Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng mô hình tính toán để đưa ra các chỉ số tham chiếu nhằm đánh giá thực trạng hoạt động khai thác NLTS nên các giải pháp được đề xuất ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Giải pháp khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận” là công trình nghiên cứu
của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hoà, ngày 16 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Trọng Lương
Trang 4Xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể cán bộ Chi cục Thủy sản tỉnh Ninh Thuận,
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Thuận và cộng đồng ngư dân tại các xã, thị trấn quanh đầm Nại đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập dữ liệu để thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô giáo, thầy giáo và các bạn đồng nghiệp trong Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác thủy sản đã hỗ trợ, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, đặc biệt vợ cùng các con đã động viên, giúp đỡ, hy sinh nhiều thời gian cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm, lời động viên và sự giúp đỡ quý báu đó
Khánh Hoà, ngày 16 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Trọng Lương
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤCLỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan về đầm Nại 4
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
1.1.2 Nguồn lợi thủy sản 6
1.1.3 Một số hệ sinh thái đặc trưng 9
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 10
1.2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 10
1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 18
1.3 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
1.3.1 Về phương pháp nghiên cứu 25
1.3.2 Về nội dung nghiên cứu 26
1.3.3 Về kết quả nghiên cứu 26
1.3.4 Về hạn chế của các công trình nghiên cứu 27
1.3.5 Những điểm kế thừa cho đề tài luận án 28
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Nội dung nghiên cứu 31
2.1.1 Thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại đầm Nại 31
2.1.2 Thực trạng hoạt động bảo vệ NLTS tại đầm Nại 31
2.1.3 Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại đầm Nại 31
2.1.4 Đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ NLTS tại đầm Nại 31
2.1.5 Đề xuất giải pháp khai thác hợp lý NLTS tại đầm Nại 31
2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 31
2.2.1 Dữ liệu thứ cấp 31
2.2.2 Xác định cỡ mẫu và phân bố mẫu điều tra 32
2.2.3 Thu thập số liệu về thực trạng hoạt động khai thác thủy sản 34
Trang 62.2.4 Thu thập dữ liệu về thực trạng hoạt động bảo vệ NLTS 35
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm thiết bị chọn lọc cho ngư cụ 36
2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 40
2.3.1 Xử lý dữ liệu thứ cấp 40
2.3.2 Xử lý dữ liệu sơ cấp 40
2.4 Phương pháp tính toán 41
2.4.1 Xác định sản lượng (MSY) và cường lực khai thác BVTĐ (fMSY) 41
2.4.2 Phương pháp xác định sản lượng thủy sản khai thác 42
2.4.3 Xác định thu nhập của lao động KTTS 44
2.5 Phương pháp đánh giá 44
2.5.1 Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại đầm Nại 44
2.5.2 Đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ NLTS tại đầm Nại 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 Kết quả điều tra hoạt động khai thác thủy sản tại đầm Nại 47
3.1.1 Số lượng hộ dân, cơ cấu nghề và tàu thuyền 47
3.1.2 Thực trạng ngư cụ 51
3.1.3 Thực trạng lao động khai thác thủy sản 54
3.1.4 Thực trạng tổ chức sản xuất, mùa vụ và thời gian khai thác 56
3.1.5 Thực trạng sản lượng thủy sản khai thác 58
3.1.6 Thực trạng thành phần sản phẩm khai thác 59
3.1.7 Thực trạng thu nhập của lao động khai thác thủy sản tại đầm Nại 60
3.2 Kết quả điều tra hoạt động công tác bảo vệ NLTS tại đầm Nại 63
3.2.1 Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ NLTS 63
3.2.2 Mức độ hiểu biết của ngư dân về quản lý khai thác và bảo vệ NLTS 69
3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại đầm Nại 72
3.3.1 Đánh giá thực trạng cường lực và sản lượng khai thác tại đầm Nại 72
3.3.2 Đánh giá thực trạng sản phẩm khai thác tại đầm Nại 80
3.3.3 Đánh giá tình trạng vi phạm quy định về tàu cá 87
3.3.4 Đánh giá tình trạng vi phạm quy định về ngư cụ 87
3.3.5 Đánh giá về thời gian hoạt động khai thác 88
3.4 Đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ NLTS tại đầm Nại 89
3.4.1 Đánh giá thực trạng công tác bảo vệ NLTS của cơ quan quản lý 89
3.4.2 Đánh giá sự hiểu biết của ngư dân về công tác bảo vệ NLTS 92
3.5 Đề xuất giải pháp khai thác hợp lý NLTS tại đầm Nại 94
3.5.1 Giải pháp sử dụng ngư cụ khai thác hợp lý NLTS (lưới đáy và lờ dây) 94
Trang 73.5.3 Giải pháp sử dụng thời gian và ngư trường khai thác hợp lý tại đầm Nại 126
3.6 Thảo luận và hạn chế của đề tài 135
3.6.1 Thảo luận 135
3.6.2 Hạn chế của đề tài 138
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 139
Kết luận 139
Khuyến nghị 140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 150
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTĐ : Bền vững tối đa
CPUE : Catch Per Unit Effort (Năng suất khai thác)
CV : Chevaux Vapeur (Công suất máy tàu)
L25 : Chiều dài cá với 25% cá thể được giữ lại trong đụt lưới
L50 : Chiều dài cá với 50% cá thể được giữ lại trong đụt lưới
L75 : Chiều dài cá với 75% cá thể được giữ lại trong đụt lưới
LĐ : Lao động
M1 : Mẫu lưới 1, mắt lưới hình thoi, a = 6mm (a là kích thước cạnh mắt lưới) M2 : Mẫu lưới 2, mắt lưới hình thoi, a = 9mm
M3 : Mẫu lưới 3, chèn tấm lọc mắt lưới hình vuông, a = 9mm
M4 : Mẫu lưới 4, chèn tấm lọc mắt lưới hình vuông, a = 11mm
MC : Mùa chính
MP : Mùa phụ
MSY : Maximum Sustainable Yield (Sản lượng bền vững tối đa)
NCS : Nghiên cứu sinh
NLTS : Nguồn lợi thủy sản
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân
VBNC : Vùng biển nghiên cứu
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng mẫu điều tra thực trạng khai thác 33
Bảng 3.1 Số lượng hộ dân khai thác thủy sản tại các xã quanh đầm Nại 47
Bảng 3.2 Cơ cấu nghề khai thác thủy sản giai đoạn 2012 ÷ 2016 47
Bảng 3.3 Cơ cấu tàu thuyền theo địa phương giai đoạn 2012 ÷ 2016 48
Bảng 3.4 Cơ cấu tàu thuyền theo nghề KTTS giai đoạn 2012 ÷ 2016 48
Bảng 3.5 Phân bố số lượng tàu thuyền 2016 theo nghề KTTS và địa phương 49
Bảng 3.6 Thống kê tàu thuyền theo nghề KTTS năm 2016 49
Bảng 3.7 Tình hình trang bị áo phao trên tàu cá theo nghề năm 2016 51
Bảng 3.8 Thống kê thông số kỹ thuật của lưới rê 3 lớp 51
Bảng 3.9 Thống kê thông số kỹ thuật của vàng câu 52
Bảng 3.10 Thống kê thông số kỹ thuật của lờ dây 52
Bảng 3.11 Thống kê thông số kỹ thuật của lưới đáy 53
Bảng 3.12 Thống kê thông số kỹ thuật của te 53
Bảng 3.13 Số lượng lao động theo nghề khai thác, giai đoạn 2012 ÷ 2016 54
Bảng 3.14 Trình độ học vấn và độ tuổi lao động KTTS 54
Bảng 3.15 Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của lao động 55
Bảng 3.16 Thời gian hoạt động khai thác của các nghề trong 01 năm 57
Bảng 3.17 Thời gian thực tế hoạt động khai thác của các nghề trong 01 ngày 58
Bảng 3.18 Năng suất khai thác bình quân trong 01 ngày hoạt động 58
Bảng 3.19 Tổng sản lượng các nghề khai thác ở đầm Nại từ 2012 ÷ 2016 59
Bảng 3.20 Một số chỉ số kinh tế của các nghề KTTS tại đầm Nại 61
Bảng 3.21 Thu nhập trung bình của lao động trong 01 giờ khai thác 62
Bảng 3.22 Ước tính thu nhập trung bình của lao động trong 01 năm khai thác 62
Bảng 3.23 Thống kê tình hình thực hiện công tác tuyên truyền 66
Bảng 3.24 Thống kê tình hình thực hiện công tác tuần tra bảo vệ NLTS 67
Bảng 3.25 Mức độ hiểu biết về quản lý KTTS tại đầm Nại 69
Bảng 3.26 Mức độ hiểu biết về bảo vệ NLTS tại đầm Nại 70
Bảng 3.27 Mức độ hiểu biết về các hoạt động gây hại đến NLTS tại đầm Nại 70
Bảng 3.28 Một số ý kiến đánh giá của ngư dân về nghề KTTS tại đầm Nại 71
Bảng 3.29 Thống kê các đề xuất của ngư dân nhằm bảo vệ NLTS tại đầm Nại 72
Bảng 3.30 Năng suất và cường lực của nghề lưới rê 3 lớp 73
Bảng 3.31 Năng suất và cường lực của nghề câu vàng 74
Bảng 3.32 Năng suất và cường lực của nghề lờ dây 75
Bảng 3.33 Năng suất và cường lực của nghề lưới đáy 75
Bảng 3.34 Năng suất và cường lực của nghề te 76
Trang 10Bảng 3.35 Sản lượng và cường lực BVTĐ theo đơn vị cường lực chuẩn 77
Bảng 3.36 Sản lượng và cường lực BVTĐ tính theo đơn vị cường lực thực tế 78
Bảng 3.37 Biến động năng suất khai thác theo đơn vị cường lực chuẩn 78
Bảng 3.38 So sánh cường lực khai thác thực tế với giá trị fMSY 79
Bảng 3.39 So sánh sản lượng khai thác thực tế với giá trị MSY 80
Bảng 3.40 Thành phần và sản lượng các đối tượng chính 84
Bảng 3.41 Kích thước của một số đối tượng khai thác chính của các nghề 85
Bảng 3.42 Tỷ lệ (%) các sản phẩm nhỏ hơn kích thước cho phép đánh bắt 86
Bảng 3.43 Thống kê thời kỳ cá mang trứng bắt gặp ở đầm Nại 88
Bảng 3.44 Thống kê sản lượng khai thác của các mẫu lưới thử nghiệm 97
Bảng 3.45 Sản lượng tôm rảo và cá lượng thoát ra ngoài của các mẫu lưới 97
Bảng 3.46 Số cá thể tôm rảo và cá lượng thoát ra ngoài của các mẫu lưới 98
Bảng 3.47 Các tham số chọn lọc của lưới đáy khai thác tôm rảo và cá lượng 101
