Việc đánh giá công nghệ xử lý CTNH bằng phương pháp thiêu đốt tại Việt Nam sẽ giúp các nhà quản lý môi trường và các doanh nghiệp lựa chọn được công nghệ xử lý CTNH vừa hiệu quả về
Trang 1-
Phan Thanh Giang
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI BẰNG LÒ ĐỐT TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2-
Phan Thanh Giang
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI BẰNG LÒ ĐỐT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học Môi Trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
1.1 Tổng quan về CTNH 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Nguồn và phân loại chất thải nguy hại 4
1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đến môi trường 5
1.2 Quản lý CTNH 7
1.3 Một số công nghệ xử lý CTNH 9
1.3.1 Hiện trạng một số công nghệ xử lý CTNH điển hình ở Việt Nam 9 1.3.1.1 Công nghệ lò đốt 9
1.3.1.2 Chôn lấp CTNH 12
1.3.1.3 Hóa rắn (bê tông hóa) 14
1.3.1.4 Tái chế dầu thải 14
1.3.1.5 Xử lý bóng đèn thải 16
1.3.1.6 Xử lý chất thải điện tử 17
1.3.1.7 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 18
1.3.1.8 Bể đóng kén 19
1.3.1.9 Các công nghệ khác 20
1.3.2 Một số công nghệ xử lý chất thải nguy hại trên thế giới 20
1.4 Tổng quan về đánh giá công nghệ 21
1.4.1 Tổng hợp các nghiên cứu về các tiêu chí và quy trình đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý chất thải nói chung trên thế giới 21
1.4.2 Các quy định pháp lý về đánh giá công nghệ xử lý chất thải tại Việt Nam 25
1.4.3 Một sốhướng dẫn về đánh giá công nghệ xử lý chất thải tại Việt Nam 28
1.4.4 Tổng hợp và đề xuất tiêu chí đánh giá công nghệ lò đốt 28
CHƯƠNG 2 33
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.2.1 Phương pháp khảo sát hiện trường 33
Trang 42.2.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 34
2.2.4 Phương pháp kế thừa 34
2.2.5 Phương pháp chuyên gia 34
2.2.6 Áp dụng bộ tiêu chí để đánh giá công nghệ 34
CHƯƠNG 3 37
3.1 Đánh giá diễn biến CTNH ở Việt Nam 37
3.1.1 Hiện trạng phát sinh và thu gom chất thải nguy hại ở Việt Nam 37
3.1.2 Đánh giá diễn biến CTNH của Việt Nam 39
3.2 Hiện trạng công nghệ lò đốt CTNH đã được cấp phép tại Việt Nam 42 3.2.1 Công nghệ lò đốt CTCNNHđã được cấp phép hoạt động 43
3.2.2 Hiện trạng công nghệ lò đốt CTYTNH 47
3.3 Đánh giá các công nghệ lò đốt CTNH tại Việt Nam 48
3.3.1 Đánh giá nhóm công nghệ lò đốt CTCNNH 48
3.3.1.1 Công nghệ lò đốt CTCNNHmột cấp 48
3.3.2 Đánh giá nhóm công nghệ lò đốt CTYTNH 77
3.4 Xu thế áp dụng công nghệ mới trong thiêu đốt CTNH 93
3.5 Đề xuất công nghệ đốt phù hợp điều kiện Việt nam 94
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 1 DANH SÁCH CÁC ĐƠN VỊ DO TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG CẤP PHÉP 99
PHỤ LỤC 2MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LÒ ĐỐT 108
Trang 5DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÊN VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
CTCNNH chất thải công nghiệp nguy hại
CTYTNH chất thải y tế nguy hại
TÊN VIẾT TẮT TIẾNG ANH
duyệt công nghệ môi trường
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số công nghệ xử lý CTNH đã được Tổng cục Môi
trường cấp phép hoạt động
9
Bảng 1.3 Hệ thống các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá
sự phù hợp của công nghệ lò đốt
28
Bảng 3.1 Tình hình phát sinh và thu gom CTNH năm 2011 37 Bảng 3.2 Danh mục lò đốt CTCNNH đã được Tổng cục Môi trường
cấp phép
43
Bảng 3.3 Kết quả phân tích khí thải lò đốt một cấp 48 Bảng 3.4 Kết quả phân tích tro xỉ lò đốt một cấp 48 Bảng 3.5 Kết quả đánh giá công nghệ lò đốt CTCNNH một cấp 48 Bảng 3.6 Kết quả phân tích khí thải lò đốt hai cấp tĩnh 57 Bảng 3.7 Kết quả phân tích tro xỉ lò đốt hai cấp tĩnh 57 Bảng 3.8 Kết quả đánh giá lò đốt hai cấp tĩnh 57 Bảng 3.9 Kết quả phân tích khí thải lò đốt hai cấp quay 67 Bảng 3.10 Kết quả phân tích tro xỉ lò đốt hai cấp quay 67 Bảng 3.11 Kết quả đánh giá lò đốt hai cấp quay 67 Bảng 3.12 Kết quả đánh giá công nghệ lò đốt CTYTNH hai cấp
không có hệ thống xử lý khí thải
Trang 7Hình 1.6 Dây chuyền nghiền bản mạch điện tử (trái)
và bàn phá dỡ đơn giản (phải)
Hình 3.7 Sơ đồ lò đốt CTNH có buồng đốt sơ cấp dạng quay 46
Hình 3.10 Sơ đồ công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp 55 Hình 3.11 Sơ đồ công nghệ lò đốt hai cấp quay 66 Hình 3.12 Sơ đồ khối lò đốt hai cấp không có hệ thống xử lý khí thải 75
Trang 8Hình 3.14 Lò đốt theo công nghệ plasma 89
Trang 9MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của công nghiệp, lượng chất thải rắn tạo ra ngày càng nhiều, đặc biệt là các CTNH Khác với các loại chất thải khác, CTNH không thể xử lý theo các phương pháp thông thường như chôn lấp tại bãi rác sinh hoạt, làm phân hữu cơ do đặc tính nguy hại của chúng Vì vậy,CTNHphải được phân loại, thu gom và xử lý theo công nghệ riêng, phù hợp với đặc tính của từng loại CTNH Việc đánh giá công nghệ xử lý CTNH bằng phương pháp thiêu đốt tại Việt Nam sẽ giúp các nhà quản lý môi trường và các doanh nghiệp lựa chọn được công nghệ xử lý CTNH vừa hiệu quả về mặt kinh tế, đảm bảo an toàn về mặt môi trường và xã hội, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam
Công nghệ xử lý CTNH của Việt Nam trong những năm vừa qua, đặc biệt sau khi có sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản dưới Luật về quản lý CTNH như thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm
2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục CTNH đã có những bước phát triển đáng kể về công tác quản lý CTNH
Nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản lý CTNH, ngày 14 tháng
4 năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý CTNH, thay thế Thông tư số 12/2006/TT-BTNMTvà ghép danh mục CTNH.Sau khi Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT có hiệu lực, về tình hình quản lý CTNH được cải thiện rõ rệt, đặc biệt về mặt công nghệ xử lý, cụ thể công nghệ xử lý CTNH đã được đầu
tư phát triển cả về chất và lượng Nhưng nhìn chung, các công nghệ hiện có còn chưa thực sự hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng để xử lý cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ, nên chỉ mới đáp ứng được phần nào nhu cầu xử
lý CTNH phát sinh hiện nay
Theo thống kê từ báo cáo quản lý CTNH của các cơ sở hành nghề quản lý CTNH đã được Tổng cục Môi trường cấp phép, phần lớn lượng CTNH được thu gom, xử lý bằng phương pháp thiêu hủy trong lò đốt như dung môi, dầu thải, cặn sơn, chất thải rắn, bùn thải, chất thải y tế,…và có khoảng hơn 70% cơ sở được cấp phép hành nghề quản lý CTNH có trang bị lò đốt, một số cơ sở đầu từ
2 đến 3 lò đốt với công suất phổ biến từ 500 – 2.000 kg/h Tuy nhiên, về quy trình công nghệ cũng như hiệu quả xử lý của các lò đốt đã được cấp phép
Trang 102
hoạt động rất khác nhau, một số lò đốt có công nghệ cũ(thời gian hoạt động trên
10 năm) nên hiệu quả xử lý không cao gây ảnh hưởng đến môi trường, thực tế một số lò đốt CTNH có công nghệ cũ hoạt động theo đúng nghĩa là chuyển đổi trạng thái của chất thải từ rắn sang khí và cuối cùng được giữ lại trong dung dịch hấp thụ của hệ thống xử lý khí thải, một phần nhỏ thải ra môi trường ở trạng thái khí Ngoài ra, đối với lò đốt chất thải y tế, phần lớn các lò đốt này không được trang bị hệ thống xử lý khí thải trừ một số lò đốt chất thải y tế tập trung như Hà Nội, Thành phố Hồ Chì Minh, Đà Nẵng,
Xuất phát từ nguyên nhânnêu trên, nhằm tăng cường công tác quản lý CTNH và hạn chế các tác động xấu đến môi trường từ hoạt động xử lý
CTNH,học viên đã đề xuất đề tài “Nghiên cứu đánh giá công nghệ xử lý
