chỉ đề cập đến chiphí cho điều trị VRTC mà còn đi sâu phân tích cả kết quả lâm sàng cũng nhưchi phí hiệu quả giữa hai phương pháp: phẫu thuật mở và phẫu thuật nội soi

Về chi phí thực tế cho điều trị, mặc dù mức chi phí cho phẫu thuật

VRTC có sự dao động rất lớn giữa các bệnh viện ở các nước khác nhau songhầu hết các nghiên cứu đều cho thấy PTNS có chi phí cao hơn PTM Nhìnchung, so với PTM, PTNS vẫn có chi phí - hiệu quả cao hơn, tuy nhiên, tuỳtheo điều kiện cụ thể, cần có đánh giá đầy đủ để áp dụng cho phù hợp [70]

Trong một nghiên cứu phân tích và so sánh chi phí DVYT ở 9 nướcchâu Âu, chi phí trực tiếp cho điều trị của 1.786 trường hợp VRTC độ tuổi từ14-25 điều trị tại 54 bệnh viện đã được thu thập theo phương pháp vi mô,

Trang 38

không tính chi phí vốn cũng như chi phí gián tiếp do mất thời gian và năngsuất lao động Kết quả cho thấy trung vị của tổng chi phí là 1689 EUR/NB,trung bình là 1601 EUR, thấp nhất là 200 EUR ở một bệnh viện của Ba Lanđến cao nhất là 2.920 EUR ở một bệnh viện khác của Đức Tính theo quốcgia, tổng chi phí trung bình cho một trường hợp phẫu thuật VRTC thấp nhất là466,1 EUR ở Ba Lan và cao nhất là 2.710,8 EUR ở Đan Mạch PTM có chiphí thấp hơn đáng kể so với PTNS ở tất cả các nước mặc dù có thời gian nằmviện dài hơn và tỷ số nhân lực/giường bệnh cao hơn [10]

Nghiên cứu hồi cứu của Tashiro J và cộng sự (2016) trên 91.118 NBVRTC được điều trị PTNS và 97.496 NB điều trị PTM ở Mỹ cho thấy mứcchi phí cho điều trị VRTC là 19.501 USD/NB PTNS và 13.089 USD/NBPTM Với các trường hợp VRTC có biến chứng, tổng chi phí cao hơn, lầnlượt là 32.251 USD và 28.209 USD Trong đó, chi phí cho điều trị PTNS cũngcao hơn so với PTM (7.121 USD so với 5.968 USD) [80]

Nghiên cứu của Ali R và cộng sự ở Ấn Độ (2010) cho thấy chi phí điềutrị cho một người bệnh PTNS và PTM lần lượt là 47.121 và 39.318 Rupee[78] Một nghiên cứu khác của Wu H S và cộng sự (2011) trên 1.366 trườnghợp VRTC ở Đài Loan cho thấy PTNS có chi phí cao hơn khoảng 15% so vớiPTM (37.567 Đài tệ so với 32.670 Đài tệ) Mức chênh lệch chi phí giữa điềutrị PTNS và PTM là 155 EUR/NB theo nghiên cứu của Biondi A ở Italia[73]; 370 EUR theo Kehagias I ở Hy Lạp (2008) [72] hay lên tới 1.458 USDtheo Kuwabara K và cộng sự ở Nhật Bản (2008) [77]

Đối với bệnh nhi, nghiên cứu của Serres S K và cộng sự trên 2.116 trẻ

em điều trị phẫu thuật VRTC không biến chứng tại 16 bệnh viện nhi đồng ởAnh năm 2013-2014 cho thấy tổng chi phí cũng như chi phí tiền giường caohơn ở những NB có thời gian trước và hoặc trong phẫu thuật kéo dài [82]

Trong khi đó, theo nghiên cứu của Nakhamiyayev V và cộng sự ở Mỹ(2010), tổng chi phí cho điều trị PTNS là 5.663 USD, không khác biệt so với

Trang 39

PTM với 6.031 USD [83] Nghiên cứu khác của Wu H S và cộng sự (2011) ởĐài Loan cho thấy PTNS thậm chí có chi phí giảm hơn so với nhóm PTM ởnhóm VRTC có biến chứng do rút ngắn đáng kể thời gian nằm viện [68].Thậm chí, kết quả nghiên cứu của Costa-Navarro D ở Tây Ban Nha cho thấychi phí điều trị trung bình với PTNS thấp hơn so với PTM (1.081 EUR so với1.799 EUR) nhờ rút ngắn được 1,2 ngày nằm viện [74].