Bảng 3.48 Hệ số chọn lọc (SF) của các mẫu lưới thử nghiệm 102
Bảng 3.49 Phương trình chọn lọc tôm rảo và cá lượng đánh bắt bằng lưới đáy 103
Bảng 3.50 Kết quả hoạt động khai thác của 2 chủ hộ trong năm 2015 110
Bảng 3.51 Kết quả khảo sát mô hình sản xuất Dương Văn Châu 111
Bảng 3.52 Kết quả khảo sát mô hình sản xuất Dương Ngọc Tuấn 112
Bảng 3.53 So sánh kết quả hoạt động khai thác của các mô hình 113
Bảng 3.54 Tổng cường lực theo ngư cụ và hộ gia đình năm 2016 114
Bảng 3.55 Xác định tổng cường lực cần cắt giảm theo nghề 115
Bảng 3.56 Phương án cắt giảm cường lực đối với tàu lắp máy 115
Bảng 3.57 Tổng hợp số liệu cắt giảm cường lực theo số lượng ngư cụ 117
Bảng 3.58 Tổng hợp số liệu cắt giảm cường lực theo hộ gia đình 118
Bảng 3.59 Tổng hợp lộ trình cắt giảm cường lực khai thác tại đầm Nại 122
Bảng 3.60 Tổng hợp thông tin chuyển đổi nghề của lao động nghề te 125
Bảng 3.61 Thu nhập trung bình của thuyền viên làm việc trên tàu lưới vây 125
Bảng 3.62 Thời gian và khu vực hạn chế hoặc cấm khai thác 133
Bảng 3.63 Tổng hợp kết quả kiểm tra tình hình vi phạm Quy định 134
Bảng 3.64 Trung bình thu nhập của thuyền viên khai thác xa bờ 136
Bảng 3.65 Tình hình nuôi hàu và trồng rong nho của các hộ chuyển nghề 137
Bảng 3.66 Hiệu quả nuôi hàu và trồng rong nho của các hộ chuyển nghề 137
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Số lượng xử lý vi phạm trong hoạt động KTTS ở đầm Nại 67
Biểu đồ 3.2 Tương quan giữa cường lực và CPUE của nghề lưới rê 74
Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa sản lượng và cường lực của nghề lưới rê 74
Biểu đồ 3.4 Tương quan giữa cường lực và CPUE của nghề câu vàng 74
Biểu đồ 3.5 Tương quan giữa sản lượng và cường lực của nghề câu vàng 74
Biểu đồ 3.6 Tương quan giữa cường lực và CPUE của nghề lờ dây 75
Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa sản lượng và cường lực của nghề lờ dây 75
Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa cường lực và CPUE của nghề lưới đáy 76
Biểu đồ 3.9 Tương quan giữa sản lượng và cường lực của nghề lưới đáy 76
Biểu đồ 3.10 Biến động sản lượng và cường lực của nghề te từ 2012 ÷ 2016 76
Biểu đồ 3.11 Biến động về tổng sản lượng thủy sản khai thác 79
Biểu đồ 3.12 Biến động sản lượng các đối tượng khai thác của nghề lưới rê 81
Biểu đồ 3.13 Biến động sản lượng các đối tượng khai thác chính của nghề câu 81
Biểu đồ 3.14 Biến động sản lượng các đối tượng khai thác chính của nghề lờ dây 82
Biểu đồ 3.15 Biến động sản lượng đối tượng khai thác chính của nghề lưới đáy 82
Biểu đồ 3.16 Biến động sản lượng các đối tượng khai thác chính của nghề te 83
Biểu đồ 3.17 Phân bố chiều dài và số lượng tôm rảo của các mẫu lưới 99
Biểu đồ 3.18 Phân bố chiều dài và số lượng cá lượng của các mẫu lưới 100
Biểu đồ 3.19 Đường cong chọn lọc tôm rảo của 4 mẫu lưới 103
Biểu đồ 3.20 Đường cong chọn lọc cá lượng của 4 mẫu lưới 104
Biểu đồ 3.21 Đường cong chọn lọc tôm rảo của các mẫu lưới 104
Biểu đồ 3.22 Đường cong chọn lọc cá lượng của các mẫu lưới 104
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ khu vực đầm Nại 4
Hình 2.1 Cách đo chiều dài các nhóm thủy sản 35
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý khai thác và bảo vệ NLTS 64
Hình 3.2 Hoạt động thả giống thủy sản vào môi trường tự nhiên 68
Hình 3.3 Hoạt động khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn tại đầm Nại 68
Hình 3.4 Bản đồ phân bố ngư trường của nghề lưới rê 3 lớp 128
Hình 3.5 Bản đồ phân bố ngư trường của nghề câu vàng 129
Hình 3.6 Bản đồ phân bố ngư trường của nghề lờ dây 130
Hình 3.7 Bản đồ phân bố ngư trường của nghề lưới đáy 131
Hình 3.8 Bản đồ phân bố khu vực hạn chế khai thác vào mùa sinh sản 132
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, các đầm phá tiêu biểu phân bố ở dải ven bờ miền Trung từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận, bao gồm các đầm nổi tiếng như: đầm Nại, Thủy Triều, Ô Loan, Cù Mông, Thị Nại, Nước Ngọt, Trà Ổ, Nước Mặn, Trường Giang, Lăng Cô và Tam Giang - Cầu Hai với tổng diện tích vào khoảng 448km2 Trong đó, đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được đánh giá là lớn nhất, chạy dài 67km, rộng từ 01 ÷ 10km và có diện tích vào khoảng 216km2 Các đầm phá nói trên phân bố khá đều trên khoảng chiều dài chừng 700 km đường bờ biển miền Trung Hệ thống đầm, phá ven biển có vai trò rất lớn trong việc hạn chế lũ lụt, bão và sóng biển; ổn định khí hậu, chống xói mòn bờ biển và cung cấp NLTS để phát triển nghề KTTS nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung [64]
Đầm Nại tỉnh Ninh Thuận có diện tích tự nhiên khoảng 1.200ha, có cửa thông ra biển với chiều dài khoảng 2km và rộng 140 ÷ 400m, được bao quanh bởi 4 xã và 01 thị trấn với 4.000 hộ và 30.000 nhân khẩu sống ven đầm, sinh kế phụ thuộc đáng kể vào nguồn lợi thủy sản (NLTS) tự nhiên của đầm [35,41,67,70,85]
Hàng năm, đầm Nại cung cấp cho cộng đồng dân cư trong khu vực một khối lượng lớn về NLTS, gần 300 tấn cá, tôm [23] và trên 400 tấn sò huyết [39] Nghề khai thác thủy sản (KTTS) đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tạo việc làm, thu nhập cho người dân; góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định đời sống cho nhân dân trong vùng [23,24,40]
Hoạt động KTTS tại đầm Nại gồm có 7 nghề với quy mô nhỏ (lưới rê 3 lớp, lờ dây, lưới đáy, câu vàng, cào sò, khai thác hàu và te); phương tiện khai thác chủ yếu là thúng chai, thuyền nhôm không lắp máy, chỉ có một số ít phương tiện lắp máy công suất dưới 20CV; hoạt động khai thác quanh năm bằng các nghề có tính chọn lọc kém, kích thước mắt lưới tại bộ phận giữ cá nhỏ và cấu trúc ngư cụ chưa phù hợp đã và đang tác động tiêu cực đến NLTS [45]
Trong những năm gần đây, do nhu cầu thức ăn dùng cho các đối tượng nuôi ở các đìa và lồng bè tăng cao, đã tạo động lực cho ngư dân khai thác tận thu, tận diệt nguồn lợi tôm cá, khiến NLTS giảm nhanh, ảnh hưởng lớn đến sinh kế của cộng đồng ngư dân Sản lượng, năng suất khai thác và thu nhập của lao động liên tục giảm sút Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, trung bình mỗi năm giảm 8,0% về sản lượng, giảm 9,8% về năng suất và giảm 9,6% về thu nhập Trước đây, nhiều loài cá kinh
Trang 14tế là đối tượng khai thác chính nhưng hiện nay rất hiếm gặp; kích thước cá khai thác liên tục giảm sút và cá non chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu sản phẩm đánh bắt [44] Trước tình hình đó, tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều chủ trương, chính sách [71,74,76-79,81] nhằm quy hoạch, tổ chức sản xuất và quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển NLTS nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong đợi Công tác quản
lý nghề cá tại địa phương chưa hiệu quả; việc theo dõi, kiểm tra, kiểm soát và giám sát nghề cá còn bất cập, chưa có giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi phù hợp, nên ngư dân tự do tiếp cận nguồn lợi là điều không tránh khỏi, dẫn đến NLTS liên tục suy giảm mạnh trong những năm gần đây [1,8,9]
Trong những năm gần đây đã có 14 công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động khai thác và bảo vệ NLTS; đánh giá NLTS và phân bố đàn cá; đặc điểm môi trường và các hệ sinh thái ở đầm Nại [23,24,32,34,39,40,42,46,48,56,58,67,83-85], đồng thời đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm khai thác hiệu quả, bảo vệ và phát triển NLTS; bảo vệ môi trường và phục hồi các hệ sinh thái ở đầm Nại Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng mô hình tính toán để đưa ra các chỉ số tham chiếu nhằm đánh giá thực trạng hoạt động khai thác NLTS nên các giải pháp được đề xuất chưa có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tiễn tại đầm Nại Chính vì vậy, việc nghiên cứu giải pháp nhằm khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển NLTS tại đầm Nại là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, góp phần ổn định việc làm và thu nhập cho cộng đồng ngư dân các địa phương quanh đầm
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh thấy rằng việc lựa chọn đề tài luận án
"Giải pháp khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận" là cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu của đề tài luận án
Trang 153 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại
4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài luận án tập trung giải quyết các vấn đề chính như sau:
1) Điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại đầm Nại;
2) Điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động bảo vệ NLTS tại đầm Nại;
3) Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại đầm Nại;
4) Đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ NLTS tại đầm Nại;
5) Đề xuất giải pháp khai thác hợp lý NLTS tại đầm Nại
5 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian thực hiện: 2012 ÷ 2016
- Không gian: Các địa phương hoạt động khai thác thủy sản, cộng đồng ngư dân các xã xung quanh đầm Nại (xã Tri Hải, Phương Hải, Tân Hải, Hộ Hải và thị trấn Khánh Hải của huyện Ninh Hải)
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về đầm Nại
