1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ luật học phòng ngừa tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn các tỉnh tây nam bộ

187 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn trên đang đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, có luận cứ khoa học, góp phần hoàn thiện về lý luận cũng như biện pháp công tác nhằm tăng cường hiệu quả cô

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH PHONG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Phòng ngừa tình hình tội phạm do người

chưa thành niên thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và

kế thừa đều đƣợc trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thanh Phong

Trang 3

MỤC LỤC

2.1 Khái niệm, chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm do người

chưa thành niên thực hiện

24

2.2 Mục đích, ý nghĩa và các nguyên tắc của phòng ngừa tình

hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

36

2.3 Cơ sở và các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm do

người chưa thành niên thực hiện

3.1 Tình hình phòng ngừa tình hình tội phạm do người chưa

thành niên thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam bộ

64

3.2 Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm do người chưa

thành niên thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam bộ

69

CHƯƠNG 4 DỰ BÁO VÀ TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH

HÌNH TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ

96

4.1 Dự báo tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực

hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam bộ trong thời gian tới

96

4.2 Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm do

người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam bộ

105

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

HĐND Hội đồng nhân dân

NCS Nghiên cứu sinh

NCTN Người chưa thành niên

UBND Ủy ban nhân dân

UNICEF Quỹ nhi đồng liên hợp quốc

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 2.1 Mô hình cơ chế tâm lý, xã hội của hành vi phạm tội cụ thể 48

2 Sơ đồ 3.1 Sự phối hợp của các chủ thể trong công tác tuyên truyền phòng

chống tội phạm 90

3 Sơ đồ 3.2 Sự phối hợp của các chủ thể trong phát hiện xử lý tội phạm 91

4 Sơ đồ 3.3:Sự phối hợp của các chủ thể trong công tác giúp đỡ đối tượng tái

hòa nhập cộng đồng .92

5 Sơ đồ 3.4:Sự phối hợp giữa các chủ thể trong công tác đưa đối tượng vào

trường giáo dưỡng 93

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc thế hệ thanh, thiếu niên Việt Nam luôn thể hiện được vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu trong mọi phong trào cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam và Bác Hồ kính yêu đã khởi xướng và lãnh đạo Thực tiễn đã chứng minh lực lượng thanh, thiếu niên Việt Nam đã có những đóng góp vô cùng to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thống nhất

tổ quốc và trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì đòi hỏi lực lượng thanh, thiếu niên cần phát huy nhiều hơn nữa tinh thần yêu nước, yêu quê hương, dám nghĩ, dám làm sẵn sàng cống hiến cho tổ quốc, cho đồng bào Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã kỳ vọng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…” [50, Tr.32]

Xác định vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên nên trong quá trình lãnh đạo đất nước Đảng ta luôn quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cho thế hệ thanh thiếu niên Nhiều chủ trương, nghị quyết đã được Đảng ta đề ra để chỉ đạo định hướng về công tác thanh niên Nghị quyết 25 của ban chấp hành Trung ương Đảng, khoá X khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân

tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi hi sinh, gian khổ, sức khoẻ và sáng tạo Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình Song, do còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nên thanh niên cần sự giúp đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội” [2, tr.1].Tuy nhiên, bên cạnh đại đa số thanh, thiếu niên tích cực học tập, rèn luyện phấn đấu vươn lên để trở thành người có ích cho xã hội, xứng đáng với vai trò, vị trí

và sự quan tâm của toàn xã hội thì vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên

Trang 7

thiếu tu dưỡng rèn luyện, phai nhạt lý tưởng, giảm sút niềm tin, sống thực dụng, thích hưởng thụ, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc, không chấp hành pháp luật…

từ đó dẫn đến suy thoái về phẩm chất đạo đức, lệch chuẩn, hướng ngoại, dễ mắc các

tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, thậm chí trở thành tội phạm Theo thống kê của Bộ công an, trong thời gian từ năm 2006-2010 tỷ lệ phạm pháp hình sự trong lứa tuổi thanh, thiếu niên (từ 14 đến 30) ở nước ta chiếm 80-85% bình quân 40 đến 50 ngàn

vụ một năm Trong đó, đáng chú ý số đối tượng là NCTN ( từ 14 đến dưới 18 tuổi) chiếm 32,9% tổng số đối tượng phạm tội [14, tr.2] Điều đó cho thấy sự “trẻ hoá” của thành phần đối tượng phạm tội Đặc biệt càng nguy hiểm hơn khi số đối tượng CTN không chỉ gây ra những loại tội phạm ít nghiêm trọng mà đã gây ra những loại tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Thực trạng đó đặt

ra nhiệm vụ cấp bách cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải tập trung nghiên cứu, chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp kiềm chế, kéo giảm THTP trong thanh, thiếu niên nói chung và NCTN nói riêng

Qua tổng kết 15 năm thực hiện nghị quyết 09/NQ-CP và chương trình quốc gia PCTP (1998-2010) của ban chỉ đạo 138/CP, 5 năm thực hiện Chỉ thị 48/CT-TW của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTP trong tình hình mới (2010-2014), công tác PCTP ở nước ta đã thu được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực giữ gìn trật tự, kỷ cương pháp luật, phục vụ công cuộc phát triển đất nước.Tuy nhiên, qua tổng kết vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại, THTP vẫn còn diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm chưa được kiềm chế, xuất hiện một số phương thức thủ đoạn phạm tội mới, tội phạm xuyên quốc gia… mà đặc biệt là sự gia tăng tội phạm trong lứa tuổi CTN Nguyên nhân của tình hình trên một phần là do các yếu tố khách quan, như tác động của các vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế; sự xuống cấp về đạo đức xã hội, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền…nhưng chủ yếu là do những hạn chế yếu kém trong công tác đấu tranh PCTP, nhất là phòng ngừa xã hội Cấp uỷ Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức một số ngành, địa phương chưa thật

sự quan tâm chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống tội phạm, vì vậy nhiệm vụ

Trang 8

PCTP chưa được đưa vào chương trình, kế hoạch phát triển theo yêu cầu của Đảng, nhà nước Nhiều cấp, nhiều ngành còn đứng ngoài cuộc hoặc chỉ tham gia một cách hình thức, chiếu lệ, đối phó Tổ chức bộ máy, phân công, phân cấp ở các cơ quan bảo vệ pháp luật và chuyên trách còn bất cập, dẫn đến chồng chéo, trùng lặp Năng lực tham mưu, quản lý và tổ chức thực hiện cũng như tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên quyết tấn công tội phạm của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, chiến sĩ lực lượng chuyên trách còn hạn chế, yếu kém, sa sút Điều kiện hậu cần kỹ thuật bảo đảm cho công tác phòng, chống tội phạm còn nhiều khó khăn, hạn chế.Chính sách đãi ngộ đối với lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng chống tội phạm còn chưa phù hợp [105, tr.2] Những nguyên nhân tồn tại yếu kém đó đã làm hạn chế hiệu quả công tác PCTP nói chung, tội phạm trong lứa tuổi CTN nói riêng

Khu vực miền TNB (còn có tên gọi là Đồng bằng sông Cửu Long) là một trong những địa bàn chiến lược của cả nước, gồm 13 tỉnh, thành phố (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) với diện tích 40.553,1 Km2, dân

số 17.390.500 người (chiếm 19,58% dân số cả nước), mật độ dân số gần gấp 2 lần mật độ dân số trung bình của cả nước (429 người/km2 so với 268 người/km2) [ 104,

Tr 61,62] Đây là vùng đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta, rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và các ngành kinh tế khác Tuy nhiên, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Trong những năm qua THTP, tệ nạn xã hội trên địa bàn các tỉnh TNB diễn biến hết sức phức tạp Theo thống kê của Bộ công

an, hàng năm tội phạm ở cụm Thành phố Hồ Chí Minh, miền Đông và miền TNB xảy ra chiếm gần 40% tổng số vụ phạm tội của cả nước, (riêng miền TNB chiếm 12% ) Trong đó NCTN chiếm tỉ lệ khá cao so với cả nước Thực tế này đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự, tác động trực tiếp đến sự phát triển của miền TNB và cả nước

Trang 9

Thực tiễn trên đang đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, có luận cứ khoa học, góp phần hoàn thiện về lý luận cũng như biện pháp công tác nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa THTP nói chung, tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng Là một cán bộ tham mưu và trực tiếp làm công tác trên lĩnh vực phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long- một tỉnh thuộc khu vực TNB, NCS luôn trăn trở và quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện Chính vì vậy, tác giả

chọn, nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa tình hình tội phạm do người chưa thành niên

thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ” làm luận án tiến sĩ luật học là rất cấp

thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án

Mục đích của luận án là xây dựng các biện pháp nhằm tăng cường phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ

Nhiệm vụ của luận án

-Tổng quan về tình hình nghiên cứu của các công trình trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện; Đánh giá khái quát phạm vi và mức độ nghiên cứu của những công trình này, xác định những kiến thức được kế thừa và làm rõ những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án

-Tổng hợp những vấn đề lý luận về phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện,

từ đó xây dựng những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm, cụ thể là nhóm tội phạm do NCTN thực hiện như khái niệm, các nguyên tắc phòng ngừa, các biện pháp phòng ngừa và chủ thể phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện

-Đánh giá thực trạng phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB, cụ thể là thực trạng về cơ sở chính trị pháp lý, thực trạng hệ thống lý luận, thực trạng tổ chức lực lượng phòng ngừa và thực trạng áp dụng các biện pháp phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện

Trang 10

-Dự báo hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB trong thời gian tới

-Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Xét về nội dung, luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trong phạm vi khoa học tội phạm học thuộc chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm Trong đó bao gồm nhiều biện pháp như: biện pháp chính trị tư tưởng, Văn hoá giáo dục, kinh tế, các biện pháp chuyên ngành của lực lượng trực tiếp phòng chống tội phạm tại địa bàn các tỉnh Tây Nam bộ Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu các chủ thể và hoạt động phối hợp trong phòng chống tội phạm do NCTN thực hiện của các chủ thể trực tiếp

tổ chức thực hiện công tác phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn Tây Nam Bộ

Về thời gian nghiên cứu: luận án sử dụng số liệu nghiên cứu trong phạm vi

từ năm 2006 – 2017

Về không gian: luận án nghiên cứu hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn 13 tỉnh, thành phố TNB Bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt

Trang 11

Nam về phòng ngừa cũng như quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động phòng ngừa THTP nói chung, THTP do NCTN thực hiện

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp hệ thống: Phương pháp hệ thống được sử dụng khi tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu tại chương 1 và những vấn đề lý luận tại chương 2

Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thống kê

số vụ phạm tội, số người phạm tội, thống kê một số đặc điểm về nhân thân của NCTN phạm tội, thống kê các loại hình phạt được tòa án áp dụng tại Chương 3 của luận án, thống kê số NCTN bị đưa vào trường giáo dưỡng, thống kê thiệt hại do tội phạm CTN gây ra được sử dụng ở Chương 3 và Chương 4

Phương pháp nghiên cứu điển hình: Phương pháp nghiên cứu điển hình được

sử dụng khi nghiên cứu điển hình một số địa bàn tập trung nhiều các tội phạm do NCTN thực hiện, điển hình về đặc điểm nhân thân của NCTN phạm tội ở Chương 3

và Chương 4

Phương pháp tổng hợp, phân tích: Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng trong việc tổng hợp, phân tích kết quả từ các hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện, các số liệu thống kê về THTP do NCTN thực hiện, các bản án có hiệu lực của tòa án tại Chương 3, Chương 4, Phân tích thực trạng hoạt động phòng ngừa tội phạm của các chủ thể phòng ngừa tại Chương 3

Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp nghiên cứu lịch sử được sử dụng khi đánh giá thực trạng phòng ngừa Tại Chương 3, đề xuất các biện pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm tại Chương 4

Phương pháp nghiên cứu so sánh: Phương pháp nghiên cứu so sánh được sử dụng khi tác giả so sánh hệ số nguy hiểm của tội phạm ở một số địa phương khu vực TNB, so sánh mức độ, THTP do NCTN thực hiện ở các giai đoạn khác nhau

Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng khi đánh giá cấp độ, tỷ lệ ẩn của tội phạm do NCTN thực hiện, dự báo một số vấn đề của THTP do NCTN thực hiện tại Chương 3

Trang 12

Phương pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên gia được sử dụng khi đánh giá tội phạm ẩn, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, dự báo THTP do NCTN thực hiện trong thời gian tới, các biện pháp phòng ngừa tội phạm tại Chương 3

Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của tội phạm học như phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp mô tả, phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án trong nội dung chương những vấn đề lý luận về phòng ngừa

THTP do NCTN thực hiện

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Thứ nhất, Làm rõ những lý luận về phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện

trên địa bàn các tỉnh TNB giai đoạn hiện nay Những vấn đề lý luận về phòng ngừa nhóm tội phạm trên một địa bàn cụ thể sẽ được tác giả luận án xây dựng làm cơ sở cho hoạt động phòng ngừa nhóm tội phạm do NCTN thực hiện trên thực tế

Thứ hai, Phản ánh thực trạng phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa

bàn các tỉnh TNB Đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế tồn tại trong hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện của các chủ thể và tìm ra những nguyên nhân cơ bản của những hạn chế đó

Thứ ba, Cung cấp những thông số mới nhất và đánh giá phần ẩn của THTP

do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB thông qua việc đánh giá thực trạng phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện

Thứ tư, Làm sáng tỏ những nguyên nhân và điều kiện của THTP do NCTN

thực hiện tại địa bàn các tỉnh TNB hiện nay thông qua việc đánh giá thực trạng PCTP, đó là những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh THTP và những nguyên nhân điều kiện làm phát sinh các tội phạm cụ thể trong đó có tội phạm do NCTN thực hiện

Thứ năm, Dự báo về phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các

tỉnh TNB trong thời gian sắp tới, bao gồm dự báo về khách thể phòng ngừa là THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB và dự báo về chủ thể phòng ngừa

Trang 13

Thứ sáu, Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường phòng ngừa THTP do

NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB, các biện pháp này bao gồm hoàn thiện

cơ sở chính trị pháp lý và hệ thống lý luận; hoàn thiện tổ chức lực lượng phòng ngừa; tăng cường các biện pháp phòng ngừa của các chủ thể trong việc ngăn ngừa trước không cho tội phạm xảy ra và tăng cường phát hiện, xử lý sau khi tội phạm

xảy ra nhằm tiếp tục phòng chống tội phạm

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: với việc tổng hợp, Xây dựng hệ thống lý luận về phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện, phòng ngừa nhóm tội phạm, quan điểm về NCTN, NCTN phạm tội Luận án là công trình nghiên cứu sẽ trang bị về mặt lý luận cho hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung Những điểm mới của luận án sẽ góp phần hoàn thiện về mặt lý luận cho hoạt động phòng ngừa không chỉ riêng ở tội phạm do NCTN thực hiện mà còn mang tính tham khảo cho hoạt động phòng ngừa các tội phạm khác, phòng ngừa THTP nói chung

Về mặt thực tiễn: luận án là công trình nghiên cứu có thể được sử dụng, tham khảo trong hoạt động phòng ngừa một nhóm tội phạm và phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện tại địa bàn các tỉnh TNB trong giai đoạn hiện nay hoặc trong thời gian sắp tới Mặt khác, luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, học viên, sinh viên có quan tâm và những cán bộ đang làm việc trong các cơ quan chuyên trách về phòng chống tội phạm

7 Kết cấu của luận án: luận án bao gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm do người

chưa thành niên thực hiện

Chương 3: Tình hình và thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm do người

chưa thành niên thực hiện trên dịa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ

Chương 4: Dự báo và giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm

do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm được đề cập một cách tương đối đầy

đủ trong một số giáo trình nghiên cứu, bao gồm các vấn đề về định nghĩa, nội dung, nguyên tắc, biện pháp và chủ thể của hoạt động PNTP Ở định nghĩa PNTP và nội dung PNTP, nhìn chung các tác giả đều thống nhất trong việc xác định nội hàm của khái niệm phòng ngừa, tức là việc sử dụng những biện pháp nhà nước và xã hội tác động vào nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhằm hạn chế tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi xã hội Nội dung phòng ngừa được các tác giả thống nhất trong việc xác định chung thông qua nội dung phòng ngừa bằng biện pháp nhà nước và biện pháp phòng ngừa mang tính xã hội Cụ thể giáo trình được sử dụng trong giảng dạy

tại các trường đại học như giáo trình tội phạm học của tập thể tác giả trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2000, giáo trình tội

phạm học, của tác giả Võ Khánh Vinh, Đại học Huế, Nxb Giáo dục 1999 [129], giáo trình tội phạm học, Nxb Giáo dục Việt Nam 2010 do tác giả Dương Tuyết

Miên chủ biên [60],…

GS.TS Võ Khánh Vinh khi viết quyển Giáo trình tội phạm học của trường

Đại học Huế năm 1999 có nội dung đáng chú ý là đề cập đến biện pháp Nhân chủng học [129, tr.163], tức là biện pháp tác động đến quá trình di cư và thích nghi xã hội của người di cư hay một số tiêu chí phân loại đáng chú ý như việc phân loại theo cơ chế hoạt động hay các biện pháp phòng ngừa có thể được nhóm theo sự phát triển của hoạt động phòng ngừa có mục đích như phòng ngừa ở giai đoạn sớm, ngăn chặn tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, các biện pháp phòng ngừa tái phạm

Giáo trình cảnh sát nhân dân làm việc với trẻ em làm trái pháp luật của trường đại học cảnh sát nhân dân (nay là học viện Cảnh sát nhân dân)năm 2000 do

Trang 15

TS Đỗ Bá Cở chủ biên [32], đã trình bày khá đầy đủ các khái niệm về trẻ em và trẻ

em làm trái pháp luật; nhận thức về công tác quản lý, giáo dục trẻ em làm trái pháp luật; quy trình, kĩ năng làm việc với trẻ em làm trái pháp luật… giáo trình đã giúp cho nghiên cứu sinh nhận thức được nhiều lý luận trong quá trình nghiên cứu

Tác giả Nguyễn Trí Dũng và Chữ Văn Chí đồng chủ biên quyển sách phòng

chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, các tác giả cho rằng "phòng

ngừa tội phạm là sử dụng các biện pháp, chiến thuật, phương tiện nghiệp vụ cần thiết, với sự tham gia của các lực lượng xã hội nhằm khắc phục mọi nguyên nhân và điều kiện không để tội phạm phát sinh phát triển" [38, tr.18] và khái niệm phòng ngừa này cần phân biệt với khái niệm PCTP, khái niệm đấu tranh chống tội phạm

Những vấn đề lý luận về luật hình sự, tố tụng hình sự và tội phạm học của

Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội 1981

[120]; Tội phạm học Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Nxb CAND, Hà Nội 2000 [124]; Tội phạm học hiện đại

và phòng ngừa tội phạm của tác giả Nguyễn Xuân Yêm, Nxb CAND, Hà Nội 2001

[134] Trong các công trình này, lý luận về PNTP đã được đề cập khá rõ và nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, liên quan đến định nghĩa phòng ngừa tội phạm, trong khi đa số tác giả thừa nhận PNTP là hoạt động nhằm ngăn ngừa trước và hoạt động chống sau khi tội phạm xảy ra thì TS