Về cơ cấu chi phí, nghiên cứu của Schreyogg J ở 9 nước châu Âu cho

thấy chi phí quản lý, vận hành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí chohầu hết các quốc gia, cao nhất là ở Đan Mạch (74%) và Anh (56%) Chi phíthuốc chênh lệch hơn 10 lần giữa các nước, từ 29,4 EUR ở Pháp đến 310,8EUR ở Anh do có sự khác biệt trong quy trình chẩn đoán và điều trị Chi phíphẫu thuật ít chênh lệch, thấp hơn ở Tây Ban Nha, Hungary và Ba Lan và caonhất ở Đức, chủ yếu là do chi nhiều cho nhân lực và một phần cho chi phínguyên vật liệu [10]

Trong nghiên cứu ở Italia, khoản chi phí lớn nhất là cho trang thiết bị y

tế (TTBYT) với PTNS và tiền giường với PTM Chi phí gây mê cho PTNScũng cao hơn so với PTM (350 EUR so với 280 EUR) Mặc dù vậy, nhờ rútngắn thời gian nằm viện nên chi phí cho điều trị PTNS chỉ cao hơn 155 EUR

so với điều trị bằng PTM (2.965 EUR so với 2.810 EUR) [73]

Về chênh lệch giữa chi phí thực tế của bệnh viện với chi trả từ NB và

cơ quan bảo hiểm, có sự khác nhau đáng kể, không chỉ phụ thuộc vào mức

chi phí thực tế của CSYT mà còn phụ thuộc vào chính sách chi trả của từngnước Trong nghiên cứu của Schreyogg J., trừ các bệnh viện ở Đan Mạch lỗtrung bình 377,8 EUR/NB, các bệnh viện ở các nước còn lại đều thu được lợinhuận từ việc điều trị VRTC với mức từ 12,1 EUR ở Đức đến 2.387,4EUR/NB ở Hà Lan Mức lợi nhuận cao ở các bệnh viện của Hà Lan do cómức chi trả cao hơn gấp đôi so với thực tế của bệnh viện [10]

Trang 40

1.5.2 Ở Việt Nam

Các nghiên cứu về chi phí y tế ở Việt Nam chưa có nhiều, nhất lànhững nghiên cứu mang tính hệ thống về chi phí thực tế của bệnh viện chomột bệnh hay một dịch vụ kỹ thuật Một số nghiên cứu đã tính toán chi phícho điều trị nội trú một số bệnh nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào dànhriêng cho VRTC Với các bệnh khác, cũng chưa có một nghiên cứu nào đánhgiá đồng thời chi phí ở cả hai góc độ: CSYT và người sử dụng DVYT Phầnlớn các nghiên cứu chỉ đánh giá chi phí y tế từ phía người sử dụng Điều nàymột phần có thể do còn thiếu sự nhất quán và minh bạch về tính toán chi phícủa các CSYT trong bối cảnh chính sách về định giá DVYT chưa thực hiệntính đúng, tính đủ tất cả các khoản chi phí

1.5.2.1 Nghiên cứu về chi phí điều trị viêm ruột thừa cấp

Với bệnh VRTC, Đơn vị chính sách Bộ Y tế (2005) đã thực hiện phântích chi phí toàn bộ cho điều trị VRTC phẫu thuật mở cùng với 4 nhómbệnh/dịch vụ khác là viêm phổi ở trẻ em, phẫu thuật mổ lấy thai, đột quỵ vàchấn thương sọ não (không phẫu thuật) với 900 trường hợp cho mỗi nhóm, tại

30 bệnh viện khác nhau trên toàn quốc Kết quả cho thấy chi phí trung bìnhcho một trường hợp phẫu thuật VRTC là 1,456 triệu đồng (thời giá năm2004); dao động từ 313,1 ngàn đồng ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đến4,968 ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà Trong đó, khoản chi lớn nhất làcho thuốc và vật tư tiêu hao (758 ngàn đồng; 52%), tiếp theo là cho nhân công(415 ngàn) và chi phí hành chính (154,3 ngàn) Thời gian nằm viện trung bình

là 7,8 ngày Tại thời điểm nghiên cứu, viện phí chỉ đáp ứng được 56% tổngchi phí thực tế điều trị VRTC của các bệnh viện [84]

Với chi phí từ phía người bệnh, nghiên cứu của Trương Tấn Minh và

cộng sự về chi phí cho khám chữa bệnh tại Khoa Ngoại, Bệnh viện đa khoa(BVĐK) tỉnh Khánh Hoà năm 2010 cho thấy chi phí trung bình cho điều trị