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Đầm Nại thuộc địa bàn huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận nằm ở khu vực từ vĩ độ
11016’ ÷ 11038’ Bắc, kinh độ 109009’ ÷ 109017’ Đông Phía Bắc là xã Tân Hải, phía Đông Bắc là xã Phương Hải, phía Đông là xã Tri Hải, phía Đông Nam là lạch Ninh Chữ nối với vịnh Phan Rang, phía Nam là thị trấn Khánh Hải và phía Tây là xã Hộ Hải Tổng diện tích tự nhiên của đầm khoảng 1.200ha [63,67]
Hình 1 1 Bản đồ khu vực đầm Nại
Trang 171.1.1.2 Địa hình - địa mạo và chất đáy
Đầm Nại có địa hình bằng phẳng, hình đa giác đơn giản, ít eo ngách, giúp cải thiện khả năng trao đổi nước và vận chuyển nước đến được mọi địa điểm, hạn chế hiện tượng tù đọng nước trong đầm Tuy nhiên, luồng đầm Nại khá dài và hẹp nên khả năng trao đổi nước với vịnh Phan Rang bị hạn chế, vận tốc dòng chảy ở giữa và vùng phía Tây của đầm giảm đáng kể [41,67]
Đầm Nại có chất đáy tương đối thuần nhất, với 4 loại đặc trưng là cát, cát bùn, bùn cát và bùn [21,35,67] Tại lạch Ninh Chữ thông trực tiếp với đầm có chất đáy là cát bùn - san hô và đáy san hô theo tỷ lệ như sau: Cát: 14%; cát - bùn: 28%; bùn - cát: 33%; bùn: 25%; còn lại là bùn, cát xen mảnh vụn của san hô và động vật thân mềm [34,36,39,52,54,56]
1.1.1.3 Đặc điểm thủy văn và thủy triều
Đặc điểm thủy văn: Hệ thống sông suối tự nhiên vùng đầm Nại gồm có: Suối Màn Màn, Ngòi Qụa, Gò Thao, Mương Mê và Đồng Nha Tuy nhiên, do khô hạn nên nước ngọt chỉ có vào các tháng mùa mưa, các tháng khác thường khô cạn Kênh T5, Mương Tháo, Lê Đình Chinh, mương Đồng Lớn, v.v phục vụ cho nông nghiệp và nuôi
1.1.1.4 Dòng chảy và khả năng trao đổi nước
Hoàn lưu nước tại đầm Nại phụ thuộc vào trường gió thổi trên mặt đầm Mùa gió Đông Bắc hình thành nhiều xoáy cục bộ, nhất là phía Tây đầm Vận tốc tại cửa đầm có thể đạt 50 ÷ 70cm/s khi triều rút và đạt 30 ÷ 35cm/s khi triều dâng Ở giữa đầm vận tốc khoảng 20 ÷ 25cm/s khi triều dâng và 10 ÷ 15cm/s khi triều rút [41,51,56,87] Nước trong đầm Nại vận động yếu, tuy nhiên vùng gần cửa đầm trị số vận tốc khá lớn, nhất
là vào mùa mưa [37]
Vận tốc dòng chảy trên lạch Ninh Chữ khi triều dâng và triều rút khá lớn Trung bình mỗi ngày có từ 4 ÷ 6 giờ nước chảy với vận tốc trên 50cm/s, vào mùa mưa lũ có thể lên tới 110cm/s [41] Chất lượng môi trường nước trong đầm Nại phụ thuộc vào
Trang 18khả năng trao đổi nước giữa đầm và vịnh Phan Rang Tuy nhiên, đầm Nại nằm khá sâu trong đất liền, thông ra vịnh qua một lạch hẹp và dài tới 2km Do đó, khả năng trao đổi nước trung bình giữa đầm với vịnh Phan Rang từ 2,51 ÷ 2,62 ngày vào mùa mưa và 2,41 ÷ 2,56 ngày vào mùa khô [56,87]
1.1.1.5 Môi trường
Kết quả nghiên cứu của các công trình [39,46,54-56,67] về môi trường ở đầm Nại cho thấy:
- Môi trường đầm Nại đang bị ô nhiễm, một số chỉ số vượt quá giới hạn cho phép
so với tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng môi trường NTTS như DO, NH3, BOD5, vi sinh vật tổng số, TSS trung bình, NO3-, NH4+, COD
- Đầm Nại đã xuất hiện thêm một số động vật nổi gây độc như: Skeletonema costatum, Cheotoceros denticulatus, C curvisetus, Nitzschia pungens, Nitzschia seriata, Ceratium furcavarbergia, Dynophysis homunculus, Peridinium graniifo
- Quá trình nông hóa ở đầm Nại diễn ra rất nhanh, tốc độ lắng đọng trầm tích trung bình 1,25 cm/năm đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường
và các hệ sinh thái trong đầm
- Môi trường sống ở đầm Nại có sự thay đổi mạnh đã tác động đến một số loài sinh vật và tạo điều kiện phát triển cho các sinh vật khác, đặc biệt là nhóm sinh vật đáy Trước đây một số loài sinh vật khá phổ biến nhưng trở nên khan hiếm, như bàn
mai, ốc nhảy (Strompus isabella), hải sâm đen (Holotthusia), v.v
1.1.2 Nguồn lợi thủy sản
1.1.2.1 Nguồn lợi cá
Các loài cá ở đầm Nại đều có nguồn gốc từ biển di cư vào đầm và thích nghi với điều kiện sống ở đây Chúng hiện diện trong đầm gần như quanh năm, hình thành nên nguồn lợi phục vụ hoạt động KTTS của cộng đồng ngư dân quanh đầm [40,48,57,85] Kết quả các công trình nghiên cứu đã xác định được khu hệ cá đầm Nại có 126 loài, 96 giống, 54 họ thuộc 14 bộ [40,57]
- Về bậc bộ: Bộ cá vược (Percifomes) có 27 họ, chiếm 50%; bộ cá bơn nectiformes) có 05 họ, chiếm 9,26%; bộ cá chình (Anguiliformes) có 04 họ chiếm 7,41%; bộ cá mù làn (Scorpaeniformes) và bộ cá nóc (Tetraodontiformes) có 03 họ chiếm 5,56% Các bộ còn lại có 1 ÷ 2 họ
Trang 19(Pleuro Về bậc họ: Họ cá khế (Carangidae) và họ bống trắng (Gobiidae) có 07 giống, chiếm 7,29%; họ cá trích (Clupeidae), họ cá đối (Mugillidae), họ cá liệt (Leiogna-thidae) và họ cá hồng (Lutjanidae) có 05 giống Các họ còn lại từ 04 giống trở xuống
- Về bậc giống: 01 giống có 04 loài, 04 giống có 03 loài, 16 giống có 02 loài và
74 giống có 01 loài
- Về bậc loài: Bộ cá vược có số loài nhiều nhất với 76 loài (chiếm 61,11%) Các
bộ còn lại đều dưới 10 loài, gồm: bộ cá trích và cá bơn có 9 loài (7,14%); bộ cá đối có
07 loài (5,56%), bộ cá chình và cá mù làn có 05 loài (3,97%); bộ cá nhái và bộ cá nóc
có 03 loài (2,38%); bộ cá cháo biển, cá mối và cá gai có 02 loài; bộ cá sủ, cá nheo và
cá suốt có 01 loài
Về mặt sinh thái, khu hệ cá ở đầm Nại có 03 nhóm [40,57] như sau:
- Nhóm cá nổi: Có 33 loài, chiếm tỷ lệ 26,19% tổng số loài Đại diện là các loài
thuộc họ cá trích (Clupeidae): Anodontostoma chacunda, Escualosa thoracata, Sardinella gibbosa, Tenualosa toil; họ cá trỏng (Engraulidae): Engraulis japonica, Stolephorus indicus; họ cá suốt (Atherinidae): Atherinomorus duodecimalis; họ cá kìm (Hemiramphidae): Hyporhamphus quoyi, Zenarchopterus buffonis; họ cá nhái (Beloni- dae): Strongylura strongylura
- Nhóm cá tầng đáy: Có 90 loài, chiếm 71,43% tổng số loài Đại diện là các loài
thuộc các họ cá chai (Platycephalidae): Platycephalus indicus; cá đục (Sillaginidae): Sillago sihama; cá đối (Mugillidae): Liza subviridis, Valamugil perusii, Mugilcepha- lus; cá khế (Carangidae): Atropus atropos, Caranx ignobilis; cá bống (Gobiidae): Acentrogobius caninus, Glossogobius giuris, Oxyurichthys tentacularis, cá dìa (Sigani- dae): Siganus guttatus, S fuscescens; cá bơn cát (Cynoglossidae): Cynoglossus arel, Paraplagusia blochi
- Nhóm cá rạn san hô: Có 3 loài, chiếm 2,38% tổng số loài Đại diện là họ cá mú
(Serranidae): Epinephelus amblycephalus, E coioides; cá mù làn (Scorpaenidae): Scorpaenopsis ramaraoi
1.1.2.2 Nguồn lợi thủy sản khác
Nguồn lợi sò huyết: Đã xác định được 2 loài Anadara granosa và Anadara nodifera Mùa vụ sinh sản của sò huyết khá ngắn, từ tháng 4 ÷ 7 hàng năm Sò huyết
phân bố tương đối rộng trên vùng Bắc và Đông Bắc của đầm nhưng tập trung với mật
độ cao ở hai bãi chính là vùng tiếp giáp giữa Hộ Diêm 1 và Hộ Diêm 2, giữa Gò Đền
và Phương Cựu [39]
Trang 20Nguồn lợi giáp xác: Đã xác định được 26 loài, thuộc 2 bộ, 8 họ và 16 giống Trong đó, đa dạng nhất là bộ mười chân (Decapboda) với 24 loài, bộ chân bụng (Stomatopoda) có 2 loài [85]
1.1.2.3 Sản lượng và khả năng khai thác
Các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp diện tích để đánh giá sản lượng thủy sản và khả năng cho phép khai thác tại đầm Nại Sản lượng cá và giáp xác khai thác vào năm 2006 là 120,5 ± 61,8 tấn, trung bình đạt 179,3 kg/ha Trong đó, nguồn lợi cá
và giáp xác tập trung cao nhất vào tháng 9, 10 và 11 (190,8 ± 51,7 tấn), thấp nhất vào tháng 2 (43,9 ± 7,1 tấn) Nhóm nghiên cứu đã điều tra sản lượng khai thác theo hướng dẫn của FAO và cho thấy, năm 2004 đạt 295 tấn, 2005 đạt 285 tấn và 2006 đạt 280 tấn [85] Khả năng cho phép khai thác năm 2006 chiếm 62 ÷ 65% sản lượng đánh bắt của các năm 2004 ÷ 2006 Tổng sản lượng thủy sản khai thác trong giai đoạn 2008 ÷ 2010
có xu hướng tăng, từ 473 lên 510 tấn nhưng sản lượng cá và giáp xác có xu hướng giảm từ 295 xuống còn 279 tấn [23]
Nguồn lợi sò huyết ở đầm Nại đã được đánh giá là khá dồi dào, trước năm 1996 sản lượng khai thác khoảng 200 ÷ 300 tấn/năm, năm 1997 đạt 400 tấn, năm 1998 đạt
600 tấn và năm 2002 đạt từ 400 ÷ 450 tấn [39] Sản lượng sò khai thác được từ năm
2008 đến 2010 có xu hướng tăng, từ 178 tấn lên 230 tấn [23] Tuy nhiên, nếu so với năm 2002 thì sò liên tục giảm và chỉ còn lại 57,5% sản lượng
Các loài thủy sản có giá trị kinh tế ở đầm Nại khá ít, với 17 loài Trong đó, có 12 loài cá thuộc bộ cá vược (10 loài) và bộ cá đối (2 loài); giáp xác có 5 loài, gồm 4 loài tôm và 01 loài ghẹ Trong đó, sản lượng khai thác của nhóm cá ong căng gần 27 tấn, nhóm cá liệt gần 12 tấn, tôm rằn hơn 14 tấn, tôm rảo gần 9 tấn, cá lượng gần 7 tấn, ghẹ xanh hơn 5 tấn và các đối tượng khác có sản lượng dưới 5 tấn/năm (năm 2007) Tổng sản lượng các loài cá kinh tế đạt 87,6 ± 12,9 tấn [85]
Bên cạnh đó, sò lông và hàu ở đầm Nại cũng có sản lượng khai thác khá lớn Ngoài mục đích làm thực phẩm, nhiều đối tượng còn được khai thác làm giống để nuôi như sò huyết, sò lông
Ngoài các loài thủy sản, môi trường sống ở đầm Nại cũng phù hợp với nhiều đối tượng nuôi trồng khác như tôm sú, cá mú, cua, tôm thẻ chân trắng, rong nho và hàu sữa [40] Trong những năm gần đây, nghề nuôi tôm ở khu vực đầm Nại gặp nhiều khó khăn do ô nhiễm môi trường nước thì hàu sữa và rong nho được xem là đối tượng