CTNH bằng lò đốt tại Việt Nam”nhằm nghiên cứu, đánh giá các lò đốt CTNH
đang hoạt động trên cơ sở đó đề xuất công nghệ lò đốt đảm bảo xử lý hiệu quả CTNH và phù hợp với điều kiện của Việt Nam
Nội dung của nghiên cứu nhằm:
- Tổng hợp, đánh giá tình hình phát sinh CTNH ở Việt Nam
- Đánh giá hiệu quả thiêu hủy CTNH bằng lò đốt tại Việt Nam
- Đề xuất công nghệ lò đốt phù hợp điều kiện Việt Nam
Trang 11Philippines: CTNH là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính cao, có thể cháy, nổ và gây nguy hiểm cho con người và động vật Canada: CTNH là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường Những chất này phải yêu cầu kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó
Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (12/1985): Ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, CTNH là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác
Mỹ: Chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn và các bình khí) có thể được coi là CTNH khi:
- Nằm trong danh mục CTNH do EPA đưa ra (gồm 4 danh sách)
- Có một trong 4 đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy nổ, ăn mòn, phản ứng và độc tính
- Được chủ thải (hay nhà sản xuất) công bố là CTNH
Bên cạnh đó CTNH còn gồm các chất gây độc tính đối với con người ở liều lượng nhỏ Đối với chất chưa có các chứng minh của nghiên cứu dịch tễ trên con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán độc tính của chúng lên con người
Theo UNEP: CTNH là những chất thải (không kể chất thải phóng xạ) có hoạt tính hóa học, có tính độc hại, cháy nổ, ăn mòn gây nguy hiểm đến sức khỏe hoặc môi trường khi hình thành hoặc tiếp xúc với các chất thải khác Chất
Trang 124
thải không bao gồm trong định nghĩa trên:
- Chất thải phóng xạ được xem là chất thải độc hại nhưng không bao gồm trong định nghĩa này bởi vì hầu hết các quốc gia quản lý và kiểm soát chất phóng xạ theo quy ước, điều khoản, quy định riêng
- Chứa chất thải rắn sinh hoạt có thể gây ô nhiễm môi trường do chứa một
ít CTNH tuy nhiên nó được quản lý theo hệ thống chất thải riêng Ở một số quốc gia đã sử dụng thu gom tách riêng CTNH trong rác sinh hoạt
Tại Việt Nam, đứng trước nguy cơ bùng nổ CTNH là hệ quả của việc phát triển công nghiệp, các văn bản pháp luật quy định quản lý CTNH được ban hành và sửa đổi bổ sung cho phù hợp với sự phát triển kinh tế
Việt Nam: Theo luật bảo vệ môi trường năm 2005, CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác (Khoản 11, Điều 3, Chương 1 Luật Bảo Vệ Môi Trường)
1.1.2.Nguồn và phân loại CTNH [1]
Theo như định nghĩa, một chất thải được coi là CTNH khi có chứa mộttrong các yếu tố nguy hạinêu trên, nên phạm vi có liên quanđến CTNH rất rộng và được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, gành khác nhau, cụ thể về chất thải phóng xạ do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định, thu gom, phân loại chất thải y tế lây nhiễm do Bộ Y tế quy định, CTNH không bao gồm chất thải phóng xạ do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
Do vậy, trong khuân khổ của Luận văn này học viên chỉ đề cập các CTNH được quy định theo Thông tư số 12/2011/TT - BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Theo quy định tại Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT,CTNH được phân loại theo nguồn và dòng thải chính gồm:
-Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than
-Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng hoá chất
Trang 13-Chất thải từ ngành luyện kim và đúc kim loại
-Chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thuỷ tinh
-Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, gia công kim loại và các vật
liệu khác
-Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng các sản
phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), chất kết dính, chất bịt kín và mực in
-Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột
giấy
-Chất thải từ ngành chế biến da, lông và dệt nhuộm
-Chất thải xây dựng và phá dỡ (bao gồm cả đất đào từ các khu vực bị ô
nhiễm)
-Chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý chất thải, nước thải và xử lý nước
cấp
-Chất thải từ ngành y tế và thú y (trừ chất thải sinh hoạt từ ngành này)
-Chất thải từ ngành nông nghiệp
- Thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng và chất thải
từ hoạt động phá dỡ, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện giao thông vận tải
-Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác
-Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi
chất lạnh và chất đẩy (propellant)
-Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ
-Các loại chất thải khác
1.1.3 Ảnh hưởng của CTNH đến môi trường[7, 8]
Những vấn đềtác động môi trường cơbản liên quan đến việc quản lý
CTNH không đúng qui cách, có liên quan đến tác động tiềm tàng đối với môi
trường, đặc biệt môi trường nước mặt và nước ngầmtừ đó dẫn tới ảnh hưởng đến
sức khỏe của con người
Theo phân loại có rất nhiều loại CTNH, mức độ ảnh hương của mỗi
CTNH đến môi trường cũng khác nhau tùy thuộc vào đặc tính nguy hại của mỗi
chất Nhưng nhìn chung các CTNH thường có tính bền, được tích lũy trong môi
trường và bằng nhiều con đường khác nhau, các CTNH này xâm nhập vào cơ
Commented [NMK1]: Bổ sung tài liệu tham khảo
Trang 146
thể con người gây ra các bệnh nan y dẫn tới tử vong như ung thư, quái thai, Sau đây là một sốCTNH điển hình có tác động lớn đến môi trường và sức khỏe con người:
Các hợp chất hữu cơ:
Các hợp chất hữu cơ thường rất độc với cơ thể người Một số hợp chất hữu cơ như benzen và PAH có thể là nguyên nhân gây bệnh ung thư đối với con người Trong các hợp chất hữu cơ phải kể đến hợp chất đioxin và furan là những chất rất độc, ở hàm lượng thấp cũng gây nên các bệnh về da, phụ nữ có thai khi tiếp xúc với các chất này sẽ gây ra các bệnh quái thaihoặc sinh con thiếu tháng.Nhiễm độc nặng sẽ gây nên các bệnh về gan, máu, kể cả ung thư và dẫn đến tử vong
Khi động vật bị nhiễm đioxin và furan sẽ giảm trọng lượng tới 50 % và sẽ chết trong vòng 2 - 3 tuần
PCB:
Phơi nhiễm PCB không gây ra các biểu hiện xấu đến sức khỏe ngay tại thời điểm tiếp xúc PCB được tích tụ trong cơ thể đến một ngưỡng nhất định mới phát sinh các triệu chứng có thể nhận biết Theo một số nghiên cứu, gan sẽ
là bộ phận đầu tiên chịu tác động của phơi nhiễm PCB; phơi nhiễm PCB sẽ gây
ra tổn thương như nổi mụn, cháy da, bỏng mắt, PCB là hóa chất thuộc nhóm 2A có khả năng gây ung thư cho con người
PCB được tổng hợp từ những năm 30 và sử dụng như một loại phụ gia cách điện và dẫn nhiệt lý tưởng trong công nghiệp và dân dụng Tuy nhiên, các nước trên thế giới đã đồng loạt dừng sản xuất PCB từ những năm 70 do hợp chất này được phát hiện gây độc với con người và môi trường Mặc dù vậy, PCB vẫn còn có mặt trong một số thiết bị và vật liệu điện và công nghiệp cũng như dân dụng một cách vô tình hoặc cố ý do đặc tính ưu việt của chúng Ước tính hiện có
27 - 30 nghìn tấn dầu có chứa PCB đã được nhập khẩu vào Việt Nam, trong số
đó, chỉ có 2 nghìn tấn dầu được phát hiện có chứa PCB theo kết quả kiểm kê năm 2006 và đã được nhận diện, cách ly Số còn lại có thể vẫn đang được sử dụng trong các thiết bị điện, dân dụng, tại các cơ sở lưu giữ, tái chế hoặc đã và đang được phát thải ra môi trường, tích lũy trong chuỗi thức ăn và cơ thể con người
Theo Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ, người dân có nguy cơ phơi nhiễm PCB cao nhất thông qua con đường tiêu hóa, cụ thể là thức ăn Khả năng phơi nhiễm PCB do tiếp xúc với trầm tích và đất được đánh giá ở mức trung