Ngày đăng: 10/04/2020, 09:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Schreyogg J. (2008). A micro-costing approach to estimating hospital costs for appendectomy in a cross-European context. Health Econ, 17(1 Suppl): S59-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health Econ
Tác giả: Schreyogg J
Năm: 2008
11. Mogyorosy Z. and Smith P. (2005). The main methodological issues in costing health care services. A literature review. 7, CHE Research Paper. Centre for Health Economics, University of York. York, UK; 1- 244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The main methodological issues incosting health care services. A literature review
Tác giả: Mogyorosy Z. and Smith P
Năm: 2005
12. Bilde L. and Ankjổr-Jensen A. (2005). Approaches for Cost and Price Assessment in the Danish Health Sector: A description of the approaches used in practice in the Danish health sector to cost and price health services. Work Package 6, HealthBASKET project. DSI Danish Institute for Health Services Research. Copenhagen; 1-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Approaches for Cost and PriceAssessment in the Danish Health Sector: A description of the approachesused in practice in the Danish health sector to cost and price healthservices
Tác giả: Bilde L. and Ankjổr-Jensen A
Năm: 2005
13. Phillips C. J. (2005). The costs of health care. In Health Economics: An introduction for health professionals. Blackwell Publishing Ltd, 41-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In Health Economics: Anintroduction for health professionals
Tác giả: Phillips C. J
Năm: 2005
14. Barnett P. G. (1999). Review of methods to determine VA health care costs. Med Care, 37(4 Suppl Va): AS9-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Med Care
Tác giả: Barnett P. G
Năm: 1999
15. Garrison L. P., Jr., Mansley E. C., Abbott T. A., et al. (2010). Good research practices for measuring drug costs in cost-effectiveness analyses: A societal perspective: The ISPOR Drug Cost Task Force report--Part II. Value Health, 13(1): 8-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Value Health
Tác giả: Garrison L. P., Jr., Mansley E. C., Abbott T. A., et al
Năm: 2010
16. Smith M. W. and Barnett P. G. (2003). Direct measurement of health care costs. Med Care Res Rev, 60(3 Suppl): 74S-91S Sách, tạp chí
Tiêu đề: Med Care Res Rev
Tác giả: Smith M. W. and Barnett P. G
Năm: 2003
18. Drummond M. F., Sculpher M. J., Torrance G. W., et al. (2007). Methods for the economic evaluation of health care programmes. 3rd ed, Oxford University Press, Oxford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methodsfor the economic evaluation of health care programmes
Tác giả: Drummond M. F., Sculpher M. J., Torrance G. W., et al
Năm: 2007
19. Gapenski L. C. and Reiter K. L. (2016). Healthcare Finance: An Introduction to Accounting and Financial Management. 6th ed ed, Health Administration Press., Chicago Sách, tạp chí
Tiêu đề: Healthcare Finance: AnIntroduction to Accounting and Financial Management
Tác giả: Gapenski L. C. and Reiter K. L
Năm: 2016
20. Barnett P. G. (2009). An improved set of standards for finding cost for cost-effectiveness analysis. Med Care, 47(7 Suppl 1): S82-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Med Care
Tác giả: Barnett P. G
Năm: 2009
23. Gray A., Clarke P., Wolstenholme J., Worsworth S. (2011). Applied methods of cost-effectiveness analysis in health care. 1st ed ed, Oxford University Press, Oxford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Appliedmethods of cost-effectiveness analysis in health care
Tác giả: Gray A., Clarke P., Wolstenholme J., Worsworth S
Năm: 2011
24. Waters H. and Hussey P. (2004). Pricing Health Services For Purchasers: A Review of Methods and Experiences. HNP Discussion paper. The World Bank. Washington Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pricing Health Services ForPurchasers: A Review of Methods and Experiences
Tác giả: Waters H. and Hussey P
Năm: 2004
27. Ceri J. Phillips (2005). Health Economics: An introduction for health professionals. Blackwell Publishing Ltd. Massachusetts Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health Economics: An introduction for healthprofessionals
Tác giả: Ceri J. Phillips
Năm: 2005
28. Beecham J. and Knapp M. (2001). Costing psychiatric interventions.Measuring mental health needs. Gaskell, London, 200-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring mental health needs
Tác giả: Beecham J. and Knapp M
Năm: 2001
29. Waters H. R. and Hussey P. (2004). Pricing health services for purchasers-a review of methods and experiences. Health Policy, 70(2):175-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health Policy
Tác giả: Waters H. R. and Hussey P
Năm: 2004
30. Greger R. E. (2000). Medical office survival. Activity based costing for physicians. Md Med, 1(3): 24-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Md Med
Tác giả: Greger R. E
Năm: 2000
31. Paulus A., Van Raak A. and Keijzer F. (2002). Core articles: ABC: The pathway to comparison of the costs of integrated care. Public Money and Management, 22(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Moneyand Management
Tác giả: Paulus A., Van Raak A. and Keijzer F
Năm: 2002
32. Velmurugan M. S. (2010). The success and failure of activity-based costing systems. Journal of Performance Management, 23(2): 1-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Performance Management
Tác giả: Velmurugan M. S
Năm: 2010
33. Udpa S. (2001). Activity cost analysis: A tool to cost medical services and improve quality of care. Manag Care Q, 9(3): 34-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manag Care Q
Tác giả: Udpa S
Năm: 2001
34. Shepard D. S., Hodgkin D. and Anthony Y. E. (2000). Analysis of hospital costs: A manual for managers. The World Health Organization.Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis ofhospital costs: A manual for managers
Tác giả: Shepard D. S., Hodgkin D. and Anthony Y. E
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w