Trang 211.1.3 Một số hệ sinh thái đặc trưng
1.1.3.1 Thực vật nổi
Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi ở đầm Nại có nhiều nét tương đồng các vịnh và đầm phá miền Trung [53] Đã xác định được 125 loài thuộc 40 chi nằm trong ngành tảo silic, tảo lục, tảo lam, tảo giáp và tảo mắt Trong đó, tảo silic chiếm ưu thế tới 64 ÷ 89% tổng số loài [33,46,53]
Động vật đáy đã xác định được 81 loài Trong đó, thân mềm có 58 loài, giáp xác
có 18 loài và giun nhiều tơ có 5 loài [36,52] Mật độ động vật nổi khoảng từ 4.233 ÷ 114.886 cá thể/m3, trung bình là 32.871 cá thể/m3 [34,46]
1.1.3.3 Rong biển
Nguồn lợi rong biển ở đầm Nại có 36 loài [53] Ngoài các loài tảo có kích thước
hiển vi và cấu trúc dạng sợi của ngành rong lam như Lyngbya, Phornidium, Calothrix, còn có một số loài rong có kích thước lớn của ngành rong nâu (Padina, Dictyota, Hydroclathrus, Colponunia), rong lục (Enteromorpha, Ulva, Chaetomorpha, Cladi- phora, Avrainvillea), rong đỏ (Catenella, Gracilaria, Hypnea, Polysiphonia) và các
loài cỏ biển [36] Ngoài nguồn lợi rong tự nhiên, hiện nay ngư dân đang phát triển đầu
tư trồng rong nho trong các đìa và bể quanh đầm cho hiệu quả kinh tế cao [70]
Trang 221.1.3.5 Rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn rất đa dạng gồm các loài đước đôi (Rhizophora apiculata), đước vòi (R stylosa), đưng (R mucronata), sú đỏ (Aegiceras cornicula-tum), dà vôi (Ceriops tagal), mắm biển, mắm trắng và mắm quăn [28,33,62]
Từ năm 1975 đến 2014 có sự thay đổi rất lớn về mục đích sử dụng đất, làm cho rừng ngập mặn suy giảm nghiêm trọng, trung bình mỗi năm có 10,6ha bị chặt phá, tương đương với 2,4% tổng diện tích rừng vào năm 1975 [29,56,58] Từ năm 2015 đến nay, với sự hỗ trợ của các chương trình, đề tài và dự án, rừng ngập mặn đã được trồng thêm trên 50ha [56]
- Các hệ sinh thái đặc trưng ở đầm Nại có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng môi trường sống, tạo nơi sinh cư cho các động vật thủy sinh nói chung và NLTS nói riêng Tuy nhiên, các hệ sinh thái (rong biển, cỏ biển và rừng ngập mặn) này có xu hướng giảm dần sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và tái tạo NLTS
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1.1 Nghiên cứu giải pháp sử dụng cường lực khai thác hợp lý NLTS
Nghiên cứu xây dựng lý thuyết tính toán
Những năm 60 của thế kỷ XIX, K.M Ber và N.Ia Danhilevski đã phân tích nghề
cá của Liên Xô và đưa ra quan điểm toàn diện về nghề KTTS Theo đó, quan điểm về khai thác hợp lý NLTS có thể chia thành 2 hướng là xây dựng lý thuyết tiềm năng NLTS và lý thuyết khai thác NLTS Nội dung chính của 2 quan điểm này cùng tập trung vào vấn đề khai thác hợp lý NLTS [68,69]
Dựa trên cơ sở phân tích toán học, giáo sư F.I Baranov đã sáng lập ra lý thuyết hiện đại về nghề KTTS Ông đã xây dựng lý thuyết khai thác hợp lý NLTS, thiết lập đường cong chủng quần đàn cá, biểu diễn mức chết của cá và biểu thị các mối tương
Trang 23quan giữa một bên là các yếu tố đầu vào (số tàu thuyền, ngư cụ, lao động, v.v) và bên kia là sản lượng hoặc năng suất khai thác [68,69]
Năm 1939, nhà khoa học Lesli đã đề xướng phương pháp tính số lượng cá trong quần đàn theo mức suy giảm nguồn lợi trên một đơn vị cường lực Đây chính là phương pháp đánh giá nguồn lợi theo mức chết do khai thác tương ứng với cường lực
đã sử dụng [68]
Năm 1969, Beverton và Holt đã đưa ra các minh chứng cụ thể về ảnh hưởng của các yếu tố như mức tăng trưởng sinh khối đàn cá, mức chết của cá, khả năng chọn lọc của ngư cụ và cường độ khai thác lên sinh khối đàn cá [68] Khi mức chết tự nhiên và lượng bổ sung của đàn cá không thay đổi, nếu muốn giữ ổn định sinh khối đàn cá cần
sử dụng cường lực và ngư cụ hợp lý [22,68]
Năm 1989, FAO đã xuất bản tài liệu "Đánh giá trữ lượng đàn cá nhiệt đới" của
Per Sparre và Siebren C Venema [109] Năm 1998, tài liệu được tái bản lần thứ 2 và năm 2016 Viện Nghiên cứu hải sản Trung ương của Ấn Độ biên tập lại phục vụ tập huấn về đánh giá trữ lượng nguồn lợi nhiệt đới [97] Trong đó, các nhà khoa học đã tiến hành xây dựng một số mô hình tính toán để áp dụng vào công tác quản lý khai thác và bảo vệ NLTS, điển hình là mô hình động vật quần thể của Beverton, Holt, Gordon, Schaefer và Fox Các mô hình này được sử dụng rộng rãi và có thể áp dụng cho nghề cá nhiệt đới Ứng dụng các mô hình này cho phép tính toán về hiệu quả kinh
tế, sinh học, dự báo biến động sản lượng, lập kế hoạch và điều chỉnh cường lực phù hợp với tình trạng nguồn lợi
Dựa vào các mô hình phân tích lý thuyết của F.I Baranov, Per Sparre và Siebren
C Venema [109] đã xây dựng phương pháp đánh giá trữ lượng nguồn lợi dựa vào sản lượng và cường lực Trong đó, Schaefer và Fox là hai mô hình chính trong mô hình Holistic được sử dụng để đánh giá trữ lượng nguồn lợi
Sử dụng Mô hình Schaefer và Fox để đánh giá khả năng cho phép khai thác nguồn lợi khi có các số liệu đầu vào là năng suất, tổng sản lượng và cường lực đánh bắt theo chuỗi thời gian nhiều năm liên tục Độ tin cậy của kết quả tính toán càng cao khi số liệu đầu vào được thu thập theo chuỗi thời gian nhiều năm
Nhận xét:
Khai thác hợp lý NLTS là nhu cầu bức thiết của các quốc gia có biển và cần giải quyết hài hòa các yếu tố đầu vào, đầu ra và tổ chức hoạt động khai thác thể hiện qua một số yêu cầu như sau:
Trang 24- Phải xác định được sản lượng khai thác hợp lý (theo tổng sản lượng và thành phần nhóm sản phẩm khai thác) ứng với mức cường lực phù hợp
- Khai thác khi cá đã trưởng thành thông qua sử dụng loại nghề hoặc ngư cụ cấu trúc phù hợp
- Tổ chức đánh bắt vào thời gian và không gian không gây hại đến NLTS
- Mô hình Schaefer và mô hình Fox đã được ứng dụng nghiên cứu khảo nghiệm
và lập kế hoạch quản lý ở nhiều quốc gia, cho nghề cá ôn đới và nhiệt đới
- Sử dụng hai mô hình Schaefer và Fox cho phép xác định sản lượng khai thác BVTĐ (MSY) ứng với cường lực đánh bắt (fMSY) phục vụ cho công tác dự báo, lập kế hoạch khai thác và quản lý nghề cá
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết tính toán để xác định MSY, fMSY và giải pháp khai thác hợp lý NLTS
Nghiên cứu xác định MSY và f MSY
Để có cơ sở khoa học phục vụ quản lý và điều tiết nghề cá, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững cho nghề đánh bắt ở các vùng biển khác nhau Trong đó, mô hình sản lượng thặng dư Schaefer (1954)
và Fox (1975) đã được nhiều nhà khoa học sử dụng [101]
- Năm 1979, Dwiponggo [95] đã công bố công trình “Tổng quan nguồn lợi cá đáy và nghề cá ở vùng biển Java” Tác giả đã sử dụng mô hình Schaefer và Fox để
xác định sản lượng và cường lực khai thác BVTĐ cho nghề khai thác cá đáy ở vùng biển Bắc của Java, Indonesia Tác giả đã sử dụng chuỗi dữ liệu điều tra về sản lượng khai thác ở vùng biển xa bờ giai đoạn 1969 ÷ 1977, cường lực đánh bắt được chuẩn
hóa về một đội tàu chuẩn [109] Kết quả nghiên cứu cho thấy:
+ Mô hình Schaefer: MSY đạt 65.800 tấn và fMSY là 1.235 tàu chuẩn
+ Mô hình Fox: MSY đạt 60.900 tấn và fMSY là 1.274 tàu chuẩn
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cường lực đánh bắt thực tế đã vượt quá cường lực tối đa được phép sử dụng từ năm 1976 và sản lượng đánh bắt thấp hơn MSY
- Năm 2007, Em Puthy [107] đã công bố công trình nghiên cứu "Quản lý tiềm năng nguồn lợi hải sản nghề khai thác cá Thu ở Campuchia" Tác giả đã sử dụng mô
hình Schaefer và Fox để tính MSY và fMSY của nghề khai thác cá thu ở Campuchia Tác giả đã sử dụng số liệu điều tra sản lượng đánh bắt từ năm 1992 ÷ 2006 và cường
Trang 25rê và 6 tàu hoạt động nghề lưới vây Tác giả đã chuẩn hóa đội tàu lưới vây về tàu lưới
rê Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra:
+ Mô hình Schaefer: MSY đạt 5.876 tấn và fMSY là 152 tàu chuẩn
+ Mô hình Fox: MSY đạt 5.249 tấn và fMSY là 151 tàu chuẩn
Kết quả tính toán cho thấy, giá trị cường lực đánh bắt thực tế đã vượt quá mức
fMSY vào năm 2005, sản lượng đánh bắt thực tế thấp hơn MSY Từ kết tính toán, nhóm nghiên cứu đã đề xuất cắt giảm số lượng tàu thuyền từ 187 chiếc xuống còn 150 chiếc tàu chuẩn; đồng thời sử dụng chính sách thuế để điều tiết khai thác Theo đó, Chính phủ nên tăng thuế đối với các tàu đánh bắt ven bờ và giảm thuế cho các tàu xa bờ Bên cạnh đó, các quốc gia trong khu vực cũng cần có sự hợp tác để quản lý hiệu quả nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các loài di cư trong Vịnh Thái Lan nói chúng và cá thu nói riêng Sự hợp tác này nên bao gồm tất cả các nước thành viên trong khu vực vịnh bởi
cá thu có đặc tính di cư giữa các vùng đặc quyền kinh tế khác nhau và biến động trữ lượng khai thác khá phức tạp do bị nhiều quốc gia cùng đánh bắt
- Năm 2010, Chin - Cheng Wu và các cộng sự [113] công bố công trình “Ước lượng sản lượng bền vững tối đa cho tôm Lân (Sergia lucens) ở vùng biển phía Tây Nam Đài Loan” của nghề lưới kéo tôm Các tác giả đã ứng dụng mô hình Schaefer để
xác định MSY và fMSY Dữ liệu nghiên cứu là sản lượng khai thác từ năm 1997 ÷ 2008
