1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN cứu mô HÌNH xác ĐỊNH SAI LỆCH TRÊN báo cáo tài CHÍNH của các CÔNG TY THUỘC NGÀNH bất ĐỘNG sản NIÊM yết TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

73 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 859,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH SAI LỆCH TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN

NGHIÊN CỨU

MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH SAI LỆCH

TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN

NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện TRẦN NGỌC SƠN MSSV: 13D340301055 LỚP: ĐH Kế toán 8A

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN –TÀI CHÍNH –NGÂN HÀNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN

NGHIÊN CỨU

MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH SAI LỆCH

TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN

NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn

Ths Nguyễn Minh Nhật

Sinh viên thực hiện TRẦN NGỌC SƠN MSSV: 13D340301055 LỚP: ĐH Kế toán 8A

Cần Thơ, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trải qua hơn 3 năm học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Tây Đô, nhờ sự giảng dạy, chỉ bảo nhiệt tình của quý thầy cô, em đã được trang bị những kiến thức cơ bản nhất về chuyên ngành kế toán Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi

về cách thức, phương pháp nghiên cứu khóa luận chuyên ngành kế toán em cũng không tránh khỏi những lúng túng cũng như sai sót về đề tài mà mình nghiên cứu Trên cơ sở đó, em rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý thầy

cô khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng nói riêng và quý thầy cô trường Đại học Tây Đô nói chung để em có thể hoàn thiện và báo cáo thành công khóa luận tốt nghiệp của mình Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sâu sát của thầy Nguyễn Minh Nhật đã giúp đỡ em nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này Kính chúc quý thầy cô khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng trường Đại Học Tây Đô luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp giảng dạy

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2017

Sinh viên thực hiện

Trần Ngọc Sơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết bài nghiên cứu này đƣợc hoàn thành dựa trên các số liệu có thật, và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ khóa luận cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2017

Sinh viên thực hiện

Trần Ngọc Sơn

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Báo cáo tài chính là những báo cáo hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Nói cách khác báo cáo tài chính là công cụ để các công ty công bố tình hình sản xuất kinh doanh với những đối tượng quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng) Bởi vậy báo cáo tài chính cẩn đảm bảo tính minh bạch, phản ánh đúng thực trạng doanh nghiệp

Sai phạm báo cáo tài chính là yếu tố quan trọng nhằm xác minh tính trung thực của các thông tin kế toán và hoạt động tài chính Như vậy, trước khi sử dụng, báo cáo tài chính cần được xác định có sai phạm hay không Trường hợp

có sai sai phạm sẽ làm ảnh hưởng đến tất cả những chủ thể sử dụng báo cáo đó Các chủ thể bao gồm bản thân doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan

Gian lận nói chung và gian lận trên báo cáo tài chính nói riêng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội và ngày càng biểu hiện tinh vi, là hành vi không thể triệt tiêu Gian lận có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của xả hội Tại Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới, nguy cơ xuất hiện gian lận trên báo cáo tài chính doanh nghiệp ở rất cao

Bài viết thực hiện tìm hiểu bản chất của gian lận trong Báo cáo tài chính, đồng thời đưa ra một số dẫn chứng Báo cáo kiểm toán của các công ty thuộc ngành Bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán để minh hoạ về khả năng xảy ra gian lận trong Báo cáo tài chính Kết thúc bài viết, tác giả tổng hợp

về những khả năng xảy ra gian lận trên Báo cáo tài chính và đưa ra một số khuyến nghị để gia tăng sự minh bạch hoá thông tin kế toán tài chính, cũng như những chú ý cho nhà đầu tư khi đầu tư vốn vào các công ty này

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2017

Giảng viên hướng dẫn

Nguyễn Minh Nhật

Trang 7

MỤC LỤC

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 3

1.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 3

1.4 Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4.2.1 Phạm vi về thời gian 4

1.4.2.2 Phạm vi về không gian 4

1.5 Cấu trúc khóa luận 4

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở lý luận về sai phạm trong BCTC 5

2.1.1 Định nghĩa về BCTC và sai phạm, gian lận trong BCTC 5

2.1.2 Động cơ gây gian lận trên BCTC 6

2.1.2.1 Sự ổn định tài chính hay khả năng sinh lời bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, ngành nghề kinh doanh hay điều kiện hoạt động của đơn vị 6

2.1.2.2 Áp lực cao đối với Nhà quản lý nhằm đáp ứng các yêu cầu hoặc kỳ vọng của các bên thứ ba 7

2.1.2.3 Động cơ liên quan đến hợp đồng nhân sự 8

2.1.3 Những thủ thuật gian lận trong BCTC 9

Trang 8

2.1.3.1 Ghi nhận sai thời kỳ về các khoản mục doanh thu, chi phí 9

2.1.3.2 Ghi nhận doanh thu ảo 10

2.1.3.3 Che giấu nợ 11

2.1.3.4 Công bố thông tin trong báo cáo tài chính không đúng 11

2.1.3.5 Xác định giá tài sản, chi phí không đúng 12

2.1.4 Trách nhiệm ngăn ngừa gian lận trong BCTC 12

2.1.4.1 Trách nhiệm của Ban Giám đốc 12

2.1.4.2 Trách nhiệm của kiểm toán viên 13

2.1.5 Các nghiên cứu về nhận diện gian lận trong BCTC 13

2.1.5.1 Nghiên cứu trong nước 13

2.1.5.2 Nghiên cứu nước ngoài 16

2.2 Dữ liệu và phương pháp thu thập số liệu ngành bất động sản 22

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.2.2 Mô tả dữ liệu 23

2.3 Phương pháp nghiên cứu sai phạm BCTC ngành Bất động sản 27

2.3.1 Khung nghiên cứu 27

2.3.1.1 Mô hình M-score của Beneish (1999) 27

2.3.1.2 Mô hình dồn tích của Friedlan (1994) 28

2.3.1.3 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và khả năng gian lận báo cáo tài chính của Rhee và các cộng sự (2003) 29

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 29

Chương 3 GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM 32

3.1 Thực trạng về thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2016 32

3.2 Thực trạng về chênh lệch thông tin trên BCTC trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán 36

Trang 9

3.2.1 Thực trạng trong nước 36

3.2.2 Thực trạng ở nước ngoài 39

3.3 Tổng quan về thị trường bất động sản tại Việt Nam 40

3.3.1 Khái niệm về bất động sản 40

3.3.2 Khái quát về thị trường bất động sản tại Việt Nam 41

3.3.3 Hướng đi cho thị trường Bất động sản tại Việt Nam 42

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

4.1 Kết quả nghiên cứu 44

4.1.1 Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình 44

4.1.2 Kết quả mô hình 46

4.1.2.1 Kết quả bước 1: Lựa chọn những biến có ý nghĩa trong mô hình 46 4.1.2.2 Kết quả bước 2: Xây dựng mô hình M-score phù hợp với dữ liệu ngành Bất động sản 2013 – 2015 48

4.1.2.3 Kết quả bước 3: Ước lượng ngưỡng giá trị phù hợp để phân loại các công ty sai phạm báo cáo tài chính đồng thời xác định tính chính xác của mô hình qua dữ liệu ngành bất động sản năm 2016 48

4.2 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 53

Chương 5 KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 54

5.1 Khuyến nghị 54

5.1.1 Về phía doanh nghiệp 54

5.1.1.1 Nâng cao vai trò của Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát 54

5.1.1.2 Nâng cao vai trò của Kiểm toán độc lập 54

5.1.1.3 Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức của đội ngũ kế toán 55

5.1.2 Về phía Nhà nước 55

5.1.2.1 Tăng cường các biện pháp xử lý vi phạm 55

5.1.2.2 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trên thị trường chứng khoán 56

Trang 10

5.1.2.3 Hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam 56 5.1.3 Về phía nhà đầu tƣ 57 5.2 Kết luận 57

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BIỂU, BẢNG, HÌNH

Hình 2.1 Mô hình tam giác gian lận 16

Bảng 2.1 Kết quả nghiên cứu của ACFE 19

Bảng 2.2 Kết quả thống kê số liệu theo loại gian lận ACFE 19

Bảng 2.3 Mô tả các biến trong mô hình 24

Bảng 2.4 Bảng kiểm tra mức độ chính xác của mô hình 31

Bảng 3.1 Một số DN BĐS triển vọng theo số liệu về quỹ đất (11/2014) 41

Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập đưa vào mô hình 44

Bảng 4.2 Bảng ma trận hệ số tương quan của các biến trong mô hình 46

Bảng 4.3 Bảng thống kê kỳ vọng về dấu của các biến trong mô hình 46

Bảng 4.4 Bảng kết quả ước lượng mô hình (1) 47

Bảng 4.5 Bảng kết quả ước lượng mô hình (2) 48

Bảng 4.6 Ngưỡng M-socre tương ứng với mức xác suất dự báo 49

Bảng 4.7 Kết quả chạy mô hình qua dữ liệu ngành Bất động sản 2016 52

Bảng 4.8 Bảng tổng hợp các dự báo theo ngưỡng xác suất 52

Bảng 4.9 Bảng kết quả mức độ chính xác của mô hình 53

Trang 12

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính

BĐS Bất động sản HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh KSNB Kiểm soát nội bộ