Nguyễn Mạnh Kháng tác giả phần phòng ngừa tội phạm trong quyển Tội phạm học

Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp

luật Nxb CAND 2000 [52], lại cho rằng PNTP được hiểu theo nghĩa hẹp: "PNTP hiểu theo nguyên nghĩa của nó là ngăn ngừa tội phạm xảy ra, bảo vệ xã hội, Nhà

nước và công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm" [52, tr 135,136] Phòng ngừa

thanh thiếu niên phạm tội- trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội của

GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Nxb CAND năm 2004 [135] Đây là một công trình nghiên cứu ở mức độ tổng quan, toàn diện về phòng ngừa thanh thiếu niên phạm tội- trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội dưới góc độ lý luận và thực tiễn Theo nhận xét, đánh giá của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, cho rằng tội phạm trong

Trang 16

lứa tuổi thanh, thiếu niên trong thời gian qua tăng nhanh, diễn biến ngày càng phức tạp, xâm nhập vào học đường Thực tế đó đặt ra cho Đảng, nhà nước ta phải có những chủ trương, giải pháp, chính sách, pháp luật đối với NCTN phạm tội Để khắc phục tình trạng đó, đòi hỏi phải có sự chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, phải phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị mà nhất là của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội Quyển sách này cũng đề cập đến những vấn đề cơ bản như tình hình, kết quả đấu tranh, phương hướng và các giải pháp PCTP do NCTN gây ra, tội phạm và tệ nạn xã hội trong nhà trường Có thể nói đây

là quyển sách có giá trị khoa học cao giúp tác giả định hướng trong suốt quá trình nghiên cứu

Sách chuyên khảo “Tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn Hà Nội, thực

trạng và giải pháp” do tác giả Trịnh Quốc Toản chủ biên, Nxb CAND, năm 2007

[103] Tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự, về phòng ngừa tội phạm CTN; tiến hành điều tra khảo sát THTP CTN trong trại giam, trường giáo dưỡng và những trường hợp thi hành án xong đã và đang tái hoà nhập cộng đồng ở Hà Nội; thực trạng THTP, nguyên nhân , điều kiện và kết quả đấu tranh phòng chống tội phạm CTN ở các quận nội thành Hà Nội; đồng thời tác giả cũng đưa ra dự báo THTP do NCTN thực hiện ở Hà Nội trong thời gian tới và hệ thống các giải pháp đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này

Phòng, tránh vi phạm pháp luật và tệ nạn ma tuý trong lứa tuổi thanh, thiếu niên PGS.TS Nguyễn Minh Đức chủ biên, Nxb Thông tin và truyền thông, năm

2012 [45] Nội dung của quyển sách đã trình bày về phương thức, thủ đoạn hoạt động vi phạm pháp luật của thanh, thiếu niên trong giai đoạn hiện nay; các giải pháp phòng tránh, cũng như các quy định của pháp luật về xử lý NCTN vi phạm pháp luật Theo PGS.TS Nguyễn Minh Đức, các hành vi vi phạm pháp luật của thanh, thiếu niên và học sinh, sinh viên hiện nay bên cạnh những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau còn có nguyên nhân rất quan trọng là thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kĩ năng sống, bồng bột, hiếu thắng và thiếu kinh nghiệm phòng tránh khi đối mặt với nguy cơ và hành vi vi phạm pháp luật của người khác Đồng thời còn có

Trang 17

một nguyên nhân không nhỏ dẫn đến việc thanh, thiếu niên phạm tội là do từ phía nạn nhân [45, Tr.68]

Các vấn đề cần quan tâm ở tuổi vị thành niên do tác giả Hà Thương biên

soạn- Nxb Lao Động, năm 2006 [98] Đánh giá toàn diện về góc độ tâm lý lứa tuổi NCTN, qua đó định hướng cho công tác giáo dục thanh, thiếu niên Đây là tài liệu rất hữu ích phục vụ cho tác giả luận án trong quá trình nghiên cứu

Luận án tiến sĩ luật học “Hoạt động của công an nhân dân trong phòng ngừa

người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay ở Việt Nam” do tác giả Đỗ

Bá Cở thực hiện năm 2000 [33] Kết quả nghiên cứu đã nêu lên và giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về NCTN phạm tội, xác định rỏ các chủ thể tham gia, mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể và trách nhiệm của chủ thể trực tiếp, nòng cốt của lực lượng CAND.; khảo sát thực trạng NCTN phạm tội và công tác phòng ngừa NCTN phạm tội của lực lượng CAND; chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng NCTN phạm tội, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân trong hoạt động phòng ngừa NCTN phạm tội; dự báo xu hướng tội phạm CTN trong thời gian tới, những vấn đề khách quan và chủ quan làm cho THTP ở lứa tuổi này diễn biến phức tạp từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa NCTN phạm tội [33, tr.18]

Luận án tiến sĩ luật học: “Những vấn đề lí luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng

đối với NCTN trong tố tụng Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Phượng- Đại học quốc

gia Hà Nội, năm 2008 [78] Tác giả đã nghiên cứu, khảo sát THTP do NCTN gây ra

bị xét xử và các thủ tục tiến hành tố tụng hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, do đặc thù của NCTN nên tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu hoạt động tố tụng của toà án

Luận án tiến sĩ Luật học “Hoạt động của toà án nhân dân trong phòng ngừa

tội phạm do người chưa thành niên thực hiện” của tác giả Trần Hữu Quân, Học viện

cảnh sát nhân dân, năm 2014 [79] Luận án cũng đã làm rõ đặc điểm tội phạm học

Trang 18

do NCTN thực hiện, phân tích thực trạng hoạt động PNTP do NCTN thực hiện của ngành TAND; Dự báo tình hình do NCTN thực hiện và những yếu tố tác động đến hoạt động PNTP do NCTN thực hiện của TAND trong thời gian tới luận án đã tiến hành thu thập, đối chiếu, so sánh THTP do NCTN thực hiện rất cụ thể, đây là tài liệu giúp cho tác giả nhiều số liệu có giá trị

Luận án tiến sĩ Luật học “hoạt động của lực lượng cảnh sát điều tra tội

phạm về trật tự xã hội trong phòng ngừa tội phạm do NCTN gây ra ở khu vực miền Tây Nam Bộ” của tác giả Lê Tấn Tới, Học viện cảnh sát nhân dân, năm 2014 [105]

Luận án đã đi sâu nghiên cứu những qui định về NCTN phạm tội, đặc điểm tội phạm học của NCTN phạm tội, dự báo tình hình NCTN phạm tội trong những năm tới trên địa bàn các tỉnh TNB và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa trong thời gian tới Tuy nhiên, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, chưa đề cập đến hoạt động phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện của các lực lượng chức năng khác, cũng như chưa đánh giá được những hạn chế trong công tác phối hợp của các lực lượng chức năng trong công tác phòng ngừa đối với loại tội phạm này

Trong nhóm Các bài tạp chí viết về phòng ngừa tội phạm có các bài viết:

Vấn đề kiểm soát tội phạm của tác giả Đào Trí Úc, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số

6 năm 1999 [108], Về những xu hướng và nội dung cơ bản của chiến lược đấu tranh

với tình hình tội phạm của tác giả Võ Khánh Vinh, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số

10 năm 2004 [130], phòng ngừa tội phạm trong cộng đồng dân cư của tác giả Hồ Trọng Ngũ, tạp chí Nhà nước và Pháp Luật số 6 năm 2005 [70], bài Phòng ngừa tội

phạm và tệ nạn xã hội bảo đảm phát triển con người bền vững của tác giả Phạm

Hồng Hải, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 năm 2005 [47], bài viết Phòng ngừa

tội phạm trong tội phạm học của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, tạp chí Luật học số 6

năm 2007 [49], bài viết Về các nguyên tắc cơ bản trong phòng ngừa tội phạm của tác giả Trịnh Tiến Việt trên tạp chí kiểm sát số 9 năm 2008 [127], bài viết về Tội

phạm học Việt Nam và phòng ngừa tội phạm của tác giả Phạm Văn Tỉnh, tạp chí

Trang 19

Nhà nước và Pháp luật số 4 năm 2009 [101] Qua các bài viết này, liên quan đến định nghĩa phòng ngừa tội phạm, NCS nhận thấy rằng các tác giả có hai xu hướng một loại định nghĩa PNTP theo nghĩa mở rộng, tức là bao gồm hoạt động phòng ngừa và chống tội phạm Nhưng ngược lại, tác giả Nguyễn Ngọc Hòa thì cho rằng

"PNTP phải được hiểu theo phạm vi nguyên nghĩa của nó Phòng ngừa tội phạm là những hoạt động loại trừ, làm thay đổi của tội phạm hoặc khống chế tác dụng của

nó nhằm ngăn chặn tội phạm xảy ra” [49, tr.25]

Các đề tài khoa học cấp Bộ và cấp cơ sở như: “Tội phạm giết người và công

tác phòng ngừa, đấu tranh tại các tỉnh, thành phố phía nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của tác giả Phạm Hồng Cử, năm 2004 [37]; “Cướp tài sản bằng thủ đoạn gây mê hành khách trên phương tiện giao thông đường bộ các tỉnh phía nam- giải pháp phòng ngừa và đấu tranh” của tác giả Nguyễn Bá nhiên, năm 2005

[71]; “Tội phạm trộm cắp xe máy có tổ chức tại các tỉnh, thành phía nam- Thực

trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh” của tác giả Vũ Anh Sơn, năm 2003

[96]… Các đề tài khoa học nói trên đi sâu nghiên cứu về từng loại tội phạm và công tác phòng ngừa ở các địa bàn phía nam Tuy nhiên, chưa có đề tài khoa học nào đi sâu nghiên cứu về công tác phòng ngừa NCTN phạm tội ở địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ

Các tài liệu tổng kết 5 năm 2000 – 2005; 2006 – 2011 đề án IV, chương trình

quốc gia phòng chống tội phạm “Đấu tranh phòng chống tội phạm xâm hại trẻ em

và tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên” của Bộ công an và các bài tham luận của

Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm các đơn vị, địa phương khu vực TNB đã phản ánh rất phong phú về thực tiễn, số liệu và những kinh nghiệm quí báu về công tác PCTP do NCTN thực hiện Song các tài liệu trên chỉ mang tính thống kê, khái quát đơn thuần chưa đi sâu phân tích về lý luận, nguyên nhân sâu xa, tiềm ẩn dẫn đến sự gia tăng THTP trong lứa tuổi CTN, cũng như những tồn tại hạn chế trong phòng ngừa NCTN phạm tội

Trang 20

1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Cẩm nang hướng dẫn PNTP của văn phòng liên hiệp quốc về ma tuý và tội phạm Cuốn sách này được xuất bản vào năm 2010 bởi các chuyên gia về PCTP;

Trong đó tập trung phân tích các hướng dẫn liên quan của Liên Hiệp Quốc được coi

như tiêu chuẩn về PCTP, bao gồm: “Hướng dẫn cho sự hợp tác và hổ trợ kỷ thuật

trong lĩnh vực PNTP ở thành thị năm 1995”; “ Hướng dẫn đối với PNTP năm 2002

và những nghị quyết của Hội Đồng Bảo an về việc PNTP” [58] Các hướng dẫn này được phân tích trong mối liên hệ đối với các kết quả của những nghiên cứu khoa học liên quan và kinh nghiệm thực tiễn PNTP của các quốc gia thời gian gần đây Trong nghiên cứu này dã khẳng định rõ vai trò trung tâm và lãnh đạo của các cơ quan chính phủ trong PCTP Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu rộng và nhằm để đưa ra hướng dẫn mở, có thể áp dụng linh hoạt chung cho các quốc gia có hệ thống chính trị, pháp luật , tập quán, đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội… khác nhau Nên khi áp dụng cho từng quốc gia cụ thể thì có những vấn đề chưa phù hợp

Tác giả Malkova khi viết quyển giáo trình tội phạm học dùng cho các trường đại học, Nxb Thông tin pháp lý năm 2006 của [154], đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về PNTP như định nghĩa PNTP (được hiểu theo nghĩa rộng là ngăn ngừa trước không để cho tội phạm xảy ra), nội dung PNTP, các nguyên tắc trong hoạt động PNTP, các chủ thể PNTP và đặc biệt trong các biện pháp PNTP, Malkova đã nhấn mạnh đến các biện pháp tác động vào nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhằm ngăn ngừa trước không cho tội phạm xảy ra; tuy nhiên, bên cạnh đó tác giả cũng đã thừa nhận những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước được áp dụng nhằm chống tội phạm cũng được xem là biện pháp PNTP Có thể thấy những vấn đề

lý luận về PNTP được đề cập đến trong quyển giáo trình này có nội dung khá tương đồng với các giáo trình tội phạm học ở Việt Nam hiện nay

Sách tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản của tác giả Can Ueda do TS Nguyễn Xuân Yêm và TS Hồ Trọng Ngũ Dịch từ nguyên bản tiếng Nga của Nxb Tiến bộ, Moscow, 1989 [160], tác giả đã tập trung vào việc xác định nội dung cơ

Trang 21

bản của các biện pháp đấu tranh chống tội phạm, trong đó đã nhấn mạnh toàn bộ các chính sách xã hội "chính sách kinh tế và văn hóa là những biện pháp đấu tranh chống tội phạm” [160, tr.18], chủ thể của hoạt động PCTP theo tác giả bao gồm cả các nhà khoa học bên cạnh các chủ thể các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội Đồng thời, việc áp dụng hình phạt tù, tử hình, các biện pháp nhằm tái hòa nhập xã hội cũng được công trình đề cập

Trong quyển Criminology, Nxb Mcgraw- Hill, New York, 1991 của tác giả Freda Adler và các cộng sự [143], có thể thấy các biện pháp PNTP đã được nhắc tới với những học thuyết cụ thể Trên nền tảng tiếp cận những vấn đề cơ bản của tội phạm học và các vấn đề của tội phạm hiện đại, các tác giả đã giành nội dung của quyển sách khái quát các học thuyết của tội phạm học trong lịch sử và trong mỗi học thuyết, các tác giả đã đề cập đến quan điểm của các nhà tội phạm học tiêu biểu cho từng trường phái và các biện pháp phòng ngừa tương ứng Những biện pháp PNTP tương ứng với các học thuyết này là tài liệu tham khảo quan trọng khi nghiên cứu sinh tổng hợp, xây dựng lý luận PNTP cũng như khi đề ra các giải pháp PNTP

do NCTN thực hiện

Sách Crime prevention in Urbạn Community của tác giả Koichi Miyazawa, Sétuo Miyazawa Nxb Kluwer Law and Taxation, 1995 [149], khi nói về hoạt động PNTP, các tác giả đã phân tích các hoạt động phòng ngừa trên thực tiễn tại các quốc gia như Anh, Mỹ, Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản Đây có thể xem là công trình tập hợp các bài viết liên quan đến hoạt động PNTP ở nhiều quốc gia trên thế giới, Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết phục vụ cho hội thảo nên chỉ tập trung vào các biện pháp PNTP đang được áp dụng trên thực tế chứ chưa đi sâu nghiên cứu các vấn đề

lý luận khác về phòng ngừa tội phạm

Sách di truyền học thái độ ứng sự và tội phạm của tác giả N Doubinine_ I Karpiets- V Koudriavtsev (Lê Tuấn Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp), Nxb Công an nhân dân năm 2003 [156], cũng đã đề cập đến khái niệm, các biện pháp PNTP, chủ thể PNTP Sau khi xem PNTP là “cái trục” của cuộc đấu tranh chống tội phạm, các tác giả đã khẳng định các biện pháp PNTP bao gồm những biện pháp phòng ngừa

Trang 22

nói chung bằng kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, pháp lý Và các biện pháp phòng ngừa mang tính cưỡng chế Khi bàn về các chủ thể PNTP, điểm đáng chú ý là ngoài những chủ thể là cơ quan nhà nước, các tác giả cũng đã khẳng định rằng do tính chất nghiêm trọng của việc đấu tranh chống tội phạm nên không thể ủy nhiệm công việc này cho một tổ chức nào mà được toàn thể xã hội và từng tế bào nhỏ của xã hội đều phải cùng trực tiếp tham gia [156, tr.85]

Giáo sư Larry J Siegel ( giảng viên tại khoa tư pháp hình sự và tội phạm học của đại học Massachusetts, Hoa Kỳ) Khi viết quyển sách “Juvenile Delinquency: Theory, Practice, and Law (Trẻ vị thành niên phạm tội: Học thuyết, Thực tế và Luật pháp) đã tập trung nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện các học thuyết trên thế giới về con đường dẫn tới sự phạm tội của NCTN; yếu tố môi trường và các điều kiện hoàn cảnh tác động tới hành vi của NCTN; vấn đề pháp lý và hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên [151]

Ở cấp độ sách chuyên khảo, là quyển sách những khía cạnh tâm lý xã hội về tình trạng phạm tội của NCTN của tác giả A I Đôn-Gô-Va, nhà xuất bản pháp lý

Hà Nội 1987 [137] Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm, do NCTN thực hiện được tác giả đề cập khá rõ nét trong các biện pháp PNTP do NCTN thực hiện

và những chủ thể áp dụng những biện pháp phòng ngừa cụ thể đó Những biện pháp được đề cập nhằm ngăn ngừa trước không để cho NCTN thực hiện phạm tội và những biện pháp nhằm chống sau khi tội phạm xảy ra cũng như lưu ý những khi áp dụng các biện pháp này sẽ được nghiên cứu sinh tham khảo khi xây dựng biện pháp PNTP do NCTN thực hiện

Crime Prevention by Early Intervention ( phòng ngừa tội phạm bằng cách can thiệp sớm) là chủ đề của bài viết liên quan đến hoạt động PNTP do NCTN của tập san Châu Âu trong lĩnh vực chính sách hình sự và nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu và cung cấp tư liệu, Nxb Kugler, 1996 [159] Trong các bài viết này, khi

đề cập đến các biện pháp phòng ngừa tội phạm, các tác giả cũng đã trình bày các biện pháp PNTP do NCTN thực hiện, trong đó đáng chú ý là biện pháp sàng lọc đối

Trang 23

tượng có nguy cơ phạm tội và nghiên cứu sinh có thể tham khảo phương pháp này trong việc phòng ngừa hành vi phạm tội ở người chưa thành niên

Nhóm đồng sự cùng Franklin E Zimring (giáo sư chuyên ngành luật học và giám đốc viện nghiên cứu các chính sách pháp luật thuộc đại học Chicago, Hoa Kỳ

đã nghiên cứu về quá trình áp dụng pháp luật đối với NCTN phạm tội trong suốt thế

kỷ XX đã đưa ra luận điểm trong công trình nghiên cứu A Century of Juvenile justice (Vấn đề thực thi tư pháp đối với trẻ vị thành niên trong một thế kỷ) [142], đã đưa ra chi tiết và so sánh các chính sách tư pháp áp dụng đối với NCTN phạm tội trong suốt 100 năm

Juvenile Delinquency: Causses and Control của Robert Agnew (giáo sư xã hội học của đại học Emory, Hoa Kỳ và là chủ tịch của hội tội phạm học Hoa kỳ) và Timothy Brezina (giáo sư xã hội học tại khoa tư pháp hình sự của đại học bang Georgia, Hoa kỳ) (Trẻ vị thành niên phạm tội: nguyên nhân và cách kiểm soát) [158], Tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến hành vi NCTN phạm tội và đưa

ra các chính sách phòng ngừa, ngăn chặn, kiểm soát hành vi này

James Burfeind (giáo sư xã hội học, chuyên nghiên cứu về các học thuyêt tội phạm học, tội phạm vị thành niên, tư pháp hình sự đối với NCTN tại đại học Motana, Hoa kỳ) và Dawn Jeglum Bartusch (tiến sĩ trợ lí giáo sư James) đã nêu quan điểm trong công trình Juvenile Delinquency: An Integrated Approach (trẻ vị thành niên phạm tội: một cách nhìn tổng quan) đã phân tích về hiện tượng NCTN phạm tội dưới góc độ của tội phạm học, tâm lý học, sinh vật học, xã hội học [147]