và cường lực khai thác là ngày tàu hoạt động Kết quả ước lượng MSY là 1.011 tấn, ứng với fMSY là 11.292 ngày tàu Giá trị ước lượng này gần giống với kết quả tính toán của các tác giả khi sử dụng số liệu đầu vào và mô hình tính khác nhau (Chen đã sử dụng mô hình Fox và số liệu đầu vào từ 1992 ÷ 1996, có MSY = 865 tấn; Hong đã sử dụng 2 mô hình Fox và Pella-Tomlinson, số liệu đầu vào từ 1998 ÷ 2007, có MSY lần lượt là 732 và 748 tấn)
- Năm 2006, tác giả Franz và Bernard [96] đã công bố công trình "Sử dụng mô hình sản xuất thặng dư đa loài để ước lượng sản lượng bền vững tối đa mức độ hệ sinh thái" Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình sản xuất thặng dư Graham-Schaefer và
mô hình Pella-Tomlinson để ước lượng giá trị MSY của nghề khai thác cá đáy ở phía Đông biển Bering (đảo Aleutian) và vịnh Alaska Nghiên cứu đã sử dụng số liệu về sinh khối và sản lượng của 17 loài cá đáy trong giai đoạn 1977 ÷ 2004 Kết quả đã tính được giá trị MSY là 2.500.000 tấn ở Aleutian và 330.000 tấn ở vịnh Alaska
Nhận xét:
- MSY và fMSY là chỉ số quan trọng, giúp các nhà khoa học và quản lý có giải
Trang 26pháp nhằm quản lý, kiểm soát đội tàu và điều chỉnh số lượng tàu cá (nếu cần)
- Để đảm bảo độ chính xác cao khi áp dụng mô hình Schaefer và Fox, cần phải
có số liệu đầu vào là sản lượng và cường lực khai thác trong khoảng thời gian khá dài Cường lực khai thác phải được chuẩn hóa về giá trị đồng nhất Các mô hình này đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
- Từ kết quả ước tính về fMSY và MSY, các nhà khoa học đã đề xuất được các giải pháp nhằm quản lý, kiểm soát đội tàu và điều chỉnh số lượng tàu cá (nếu cần)
Nghiên cứu giải pháp điều chỉnh cường lực khai thác
Để đảm bảo khai thác hợp lý NLTS, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau, trong đó quản lý và cắt giảm cường lực là biện pháp đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng
và mang lại hiệu quả
- Năm 2008, Huiguo và Yunjun [114] đã công bố công trình “Quản lý cường lực khai thác ở Trung Quốc: Xét về khía cạnh lý thuyết và thực tiễn” Nhóm nghiên cứu đã
sử dụng các phương pháp tính toán khoa học dựa trên số liệu cường lực, sản lượng và khả năng cho phép đánh bắt của toàn vùng biển Trung Hoa nhằm xác định số lượng tàu khai thác hợp lý Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng tàu thuyền vào năm 2002
là 222.390 chiếc và cần cắt giảm mỗi năm 3.750 tàu trong suốt giai đoạn từ 2002 ÷
2010, đến cuối năm 2010 còn lại 192.390 tàu Đối với công suất máy chính, cắt giảm
từ 17.254.722CV (2002) xuống còn 15.529.250CV (2010), trung bình mỗi năm giảm 215.684CV Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất kế hoạch chuyển đổi nghề cho 200.000 ngư dân, chiếm 4% tổng số lao động KTTS sang các lĩnh vực khác vào năm
2010 Để hoàn thành mục tiêu này, các chính sách hỗ trợ nuôi trồng hải sản và đào tạo nghề đã được thực hiện Các nghề được định hướng chuyển đổi gồm nuôi trồng và chế biến thủy sản Tuy nhiên, quá trình thực hiện đã không mang lại hiệu quả như tính toán Nguyên nhân chủ yếu là do có nhiều tàu nhỏ tập trung khai thác ven bờ (72% tàu
cá có chiều dài dưới 12m), trình độ dân trí thấp và tập quán sản xuất khó thích ứng
- Sau Trung Quốc, khối liên minh Châu Âu cũng đã nỗ lực rất lớn trong việc cắt giảm đội tàu dư thừa Số lượng tàu cá của liên minh Châu Âu bị cắt giảm từ 96.000 chiếc (năm 2000) xuống còn 88.701 chiếc (năm 2003), trung bình 2%/năm Trong đó
có 13% là tàu lưới kéo, 6% lưới rùng, 3% lưới rê, 16% câu vàng [112]
- Cùng mục tiêu quản lý và cắt giảm tàu thuyền nhằm duy trì, phát triển ngành KTTS theo hướng bền vững, nhiều quốc gia đã thiết lập và thực thi chính sách mua lại
Trang 27Kông, Đài Loan, Thái Lan và cộng đồng Châu Âu [102] Các quốc gia này đã chi một lượng tiền lớn để mua lại tàu cũ và tàu hoạt động ven bờ của ngư dân nhằm hạn chế mức quá tải cường lực khai thác
Nhận xét:
- Trên cơ sở ước tính MSY và fMSY, nhiều quốc gia đã triển khai các biện pháp cắt giảm số lượng tàu dôi dư nhằm đảm bảo phát triển nghề cá bền vững Biện pháp này đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và đã mang lại hiệu quả thiết thực cho nhiều vùng biển, quốc gia và vùng lãnh thổ
- Trước khi cắt giảm tàu thuyền, hầu hết các quốc gia đều xây dựng chính sách
hỗ trợ, đào tạo cho ngư dân chuyển sang các ngành nghề phù hợp, dễ tiếp cận như nuôi trồng và chế biến thủy sản, dịch vụ du lịch, v.v Các nghề chuyển đổi phù hợp với tập quán sản xuất của ngư dân hoạt động nghề KTTS Do đó, họ dễ chấp nhận, chi phí đào tạo và chuyển đổi nghề thấp
1.2.1.2 Nghiên cứu giải pháp sử dụng ngư cụ hợp lý khai thác NLTS
Nghiên cứu xây dựng lý thuyết tính toán
Để đảm bảo NLTS phát triển ổn định, bên cạnh sử dụng cường lực khai thác hợp
lý thì sự chọn lọc của ngư cụ cũng được các nhà khoa học và quản lý quan tâm Khi sử dụng kích thước mắt lưới lớn hoặc lắp đặt thêm thiết bị lọc, thì mức tử vong do khai thác đối với cá non sẽ giảm xuống nên sản phẩm thu được gồm các nhóm cá già hơn, lớn hơn và có giá trị kinh tế hơn [104]
Tài liệu "Đánh giá trữ lượng đàn cá nhiệt đới" của Per Sparre và Siebren C
Venema [109] đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu khả năng chọn lọc của ngư cụ nhằm bảo vệ cá non và sau đó đã được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới
Các loại ngư cụ hoạt động theo nguyên lý lọc nước lấy cá, điển hình là lưới kéo
sẽ lựa chọn đánh bắt đối tượng có kích cỡ lớn hơn so với kích thước mắt lưới Đối với ngư cụ đánh bắt theo nguyên lý đóng, điển hình là lưới rê, trong quá trình khai thác chỉ lựa chọn đối tượng ở một khoảng chiều dài nào đó phù hợp với kích thước mắt lưới Tính chất đó của ngư cụ gọi là khả năng chọn lọc hay là sự lựa chọn của ngư cụ Đối với mắt lưới hình thoi, khả năng chọn lọc kém nên khi sử dụng kích thước mắt lưới lớn nhưng vẫn đánh bắt cá có kích cỡ nhỏ Để khai thác hợp lý NLTS, các loại ngư cụ đánh bắt theo nguyên lý lọc nước lấy cá được lắp đặt thêm thiết bị lọc ở bộ phận giữ cá nhằm cho thoát cá non ra khỏi lưới Để giải quyết vấn đề này, cần tính toán để xác định kích thước mắt lưới hoặc khe hở (độ mở) của thiết bị lọc phù hợp với kích cỡ của
Trang 28đối tượng đánh bắt Khi đó, sản lượng đánh bắt còn lại là cá trưởng thành, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ NLTS nhưng không làm giảm hiệu quả kinh tế [104]
Sự chọn lọc của ngư cụ có liên hệ chặt chẽ với việc đánh giá tỷ lệ chết do đánh bắt và dự báo sản lượng khai thác trong tương lai [104] Để phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng cơ sở lý thuyết chọn lọc trong khai thác, các nhà khoa học
đã xây dựng các mô hình tính toán cho lưới kéo và lưới rê [109] Hai mô hình này được xem là đủ linh hoạt để mô tả khả năng chọn lọc cho các loại ngư cụ khác [109] Trên cơ sở đó, các nhà khoa học khác đã vận dụng tính toán khả năng chọn lọc của một số ngư cụ khác như: Lưới đáy, câu, bẫy, lưới vây, lưới đăng và lưới rùng [98] Đối với ngư cụ hoạt động theo nguyên lý lọc nước lấy cá, phương pháp xác định
số lượng và kích thước của cá thoát qua thiết bị lọc ở đụt lưới bằng cách sử dụng thêm bao đụt bên ngoài Sự chọn lọc được thể hiện thông qua việc so sánh số lượng và kích thước cá ở đụt trong và đụt ngoài Phương pháp sử dụng đụt ngoài trong nghiên cứu khả năng chọn lọc của lưới kéo đã được các tác giả Pope [106] và Jones [99] mô tả
Nhận xét:
- Các mô hình tính toán để xác định kích thước mắt lưới hoặc khe hở của thiết bị lọc phù hợp với kích cỡ đối tượng đánh bắt đã được áp dụng rộng rãi nhằm khai thác hợp lý NLTS
- Thông qua nghiên cứu khả năng chọn lọc, có thể xác định được kích thước cá ứng với kích cỡ mắt lưới hoặc khe hở của thiết bị lọc Từ đó, đề xuất lựa chọn thiết bị lọc sử dụng hiệu quả nhằm khai thác hợp lý NLTS
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết tính toán xây dựng giải pháp sử dụng ngư cụ hợp lý khai thác NLTS
Ngoài sử dụng và quản lý cường lực khai thác, thì nâng cao khả năng chọn lọc nhằm sử dụng ngư cụ hợp lý khai thác NLTS cũng đã được nhiều nhà khoa học và quản lý quan tâm
Năm 2014, Ambrose và Isangedighi [89] đã thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng thoát cá chưa trưởng thành cho nghề lưới đáy khai thác tôm” Nhóm nghiên cứu đã
cải tiến ngư cụ nhằm giảm tỷ lệ cá non cho nghề lưới đáy khai thác tôm ở vùng biển ven bờ Nigerian thuộc Đại Tây Dương Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đánh bắt thử nghiệm đối chứng giữa lưới đáy truyền thống và lưới cải tiến - lắp đặt thêm tấm lọc cá non bằng mắt lưới hình vuông, không gút, sợi bện tết và a = 10mm ở đụt Lưới
Trang 29trên tấm lưng của đụt lưới đáy Kết quả thử nghiệm cho thấy, lưới đáy cải tiến giảm
54,4% lượng cá chưa trưởng thành và 5% sản lượng tôm (Nematoplaemon hastatus) –
là đối tượng khai thác chính Thiết bị lọc cho phép các loài cá có mặt cắt ngang thân dạng hình bầu dục và có chiều dài từ 30 ÷ 100mm thoát ra ngoài trong khi vẫn giữ lại các loài đạt chiều dài cho phép khai thác từ 110 ÷ 200mm Từ kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã đề xuất cơ quan quản lý bổ sung quy định bắt buộc lắp đặt thiết bị lọc
cá non cho nghề lưới đáy khai thác tôm
Năm 2015, Chao và cộng sự [92] đã nghiên cứu “Khả năng chọn lọc theo kích thước mắt lưới cho nghề lưới đáy ven đảo Zhaitang” Nhóm nghiên cứu đã thử
nghiệm và đánh giá khả năng chọn lọc của đụt lưới đáy theo dạng mắt lưới hình thoi, 2a = 30mm và dạng mắt lưới hình vuông, có a = 20, 30 và 40mm đối chứng với lưới đáy truyền thống ở địa phương sử dụng mắt lưới hình thoi, 2a = 16mm Nghiên cứu
tập trung vào đánh giá tính chọn lọc đối với loài cá cát lance (Ammodytes personatus),
cá chìa vôi (Syngnathus schlegeli) và cá non của một số đối tượng có giá trị kinh tế
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dạng mắt lưới hình vuông có khả năng chọn lọc tốt hơn so với mắt lưới hình thoi Đối với mắt lưới hình vuông có a = 30mm, tỷ lệ thoát ra
của loài A personatus và S schlegeli lần lượt là 4,61%; 16,80% và cao hơn so với lưới
hình thoi có 2a = 30mm; tỷ lệ cá thoát ra khỏi đụt lưới ở mức 50% (L50) của cá mối
(Amblychaeturichthys hexanema), mực ống Nhật Bản (Loligo japonica) lần lượt là
38,47%; 61,29% và cao hơn tỷ lệ tương ứng khi sử dụng mắt lưới hình thoi có 2a = 30mm So sánh với số liệu thống kê khi sử dụng mắt lưới hình vuông ở đụt có a =
20mm và 30mm cho thấy, L50 của A hexanema lần lượt là 6,58cm; 7,20cm và SR
tương ứng là 3,02cm và 0,87cm Tương tự đối với mắt lưới hình vuông có cạnh là 20;
30 và 40mm, L50 của loài L japonica lần lượt là 2,88cm; 4,03cm; 10,49cm và SR là 0,74cm; 0,52cm và 2,67cm Như vậy, L50 của A hexanema và L japonica tăng lên
khi sử dụng kích thước cạnh mắt lưới lớn hơn
Nhận xét:
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu khả năng chọn lọc của ngư cụ, các quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa ra các biện pháp quản lý khai thác nhằm bảo vệ NLTS như: Kích thước và số lượng ngư cụ, phương thức đánh bắt, vị trí hoạt động của lưới đáy, độ mở miệng đáy tối đa và độ mở mắt lưới tối thiểu tại đụt lưới, mùa vụ khai thác tương ứng với từng đối tượng đánh bắt chính Đồng thời, bổ sung quy định quản lý nhằm bắt buộc người dân lắp thiết bị lọc cá non khi sửa dụng lưới đáy [88,90]
Trang 30- Khi NLTS đã được bảo vệ và phát triển ổn định, quản lý quy mô ngư cụ và cường lực được thực hiện nhằm đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi Nghĩa là duy trì quy mô ngư cụ và cường lực khai thác ở mức phù hợp với tình trạng NLTS
1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Nghiên cứu giải pháp sử dụng cường lực khai thác hợp lý NLTS
Nghiên cứu xây dựng nội dung khai thác hợp lý NLTS
Năm 2016, Phan Trọng Huyến và cộng sự [31] đã nghiên cứu xây dựng nội dung khai thác hợp lý NLTS cho vùng biển ven bờ Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, nội dung khai thác hợp lý NLTS được chia thành 2 nhóm, gồm: Khai thác hợp lý về sản lượng NLTS và sử dụng cường lực hợp lý
- Nội dung thứ nhất: Khai thác hợp lý về sản lượng NLTS, có 5 hướng tiếp cận, gồm: (1) Khai thác hợp lý về tổng sản lượng NLTS; (2) Khai thác hợp lý về tỷ lệ sản lượng giữa các loài; (3) Khai thác hợp lý về độ tuổi và kích thước các loài thủy sản; (4) Khai thác sản lượng nguồn lợi thủy sản phải đảm bảo hợp lý về thời gian và (5) Khai thác hợp lý về không gian phân bố đàn cá
- Nội dung thứ hai: Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản về mặt cường lực, có 4 hướng tiếp cận, gồm: (1) Sử dụng hợp lý về tổng giá trị cường lực; (2) Sử dụng cường lực phải hợp lý về mật độ tàu thuyền hay ngư cụ; (3) Sử dụng hợp lý về chủng loại ngư cụ và (4) Sử dụng ngư cụ có cấu trúc hợp lý
Để chứng minh các luận điểm của mình, các tác giả đã phân tích tổng quát về lý luận quản lý khai thác, quy hoạch ngành khai thác, các văn bản quản lý Nhà nước về lĩnh vực thủy sản và thực tiễn hoạt động KTTS tại vùng biển ven bờ Đây là nền tảng
lý luận quan trọng giúp các nhà khoa học vận dụng các hướng tiếp cận phục vụ nghiên cứu và đưa ra được các giải pháp khai thác hợp lý NLTS
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết tính toán để xác định MSY, f MSY và giải pháp khai thác hợp lý NLTS
Năm 2010, Thái Ngọc Chiến [10] đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam" Trên cơ sở
điều tra, đánh giá nhanh nông thôn đã thu thập được bộ số liệu nhằm ước tính sản lượng và cường lực khai thác BVTĐ theo mô hình Schaefer Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ 1991 ÷ 2008, ước lượng MSY và fMSY cho 28 tỉnh thành ven biển Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Trang 31- Hầu hết các đội tàu khai thác ven bờ của các địa phương đã vượt ngưỡng cho phép về MSY và fMSY Trong đó, vùng biển vịnh Bắc Bộ có fMSY là 21.101 chiếc và MSY là 302.274 tấn; vùng biển miền Trung có fMSY là 19.886 chiếc và MSY là 591.555 tấn; vùng biển Tây Nam Bộ có fMSY là 6.814 chiếc và MSY là 352.713 tấn; vùng biển Đông Nam Bộ có fMSY là 10.521 chiếc và MSY là 475.189 tấn Như vậy, cả nước có fMSY 58.322 tàu và vượt ngưỡng cho phép 51.102 tàu
- Nhóm nghiên cứu đã đề xuất hệ thống chính sách và các giải pháp nhằm quản
lý bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam Các nhóm giải pháp gồm: giảm
áp lực khai thác NLTS ven bờ; quy hoạch và quản lý quy hoạch; tạo sinh kế thay thế; xây dựng các mô hình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng hoặc đồng quản lý; chính sách liên quan cắt giảm tàu thuyền và sản lượng khai thác hải sản ven bờ
Năm 2013, Trần Văn Vinh [86] đã công bố công trình “Xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” Tác giả đã
thực hiện điều tra toàn diện về kinh tế - xã hội, hoạt động khai thác và bảo vệ NLTS nhằm thu thập số liệu nghiên cứu Số liệu đầu vào là sản lượng và cường lực khai thác
từ năm 2005 ÷ 2011 được sử dụng để tính MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer tại 4 phân vùng trong đầm Kết quả tính toán cho thấy:
- Vịnh Mai Hương: Mô hình Fox có MSY là 1.349 tấn và fMSY là 255 tàu; Mô hình Schaefer có MSY 1.373 và fMSY là 265 tàu Chọn giá trị fMSY theo mô hình Schaefer thì số tàu đã vượt quá cường lực khai thác cho phép là 53 tàu
- Khu vực Tây đầm: Mô hình Fox có MSY là 2.585 và fMSY là 462 tàu; Mô hình Schaefer có MSY là 2.596 tấn và fMSY là 421 tàu Chọn giá trị fMSY theo mô hình Schaefer thì số tàu đã vượt quá cường lực khai thác cho phép là 36 tàu
Trang 32- Khu vực giữa đầm: Mô hình Fox có MSY là 1.331 và fMSY là 273 tàu; Mô hình Schaefer có MSY là 1.341 và fMSY là 273 tàu Chọn giá trị fMSY theo mô hình Schaefer thì số tàu đã vượt quá cường lực khai thác cho phép là 36 tàu
- Khu vực Đông đầm: Mô hình Fox có MSY là 1.550 tấn và fMSY là 222 tàu; Mô hình Schaefer có MSY là 1.538 và fMSY là 252 tàu Chọn giá trị fMSY theo mô hình Schaefer thì số tàu đã vượt quá cường lực khai thác cho phép là 92 tàu
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp bảo vệ và phát triển NLTS tại đầm Thị Nại như: phân vùng quy hoạch vùng khai thác thủy sản và bố trí cường lực cho từng khu vực phù hợp với tình trạng nguồn lợi; xây dựng quy chế quản lý khai thác và bảo vệ NLTS; đề xuất và xây dựng thí điểm được một mô hình đồng quản lý NLTS tại đầm thị Nại Bước đầu, mô hình đồng quản lý NLTS đã phát huy hiệu quả trong công tác quản lý khai thác và bảo vệ NLTS
Nhận xét:
- Đầm Thị Nại là thủy vực khá kín, NLTS di cư ra vịnh Quy Nhơn và ngược lại được xem như không ảnh hưởng đến quá trình tính toán khi sử dụng mô hình Schaefer
và Fox để ước lượng cường lực và sản lượng khai thác BVTĐ
- Số liệu sử dụng để tính toán là sản lượng và cường lực khai thác trong 7 năm khảo sát, được xem là phù hợp với thực tiễn nghề cá Việt Nam
- Nghiên cứu đã đề xuất 3 nhóm giải pháp nhằm quản lý hoạt động khai thác và bảo vệ NLTS Trong đó, đã xây dựng thí điểm được mô hình đồng quản lý bảo vệ NLTS phù hợp với điều kiện thực tiễn nghề cá quy mô nhỏ của địa phương
Năm 2017, Vũ Kế Nghiệp [49] đã công bố công trình “Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại Vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hoà”
Tác giả đã sử dụng số liệu sản lượng và cường lực từ năm 2008 ÷ 2015 và mô hình Schaefer để ước lượng cường lực và sản lượng khai thác BVTĐ cho vùng biển nghiên cứu Kết quả tính toán được như sau:
- Vịnh Vân Phong có MSY là 8.045 tấn và fMSY 1.263 tàu Trong đó, MSY và
fMSY nghề lưới kéo là 4.864 tấn và 362 tàu, nghề lưới vây là 1.179 tấn và 248 tàu, nghề lưới rê là 784 tấn và 137 tàu, nghề câu là 634 tấn và 199 tàu, nghề khác là 584 tấn và
317 tàu [49,50]
- Kết quả nghiên cứu chỉ rõ hoạt động KTTS ở vịnh Vân Phong đã vượt ngưỡng cho phép về sản lượng là 1.126 tấn và cường lực khai thác là 417 tàu Trong đó, MSY