KTV Kiểm toán viên

Trang 13

Mỹ Tuy nhiên sự tăng trưởng không ngừng đó lại đi kèm với gian lận Ban điều hành đã khai thác những khe hở kế toán, sử dụng các thể chế đặc thù và các báo cáo tài chính không trung thực để đẩy giá cổ phiếu, làm hài lòng các nhà đầu tư Phố Wall Thậm chí họ còn gây áp lực với công ty kiểm toán bỏ qua các vấn đề rủi ro ở Enron Khi mọi việc vỡ lở đã làm công ty phá sản, giá cổ phiếu đang từ mức đỉnh 90 USD năm 2000 rơi xuống xuống còn chưa tới 1 USD vào cuối tháng 11/2011, các nhà đầu tư mất trắng hàng tỷ USD và khoảng 20.000 nhân viên mất việc làm Vụ bê bối này cũng đánh động các nhà chức trách ban hành luật mới nhằm tăng cường tính chính xác BCTC Nhà quản lý cao cấp gồm cả Giám đốc điều hành (CEO) và Giám đốc tài chính (CFO) của những công ty này đều bị cho rằng đã tham gia vào việc chế biến số liệu đưa đến gian lận BCTC

Rõ ràng, việc phát hiện sai phạm trên BCTC nhằm đảm bảo tính trung thực của nó đã trở thành thách thức lớn đối với các nhà quản lý doanh nghiệp cũng như các bên có liên quan Do vậy, gian lận trong BCTC luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Chẳng hạn, năm 1996 Beasley đã tiến hành phân tích kinh nghiệm mối liên hệ giữa thành phần Ban Giám đốc và gian lận BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy số thành viên độc lập từ bên ngoài công ty trong Ban Giám đốc càng nhiều thì hành động gian lận BCTC càng giảm Nghiên cứu năm 2002 của Rezaee tập trung nhận diện nguyên nhân, hậu quả và phương pháp ngăn chặn hành vi gian lận BCTC của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán ở Mỹ Nghiên cứu đã trình bày các giải pháp nhằm phát hiện và phòng ngừa nhằm giảm thiểu hành động gian lận BCTC, bao gồm các giải pháp đến phân tích chức năng, vai trò của các bên có liên quan đến quy trình lập và công bố BCTC của công ty như Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát, Kiểm soát nội bộ, đội ngũ quản lý cấp cao,

Trang 14

trong BCTC đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam

Việc phát sinh gian lận trên BCTC ở những công ty có tầm vóc lớn đã làm phát sinh sự quan tâm ngày càng nhiều về tính trung thực, hợp lý của BCTC Nó cũng là thách thức lớn đối với người quản lý công ty cũng như đối với Kiểm toán viên trong việc phát hiện các sai phạm trên BCTC Do vậy, gian lận luôn là chủ

đề được nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nghề nghiệp khác nhau quan tâm

Ngoài những vi phạm của các công ty đại chúng có thể nhìn ra được, các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán cũng cho hay, những năm gần đây nền kinh

tế rất khó khăn Không ít doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán rơi vào hoàn cảnh doanh thu bán hàng giảm, hàng hóa chậm luân chuyển, trong khi lãi suất ngân hàng lại lên cao, chi phí đầu vào cao,… Khiến công ty không hoàn thành kế hoạch, thậm chí còn lỗ nặng Điều này dẫn đến việc một vài đơn vị có những gian lận để làm đẹp BCTC nhằm phục vụ các mục tiêu khác nhau Vì vậy, mặc dù các công ty kiểm toán đã thực hiện đủ các thủ tục và chuẩn mực, nhưng vẫn không thể phát hiện được hết các gian lận từ phía các doanh nghiệp

Bên cạnh đó, các quy định về lập BCTC hiện tại về các bên liên quan vẫn còn theo hướng liệt kê mà chưa chú trọng vào việc xây dựng nguyên tắc xác định đâu là các bên liên quan cũng như yêu cầu cụ thể về thuyết minh các giao dịch với các bên liên quan, tạo điều kiện cho các công ty né tránh hoặc không trình bày đầy đủ về các thông tin này, ảnh hưởng đến chất lượng của BCTC

Trong những năm gần đây, ngành Bất động sản tại Việt Nam đang có chiều hướng hồi phục và dần đi vào quỹ đạo Các dự án nhà ở, đất đai, kinh doanh,… đã và đang phát triển một cách chóng mặt để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Thị trường bất động sản là thị trường quan trọng trong nền kinh tế, có mối liên hệ mật thiết với các thị trường khác, như: thị trường vật liệu xây dựng, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ và đặc biệt là với thị trường tài chính, tiền tệ Theo phân tích đánh giá của các chuyên gia kinh tế, ở các nước phát triển nếu đầu tư vào lĩnh vực BĐS tăng lên 1 USD sẽ thúc đẩy các lĩnh vực khác của nền kinh tế phát triển 1,5 - 2 USD Vì thế, trong tương lai, ngành Bất động sản là ngành có tiềm năng, cần được quan tâm đầu tư phát triển

Để thu hút được nguồn đầu tư cho ngành này, tính minh bạch và trung thực của thông tin đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên hiện nay, cơ chế phát hiện và

xử lý sai sót trên BCTC của Việt Nam hiện chưa được hoàn thiện Vì vậy, vấn đề gian lận trên BCTC của ngành Bất động sản cần được quan tâm hơn nữa

Từ những phân tích về hậu quả của sai phạm báo cáo tài chính như trên, kết hợp với những thông tin về thị trường Bất động sản Việt Nam, cho thấy việc phát hiện sai phạm báo cáo tài chính ngành này là rất cần thiết

Trang 15

Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “Nghiên cứu mô hình xác định sai

lệch trên Báo cáo tài chính của các công ty thuộc ngành Bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được thực hiện để xác định các

nhân tố có thể giúp Kiểm toán viên, Ban Quản trị cũng như cơ quan quản lý Nhà nước nhận diện khả năng gian lận trong BCTC của các công ty niêm yết, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế và phòng ngừa tình trạng này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài này là nghiên cứu mô hình xác định sai lệch trên Báo cáo tài chính của các công ty thuộc ngành Bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao tính trung thực trong báo cáo tài chính của các công ty trên

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Mô tả thực trạng về sai lệch báo cáo tài chính các công ty ngành Bất động sản niêm yết trên hai sàn chứng khoán (HNX, HOSE) trong ba năm 2013 - 2015 Xây dựng mô hình dự đoán sai lệch BCTC phù hợp với ngành Bất động sản Việt Nam năm 2016 dựa trên những mô hình sẵn có và được chứng minh có hiệu quả cao trong việc đánh giá sai lệch BCTC

Đánh giá khả năng dự báo mô hình được xây dựng, đồng thời từ mô hình đưa ra những đề xuất hữu ích cho những đối tượng quan tâm về nhận diện sai lệch báo cáo tài chính trọng yếu

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập từ các mẫu BCTC trước và sau kiểm toán của 54 công

ty ngành Bất động sản niêm yết trên 02 sàn chứng khoán (HNX, HOSE) trong ba năm 2013 - 2015

1.3.2 Phương pháp xử lý số liệu (sẽ đề cập chi tiết ở chương 2)

Sử dụng phần mềm Eviews 6 để tiến hành thống kê mô tả dữ liệu (giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất,…) các biến thu thập được dựa trên số liệu thu thập từ các mẫu BCTC trước và sau kiểm toán của 54 công ty ngành Bất động sản niêm yết trên 02 sàn chứng khoán (HNX, HOSE) trong ba năm 2013 -

2015

Phương pháp định lượng sử dụng mô hình logistic ước lượng bằng phần mềm Eviews 6 Mô hình logistic với biến đầu ra là biến giả 0; 1 nhằm nhận dạng báo cáo tài chính có dấu hiệu sai lệch hay không Mô hình logistic này sử dụng

Trang 16

dữ liệu các mẫu báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của 54 công ty ngành Bất động sản niêm yết trên 02 sàn chứng khoán (HNX, HOSE) trong ba năm

2013 - 2015 Sau khi xây dựng được mô hình ước lượng, kiểm định tính chính xác của mô hình trên phần mềm Excel với số liệu từ báo cáo tài chính trước và

sau kiểm toán của các công ty thuộc ngành Bất động sản năm 2016

Khóa luận sử dụng mô hình Beneish để dự đoán khả năng sai sót trọng yếu

do gian lận báo cáo tài chính của các công ty thuộc ngành Bất động sản niêm yết trên 02 sàn chứng khoán (HNX, HOSE)

Nghiên cứu của Beneish (1999) đã xây dựng mô hình M-score (M viết tắt của “manipulation” - thao túng) để xác định để xác định các công ty có thực hiện thao túng thu nhập hay không

1.4 Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của bài viết là những sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính của 54 công ty ngành Bất động sản niêm yết trên 02 sàn chứng khoán (HNX, HOSE) trong ba năm 2013 – 2015

Mẫu số liệu nghiên cứu được chọn từ các Báo cáo tài chính (BCTC) trước

và sau kiểm toán của 54 công ty ngành Bất động sản niêm yết trên 02 sàn chứng khoán (HNX, HOSE)

1.5 Cấu trúc khóa luận

Chương 1: Mở đầu.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Giới thiệu về thị trường chứng khoán tổng quan về thị trường

Bất động sản tại Việt Nam

Chương 4: Kết quả và thảo luận về kết quả nghiên cứu

Chương 5: Khuyến nghị - Kết luận

Trang 17

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận về sai phạm trong BCTC

2.1.1 Định nghĩa về BCTC và sai phạm, gian lận trong BCTC

Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính Báo cáo tài chính của đơn vị

kế toán bao gồm: báo cáo tình hình tài chính; báo cáo kết quả hoạt động; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; thuyết minh báo cáo tài chính; báo cáo khác theo quy định của

pháp luật (Điều 29, Luật Kế toán số: 88/2015/QH13)

Theo từ điển tiếng Việt: gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt người khác

Theo nghĩa rộng: gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó Ba biểu hiện thường thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp

Theo Lý thuyết Kiểm toán (GS.TS Nguyễn Quang Quynh, TS Nguyễn Thị

Phương Hoa- NXB Tài chính): sai phạm là yếu tố mấu chốt trong việc xác minh

tính trung thực của thông tin kế toán và hoạt động tài chính Sai phạm bao gồm gian lận và sai sót “Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi” “Sai sót là lỗi không cố ý, thường được hiểu là sự nhầm lẫn

bỏ sót hoặc yếu kém về năng lực gây ra sai phạm”

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (BTC, 2012, mục I: Quy định

chung): “Sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm

lẫn Để phân biệt giữa gian lận và sai sót, cần xem xét hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý” Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 cũng định nghĩa: “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp”

Như vậy, gian lận và sai sót đều là hành vi sai phạm; trong lĩnh vực tài chính kế toán các hành vi này gây lệch lạc thông tin, phản ánh sai thực tế Tuy nhiên, hai hành vi này khác nhau về khía cạnh ý thức và mức độ “trong yếu” của sai phạm

Về mặt ý thức, sai sót là hành vi không có chủ ý, nguyên nhân của sai sót có thể là do năng lực hạn chế hoặc do sao nhãng, thiếu thận trong trong công việc; trong khi đó gian lận là hành vi có chủ ý cố ý gây ra sự sai khác để trục lợi Từ sự

Trang 18

khác nhau về ý thức nên gian lận được che giấu rất tinh vi và khó phát hiện, còn sai sót dễ phát hiện hơn

Một sự khác nhau nữa của gian lận và sai sót là mức độ trong yếu Theo

chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 320 (BTC, 2012, mục I: Quy định chung), thông

tin được coi là trọng yếu nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Nếu hành vi gian lận thì luôn được xem là nghiêm trọng, còn hành

vi sai sót mức độ trọng yếu được xem xét trên qui mô và tính chất của sai phạm Các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý Luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các sai sót cố ý trong báo cáo tài chính hay nói cách khác là

nghiên cứu các gian lận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp

2.1.2 Động cơ gây gian lận trên BCTC

2.1.2.1 Sự ổn định tài chính hay khả năng sinh lời bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, ngành nghề kinh doanh hay điều kiện hoạt động của đơn vị

Tình hình tài chính hay mức sinh lời không ổn định của doanh nghiệp vẫn luôn là nguyên nhân phổ biến nhất khiến doanh nghiệp phải thực hiện các thao túng trên báo cáo tài chính

Hoạt động tài chính là một trong những nội dung rất cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được biểu hiện dưới hình thái tiền

tệ Hay nói cách khác, tài chính của doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn liền với việc tổ chức, huy động, phân phối, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện sự tồn tại cũng như nổ lực của doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt động, là kết quả tất yếu của mọi mặt mà doanh nghiệp hoạt động Dựa vào đó, người sử dụng BCTC sẽ biết được tình trạng hay trạng thái cụ thể cũng như xu thế phát triển của doanh nghiệp về an ninh tài chính, mức độ độc lập tài chính, về chính sách huy động sử dụng vốn, về tình hình và khả năng thanh toán Đồng thời cũng qua xem xét tình hình tài chính

ở thời điểm hiện tại, nhà đầu tư có thể dự báo được những chỉ tiêu tài chính trong tương lai, dự báo được những thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp sắp đương đầu nhằm giảm thiểu tối đa tỷ xuất rủi ro trong đầu tư cho bản thân mình

Đối với doanh nghiệp mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ảnh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh nghiệp Để nhận

Trang 19

thức đúng đắn về lợi nhuận thì không phải chỉ quan tâm đến tổng mức lợi nhuận

mà cần phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài sản, nguồn lực kinh tế tài chính mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong từng phạm

vi, trách nhiệm cụ thể (mức sinh lời)

Chính vì những lý do trên, sự ổn định về tình hình tài chính hay khả năng sinh lời của doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định của nhà đầu tư Những nhà đầu tư sẽ xem xét các số liệu mà doanh nghiệp công bố trên BCTC và

áp dụng các công thức tính toán để quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không Đồng thời, vì một số lý do chủ quan hoặc khách quan mà sự ổn định

về tính hình tài chính hay khả năng sinh lời của doanh nghiệp bị ảnh hưởng không tốt bởi tình hình kinh tế, ngành nghề kinh doanh hay điều kiện hoạt động của đơn vị,… dẫn đến doanh nghiệp có động cơ gian lận trên BCTC nhằm qua mắt nhà đầu tư, thu hút nhà đầu tư góp vốn vào công ty mình

2.1.2.2 Áp lực cao đối với Nhà quản lý nhằm đáp ứng các yêu cầu hoặc

kỳ vọng của các bên thứ ba

Có nhiều lý do khiến các bản báo cáo tài chính không minh bạch và một trong số đó là cổ phiếu bị đánh giá quá cao (overvaluation) Giá cổ phiếu cao đồng nghĩa với kỳ vọng cao của nhà đầu tư về khả năng sinh lợi của công ty, từ

đó gây sức ép lên các nhà lãnh đạo buộc phải tạo ra mức lợi nhuận tương ứng nếu không muốn nhận phản ứng tiêu cực từ thị trường Mặt khác, các nhà lãnh đạo cũng nắm giữ một số lượng lớn cổ phiếu, nên bản thân họ không muốn giá cổ phiếu bị sụt giảm Những lý do này khiến các nhà quản lý khó có lựa chọn nào khác hơn là tìm những thủ thuật thao túng BCTC Bên cạnh đó, Ban Giám đốc có điều kiện thực hiện hành vi gian lận vì họ có khả năng làm sai lệch sổ kế toán và lập báo cáo tài chính gian lận bằng cách khống chế kiểm soát mà dường như đang hoạt động tốt Mặc dù mức độ rủi ro xảy ra việc Ban Giám đốc khống chế kiểm soát ở mỗi đơn vị là khác nhau , nhưng rủi ro này có thể tồn tại trong tất cả các đơn vị Do việc khống chế kiểm soát xảy ra không thể đoán trước được nên đây là loại rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và là rủi ro đáng kể

Sai sót cố ý có thể xuất phát từ chủ định của Ban Giám đốc nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm người sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán Việc điều chỉnh kết quả kinh doanh có thể bắt đầu từ những hành vi nhỏ hoặc những điều chỉnh không thích hợp đối với các giả định và thay đổi các xét đoán của Ban Giám đốc

Áp lực và động cơ dẫn đến các hành vi nêu trên có thể tăng thêm mức độ ảnh hưởng và dẫn đến việc lập báo cáo tài chính gian lận Đó là khi do áp lực phải đạt được các mục tiêu về thị trường hoặc mong muốn tối đa hóa tiền lương và