Trang 15bình Các hình thức phơi nhiễm PCB khác như từ không khí, nước, nước uống là thấp Người lao động tại các cơ sở có sử dụng thiết bị, vật liệu nhiễm PCB còn
có nguy cơ phơi nhiễm PCB khi tiếp xúc qua da và qua đường hô hấp
Kim loại nặng:
Kim loại nặng là khái niệm để chỉ các kim loại có nguyên tử lượng cao, thường có độc tính đối với sự sống và thường có liên quan vấn đề ô nhiễm môi trường Nguồn gốc phát thải của kim loại nặng có thể là tự nhiên (như As), hoặc
từ các hoạt động của con người, chủ yếu là từ hoạt động sản xuất công nghiệp (chất thải công nghiệp) và từ nông nghiệp, hàng hải (tràn dầu)…
Việc sử dụng nhiều loại chế phẩm trong công, nông nghiệp làm môi trường nước và đất ở nhiều vùng, nhất là trong cặn lắng của các dòng sông, bị nhiễm kim loại nặng.Có một số trường hợp hợp chất kim loại thụ động và đọng lại trong đất, song một số hợp chất có thể hòa tan dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau, nhất là do độ chua của đất, của nước mưa Điều này tạo điều kiện để các kim loại nặng có thể phát tán rộng vào nguồn nước mặt, nước ngầm và gây ô nhiễm đất
Một số chất tẩy rửa gia dụng có chứa các tác nhân tạo phức mạnh (như EDTA) khi thải ra góp phần làm tăng khả năng phát tán của kim loại nặng trong môi trường
Các kim loại nặng có mặt trong nước, đất qua nhiều giai đoạn khác nhau
và đi vào chuỗi thức ăn của con người Chẳng hạn các vi sinh vật có thể chuyển thủy ngân (Hg) thành hợp chất metyl thủy ngân (CH3)2Hg, sau đó qua động vật phù du, tôm, cá… sau đó thâm nhập vào con người qua đường thức ăn Sự kiện ngộ độc hàng loạt ở vịnh Manimata (Nhật Bản) năm 1953 là một minh chứng rất rõ về quá trình nhiễm thủy ngân công nghiệp vào thức ăn của con người
Khi đã nhiễm vào cơ thể người và động vật, kim loại nặng có thể tích tụ lại trong các mô Đồng thời với quá trình đó cơ thể lại đào thải được một nửa lượng kim loại nặng khỏi cơ thể được xác định bằng khái niệm chu kỳ bán thải sinh học, ví dụ thủy ngân chu kỳ này vào khoảng 80 ngày, với cadimi là hơn 10 năm Điều này cho thấy cadimi tồn tại rất lâu trong cơ thể nếu bị nhiễm phải
1.2 Quản lý CTNH [5, 14]
Mặc dù bắt đầu được quan tâm từ năm 1999 với sự ra đời của Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên, phải đến năm 2006, công tác quản lý CTNH mới được thực sự triển khai có hiệu quả và rõ nét trong thực tế như sự ra đời của
Trang 168
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản dưới Luật, đặc biệt là Thông
tư số 12/2006/TT-BTNMT (hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề và mã số quản lý CTNH) và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT (ban hành Danh mục CTNH) của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hiện nay,hai văn bản này đã được sửa đổi và tích hợp thành Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý CTNH Với khung chính sách tương đối cơ bản như vậy, công tác quản lý CTNH đã có những bước tiến đột biến trong vòng
5 năm vừa qua Số lượng chủ nguồn thải CTNH được đăng ký với Sở Tài nguyên và Môi trường tăng lên rõ rệt, ví dụ theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng Sổ đăng ký chủ nguồn thải đã cấp được từ năm 2007 tăng từ vài chục lên gần một ngàn sau năm đầu tiên triển khai áp dụng và đến nay đã đạt gần 3.600 Sổ Trên cả nước, con số Sổ đăng ký chủ nguồn thải đã cấp được lên tới gần 15 ngàn Sổ Số lượng các đơn vị vận chuyển, xử lý CTNH được cấp phép đã tăng lên nhanh chóng, trước năm 2007 chưa có cơ sở xử lý CTNH nào đi vào hoạt động, tuy nhiên, hiện nay trên cả nước đã có 76 cơ sở hoạt động quản lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trườngcấp phép và gần 150 cơ sở do địa phương cấp phép Các cơ sở này góp phần quan trọng trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH đạt tiêu chuẩn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Bên cạnh việc xây dựng Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT, Tổng cục Môi trường còn chủ động, tích cực xây dựng và ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng cho các loại hình công nghệ xử lý CTNH phổ biến như: QCVN 07:2009/BTNMT ngưỡng CTNH, QCVN 41:2011/BTNMT về đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng, QCVN 30:2012/BTNMT quy định về lò đốt chất thải công nghiệp, QCVN 02:2012/BTNMT quy định về lò đốt chất thải rắn
y tế,QCVN 55:2013/BTNMT quy định về thiết bị hấp chất thải y tế lây nhiễm,QCVN 56:2013/BTNMT quy định về tái chế dầu thải Các văn bản này cùng với Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT đã trở thành những công cụ quản lý
cơ bản và hiệu quả về CTNH và được áp dụng rộng rãi trên toàn quốc
Về hoạt động quản lý nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường giao Tổng cục Môi trường là đơn vị quản lý nhà nước về các vấn đề môi trường Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường - Tổng cục Môi trường là đơn vị trực tiếp quản lý về chất thải trong đó có mảng về CTNH Các Sở Tài nguyên và Môi trường tại 63 tỉnh thành cũng đã xây dựng Chi cục Bảo vệ môi trường và có phòng ban kiêm nhiệm chức năng quản lý CTNH tại địa phương Như vậy,
Trang 17mảng CTNH đã được cơ bản thống nhất về mặt quản lý nhà nước trên phạm vi toàn quốc
1.3 Một số công nghệ xử lý CTNH [9]
1.3.1 Hiện trạng một số công nghệ xử lý CTNH điển hình ở Việt Nam
Các công nghệ xử lý CTNH đã được tổng cục Môi trường cấp phép được
tóm tắt trong bảng 1.1 dưới đây
Bảng 1.1 Các công nghệ xử lý CTNH đã được Tổng cục Môi trương cấp
phép hoạt động
STT Tên công nghệ Số cơ sở áp dụng
Số mô đun hệ thống Công suất
1 Lò đốt tĩnh hai cấp 33 45 50 - 2000 kg/h
2 Lò đốt quay 01 01 21 tấn/ngày
3 Đồng xử lý trong lò nung xi măng 2 2 15 - 30 tấn /h
5 Hóa rắn (bê tông hóa) 29 31 1 – 5 m 3 /h
6 Xử lý, tái chế dầu thải 22 23 3-20 tấn/ngày
7 Xử lý bóng đèn thải 23 23 0,2 -10 tấn/ngày
8 Xử lý chất thải điện tử 16 17 0,3 – 5 tấn/ngày
9 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 18 20 0,5 – 200 tấn/ngày
10 Bể đóng kén (thể tích 500 m 3 /bể) 01 10 5.000 m 3
Nguồn: Tổng hợp từ các bộ hồ sơ đăng ký hành nghề quản lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp
phép
1.3.1.1 Công nghệ lò đốt
Nguyên lý của công nghệ thiêu đốt
Quá trình đốt CTNH là quá trình oxy hoá hóa học biến đổiCTNH bằng oxy không khí ở nhiệt độ cao Lượng oxy sử dụng theo lý thuyết được xác định theo phương trình cháy:
CTNH + O2 → Sản phẩm cháy + Q (nhiệt) Sản phẩm cuối cùng của quá trình đốt bao gồm: Bụi, NOx, CO, CO2, SOx, THC, HCl, HF, hơi nước và tro xỉ Để đạt được hiệu quả cao, quá trình cháy phải tuân thủ theo nguyên tắc “3 T”, nghĩa là đáp ứng yêu cầu về nhiệt độ (Temperature), độ xáo trộn (Turbulence) và thời gian lưu cháy (Time)
- Nhiệt độ (Temperature): Để đảm bảo việc thiêu huỷ triệt để CTNH thì quá
Trang 1810
trình thiêu huỷ phải được thực hiện qua hai giai đoạn:
+ Nhiệt phân (thiêu đốt sơ cấp): Là quá trình nhiệt phân (khí hóa) chất thải ở nhiệt độ >650oC
+ Thiêu huỷ thứ cấp: Thiêu huỷ hoàn toàn hỗn hợp khí hoá từ quá trình thiêu đốt sơ cấp tạo ra ở nhiệt độ >1.050oC đối với CTNH không có chứa thành phần nguy hại đặc biệt; đối với chất thải có chứa nhóm halogen hữu cơ, nhiệt độ thiêu hủy phải >1.200oC
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thiêu hủy của lò đốt,nếu nhiệt
độ quá cao, lưu lượng khí sinh ralớn, ảnh huởng đến thời gian lưu khí trong buồng thứ cấp, làm giảm sự tiếp xúc giữa không khí và chất thải, dẫn tới hiểu quả cháy không hoàn toàn và khí thải ra có màu đen, nồng độ các chất ô nhiễm như CO, THC trong khí thải cao Nếu nhiệt độ không đủ cao, phản ứng sẽ xảy ra không hoàn toàn và sản phẩm khí thải cũng có khói đen Vì vậy, nếu nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến hiệu quả thiêu hủy CTNH của lò đốt