Juvenile Delinquency: The core (bản chất của hiện tượng trẻ vị thành niên phạm tội) của giáo sư Larry J Siegel; Brandon C Welsh (Hoa kỳ- trích dẫn như trên) [152].Tác giả đã đưa ra những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của NCTN, nghiên cứu nhũng vấn đề cốt lõi thuộc về bản chất của hiện tượng phạm tội của người chưa thành niên

Juvenile Delinquency in a Diverse Society (Hiện tượng trẻ vị thành niên phạm tội trong một xã hội đa màu) của giáo sư Kristin A Bates (tiến sĩ đại học

Trang 24

Washington) và Richelle S Swan (tiến sĩ đại học Irvine bang Califorinia) [150] Tác giả đã nghiên cứu xem xét, phân tích, đánh giá hiện tượng trẻ vị thành niên phạm tội trong bối cảnh xã hội với nhiều vấn đề phức tạp, đa dạng như quy định chuẩn mực

xã hội, các yếu tố xã hội như tôn giáo, dân tộc, giai cấp, giới tính)

Giáo sư Richard Lawrence, hiện là giảng viên chuyên ngành tư pháp hình sự tại đại học St Cloud State bang Minesota, Hoa kỳ đã nghiên cứu đã viết quyển School Crime and Juvenile Justice (Tội phạm học đường và tư pháp hình sự đối với trẻ vị thành niên )[157] Tác giả đã nghiên cứu và đánh giá về bản chất, mức độ và nguyên nhân của tội phạm học đường và các hành vi vi phạm pháp luật

Các giáo sư chuyên ngành tư pháp hình sự tại đại học quốc tế A&M bang Texas, Hoa kỳ) gồm Dean J Champion, Alida V Merlo (giáo sư giảng dạy khoa tội phạm học của đại học Indiana, Hoa kỳ), Peter J Benekos (giáo sư chuyên ngành

tư pháp hình sự và xã hội học tại đại học Mercyhurst, Hoa kỳ) Đồng tác giả công trình The Juvenile Justice System: Delinquency, Processing, and the Law (hệ thống

tư pháp hình sự trong vấn đề trẻ vị thành niên phạm tội: sự phạm pháp; quá trình tố tụng và luật pháp) [139] Tác giả đã định nghĩa các hành vi phạm tội của NCTN, phân tích và đề xuất những ý kiến giải quyết trong quá trình áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự đối với trẻ em từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

Juvenile Delinquency của giáo sư Donald J Shoemaker (trẻ vị thành niên phạm tội của giáo sư xã hội học tại viện Bách khoa Virginia và đại học bang

Virginia, Hoa kỳ) [140] Tác giả cung cấp một cách nhìn toàn diện và giới thiệu những quan điểm mới nhất về hành vi phạm tội và việc thực thi pháp luật đối với người chưa thành niên

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu về phòng ngừa NCTN phạm tội

cụ thể như:

Tác giả Ueda Can ở Nhật Bản đã cho rằng nhóm tội phạm càng quấy, giết người trong các trường học có tới 95% các học sinh hư hỏng gây ra Theo tác giả thì

Trang 25

nguyên nhân trước hết là sự dồn nén tâm lý và hình thành ý thức phá hoại, một số

do rèn luyện kém trở nên lỗ mãn, ngỗ ngược, thù hằng, bực tức, ghen tuông, do ảnh hưởng của phim ảnh, sách báo có nội dung bạo lực, rùng rợn; sự đô thị hoá quá nhanh đã phá vỡ xã hội truyền thống, làm phát triển tư tưởng cá nhân, thói ích kĩ trong xã hội Nhật Bản hiện đại [161, Tr.102]

Công tác điều tra thân thiện với trẻ em của các tác giả thuộc UNICEP do cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Tổng cục VI, Bộ công an biên soạn lại, tháng 5/2007 Đây là tài liệu rất hữu ích đã phân tích về các giai đoạn phát triển của trẻ em, tâm lý trẻ em và công tác điều tra thân thiện đối với trẻ em Điểm mới của tập tài liệu này là xem trẻ em làm trái pháp luật là nạn nhân của xã hội cần có chính sách giúp đở, hổ trợ… Điển hình cho quan điểm này là các nước như: Thuỵ Điển,

Hà Lan, Niu Di Lân, Ô-Xtrây-Li-a [35] Các chương trình phòng ngừa tội phạm, tài liệu chuyên đề về phòng ngừa tội phạm trong thanh, thiếu niên ở Vương quốc Anh như: Chiến lược phòng ngừa tội phạm trong thanh, thiếu niên của Bob Asford năm

2007, chương trình PNTP trong thanh thiếu niên của chính phủ vương Quốc Anh…Các chương trình này rất toàn diện: từ định hướng phát triển nhân cách, giáo dục thể chất, giáo dục văn hoá, tạo việc làm cho thanh niên đến tăng cường các biện pháp kiểm soát xã hội của chính quyền trung ương và địa phương, của các lực lượng chức năng làm công tác giáo dục, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật do thanh, thiếu niên gây ra

Luật về tội phạm NCTN của tác giả Frederick B Susmann, A.B., M.S in Edm, LL.B xuất bản 1968 tại New York, Hoa Kỳ [144], đây là những tài liệu điển hình của các quốc gia phát triển cao về kinh tế, có hệ thống pháp luật khác với nước

ta Tuy nhiên, dù khác nhau cơ bản về thể chế chính trị nhưng qua nghiên cứu các tài liệu trên cho thấy tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến công tác hoàn thiện hệ thống tư pháp NCTN phạm tội, dành nhiều chính sách ưu tiên trong phòng, chống NCTN vi phạm pháp luật, phạm tội

Trang 26

Do điều kiện còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu và tiếp cận nghiên cứu, đánh giá những vấn đề liên quan đến công tác phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện của các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, tác giả cũng đã cố gắng nghiên cứu khái quát được những nét cơ bản về kết quả nghiên cứu và quan điểm của các quốc gia về tội phạm trong lứa tuổi CTN, công tác PNTP trong lứa tuổi CTN Đây là những nội dung mang tính chất thông tin khoa học sâu sắc làm cơ sở

và trang bị tầm nhìn khách quan, khoa học về lĩnh vực mà tác giả đang nghiên cứu

1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu

- Thành tựu: Qua tham khảo những công trình nghiên cứu liên quan đến lý

luận về PNTP trong và ngoài nước NCS nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước quan tâm đến định nghĩa, nội dung, phân loại các biện pháp phòng ngừa, các nguyên tắc của hoạt động phòng ngừa Trong khi đó các nhà khoa học nước ngoài quan tâm nhiều về các biện pháp PNTP cụ thể và chủ thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa, Những vấn đề lý luận về PNTP này đã được tác giả xây dựng dựa trên các thông số về THTP trên thực tiễn, trên cơ sở phân tích nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh THTP, các đặc điểm thuộc về cá nhân người phạm tội, đặc biệt là thông qua việc đánh giá hoạt động phòng ngừa trên thực tiễn cũng như dự báo về tội phạm trong tương lai Đây có thể được xem là những vấn đề cơ bản để xây dựng những lý luận về phòng ngừa sai phạm Những điểm mới về lý luận, nhất là những điểm mới trong biện pháp PNTP ở nước ngoài đã được các tác giả đề cập trong các công trình nêu trên nghiên cứu sinh sẽ tham khảo chọn lọc những một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về PNTP và đề ra các giải pháp nhằm phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB

có hiệu quả

Hạn chế: Hầu hết tất cả các tài liệu nêu trên đều được nghiên cứu ở nhiều

khía cạnh, góc độ khác nhau như: về nhóm tội phạm, về địa bàn nghiên cứu, chủ thể thực hiện công tác phòng ngừa, phạm vi nghiên cứu… Do đó mỗi công trình nghiên cứu đều có giá trị quan trọng trong công tác PNTP nói chung, PNTP CTN nói riêng

Trang 27

Tuy nhiên, qua phân tích, đánh giá chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống về vấn đề phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện ở địa bàn các tỉnh

TNB Do đó, việc nghiên cứu luận án “Phòng ngừa tình hình tội phạm do người

chưa thành niên thực hiện trên địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ” là vấn đề cấp thiết và

không bị trùng lặp với công trình khoa học nào

1.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Luận án sẽ tiếp thu, kế thừa những ưu điểm của các công trình đã nêu, đồng thời tác giả cũng sẽ tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được đề cập nhưng còn ở mức độ tổng quát, chung nhất, chưa chuyên sâu vào một vấn đề cụ thể Với tinh thần đó, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

Thứ nhất, trên cơ sở tổng hợp, xây dựng những vấn đề lý luận về phòng ngừa

THTP nói chung và nhóm tội phạm, luận án sẽ xây dựng những vấn đề lý luận về phòng ngừa nhóm tội phạm do NCTN thực hiện bao gồm các vấn đề như khái niệm, đặc điểm pháp lý của tội phạm do NCTN thực hiện; xác định bản chất phòng ngừa,

cơ sở của phòng ngừa, các nguyên tắc phòng ngừa, các biện pháp phòng ngừa, chủ thể phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện

Thứ hai, luận án sẽ làm rõ thực trạng phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện

Thực trạng phòng ngừa bao gồm thực trạng về cơ sở chính trị- pháp lý, thực trạng

về hệ thống lý luận, thực trạng tổ chức lực lượng phòng ngừa, thực trạng áp dụng biện pháp phòng ngừa của các chủ thể Thông qua thực trạng PNTP, luận án sẽ thể hiện các thông số của THTP do NCTN thực hiện giai đoạn 2006- 2017; xác định những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB Ngoài ra, luận án sẽ đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế trong hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện của các chủ thể phòng ngừa và dự báo hoạt động PNTP này tại địa bàn các tỉnh Tây Nam Bộ

Thứ ba, từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã nêu, luận án sẽ đề xuất

những biện pháp nhằm tăng cường phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa

bàn các tỉnh Tây Nam Bộ

Trang 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Với những đặc điểm đặc thù của từng quốc gia mà cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng được tiến hành với nhiều hình thức khác nhau, trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm cung cấp nền tảng lý luận cho hoạt động phòng ngừa THTP trên thực tiễn luôn được các quốc gia quan tâm Hoạt động nghiên cứu khoa học này không chỉ được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu tại các trường đại học, các viện nghiên cứu mà còn được thực hiện bởi các chuyên gia đang công tác tại những cơ quan chuyên trách phòng ngừa, đấu tranh tội phạm

Hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện, quan điểm của các nhà khoa học có hai xu hướng Xu hướng thứ nhất là tiếp cận hoạt động PNTP dưới góc

độ các nhà nghiên cứu được trang bị kiến thức về tội phạm học Những công trình này trên cơ sở đánh giá THTP do NCTN thực hiện sẽ phân tích nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, dự báo THTP trong thời gian tới và đề ra các biện pháp PNTP Các giải pháp này bao gồm các giải pháp mang tính xã hội nhằm ngăn ngừa trước không để tội phạm xảy ra và những giải pháp mang tính “chống”, Tức là những giải pháp điều tra, truy tố, xét xử sau khi tội phạm đã xảy ra Tuy nhiên, do tác giả của các công trình này chủ yếu là các nhà nghiên cứu nên các giải pháp về mặt chuyên môn nghiệp vụ chỉ được đề cập ở mức độ nêu vấn đề chứ chưa đưa ra được những kiến nghị cụ thể mang tính chuyên sâu Xu hướng thứ hai là các công trình nghiên cứu của các tác giả đang công tác tại các cơ quan PCTP trên thực tiễn Những công trình này chủ yếu nghiên cứu hoạt động nghiệp vụ cụ thể trong hoạt động PCTP do NCTN thực hiện cho nên không tập trung vào thực trạng phòng ngừa, đánh giá những thành tựu và hạn chế của PNTP mà chủ yếu là phân tích đánh giá một khâu hoặc một hoạt động phòng chống của chủ thể cụ thể và từ đó đề xuất những kiến nghị tương ứng Dù nghiên cứu theo xu hướng nào thì những công trình này là tài liệu tham khảo quan trọng cho NCS giải quyết nội dung của luận án, Bởi

lẽ, theo quan điểm của NCS thì phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trên địa bàn các tỉnh TNB hiện nay chỉ có thể đạt hiệu quả như mong muốn khi có sự kết hợp giữa các biện pháp ngăn ngừa trước và những biện pháp phát hiện, xử lý sau khi tội phạm xảy ra

Trang 29

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM

DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN 2.1 Khái niệm, chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

2.1.1 Quan điểm về người chưa thành niên phạm tội

Trong quá trình phát triển con người thường trãi qua những giai đoạn với những lứa tuổi khác nhau, vì vậy đã hình thành nên những tên gọi, thuật ngữ khác nhau tương ứng với từng giai đoạn phát triển đó như: trẻ em, thiếu niên, thanh niên, trung niên… Tuy nhiên, trong thuật ngữ khoa học pháp lý của hầu hết các quốc gia

đã sử dụng phổ biến cách gọi là thành niên và CTN Đó là cách phân loại dựa vào

độ tuổi, người thành niên là người thuộc lứa tuổi đã trưởng thành, NCTN là người trẻ tuổi, chưa thật sự trưởng thành cả về thể chất và tinh thần Tuy nhiên, việc quy định ranh giới độ tuổi thành niên và CTN ở mỗi quốc gia không thống nhất nhau Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực khác nhau thì ranh giới về độ tuổi giữa người thành niên và NCTN cũng khác nhau

Thuật ngữ NCTN được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học Tùy theo từng góc độ nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa ra các quan điểm khác nhau Theo các nhà tâm lý học thì cho rằng thời kỳ CTN là thời kỳ quá độ tuổi trẻ em chuyển lên người lớn và là thời kỳ gắn liền với các xung đột, xáo trộn tâm trạng, nó cũng đồng nghĩa với tuổi đang lớn, đang trưởng thành Xét về góc độ pháp luật thì cũng có các quan điểm như: Điều 161 của Bộ luật Lao động 2016 quy định “người lao động CTN là người lao động dưới 18 tuổi” [87, tr.37]; Điều 21 Bộ luật dân sự

2015 quy định “người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [86, tr.5]; BLHS năm 2015 ( sửa đổi bổ sung 2017)

Trang 30

dành trọn chương XII để quy định đối với người dưới 18 tuổi [130, tr.59-70]; BLTTHS 2015 dành trọn chương XXVIII từ điều 413 đến 430 để quy định thủ tục

tố tụng đối với người dưới 18 tuổi [89, tr.340-354]… như vậy hệ thống pháp luật Việt Nam thống nhất quy định NCTN là người dưới 18 tuổi

Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 thì: “trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ

em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [57, tr.1] và điều 11 của quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do 1990 quy định

“những NCTN là những người dưới 18 tuổi” [164, tr.2]

Như vậy theo các quy định của pháp luật Việt Nam và công ước của Liên hợp quốc thì NCTN là những người dưới 18 tuổi, còn NCTN phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện những hành vi nguy hiểm cho

xã hội được BLHS quy định là tội phạm Quan điểm trên hoàn toàn phù hợp giữa luật pháp của Việt Nam và những khái niệm về trẻ em được quy định trong các công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em

Đặc điểm tâm lý của NCTN có những biểu hiện khá phức tạp và mang những đặc trưng riêng tùy theo từng giai đoạn của sự phát triển Qua việc nghiên cứu những đặc trưng về tâm sinh lý xã hội của NCTN, có thể thấy một số điểm khác biệt

so với người thành niên: Về mặt sinh lý trẻ em phát triển rất nhanh về chiều cao và thể trạng, khá hoàn chỉnh về giới tính Điều này có ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của các em, là cơ sở gây ra mất tính cân bằng chung, tính dễ kích thích, tính hiểu động, tính nổi nóng, đặc biệt trên lĩnh vực tình cảm Đây là giai đoạn chuyển tiếp giữa NCTN trở thành người thành niên.Về mặt tâm lý: sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi này mang tính chuyển tiếp giữa giai đoạn phát triển tâm lý của tuổi nhỏ và giai đoạn phát triển tâm lý của tuổi đang trưởng thành Ở tuổi CTN, những tiền đề cơ bản của một nhân cách hoàn chỉnh đang được tạo thành và là cơ sở cho sự phát triển của các em đến tuổi trưởng thành.Vì vậy, sự biến đổi trong thời kỳ này là vô cùng quan trọng cần được tính đến.Những biến đổi này đôi khi mang tính chất phá vỡ tận

Trang 31

gốc những đặc điểm, những hứng thú và quan hệ đã có từ trước Sự phát triển này

có tính mạnh mẽ và nhảy vọt Nếu không biết và không tính đến thì quá trình giáo dục, phòng ngừa sẽ không có hiệu quả và sự hình thành nhân cách có thể sẽ diễn ra một cách tự phát gây khó khăn lớn cho công tác giáo dục, cho quan hệ giữa trẻ em

và người lớn.Vì vậy, đã có một số em vi phạm pháp luật và trở thành kẻ phạm tội, cho nên cần phải xem xét đến năng lực trách nhiệm hình sự Ở mỗi quốc gia trên thế giới, căn cứ vào tình hình cụ thể mà pháp luật quy định tuổi chịu trách nhiệm hình

sự ở những độ tuổi có khác nhau

Người chưa thành niên chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân Độ tuổi của NCTN là ranh giới để phân biệt họ với người thành niên Theo đó người chưa

đủ 18 tuổi là NCTN, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân Còn người từ đủ

18 tuổi trở lên về nguyên tắc có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân Từ những

phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm về NCTN như sau: Người chưa thành niên là

người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy

đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên

Khi phân loại, thống kê những người phạm tội (chủ thể của tội phạm) thường được sử dụng theo nhiều cách khác nhau như theo giới tính, tiền án, tiền sự, dân tộc, địa bàn… trong đó có cách chia theo mức độ (lứa tuổi) Trong cách phân loại này thường được chia ra theo 2 loại: người thành niên phạm tội (tội phạm do người lớn gây ra) và những NCTN phạm tội (tội phạm do những NCTN gây ra) Trong khoa học Luật hình sự và Tội phạm học luôn luôn xem xét NCTN phạm tội hoặc làm trái pháp luật là một chủ thể đặc biệt cần phải được nghiên cứu và áp dụng biện pháp phòng ngừa, xử lý phù hợp

Vấn đề NCTN phạm tội phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới do những nguyên nhân và lý do khác nhau Giai đoạn hiện nay nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các quốc gia và các tổ chức quốc tế có liên quan, không chỉ đòi hỏi sự ngăn ngừa phạm pháp bằng các biện pháp tư pháp hay hình phạt mà còn phải đảm bảo

Trang 32

việc bảo vệ phúc lợi và các quyền của tất cả những NCTN làm trái pháp luật nói chung và tội phạm nói riêng

Những điều kiện xác định chủ thể của tội phạm là người phải đạt đến một độ tuổi nhất định Ở mỗi nước, Luật hình sự đều quy định một độ tuổi khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của trẻ em, nhận thức xã hội của các em, về THTP và yêu cầu đấu tranh PCTP ở trẻ em

