Thực trạng quản lý rừng hiện nay tại các khu rừng này được thực hiện theo cách tiếp cận riêng lẻ các yếu tố, chủ yếu quan tâm đến rừng tràm, trong khi các yếu tố khác của HST ĐNN nước, đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi thực hiện trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2018
Các nội dung nghiên cứu của luận án này có sử dụng các số liệu nghiên cứu của dự án “Điều tra hiện trạng đa dạng sinh học và đề xuất các giải pháp bảo tồn, sử dụng bền vững khu rừng Tràm Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện từ năm 2014-2015 do Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành làm chủ nhiệm Dự án này tác giả là cộng tác viên chính tham gia thiết kế, xây dựng đề cương và phối hợp với Viện Sinh thái học miền Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II trong công tác điều tra, thu thập số liệu tại hiện trường và xử lý số liệu
Các số liệu trong luận án này đã được chủ nhiệm dự án là người hướng dẫn khoa học, là thủ trưởng đơn vị của tác giả đồng ý cho sử dụng
Kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm./
Người viết cam đoan
Lê Hữu Phú
Trang 4Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Đình Quế, TS Nguyễn Chí Thành là người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án này
Xin chân thành cảm ơn Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Rừng và Đất ngập nước (là người hướng dẫn khoa học) và các đồng nghiệp trong đơn vị đã tạo điều kiện, động viên tác giả hoàn thành luận án này
Xin cảm ơn Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Tháp, UBND huyện Cao Lãnh, Ban quản lý rừng Tràm Gáo Giồng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả nghiên cứu tại hiện trường
Xin cảm ơn người thân trong gia đình và tất cả bạn bè đã động viên tác giả hoàn thành luận án này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Lê Hữu Phú
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4 Những đóng góp mới của luận án 3
5 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Phạm vi và địa điểm nghiên cứu 4
7 Thời gian thực hiện 4
8 Bố cục luận án 4
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.1 Nghiên cứu về rừng Tràm cajuputi 5
1.1.2 Nghiên cứu về đất ngập nước 6
1.1.3 Quản lý rừng tràm trên vùng ĐNN 9
1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2.1 Nghiên cứu về rừng Tràm cajuputi 12
1.2.2 Nghiên cứu về đất ngập nước 14
1.2.3 Quản lý rừng tràm trên vùng ĐNN 18
1.3 Thảo luận chung 27
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Nội dung nghiên cứu 29
2.1.1 Đặc điểm rừng tràm ở Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp 29
2.1.2 Đặc điểm chế độ ngập nước và đất 29
2.1.3 Ảnh hưởng chế độ ngập nước, sinh cảnh và theo mùa đến tài nguyên rừng 29
2.1.4 Đặc điểm cộng đồng dân cư và thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp 30
Trang 62.1.5 Đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp rừng tràm trên vùng đất ngập nước 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 30
2.2.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 31
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 44
2.2.4 Xây dựng các loại bản đồ 50
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
3.1 Đặc điểm rừng tràm ở Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp 51
3.2 Đặc điểm chế độ ngập nước và đất 55
3.2.1 Đặc điểm chế độ ngập nước 55
3.2.2 Chất lượng nước 58
3.2.3 Đặc điểm đất 60
3.3 Ảnh hưởng của chế độ ngập nước, sinh cảnh và theo mùa đến tài nguyên rừng 63
3.3.1 Ảnh hưởng của chế độ ngập nước đến các chỉ tiêu sinh trưởng (D1,3m, Hvn) rừng tràm 63
3.3.2 Ảnh hưởng chế độ ngập nước và theo mùa đến các loài thực vật thân thảo 69
3.3.3 Ảnh hưởng của chế độ ngập nước và theo mùa đến các loài cá 75
3.3.4 Ảnh hưởng của sinh cảnh và theo mùa đến các loài chim 83
3.3.5 Ảnh hưởng của sinh cảnh và theo mùa đến các loài bò sát 90
3.3.6 Ảnh hưởng của sinh cảnh và theo mùa đến các loài lưỡng cư 97
3.3.7 Ảnh hưởng của sinh cảnh và theo mùa đến các loài thú 102
3.4 Đặc điểm cộng đồng dân cư và thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp 109
3.4.1 Đặc điểm cộng đồng dân cư 109
3.4.2 Thực trạng quản lý 113
3.5 Đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp rừng tràm trên vùng đất ngập nước 120
Trang 73.5.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rừng tràm trên vùng
đất ngập nước 120
3.5.2 Biện pháp quản lý tổng hợp khu rừng Tràm Gáo Giồng 121
3.5.3 Dự kiến hiệu quả mô hình 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 134
1 Kết luận 134
2 Tồn tại và kiến nghị 135
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 136
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Giải nghĩa đầy đủ
nơi sống của các loài chim di cƣ
Trang 9Chữ viết tắt Giải nghĩa đầy đủ
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại đất phèn vùng Đồng Tháp Mười 15
Bảng 1.2 Mối quan hệ giữa thực bì ưu thế chỉ thị với các đặc trưng hình thái phẫu diện của các loại đất phèn 21
Bảng 1.3 Mực nước ngầm và nguy cơ cháy rừng tràm 22
Bảng 1.4 Tổng hợp diện tích rừng Tràm ở các khu RĐD ĐBSCL 24
Bảng 2.1 Thống kê số ô điều tra theo cấp tuổi và chế độ ngập nước 32
Bảng 2.2 Thống kê các điểm lấy mẫu theo chế độ ngập nước 33
Bảng 2.3 Chỉ số Braun-Blanquet S 33
Bảng 2.4 Dụng cụ phân tích các chỉ tiêu nước 35
Bảng 2.5 Phương pháp phân tích mẫu đất 35
Bảng 2.6 Thống kê tuyến điều tra động vật theo các sinh cảnh 39
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng rừng tràm ở cấp tuổi I đến IV 51
Bảng 3.2 Hiện trạng rừng và các sinh cảnh ĐNN theo các chế độ ngập nước 52
Bảng 3.3 Phân bố diện tích theo chế độ ngập nước trong năm 56
Bảng 3.4 Các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng T.I theo chế độ ngập nước 63
Bảng 3.5 Các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng T.II theo chế độ ngập nước 64
Bảng 3.6 Các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng T.III theo chế độ ngập nước 65
Bảng 3.7 So sánh sự đồng nhất giữa các chế độ ngập nước đến D1,3m ở T.III 66
Bảng 3.8 Các chỉ tiêu sinh trưởng rừng T.IV theo chế độ ngập nước 67
Bảng 3.9 So sánh sự đồng nhất giữa các chế độ ngập nước đến D1,3m ở T.IV 68
Bảng 3.10 So sánh sự đồng nhất giữa các chế độ ngập nước đến Hvn ở T.IV 68
Bảng 3.11 Chỉ số đa dạng thực vật thân thảo theo chế độ ngập nước vào mùa mưa 70
Bảng 3.12 Chỉ số đa dạng thực vật thân thảo theo chế độ ngập nước vào mùa khô 72 Bảng 3.13 Các loài cá quý hiếm ở khu rừng Tràm Gáo Giồng 76
Bảng 3.14 Các chỉ số đa dạng cá theo chế độ ngập nước ở mùa mưa 78
Bảng 3.15 Các chỉ số đa dạng cá theo chế độ ngập nước vào mùa khô 80
Trang 11Bảng 3.16 Các chỉ số đa dạng chim theo các sinh cảnh vào mùa mưa 85
Bảng 3.17 Các chỉ số đa dạng chim theo các sinh cảnh vào mùa khô 87
Bảng 3.18 Các chỉ số đa dạng bò sát theo các sinh cảnh vào mùa mưa 92
Bảng 3.19 Các chỉ số đa dạng bò sát theo các sinh cảnh vào mùa khô 94
Bảng 3.20 Thành phần các loài lưỡng cư theo mùa 97
Bảng 3.21 Các chỉ số đa dạng lưỡng cư theo các sinh cảnh vào mùa mưa 99
Bảng 3.22 Các chỉ số đa dạng lưỡng cư theo các sinh cảnh vào mùa khô 100
Bảng 3.23 Thành phần các loài thú theo mùa 103
Bảng 3.24 Các chỉ số đa dạng thú theo các sinh cảnh vào mùa mưa 104
Bảng 3.25 Các chỉ số đa dạng thú theo các sinh cảnh vào mùa khô 106
Bảng 3.26 Số nhân khẩu và lao động chính trong hộ gia đình 109
Bảng 3.27 Thống kê phân loại hộ giàu nghèo 111
Bảng 3.28 Thực trạng các hoạt động sinh kế của người dân 112
Bảng 3.29 Nhận thức của người dân về vai trò của khu rừng Tràm Gáo Giồng 113
Bảng 3.30 Tổng hợp các chỉ tiêu phục vụ công tác dự báo cháy rừng 113
Bảng 3.31 Thống kê diện tích các vùng có nguy cơ xảy ra cháy rừng 114