- Độ xáo trộn (Turbulence): Để tăng cường hiệu quả tiếp xúc giữa CTNH cần đốt và chất oxy hoá, có thể đặt các tấm chắn trong buồng đốt hoặc tạo góc nghiêng thích hợp giữa dòng khí với béc phun để tăng khả năng xáo trộn
Độ xáo trộn có thể đánh giá thông qua yếu tố xáo trộn:
F = 100%*[lượng không khí thực tế]/[lượng không khí lý thuyết]
Trong đó: F là yếu tố xáo trộn F càng lớn, hiệu quả xử lý càng cao
- Thời gian (Time): Thời gian lưu cháy là thời gian dòng khí lưu chuyển từ điểm vào đến điểm ra của buồng đốt thứ cấp (theo QCVN 30:2012/BTNMT) Theo quy định thì thời gian lưu cháy tối thiểu là 2 s, với thời gian này thì khí đó mới đảm bảo thiêu hủy hoàn toàn hỗn hợp khí hóa từ buồng đốt sơ cấp chuyển vào thành CO2 và H2O, đồng thời hạn chế quá trình tái tạo đioxin, furan
Nếu được tiến hành đúng quy cách, quá trình đốt có khả năng phá hủy toàn
bộ các độc chất hữu cơ trong CTNH bằng cách phá hủy các mối liên kết hóa học của chúng và đưa chúng trở lại dạng các nguyên tố hợp thành ban đầu, qua đó giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn các độc tính của chúng Công nghệ thiêu đốt góp phần hạn chế thể tích của CTNH cần phải chôn lấp (giảm thể tích của CTNH đến 80 - 90%)
Công nghệ đốt là một quá trình xử lý khá phức tạp Trong quá trình cháy, các chất hữu cơ dạng rắn hoặc lỏng sẽ bị chuyển đổi sang pha khí Các khí này
sẽ tiếp tục được thiêu hủy ở nhiệt độ thích hợp tương ứng với tính chất của
Trang 19CTNH tại buông đốt thứ cấp,các hợp chất hữu cơ của chúng sẽ bị nhiệt phân thành các nguyên tử thành phần Các nguyên tử này kết hợp với oxy và tạo nên các khí bền vững, các khí này sau khi qua các thiết bị kiểm soát ô nhiễm sẽ được thải vào khí quyển
Các thành phần khí bền vững sinh ra từ việc đốt các hợp chất hữu cơ chủ yếu là CO2 và H2O Tuy nhiên, tùy thuộc vào thành phần của CTNH, một lượng nhỏ CO, NOx, HCl, và các khí khác có thể được hình thành Các chất khí này là nguyên nhân tiềm ẩn gây nguy hại sức khỏe con người và môi trường
Việc quản lý và thải bỏ các kim loại, tàn tro và các sản phẩm phụ của quá trình đốt cũng có thể gây những tác hại như đã đề cập Tàn tro dễ lắng, trơ, thành phần chủ yếu là carbon, các muối và các kim loại nặng Trong quá trình đốt, hầu hết tàn tro sẽ tập trung ở đáy của buồng đốt sơ cấp và một phần các hạt tro kích thước nhỏ (vật chất dạng hạt mà có thể có các kim loại kèm theo) cũng
có thể bị cuốn theo dòng khí lên buông đốt thứ cấp và được tách ra bằng thiết bị lọc bụi Xyclon (còn gọi là tro bay) Khi lớp tro này được lấy ra khỏi buồng đốt
nó có thể vẫn làCTNH do trong tro xỉ có chứa các kim loại nặng
Hệ thống kiểm soát khí thải trong quá trình đốt
Khí và bụi thải phát sinh trong quá trình đốt CTNH có thể được xử lý bằng các loạithiết bị kiểm soát và được phân loại thành 4 dạng sau đây:
- Lọc bụitĩnh điện, lọc vải
- Tách ly nguồn thải, kiểm soát quá trình đốt, xử lý khí (kiểm soát NOx)
- Tách ly nguồn thải, tháp rửa khí hoặc lọc khô (kiểm tra SO2 và hơi acid)
- Kiểm soát quá trình đốt (kiểm soát CO)
Do đó, khi ápdụng phương pháp nhiệt để xử lý CTNH, trong quá trình xử lý bằng nhiệt các thiết bị phải đượctrang bị hệ thống kiểm soát phát thải Đối với
ô nhiễm không khí các chất ô nhiễm cần kiểmsoát là: NOx, SO2, CO,bụi,
- Khí NOx: Tồn tại trong không khí dưới 2 dạng là: NO và NO2 NOx hình thành từ 2nguồn: Nguồn thứ 1 hình thành do phản ứng giữa nitơ và oxy không khí dưới tác dụngcủa nhiệt; nguồn thứ 2 hình thành do phản ứng oxy và nitơ hữu
cơ có trong thành phần các loạinhiên liệu sử dụng NOx là tác nhân giúp cho việc hình thành chất PAN (Peroxyl AcetalNitrate) gây nên hiện tượng sương mù hóa chất
- Khí SO2: Hình thành do quá trình đốt nhiên liệu có chứa lưu huỳnh Khí
SO2 kích thích hệhô hấp, gây nên các bệnh như viêm mũi, mắt, viêm họng
Trang 2012
Ở nồng độ cao, SO2 có thể là tácnhân gây nên bệnh tật hoặc gây tử vong đối với những người đã mắc các chứng bệnh liên quanđến phổi như là viêm phế quản hay cuống phổi
- Khí CO: Hình thành do quá trình đốt CTNHcó chứa carbon trong điều kiện thiếuoxy, khi sự cung cấp oxy không đầy đủ CO phản ứng với hemoglobin trong máu tạo thànhcarboxylhemoglobyl (HbCO), gây ức chế phản ứng giữa hemoglobin và oxy Cơ thể con ngườichỉ thích ứng với oxyhemoglobin (HbO2), oxy sẽ được chuyển đến các mô trong cơ thể Sựthiếu hụt oxy sẽ gây nên hiện tượng nhức đầu, chóng mặt
- Bụi: Hình thành do quá trình đốt không hoàn toàn nhiên liệu hoặc là do đặc tính vật lýcủa các vật liệu không cháy Bụi làm giảm thị giác và ảnh hưởng đến sức khỏe Bụi có kíchthước nhỏ hơn 10 μm gọi là bụi hô hấp bởi vì nó có thể đi sâu vào trong phổi
Sau đây là hình ảnh về lò đốt CTNH hai cấp tĩnh đã được Tổng cục Môi trường cấp phép hoạt động
Hình 1.1 Lò đốt CTNH
1.3.1.2 Chôn lấp CTNH
Công nghệ này hiện nay đã được áp dụng ở Hà Nội, Bình Dương, Phú Thọ, Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi với thểtích của mỗi hầm chôn lấp từ 2.000 m3- 10.000 m3
Bãi chôn lấp CTNH, hay thực chất là các hầm chôn lấp, được thiết kế theo quy định tại Tiêu chuẩn xây dựng TCXDVN 320:2004 về Bãi chôn lấp
Trang 21CTNH- Tiêu chuẩn thiết kế Việc vận hành bãi chôn lấp CTNH thực hiện trên cơ sở Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07 tháng 8 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Ưu điểm của các hầm chôn lấp CTNH có khả năng cô lập các CTNH chưa
có khả năng xử lý bằng công nghệ khác, công suất lớn và giá thành xử lý khá rẻ
so với nhiều phương pháp xử lý khác như thiêu đốt Hơn nữa, CTNH có khả năng lấylên để xử lý nếu có công nghệ xử lý phù hợp Các hầm chôn lấp đều có mái che kín trong quá trình vận hành, nên biện pháp này có tính chất là đóng kén hơn là chôn lấp, CTNH đưa vào hầm chôn lấp thường ở trạng thái rắn khô nên ít
có khả năng phát sinh nước rò rỉ.Nhưng để đảm bảo, các hầm chôn lấp vẫn được trang bị hệ thống thu gom nước rò rỉ
Tuy nhiên, phương pháp này khá tốn diện tích, CTNH không được xử lý triệt để, vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ,nên cần giám sát lâu dài sau khi đóng hầm
Hiện nay, hầm chôn lấp CTNH chưa được triển khai rộng do phải đảm bảo các điều kiện ngặt nghèo, hay có thể nói là bất khả thi về quy định khoảng cách với các khu dân cư theo TCXDVN 320:2004 (khoảng cách tối thiểu 5 km với khu đô thị) Một điều cần quan tâm là theo TCXDVN 320:2004 thì yêu cầu CTNH phải được hoá rắn, ổn định hoá, thì hiện nay bị hiểu thành phải được bê tông hoá trước khi cho vào chôn lấp Như vậy, nếu đã bê tông hoá như trình bày ở mục 1.3.1.3 đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng CTNH thì không cần thiết phải đưa vào hầm chôn lấp CTNH, vì hóa rắn là phương pháp xử lý CTNH Sau đây là hình ảnh về hầm chôn lấp CTNH đã được Tổng cục Môi trường cấp phép hoạt động
Hình 1.2 Hầm chôn lấp CTNH
Trang 2214
1.3.1.3 Ổn đinh - hóa rắn
Công nghệ này được sử dụng rất phổ biến, phần lớn cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép có trang bị hệ thống hóa rắn, với công suất trung bình từ 1 - 5 m3/h
Đặc điểm của công nghệ là sử dụng CTNH kết hợp với xi măng, cát, sỏi, nước để đóng rắn các CTNH trơ, vô cơ như tro xỉ, tránh phát tán các thành phần nguy hại ra môi trường Hiện nay, đang phổ biến hai công nghệ là hoá rắn có nén ép cưỡng bức (sử dụng máy ép thuỷ lực để ép chặt cốt liệu bê tông như sản xuất gạch block) và hoá rắn thông thường (đổ bê tông tự nhiên) Cấu tạo của hệ thống hoá rắn thường rất đơn giản, gồm có máy trộn bê tông và máy ép khuôn hoặc các khuôn đúc
Công nghệ hóa rắn có ưu điểm là thiết bị, công nghệ đơn giản, sẵn có (có thể tự lắp đặt, chế tạo), dễ vận hành, có hiệu quả kinh tế vì có thể tận dụng sản xuất vật liệu xây dựng (gạch block, tấm đan…) Tuy nhiên, công nghệ hóa rắnchỉ xử lý an toàn đối với CTNH trơ, có thành phần vô cơ Khả năng ổn định CTNH trong khối rắn thay đổi theo từng loại CTNH nên cần phải nghiên cứu kỹ cấp phối bê tông Cần giám sát sản phẩm đầu ra để đảm bảo không vượt ngưỡng CTNH theo quy định tại QCVN 07: 2009/BTNMT Ngoài ra, phương pháp hóa rắn sẽ phát sinh sản phẩm sau hóa rắn cần quản lý, phải bố trí khu vực lưu giữ gây tốn diện tích và đây cũng là nhược điểm của phương pháp này
Hình 1.3 Máy trộn bê tông và máy ép gạch block để hoá rắn CTNH
1.3.1.4 Tái chế dầu thải
Hiện tại, có 22/76 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục môi
Trang 23trường cấp phép đầu tư công nghệ tái chế dầu và một số cơ sở đang làm thủ tục cấp phép, chủ yếu rơi vào các loại như sau: Chưng cất cracking dầu (chưng phân đoạn hay còn gọi chưng nhiều bậc và chưng đơn giản hay chưng một bậc); phân
ly dầu nước bằng phương pháp cơ học (ly tâm) và bằng nhiệt
Trong thực tế, phần lớn các cơ sở sử dụng công nghệ chưng đơn giản để thu hồi các cấu tử dầu (nguyên lý là sử dụng nhiệt để làm bay hơi và cắt mạch, sau đó ngưng tụ để thu hồi các cấu tử dầu, cặn rắn được tách ra và lấy ra ở đáy nồi chưng) Hiện nay, có một số cơ sở đang đầu tư công nghệ chưng phân đoạn (chưng nhiều bậc) để tái chế dầu, đây là công nghệ hiện đại sử dụng để sản xuất các sản phẩm xăng dầu từ dầu thải Về cơ bản, chưng nhiều bậc giống với chưng đơn giản, chỉ khác ở chỗ dựa vào nhiệt độ sôi khác nhau của các hydrocacbon có trong dầu thải, kết hợp tuần hoàn (hồi lưu) dòng sản phẩm lỏng khi đó sẽ tách triệt để các cấu tử hydro cacbon có nhiệt độ sôi khác nhau và thu được các phân đoạn sản phẩm dầu có chất lượng cao như: xăng, dầu diezen
Về cấu tạo của công nghệ chưng đơn giản gồm có lò gia nhiệt (đốt cấp nhiệt trực tiếp cho nồi chưng), nồi chưng (nồi chứa dầu thải), hệ thống ngưng tụ hơi dầu và hệ thống xử lý khí thải Còn cấu tạo của công nghệ chưng nhiều bậc gồm hệ thống cấp nhiệt (lò hơi, sử dụng hơi nước quá nhiệt để cấp nhiệt cho tháp chưng cất), tháp chưng cất dạng đĩa lỗ có ỗng chảy truyền hoặc tháp đĩa chóp, hệ thống hồi lưu dòng sản phẩm lỏng và hệ thống xử lý khí thải lò hơi Nhìn chung, đối với công nghệ chưng đơn giản có ưu điểm trang thiết bị đơn giản (có thể tự chế tạo, lắp đặt), dễ vận hành, đầu tư thấp, nhưng việc vận hành và kiểm soát khá thủ công, đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng của người vận hành, mức độ an toàn không cao Công nghệ chưng đơn giản phù hợp với các cơ sở nhỏ có lượng dầu thải đầu vào thấp, biến động
Công nghệ chưng phân đoạn có hệ thống kiểm soát hiện đại, chất lượng sản phẩm đầu ra ổn định, nhưng chi phí đầu tư lớn, vận hành phức tạp, đòi hỏi nguyên liệu đầu vào lớn và ổn định trong khi nguồn dầu thải ở Việt Nam thường nhỏ lẻ, biến động
Trang 24Công nghệ này có ưu điểm là chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành, sau khi phân tách riêng bột huỳnh quang, thủy tinh có thể dùng làm nguyên liệu trong sản xuất xi măng hoặc tái sử dụng thủy tinh sạch Tuy nhiên, sau khi xử lý bóng đèn thải, quá trình hấp thụ, hấp phụ hơi thuỷ ngân có trong bóng đèn thải sẽ tạo
ra chất thải mới cần xử lý là chất thải cóthuỷ ngân
Các thiết bị này được đầu tư chủ yếu để đáp ứng yêu cầu có đủ khả năng để
xử lý nhiều loại mã CTNH của các chủ nguồn thải chứ chưa có hiệu quả kinh tế
do thực tế loại CTNH này không tập trung nên khó thu gom được số lượng lớn
để đầu từ hệ thống xử lý tái chế Do vậy, giải pháp hoá rắn toàn bộ chất thải sau khi phân tách của quá trình nghiền là một giải pháp hiệu quả
Trang 25Hình 1.5 Thiết bị xử lý bóng đèn thải
1.3.1.6 Xử lý chất thải điện tử
Hiện nay, chỉ có 26/76 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ xử lý chất thải điện tử này, công suất trung bình tư 0,2 - 10 tấn/ngày
Các hệ thống này chủ yếu là thực hiện biện pháp phá dỡ, thủ công (như bàn phá dỡ đơn giản) hoặc cơ giới (máy nghiền), để phân tách từng thành phần cho các công đoạn xử lý tiếp theo như thu hồi phế liệu (kim loại, nhựa), đốt, hoá rắn Đối với các cơ sở có đầu vào chất thải nhỏ, thì việc phá dỡ thủ công là phù hợp, chủ yếu để đáp ứng đủ mã CTNH trong dịch vụ Tuy nhiên, công đoạn phá
dỡ thủ công có thể ảnh hưởng sức khỏe của công nhân do phải tiếp xúc trực tiếp với chất thải và hiệu quả kinh tế không cao
Công nghệ cơ giới hóa phù hợp với đầu vào lớn, đặc biệt là trong tương lai khi lượng chất thải điện tử phát sinh tăng đột biến Hơn nữa, công nghệ hiện đại
có thể tận thu được nhiều sản phẩm, đặc biệt là các kim loại quý
Trang 2618
Hình 1.6 Dây chuyền nghiền bản mạch điện tử (trái)
và bàn phá dỡ đơn giản (phải)
1.3.1.7 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải
Hiện nay, có 25/76 cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ xử lý này, công suất trung bình 0,5 - 200 tấn/ngày
Tái chế ắc quy chì thải là một trong những biện pháp tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, cùng với sự phát triển của nền kinh tế lượng ắc quy chì thải ngày một tăng và việc xử lý không an toàn đối với chất thải này đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người và môi trường Chính vì vậy, thực tế đang sử dụng các công nghệ tái chế từ đơn giản (thô sơ) đến hiện đại Nguyên lý của công nghệ tái chế ắc quy chì thải gồm các công đoạn sau: Đầu tiên trung hòa dung dịch chất điện phân (dung dịch axit), sau đó phá dỡ phân loại riêng bản cực chì và vỏ nhựa Việc phá dỡ có thể là thủ công hoặc cơ giới hoá Chì và nhựa thu được sau phá dỡ được nấu tái chế tại chỗ hoặc chuyển cho các đơn vị tái chế
Hiện nay, có một số đơn vị đã đầu tư và đưa vào sử dụng công nghệ hiện đại để tái chế ắc quy, toàn bộ quy trình xử lý được cơ giới, tự động hóa với nguyên lý hoạt động như sau: Bình ắc quy (vẫn chứa dung dịch axit) được đưa vào máy nghiền đồng thời có bổ sung dung dịch kiềm (sô đa) để trung hòa, hỗn hợp sau nghiền được đưa tới hệ thống phân tách bằng nước, nhựa có tỷ trọng bé nổi lên trên, còn chì có tỷ trọng lớn chìm xuống dưới và được vớt ra bởi băng tảichuyên dụng Hệ thống cơ giới hoá có công suất rất lớn do vậy nếu không có đủ nguyên liệu đầu vào thì sẽ không có hiệu quả kinh tế vì chi phí đầu tư lớn
Do nguồn ắc quy thải thu gom không nhiều, nên nhiều cơ sở áp dụng hệ thống xử lý theo nguyên lý thủ công hoặc bán thủ công dựa trên bàn phá dỡ bằng sức lao động, công suất tuy thấp nhưng giảm chi phí đầu tư Tuy nhiên,đối với công nghệ này thì phải lưu ý vấn đề bảo hộ lao động để tránh rủi ro phơi nhiễm axit và các hơi độc
Trang 27Hình 1.7 Dây chuyền phá dỡ ắc quy chì thải cơ giới hoá
1.3.1.8 Bể đóng kén
Bể đóng kén gồm ba dạng: Chìm dưới mặt đất, nửa chìm nửa nổi và nổi trên mặt đất; đặt tại khu vực có mực nước ngầm ở độ sâu phù hợp.Diện tích đáy của mỗi bể là 100m2 và chiều cao 05m
Vách và đáy bằng bê tông chống thấm, kết cấu cốt thép bền vững có bổ sung hệ khung dầm để tăng cường kết cấu chịu lực, nền đất được gia cố đảm bảo tránh sụt lún gây nứt gãy, rò rỉ, thẩm thấu theo đúng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về xây dựng, xung quanh vách (phần chìm dưới mặt đất) và dưới đáy bể được gia cố thêm lớp lót chống thấm Ngoài ra, bể đóng kén được trang bị mái che nắng, mưa cho toàn bộ mặt bể và vách tường ngăn gió thổi trực tiếp vào trong bể để hạn chế phát tán chất thải ra môi trường
Bể đóng kén có ưu điểm là có thể xử lý được nhiều loại chất thải khác nhau, dễ sử dụng, chi phí đầu tư thấp và khắc phục được yêu cầu về khoảng cách như đối với bãi chôn lấp
Tuy nhiên, bể đóng kén cũng giống như hầm chôn lấp tốn diện tích, CTNH không được xử lý triệt để, vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ, nên cần giám sát lâu dài sau khi đóng bể
Trang 281.3.2 Một số công nghệ xử lý CTNH trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chức đăng ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàng) IPCS (chương trình toàn cầu về an toàn hóa chất), WHO (tổ chức Y tế thế giới)…, xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin về an toàn hóa chất
Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt,
xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học, chôn lấp,… rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tính hình chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%),… Các nước
sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong quản lý chất thải là Phần Lan (84%), Thái Lan ( 84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%), Tây Ban Nha (80%) Dưới đây là mô tả tổng quan về tính hình quản lý chất thải rắn nói
Trang 29chung, trong đó có bao gồm cả CTNH
Trung Quốc: Với công nghệ tái chế phát triển đã tận dụng một phần đáng
kể CTNH, còn lại chất thải được thải vào nước và đất Biện pháp xử lý thông thường là đưa vào các bãi rác hở, tuy nhiên có một số hố chôn lấp hợp vệ sinh Phần lớn CTNH của các khu vực kinh tế, một số xí nghiệp có khả năng xử lý tại chỗ Trung Quốc cũng đã đề ra Luật kiểm soát và phòng ngừa nhiễm bẩn, liệt kê các chất thải từ các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp hóa chất
Hồng Kông: Cơ sở xử lý CTNH tập trung được xây dựng từ năm 1987 đến
1993 Với hệ thống thu gom vận chuyển và thiết bị xử lý hiện đại, công nghệ chủ yếu là xử lý nhiệt và xử lý hóa/lý đã xử lý được hầu hết lượng CTNH tại Hồng Kông Hồng Kông cũng đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất quy chế chung về sự tiêu hủy CTNH, đặc biệt là chất thải hóa học Các công nghệ được áp dụng là: Nghiền nhỏ để chôn lấp và hệ thống kiểm soát việc chôn lấp, kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển xử lý và tiêu hủychất thải, nhất là chất thải rắn nguy hại đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý chất thải nói chung và CTNH nói riêng tại Hồng Kông
Ấn Độ: CTNH chủ yếu được thải và đất và nước, hoặc đổ tại chỗ tại bãi rác công cộng Hiện nay, đã đầu tư xây dựng thiết bị xử lý bằng phương pháp chôn lấp và vay vốn từ ngân hàng thế giới và đẩy mạnh kêu gọi đầu tư từ thành phần kinh tế tư nhân
Thái Lan: CTNH tại Thái Lan đã được đưa vào hệ thống xử lý trung tâm với công nghệ xử lý thấp, hệ thống xử lý này được vận hành từ năm 1998 và phương thức xử lý chủ yếu là xử lý hóa/lý, ổn định hóa rắn và chôn lấp an toàn cùng với hệ thống phối trộn hữu cơ Ngoài ra, phương thức xử lý hóa/lý kết hợp với đốt cũng được áp dụng tại Thái Lan
Hà Lan: Việc xử lý chất thải của Hà Lan được sự tham gia tổng lực của chính quyền, xã hộicũng như các cơ quan chuyên ngành CTNH được xử lý bằng nhiều cách khác nhau, trong đó phần lớn được thiêu hủy, một phần được tái chế
1.4 Tổng quan về đánh giá công nghệ
1.4.1 Tổng hợp các nghiên cứu về các tiêu chí và quy trình đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý chất thải nói chung trên thế giới [15, 16, 17, 18, 19,
20, 21, 22]
Để tiến hành đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý chất thải có
Trang 30cơ sở sản xuất, mà mang tính tự nguyện nhằm thúc đẩy việc ứng dụng các công nghệ tốt nhất, phù hợp nhất vào quá trình xử lý chất thải nhằm tránh ô nhiễm môi trường
Tuy nhiên, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan của những chuyên gia đánh giá công nghệ Để hạn chế các sai sót và tăng cường chất lượng của việc đánh giá, người ta xây dựng các quy trình chuẩn về đánh giá công nghệ Một trong những phương pháp đánh giá công nghệ môi trường được áp dụng phổ biến trên thế giới đó là “Phê duyệt công nghệ môi trường” (Environmental Technology Verification-ETV) ETV được thiết lập bởi Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) vào năm 1995 nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện của công nghệ môi trường thông qua các hoạt động phê duyệt khách quan và báo cáo thực hiện công nghệ Phương pháp này đưa ra một số tiêu chí chủ yếu để đánh giá trong quá trình phê duyệt công nghệ môi trường như mức độ hiện đại của công nghệ, khả năng áp dụng, hiệu quả kinh tế, giá thành, mức độ thân thiện với môi trường, an toàn với con người…sau đó, nhờ sự trợ giúp của các chuyên gia, các tiêu chí trên được phân tích, điều tra, khảo sát để đưa ra các kết luận, so sánh các công nghệ được đánh giá và lựa chọn công nghệ tối ưu, có tiềm năng
để cải thiện bảo vệ sức khỏe con người và môi trường Với nội dung trên ETV
có thể được phân chia thành hai thành phần chính: Một là các hệ thống quản lý, hai là thu thập và đánh giá các dữ liệu môi trường Trong phần các hệ thống quản lý, trước khi đưa ra các tiêu chí chủ yếu để phê duyệt, tiến hành phân công
và giao nhiệm vụ đến từng phòng, từng đơn vị liên quan theo các ngành quản lý riêng hoặc theo hội đồng phê duyệt công nghệ môi trường Phần thu thập và đánh giá các dữ liệu môi trường, tài liệu về công nghệ được hội đồng phê duyệt công nghệ môi trường nghiên cứu để đưa ra các kết luận cuối cùng về công nghệ môi trường được đánh giá Cộng đồng quốc tế cũng quan tâm đến “Phê duyệt công nghệ môi trường” cho các dự án được tài trợ và đã thực hiện nhiều hội thảo về công nghệ phê duyệt môi trường ở Ấn Độ, Thái Lan và Đài Loan, cũng như Malaysia và Philippin Đến năm 2005, hơn 30 công nghệ từ các nhà cung cấp
Trang 31quốc tế đã được xác minh bởi các chương trình ETV
Bên cạnh đó, mô hình đánh giá công nghệ môi trường EnTA (Environmental Technology Assessment) do Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) xây dựng và phát triển hiện đang được khuyến khích sử dụng tại các nước đang phát triển
Mô hình này tập trung chủ yếu vào việc đánh giá lợi ích, hiệu quả môi trường của các công nghệ sản xuất hoặc công nghệ thân thiện môi trường hơn là việc đánh giá các công nghệ môi trường
Lợi ích khi sử dụng mô hình EnTA được tóm gọn trong bảng sau:
Bảng 1.2 Lợi ích mô hình EnTA
- Giảm chi phí phòng ngừa
và xử lý ô nhiễm
- Tránh những vấn đề pháp
lý và các chi phí pháp lý
- Cải thiện môi trường của
công ty trong con mắt cộng
đồng và thị trường
- Giảm chi phí bảo trì và
nâng cao hiệu suất tổng
- Giảm/tránh được các vấn
đề liên quan đến sức khỏe
công nhân
- Giảm chi phí chăm sóc sức khỏe do tai nạn công nghiệp và khí thải
- Tránh được chi phí làm sạch môi trường do các chất
ô nhiễm phát tán
- Có khả năng hoạch định trước và quản lý môi trường tốt hơn
- Duy trì hiệu quả kinh tế do
sử dụng nguồn lực địa phương
- Tránh hiện tượng không quay lại của rác thải
- Chất lượng cuộc sống nói chung được nâng cao
- Ít công việc liên quan đến bệnh tật và thương tích
- Các rủi ro sức khỏe từ các chất ô nhiễm công nghiệp thấp hơn
- Duy trì các giá trị xã hội và văn hóa
- Bảo đảm bảo vệ môi trường của cộng đồng
- Đạt được sự hiểu biết hơn về các vấn đề chủ chốt
Theo một số tài liệu quốc tế, đánh giá sự phù hợp của công nghệ là một khái niệm được sử dụng trong việc xác định những giải pháp then chốt nhằm khắc phục những khó khăn trong vận hành và quản lý tại các quốc gia đang phát triển Theo đó, sự phù hợp (appropriateness) bao hàm tính khả thi (feasibility) và khả năng thích ứng (pragmatism) của công nghệ đó trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định (Singhirunusorn, 2009) Sự phù hợp của một hệ thống cũng được phân tích trong bối cảnh hiện tại, nghĩa là sự phù hợp này không xét riêng lẻ về mặt kỹ thuật (technology); kinh tế - tài chính (economic - finance); tính pháp lý (politics); sự chấp nhận của xã hội (social acceptability); hay giới hạn chấp nhận của môi trường hay sức chịu tải của môi trường (carrying capacity of the environment) mà là sự phù hợp của hệ thống đối với tất cả các khía cạnh nêu trên Như vậy, một công nghệ phù hợp trong bối cảnh phát triển bền vững là khi
Trang 3224
nó vận hành tốt nhất với chi phí thấp nhất, khả thi về mặt kỹ thuật và pháp lý, có chi phí đầu tư và chi phí vận hành hợp lý, đảm bảo về hiệu quả xử lý ô nhiễm và được cộng đồng chấp nhận (Mara, 1996; Sarmento, 2001; Ujang, 2002) Ngoài
ra, theo Singhirunnusorn, sự phù hợp của một hệ thống còn bao hàm cả yếu tố
“độ tin cậy” (reliability) của hệ thống đó (Singhirunusorn, 2009)
Việc chọn lựa công nghệ xử lý chất thải thích hợp được thực hiện dựa trên việc xem xét, đánh giá rất nhiều yếu tố liên quan đến công nghệ Vấn đề được quan tâm hàng đầu trong việc lựa chọn công nghệ là bản chất ứng dụng công nghệ, chẳng hạn công nghệ xử lý/tái chế/tái sử dụng, loại chất thải, Các yếu tố tiếp theo bao gồm chi phí, hiệu quả, các yếu tố xã hội và thể chế cũng được quan tâm trong việc lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp tại các nước đang phát triển (Singhirunnusorn, 2009)
Các nghiên cứu trên thế giới cũng nêu ra những quan điểm khác nhau đối với việc đánh giá công nghệ xử lý chất thải Theo Alaerts và cộng sự (Alaerts, 1990), công nghệ xử lý chất thải khả thi khi công nghệ đó kinh tế, hiệu quả, đáng tin cậy và có thể quản lý về mặt kỹ thuật Dựa trên các khái niệm mang tính chất chung chung này, một số tiêu chí khác được đề ra như: Khả thi về mặt môi trường, đáng tin cậy, có khả năng quản lý về mặt thể chế và kỹ thuật, hợp lý về mặt chi phí và tài chính, có khả năng áp dụng nhằm mục đích tái sử dụng chất thải Dunmade đã đề xuất một số tiêu chí đánh giá sự phù hợp công nghệ đối với các nước đang phát triển và liệt kê các tiêu chí đó thành 2 mức độ sơ cấp và thứ cấp (Dunmade, 2002) Các tiêu chí thứ cấp sẽ được liệt kê thành bốn nhóm (sơ cấp): Kỹ thuật, kinh tế, môi trường và xã hội - chính trị
Nhóm tiêu chí liên quan đến vấn đề kỹ thuật là thiết kế, xây dựng và vận hành (thành phần và đặc tính chất thải đầu vào, tiêu chuẩn về chất thải sau xử lý,…), nhu cầu về diện tích và độ tin cậy của quá trình công nghệ (Metcalf & Eddy, 2003) Đối với bất kỳ hệ thống xử lý chất thải nào, mục tiêu quan trọng nhất là đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường hay tuân thủ quy định về môi trường Ngoài ra, hiệu quả xử lý của mỗi thiết bị, công trình cũng phản ánh sự phù hợp trong thiết kế, vận hành Xét hai hệ thống xử lý chất thải có chi phí xây dựng và vận hành tương đương nhau, hệ thống có hiệu quả loại bỏ chất ô nhiễm cao hơn thì sẽ an toàn trong việc tuân thủ quy định về môi trường hơn (Lucas, 2004) Độ tin cậy của hệ thống bao gồm độ tin cậy đối với khả năng vận hành và
độ tin cậy của thiết bị Độ tin cậy của hệ thống được đánh giá theo: Hiệu quả xử lý trong điều kiện bình thường và trong trường hợp sự cố, tần suất hư hỏng thiết bị và ảnh hưởng của sự cố hư hỏng thiết bị đến hiệu quả xử lý (Eisenberg,
Trang 332001) Khả năng quản lý hệ thống về mặt kỹ thuật mà Alaerts đã đề cập cũng có thể được xếp vào nhóm tiêu chí này (Alaerts, 1990) Khả năng quản lý hệ thống liên quan đến các yếu tố: Tần suất bảo dưỡng hệ thống, khả năng thay thế thiết bị bằng thiết bị có sẵn hoặc tự chế tạo ở địa phương và yếu tố nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cần thiết để vận hành thiết bị/hệ thống (Dunmade, 2002; Lucas, 2004)
Nhóm tiêu chí môi trường xét đến khả năng bền vững về mặt môi trường như: Tiêu tốn ít hóa chất và sử dụng năng lượng hiệu quả, khả năng tái sử dụng sản phẩm thứ cấp như nhiệt thải Ngoài ra, mức độ phát thải vào môi trường không khí, đất và nước cũng đáng được quan tâm Các phát thải có thể là hơi dung môi, khí thải (CO2, CO, NOx, SOx, ) từ các thiết bị sử dụng nhiên liệu trong hệ thống
Nhóm tiêu chí về kinh tế liên quan đến vốn đầu tư xây dựng thiết bị, hệ thống, chi phí vận hành và chi phí bảo trì - bảo dưỡng thiết bị, hệ thống Chi phí xây dựng công trình được sử dụng để so sánh nhiều phương án xây dựng trong cùng một khu vực với điều kiện kinh tế tương đương nhau (Alaerts, 1990) Chi phí xây dựng bao gồm chi phí nguyên vật liệu xây dựng, công lao động, vận chuyển và một số chi phí phụ trợ khác như: Điện, nước, Chi phí này có thể được biểu diễn qua suất đầu tư xử lý một tấn chất thải Chi phí vận hành (bao gồm chi phí điện, nước, hóa chất, nhân công) và chi phí bảo trì và sửa chữa công trình có thể được biểu diễn bằng chi phí xử lý một tấn chất thải Theo Tổ chức Liên hiệp quốc, chi phí xã hội và phí xử lý chất thải cũng thuộc nhóm tiêu chí này
Nhóm tiêu chí xã hội cũng bao gồm mức độ chấp nhận của cộng đồng đối với những ảnh hưởng do các thiết bị, hệ thống xử lý chất thải gây ra, chẳng hạn như khí thải, mùi hôi, tiếng ồn và độ rung do động cơ,… (Tsagarakis, 2001) Ngoài ra, yếu tố tác động đến mỹ quan của khu vực cũng có thể được liệt kê vào nhóm tiêu chí này
1.4.2 Các quy định pháp lý về đánh giá công nghệ xử lý chất thải tại Việt Nam [4,13]
Tại Khoản 13 Điều 3 Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2006 đưa ra khái niệm “Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả kinh tế và tác động kinh tế - xã hội, môi trường của công nghệ”
Điều 9 Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 quy định công nghệ
Trang 3426
được chuyển giao phải là công nghệ tiên tiến và đáp ứng các yêu cầu như tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao, tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, bảo vệ sức khỏe con người, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, sản xuất sạch, thân thiện môi trường, phát triển ngành, nghề truyền thống
Điều 32 Luật Chuyển giao công nghệ quy định “Dịch vụ giám định công nghệ là hoạt động kinh doanh hoặc không kinh doanh thông qua giám định công nghệ để xác định tình trạng thực tế của công nghệ được chuyển giao và những nội dung khác liên quan đến việc chuyển giao công nghệ theo yêu cầu của một hoặc các bên tham gia ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền”
Ở nước ta, Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về chuyển giao công nghệ theo thẩm quyền (Khoản 1 Điều 52)
Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ nêu rõ Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về quy trình và tiêu chí xác định các công nghệ (Khoản 3 Điều 5)
Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 31/2011/TT-BKHCN ngày 15 tháng 11 năm 2011 hướng dẫn nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức đánh giá, định giá công nghệ để cụ thể hóa các nội dung đánh giá công nghệ Tại Điều 5 quy định nội dung đánh giá công nghệ bao gồm:
1 Xem xét công nghệ được đánh giá thuộc danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao hay danh mục công nghệ cấm chuyển giao
2 Xem xét nguồn gốc, xuất xứ công nghệ: quốc gia, vùng lãnh thổ ; công
ty, tập đoàn, viện, trường tạo ra công nghệ
3 Xem xét các quyền liên quan đến công nghệ
a) Quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ, quyền chuyển giao lại cho bên thứ ba;
b) Quyền cải tiến, nhận thông tin về cải tiến công nghệ;
c) Quyền phân phối (độc quyền hay không độc quyền), phạm vi lãnh
Trang 35thổ được bán sản phẩm do công nghệ tạo ra;
d) Các quyền sở hữu công nghiệp có liên quan đến công nghệ
4 Đánh giá trình độ, kỹ thuật công nghệ
a) Xem xét trình độ công nghệ, vòng đời công nghệ;
b) Tính đồng bộ của thiết bị;
c) Xem xét thiết bị, nguyên vật liệu chế tạo phù hợp với dây chuyền sản xuất;
d) Suất tiêu hao nguyên liệu, năng lượng cho một đơn vị sản phẩm;
đ) Tuổi thọ thiết bị, khả năng thay thế, cải tiến;
e) Khả năng thuận tiện trong vận hành, quản lý
5 Đánh giá về giá trị, hiệu quả kinh tế
a) Chi phí đầu tư, mức đầu tư so với công nghệ tương đương khác;
b) Khả năng tài chính (xác định nguồn vốn);
c) Yếu tố đầu vào: có nguồn nguyên liệu tại địa phương; nguồn nguyên liệu trong nước (địa phương khác) hoặc có hợp đồng nhập Khẩu đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất;
d) Yếu tố đầu ra cho sản phẩm: Có thị trường ổn định hoặc có hợp đồng bao tiêu sản phẩm đầu ra ổn định;
đ) Hiệu quả kinh tế: Đánh giá các chỉ tiêu Kinh tế của dự án như thời gian hoàn vốn, tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR - Internal Rate Of Return) ;
e) Hiệu quả kinh tế - xã hội: Khả năng sử dụng lao động, tác động lan tỏa
6 Đánh giá về an toàn và môi trường
a) Khí thải, nước thải và chất thải rắn;
b) Vị trí dự án, diện tích sử dụng đất phù hợp với quy mô dự án;
c) Mức độ rủi ro và các giải pháp phòng ngừa, khắc phục sự cố;
d) Các giải pháp xử lý môi trường giảm thiểu tác động, đạt các chỉ tiêu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuấn về môi trường của Việt Nam
7 Khi đánh giá công nghệ trong từng ngành hoặc nhóm ngành cụ thể có thể xem xét thêm các nội dung khác phù hợp với đặc thù của ngành hoặc nhóm ngành đó
Trang 36Trong năm 2013, Cục Quản lý chất thải và cải thiện môi trường, Tổng cục Môi trường đã thực hiện nhiệm vụ:“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng danh mục công nghệ xử lý chất thải công nghiệp, CTNH của một số ngành công nghiệp đặc thù” Kết quả của nhiệm vụ đã đề xuất và xây dựng 4 tiêu chí
cơ bản (kinh tế, xã hội, an toàn và môi trường, kỹ thuật/công nghệ ) và gồm có
36 tiêu chí phụ (chỉ tiêu) để đánh giá công nghệ xử lý chất thải điện tử
1.4.4 Đề xuấtbộ tiêu chí đánh giá công nghệ lò đốt
Trên cơ sở các nghiên cứu của quốc tế về đánh giá công nghệ xử lý môi trường, kết hợp với các căn cứ pháp lý quy định về đánh giá công nghệ nói chung, cũng như các tài liệu hướng dẫn về đánh giá công nghệ xử lý nước thải của ngành chế biến thủy sản và đánh giá công nghệ xử lý chất thải điện tử, cũng như xin ý kiến một số chuyên gia đầu ngành về lò đốt chất thải, học viên đã đề xuất bộ tiêu chí đánh giá công nghệ lò đốt CTNH phù hợp với điều kiện của Việt Nam, cụ thể như sau:
- Nhóm các tiêu chí về kỹ thuật đóng vai trò quan trọng nhất so với các tiêu chí còn lại và được lượng hóa với số điểm là A/50 điểm
- Nhóm các tiêu chí về kinh tế đóng vai trò quan trọng thứ hai và được lượng hóa với số điểm là B/25 điểm
- Nhóm các tiêu chí về môi trường đóng vai trò quan trọng thứ ba và được lượng hóa với số điểm là C/15 điểm
- Nhóm các tiêu chí về xã hội đóng vai trò ít quan trọng nhất và được lượng hóa với số điểm là D/10 điểm
Tổng giá trị: A + B + C + D = 100 điểm Trong 04 nhóm tiêu chí, các chỉ tiêu cụ thể đối với mỗi nhóm tiêu chí có giá trị là Ai; Bj; Cp; Dq Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng địa phương, từng công nghệ, các giá trị Ai; Bj; Cp;
Dq được cho điểm phù hợp
Trang 37Bảng 1.3 Hệ thống các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá
sự phù hợp của công nghệ lò đốt
Có cơ chế phân vùng đốt sơ cấp và thứ cấp 1-5 Khôngcó cơ chế phân vùng đốt sơ cấp và thứ cấp 0
Đáp ứng thời gian lưu theo quy định (≥ 2s) 1-5 Không đáp ứng thời gian lưu theo quy định 0
Có khả năng hoạt động liên tục tối thiểu 72 giờ 1-5 Không có khả năng hoạt động liên tục tối thiểu 72 giờ 0
4 Hiệu quả của công nghệ (% loại bỏ chất ô nhiễm) 5
Hiệu quả xử lý đạt trên 80% 4-5 Hiệu quả xử lý đạt 60 – 80 % 0-3
5 Tuổi thọ, độ bền của công trình, thiết bị 5 Thời gian sửa chữa lớn 5 năm/lần 5 Thời gian sửa chữa lớn 3 năm/lần 2-4 Thời gian sửa chữa lớn 1 năm/lần 0-2
6 Tỷ lệ nội địa hóa của hệ thống máy móc, thiết bị 5 Toàn bộ thiết bị, linh kiện được sản xuất và chế tạo
Thiết bị, linh kiện có sẵn tại địa phương 2-4 Thiết bị linh kiện không có sẵn tại địa phương (nhưng
có ở Việt Nam)
0-2
Thiết bị linh kiện không có ở Việt Nam (phải nhập
khẩu)
8 Khả năng thích ứng khi tăng lượng chất CTNH hoặc
tăng lượng CTNH khó xử lý
3
Trang 3830
Hiệu quả xử lý không (hoặc ít) bị ảnh hưởng khi nồng
độ hoặc lưu lượng thay đổi (+/-) 15 % so với thiết kế
3
Hệ thống chỉ có khả năng xử lý đúng với lưu lượng và
nồng độ đã thiết kế
0-2
Tốn ít thời gian xây dựng, lắp đặt và vận hành thử 3-4 Thời gian xây dựng, lắp dặt và thử nghiệm ở mức độ
trung bình
2-3 Tốn nhiều thời gian xây dựng, lắp đặt và vận hành thử 0-1
10 Mức độ hiện đại, tự động hóa của công nghệ 3
Hệ thống công nghệ có mức tự động hóa cao 3
Hệ thống công nghệ có mức tự động hóa trung bình 1-2
Hệ thống công nghệ có mức tự động hóa thấp 0-1
Khả năng lắp ghép, cải tiến và nâng cao công nghệ 2 Không hoặc ít có khả năng lắp ghép và cải tiến, nâng
Chi phí xây dựng và lắp đặt thấp 9 Chi phí xây dựng và lắp đặt trung bình 4-8 Chi phí xây dựng và lắp đặt cao 2-4
Chi phí vận hành trung bình 4-8
Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa ở mức thấp 7 Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa mức trung bình 3-6 Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa ở mức cao 1-3
16 Diện tích không gian sử dụng của hệ thống 3
Trang 39Hiệu quả sử dụng đất, không gian của hệ thống xử lý ở
Mức sử dụng các nguyên nhiên liệu và năng lượng ở
18 Khả năng thu hồi nguồn nhiệt năng từ quá trình đốt 3
Có khả năng thu hồi nhiệt 1-3 Không có khả năng thu hồi nhiệt 0
19 Mức độ xử lý khí thải từ quá trình thiêu đốt 3
Có khả năng xử lý tốt khí thải (các chỉ tiêu đều trong
giới hạn cho phép)
2-3
Ít hoặc không có khả năng xử lý khí thải (có ít nhất 1
chỉ tiêu vượt giới hạn cho phép) 0-1
20 Mức độ rủi ro đối với môi trường và giải pháp phòng
21 Mức độ thẩm mỹ và cảm quan của hệ thống 3 Được thiết kế và xây dựng đẹp, phù hợp với phối cảnh
không gian
3
Thiết kế và xây dựng chưa đẹp, chưa phù hợp với phối
cảnh không gian
0-2
22 Khả năng thích ứng với các điều kiện vùng miền 4
Áp dụng tốt với tất cả các vùng miền khác nhau (khí
hậu, thời tiết)
4 Chỉ sử dụng tốt trong điều kiện vùng miền nhất định 0-3
23 Nguồn nhân lực quản lý và vận hành HTXLNT 3 Nhân lực quản lý và vận hành hệ thống gồm kỹ sư môi
trường và công nhân
3
Nhân lực quản lý và vận hành hệ thống gồm kỹ sư kiêm
nghiệm và công nhân
1-2
Trang 40Sau khi có kết quả tổng số điểm và so sánh với thang điểm trong bảng 1.4
để đưa ra nhận định về công nghệ được đánh giá là có nên áp dụng hay không
Bảng 1.4 Điều kiện áp dụng công nghệ lò đốt
50 < Tổng điểm < 70 Có thể áp dụng
Việc đánh giá (cho điểm) công nghệ xử lý lò đốt theo mỗi tiêu chí và chỉ tiêu (tối đa hoặc trong thang điểm dao động) tùy thuộc vào các đặc điểm, thông
số của hồ sơ thuyết minh công nghệ, khảo sát hiện trường và đánh giá kết quả
xử lý thực tế tại cơ sở của lò đốt đang hoạt động Theo như phân tích phần trên, việc đánh giá nó phụ thuộc rất nhiều vào ý kiến chủ quan của người đánh giá, do vậy để kết quả phản ánh đúng thực tế và thể hiện tính khách quan trong quá trình đánh giá công nghệ, ngoài việc tự đánh giá của học viên, còn có sự tham khảo ý kiến đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ lò đốt CTNH (khoảng 05 ý kiến chuyên gia), trên cơ sở đó tổng hợp đưa ra điểm trung bình cho từng tiêu chí