Trang 20

thưởng dựa trên hiệu quả hoạt động, Ban Giám đốc cố ý tìm mọi cách lập báo cáo tài chính gian lận bằng cách tạo ra sai sót trọng yếu đối với báo cáo tài chính Trong một số đơn vị, Ban Giám đốc có thể tìm cách báo cáo giảm lợi nhuận

nhằm làm giảm số thuế phải nộp (ví dụ: thuế suất thuế TNDN thay đổi từ mức

25% năm 2013 xuống còn 22% năm 2014 và 20% năm 2017, điều này càng làm cho các Nhà quản lý thúc đẩy hành vi gian lận BCTC nhằm điều chỉnh lợi nhuận

để tiết kiệm chi phí thuế TNDN; Giả sử thu nhập chịu thuế của năm 2013 là 1.000.000 thì thuế TNDN phải nộp là 25% x 1.000.000 = 250.000, khi Doanh nghiệp điều chỉnh thu nhập chịu thuế của năm 2013 xuống còn 800.000 thì thuế TNDN phải nộp là 25% x 800.000 = 200.000, như vậy thuế TNDN phải nộp giảm 50.000 tức là 25% x 200.000 = 50.000 và số thu nhập điều chỉnh giảm năm 2013

là 200.000 sẽ được dịch chuyển sang năm 2014 phần thu nhập được điều chỉnh này sẽ chịu thuế suất TNDN 22% Do đó thuế TNDN phải nộp trên phần thu nhập chịu thuế được điều chỉnh của năm 2013 chuyển qua là 22% x 200.000 = 44.000 Như vậy Doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được 6.000 chi phí thuế TNDN phải nộp Hay nói cách khác, Doanh nghiệp sẽ kiếm được 3% trên số thu nhập chịu thuế được điều chỉnh) hoặc báo cáo tăng lợi nhuận để việc vay vốn ngân hàng

được thực hiện dễ dàng hơn Ngoài ra, rủi ro về việc kiểm toán viên không phát hiện hết sai sót trọng yếu xuất phát từ hành vi gian lận của Ban Giám đốc là cao hơn so với việc phát hiện sai sót do gian lận của nhân viên, bởi vì Ban Giám đốc thường xuyên có điều kiện trực tiếp hoặc gián tiếp thao túng việc ghi sổ kế toán, trình bày các thông tin tài chính gian lận hoặc khống chế các thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm ngăn ngừa các hành vi gian lận tương tự của các nhân viên khác

Đối với một số hợp đồng đi vay, khi chủ nợ cho rằng doanh nghiệp đang làm ăn không có lãi, gặp rủi ro mất khả năng thanh toán nợ, chủ nợ có thể yêu cầu tăng lãi suất các khoản nợ hoặc yêu cầu thanh toán khoản nợ ngay lập tức Bởi vậy, doanh nghiệp có động cơ điều chỉnh lợi nhuận để tránh các rắc rối liên quan đến hợp đồng đi vay Hệ quả là, các nhà quản trị sử dụng thủ thuật để tăng lợi nhuận

Chính vì thế, nếu công ty muốn nhận được vốn đầu tư từ các bên thứ ba thì nhất thiết công ty đó phải có BCTC hợp lý và thể hiện sức khỏe tài chính tốt của công ty Bởi thế, dù muốn hay không muốn nhà quản lý vẫn luôn có xu hướng tiến hành thao túng báo cáo tài chính để nhận được sự ủng hộ từ các bên thứ ba

2.1.2.3 Động cơ liên quan đến hợp đồng nhân sự

Nhà quản trị doanh nghiệp đương nhiệm có khả năng đối mặt với nguy cơ

bị sa thải nếu công ty làm ăn thua lỗ, bởi vậy anh ta có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận để tránh việc bị sa thải Mặt khác, khi đã có sự thay đổi nhà quản trị

Trang 21

diễn ra, nhà quản trị mới sẽ cố gắng dịch chuyển lợi nhuận từ thời điểm anh ta được chuyển giao để thể hiện năng lực lãnh đạo, khả năng chuyên môn

Thực tế các doanh nghiệp có chế độ trả lương thưởng cho nhà quản trị nói riêng và ban điều hành nói chung bằng tỷ lệ nhất định nhân với lợi nhuận kế toán

Vì tỷ lệ này là không đổi, nên muốn tăng mức lương thưởng nhận được buộc nhà quản trị phải tăng lợi nhuận Hay một cách trả lương thưởng khác thường được

áp dụng: nếu doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối thiểu X đồng thì nhà quản trị được Y đồng tiền lương thưởng Như vậy để đạt được mục đích thù lao, nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận về X đồng, phần dư thừa có thể chuyển sang năm sau

2.1.3 Những thủ thuật gian lận trong BCTC

Có hai xu hướng người quản lý gian lận BCTC, các nhà quản trị sử dụng hai xu hướng gian lận này tùy thuộc vào tình hình công ty

- Xu hướng 1: phóng đại doanh thu và tài sản đồng thời làm giảm chi phí và

nợ phải trả trên báo cáo tài chính Mục đích của việc này nhằm thu hút huy động vốn đầu tư từ bên thứ 3 vào doanh nghiệp, tạo sự an tâm cho nhà đầu tư khi đầu

tư vào doanh nghiệp

- Xu hướng 2: cố ý nói giảm doanh thu và tài sản và phóng đại chi phí và các khoản nợ Mục đích chính của việc này nhằm qua mắt cơ quan thuế, hạn chế tối đa số tiền thuế phải nộp cho Nhà nước

Bonner và các cộng sự (1998) cũng có nghiên cứu về cách thức gian lận báo cáo tài chính Trong nghiên cứu này, nhóm chỉ ra rằng có ba loại phổ biến nhất của gian lận bao gồm cả ghi nhận doanh thu không có thật, ghi nhận doanh thu quá sớm hoặc ghi sai giá trị tài sản hoặc ghi giảm chi phí/nợ Ngoài ra, một cách gian lận phổ biến nữa là bán hàng không có thực, dự phòng tổn thất nhỏ hơn chi phí nợ xấu, công bố thông tin hạng mục tài chính không chính xác và bỏ qua các hoặc thay đổi nguyên tắc kế toán

2.1.3.1 Ghi nhận sai thời kỳ về các khoản mục doanh thu, chi phí

Gian lận trong BCTC có thể được thực hiện bởi kỹ thuật ghi nhận sai niên

độ Trong đó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận không đúng với thời kỳ mà nó phát sinh Doanh thu hoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập theo mong muốn

Ví dụ tại Việt Nam, trong mùa kiểm toán năm 2010, đơn vị kiểm toán có ý kiến ngoại trừ việc Công ty Cổ phần Địa ốc Đà Lạt (DLR) ghi nhận 31,15 tỷ đồng doanh thu với giá vốn 27,98 tỷ đồng từ Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà Lạt Theo ký kết, công ty sẽ bàn giao từng phần hạng mục công ty của dự án sau khi hoàn thành và đủ điều kiện để bố trí tái định

Trang 22

cư UBND sẽ thanh toán cho công ty khi quyết toán dự án và đã được cơ quan độc lập kiểm toán Tuy nhiên, tại Báo cáo tài chính năm 2010, công ty đã ước tính và ghi nhận doanh thu, giá vốn như trên theo số liệu hoàn thành giữa công ty

và đội thi công của công ty trong khi UBND tỉnh Lâm Đồng chưa có văn bản chỉ định UBND thành phố Đà Lạt nghiệm thu Đơn vị kiểm toán cho biết, ngày 22/2/2011, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thống nhất giao cho UBND thành phố Đà Lạt là đơn vị tiếp nhận từng hạng mục công trình theo từng giai đoạn giá trị công trình hoàn thành để DLR ghi nhận doanh thu Qua đây cho thấy DRL đã ghi nhận doanh thu và giá vốn Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung

cư Yersin thành phố Đà Lạt sai niên độ, doanh thu và giá vốn này phải được ghi nhận ở niên độ năm 2011, nhưng đã được doanh nghiệp ghi nhận vào năm 2010

2.1.3.2 Ghi nhận doanh thu ảo

Doanh thu ảo được tạo ra thông qua việc ghi nhận doanh thu nhưng thực tế doanh thu không bao giờ phát sinh Doanh thu được ghi nhận này có thể liên quan đến các khách hàng có trong thực tế hoặc những khách hàng không có thực Kết quả là làm tăng doanh thu, lợi nhuận và tài sản

Cụ thể là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hoá hay cung cấp dịch vụ không có thực Kỹ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo thông qua lập chứng từ giả mạo nhưng hàng hóa không được giao và đầu niên độ sau sẽ lập bút toán hàng bán bị trả lại Ghi nhận doanh thu ảo còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán… hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, chưa chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá, dịch vụ được bán

Ví dụ tại Việt Nam, công ty Cổ phần Kinh doanh Khí hóa lỏng Miền Bắc (PVG) công bố Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán năm 2010 Lợi nhuận ròng trên báo cáo hợp nhất sau kiểm toán của PVG đạt 35,83 tỷ đồng, giảm 1,2 tỷ đồng so với báo cáo trước kiểm toán Đáng chú ý là đơn vị kiểm toán có ý kiến loại trừ việc ghi nhận cổ tức từ lợi nhuận năm 2010 của Công ty cổ phần Phân phối khí thấp áp (PGD), PVG tạm ghi nhận khoản cổ tức 9,28 tỷ đồng của PGD vào doanh thu hoạt động tài chính năm 2010 Tại ngày 31/12/2010, việc phân phối cổ tức nói trên chưa được đại hội cổ đông của PGD phê duyệt Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) -Doanh thu và thu nhập khác, cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông có quyền nhận cổ tức Nếu công

ty áp dụng VAS 14, doanh thu từ hoạt động tài chính và lợi nhuận trước thuế cho năm 2010 sẽ giảm một khoản tương ứng là 9,28 tỷ đồng

Ngoài ra, vụ bê bối của công ty bảo hiểm Equity Funding ở Mỹ liên quan đến ghi nhận doanh thu ảo để thổi phồng doanh thu và khoản phải thu khách hàng Để tạo doanh thu ảo, CEO của công ty đã tạo ra những hợp đồng bảo hiểm

Trang 23

giả Bảy năm sau (năm 1973), gian lận này được phát hiện bởi các nhân viên bất mãn Tại thời điểm đó, giá trị khoản phải thu khách hàng giả là 2 tỷ đô la (trong

số 3 tỷ đô là phải thu khách hàng)

2.1.3.3 Che giấu nợ

Che giấu công nợ đưa đến giảm chi phí là một trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên BCTC nhằm mục đích khai khống lợi nhuận Khi đó, lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay công nợ bị che giấu Đây là phương pháp dễ thực hiện và khó bị phát hiện vì thường không để lại dấu vết Có

ba phương pháp chính thực hiện giấu chi phí: Không ghi nhận công nợ và chi phí, đặc biệt không lập đầy đủ các khoản dự phòng; Vốn hoá chi phí; Không ghi nhận hàng bán trả lại – các khoản giảm trừ và không trích trước chi phí bảo hành

Ví dụ tại Việt Nam, Công ty cổ phần Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) mở màn cho hoang mang của nhiều nhà đầu tư với việc công bố lợi nhuận ròng sau kiểm toán giảm gần 30% So với kết quả trước kiểm toán, chi phí tài chính của TLH tăng thêm 30,3 tỷ đồng do phải trích thêm dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán dẫn đến lợi nhuận trước thuế giảm một lượng tương ứng Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ban đầu là 27,74 tỷ đồng đã tăng lên thành hơn 58 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ đạt 55,97 tỷ đồng, giảm 22,8 tỷ (-29%) so với kết quả ban đầu là 78,8 tỷ đồng

Báo cáo tài chính năm 2010 của Công ty cổ phần Basa có mã chứng khoán BAS, công ty đã vốn hóa chi phí đi vay số tiền 1,04 tỷ đồng vào giá trị công trình xây dựng cơ bản, trong khi công trình này đã ngừng xây dựng trong năm 2010 Nếu áp dụng đúng như VAS 16, thì chi phí đi vay này phải tạm ngừng vốn hóa

và tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ Nếu thực hiện đúng như VAS 16, công

ty sẽ gia tăng thêm khoản lỗ với số tiền tương ứng 1,04 tỷ đồng

2.1.3.4 Công bố thông tin trong báo cáo tài chính không đúng

Một trong những nguyên tắc của gian lận là luôn luôn che dấu gian lận Các doanh nghiệp có gian lận luôn tìm cách che dấu vi phạm trong sổ kế toán Một hình thức che dấu khác là che dấu thông tin công bố trong báo cáo tài chính Bỏ sót công bố thông tin về nợ, các sự kiện quan trọng, giao dịch các bên có liên quan, giao dịch nội bộ, có thể là cách thức che dấu gian lận Công bố thông tin không thích hợp, không đầy đủ có thể là cách để che dấu bằng chứng gian lận Việc không khai báo đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng BCTC

Ví dụ tại Việt Nam, trong báo cáo kiểm toán về BCTC của Công ty Cổ phần Container Phía Nam (VSG), kiểm toán viên lưu ý người sử dụng đến khoản

lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện do đánh giá lại số dư có gốc ngoại tệ cuối

Trang 24

năm của khoản vay dài hạn với số tiền 33,16 tỷ đồng đang được ghi nhận trên chỉ tiêu “chênh lệch tỷ giá hối đoái” Điều này giúp cho người sử dụng hiểu được, việc áp dụng TT 201/2009/TT-BTC giúp cho công ty giảm lỗ 33,16 tỷ đồng Nếu

áp dụng VAS 10 thì chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của công ty năm 2010 không phải con số lỗ 40,66 tỷ đồng mà là con số lỗ 73,82 tỷ đồng Qua

đó cho người sử dụng thấy một phần lợi nhuận được tạo ra (hoặc một phần giảm lỗ) là do sự thay đổi cách hạch toán mà có chứ không phải do bản thân hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tạo ra

2.1.3.5 Xác định giá tài sản, chi phí không đúng

Bằng việc nâng giá trị tài sản (thường là hàng tồn kho, phải thu và tài sản dài hạn), tăng vốn hoá chi phí, hoặc giảm chi phí (như chi phí dự phòng, khấu hao, ), doanh nghiệp có thể báo cáo lợi nhuận và vốn chủ sở hữu cao hơn thực

tế Một công ty có thể thổi phồng tài sản nhằm gia tăng lợi nhuận trong một kỳ; chẳng hạn ghi tăng tài sản và tăng vốn chủ sở hữu hoặc tăng doanh thu (thu nhập) tạo ra một khoản lợi nhuận phù phép

2.1.4 Trách nhiệm ngăn ngừa gian lận trong BCTC

Có ba cách thông thường nhất để đối phó với gian lận: ngăn ngừa, phát hiện

và trừng phạt Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của người quản lý đơn vị thông qua việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội

bộ (KSNB) hữu hiệu Việc phát hiện các gian lận còn thuộc về trách nhiệm của kiểm toán viên

Theo đoạn 02 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA 240 - Gian lận và sai

sót): “Khi lập kế hoạch và thực hiện thủ tục kiểm toán, khi đánh giá và báo cáo

kết quả thực hiện thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải xem xét xem có các sai phạm do gian lận hoặc sai sót gây ra làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính không?”

2.1.4.1 Trách nhiệm của Ban Giám đốc

Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc công ty được kiểm toán Điều quan trọng là Ban giám đốc, với sự giám sát của hội đồng quản trị, phải đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa gian lận nhằm làm giảm bớt các cơ hội thực hiện hành vi gian lận

và phát hiện gian lận qua đó thuyết phục các cá nhân không thực hiện hành vi gian lận vì khả năng bị phát hiện và xử phạt Trách nhiệm này bao gồm việc cam kết tạo ra văn hóa trung thực và hành vi có đạo đức mà có thể được tăng cường bằng hoạt động giám sát tích cực của hội đồng quản trị

Trang 25

2.1.4.2 Trách nhiệm của kiểm toán viên

Khi thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, kiểm toán viên chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Do những hạn chế vốn có của kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi là kiểm toán viên không phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập

kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Đoạn A51

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200)

2.1.5 Các nghiên cứu về nhận diện gian lận trong BCTC

Gian lận xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Cùng với quá trình phát triển của xã hội, hành vi gian lận ngày càng tinh

vi hơn và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

Gian lận xuất hiện trong mọi nghề nghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển xả hội Chính vì vậy, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về gian lận đứng trên nhiều góc độ khác nhau nhằm giúp các nghề nghiệp có liên quan tìm được các biện pháp ngăn ngừa, phát hiện gian lận Nếu so sánh với thiệt hại to lớn của gian lận gây ra cho nền kinh tế thì kết quả của những công trình nghiên cứu về gian lận chỉ dừng lại ở một mức độ đóng góp rất khiêm tốn Tuy vậy, nó giúp ích rất nhiều cho các nghề nghiệp có liên quan có thể nhận diện và phát hiện gian lận, đặc biệt là nghề nghiệp kiểm toán Dưới đây là tóm tắt một số công trình nghiên cứu về gian lận ở Việt Nam và trên thế giới:

2.1.5.1 Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về nhận dạng sai phạm báo cáo tài chính cũng được chia thành nghiên cứu sử dụng mô hình dồn tích có điều chỉnh và nghiên cứu sử dụng kỹ thuật thống kê

- Nghiên cứu việc điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam của Nguyễn Thị Uyên Phương (2014)

Trong nghiên cứu tác giả áp dụng mô hình Friedlan (1994) đánh giá khả năng điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA Với mẫu là 75 công ty niêm yết, kết quả nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công ty cổ phần niêm yết có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận tăng trong kỳ báo cáo trước đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng nhằm mục tiêu thu hút nhà đầu tư

để đợt chào bán được thành công Cụ thể hơn, tác giả chỉ ra rằng các công ty có

Trang 26

quy mô càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng cao, nhằm đạt được mức

Nghiên cứu sử dụng mẫu 24 công ty cổ phần niêm yết ở Hose có phát hành thêm cổ phiếu trong năm 2013 thỏa mãn yêu cầu có báo cáo tài chính công bố 2 quý liên tiếp trước quý phát hành cổ phiếu

Áp dụng mô hình mô hình Jones, tác giả chỉ ra rằng các công ty niêm yết trên sàn Hose có thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trước khi phát hành thêm cổ phiếu Các công ty điều chỉnh lợi nhuận chia làm 2 nhóm: điều chỉnh tăng và điều chỉnh giảm, mức độ điều chỉnh nhìn chung khá lớn Nhóm điều chỉnh tăng lợi nhuận có mức điều chỉnh trung bình khoảng 18,19% tổng tài sản đầu quý; nhóm điều chỉnh giảm lợi nhuận có mức điều chỉnh trung bình khoảng 11,24% trên tổng tài sản đầu quý

Bên cạnh đó tác giả cũng nhận định: Việc điều chỉnh tăng lợi nhuận đã đem lại kết quả như mong đợi cho các công ty Đối với các công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận, việc 33 điều chỉnh đợt phát hành bổ sung cổ phiếu có tác động tích cực tới giá cổ phiếu Các công ty còn điều chỉnh giảm lợi nhuận có thể do những công ty này tồn tại nhiều mục tiêu khác nhau ngoài giá cổ phiếu

Tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thị Uyên Phương, nghiên cứu này được dựa trên những nghiên cứu trước đó và chưa có sự điều chỉnh phù hợp

- Các cách đo lường sự trung thực của các chỉ tiêu lợi nhuận - Phạm Thị Bích Vân (2013)

Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2013) đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo tài chính theo bốn cách T là sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận

Cách thức nhất: mô phỏng theo nghiên cứu của Leuz và các cộng sự (2003), tính tỷ lệ giữa độ lệch chuẩn của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh chia cho độ lệch chuẩn dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện

sự che giấu lợi nhuận càng cao

T = Độ lệch chuẩn thuần từ hoạt động kinh doanh

Độ lệch chuẩn dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

Trang 27

Cách thứ hai: đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận bằng cách tính toán tỷ lệ giữa tài sản hoạt động thuần chia cho doanh thu thuần, tỷ lệ này càng nhỏ thì độ trung thực càng cao (Barton và Simko- 2002)

T = Tài sản – Nợ phải trả – Tiền và tương đương tiền – Đầu tư ngắn hạn

Doanh thu thuần Cách thứ ba: đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận là tính toán tỷ số giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận sau thuế (Penman - 2001),

tỷ số này càng nhỏ thì độ trung thực của lợi nhuận càng cao

T = Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

Lợi nhuận sau thuế Cách thứ tư: của chính tác giả, sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận được tính bằng tỷ số giữa biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được (DA) chia cho lợi nhuận sau thuế Tỷ số này càng nhỏ thì độ trung thực của lợi nhuận càng cao

T = Giá trị biến kế toán dồn tích có điều chỉnh (DA)

Lợi nhuận sau thuế Kết quả của nghiên cứu với 111 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE trong giai đoạn 2009 - 2011, nếu 4 cách trên có kết quả đồng nhất,

có thể kết luận rằng có sai phạm Hạn chế của nghiên cứu này là không có sự so sánh giữa các mô hình và chưa xác định rõ % chính xác của các mô hình dự báo

- Nghiên cứu về sai sót báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam – Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014)

Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014) sử dụng mô hình Beneish để dự đoán khả năng sai sót trọng yếu do gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả của nghiên cứu đưa ra sau khi áp dụng mô hình Beneish tỷ lệ phát hiện gian lận là 63,33% trên mẫu 30 công ty được chọn Tác giả cũng nhận định mô hình M-score của Beneish có thể được sử dụng nhằm phát hiện sớm một số công ty có khả năng thực hiện các hành vi thao túng trên báo cáo tài chính tại thị trường Việt Nam

Hạn chế của mô hình chỉ dừng lại ở áp dụng trực tiếp mô hình gốc Beneish Tuy nhiên, đây là nghiên cứu sớm về sử dụng kỹ thuật thống kê, cụ thể là mô hình dự báo gian lận M-score, vậy nên đóng góp lớn nhất của nghiên cứu chính

là mở đường cho việc xây dựng M-score ở Việt Nam

- Phát hiện sai phạm báo cáo tài chính của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết - Hoàng Khánh, Trần Thị Thu Hiền (2015)

Ứng dụng các nghiên cứu của DeAngelo (1986), Friedlan (1994) và Beneish (1999), nhằm xây dựng mô hình nhận diện khả năng sai phạm BCTC

Trang 28

của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trong nghiên cứu tác giả sử dụng hai mô hình: mô hình gốc 8 biến của Beneish và mô hình 10 biến được pháp triển thêm hai biến dồn tích (DA) và biến quy mô doanh nghiệp Size Từ kết quả ước lượng hồi quy, tác giả kết luận về 2

mô hình hồi quy như sau:

Mt = 0,67872 – 0,669SGIt + 0,684AQIt – 0,477DEPIt + εt (1)

Mt = 0,84323 – 0,933SGIt + 0,748AQIt – 0,524DEPIt + 0,845DAt + εt (2)

Độ chính xác hai mô hình lần lượt là 63.41% và 68.29% tính theo kết quả kiểm toán độc lập

Với mô hình (2), sau khi thêm biến DA, ta cũng thấy được một kết quả cao hơn về dự đoán sai phạm báo cáo tài chính cao hơn kết quả của nghiên cứu gốc Beneish (1999)

2.1.5.2 Nghiên cứu nước ngoài

- Tam giác gian lận, Donald R Cressey

Công trình nghiên cứu của Donald R Cressey (1919-1987): Donald R Cressey là nhà nghiên cứu về tội phạm tại trường Đại học Indiana (Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20 Cressy đã chọn việc nghiên cứu về vấn đề tham ô, biển thủ làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình Cressey tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm kinh tế nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trên Ông đã đưa ra mô hình: Tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày về các nhân tố dẫn đến các hành vi gian lận mà ngày nay đã trở thành một trong những mô hình chính thống dùng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc nghiên cứu gian lận, trong đó có nghề nghiệp kiểm toán

Hình 2.1 Mô hình tam giác gian lận

Cơ hội

Trang 29

Theo ông, gian lận chỉ phát sinh khi hội đủ 3 nhân tố sau:

+ Áp lực: Gian lận thường phát sinh khi nhân viên, người quản lý hay tổ chức chịu áp lực Áp lực có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như: khó khăn về tài chính, sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa ngưởi chủ và người làm thuê,…

+ Cơ hội: Khi đã bị áp lực, nếu có cơ hội, họ sẵn sàng thực hiện hành vi gian lận Có hai yếu tố liên quan đến cơ hội là: nắm bắt thông tin và có kỹ năng thực hiện

+ Thái độ, cá tính: Không phải mọi người khi gặp khó khăn và có cơ hội cũng đều thực hiện gian lận mà phụ thuộc rất nhiều vào thái độ cá tính của từng

cá nhân Có những người dù chịu áp lực và có cơ hội thực hiện nhưng vẫn không thực hiện gian lận và ngược lại

Tâm lý thông thường của con người là: lần đầu tiên khi thực hiện gian lận, người phạm tội thường tự an ủi rằng, họ sẽ không để chuyện này lặp lại Nhưng nếu tiếp tục, người thực hiện sẽ không còn băn khoăn và mọi việc diễn ra dễ dàng hơn, dễ được chấp nhận hơn

Tam giác gian lận của Cressey được dùng để lý giải rất nhiều vụ gian lận Tuy nhiên, do đây không phải là một tiên đề nên không thể khẳng định rằng mô hình này đúng với mọi trường hợp

Tuy vậy, tam giác gian lận được áp dụng trong viêc nghiên cứu, đánh giá rủi ro có gian lận phát sinh trong nhiều nghề nghiệp trong đó có nghề nghiệp kiểm toán

- Công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ (The Association of Certified Fraud Examiners - ACFE)

Vào năm 1993, một tổ chức chuyên nghiên cứu về gian lận ra đời bên cạnh

Uỷ ban quốc gia chống gian lận Mỹ đó là Hiệp hội của các nhà điều tra gian lận (ACFE) Cho đến nay, có thể nói đây là tổ chức nghiên cứu và điều tra về gian lận có quy mô lớn nhất thế giới Ngay sau khi được thành lập, ACFE đã tiến hành một cuộc nghiên cứu trên quy mô lớn các trường hợp gian lận Đầu tiên, vào năm

1993, ACFE đã tiến hành gửi bảng câu hỏi cho khoản 10.000 thành viên của Hiệp hội nhằm thu thập thông tin về các trường hợp về gian lận mà các thành viên này đã từng chứng kiến Cho tới đầu năm 1995, đã có 2.608 phản hồi, trong

đó có 1.509 trường hợp đề cập trực tiếp đến vấn đề gian lận tài sản của tổ chức

họ đã hay đang làm việc

Sau đó, các năm 2002, 2004, 2006, 2008, ACFE tiếp tục các cuộc nghiên cứu về gian lận trên qui mô toàn nước Mỹ với phương pháp tương tự năm 1993,

Trang 30

tức là tổng hợp nguồn thông tin từ thành viên của tổ chức ACFE nhưng với một mục tiêu khác: tập trung vào phân tích cách thức tiến hành gian lận từ đó giúp các nghề nghiệp đưa ra biện pháp ngăn ngừa và phát hiện gian lận trên BCTC Một trong những con số thống kê đưa ra rất ấn tượng là: Gian lận gây ra thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ là khoảng 6% trên tổng thu nhập quốc nội vào năm

2004 (tương đương với 10.000 tỷ USD), tức là mỗi năm nền kinh tế bị thiệt hại trên 600 tỷ USD do gian lận Đây là con số rất lớn vì nó gần gấp đôi số ngân sách

mà Chính phủ Mỹ dành cho các hoạt động quân sự trong năm 2003 Và tất nhiên

là nhiều hơn cả nguồn tiền Chính phủ đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng và giáo dục, vượt quá 28 lần số ngân sách Chính phủ ưu tiên dùng để phòng chống tội phạm năm 2003

Dù công trình nghiên cứu về gian lận ACFE đã đưa ra những số liệu thống

kê về những thiệt hại của việc gian lận trên báo cáo tài chính bị phát hiện, tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khó mà xác định được thiệt hại thực sự bởi

lẽ không phải tất cả những gian lận đều bị phát hiện và không phải tất cả các gian lận được phát hiện đều được báo cáo và không phải tất cả gian lận đã báo cáo đều

bị khởi tố theo đúng pháp luật Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu trên chỉ thống kê thiệt hại về kinh tế trực tiếp do gian lận trên báo cáo tài chính, trong khi còn rất nhiều thiệt hại vô hình không thể biểu hiện bằng con số cụ thể ví dụ như chi phí kiện tụng, phí bảo hiểm, sự sụt giảm niềm tin và tác động xấu đến thị trường chứng khoán

Kết quả nghiên cứu về gian lận theo công trình nghiên cứu của ACFE

Có ba loại gian lận như sau:

+ Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ tài sản của tổ chức (ví dụ điển hình là biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, gian lận về tiền lương)

+ Tham ô: Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của

họ tham ô tài sản của công ty hay hành động trái ngược với các nghĩa vụ họ đã cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay một bên thứ ba

+ Gian lận trên Báo cáo tài chính: Là trường hợp các thông tin trên Báo cáo tài chính bị bóp méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố

ý nhằm lừa gạt người sử dụng thông tin (Ví dụ khai khống doanh thu, khai giảm

nợ phải trả hay chi phí)

Trang 31

Loại gian lận

Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008

%

Thiệt hại (USD)

%

Thiệt hại (USD)

%

Thiệt hại (USD)

Biển thủ 92.7% 93.000 91,5% 150.000 88,7% 150.000 Tham ô 30,1% 250.000 30,8% 538.000 27,4% 375.000 Gian lận trên BCTC 7,9% 1.000.000 10,6% 2.000.000 10,3% 2.000.000

Bảng 2.1 Kết quả nghiên cứu của ACFE

Kết quả nghiên cứu của ACFE cho thấy, trong các trường hợp khảo sát, gian lận liên quan đến tài sản tuy chiếm khoảng 90% trường hợp nhưng mức thiệt hại cho nền kinh tế là thấp nhất Trong khi đó, các gian lận trên Báo cáo tài chính, tuy chiếm tỷ lệ thấp nhất nhưng hậu quả gây ra cho nền kinh tế là lớn nhất

Những phương pháp phổ biến thực hiện gian lận trên báo cáo tài chính

Một trong những đóng góp rất lớn của ACFE là việc thống kê các phương pháp gian lận phổ biến trên Báo cáo tài chính Theo số liệu thống kê, dù gian lận trên Báo cáo tài chính xảy ra ít thường xuyên hơn nhưng tác động của chúng đối với báo cáo tài chính lớn hơn nhiều lần so với hành vi tham ô, biển thủ Dưới đây

là thống kê các loại gian lận phổ biến trên BCTC

Loại gian lận Trường hợp báo cáo % (trường hợp)

Ghi nhận doanh thu không có thật 52 43.3%

Bảng 2.2 Kết quả thống kê số liệu theo loại gian lận ACFE

- Mô hình dồn tích có điều chỉnh của DeAnglo (1986)

Mô hình của DeAngelo (1986) giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) thời kỳ t là ngẫu nhiên và bằng với số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1, do đó tác giả cho rằng sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và t-1 có thể xuất phát từ hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Trang 32

Biến kế toán có thể

điều chỉnh (DAt) =

Biến kế toán dồn tích năm t (TAt) -

Biến kế toán dồn tích năm t-1 (TAt-1)

Biến kế toán

dồn tích (TA) = Lợi nhuận sau thuế -

Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Theo DeAngelo, phần kế toán có thể điều chỉnh (DA) hay sự thay đổi số biến kế toán dồn tích chính là phần lợi nhuận do nhà quản trị điều chỉnh Nói cách khác, DA≠0 tương đương với có hiện tượng gian lận Tuy nhiên mô hình của DeAngele chỉ đúng trong trường hợp giả định, tức biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) của năm t ngẫu nhiên và bằng với số biến kế toán dồn tích (TA) của năm t-1 Trường hợp công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng, biến kế toán không thể điều chỉnh sẽ thay đổi liên tục từ năm này qua năm khác không thể áp dụng mô hình DeAngele (1986)

- Mô hình dồn tích có điều chỉnh của Friedlan (1994)

Mô hình Friedlan (1994) ra đời đã khắc phục được nhược điểm của mô hình DeAngele Friedlan giả định sự thay đổi trong tổng số trích trước giữa hai kỳ kế toán là do sự ảnh hưởng của hai nhân tố: (1) sự thay đổi do tăng trưởng và (2) sự thay đổi do lựa chọn kế toán của tổ chức phát triển Mô hình như sau:

- M-score của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu (2005)

Dựa trên M-score, Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu (2005) phát triển một mô hình nhằm phát hiện sự sai phạm báo cáo tài chính của các công ty

ở Thổ Nhĩ Kỳ Trong nghiên cứu này, Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu

sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của 126 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Mô hình được đưa ra gồm 10 biến như sau: Chỉ số đòn bẩy (LVGI), chỉ số hàng tồn kho (DINV), chỉ số chi phí tài chính (FEI), chỉ số kì thu tiền (DSRI), chỉ số lợi nhuận gộp (GMI), chỉ số 29 chất lượng tài sản (AQI), chỉ

số tăng trưởng doanh thu (SGI), chỉ số khấu hao (DEPI), chỉ số chi phí bán hàng

và chi phí quản lý doanh nghiệp (SGAI), chỉ số tổng tài sản và tổng kế toán dồn tích (TATA) Tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả không sử dụng mô hình logistic để ước lượng mà sự dụng 3 bước phân tích phân lớp để tính toán hệ số các biến trong mô hình:

Trang 33

Mô hình của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu:

M= 16,4952 DSRI – 13,1584 GMI + 8,3547 TATA + 8,1473 DINV - 2,5999 LVGI + 1,8112 DEPI + 1,6927 SGAI – 1,559 SGI + 1,2698 AQI + 0,6528 FEI

Mô hình của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu mở rộng thêm hai biến là DINV và FEI so với mô hình gốc Về độ chính xác của mô hình, so sánh với kết quả được công bố bởi Ủy ban Chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ (Capital Markets Board of Turkey) mô hình của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu dự báo đúng 81% công ty bị thao túng thu nhập và 65% công ty không bị thao túng, kết quả chung là đúng 67%

- Mô hình M-score của Marinakis (2011)

Marinakis (2011) cũng xây dựng mô hình M – score cho nước Anh Mô hình của Marinakis gồm 11 biến số, trong đó có 8 biến số tương tự mô hình Beneish Ngoài ra, ông còn thêm vào 3 biến số khác gồm: EFTAXI – Chỉ số tỷ lệ thuế suất hiệu quả, DIRAI – chỉ số đãi ngộ cho các giám đốc trên tổng tài sản, AUDI – Chỉ số thù lao kiểm toán đối với tổng tài sản

M – score’ = -5,124 +0,242(DSRI) +0,512(GMI) +0,424(AQI) +0,421SGI + 0,317(DEPI) – 0,152(SGAI) + 3,21(TATA) +0,624(LVGI)+ 0,421(AUDI) – 0,391(EFTAXI) +0,317(DIRAI)

Marinakis đặt ngưỡng giá trị cho mô hình của mình là -1.31 Theo kiểm định của tác giả, mô hình có xác suất xác định chính xác các công ty có hành vi sai phạm cao hơn mô hình gốc của Beneish là 10%

- Mô hình F-score của Dechow và các cộng sự (2011)

Nghiên cứu về nguyên nhân và hậu quả của thao túng thu nhập của Dechow

và các cộng sự đã xem xét 2190 công ty niêm yết trong giai đoạn 1982 – 2005 và thu được mô hình F-score với 3 cấp độ

Mô hình 1: Sử dụng các biến số thu thập từ báo cáo tài chính, bao gồm biến

kế toán dồn tích (rsst), sự thay đổi khoản phải thu khách hàng (∆recv), thay đổi hàng tồn kho (∆inv), tài sản ngắn hạn (softassets), sự thay đổi tiền trong doanh thu (∆cs), sự thay đổi tỷ suất sinh lợi tài sản (∆roa) và biến giả issue bằng 1 nếu năm đó công ty phát hành cổ phiếu bằng 0 nếu không phát hành (issue):

F-score 1= - 7,893 + 0,790sst + 2,158∆recv + 1,19∆inv + 1,970softassets +0,171∆cs ± 0,932∆roa + 1,029issue

Mô hình 2: Sử dụng các biến từ mô hình 1 đồng thời thêm các biến phi tài chính và ngoài bảng cân đối là ∆emp sự thay đổi số lượng nhân viên và biến giả

Trang 34

leasedum bằng 1 khi có cho thuê hoạt động, bằng 0 khi không cho thuê hoạt động

F-score 2= - 8,252 + 0,665sst + 2,457∆recv + 1,393∆inv + 2,011softassets + 0,159∆cs – 1,029∆roa + 0,983issue – 0,150∆emp + 0,419leasedum

Mô hình 3: Gồm các biến ở mô hình 2 và thêm các biến đo lường thị trường: tỷ suất sinh lợi điều chỉnh theo thị trường trong hiện tại rett và độ trễ của chính biến này rett-1

F-score 3= - 7,966 + 0,909sst + 1,731∆recv + 1,447∆inv + 2,265softassets + 0,160∆cs – 1,455∆roa + 0,653issue – 0,121∆emp + 0,345leasedum + 0,082 rett + 0,098 rett-1

Dechow và các cộng sự (2009) kết luận rằng F – score lớn hơn 1 đồng nghĩa với khả năng cao các công ty trình sai phạm báo cáo tài chính và bóp méo thu nhập Hậu kiểm, mô hình F-score 1 dự báo đúng 65,9% Các con số này lần lượt là 65.78% và 63.36% đối với F–score2 và F– score3

Có thể thấy F-score mở rộng hơn M-score của Beneish khi có thêm các biến phi tài chính, biến ngoài bảng cân đối cà các biến thị trường nhằm xác định mối tương quan của các yếu tố khác đến hành vi sai phạm báo cáo tài chính Tuy nhiên về xác suất dự báo đúng cả 3 mô hình được Dechow và các cộng sự đưa ra đều có xác suất thấp hơn M-score ban đầu

- Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến khả năng thao túng thu nhập của nhà quản trị- Rhee và các cộng sự (2003)

Nghiên cứu về ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến khả năng thao túng thu nhập của nhà quản trị của Rhee và các cộng sự được thực hiện năm

2.2 Dữ liệu và phương pháp thu thập số liệu ngành bất động sản

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Dữ liệu được tiến hành thu thập và xử lý như sau:

Trang 35

- Bước 1: Thu thập số liệu từ các BCTC công bố của các công ty

Dữ liệu được thu thập từ trang web tài chính: www.cafef.vn Đây một trong những trang website lớn và có uy tín về cung cấp thông tin các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nên báo cáo tài chính thu thập từ trang này có độ tin cậy cao

Dữ liệu bao gồm BCTC trước và sau kiểm toán của 54 công ty ngành bất động sản niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong ba năm 2013- 2015

Các khoản mục trên báo cáo tài chính cần thu thập: Lợi nhuận sau thuế; Tài sản ngắn hạn; Các khoản phải thu khách hàng; Tài sản dài hạn; Tài sản cố định; Khấu hao tài sản cố định; Tổng tài sản; Nợ ngắn hạn; Nợ dài hạn; Vốn chủ và các quỹ; Doanh thu thuần; Giá vốn hàng bán; Chi phí bán hàng; Chi phí quản lý doanh nghiệp; Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

- Bước 2: Lọc bỏ những quan sát không phù hợp

Những quan sát bị lọc bỏ là những quan sát gặp phải một trong các vấn đề như sau:

+ Những quan sát không đủ dữ liệu: Cụ thể những quan sát bị lọc bỏ là những quan sát thiếu một trong những khoản mục cần thu thập như đã nêu ở trên + Những doanh nghiệp đã bị hủy niêm yết hoặc không công bố BCTC + Những giá trị của quan sát có sai lệch quá lớn (phương sai, độ lệch chuẩn quá lớn), những quan sát này làm tăng giá trị trung bình (mean) của dữ liệu biến, gây nhiễu và ảnh hưởng đến độ chính xác của mô hình

2.2.2 Mô tả dữ liệu

Mô hình được sử dụng để nhận diên sai phạm báo cáo tài chính ngành Bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là mô hình logistic với biến phụ thuộc là biến phân loại (có sai phạm hoặc không sai phạm), biến độc lập

1 nếu báo cáo tài chính có sai lệch

M =

0 nếu báo cáo tài chính không sai lệch

Trang 36

Chênh lệch BCTC = LNST trước kiểm toán – LNST sau kiểm toán

LNST sau kiểm toán

- Biến độc lập:

Mô hình được xây dựng trên cơ sở mô hình M-score 8 biến của Beneish (1999) Tuy nhiên với tình hình Việt Nam các chế độ kế toán còn lỏng lẻo, các công ty ngành Bất động sản đa phần là các công ty nhỏ hơn so với khu vực nên ta đưa thêm biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) theo lý thuyết Friedlan (1994), và biến quy mô doanh nghiệp (Size) theo Rhee et al (2003) để đánh giá tác động của các yếu tố này tới khả năng nhận diện sai phạm của mô hình

STT Biến độc lập Mô tả

1 DSRI Tỷ số phải thu khách hàng trên doanh thu thuần (Days Sales in

Receivables Index)

2 GMI Tỷ số lãi gộp (Gross Margin Index)

3 SGI Tỷ số tăng trưởng doanh thu bán hàng (Sales Growth Index)

4 AQI Tỷ số chất lượng tài sản (Asset Quality Index)

5 DEPI Tỷ số khấu hao tài sản cố định hữu hình (Depreciation Index)

6 SGAI Tỷ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp (Sales, general and

administrative expense Index)

7 LVGI Tỷ số đòn bẩy tài chính (Leverage Index)

8 TATA Tỷ số biến dồn tích kế toán so với tổng tài sản (Total Accruals to

Total Assets)

9 DA Tỷ số biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionary

Accruals)

10 SIZE Quy mô doanh nghiệp

Bảng 2.3 Mô tả các biến trong mô hình

Tỷ số phải thu khách hàng trên doanh thu thuần (Days Sales in

Receivables Index)

DRSI = Các khoản phải thu t /Doanh thu t

Các khoản phải thu t - 1 /Doanh thu t-1Chỉ số DSRI so sánh sự thay đổi các khoản phải thu trên doanh thu giữa năm t chưa kiểm toán và năm t-1 đã kiểm toán Trong trường hợp không có sự

Ngày đăng: 09/04/2020, 19:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w