Bảng 3.32 Tình hình khai thác rừng tràm trong 7 năm gần đây 116
Bảng 3.33 Nhu cầu mức thủy cấp và diện tích thực bì khô để rừng ở mức cháy thấp hoặc trung bình 124
Bảng 3.34 Nhu cầu mức độ ngập nước để rừng tràm sinh trưởng nhanh nhất 124
Bảng 3.35 Nhu cầu mức độ ngập nước để bảo tồn sinh cảnh đồng cỏ 125
Bảng 3.36 Cơ cấu thu thập của các hộ dân tham gia chia sẻ lợi ích tại khu vực bảo tồn và sử dụng tài nguyên ĐNN 128
Bảng 3.37 Nhu cầu mức thủy cấp và diện tích thực bì khô để rừng ở mức cháy thấp hoặc trung bình 130
Bảng 3.38 Nhu cầu mức độ ngập nước để rừng tràm sinh trưởng nhanh nhất 130
Bảng 3.39 Cơ cấu thu thập của các hộ dân tham gia chia sẻ lợi ích tại khu vực phát triển và sử dụng tài nguyên ĐNN 132
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu 31
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí ô điều tra hiện trạng rừng tràm theo cấp tuổi 37
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí các điểm lấy mẫu nước, phẫu diện đất và điều tra cá, thực vật thân thảo 38
Hình 2.4 Cách đo đạc các chỉ tiêu phân loại ở thú nhỏ 40
Hình 2.5 Sơ đồ thiết kế tuyến điều tra để thu thập thông tin về chim, thú, bò sát, ếch nhái tại vùng nghiên cứu 41
Hình 2.6 Sơ đồ bố trí các điểm điều tra thu thập các chỉ tiêu dự báo cháy rừng 45
Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng rừng và sinh cảnh ĐNN vùng nghiên cứu 53
Hình 3.2 Một số sinh cảnh ĐNN vùng nghiên cứu 54
Hình 3.3 Bản đồ chế độ ngập nước vùng nghiên cứu 57
Hình 3.4 Biểu đồ DO theo chế độ ngập nước tại vùng nghiên cứu 58
Hình 3.5 Biểu đồ TDS theo chế độ ngập nước tại vùng nghiên cứu 59
Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện giá trị pH theo chế độ ngập nước tại vùng nghiên cứu 59
Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện giá trị EC theo chế độ ngập nước tại vùng nghiên cứu 60 Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện các chỉ số phèn theo chế độ ngập nước 61
Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện hàm lượng các chất tổng số theo các chế độ ngập nước 61 Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện các chất dễ tiêu có trong đất theo các chế độ ngập nước 62
Hình 3.11 Biểu đồ hàm lượng cation trao đổi có trong đất theo chế độ ngập nước 62 Hình 3.12 Biểu đồ so sánh số loài thực vật thân thảo theo mùa và chế độ ngập nước 69
Hình 3.13 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã thực vật thân thảo theo các chế độ ngập nước ở các mức tương đồng 14%, 24% và 34% vào mùa mưa 71
Hình 3.14 Biểu đồ phân tích tương quan các loài thực vật thân thảo ở các mức tương đồng 14%, 24%, 34% vào mùa mưa 71
Trang 13Hình 3.15 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã thực vật thân thảo ở các mức tương đồng 5%, 15% và 30% vào mùa khô 73 Hình 3.16 Biểu đồ phân tích tương quan các loài thực vật thân thảo ở mức tương đồng 9%, 19%, 29% vào mùa khô 73 Hình 3.17 Biểu đồ so sánh chỉ số đa dạng Shannon thực vật thân thảo theo chế độ ngập nước và theo mùa 74 Hình 3.18 Hình ảnh một số loài cá quý, hiếm ở khu rừng Tràm Gáo Giồng 76 Hình 3.19 So sánh số lượng các loài cá theo mùa và các chế độ ngập nước 77 Hình 3.20 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã cá theo chế độ ngập nước ở mức tương đồng 37%, 47% vào mùa mưa 79 Hình 3.21 Biểu đồ phân tích tương quan các loài cá ở mức tương đồng 36%, 46%, 56% vào mùa mưa 79 Hình 3.22 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã cá theo chế độ ngập nước ở mức tương đồng 40%, 55% vào mùa khô 81 Hình 3.23 Biểu đồ phân tích tương quan các loài cá ở mức tương đồng 32%, 42%, 52% vào mùa khô 81 Hình 3.24 Biểu đồ so sánh chỉ số đa dạng Shannon cá theo mùa và chế độ ngập 82 Hình 3.25 Biểu đồ so sánh số lượng loài chim theo các sinh cảnh và theo mùa 83 Hình 3.26 Một số sinh cảnh chính là nơi cư trú của một số loài chim 84 Hình 3.27 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã chim theo các sinh cảnh ở mức tương đồng 30%, 36% và 70% vào mùa mưa 86 Hình 3.28 Biểu đồ phân tích tương quan các loài chim ở mức tương đồng 21%, 41%, 51% vào mùa mưa 86 Hình 3.29 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã chim theo các sinh cảnh ở các mức tương đồng 28%, 38% vào mùa khô 88 Hình 3.30 Biểu đồ phân tích tương quan các loài chim ở các tương đồng 29%, 39%, 50% vào mùa khô 88 Hình 3.31 Biểu đồ so sánh các chỉ số đa dạng Shannon của các loài chim 89 Hình 3.32 Hình ảnh một số loài bò sát 91
Trang 14Hình 3.33 Biểu đồ so sánh số lượng loài bò sát theo sinh cảnh và theo mùa 91
Hình 3.34 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã bò sát theo các sinh cảnh ở mức tương đồng 38%, 48% vào mùa mưa 93
Hình 3.35 Biểu đồ phân tích tương quan các loài bò sát ở các tương đồng 43%, 53%, 70% vào mùa mưa 93
Hình 3.36 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã bò sát theo các sinh cảnh ở tương đồng 31% và 41% vào mùa khô 95
Hình 3.37 Biểu đồ phân tích tương quan các loài bò sát ở mức tương đồng 40%, 55%, 80% vào mùa khô 95
Hình 3.38 Biểu đồ so sánh các chỉ số đa dạng Shannon của các loài bò sát 96
Hình 3.39 Một số hình ảnh các loài lưỡng cư 97
Hình 3.40 Biểu đồ so sánh số lượng loài lưỡng cư theo sinh cảnh và theo mùa 98
Hình 3.41 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã lưỡng cư ở mức tương đồng 60%, 70% vào mùa mưa 99
Hình 3.42 Biểu đồ phân tích tương quan các loài lưỡng cư ở mức tương đồng 65%, 75% vào mùa mưa 100
Hình 3.43 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã lưỡng cư ở mức tương đồng 34% và 40% vào mùa khô 101
Hình 3.44 Biểu đồ phân tích tương quan các loài lưỡng cư ở mức tương đồng 52%, 82% vào mùa khô 101
Hình 3.45 Biểu đồ so sánh các chỉ số đa dạng Shannon lưỡng cư 102
Hình 3.46 Hình ảnh một số loài thú 103
Hình 3.47 Biểu đồ so sánh số lượng loài thú theo sinh cảnh và theo mùa 104
Hình 3.48 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã thú ở mức tương đồng 16%, 35% vào mùa mưa 105
Hình 3.49 Biểu đồ phân tích tương quan các loài thú ở mức tương đồng 25%, 36%, 82% vào mùa mưa 106
Hình 3.50 Biểu đồ phân tích tương quan các quần xã thú ở mức tương đồng 16% và 31% vào mùa khô 107
Trang 15Hình 3.51 Biểu đồ phân tích tương quan các loài thú ở mức tương đồng 24%, 34%
và 68% vào mùa khô 108
Hình 3.52 Biểu đồ so sánh các chỉ số đa dạng Shannon của các loài thú 108
Hình 3.53 Bản đồ phân bố dân cư tại vùng đệm Khu rừng Tràm Gáo Giồng 110
Hình 3.54 Biểu đồ lượng mưa và nhiệt độ trung bình tháng từ năm 2005 - 2017 114 Hình 3.55 Bản đồ phân vùng dự báo cháy vùng nghiên cứu 115
Hình 3.56 Bản đồ thực trạng phân vùng sử dụng vùng nghiên cứu 119
Hình 3.57 Sơ đồ tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên ĐNN 120
Hình 3.58 Sơ đồ quản lý tổng hợp khu rừng Tràm Gáo Giồng 122
Hình 3.59 Sơ đồ hệ thống các giải pháp quản lý ở khu vực bảo tồn và sử dụng tài nguyên ĐNN 123
Hình 3.60 Sơ đồ vị trí vùng cần điều tiết nước 126
Hình 3.61 Sơ đồ hệ thống các giải pháp quản lý ở khu vực phát triển và sử dụng tài nguyên ĐNN 129
Hình 3.62 Cơ cấu tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên ở khu vực phát triển và sử dụng tài nguyên ĐNN 131
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
ĐBSCL có diện tích tự nhiên khoảng 3,9 triệu ha, trong đó hơn 80% là ĐNN [57] Trong đó có 8 khu RĐD có HST rừng tràm và ĐNN, với tổng diện tích khoảng 30.000 ha [63] Thực trạng quản lý rừng hiện nay tại các khu rừng này được thực hiện theo cách tiếp cận riêng lẻ các yếu tố, chủ yếu quan tâm đến rừng tràm, trong khi các yếu tố khác của HST ĐNN (nước, đất, động thực vật, cảnh quan…) thì vẫn còn ít được quan tâm Việc giữ mực nước cao quanh năm để giảm nguy cơ cháy rừng đã làm HST ĐNN theo mùa trở thành HST ĐNN quanh năm, làm hạn chế sinh trưởng của cây tràm, làm gốc cây tràm không còn bám được vào đất và cây sẽ chết, môi trường sống của các sinh cảnh đồng cỏ ngập nước theo mùa bị thu hẹp, từ đó làm mất đi nơi cư trú của các loài chim nước, lưỡng cư, bò sát, cá, thú, thực vật
Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật trước đây (Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 và các văn bản quy phạm pháp luật thi hành Luật này) và hiện nay (Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 [48], Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp) về khai thác, sử dụng tài nguyên trong RĐD chỉ quy định đối với đối tượng là rừng và RĐD
ở vùng cao Còn các tài nguyên của ĐNN trong RĐD ở vùng ĐNN chưa được quy định rõ ràng Qua đó cho thấy các văn bản pháp luật trên chỉ áp dụng đúng cho các khu RĐD ở vùng cao, còn các khu RĐD ở vùng ĐNN chưa hề đề cập đến Nếu như
áp dụng các quy định trên vào HST rừng tràm trên vùng ĐNN ở ĐBSCL thì rất lãng phí tài nguyên đặc biệt là nguồn lợi thủy sản nói chung và nguồn lợi cá đen nói riêng (các loài cá này theo nước lũ sẽ di cư từ sông Mê Công vào trú trong các khu rừng ở vùng Đồng Tháp Mười, vào mùa khô nếu không khai thác thì cá cũng chết
do nước rút dần, nếu khai thác thì vi phạm quy chế quản lý RĐD đối với Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt) Trong khi đó cuộc sống của CĐĐP sống trong vùng đệm các khu bảo tồn là hết sức khó khăn, rất cần một cơ chế chia sẻ lợi ích tài nguyên rừng gắn với việc quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của CĐĐP
Trang 17Khu rừng Tràm Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp là một vùng ĐNN, được thành lập theo Quyết định số 372/2001/QĐ-UB ngày 14 tháng 5 năm 2001, của UBND huyện Cao Lãnh, với diện tích khoảng 1.500 ha, trong đó hơn 1.000 ha là rừng tràm
trồng (Melaleuca cajuputi Power), còn lại là diện tích trảng cỏ, kênh mương… Qua
hơn 17 năm hoạt động, khu rừng Tràm Gáo Giồng đã mang lại hiệu quả về kinh tế -
xã hội lớn cho địa phương Tuy đây là một khu rừng sản xuất, nhưng với phương thức quản lý trên không gian được quy hoạch một cách rõ ràng, gồm khu vực cho mục đích bảo tồn ĐDSH; đồng cỏ ngập nước theo mùa; sử dụng cảnh quan tự nhiên ĐNN cho phát triển du lịch; tỉa thưa và khai thác tràm; các hoạt động sử dụng và bảo tồn đều có sự tham gia của CĐĐP, qua đó thu nhập của các hộ trong vùng đệm được cải thiện, nơi đây trở thành một trong những “lá phổi xanh” của vùng Đồng Tháp Mười, là một trong những điểm dừng chân của du khách trong và ngoài nước Như vậy, về hình thức quản lý của khu rừng Tràm Gáo Giồng vừa thực hiện chức năng bảo tồn đa dạng sinh học, vừa sử dụng hợp lý tài nguyên rừng và ĐNN
có sự tham gia của CĐĐP, đây có thể được coi như một “mô hình” về quản lý tổng hợp một khu rừng tràm trên vùng ĐNN
Trước đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến rừng tràm và ĐNN Tuy nhiên, các công trình này chỉ dừng lại nghiên cứu
về một khía cạnh nào đó về quản lý rừng tràm, chưa có công trình nào nghiên cứu việc quản lý rừng tràm gắn với các yếu tố ĐNN có sự tham gia của CĐĐP
Để có cơ sở khoa học quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên rừng tràm trên
vùng ĐNN, việc kế thừa những tài liệu đã có và tiếp tục đi sâu “Nghiên cứu cơ sở
khoa học quản lý tổng hợp khu rừng Tràm Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp” nhằm đề
xuất phương thức quản lý tổng hợp để đáp ứng mục tiêu bảo tồn ĐDSH với sử dụng tài nguyên rừng một cách hợp lý có sự tham gia của CĐĐP là cần thiết để các khu rừng tràm khác có điều kiện tương tự tham khảo
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu lý luận: Đề xuất một mô hình quản lý rừng tràm ở Gáo Giồng dựa trên cơ sở khoa học về các mối quan hệ của rừng tràm với các yếu tố ĐNN theo
Trang 18phương thức tiếp cận quản lý HST có sự tham gia của CĐĐP, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng tràm và ĐNN một cách bền vững đồng thời vẫn duy trì chức năng
và giá trị của rừng tràm và HST
Mục tiêu thực tiễn:
- Nghiên cứu xác định sự ảnh hưởng của chế độ ngập nước, sinh cảnh và theo mùa đến tài nguyên rừng và ĐNN làm cơ sở đề xuất cơ sở khoa học cho việc quản lý tổng hợp HST rừng tràm
- Đề xuất mô hình quản lý tổng hợp rừng tràm dựa trên mối quan hệ sinh thái giữa rừng tràm với các yếu tố đất ngập nước có sự tham gia của cộng đồng địa phương, gắn giữa bảo tồn với khác thác, sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Xây dựng luận cứ khoa học để đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp một khu rừng tràm trên vùng ĐNN dựa trên kết quả nghiên cứu các yếu tố tự nhiên (tài nguyên động/thực vật, chế độ ngập nước, đất) và các yếu tố xã hội (cộng đồng dân
cư, thực trạng quản lý tài nguyên rừng và ĐNN);
+ Đóng góp các dữ liệu khoa học vào kho tư liệu nghiên cứu về rừng tràm và ĐNN ở Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất một biện pháp quản lý tổng hợp rừng tràm từ thực tiễn của Ban quản lý Khu rừng tràm Gáo Giồng nhằm góp phần nâng cao nhận thức chung về quản lý rừng tràm theo cách tiếp cận quản lý hệ sinh thái ĐNN
4 Những đóng góp mới của luận án
i) Xác định được cơ sở khoa học của việc quản lý rừng tràm trên vùng ĐNN theo cách tiếp cận HST dựa trên mối liên hệ giữa các yếu tố ĐNN gồm rừng tràm, thực vật, động vật, đất theo chế độ ngập nước, theo mùa và các sinh cảnh rừng
ii) Đề xuất được mô hình quản lý tổng hợp rừng tràm trên vùng ĐNN ở Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp theo mục đích sử dụng bền vững các tài nguyên của hệ sinh thái có sự tham gia của cộng đồng địa phương nhưng vẫn duy trì các chức năng, giá trị của rừng tràm và ĐNN
Trang 195 Đối tượng nghiên cứu
Khu rừng Tràm Gáo Giồng là một khu rừng sản xuất, thuộc HST ĐNN, để hình thành cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc xây dựng biện pháp quản lý tổng khu rừng Tràm Gáo Giồng được nghiên cứu trên 2 nhóm đối tượng là: (i) Nhóm yếu
tố tự nhiên: Rừng tràm, thực vật thân thảo, cá, chim, thú, bò sát, ếch nhái và chế độ ngập nước; (ii) Nhóm yếu tố xã hội: Công tác quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN, đặc điểm dân cư sống giáp ranh khu rừng Tràm Gáo Giồng
6 Phạm vi và địa điểm nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ dừng lại ở việc đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp khu rừng tràm mà chưa có thời gian kiểm nghiệm, đánh giá
Địa điểm nghiên cứu: Điều tra thu thập số liệu tại khu rừng Tràm Gáo Giồng
và các hộ dân thuộc ấp 6 xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
7 Thời gian thực hiện
Thời gian điều tra thu thập số liệu tại hiện trường:
- Mùa mưa: Lần 1: Vào thời điểm cuối mùa lũ (tháng 12 năm 2014); Lần 2: Vào thời điểm đầu mùa lũ (tháng 9 năm 2015);
- Mùa khô: Vào thời điểm giữa mùa khô (tháng 4 năm 2015)
Thời gian xử lý số liệu và viết báo cáo: Năm 2016 – 2018
8 Bố cục luận án
Luận án dài 147 trang, gồm các nội dung sau:
Mở đầu: 4 trang
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 24 trang
Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 22 trang
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 83 trang
Kết luận và kiến nghị: 2 trang
Các công trình đã công bố liên quan đến đề tài : 1 trang
Tài liệu tham khảo: 11 trang
Phụ lục
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về rừng Tràm cajuputi
1.1.1.1 Đặc điểm phân loại
Theo Chevalier (1927) [20] và CAB (2006) [76 , về mặt phân loại, Tràm
(Melaleuca cajuputi Powell) (gọi tắt là tràm cajuputi) là một trong 10 loài hợp thành phức hệ M leucadendra hay còn gọi là M leucadendron Do chúng có nhiều
đặc điểm giống nhau, nên những loài thuộc phức hệ này rất khó phân biệt, nhất là ở
những vùng chúng sống gần nhau Trong phức hệ M leucadendra, loài Melaleuca
cajuputi có quan hệ gần gũi với M viridiflora Sol ex Gaertner và M quinquenervia
(Cav.) S T Blake Những đặc tính phân biệt Tràm (Melaleuca cajuputi Powell) là
cuống lá dài 3-11 mm; phiến lá hầu hết có kích thước lớn hơn 5 cm; lá già lốm đốm tuyến dầu, hoa văn mắt lưới nổi rõ như gân lá; chồi non có nhiều nhánh nhỏ vươn
rộng Trái lại, loài M viridiflora Sol ex Gaertner có cuống lá dài 1-2 cm; phiến lá
rất mỏng và rộng hơn 2,5 cm; chồi non có nhiều nhánh nhỏ mềm mượt ép sát vào
nhau Loài M quinquenervia giống Melaleuca cajuputi nhưng tuyến dầu không nổi
rõ trên lá già, không tạo thành hoa văn mắt lưới mỏng
Tràm cajuputi, phân bố tự nhiên ở Bắc nước Úc, Papua New Guinea, một số
đảo của Indonesia, Malaysia, Thái lan và Việt Nam Trước đây loài cây này đã bị
định danh nhầm là Melaleuca leucadendron L hoặc M leucadendra L Loài có 3
phân loài cụ thể như sau (Brophy, Doran, 1996) [75]: M cajuputi subsp Cajuputi:
Có phân bố tự nhiên ở Tây Bắc nước Úc và Đông Indonexia (gồm cả đảo Buru và
Ceram); M cajuputi subsp Cimingiana: Có phân bố tự nhiên kéo dài từ Việt Nam qua Thái lan, Malaysia tới Tây Indonexia; M cajuputi subsp Platyphylla: Gặp chủ
yếu ở Bắc nước Úc, Nam Papua New Guinea, Irian Jaya và một số đảo lân cận
1.2.1.2 Điều kiện hình thành và phân bố rừng tràm
Theo Doran, J.C và Gunn, B.V (1994) [81], Tràm cajuputi phân bố tự nhiên
ở miền Bắc nước Úc và Papua New Guinea Tuy nhiên, loài cây này cũng phân bố rộng rãi trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Myanma, Thái Lan,
Trang 21Việt Nam và Ấn độ Nói chung, Tràm cajuputi phân bố tự nhiên từ 120 độ vĩ Bắc đến 180
độ vĩ Nam Trong tự nhiên, Tràm cajuputi mọc chủ yếu ở các miền duyên
hải của vùng nhiệt đới nóng ẩm với nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng nóng nhất là 31 - 330C; nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng lạnh nhất là 17 - 220C Loài Tràm cajuputi còn sống ở vùng có tới 230 ngày nhiệt độ trên 320C, nhưng chỉ
có vài ngày nhiệt độ trên 380C Nó cũng mọc cả ở vùng không có sương giá, lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.300 - 1.750mm, gió mùa mạnh
Về độ cao, Tràm cajuputi phân bố từ gần biển đến khoảng 200 m so với mặt
biển, sống tốt nhất ở những vùng đầm lầy ven biển; trong đó đất được hình thành từ phù sa bồi tụ, giàu hữu cơ, khả năng tiêu nước kém, độ màu mỡ thấp, nhiều axit
sunphat Trong các đầm lầy, Tràm cajuputi cùng với Lộc vừng (Barringtonia
actangula), và Gáo vàng (Nauclea orientalis) hình thành rừng thưa hỗn hợp hay
rừng gỗ Ngược lại, tại đảo Moluccas Tràm cajuputi hình thành rừng gần như thuần
loại, nó cũng có thể mọc cả ở đất liền và trên những vùng đồi đất cằn cỗi với tầng đất sét nâu đỏ Ở phía Tây đảo Seram (Indonesia), Tràm cajuputi hình thành rừng thuần loại hoặc những quần thể rải rác ở vùng đất thấp và đồi thấp từ 30 - 150m so
với mặt biển Ở vùng ven biển phía Nam đảo Buru (Indonesia), Tràm cajuputi thường mọc hỗn giao với các loài M leucadendra và M quinquenervia; còn ở bán
đảo Hoamoal là rừng thuần loại (150.000ha) (Nguyen Van Cuong (2004) [78], Pham The Dung (2005) [82], Hankaew, C (2003) [86])
Ở Úc có 7,1 triệu ha rừng tràm (4% diện tích rừng toàn quốc), nhưng chúng
là loại rừng có diện tích lớn thứ 3 sau rừng Eucalyptus và Acacia [71],[80]
1.1.2 Nghiên cứu về đất ngập nước
1.1.2.1 Nghiên cứu về các đặc điểm đất phèn
- Đất phèn được gọi bằng một số tên sau đây: Van der Spek (1950) gọi là
“catclays”, muốn chỉ đất chua, có tầng sunphat sắt hay sunphat nhôm, có những đốm vàng trong tầng phẫu diện; Edelman và Van Staveren (1956) lại gọi là
“mudclays”, ý muốn nói tầng đất này chứa nhiều sét bùn, chua, có chất nhờn; Hoặc
có tác giả gọi đất phèn là đất “thiosol”, muốn chỉ rằng trong đất có nhiều lưu huỳnh
Trang 22hay sunfat; hay còn gọi là đất “acid peat soil”, muốn nói trong đất chua vừa có nhiều hữu cơ dạng gần giống than bùn và nhiều axit sunphuric Cũng có tác giả gọi
là “strong acid sulphate soil of salty padly fields” để chỉ những cánh đồng trồng lúa giàu axit sunphuric và mặn ven biển Nhật Bản Ngày nay, ở Hội nghị đất phèn thế giới đều lấy tên chung của đất phèn là “acid sunlphate soil”, trong đó bao hàm cả loại đất có tiềm năng sinh ra phèn, trích dẫn Lê Huy Bá (2003) [2]
- Dựa trên sự hình thành và phát triển của đất, Pons (1973), trích dẫn bởi Lê Huy Bá (2003) [2] đã chia đất phèn ra làm hai loại:
+ Đất phèn tiềm tàng: Hình thành trong điều kiện khử, là đơn vị đất thuộc nhóm đất phù sa phèn Đất phèn tiềm tàng được hình thành trong vùng chịu ảnh hưởng của nước có chứa nhiều sulfat Trong điều kiệm yếm khí cùng với hoạt động của vi sinh vật, sulfat bị khử để tạo thành lưu huỳnh và chất này sẽ kết hợp với sắt
có trong trầm tích để tạo thành FeS2
+ Đất phèn hoạt động: Là một đơn vị đất thuộc nhóm đất phèn, được hình thành sau khi đất phèn tiềm tàng diễn ra quá trình oxy hóa Khi khoáng pyrit trong đất phèn tiềm tàng bị ôxy hóa hoàn toàn để hình thành khoáng jarosit ở đất phèn hoạt động thì cứ 1 mol FeS2 khi bị ôxi hóa sẽ sản sinh ra 4 mol ion H+ Do có sự gia tăng nồng độ H+ nhiều như thế nên có sự gia tăng độ chua trong đất Môi trường đất lúc bấy giờ có pH khá thấp, thông thường pH = 3,5 Tuy nhiên, ở một vài nơi có điều kiện rửa phèn khá tốt, có thể có giá trị pH cao hơn (pH = 3,7 hoặc 3,9)
1.1.2.2 Quản lý đất ngập nước
Quản lý ĐNN theo cách tiếp cập HST đã được IUCN, 2004 [30 định nghĩa
như sau: “là một chiến lược để quản lý tổng hợp đất, nước và các tài nguyên sống
nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững theo hướng công bằng”
Theo Patrik J Dugan (1993) [101], định nghĩa về ĐNN của Công ước Ramsar (2000) [102], là một định nghĩa có tầm rộng nhất, được nhiều quốc gia và tổ
chức quốc tế sử dụng Theo đó, “ĐNN là những vùng đầm lầy không than bùn, đầm lầy có than bùn, đất than bùn hoặc nước, dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay
Trang 23nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6 mét” Quan điểm của công ước Ramsar về quản lý bền
vững ĐNN: “Sử dụng khôn khéo” ĐNN và được định nghĩa như sau: “duy trì đặc
điểm sinh thái của ĐNN qua thực hiện cách tiếp cận HST trong khuôn khổ của phát triển bền vững” Do đó tâm điểm của “Sử dụng khôn khéo” là bảo tồn và sử dụng
bền vững ĐNN và tài nguyên của chúng vì lợi ích của con người
- Theo IUCN (2009) [32], quản lý ĐNN theo cách tiếp cận HST đã liệt kê 12 nguyên tắc hướng dẫn cần phải nhớ khi thực hiện cách tiếp cận này, trong đó nổi bật
là tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và sự hòa nhập của việc bảo tồn và sử dụng ĐDSH; thu hút sự tham gia của tất cả các bên có liên quan; và nên xem xét tất cả các dạng của thông tin có liên quan, bao gồm những kiến thức khoa học và bản địa
và địa phương, sự đổi mới và thực tiễn
Về quản lý nguồn tài nguyên trong các khu bảo tồn có sự tham gia của CĐĐP, tổ chức IUCN (2008), [31 , đã đề ra 5 nguyên tắc như sau:
Nguyên tắc 1: CĐĐP, người dân bản địa đã gắn bó lâu đời với tự nhiên và thấu hiểu sâu sắc tự nhiên Họ đã góp phần quan trọng vào việc gìn giữ các HST của trái đất thông qua sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững và tôn trọng tự nhiên dựa trên nền tảng bản sắc dân tộc Chính vì vậy mà xung đột giữa mục tiêu bảo tồn với sự tồn tại của người dân địa phương sống bên trong và xung quanh ranh giới KBT đã không xảy ra Hơn thế, họ phải được coi là những đối tác bình đẳng và được hưởng lợi trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược bảo tồn có những tác động đến đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, duyên hải và các nguồn lợi khác, đặc biệt tác động đến quá trình xây dựng và quản lý các KBT
Nguyên tắc 2: Xây dựng và quản lý các KBT cần dựa trên sự tôn trọng tất cả các quyền của CĐĐP và người bản địa trong việc sử dụng theo truyền thống và bền vững đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, bờ biển và các nguồn lợi khác Đồng thời, các thoả thuận đó phải trên cơ sở khẳng định trách nhiệm của CĐĐP, người dân bản địa trong việc bảo tồn ĐDSH, tính toàn vẹn của HST, nguồn tài nguyên thiên nhiên có trong các KBT
Trang 24Nguyên tắc 3: Nguyên tắc phân cấp, tham gia, minh bạch và trách nhiệm cần được thể hiện trong tất cả các hoạt động liên quan đến lợi ích chung của khu bảo tồn thiên nhiên, CĐĐP, người dân bản địa
Nguyên tắc 4: CĐĐP, người dân bản địa phải có khả năng chia sẻ một cách công bằng và đầy đủ các lợi ích có liên quan đến các KBT, được công nhận tất cả các quyền công bằng như các đối tác khác
Nguyên tắc 5: Quyền của CĐĐP, người dân bản địa đối với các KBT thường gắn với trách nhiệm có tính quốc tế vì nhiều vùng đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, biển, bờ biển và các nguồn tài nguyên khác mà họ sở hữu hoặc chiếm dụng thường liên biên giới quốc gia
1.1.3 Quản lý rừng tràm trên vùng ĐNN
1.1.3.1 Ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến sinh trưởng rừng tràm
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường đến sinh trưởng của rừng
Tràm cajuputi cũng đã được một số tác giả quan tâm Khi nghiên cứu rừng Tràm
cajuputi trồng ở vùng đầm lầy Thailand, Yamanoshita Takashi (2001) [106] nhận
thấy tăng trưởng chiều cao cây trong mùa ngập nước lớn hơn mùa khô
Theo Nakabayashi Kazua (2001) [100], tổng sinh khối của rừng Tràm
cajuputi 1 năm tuổi được trồng trên líp lớn hơn 23,7% rừng trồng không lên líp
Năm 2002, sau khi mô hình hóa quá trình sinh trưởng của 591 cây mẫu tại
Narathiwat (Thái Lan) bằng hàm bậc 3, Wuthipol Hoamuangkeaw (2002) [88], [89]
đã đề xuất chu kỳ kinh doanh rừng tràm không vượt quá 12 năm; đồng thời chu kỳ
khai thác thích hợp đối với rừng Tràm cajuputi trên ba cấp lập địa là 9, 10 và 11
tuổi Khi nghiên cứu về tiềm năng sử dụng gỗ tại tỉnh Narathiwat (Thái Lan),
Benjachaya, S (2002) [73], [74 cũng đã chỉ ra rằng, rừng Tràm cajuputi từ 3 tuổi
trở lên có thể cho gỗ để sản xuất than, còn trên 5 tuổi cho gỗ làm cột nhà
Theo Wuthipol Hoamuangkaew (2002) [89], rừng Tràm cajuputi ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Thái Lan, nhất là đối với cộng đồng dân
cư trong khu vực rừng đầm lầy Toe Daeng thuộc tỉnh Narathiwat Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng, so với sản xuất gỗ, sản xuất xi măng tấm và dầm gỗ từ một tấn
Trang 25gỗ Tràm cajuputi mang lại lợi nhuận cao hơn Một số nước Đông Dương còn dùng thân cây Tràm cajuputi làm trụ cầu, cột, khung kèo nhà ở và nọc tiêu [20]
1.1.3.2 Phương thức quản lý rừng tràm và ĐNN
Kết quả nghiên cứu của Turner T.D (1998) [107], về kiểm soát sinh học loài
Melaleuca quinquenervia ở vùng ĐNN phía nam Florida, Hoa Kỳ cho thấy biện
pháp chặt bỏ thủ công, máy, đốt chủ động, thuốc diệt cỏ mang lại hiệu quả không cao về kinh tế, xã hội, môi trường Bằng biện pháp sinh học, dùng Mọt lá để chống lại cỏ dại ở Florida mang lại hiệu quả cao, tốc độ lây lan và phục hồi của chúng chậm hơn và không gây tổn thương đến môi trường đất, nước
Kết quả nghiên cứu của Frank J Mazzotti (1997) [85] về ngăn chặn sự xâm lấn các loài sinh vật ngoại lai và tăng tính ĐDSH ở các vùng ĐNN tại công viên quốc gia miền Nam Florida, đã xây dựng chiến lược quản lý tổng hợp, trong đó đã xây dựng kế hoạch quản lý nước theo các tiểu vùng sinh thái có sự tham gia của CĐĐP và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia
Keddy và cộng sự (2009) [93 , đã nghiên cứu một số dịch vụ HST vùng ĐNN tại 4 vùng ĐNN (vùng đất than bùn lớn nhất ở vùng đất thấp Tây Siberia; vùng ngập nước lớn nhất ở lưu vực sông Amazon; vùng ĐNN ít được biết đến nhất
ở lưu vực sông Congo và vùng ĐNN phát triển nhất ở lưu vực sông Mississippi), trong đó các tác giả đã xây dựng bản đồ ĐNN và chứng minh sự đa dạng sinh học, các giá trị bảo tồn cho mỗi vùng ĐNN khác nhau làm cơ sở cho việc xây chiến lược quản lý bền vững trên toàn lưu vực
Lin và cộng sự 2018 [95 , đã nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng có thể làm mất đi vùng ĐNN ven biển ở ba cụm đô thị ven biển ở Trung Quốc trong giai đoạn 1990 – 2015 là do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai, trong đó, chỉ tiêu chất lượng nước mặt là chỉ thị quan trọng để đánh giá suy thoái sinh thái Việc bảo tồn HST ĐNN ven biển là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Theo Vymazal (2010) [113], việc tạo lập các vùng ĐNN đã trở thành một công nghệ xử lý nước thải hiệu quả cho các loại nước thải khác nhau Việc phân
Trang 26loại các vùng đất ngập nước được xây dựng dựa trên các yếu tố: loại thảm thực vật; thủy văn (mặt nước, nước ngầm); và vùng ĐNN chảy ngầm có thể được phân loại thêm theo hướng dòng chảy (dọc hoặc ngang)
Theo báo cáo của Russi và cộng sự (2013) [105 , đã nhấn mạnh tầm quan trọng cơ bản của vùng ĐNN trong chu trình nước và trong việc giải quyết các mục tiêu nước được thể hiện trong thỏa thuận Rio +20, các mục tiêu phát triển thiên niên
kỷ và phát triển bền vững Báo cáo này trình bày cái nhìn sâu sắc về cả dịch vụ HST, việc tìm hiểu tất cả các lợi ích từ HST mang lại cho xã hội, môi trường, kinh
tế sẽ là động lực cho các bên có liên quan tham gia đầu tư bảo tồn, phục hồi gắn với
sử dụng khôn ngoan tài nguyên ĐNN Để hiểu được hết các giá trị HST đòi hỏi cần phải thảo luận với cộng đồng để xác định các dịch vụ có nguồn gốc từ nước
và vùng ĐNN, trong đó nhấn mạnh vai trò kiến thức bản địa của CĐĐP
Một phân tích về sự thay đổi cảnh quan đầm lầy trong khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Honghe, Trung Quốc của Luan và cộng sự (2013) [96 , đã được nghiên cứu, kết quả chỉ ra rằng sự phát triển nông nghiệp đã biến một cảnh quan đầm lầy tự nhiên độc đáo thành một cảnh quan nông nghiệp (90% các vùng đầm lầy
tự nhiên đã bị mất) Để đối phó với các mối đe dọa ngày càng tăng đối với môi trường sống ĐNN còn lại, việc nghiên cứu điều tiết nước thông qua các dự án thủy lợi đóng một vai trò hết sức quan trọng
Theo Harrington (2011) [87], việc sử dụng bền vững 16 vùng ĐNN được thực hiện theo mô hình ở vùng Waterford, Đông Nam Ireland theo cách tiếp cận HST đã được sự đồng thuận cao của các bên có liên quan khi giải quyết hài hòa các khía cạnh về lợi ích xã hội, môi trường và kinh tế Kết quả cho thấy việc quản lý cách tiếp cận này đã làm chất lượng nước được cải thiện, tính đa dạng sinh học tăng lên, mang lại nhiều lợi ích cho xã hội và được chấp nhận của CĐĐP
Moreno Mateos và cộng sự (2010) [99 , đã dựa trên cơ sở các mục tiêu truyền thống của chiến lược quản lý vùng ĐNN như cải thiện chất lượng nước, tăng cường ĐDSH và kiểm soát lũ lụt để đề xuất 4 bước cơ bản để đưa ra cách xác định mục tiêu tổng hợp phục hồi ĐNN: (1) Dựa trên nhu cầu và giới hạn của cộng đồng
Trang 27địa phương về sử dụng tài nguyên rừng và ĐNN; (2) Xác định quy mô, phạm vi, ranh giới vùng ĐNN muốn tạo ra hoặc khôi phục; (3) Nghiên cứu, xác định các mối
đe dọa và đồng thuận trong các mục tiêu đã đưa ra; (4) Xác định chiến lược thành lập hoặc phục hồi các vùng ĐNN Theo các hướng dẫn này, các vùng ĐNN được khôi phục hoặc tạo ra tương tự như vùng ĐNN tự nhiên sẽ có nhiều chức năng sinh thái hơn, có thể cung cấp một loạt các dịch vụ môi trường, sinh thái phù hợp với nhu cầu của CĐĐP
Tóm lại, cách quản lý rừng tràm và ĐNN ở trên thế giới đều dựa trên mục tiêu quản lý tổng hợp chứ không riêng vì mục tiêu kinh tế, quản lý và sử dụng tất cả các dịch vụ HST ĐNN có sự tham gia của CĐĐP và giải quyết hài hòa về lợi ích xã hội, môi trường, kinh tế
1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về rừng Tràm cajuputi
1.2.1.1 Đặc điểm phân loại
Ở Việt Nam, Tràm cajuputi là một trong số ít loài cây gỗ có sự đa dạng về sinh thái và hình thái Ở miền Nam người dân quen gọi loài là "Tràm cừ" do gỗ của
nó được sử dụng chủ yếu để làm cừ Tuy nhiên, ngoài dạng tràm có thân cao để làm
cừ, ở nước ta còn có dạng tràm thân thấp như cây bụi, do nó được dùng để chưng cất tinh dầu, nên người ta gọi là "Tràm gió" Theo Hoàng Chương (2004) [78], cả 2 dạng Tràm cừ và Tràm gió đều thuộc loài Tràm cajuputi
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2010) [37], Tràm cajuputi là một trong 250 loài
của chi Melaleuca Dựa vào đặc điểm hình thái, hàm lượng hóa học và phân bố địa
lý, Chevalier (1927) [20], CAB (2006) [76] đã phân chia Tràm cajuputi thành 3
phân loài: cajuputi, cumingiana (Turcz.) Barlow và platyphylla Barlow
Theo Thái Văn Trừng (1998) [67], tràm là loài cây chiếm ưu thế trong HST rừng ngập nước phèn ở ĐBSCL, là một thành phần của HST ĐNN phèn, sự sinh trưởng và phát triển của rừng tràm có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường ĐNN
1.2.1.2 Các điều kiện hình thành rừng Tràm cajuputi
Theo Lâm Bỉnh Lợi (1981) [35], rừng tràm ở vùng ĐBSCL hình thành
Trang 28những quần thụ thuần loài trên đất phèn có độ pH trên dưới 4 Theo hệ thống phân loại rừng của Thái Văn Trừng (1998) [67], rừng tràm thuộc “Hệ sinh thái rừng úng
phèn”; trong đó Tràm cajuputi là loài cây thích nghi và có thể sinh trưởng trong
nước ngập phèn ngay từ khi còn là cây mầm và cây mạ, có thể hình thành trên những giồng cát bị ngập úng Phát triển rất mạnh ở khu vực Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và bán đảo Cà Mau Riêng khu vực trũng vùng U Minh có một kiểu phụ diễn thế nguyên sinh, đó là rừng ngập nước hỗn hợp trên đất than bùn
Những nghiên cứu của Nguyễn Văn Cường và cộng sự (2004) [78] cho thấy,
Tràm cajuputi có thể mọc rải rác hoặc tập trung thành những đám nhỏ trên những
bãi đất trũng xung quanh những hồ nước nằm xen giữa những đồi đất thấp ở phía Nam tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và có thể bắt gặp trên nhiều loại đất khác nhau
từ Nghệ An đến miền duyên hải Trung Trung Bộ và kéo dài đến Cà Mau, Kiên
Giang Tràm cajuputi có biên độ thích ứng rộng với nhiều nhân tố khí hậu, điều kiện
đất đai và địa hình, chế độ thủy văn Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Trốn (2006) [65], Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (1997) [66] cho
thấy rừng Tràm cajuputi trồng chỉ sinh trưởng, phát triển mạnh ở những nơi có khí
hậu nhiệt đới nóng ẩm với hai mùa mưa và khô rõ rệt; trong đó tổng lượng mưa hàng
năm không dưới 1.500 mm Tràm cajuputi cũng đòi hỏi đất sâu và ẩm, thành phần cơ
giới trung bình, thoát nước tốt, không phèn hoặc phèn nhẹ với độ pH không thấp hơn 3,8; thời gian rừng bị ngập nước không kéo dài quá 3 – 4 tháng
Cây tràm không chịu được độ mặn cao Nếu độ mặn lên cao tới >20 ‰ thì sẽ làm chết cây tràm con nhỏ hơn 4 tuổi và ức chế mạnh sinh trưởng của các cây tràm lớn tuổi Trong mùa mưa, nước ngập trên mặt đất càng sâu và thời gian ngập nước càng kéo dài thì ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây tràm càng mạnh Mức độ phèn của đất càng mạnh thì càng ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây tràm (Đỗ Đình Sâm (2001) [51])
Theo Dương Văn Ni [38], Tràm cajuputi thường sinh trưởng trên đất phèn
chua nặng, ẩm ướt, hay nơi bị ngập trên 10 cm đến vài mét vào tháng 7 và tháng 8
Độ chua có xu hướng cao hơn vào cuối mùa nắng đầu mùa mưa Do đó, trừ Tràm
Trang 29cajuputi và cỏ năng Eleocharis dulcis (một loại cỏ chịu ngập), không cây nào khác có
thể thích nghi điều kiện đất chua nặng như thế trừ khi đất được cải tạo
1.2.2 Nghiên cứu về đất ngập nước
1.2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm của đất phèn
- Moormann F.R (1964), đã xây dựng bản đồ đất Nam Việt Nam tỷ lệ 1:1000.000, trích dẫn Phan Liêu (1998) [33 , trong đó ở ĐTM có mặt các đơn vị đất sau:
+ Đất phù sa sông Mê Công, dọc theo sông Tiền
+ Đất phèn nhiều (Strongly Acid Sulphate Soils)
+ Đất phèn ít (Lightly Acid Sulphate Soils)
+ Đất xám Podzolic (Grey podzolic Soils)
- Năm 1974, trong khuôn khổ khổ hoạt động của Ủy ban Mê Công Quốc tế, đoàn chuyên gia Hà Lan đã xây dựng bản đồ “Tài nguyên đất sông Mê Công” tỷ lệ 1:250.000, trích dẫn Phan Liêu (1998) [33], vùng Đồng Tháp Mười cũng đã được nghiên cứu với các đơn vị “Địa mạo – Thổ Nhưỡng – Thủy văn” như sau:
+ Đồng bằng ngập lụt của sông (dọc sông Tiền) gồm 2 đơn vị nhỏ:
1) Vùng đất cao, thành phần cơ giới thịt trung bình, đất không chua
2) Đầm lầy, thành phần cơ giới sét, đất không chua
+ Vùng trũng rộng (vùng trũng ĐTM) gồm:
1) Đầm lầy với đất phèn, sét, đất chua
2) Đầm lầy với đất phèn, sét, đất rất chua
- Bậc thềm (vùng phù sa cổ cao ven biên giới Campuchia) gồm 2 bậc 1) Bậc thềm cao/thành phần cơ giới nhẹ, đất không chua
2) Bậc thềm thấp/đất nặng, không chua
- Theo Phan Liêu (1998) [33 , đất phèn có độ phì tiềm tàng cao nhưng do chua và hàm lượng độc tố lớn nên cần giữ rừng tràm và thảm thực vật đặc trưng của đất phèn ngập nước để làm nơi cư trú của các loài chim nước, động vật và các loài thủy sản Đất phèn ở vùng ĐTM phân bố chủ yếu ở phần giữa của lãnh thổ với tổng diện tích đất phèn 273.659 ha, chiếm 39,27% tổng diện tích tự nhiên vùng ĐTM
Trang 30Bảng 1.1 Phân loại đất phèn vùng Đồng Tháp Mười
STT
Hệ thống phân loại Việt Nam Hệ thống FAO/UNESCO
tích – lũ tích trên mặt Sd Arenithioni Thionic Fluvisols FLt.a
Nguồn: Tài nguyên đất Đồng Tháp Mười, Phan Liêu, 1998
- Tùy vào mức độ phèn khác nhau (chủ yếu là đất phèn hoạt động) Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2005) [52], đã phân chia: Đất phèn mạnh, đất phèn trung bình và đất phèn yếu Căn cứ vào 2 tính chất của đất để phân loại như sau:
Trang 31năng rửa phèn để làm cơ sở cho việc phân chia lập địa đất phèn ứng dụng trong sản xuất lâm nghiệp:
- Yếu tố 1: Loại đất (Mức độ phèn): Căn cứ vào hoạt động của tầng sinh phèn trong đất chia ra 3 loại:
+ Đất phèn tiềm tàng, ký hiệu (I);
+ Đất phèn hoạt động ít và trung bình, ký hiệu (II);
+ Đất phèn hoạt động mạnh, ký hiệu (III)
- Yếu tố 1 Loại đất: Tùy đặc điểm loại đất phèn chia 3 cấp
+ Cấp 1: Rất thuận lợi trong sử dụng;
+ Cấp 2: Thuận lợi trong sử dụng, chủ yếu là đất than bùn, phèn và đất phèn hoạt động nông;
+ Cấp 3: Hạn chế sử dụng, chủ yếu là đất phèn hoạt động, nông, nhiễm mặn
- Yếu tố 2 Hàm lượng chất hữu cơ: Cấp 1: < 8%; Cấp 2: 8 – 15%; > 15%
- Yếu tố 3 Chế độ ngập nước: Cấp 1: < 60cm; Cấp 2: 60 – 100cm; > 100cm
- Yếu tố 4 Khả năng cấp nước ngọt rửa phèn: Gồm 3 cấp
+ Cấp 1: Thuận lợi, nước tưới tự chảy 9 tháng trong năm, nguồn nước phong phú trong kênh, rạch;
+ Cấp 2: Có khó khăn, có nước tưới nhưng thiếu các kênh trục chính và kênh rạch nội đồng để dẫn nước;
Trang 32+ Cấp 3: Rất khó khăn, rất khó dẫn nước tưới vì quá xa nguồn nước ngọt
1.2.2.2 Nghiên cứu về phân loại đất ngập nước
Theo Nguyễn Chí Thành, 2007 [57], trên thế giới đã có trên 50 định nghĩa khác nhau về ĐNN Nước ta tham gia Công ước Ramsar năm 1989, do vậy định nghĩa về ĐNN trong Công ước Ramsar (1971) đã được định nghĩa trong Luật ĐDSH [47 và được sử dụng chính thức trong Chiến lược quốc gia và kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN Việt Nam Bên cạnh đó Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Tiêu Chuẩn Ngành số 04 TCN 67-2004 kèm theo Quyết định số 646/QĐ/BNN-KHCN ngày 17/3/2004 về hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam [13] để áp dụng trong phạm vi quản lý chuyên ngành đối với lĩnh vực Nông nghiệp và PTNT, trong đó định nghĩa ĐNN theo Công ước Ramsar cũng