Trang 33và fMSY nghề lưới kéo vượt ngưỡng cho phép là 480 tấn và 91 tàu, nghề lưới vây là 323 tấn và 78 tàu, nghề lưới rê là 237 tấn và 91 tàu, nghề câu là 117 tấn và 78 tàu, nghề khác có fMSY vượt ngưỡng là 79 tàu còn sản lượng khai thác thì chưa vượt ngưỡng Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề ra năm nhóm giải pháp nhằm hạn chế tình trạng NLTS ở vịnh Vân Phong ngày càng cạn kiệt, gồm: Điều chỉnh cường lực khai thác thông qua ngăn ngừa tàu lưới kéo có công suất ≥ 20CV hoạt động trong vùng biển vịnh Vân Phong, đồng thời cắt giảm cường lực về mức fMSY; điều chỉnh cơ cấu nghề khai thác bằng cách cắt giảm 220 tàu lưới kéo có công suất dưới 20CV và phân bổ số tàu này cho các nghề lưới vây, nghề lưới rê, nghề câu và nghề khác; chuyển đổi các tàu dôi dư sang làm nghề trồng rong hoặc cải hoán, nâng cấp vỏ tàu, máy tàu để hoạt động ở vùng lộng và vùng khơi; phục hồi và tái tạo một số nơi cư trú điển hình của các loài thủy sản thông qua việc trồng mới, trồng bổ sung để phục hồi rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn; xây dựng và quy định phân vùng khai thác cho các nghề với tổng diện tích mặt nước là 151,8 km2
Nhận xét:
- Trên cơ sở điều tra và khảo sát, công trình đã phân tích, đánh giá làm rõ được thực trạng khai thác và bảo vệ NLTS tại vùng biển nghiên cứu, đặc biệt là thu thập được chuỗi số liệu về sản lượng và cường lực khai thác từ 2008 ÷ 2015
- Công trình đã xác định được cường lực và sản lượng khai thác hợp lý cho các nhóm công suất tàu của nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, nghề câu theo mô hình Schaefer sau khi chuẩn hóa cường lực
- Nghiên cứu đã cung cấp được một số dẫn liệu làm cơ sở cho việc quy hoạch và phát triển nghề cá của địa phương Bên cạnh đó, đề xuất được các nhóm giải pháp có tính khả thi cao trong công tác bảo vệ NLTS và quản lý hoạt động KTTS, đặc biệt là phân vùng khai thác theo nghề, chuyển đổi nghề và phục hồi nguồn lợi san hô tạo nơi sinh cư cho các loài thủy sản
1.2.2.2 Nghiên cứu giải pháp sử dụng ngư cụ hợp lý khai thác NLTS
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về cải tiến ngư cụ nhằm nâng cao khả năng chọn lọc và bảo vệ cá chưa trưởng thành tập trung chủ yếu vào các nghề hoạt động xa bờ, quy mô lớn và có mức tác động tiêu cực đến NLTS lớn Các nghề hoạt động ở vùng nước ven bờ, đầm, phá chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học và quản lý
Trang 34Năm 2015, Võ Giang [26] đã công bố đề tài “Nghiên cứu tính chọn lọc của nghề lưới đáy khai thác tại cửa biển Thuận An, tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp quản lý” Tác giả đã sử dụng tấm lọc lưới có kích thước 0,6 x 1,0m với mắt lưới hình
vuông có a = 18 và 24mm lắp trên tấm lưng của đụt lưới đáy có 2a = 5,6mm Số liệu được thu thập và so sánh đối chứng với lưới của ngư dân đang hoạt động trong cùng ngư trường và thời gian
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi chưa lắp tấm lọc vào đụt, tỷ lệ các loài cá chưa
đạt kích thước khai thác bị giữ lại gồm: Tôm rảo (Metapenaeus ensis) là 52%; Tôm sú (Penaeus monodo) là 30%; cá sơn (Pseudambassis notatus) là 60% và cá liệt (Leiognathus insidiator) là 58% Khi sử dụng tấm lọc có a = 18mm, tỷ lệ các loài chưa trưởng thành
bị đánh bắt gồm tôm rảo, tôm sú, cá sơn và cá liệt giảm xuống còn 14%; đối với tấm lọc có a = 24mm, tỷ lệ các loài chưa trưởng thành bị đánh bắt nhỏ nhất là tôm rảo, 7%; tiếp đến là tôm sú, 8%; cá liệt là 12% và cao nhất là cá sơn, 13% Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất sử dụng tấm lọc hình vuông có kích thước cạnh mắt lưới a = 18mm cho nghề lưới đáy tại cửa biển Thuận An Ưu điểm của tấm lọc là tỷ lệ của tôm rảo, tôm
sú, cá liệt và cá sơn bị đánh bắt có kích thước nhỏ hơn quy định ở mức 14% Khi đó, ngư dân không bị vi phạm quy định về tỷ lệ cá nhỏ được phép lẫn trong sản phẩm khai thác [3] Bên cạnh đó, khi áp dụng tấm lọc này, xét trong thời gian ngắn hạn thì mức thu nhập của ngư dân giảm nhưng không đáng kể (17,88%) so với trước khi áp dụng
1.2.2.3 Nghiên cứu và đề xuất giải pháp khai thác hợp lý NLTS tại đầm Nại
Nghiên cứu đánh giá NLTS và giải pháp bảo vệ
Các công trình nghiên cứu, đánh giá NLTS ở đầm Nại chưa được nhiều nhà khoa học quan tâm, các công trình chủ yếu xác định thành phần và cấu trúc khu hệ cá
Năm 2002, Nguyễn Khắc Lâm và cộng sự [39] đã thực hiện đề tài “Điều tra nguồn lợi – nuôi thử nghiệm và xây dựng quy trình nuôi thích hợp sò huyết tại đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận” Kết quả nghiên cứu đã xác định được sản lượng khai thác,
Trang 35cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi sò huyết như: Ngăn cấm hoặc hạn chế khai thác sò thương phẩm vào mùa sinh sản (từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm); quy hoạch phân vùng bảo vệ sò huyết tại 2 khu vực có sò phân bố với mật độ cao là Hộ Diêm và Gò Đền – Phương Cựu, không cho ngư dân khoanh vùng làm hồ nuôi tôm; thực hiện nghiêm quy định cấm sử dụng kích điện trong KTTS; thả bổ sung
sò huyết giống vào đầm và chuyển dịch một số hộ khai thác sò sang nuôi sò theo cơ chế giao quyền quản lý mặt nước trong từng giai đoạn
Năm 2008, Lưu Xuân Vĩnh và cộng sự [85] đã thực hiện đề tài “Điều tra thực trạng nguồn lợi cá, giáp xác vùng đầm Nại và đề xuất các giải pháp quản lý” Kết quả
nghiên cứu cho thấy, đầm Nại có 82 loài cá và bằng phương pháp hồi cố, tác giả cũng chỉ ra một số loài thủy sản trước đây ngư dân địa phương đánh bắt được nhưng trong quá trình khảo sát không bắt gặp Ngoài ra, nghiên cứu đã xác định được đầm Nại có
26 loài giáp xác, thuộc 2 bộ, 8 họ và 16 giống Bộ mười chân (Decapboda) với 24 loài
và bộ chân bụng (Stomatopoda) có 2 loài [85] Nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển NLTS như: Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng nhằm thực hiện khai thác phải đi đôi với bảo vệ NLTS, hạn chế việc xả thải ra đầm Nại; áp dụng các biện pháp bảo vệ môi sinh,
xử lý nghiêm các nghề KTTS mang tính hủy diệt; tổ chức mùa vụ khai thác hợp lý; quy định khu vực khai thác, kích cỡ đối tượng và mùa vụ khai thác; tái tạo NLTS bằng cách thả giống một số đối tượng vào thủy vực
Năm 2014, Nguyễn Văn Quân và cộng sự [57] đã công bố công trình "Đa dạng sinh học khu hệ cá đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận" Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu hệ
cá đầm Nại đã xác định được 127 loài, 97 giống, 54 họ thuộc 14 bộ [57], nghiên cứu này đã phát hiện thêm 45 loài, 35 giống, 7 họ và 01 bộ so với công bố trước đó của Lưu Xuân Vĩnh [85] Bên cạnh đó, căn cứ vào đặc điểm phân bố và sinh thái của loài, nhóm nghiên cứu đã phân chia khu hệ cá thành 3 nhóm sinh thái như sau [57]:
+ Nhóm cá nổi: Có 33 loài, chiếm tỷ lệ 26,19% tổng số loài
+ Nhóm cá tầng đáy: Có 90 loài, chiếm 71,43% tổng số loài
+ Nhóm cá rạn san hô: Có 3 loài, chiếm 2,38% tổng số loài
Năm 2014, Nguyễn Thị Hương Liên đã công bố công trình “Tiềm năng nguồn lợi cá vùng đầm Nại (tỉnh Ninh Thuận) và đề xuất một số giải pháp quản lý, phát triển bền vững” Trên cơ sở điều tra, khảo sát và đánh giá tình trạng nguồn lợi, đã phát hiện
nhiều đối tượng thuộc danh mục cần bảo tồn và bảo vệ Trong đó, loài cá bống bớp
Trang 36Bostrychus sinensis (Lacepède, 1801) đang ở trạng thái rất nguy cấp, cá cháy thường Tenualosa treevesii (Richardson, 1846) đang ở trạng thái nguy cấp (EN) và 5 loài đang
ở trạng thái sẽ nguy cấp Nghiên cứu đã đề xuất được một số giải pháp quản lý, phát triển bền vững nguồn lợi cá vùng đầm Nại như: Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành pháp luật về thủy sản; chuyển đổi nghề cho ngư dân; tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm công tác bảo vệ NLTS; giải pháp quy hoạch, bảo tồn cũng đã đề cập, v.v nhằm hạn chế suy giảm NLTS
Năm 2014, Đặng Đỗ Hùng Việt và các cộng sự [84] đã công bố công trình "Biến động phân bố mật độ trứng và cá bột tại đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận" Nhóm nghiên
cứu đã tiến hành thu mẫu và đánh giá vào 3 thời điểm khác nhau, mùa mưa vào tháng 10/2013, mùa chuyển tiếp vào tháng 8/2013 và mùa khô vào tháng 5/2014 Mùa khô thu được 971 trứng cá và 111 cá bột; mùa chuyển tiếp có 3.393 trứng cá và 1.049 cá bột; mùa mưa có 1.267 trứng cá và 684 cá bột Kết quả nghiên cứu đã khẳng định mùa sinh sản các loài thủy sản tại đầm Nại tập trung vào mùa chuyển tiếp, từ mùa khô sang mùa mưa [84] Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất một số biện pháp quản lý khai thác vào mùa chuyển tiếp nhằm bảo vệ trứng cá và cá bột
Nghiên cứu hoạt động khai thác và đề xuất giải pháp bảo vệ NLTS
Năm 2005, Kiều Minh Khuê [32] đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng, bước đầu đề xuất các giải pháp để phục hồi nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại - Ninh Thuận” Tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra, phân tích và đánh giá được biến
động năng suất, sản lượng khai thác tại đầm Nại Tác giả đã đề xuất được 06 nhóm giải pháp phục hồi NLTS như: Hạn chế gia tăng dân số; tạo công ăn việc làm thay thế nghề KTTS; cải thiện môi trường từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản, thu gom, xử lý rác thải từ sản xuất và dân sinh; nghiêm cấm sử dụng các nghề, phương thức khai thác mang tính hủy diệt; thả bổ sung NLTS vào đầm; tuyên truyền người dân bảo vệ NLTS trong đầm; nghiên cứu, xác định mùa vụ sinh sản của các loài thủy sản, từ đó hạn chế khai thác vào mùa vụ sinh đẻ; khôi phục rừng ngập mặn
Năm 2011, Lê Tiến Dũng [23,24] đã công bố công trình “Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận” Bằng
phương pháp điều tra và khảo sát, tác giả đã mô tả khá đầy đủ về tình hình hoạt động KTTS và bảo vệ NLTS tại đầm Nại Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp
khai thác và bảo vệ NLTS như: Sử dụng đúng quy định về kích thước mắt lưới đối với
nghề lưới đáy; giải pháp tuyên truyền, vận động ngư dân làm việc theo pháp luật, nhất
Trang 37là các quy định của ngành thủy sản; quy hoạch và phân vùng khai thác cho các nghề, hạn chế sự xung đột, v.v
Nhận xét:
- Các công trình nghiên cứu đã xác định được đầm Nại là bãi đẻ của một số loài thủy sản bao gồm: Nhóm giáp xác, nhóm cá và sò Mặc dù đã xác định được bãi đẻ của nhiều loài thủy sản, nhưng chưa có giải pháp khả thi trong việc quản lý, bảo vệ cá
bố mẹ và cá non, đặc biệt là vào thời kỳ sinh sản
- Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn 2002 ÷ 2014 đã đánh giá cơ bản về tình trạng NLTS tại đầm Nại Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, NLTS liên tục giảm sút, kích thước các đối tượng khai thác bắt gặp nhỏ và có xu hướng giảm dần
- Các công trình nghiên cứu bước đầu đã đề xuất được các giải pháp quản lý khai thác, bảo vệ và phục hồi NLTS tại đầm Nại Trong đó, tập trung vào các giải pháp như triển khai thực thi các quy định về kích thước mắt lưới, kích thước cá; tuyên truyền nâng cao nhận thức của ngư dân; quy hoạch và phân vùng chức năng phục vụ quản lý; xác định mùa vụ sinh sản và quản lý hoạt động khai thác theo không gian và thời gian; khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn
- Các giải pháp được đề xuất trên cơ sở phân tích hiện trạng mà chưa tính toán và chỉ rõ nên sử dụng nghề gì, số lượng tàu và ngư cụ như thế nào là phù hợp với tình trạng nguồn lợi hiện có, đồng thời chưa triển khai thử nghiệm mô hình tại vùng nước nghiên cứu nên kết quả chưa đạt được như mong muốn
1.3 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Về phương pháp nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp, phân tích và đánh giá dữ liệu đã được công bố từ các báo cáo, công trình nghiên cứu, cũng như số liệu của các cơ quan quản lý nghề cá
- Phương pháp phi thực nghiệm: Tổ chức điều tra, phỏng vấn hộ gia đình tham gia khai thác theo phiếu đã được thiết kế, phân tích đánh giá dựa vào các chỉ số, mô hình nhằm kiểm nghiệm các giả thuyết, luận điểm nghiên cứu trong thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia, phỏng vấn hồi cố và điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng: Phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, biến động
Trang 38nguồn lợi tự nhiên, v.v làm cơ sở đề xuất các giải pháp khai thác, xây dựng mô hình quản lý phù hợp
- Kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu và phi thực nghiệm: Xây dựng các luận điểm và tìm ra các luận cứ có tính xác thực đã được công nhận, kiểm chứng và chứng minh các giả thuyết khoa học đã đưa ra
- Sử dụng phương pháp toán thống kê và mô hình tính toán: Xác định các chỉ số nghiên cứu, ước lượng các tham số và giá trị phục vụ đánh giá, nội suy xu thế nghề cá
- Các phương pháp thực nghiệm: Thu thập thông tin, dữ liệu phục vụ phân tích, đánh giá và kiểm định các giả thuyết
1.3.2 Về nội dung nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên đã tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản như sau:
- Nghiên cứu xây dựng lý thuyết khai thác hợp lý NLTS và phương pháp tính toán nhằm xác định các chỉ số hoạt động đánh bắt thủy sản (như MSY, fMSY, L50, SR
và SF) làm cơ sở điều chỉnh, quản lý và tổ chức hoạt động KTTS
- Nghiên cứu xác định cường lực và sản lượng đánh bắt bền vững làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý hoạt động KTTS, điều chỉnh cường lực và cơ cấu nghề, chuyển đổi nghề nghiệp, phân vùng khai thác nhằm khai thác hợp lý NLTS
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng khai thác, bảo vệ NLTS, các hoạt động tác động tiêu cực đến môi trường và NLTS và đặc điểm kinh tế - xã hội làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi môi sinh và NLTS, xây dựng mô hình quản lý và mô hình chuyển đổi nghề thí điểm phù hợp
- Nghiên cứu xác định khả năng chọn lọc của ngư cụ và thiết bị lọc cá non làm cơ
sở đề xuất giải pháp sử dụng ngư cụ hợp lý khai thác NLTS
1.3.3 Về kết quả nghiên cứu
- Việc nghiên cứu xây dựng mô hình Schaefer và Fox đã góp phần đáng kể vào công tác quản lý và khai thác hợp lý NLTS Đặc điểm của các mô hình này là đơn giản, yêu cầu ít số liệu nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy khi dự báo đàn cá khai thác và phù hợp với nghề cá nước ta (đa nghề và đa loài) Hai mô hình này được sử dụng khi
có các số liệu về tổng sản lượng đàn cá, năng suất khai thác và cường lực đánh bắt của nhiều năm Sử dụng các mô hình Schaefer và Fox sẽ giúp các nhà khoa học và quản lý
Trang 39- Các nhà khoa học đã ứng dụng các mô hình tính toán khác nhau để xác định sản lượng và cường lực khai thác hợp lý cho nghề cá đa loài và đa ngư cụ Tùy theo đặc điểm nghề cá của mỗi nước mà áp dụng mô hình kinh tế sinh học cùng với những điều kiện áp dụng khác nhau Trong đó, có nhiều nghiên cứu đã sử dụng hai mô hình Schaefer và Fox để tính sản lượng và cường lực khai thác BVTĐ cho nghề cá đa loài
- Các nghiên cứu trong nước cũng đã ứng dụng Schaefer và Fox để xác định cường lực, sản lượng khai thác BVTĐ cho các vùng biển khác nhau và bước đầu cho thấy xu thế biến động về nguồn lợi, tình trạng khai thác quá mức đang diễn ra ở nhiều thủy vực Cả hai mô hình đều cho kết quả gần giống nhau Do đó, để thuận tiện khi tính toán, NCS sẽ sử dụng mô hình Schaefer để tính cường lực và sản lượng khai thác BVTĐ Mô hình Schaefer đã được áp dụng thành công để tính toán cường lực và sản lượng BVTĐ ở Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc, vùng biển ven bờ của Việt Nam và vùng biển vịnh Vân Phong của tỉnh Khánh Hòa
- Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu giải pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ cá chưa trưởng thành, đặc biệt là các loại nghề đánh bắt đa đối tượng như lưới kéo và lưới đáy Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã tư vấn, xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật (kích thước và dạng mắt lưới) nhằm khai thác hợp lý NLTS
- Các công trình trong nước về bảo vệ và phát triển NLTS đã phân tích, đánh giá
về đặc điểm và nguồn lợi tự nhiên tại các khu vực nghiên cứu, từ đó xác định các khu vực cấm hoặc hạn chế đánh bắt, thời gian cấm hoặc hạn chế khai thác tại bãi đẻ và ương nuôi Trên cơ sở đó, đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị với các cơ quan chức năng luật hóa công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi
1.3.4 Về hạn chế của các công trình nghiên cứu
- Các công trình được thực hiện trong thời gian ngắn, sử dụng nguồn số liệu thứ cấp nên kết quả chưa thể hiện đầy đủ tình hình hoạt động nghề cá tại địa phương, khu vực nghiên cứu
- Các công trình nghiên cứu hoạt động khai thác và bảo vệ NLTS được thực hiện trong thời gian ngắn, không có các phân tích chuyên sâu nên cơ sở khoa học chưa đầy
đủ Bên cạnh đó, các công trình này còn một số tồn tại và cần giải quyết như sau: + Chưa xác định được trữ lượng nguồn lợi và khả năng cho phép khai thác theo các nhóm đối tượng
+ Chưa đánh giá tác động của cơ cấu nghề khai thác, loại ngư cụ và phương thức
sử dụng, cường lực khai thác, sản lượng đánh bắt hàng năm phù hợp với tình trạng
Trang 40- Trong thực tế, hoạt động khai thác tại một ngư trường gồm có nhiều loại ngư cụ
và đánh bắt các đối tượng khác nhau, sử dụng tàu thuyền không giống nhau nên cường lực của mỗi đội tàu được quy đổi sang đơn vị tiêu chuẩn Một số nghiên cứu không quy đổi đội tàu khai thác về tàu tiêu chuẩn nên kết quả áp dụng mô hình Schaefer và Fox chưa đảm bảo độ chính xác Bên cạnh đó, quá trình chuẩn hóa cường lực sẽ giúp tính toán được sản lượng khai thác BVTĐ ứng với đội tàu chuẩn mà chưa tính theo đội tàu thực Điều này gây nhiều khó khăn cho quá trình xây dựng kế hoạch điều chỉnh cơ cấu đội tàu phù hợp với tình trạng nguồn lợi
1.3.5 Những điểm kế thừa cho đề tài luận án
1.3.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận án, NCS sẽ kế thừa các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng để tổng hợp, phân tích và đánh giá
dữ liệu đã được công bố từ các báo cáo, bài báo khoa học và công trình nghiên cứu Từ
đó, phân tích, đánh giá và lựa chọn hướng tiếp cận, nội dung và phương pháp nghiên cứu phù hợp với mục tiêu đề tài
- Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm: Sử dụng để điều tra, phỏng vấn theo phiếu, tổ chức thực hiện mô hình, kiểm nghiệm các giả thuyết, luận điểm nghiên cứu trong thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia, phỏng vấn hồi cố, điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng: Sử dụng để phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, hoạt động khai thác, biến động sản lượng và nguồn lợi tự nhiên làm cơ sở đề xuất giải pháp khai thác hợp lý NLTS
- Phương pháp thống kê, mô hình tính toán trong đó có mô hình Schaefer được