* Quy tắc Bắc Kinh (Điều 4) đều khuyến nghị các nước có quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự ở trẻ em không được ở mức quá thấp và phải “lưu

ý đến thực tế của độ tuổi trưởng thành về trí tuệ tinh thần và tình cảm của người phải chịu trách nhiệm hình sự” [164, tr.4] Liên hợp quốc tiến hành khảo sát tình hình về việc PNTP ở NCTN trên thế giới, kết quả cho thấy là: tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định khác nhau giữa các nước: từ 7 tuổi (Bănglađét, Brunây, Ai Cập, Thụy Sĩ, Thái lan, Tuynidi, Ấn Độ, Xingapo…); đến 18 tuổi (Cônggô, Irắc, Mêhicô, Vênêzuêla) Nhiều nước có quy định hai độ tuổi (Achentina, Trung Quốc, Cuba, Nhật Bản, Gioócđani, Mali, Mêhicô, Xênêgan, Urugoay, Nam Tư (cũ), Thái Lan…)

Có những nước (Ấn Độ, Pakixtan) lại quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 16 tuổi ở nữ, tức là sớm hơn so với nam giới 2 năm Tuy nhiên, có những nước không quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự như Chile, Côtxta Rica, Tây Ban Nha… Ở Mêhicô và Mỹ, nhiều bang không quy định độ tuổi này, song ở nhiều bang khác tuổi quy định là từ 6 đến 12 tuổi

*Đối với Việt Nam, các nhà làm luật cũng đưa ra các điều luật làm rõ khái niệm NCTN phạm tội để có sự ngăn ngừa phạm pháp bằng biện pháp tư pháp hay hình phạt cho đúng mức BLHS 2015 dành trọn Chương XII quy định đối với NCTN phạm tội từ Điều 90 đến Điều 107 Nghiên cứu về những quy định đó có thể khái quát rút ra khái niệm về NCTN phạm tội như sau:

Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có hành vi vi phạm vào các quy định trong Bộ luật hình sự và họ phải chịu trách nhiệm

Trang 33

hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1.2 Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm do người chưa thành niên

thực hiện

Tình hình tội phạm nói chung là một hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịch sử xã hội; được thể hiện ở một tổng hợp các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội và trong một khoảng thời gian nhất định

Phòng ngừa THTP là việc áp dụng một cách tổng thể các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật… do các cơ quan, các tổ chức và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân, điều kiện phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm giảm tội phạm và tiến tới loại trừ hoàn toàn THTP ra khỏi đời sống xã hội

Phòng ngừa THTP đòi hỏi phải thu hút sự tham gia, phối hợp đồng bộ của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, các tổ chức xã hội và mọi công dân Đồng thời phải sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp: Biện pháp kinh tế, biện pháp chính trị xã hội, biện pháp văn hóa tư tưởng, biện pháp hành chính, biện pháp pháp luật…

Hiện nay quan điểm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam về định nghĩa phòng ngừa THTP có hai quan điểm phổ biến nhất đó là: Quan điểm thứ nhất cho rằng phòng ngừa THTP bao gồm cả hoạt động phòng và chống tội phạm; Quan điểm thứ hai cho rằng phòng ngừa THTP chỉ là những hoạt động tác động những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm, quan điểm này ít được sự đồng tình của các nhà khoa học, và theo tác giả nó còn khiếm khuyết, chưa toàn diện

Từ những phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm về phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện như sau:

Trang 34

Phòng ngừa tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế, chính trị, hành chính, pháp luật, nghiệp vụ chuyên ngành… do các cơ quan, tổ chức và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quản lý của Nhà nước, nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân, điều kiện phạm tội của người chưa thành niên; không để cho tội phạm chưa thành niên xảy ra và tiến hành các biện pháp nhằm kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm làm giảm tội phạm và tiến tới loại trừ hoàn toàn tình hình tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên ra khỏi đời sống xã hội

Từ khái niệm trên có thể rút ra một số nhận xét đặc trưng của phòng ngừa tình hình NCTN phạm tội:

- Đối tượng của hoạt động phòng ngừa tình hình NCTN phạm tội là những nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội phạm trong lứa tuổi CTN Đó là tất

cả những yếu tố tiêu cực của môi trường gia đình, nhà trường, xã hội tác động tới các đối tượng là người ở lứa tuổi chưa thành niên

- Chủ thể tham gia phòng ngừa NCTN phạm tội ở nước ta gồm những lực lượng rộng rãi như: các cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải có trách nhiệm thực hiện phòng ngừa, trong đó cơ quan CAND là chủ thể trực tiếp, nòng cốt

- Các biện pháp tiến hành trong hoạt động phòng ngừa NCTN phạm tội được

sử dụng phù hợp với lứa tuổi CTN Đó là những biện pháp có tính giáo dục là chính như: giáo dục văn hóa, giáo dục phẩm chất đạo đức, hướng nghiệp, dạy nghề… về bản chất đây là những biện pháp không mang tính cưỡng chế bắt buột và được tiến hành rộng rãi, tuân theo các nguyên tắc PNTP Song song đó, là các biện pháp mang tính cưỡng chế của nhà nước, đó chính là các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, giáo dục, cải tạo bắt buộc…

Trang 35

- Mục đích của phòng ngừa NCTN phạm tội nhằm hạn chế, tiến tới xóa bỏ tình trạng phạm tội của lứa tuổi này, giáo dục để các em trở thành những con người

*Đảng cộng sản Việt Nam :

Điều 4 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam- đội quân tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [81, tr.2] Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ thể lãnh đạo công tác phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo công tác phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện thông qua việc hoạch định

và ban hành đường lối, chủ trương, chính sách bằng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng Bên cạnh đó, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong hoạt động PNTP do NCTN thực hiện còn thể hiện ở sự tiên phong, giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện của các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên Với vai trò là lực lượng tổ chức và lãnh đạo toàn diện các mặt đời sống của nhân dân Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn được ghi nhận là chủ thể quan trọng của hoạt động phòng ngừa THTP nói chung và tội phạm trong lứa tuổi CTN nói riêng

Trang 36

* Quốc hội

“ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước” [82, tr.1] Quốc hội là chủ thể phòng ngừa tội phạm có vai trò trong việc ban hành các luật điều chỉnh hoạt động PNTP, trong đó có các tội phạm do NCTN thực hiện như ban hành Hiến pháp, Các văn bản luật như Luật Trẻ em, BLHS, BLTTHS, … ngoài ra Quốc hội còn có vai trò trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, của cán

bộ nhằm phòng ngừa các hành vi phạm tội trong đó có các tội về NCTN, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật liên quan đến phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện

* Hội đồng nhân dân các cấp:

Hội đồng nhân dân các cấp có vai trò trong phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện thể hiện trong nhiệm kì hoạt động HĐND tham gia vào hoạt động phòng ngừa THTP dưới các hình thức sau: Tham gia vào chương trình phòng ngừa THTP chung của nhà nước; Kịp thời ra những nghị quyết, quyết nghị tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội thực hiện vai trò phòng ngừa THTP; Thành lập các tiểu ban chuyên trách về phòng ngừa THTP; Kiểm tra, giám sát hoạt động của các

tổ chức cá nhân nhằm phòng ngừa các hành vi phạm tội; Các đại biểu HĐND bằng hoạt động cá nhân tham gia vào hoạt động phòng ngừa THTP; Chủ trì tổ chức các hoạt động phòng ngừa THTP của các HĐND trên thực tế mang tính chất định hướng chung, là loại hoạt động có tính chất thúc đẩy hoạt động phòng ngừa THTP của các chủ thể khác Tất nhiên, với tính chất là cơ quan đại diện quyền lực địa phương hoạt động phòng ngừa của các HĐND luôn luôn thu hút được sự tham gia

đông đảo của các thành phần xã hội và có giá trị thực tiễn rất tích cực

Trang 37

*Chính phủ

Điều 20 luật tổ chức Chính phủ 2005, quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong việc quản lý về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…Tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật, xây dựng nền an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị, phòng ngừa đấu tranh chống các loại tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội” Chính phủ có vai trò trong phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện thông qua triển khai thi hành các quy định của pháp luật, thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật PNTP do Quốc hội ban hành Triển khai các biện pháp mang tính xã hội như xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục trong toàn quốc nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nhằm PNTP Bên cạnh đó, Chính phủ còn có vai trò lãnh đạo hoạt động PCTP do NCTN thực hiện thông qua ban chỉ đạo quốc gia PCTP, xây dựng các chương trình

quốc gia phòng chống tội phạm

*Uỷ ban nhân dân các cấp:

UBND các cấp là cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ triển khai các chương trình phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện của Chính phủ, triển khai thực hiện các nghị quyết của HĐND các cấp về chương trình PNTP do NCTN thực hiện tại địa phương Bên cạnh đó, UBND các cấp còn xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục ở địa phương nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân có tác dụng PNTP Xây dựng các chương trình, kế hoạch lãnh đạo hoạt động phòng ngừa các tội phạm do NCTN thực hiện ở địa phương Ngoài ra, UBND các cấp có vai trò quan trọng trong việc phát động quần chúng nhân dân tham gia PNTP, quản lý các đối tượng có tiền án, tiền sự, người có nhân thân xấu, tham gia cùng với các cơ quan khác giám sát giáo dục người phạm tội tại địa phương

Trang 38

* Các cơ quan hành chính nhà nước chuyên môn

Các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm Bộ, cơ quan ngang bộ, Sở, Phòng từ trung ương tới địa phương Tùy vào chức năng nhiệm vụ của mình, các chủ thể này tiến hành hoạt động triển khai, thi hành pháp luật phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện trong phạm vi toàn quốc hay trong từng địa phương nhất định Hình thức hoạt động triển khai thi hành pháp luật về phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện thông qua việc hướng dẫn thi hành pháp luật liên quan đến NCTN, pháp luật về phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện hoặc thông qua việc xây dựng triển khai các biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nhằm tạo cơ sở cho PNTP trên thực tế