đã được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống phân loại ĐNN
Nguyễn Chí Thành (2007) [57], đã xây dựng hệ thống phân loại ĐNN ở vùng ĐBSCL được đề xuất gồm 4 cấp phân vị như sau:
- Cấp 1: Tên gọi là Hệ thống (System), là đơn vị đầu tiên được xác lập dựa vào yếu tố bản chất của nước Gồm có 2 hệ thống, đó là ĐNN mặn và ĐNN ngọt
- Cấp 2: Tên gọi là Hệ thống phụ (Sub-System), được phân chia từ đơn vị hệ thống dựa vào yếu tố địa mạo Gồm có 06 hệ thống phụ (i) ĐNN mặn ven biển; (ii) ĐNN mặn cửa sông; (iii) ĐNN mặn đầm phá; (iv) ĐNN ngọt thuộc sông; (v) ĐNN ngọt thuộc hồ; (vi) ĐNN ngọt thuộc đầm
- Cấp 3: Tên gọi là Lớp (Class), được phân chia từ đơn vị hệ thống phụ dựa vào yếu tố chế độ ngập nước Gồm có 12 lớp: ĐNN mặn ven biển thường xuyên; (ii) ĐNN mặn ven biển không thường xuyên; (iii) ĐNN mặn cửa sông thường xuyên; (iv) ĐNN mặn cửa sông không thường xuyên; (v) ĐNN mặn đầm phá thường xuyên; (vi) ĐNN mặn đầm phá không thường xuyên; (vii) ĐNN ngọt thuộc sông thường xuyên; (viii) ĐNN ngọt thuộc sông không thường xuyên; (ix) ĐNN ngọt thuộc hồ thường xuyên; (x) ĐNN ngọt thuộc hồ không thường xuyên; (xi) ĐNN ngọt thuộc đầm thường xuyên; (xii) ĐNN ngọt thuộc đầm không thường xuyên
Trang 33- Cấp 4: Tên gọi là Lớp phụ (Sub-Class), là đơn vị cuối cùng của hệ thống phân loại, được phân chia từ đơn vị Lớp dựa vào yếu tố nền đất, thảm thực vật và hiện trạng
sử dụng đất Gồm 69 lớp phụ, tên gọi của mỗi lớp phụ thể hiện đầy đủ các đặc tính của một đơn vị phân loại ĐNN từ cấp 1 đến cấp 4 (hệ thống - hệ thống phụ - lớp - lớp phụ)
Qua đó, cho thấy việc phân loại ĐNN theo hệ thống thể hiện quan điểm coi ĐNN là HST Trong đó, rừng tràm nằm trong Lớp ĐNN ngọt ngập nước thường
xuyên hoặc không thường xuyên, thuộc Hệ thống phụ ĐNN ngọt thuộc đầm
1.2.3 Quản lý rừng tràm trên vùng ĐNN
1.2.3.1 Ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến sinh trưởng rừng Tràm cajuputi
Theo Thái Thành Lượm (1996) [36], rừng Tràm cajuputi trồng tại Kiên
Giang và Tứ Giác Long Xuyên có tốc độ sinh trưởng bình quân hàng năm trong 5 năm đầu là 0,86m về chiều cao và 1,13cm về đường kính Phùng Trung Ngân và
cộng sự (1987) [39], khi nghiên cứu rừng Tràm cajuputi ở U Minh (Cà Mau), cho
thấy lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm có thể đạt 0,7 – 1,0m về chiều cao; 0,6 – 0,7cm về đường kính và 8 – 10 (m3/ha/năm) Kết quả nghiên cứu tốc độ sinh
trưởng của rừng Tràm cajuputi ở tuổi 6 và 9 ở 3 tỉnh Long An, Kiên Giang, Cà Mau
của Phạm Xuân Quý, (2010) [50], cho thấy lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm lớn nhất về đường kính (ZDmax) và chiều cao (ZHmax) thân cây Tràm cajuputi trên cả ba cấp đất đều rơi vào tuổi 2 Đại lượng ΔDmax đạt tại tuổi 2 (cấp đất I) và tuổi 3 (cấp đất II và III); còn ΔHmax đạt ở tuổi 4 (cấp đất I và II) và 3 (cấp đất III)
Thái Thành Lượm (1996) [36], đã chỉ ra rằng, sinh trưởng của rừng Tràm
cajuptuti trồng trên líp từ năm thứ 3 trở đi diễn ra nhanh hơn so với rừng trồng trên
nền đất tự nhiên (không lên liếp)
Sau khi so sánh trồng rừng quảng canh cải tiến (trồng cây rễ trần, lên líp, không chăm sóc, không bón phân) ở những khu vực khác nhau, Nguyễn Thanh Bình (2006) [4], đã nhận định sinh trưởng của rừng tràm ở khu vực Cà Mau và Kiên Giang tốt hơn so với khu vực Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên
Hồ Văn Phúc (1999) [46], cho rằng, thời gian ngập nước trong năm có ảnh
hưởng tuyến tính đến tăng trưởng chiều cao thân cây Tràm cajuputi Sau khi mô tả
Trang 34quá trình sinh trưởng đường kính, chiều cao và trữ lượng lâm phần bằng mô hình tuyến tính dạng Y = a + b*ln(A)
Theo Phùng Trung Ngân (1987) [39], Tràm cajuputi có thể sinh trưởng trên
đất chua phèn nhưng không chịu được điều kiện ngập úng quanh năm
Theo Võ Ngươn Thảo (2003) [60], sinh trưởng của rừng tràm ở Cà Mau khác nhau trên ba dạng lập địa (đất sét thực bì năng, đất sét thực bì sậy và đất than bùn)
Lê Minh Lộc (2005) [34], khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ sâu ngập và loại đất lên sinh khối rừng tràm ở khu vực U Minh Hạ cho thấy: Sinh khối tươi lẫn sinh khối khô của rừng tràm ở tuổi 5 - 8 - 11 trên đất phèn đều đạt được cao nhất trên độ ngập thấp, kế đến là độ ngập trung bình, sau cùng là độ ngập cao (Thấp: độ ngập < 30cm; Trung bình: Độ ngập từ 30 – 60cm; Cao: Độ ngập > 60cm)
Trần Thị Kim Hồng (2017) [29], khi nghiên cứu sinh khối rừng tràm theo 3 mức ngập (< 30cm, 30 - 60cm, > 60cm) khác nhau ở VQG U Minh Hạ cho thấy sinh khối tươi của cây tràm trên mặt đất không khác biệt ý nghĩa, sinh khối bình quân từ 270 – 307 tấn/ha, ở mức ngập thấp nhất cho sinh khối lớn nhất
Theo Trần Văn Thắng (2017) [61], chế độ giữ nước trong VQG U Minh Thượng đã tác động mạnh tới sinh trưởng phát triển và cấu trúc của rừng tràm Trong những khu vực ngập nước càng sâu và bị ngập càng lâu dài thì sinh trưởng và phẩm chất cây càng kém
Theo Phạm Văn Tùng (2017) [64], mực nước ngập có ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng và phát triển của rừng tràm tái sinh
- Ở mức độ ngập nông từ 0 - 30cm, sinh trưởng đường kính, chiều cao ở rừng tràm tái sinh cao nhất và giảm dần ở các mức ngập cao hơn
- Mật độ cây tràm tái sinh ở rừng tràm tái sinh sau cháy rừng có quan hệ chặt chẽ với mức độ ngập nước và đường kính của cây Khi đường kính tăng đến một mức độ thì mật độ cây có xu thế giảm Mật độ cây tái sinh cao nhất khi rừng tràm tái sinh được 7 năm và tương ứng với mức ngập nông từ 0 - 30cm
- Trữ lượng rừng tràm tăng dần theo thời gian và tỷ lệ nghịch với mức độ ngập nước
Trang 35- Sinh khối rừng tràm tái sinh cao nhất ở mức độ ngập nông từ 0 - 30cm và giảm dần ở các mức ngập cao hơn
1.2.3.2 Ảnh hưởng của chế độ ngập nước đến các yếu tố của HST rừng tràm a) Ảnh hưởng của chế độ ngập nước đến các quần xã thực vật
(1) Ở Vườn quốc gia Tràm Chim
Theo báo cáo của Vườn quốc gia Tràm Chim (2011) [70], việc mực nước luôn được giữ cao nhiều tháng trong năm để hạn chế cháy rừng, đã làm cho HST suy giảm một cách trầm trọng, diện tích các quần xã cỏ năng thức ăn chính của sếu
và lúa ma đã giảm nhanh chóng, quần xã rừng tràm kém phát triển hoặc bị đổ ngã, chất lượng nước bên trong ngày một suy giảm
Năm 2006, dự án MWBP, trích dẫn bởi Vườn quốc gia Tràm Chim (2011), [70 đã nghiên cứu và xây dựng mực nước cần quản lý cho từng phân khu trong suốt một năm dựa trên phương pháp cân bằng nước và bước đầu đã đem lại kết quả rất tích cực, diện tích các quần xã năng và lúa ma đã được phục hồi nhanh chóng
(2) Ở Vườn quốc gia U Minh Thượng
Theo báo cáo của Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam Bộ (2014) [41], công tác điều tiết nước đã được thực hiện theo 4 bậc và chia thành 6 khu quản lý nước Mô hình này đảm bảo gần 80% diện tích rừng tràm được phục hồi và phát triển, duy trì được diện tích cần thiết để bảo tồn các giống loài có yêu cầu sinh thái
về nước khác nhau, đặc biệt là các loài chim nước và thủy sinh vật
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Thắng (2017) [61] cho thấy chế độ ngập nước ảnh hưởng đến sự thay đổi thảm thực vật, mức ngập nước sâu và thời gian ngập dài là nguyên nhân suy thoái HST thực vật ở VQG U Minh Thượng Để duy trì ĐDSH rừng tràm mực nước ngập tối đa không quá 40cm, thời gian ngập không quá 6 tháng
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Tùng (2017) [64], đã xác định được chế
độ quản lý nước hợp lý cho từng khu đảm bảo đáp ứng các yêu cầu đề ra: (i) chế độ ngập nước phù hợp cho sinh trưởng của cây tràm; (ii) chế độ ngập nước phù hợp cho bảo tồn ĐDSH; (iii) chế độ ngập nước phù hợp cho phòng chống cháy rừng
Trang 36b) Ảnh hưởng của tính chất đất đến thực vật chỉ thị
Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) [51], cho biết theo kiến thức bản địa của người dân ở ĐBSCL, họ đã dựa vào màu sắc, độ đục của nước, thực bì chỉ thị để đánh giá mức độ phèn khác nhau: Nước ngập trong suốt, thực bì chỉ thị: Cỏ năng
kim (Eleocharis ochrostachys) biểu hiện đất phèn hoạt động mạnh; nước có màu đỏ đục với thực bì tự nhiên: Cỏ mồm (Ischaenum indicum), rau muống đồng (Ipomaea
aquatica), cỏ sậy (Phramites karka), biểu hiện đất phèn hoạt động trung bình và
yếu
Theo Ngô Đình Quế (2003) [49], đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thực bì ưu thế chỉ thị với các đặc trưng hình thái phẫu diện để nhận biết loại đất phèn
Bảng 1.2 Mối quan hệ giữa thực bì ưu thế chỉ thị với các đặc trưng hình thái phẫu
diện của các loại đất phèn Thực vật
Nguồn: Ngô Đình Quế (2003) [49]
c) Ảnh hưởng chất lượng nước với tài nguyên thủy sản
Vũ Vi An (2011) [1], khi nghiên cứu và so sánh tính chất của ĐNN tại các khu RĐD ở ĐBSCL cho thấy:
- Ở VQG Tràm Chim: Sự đa dạng và phong phú của cá tương quan có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05) bao gồm pH, độ trong và NH3-N Đây là mối tương quan thuận, khi các yếu tố này tăng thì mức độ đa dạng và phong phú của cá cũng tăng theo và ngược lại
- Ở Khu Bảo vệ cảnh quan rừng Tràm Trà Sư: Sự đa dạng và phong phú của
cá có mối tương quan với yếu tố nhiệt độ và oxy hòa tan
Trang 37- Ở VQG U Minh Hạ: Sự đa dạng và phong phú của cá tương quan có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05) bao gồm các yếu tố: TDS, EC, độ trong và độ kiềm Trong đó, TDS và EC có mối tương quan nghịch Trong khi đó độ trong và độ kiềm
có mối tương quan thuận đối với mức độ đa dạng và phong phú đối với cá
Tóm lại, chất lượng nước có ảnh hưởng đến tính đa dạng và phong phú đối với cá ở các KBT và tác động này có thể là tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Chất lượng nước ở VQG Tràm Chim được cải thiện đáng kể theo thời gian, do đó thành phần loài ngày càng đa dạng Đối với Khu Bảo vệ cảnh quan rừng Tràm Trà Sư, chất lượng nước khá khắc nghiệt, không có sự cải thiện đáng kể so với trước đây VQG U Minh Hạ là một thủy vực kín, không có sự trao đổi nước với môi trường bên ngoài, do đó chất lượng nước bị ô nhiễm mùn, hữu cơ và oxy hòa tan rất thấp, thành phần loài cá chỉ có nguồn gốc tại chỗ, thành phần loài kém đa dạng hơn
d) Ảnh hưởng mức thủy cấp đến nguy cơ cháy rừng tràm
Quy trình phòng cháy chữa cháy rừng tràm (2006) [14], đã xác định mức thủy cấp có mối liên hệ tương ứng với các cấp theo nguy cơ cháy rừng tràm
Bảng 1.3 Mực nước ngầm và nguy cơ cháy rừng tràm
ngầm (thủy cấp)
Độ ẩm vật liệu cháy
Mức nguy hiểm của cháy rừng
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Thắng (2017) [61], nguy cơ cháy rừng tràm ở VQG U Minh Thượng phụ thuộc vào kiểu rừng và mực nước ngầm Khi mực nước ngầm cách mặt đất, hoặc mặt than bùn dưới 100cm và độ ẩm VLC thấp hơn 12%, thì tốc độ bén lửa cao và dễ dàng gây cháy lớn Khi mực nước ngầm cách mặt đất không quá 50 cm và độ ẩm VLC > 20%, thì khả năng bén lửa thấp và ít nguy hiểm đến cháy rừng Như vậy, để đảm bảo an toàn cho rừng tràm khỏi cháy thì độ sâu mực nước ngầm cần được duy trì ở mức < 50cm cách mặt than bùn
Trang 381.2.3.3 Thực trạng quản lý rừng tràm và đất ngập nước tại các khu bảo tồn ở đồng bằng sông Cửu Long có sự tham gia của cộng đồng địa phương
a) Các chính sách liên quan đến cộng đồng tham gia quản lý
Tại điều 56, Luật lâm nghiệp số 16/2017/QH14 [48 đã quy định các BQL RĐD khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại chỗ để bảo
vệ, phát triển rừng Nghị định 168/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ quy định
về khoán rừng, vườn cây và diện tích mặt nước trong các BQL RĐD, rừng phòng
hộ và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp [23 Các điều khoản của Luật và Nghị định trên ra đời đều vì mục đích cải thiện cuộc sống của CĐĐP thông qua việc nhận khoán bảo vệ rừng nhằm giảm áp lực vào rừng
Quyết định 126/QĐ-TTg ngày 02/2/2012 của Thủ tướng chính phủ về việc thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững RĐD tại VQG Xuân Thủy, VQG Bạch Mã, [62 Theo đó mục đích của chia sẻ lợi ích tài nguyên lâm sản để góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương nhưng vẫn phải đảm bảo các giá trị ĐDSH, chức năng của rừng đồng thời quản lý, ngăn chặn và kiểm soát được các hoạt động làm mất rừng và suy thoái rừng
Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ,
về chính sách đầu tư phát triển RĐD giai đoạn 2011-2020, theo đó mức kinh phí hỗ trợ cho mỗi thôn bản trong vùng đệm các khu RĐD là 40 triệu đồng/thôn, bản/năm
Quy chế quản lý các hoạt động DLST tại các VQG, KBT thiên nhiên tại
Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN ngày 27/12/2007của Bộ Nông nghiệp và PTNT,
[16] theo đó khái niệm và nguyên tắc tổ chức các hoạt động DLST đều quy định
cộng đồng dân cư ở địa phương được tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động DLST
để nâng cao thu nhập cũng như nhận thức về bảo tồn thiên nhiên, ĐDSH
Một trong những mục tiêu của chính sách chi trả DVMTR (Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 [24]) là cải thiện sinh kế, gắn với xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống gắn bó với rừng
Tóm lại, các chính sách hỗ trợ cho CĐĐP tại các khu bảo tồn chủ yếu tập trung vào các khu RĐD ở vùng cao, còn các khu bảo tồn ở vùng ĐNN ít được quan
Trang 39tâm, người dân chưa được hưởng lợi Việt Nam chưa có luật riêng về ĐNN, còn thiếu các quy định, pháp luật về quản lý, bảo tồn, sử dụng khôn khéo và phát triển bền vững các khu rừng tràm trên vùng ĐNN Những quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động quản lý và bảo tồn ĐNN chủ yếu do Bộ và các địa phương ban hành, còn thiếu các văn bản mang tính pháp lý cao như Nghị định của Chính phủ Hiện nay, mới chỉ có Nghị định 109/2003/NĐ-CP [21] của Chính phủ ban hành là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất liên quan trực tiếp đến phân công trách nhiệm quản lý ĐNN
b) Rừng tràm trong HST ĐNN ở các khu RĐD vùng đồng bằng sông Cửu Long
Có 8 KBT có HST rừng tràm và ĐNN ở vùng ĐBSCL, với tổng diện tích tự nhiên giao cho các chủ rừng quản lý là 32.314,9ha (bao gồm cả diện tích rừng tràm
và các sinh cảnh ĐNN khác), rừng tràm chỉ chiếm 57,7% tổng diện tích tự nhiên
1 Đại diện cho HST rừng tràm ngập lũ
Trang 40- VQG U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang)
Ở ĐBSCL có một số khu RĐD đã có vùng đệm, gồm: VQG Tràm Chim, VQG U Minh Thượng, Khu DTTN Láng Sen, Khu BVCQ rừng Tràm Trà Sư…Nhưng vùng đệm có quy chế quản lý và chia sẻ lợi ích đã được cộng đồng dân
cư đồng thuận, được UBND tỉnh phê duyệt như một căn cứ pháp lý chính thức và đang được thực hiện có hiệu quả chỉ có vùng đệm của VQG Tràm Chim Ngoài ra ở VQG U Minh Thượng, Khu DTNT Láng Sen cũng có thực hiện chia sẻ lợi ích tài nguyên thông qua các dự án phát triển sinh kế cộng đồng do các tổ chức nước ngoài tài trợ, khi dự án kết thúc thì việc chia sẻ tài nguyên cũng tạm dừng, chưa trở thành một công cụ để quản lý tài nguyên do chưa có cơ sở pháp lý
d) Thực trạng phát triển du lịch sinh thái
(1) VQG Tràm Chim: Theo Nguyễn Chí Thành (2013) [58], đã hình thành các tuyến DLST, đi qua các sinh cảnh đặc trưng của VQG Các sản phẩm du lịch bao gồm: Tham quan các sinh cảnh ĐNN Đồng Tháp Mười bằng xuồng hoặc ô tô; quan sát các loài chim nước, đặc biệt là quan sát Sếu đầu đỏ; giải trí trong khung cảnh thiên nhiên (đặc biệt là câu cá, cắm trại); và nghiên cứu về HST ĐNN
(2) VQG U Minh Thượng: Theo báo cáo dự án Quy hoạch bảo tồn và Phát