*Các cơ quan tiến hành tố tụng

Là những chủ thể trong đấu tranh chống tội phạm, giữ vai trò trọng yếu trong tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp tổ chức hoạt động PNTP, trong đó có tội phạm là NCTN Những chủ thể này có nhiệm vụ trực tiếp phát hiện, điều tra làm rõ hành vi phạm tội của NCTN để áp dụng các biện pháp cần thiết trong tố tụng, xét xử hoặc đưa vào các trường giáo dưỡng để cải tạo, giáo dục, rèn luyện, thể hiện các biện pháp riêng có của mình để phòng ngừa chung và phòng ngừa cá biệt Các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án

Công an là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội (điều 4, điều 5 luật công an nhân dân năm 2014) Lực lượng CAND bao gồm lực lượng Cảnh sát nhân dân, An ninh nhân dân và Công an xã Lực lượng công an có vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định các chương trình PCTP trong đó có các tội phạm do NCTN thực hiện, trực tiếp tham gia hoạt động phòng chống các loại tội phạm do NCTN thực hiện thông qua chức năng nhiệm vụ của mình như phát hiện, điều tra, khởi tố vụ án, khởi tố bị can là chủ thể giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn tạo điều kiện cho các chủ thể khác nhất

là quần chúng nhân dân tham gia vào hoạt động PCTP do NCTN thực hiện

Trang 39

VKSND là cơ quan thực hành quyền Công Tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ( Điều 17,và điều 39 Luật Tổ chức VKSND năm 2014) Viện kiểm sát có vai trò trong việc phối hợp với các chủ thể xây dựng triển khai các chương trình PCTP

do NCTN thực hiện thực hiện việc tuyên truyền giáo dục pháp luật phòng chống tội phạm do NCTN thực hiện và đưa ra những kiến nghị về các biện pháp phòng ngừa tội phạm [84, tr.10,17] Bên cạnh đó VKSND còn có vai trò trực tiếp trong việc kiểm soát hoạt động điều tra tội phạm do NCTN thực hiện, thực hiện chức năng truy tố và buộc tội trong hoạt động xét xử các tội phạm do NCTN thực hiện VKSND áp dụng nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của NCTN Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với NCTN hoặc có liên quan đến NCTN phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của NCTN Thông qua công tác kiểm sát của mình để phát hiện những trường hợp NCTN phạm tội, những việc làm oan sai, vi phạm pháp luật đối với NCTN, những trường hợp dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc NCTN vào con đường phạm tội và những chủ thể không làm tròn trách nhiệm trong việc giáo dục, chăm sóc trẻ em dẫn đến trẻ em phạm tội để có biện pháp xử lý trước pháp luật Ngoài ra, khi thực hiện chức năng công tố của mình, cùng với Công an và Tòa án làm rõ các hành vi phạm tội của NCTN, tìm ra nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội cụ thể đó, yêu cầu cơ quan có trách nhiệm khắc phục, tìm cách giải quyết kịp thời VKSND còn có nhiệm vụ cùng phối hợp với các ngành, các cơ quan hữu quan tiến hành tuyên truyền rộng rãi pháp luật cho mọi người, đặc biệt là pháp luật có liên quan đến phòng ngừa NCTN phạm tội để mọi người nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, từ đó tích cực, tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa NCTN phạm tội

Toà án nhân dân, Theo điều 2 và điều 17, Luật tổ chức TAND năm 2014, quy định: “ Bằng hoạt động của mình, TAND góp phần giáo dục công dân trung thành với tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh PCTP, các vi phạm pháp luật khác” và “ TAND phối hợp với các cơ quan, tổ chức nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia,

Trang 40

trật tự an toàn xã hội” [85, tr.1, 6] TAND với chức năng xét xử có vai trò PNTP do NCTN thực hiện thông qua hoạt động xét xử các tội phạm do NCTN thực hiện để phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội, giám sát hoạt động thi hành án đối với NCTN phạm tội, ngoài ra, TAND các cấp còn có vai trò trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luậ,t phối hợp với các chủ thể khác xây dựng và triển khai các kế hoạch PCTP trong đó có tội phạm do NCTN thực hiện Trong quá trình xét xử tội phạm do NCTN thực hiện, TAND áp dụng nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ cho NCTN, vì lợi ích tốt nhất của NCTN Thông qua các hoạt động xét xử TAND làm rõ các hành vi phạm tội của các bị cáo là NCTN, áp dụng khung hình phạt đúng với nguyên tắc xét xử được quy định trong pháp luật Những vấn đề liên quan đến NCTN được làm rõ và hết sức thận trọng trong quá trình xét

xử vừa công khai, vừa mang tính giáo dục cao Thông qua các hướng dẫn của mình, TAND đưa ra những kiến nghị với Nhà nước về thực hiện các chính sách xã hội có liên quan tới phòng ngừa NCTN phạm tội theo Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm

*Các tổ chức và cá nhân trong xã hội:

Các tổ chức có vai trò phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện bao gồm các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế Các tổ chức này tham gia phòng ngừa THTP do NCTN thực hiện thông qua việc giáo dục, kiểm tra, giám sát cán bộ, nhân viên, đoàn viên, hội viên thuộc tổ chức đó thực hiện các biện pháp phòng ngừa các tội phạm do NCTN thực hiện, cung cấp thông tin, tài liệu

có ý nghĩa PNTP nói chung, trong đó có tội phạm do NCTN thực hiện cho các cơ quan chức năng phối hợp với các chủ thể khác thực hiện các chương trình phòng ngừa các tội phạm do NCTN thực hiện Bên cạnh đó, tùy thuộc vào chức năng của mình các tổ chức này giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chương trình,

kế hoạch phát triển kinh tế, nâng cao trình độ văn hóa cho người dân những yếu tố đảm bảo cho việc ngăn ngừa các cá nhân NCTN không phạm tội vì yếu tố vật chất

và hạn chế trong nhận thức pháp luật

Ngày đăng: 09/04/2020, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Ban chỉ đạo Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm (1999), Đề án IV Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm “Đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án IV Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm “Đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên
Tác giả: Ban chỉ đạo Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm
Năm: 1999
7. Ban chỉ đạo Đề án 4, Bộ Công an, Báo cáo sơ kết 5 năm (2006 – 2010) Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm “Đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 5 năm (2006 – 2010) Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm “Đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên
8. Lưu Hoài Bảo, (2014), một số giải pháp phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện. Tạp chí Kiểm sát, số 14/ 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số giải pháp phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
Tác giả: Lưu Hoài Bảo
Năm: 2014
9. Nguyễn Lai Bình (2012), Vai trò của nhà trường trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Tạp chí kiểm sát, số 9, tr. 9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nhà trường trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Tác giả: Nguyễn Lai Bình
Năm: 2012
10. Bộ Chính Trị, (2005), Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 2/ 6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 2/ 6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến 2020
Tác giả: Bộ Chính Trị
Năm: 2005
13. Bộ Công an, (2005), Cẩm nang pháp luật về quyền trẻ em, Cục quản lý trại giam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang pháp luật về quyền trẻ em
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2005
15. Bộ công an, (2013), Báo cáo đánh giá luật pháp và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Cục Cảnh Sát Hình Sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá luật pháp và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Tác giả: Bộ công an
Năm: 2013
16. Bộ Nội vụ (1997), Một số văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1997
17. Bộ Tƣ Pháp, (2012), Báo cáo đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến người chưa thành niên và thực tiễn thi hành, Nxb Tƣ Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến người chưa thành niên và thực tiễn thi hành
Tác giả: Bộ Tƣ Pháp
Nhà XB: Nxb Tƣ Pháp
Năm: 2012
18. Các vấn đề cần quan tâm ở tuổi vị thành niên, Nxb Lao động, Hà Nội (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề cần quan tâm ở tuổi vị thành niên
Nhà XB: Nxb Lao động
19. Lê cảm,( 2011), Học thuyết về tội phạm- những ván đề cơ bản, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết về tội phạm- những ván đề cơ bản
20. Lê Cảm, Đỗ Thị Phƣợng, (2004), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên-những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học, Tòa án nhân dân 20/10 /2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên-những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học
Tác giả: Lê Cảm, Đỗ Thị Phƣợng
Năm: 2004
21. Lưu Ngọc Cảnh, (2010), Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật Hình sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Lưu Ngọc Cảnh
Năm: 2010
28. Chính phủ (2014), Nghị định 02/2014/NĐ-CP “ Quy định áp dụng thi hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định áp dụng thi hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
31. Bùi Thành Chung (2014), Hỏi cung bị can chưa thành niên phạm tội về trật tự xã hội, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi cung bị can chưa thành niên phạm tội về trật tự xã hội
Tác giả: Bùi Thành Chung
Năm: 2014
32. Đỗ Bá Cở (2000), Cảnh sát nhân dân làm việc với trẻ em làm trái pháp luật, Giáo trình Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh sát nhân dân làm việc với trẻ em làm trái pháp luật
Tác giả: Đỗ Bá Cở
Năm: 2000
33. Đỗ Bá Cở (2000), Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay
Tác giả: Đỗ Bá Cở
Năm: 2000
35. Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (2007), Tài liệu tập huấn về công tác điều tra thân thiện với trẻ em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về công tác điều tra thân thiện với trẻ em
Tác giả: Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội
Năm: 2007
38. Nguyễn Chí Dũng, Chữ Văn Chí, (2010), Phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng, Chữ Văn Chí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
39. Lưu Tuấn Dũng (2007), Tội phạm của người chưa thành niên và đặc điểm tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường đại học luật, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm của người chưa thành niên và đặc điểm tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên
Tác giả: Lưu Tuấn Dũng
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm