1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ xã hội học di dân với xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân (nghiên cứu trường hợp tỉnh lai châu)

194 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di dân với xây dựng lực lượng QPTD là một thực tế xã hội, thuộc về tồn tại xã và khuyến nghị Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc và tỉnh Lai Châu Quan điểm, chủ trương, chí

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Vị

Trang 4

DBĐV : Dự bị động viên DQTV : Dân quân tự vệ LLVT : Lực lượng vũ trang NQTƯ : Nghị quyết Trung ương

Trang 5

MỞ ĐẦU 3 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

1.1 Các nghiên cứu về di dân ở nước ngoài 13 1.2 Các nghiên cứu về di dân trong nước 19 1.3 Một số nội dung cơ bản luận án tập trung nghiên cứu 37 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI DÂN VỚI XÂY DỰNG LỰC

2.1 Những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu di dân với xây dựng lực

2.2 Một số quan điểm về xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân 46 2.3 Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu di dân với xây dựng lực

2.4 Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về di dân,

quản lý di dân và xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân 65 Chương 3: DI DÂN VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG

TOÀN DÂN Ở TỈNH LAI CHÂU HIỆN NAY 72 3.1 Đặc điểm di dân và xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân trên địa

3.2 Đặc điểm và hệ lụy xã hội của di dân trên địa bàn tỉnh Lai Châu hiện nay 86 3.3 Di dân và những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng lực lượng quốc

phòng toàn dân ở tỉnh Lai Châu hiện nay 94 Chương 4: ẢNH HƯỞNG CỦA DI DÂN TỚI XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG

QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN Ở TỈNH LAI CHÂU HIỆN NAY

4.1 Ảnh hưởng của di dân tới xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân

4.2 Những vấn đề đặt ra từ thực trạng ảnh hưởng của di dân tới xây dựng

lực lượng quốc phòng toàn dân ở tỉnh Lai Châu hiện nay 128

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 151

Trang 6

Bảng 1.2: Thông tin của người trả lời (Mẫu 2, dành cho cán bộ) 11 Bảng 3.1: Ý kiến của người di cư tự do về các lý do di cư 77 Bảng 3.2: Ý kiến của cán bộ chính quyền, quân sự địa phương về những tộc

người di cư tự do nhiều nhất trong thời gian qua

77

Bảng 3.3: Ý kiến của người di cư về chính quyền, quân sự địa phương thục hiện

tổ chức tuyên truyền ý thức cảnh giác quốc phòng

Bảng 4.3: Ý kiến của cán bộ chính quyền, quân sự địa phương về ảnh hưởng

tích cực, thuận lợi của di dân đến xây dựng lực lượng dân quân tự vệ

116

Bảng 4.4: Ý kiến của cán bộ chính quyền, quân sự địa phương về di dân

ảnh hưởng tiêu cực cho việc tổ chức và huy động lực lượng dân quân tự vệ

117

Bảng 4.5: Ý kiến của cán bộ chính quyền, quân sự địa phương về ảnh hưởng

tiêu cực của di dân đến xây dựng lực lượng dự bị động viên

120

Bảng 4.6: Sự khác nhau về độ tuổi giữa nhóm quân nhân dự bị động viên di

cư có tổ chức và di cư tự do

122

Bảng 4.7: Ý kiến của người di cư về giấy gọi nhập ngũ đối với công dân ở

độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự

126

Bảng 4.8: Tương quan sự tham gia của người di cư với các nội dung xây

dựng lực lượng quốc phòng toàn dân

129

Bảng 4.9: Tương quan ý thức tự giác quốc phòng của người di cư 130 Bảng 4.10: Tình trạng việc làm của người di cư trước và sau di cư 137 Bảng 4.11: Đời sống của gia đình trước và sau di cư 138 Bảng 4.12: Tương quan đời sống của gia đình trước và sau di cư ở loại hình

di cư có tổ chức và di cư tự do

139

Trang 7

Biểu đồ 4.1: Tương quan ý kiến của người di cư về việc chính quyền địa phương

có tổ chức giáo dục, tuyên truyền về ý thức cảnh giác quốc phòng 108 Biểu đồ 4.2: Mức độ ủng hộ người thân trong gia đình tham gia lực lượng

quốc phòng toàn dân của người di cư 111 Biểu đồ 4.3: Sự tham gia ủng hộ xây dựng các công trình quốc phòng của

Biểu đồ 4.4: Ý kiến cán bộ chính quyền, quân sự địa phương về thái độ

tham gia, ủng hộ hoạt động diễn tập quân sự, quốc phòng của

Biểu đồ 4.5: Sự khác nhau giữa loại hình di dân có tổ chức và di dân tự do

trong tham gia hoạt động xây dựng lực lượng dân quân tự vệ

Biểu đồ 4.6: Sự khác nhau trong đăng ký lực lượng dự bị động viên của

quân nhân xuất ngũ giữa di dân có tổ chức và di dân tự do ở tỉnh

Biểu đồ 4.7: Lý do không ủng hộ của gia đình người di cư khi có con, cháu

hoặc người thân tham gia nghĩa vụ quân sự 127 Biểu đồ 4.8: Sự khác nhau giữa di dân có tổ chức và di dân tự do trong tham

gia diễn tập quân sự, quốc phòng ở địa phương Lai Châu 129 Biểu đồ 4.9: Sự khác nhau giữa di dân có tổ chức và di dân tự do trong tham

gia xây dựng các công trình quốc phòng ở địa phương Lai Châu 130 Biểu đồ 4.1: Quan hệ xã hội của người di cư với dân bản địa 133 Biểu đồ 4.11: Hành động của người di cư khi có người đến vận động theo

Biểu đồ 4.12: Lý do không đăng ký khai báo khi di cư ở hai loại hình di dân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di dân là một hiện tượng xã hội phổ biến trong các quốc gia dân tộc và trên phạm vi toàn thế giới, có thể để lại nhiều hệ lụy xã hội và tác động trên nhiều lĩnh vực, chi phối đến sự phát triển và ổn định xã hội, trong đó có quá trình xây dựng quốc phòng, an ninh (QP, AN) của mỗi quốc gia

Việt Nam là một nước có tình hình di dân với nhiều đặc điểm khá nổi bật Từ sau năm 1975 đến nay, di dân nội tỉnh, nội vùng, giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, di dân ra nước ngoài diễn biến đa dạng, phức tạp cả về số lượng, quy mô và tính chất Di dân đã tạo nên sự tăng giảm dân cư cơ học ở các địa phương, khu vực, các vùng miền, tạo nên sự xáo trộn về kinh tế, xã hội, văn hóa nhất định Di dân tạo nên sự phân bố lại dân cư, đi kèm với nó là phân bố lại lực lượng lao động, tạo lợi thế cho khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế, nhất là ở những nơi vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, song di dân cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề xã hội cần phải giải quyết

Là một hiện tượng xã hội, di dân chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh

tế - xã hội, đồng thời cũng để lại những hệ lụy kinh tế - xã hội với tính chất và mức độ khác nhau Sự tác động, gây ra các hệ lụy kinh tế - xã hội của di dân không đơn thuần chỉ là tác động đến xã hội theo chiều cơ cấu (nhân khẩu, mật độ dân số…) mà còn tác động tới tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội (thị trường lao động, văn hóa, môi trường, trật tự, trị an,…) ở các cấp độ khác nhau Trong sự tác động nhiều chiều, nhiều cấp độ của di dân đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, có sự tác động đến lĩnh vực QP, AN

Sự biến động về cấu trúc xã hội do di dân mang lại ảnh hưởng nhất định đến xây dựng

về mặt chính trị - tinh thần, về mặt huy động lực lượng và các tiềm lực cho củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh của đất nước Các thế lực thù địch với đất nước ta đã và đang ra sức lợi dụng tình trạng di dân để cài cắm, móc nối, tạo dựng lực lượng, gây dựng cơ sở chống đối và tận dụng những kẽ hở trong quản lý di dân để kích động và chia rẽ, tạo dựng những sự kiện làm mất ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội, tha hóa văn hóa Các vụ bạo động chính trị ở Tây Nguyên (2001, 2004), gây rối ở Mường Nhé

- Điện Biên, Lai Châu (2011) vừa qua đều có nguyên nhân từ di dân

Lai Châu là một tỉnh biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, dân số và mật độ dân cư thấp; nơi định cư của nhiều tộc người, chủ yếu

là các tộc người thiểu số Tuy nhiên, Lai Châu là địa bàn có tiềm năng to lớn về kinh tế -

Trang 9

xã hội, giữ vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, Lai Châu là địa phương được Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện chiến lược quy hoạch di dân rất lớn để xây dựng các công trình thủy điện quốc gia và của tỉnh Theo thống kê của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lai Châu, năm 2012 tỉnh đã thực hiện di dân 3.579 hộ cho dự án Thủy điện Sơn La, 1.331 hộ cho

dự án Thủy điện Lai Châu và 924 hộ cho dự án Huội Quảng, Bản Chát [dẫn theo 94]

Những năm vừa qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đồng bào cả nước, kinh tế - xã hội của tỉnh Lai Châu có nhiều khởi sắc Chương trình xây dựng khu kinh tế mới, các khu định canh, định cư, hạn chế du canh, du cư được triển khai thu nhiều kết quả, góp phần vào ổn định, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Song, do nhiều nguyên nhân, hiện tượng du canh, du cư, di dân tự do vẫn tiếp diễn, gây nên những khó khăn trong quản lý xã hội, tác động không nhỏ đến phát triển kinh

tế - xã hội, củng cố QP, AN trên địa bàn tỉnh Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu bức thiết cần nghiên cứu sâu hơn về di dân và sự tác động của nó trên các lĩnh vực ở tỉnh Lai

Châu Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: Di dân với xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Lai Châu) làm luận án

tiến sĩ Việc triển khai nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết, một hướng nghiên cứu vừa mang tính cơ bản vừa mang tính ứng dụng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Ngoài

ra, việc thực hiện luận án sẽ góp một phần nhỏ vào phát triển chuyên ngành xã hội học nói chung, đặc biệt là Xã hội học Quân sự ở Việt Nam nói riêng

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu ảnh hưởng của di dân tới xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân (QPTD); trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của di dân đến xây dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận về ảnh hưởng của di dân tới xây dựng lực

lượng QPTD

- Làm rõ đặc điểm di dân và xây dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu hiện nay

Trang 10

- Vận dụng một số lý thuyết xã hội học và học thuyết mác xít về chiến tranh, quân đội, học thuyết, tư tưởng Quân sự Việt Nam vào khảo sát đánh giá, phân tích thực trạng ảnh hưởng của di dân tới xây dựng lực lượng QPTD; xác định những vấn

đề đặt ra; đề xuất khuyến nghị phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của di dân đến xây dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu thời gian tới

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ảnh hưởng của di dân tới xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Người di cư ở tỉnh Lai Châu

- Cán bộ chính quyền và quân sự địa phương (cán bộ xã, trưởng, phó bản, cán bộ cơ quan quân sự của tỉnh Lai Châu)

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung, vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng giữa di dân

với hoạt động xây dựng lực lượng QPTD

Cụ thể là nghiên cứu ảnh hưởng của di dân đến: i) Giáo dục và xây dựng ý thức quốc phòng của người dân; ii) Sự ủng hộ của nhân dân đối với tổ chức và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ (DQTV); iii) Đăng ký, quản lý lực lượng dự bị động viên (DBĐV); iv) Thực hiện nghĩa vụ quân sự của nhân dân

Trong các loại hình di dân, luận án tập trung nghiên cứu loại hình di dân nội tỉnh (bao gồm: di dân có tổ chức và di dân tự do), động cơ di dân, văn hóa tộc người ảnh hưởng tới xây dựng lực lượng QPTD

- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Bốn huyện trọng điểm, nổi bật về di

dân ở tỉnh Lai Châu: Phong Thổ, Tân Uyên, Mường Tè, Sìn Hồ

- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu di dân từ năm 2006 đến nay

4 Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất: Di dân và xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn tỉnh Lai Châu

hiện nay có những đặc trưng gì?

Thứ hai: Thực trạng di dân ảnh hưởng đến việc hoàn thành các nhiệm vụ của

quá trình xây dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu hiện nay như thế nào?

Trang 11

Thứ ba: Những vấn đề đặt ra do ảnh hưởng của di dân đến việc xây dựng lực

lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu hiện nay là gì?

5 Giả thuyết nghiên cứu, các biến số và khung phân tích

5.1 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết thứ nhất: Di dân ở tỉnh Lai Châu hiện nay có sự đa dạng về loại

hình, quy mô lớn, tính chất khá phức tạp với nhiều yếu tố tác động

Giả thuyết thứ hai: Di dân có ảnh hưởng vừa tích cực, vừa tiêu cực tới xây

dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu trên các nhiệm vụ: Giáo dục và xây dựng ý thức quốc phòng của các tầng lớp nhân dân; sự ủng hộ của nhân dân đối với tổ chức

và hoạt động của lực lượng DQTV; đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV; sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nghĩa vụ quân sự

Giả thuyết thứ ba: Các loại hình di dân, cấu trúc dân tộc, tôn giáo, điều kiện

sống của người di cư và công tác quản lý di dân là những yếu tố có ảnh hưởng đến

xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn tỉnh Lai Châu hiện nay

5.2 Các biến số

Biến độc lập: Các loại hình di dân; đặc điểm của di dân

- Các loại hình di dân:

+ Di dân có tổ chức bao gồm: (Di dân phục vụ xây dựng thủy lợi, thủy điện;

di dân phòng tránh thiên tai, sạt lở đất, lũ quét; di dân ổn định vùng biên giới)

+ Di dân tự do bao gồm: (Di dân do đất đai bạc màu sạt lở; di dân theo tập quán canh tác; di dân vì nghèo đói; di dân do yếu tố tôn giáo tác động)

- Các đặc điểm di dân gồm: Tuổi, giới tính, học vấn, tôn giáo, dân tộc

Biến phụ thuộc: Hoạt động xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn Lai Châu:

- Giáo dục và xây dựng ý thức quốc phòng: (Giáo dục về ý thức cảnh giác quốc phòng; ý thức quốc phòng của người di cư; tham gia các hoạt động xây dựng lực lượng QPTD của địa phương)

- Tổ chức và hoạt động của lực lượng DQTV: (Có hay không tham gia lực lượng DQTV trước và sau di cư; ý thức của người di cư khi có anh em, con cháu tham gia lực lượng DQTV)

- Đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV: (Có hay không đăng ký, quản lý lượng

dự bị động viên ở địa phương của người di cư)

Trang 12

- Thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân: (Đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự; có giấy gọi nhập ngũ trước hay sau di cư đối với người ở độ tuổi nhập ngũ)

Biến can thiệp: Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc và tỉnh Lai

Châu; Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý di dân; về xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn Lai Châu

5.3 Khung phân tích

6 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở lý luận, phương pháp luận

- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử trong phân tích di dân với xây dựng lực lượng QPTD hiện nay Di dân với xây dựng lực lượng QPTD là một thực tế xã hội, thuộc về tồn tại xã

và khuyến nghị

Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội vùng

Tây Bắc và tỉnh Lai Châu

Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về

quản lý di dân; về xây dựng lực lượng QPTD

- Giáo dục, xây dựng ý thức quốc phòng

- Tổ chức và hoạt động của lực lượng DQTV

- Đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV

- Thực hiện nghĩa vụ quân sự của người dân

Trang 13

hội Quá trình quản lý, xây dựng lực lượng QPTD thuộc về thượng tầng kiến trúc Quá trình xây dựng lực lượng QPTD trên phạm vi cả nước nói chung và ở địa bàn Lai Châu nói riêng sẽ đạt hiệu quả cao nếu biết đánh giá đúng tình hình thực trạng

di dân và những tác động nhiều chiều của nó đến xây dựng lực lượng QPTD

- Luận án vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về xã hội, phát triển xã hội, về xây dựng lực lượng QPTD và những vấn đề về di dân để phân tích tác động của di dân tới xây dựng lực lượng QPTD

- Luận án ứng dụng các lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu di dân; học thuyết mác xít về chiến tranh và quân đội; học thuyết, tư tưởng Quân sự Việt Nam trong nghiên cứu về xây dựng nền QPTD

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Tiến hành thu thập, phân tích các tài liệu, số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án gồm:

- Thu thập, phân tích số liệu, tài liệu về di dân trên địa bàn Lai Châu từ năm

2006 đến nay

- Thu thập, phân tích các báo cáo về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; về QP, AN; về công tác xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn Lai Châu từ 2006 đến nay Các báo cáo được thu thập chủ yếu từ LLVT quân đội tỉnh, UBND tỉnh, Tỉnh ủy Lai Châu và các ban ngành, các huyện, xã trong mẫu khảo sát

6.2.2 Phương pháp định tính

Phỏng vấn sâu 20 người bao gồm: Cán bộ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy

Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu; cán bộ huyện, ban chỉ huy quân sự các huyện và một

số đồn biên phòng; cán bộ xã, trưởng bản trong mẫu khảo sát với số lượng là 10 người Người di cư bao gồm cả di cư có tổ chức và di cư tự do với số lượng là 10 người

6.2.3 Phương pháp định lượng

Điều tra bằng phiếu hỏi với số lượng 600 phiếu, bao gồm: Người di cư (400 phiếu); cán bộ, chiến sĩ quân đội trên địa bàn tỉnh Lai Châu, cán bộ xã, trưởng, phó bản của các xã được chọn (200 phiếu)

Bảng hỏi được phân ra làm 2 loại/mẫu Trong đó, mẫu 1 dành cho người di

cư; mẫu 2 dành cho cán bộ chính quyền và cán bộ, chiến sĩ quân đội

Trang 14

6.2.4 Mẫu nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu

Cách thức lấy mẫu: Để thu thập thông tin được thuận lợi và có tính đại diện cao, việc sử dụng các phương pháp thích hợp để chọn mẫu nghiên cứu là hết sức quan trọng Đối với luận án, theo các nguồn ý kiến của lãnh đạo tỉnh, huyện, cán bộ quân sự các cấp, các lực lượng thì di dân nội tỉnh trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong hơn một thập

kỷ gần đây, loại hình di dân có tổ chức chiếm số lượng đông hơn so với loại hình di dân tự do và các loại hình di dân khác Và cho đến nay, chưa có số liệu thống kê để khẳng định so sánh giữa di dân có tổ chức và di dân tự do Nhưng, xuất phát từ lý do nghiên cứu, tác giả luận án chọn mẫu nghiên cứu có chủ đích bằng nhau (200 người di

cư có tổ chức và 200 người di cư tự do) để so sánh giữa hai loại hình di dân này có ảnh hưởng như thế nào đến xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn tỉnh Lai Châu hiện nay

Tuy nhiên trong các huyện và các xã được chọn, căn cứ theo địa bàn và danh sách người di cư, luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để chọn mẫu nghiên cứu Cụ thể:

Với tính đặc thù di dân trên địa bàn tỉnh Lai Châu, luận án chọn ra 4 huyện để nghiên cứu đó là, huyện Phong Thổ, Tân Uyên, Mường Tè và Sìn Hồ Đây là những huyện có số lượng di dân nội tỉnh đông nhất, bao gồm cả di dân có tổ chức và di dân tự do Mỗi huyện chọn ngẫu nhiên một xã, bao gồm các xã: Mường So (Phong Thổ); Trung Đồng (Tân Uyên); Mường Tè (Mường Tè); Nậm Tăm (Sìn Hồ) Từ danh sách từng hộ gia đình di cư (do chính quyền xã cung cấp) của các xã được chọn, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống có khởi đầu ngẫu nhiên để chọn ra mỗi xã 100 người (chọn mỗi

hộ 1 người từ đủ 18 tuổi trở lên) Trước hết cần xác định khoảng cách mẫu theo công thức:

K = Tổng thể/dung lượng mẫu = Tổng thể/100 người

Xác định đơn vị mẫu đầu tiên theo phương pháp ngẫu nhiên, sau đó cứ cách K người thì chọn một người sao cho thu về đủ khối lượng mẫu ở mỗi xã là 100 người

Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội trên địa bàn tỉnh Lai Châu, cán bộ huyện, xã, trưởng bản của các xã được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích với dung lượng là 200 người, trong đó cán bộ, chiến sĩ quân đội là 100 người Cán bộ huyện,

xã, trưởng, phó bản là 100 người, (mỗi huyện chọn 5 cán bộ x 4 huyện = 20 cán bộ

Trang 15

huyện; mỗi xã chọn 10 cán bộ x 4 xã = 40 cán bộ xã; mỗi xã chọn 5 bản x 4 xã = 20 bản, mỗi bản chọn 2 cán bộ x 20 bản = 40 cán bộ bản) Với mong muốn so sánh giữa hai lực lượng, cán bộ chính quyền và cán bộ quân đội đánh giá như thế nào về ảnh hưởng của di dân tới xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn tỉnh Lai Châu hiện nay

Đặc điểm mẫu khảo sát:

Bảng 1.1: Thông tin của người trả lời (Mẫu 1 dành cho người di cư)

Nội dung thông tin người trả lời Số lượng Tỉ lệ %

Giới tính của người trả lời

Trang 16

Bảng 1.2: Thông tin của người trả lời (Mẫu 2, dành cho cán bộ)

Nội dung thông tin người trả lời Số lượng Tỉ lệ %

7 Điểm mới của luận án

- Luận án đầu tiên tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận và thực tiễn tương quan giữa di dân với xây dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu dưới góc

độ tiếp cận xã hội học; góp phần luận giải và làm sáng tỏ về những tác động nhiều chiều của di dân trên các mặt, các lĩnh vực của quá trình xây dựng lực lượng QPTD

- Luận án xác định những vấn đề đặt ra và các yếu tố tác động của di dân đối với xây dựng lực lượng QPTD; trên cơ sở đó luận án xác định mục tiêu, nhiệm vụ

và định hướng, khuyến nghị một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của di dân trên địa bàn Lai Châu trong thời gian tới

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

8.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận án góp phần làm rõ lý luận về di dân với xây dựng lực lượng QPTD trong tình hình hiện nay

Trang 17

- Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Xã hội học nói chung và chuyên ngành Xã hội học quân sự nói riêng

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận án là tài liệu tham khảo tốt cho LLVT nói chung, cho các đơn vị quân đội nói riêng và các cơ quan, ban, ngành chức năng có liên quan đến việc xây dựng, củng cố QP, AN và xây dựng nền QPTD trong phạm vi cả nước Ngoài ra, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học xã hội có liên quan đến vấn đề di dân, vấn đề QP, AN, xây dựng nền QPTD

- Góp phần nâng cao nhận thức cho LLVT, các ban ngành, đoàn thể của địa phương trong công tác quản lý dân cư, trong công tác QP, AN và trong xây dựng lực lượng QPTD

- Các kiến nghị, định hướng giải pháp của luận án đề xuất có thể được vận dụng vào thực tiễn quản lý dân cư nói chung và di dân nói riêng; vận dụng vào thực tiễn hoạt động xây dựng nền QPTD trên địa bàn Lai Châu

9 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương (12 tiết)

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DI DÂN Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Hướng nghiên cứu về lý thuyết di dân

Vào những thập kỷ 60, 80 của thế kỷ XX ở Phương Tây đã xuất hiện một số nhà nghiên cứu đề xuất lý thuyết về di dân được tiếp cận từ nhiều ngành khoa học khác nhau như, Ravenstein E.G, Everett S Lee, Piore Michael J, Arthus Lewis, Michael P Todaro, Zlotnik H, Immanuel Wallerstein, Brettel Caroline B, James F Hollifield, P Shaw, A Rogers và D Massey, Stark, S Chant… Trong đó, Ravenstein E.G là người

mở đầu xây dựng lý thuyết xã hội học di dân với công trình “Quy luật của di dân” (The Laws of Migration) [133] Sau khi trình bày những dữ liệu và sự kiện khổng lồ về các quá trình di dân ở nước Anh, Ravenstein E.G nhận thấy các cuộc di dân có mối quan hệ

đến quy mô dân số, mật độ và khoảng cách di chuyển và ông đã rút ra bảy quy luật của

di dân: (1) Quy mô di dân tỉ lệ thuận với dân số gốc nơi xuất cư; (2) Đối với mỗi luồng

di dân đều có những luồng di chuyển ngược để bù lấp; (3) Phần lớn những cuộc di dân chỉ diễn ra trên một khoảng cách ngắn; (4) Trong một quốc gia, dân gốc thành thị thường ít di chuyển hơn so với dân các vùng nông thôn; (5) Động lực chính của di dân

là động cơ kinh tế; (6) Sự di chuyển từ vùng sâu, vùng xa vào thành thị phần lớn diễn

ra theo các giai đoạn; (7) Phần lớn nữ giới di dân theo khoảng cách ngắn hơn so với nam giới Lý thuyết “Quy luật di dân” của Ravenstein E.G, về sau, đã được một số tác giả kế thừa nghiên cứu phát triển thêm, điển hình như Todaro [135] cho rằng, nơi nào

có điều kiện kinh tế tốt hơn sẽ khiến người di cư chuyển về nơi đó mạnh mẽ

Kế thừa và phát triển lý thuyết di dân của Ravenstein E.G, trong công trình

nghiên cứu A Theory of Migration (Lý thuyết di dân), Everett S Lee [128] đã xây dựng lý thuyết lực hút, lực đẩy để giải thích nguyên nhân của sự di dân, đồng thời

phân loại các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dịch chuyển dân cư Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, động lực di dân bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội ở các cấp độ khác nhau, song có bốn yếu tố cơ bản quyết định di cư: (1) Những yếu tố liên quan đến nơi xuất cư và nơi nhập cư; (2) Các yếu tố trung gian

Trang 19

ngăn chặn sự chuyển cư giữa nơi đến và nơi đi mà di dân phải vượt qua; (3) Vai trò của các yếu tố cá nhân mang tính đặc thù của người di cư vì nhiều lý do khác nhau; (4) Những lý do có thể hình thành và gây ảnh hưởng ở nơi đi hay nơi đến Diễn tả

một cách vắn tắt thì lý thuyết này nhấn mạnh đến yếu tố lực đẩy của nơi xuất cư do điều kiện sống khó khăn và yếu tố lực hút của nơi đến do ở đó có điều kiện sống

thuận lợi hơn Lý thuyết này có nghĩa rất quan trọng trong việc mô tả, giải thích các hiện tượng di dân không chỉ đối với loại hình di dân quốc tế mà còn có ý nghĩa với

cả các loại hình di dân nội địa, di dân nội vùng, ngoại vùng và di dân nội tỉnh ở các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng lý thuyết này vào thực tế

nghiên cứu mô hình lý thuyết lực hút, lực đẩy chưa được khai thác hết và chưa chỉ

ra được tính đa dạng, nhiều chiều của lý thuyết Bởi vì trên thực tế di dân với các loại hình đa dạng không chỉ do lực hút, lực đẩy được cho là xuất phát từ yếu tố kinh

tế, hay thể chế chính trị làm cho cộng đồng đó di cư, mà còn có sự ảnh hưởng của các yếu tố khác như là yếu tố tập quán di cư

Để lý giải cho việc di chuyển lao động từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất công nghiệp ở một nước mới công nghiệp hóa, Arthus Lewis, đã đưa ra lý thuyết “Mô hình khu vực kép” (Dual Sector model) [130] Lý thuyết này được xem như là khung mẫu chung cho quá trình phát triển của các nước dư thừa lao động Theo

mô hình này thì trong nền kinh tế chỉ tồn tại hai khu vực: (1) Khu vực kinh tế nông thôn truyền thống với phổ biến là lao động thủ công, tồn tại nhiều lao động dư thừa; (2) Khu vực thành thị công nghiệp hiện đại với sự tập trung nhiều ngành sản xuất chế biến hiện đại Đây là khu vực có nhu cầu tăng thêm lao động để phục vụ tốc độ phát triển sản xuất Do đó tất yếu có sự dịch chuyển lao động từ nơi dư thừa lao động đến nơi có nhu cầu cần lao động, đây cũng chính là yếu tố thúc đẩy các dòng di cư

Đóng góp vào sự phát triển các lý thuyết về di dân còn phải kể đến những nhà nghiên cứu như, Brettell Caroline B and James F Hollifield với công trình

Migration theory: Talking across discipline (Lý thuyết di dân: Thảo luận liên

ngành), đã trình bày về nguồn gốc di dân trong lịch sử, các vấn đề về nhân khẩu học, kinh tế học, xã hội học, nhân chủng học, chính trị học và pháp luật mang tính liên

ngành khi tìm hiểu về di dân [126] Zlotnick H, trong công trình The Concept of

Trang 20

International Migration as Reflected in Data Collection System (Khái niệm về di

dân quốc tế như được thể hiện trong hệ thống thu thập dữ liệu) [136], đã cung cấp phương pháp nghiên cứu định lượng về di dân qua các dữ liệu thống kê Ngoài ra, các lý thuyết như: Tân cổ điển, kinh tế học di dân, thị trường lao động phân đoạn, nhân quả tích lũy… Đều được đánh giá về khả năng ứng dụng trong nghiên cứu thực nghiệm về di dân, khả năng hỗ trợ lẫn nhau khi tiếp cận thực chứng

Các nghiên cứu trên đã giúp hình thành nên khung lý thuyết cơ bản có ý nghĩa cho nghiên cứu về các loại hình di dân trên thế giới nói chung và ở các quốc gia, dân tộc nói riêng trong đó có Việt Nam

1.1.2 Các nghiên cứu về di dân trong xu thế toàn cầu hóa và yếu tố của thời đại Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế có tác động sâu sắc (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến sự phân công lao động quốc tế, khu vực, đến sử dụng nguồn nhân lực và

từ đó thúc đẩy các dòng di dân, nhất là di dân quốc tế dưới loại hình di dân lao động

là chủ yếu Các quốc gia ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipines,… có tốc độ đô thị hóa cao nên chịu tác động của toàn cầu hóa sâu sắc và của di dân quốc tế Ở đó, việc quản lý xuất cư và nhập cư, hợp tác giữa các quốc gia về quản lý di dân cũng như những tác động của nó đối với phát triển luôn là những ưu tiên hàng đầu cho những nghiên cứu về di dân

Nhiều nghiên cứu về di dân dưới tác động của toàn cầu hóa là các bài viết,

chuyên khảo về dịch chuyển lao động giữa các quốc gia Nghiên cứu Spatial Patterns of Migration under China’s Reform Period (Khuôn mẫu không gian của di

dân trong thời kỳ cải cách của Trung Quốc) của Cai F đã mô tả những mô hình di dân quốc tế trong thời kỳ cải cách, mở cửa ở Trung Quốc khác với thời kỳ mô hình kinh tế “kế hoạch hóa tập trung”, bao gồm cả di dân có thời hạn và di dân không thời hạn, di dân trong nước và di dân quốc tế [129] Ở Nhật Bản trong bối cảnh toàn

cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, Hội thảo quốc tế về di dân quốc tế và phát triển nguồn nhân lực của các nước thành viên APEC (Nhật Bản, 01/2000) đã thu hút nhiều nhà

khoa học nghiên cứu về di dân quốc tế, di cư lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa ở các nước phát triển và đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á Nghiên cứu về

International migration - The Case of Indonesia (Di dân quốc tế - Trường hợp

Trang 21

Indonesia) của Nazara Suohsil, đã cho thấy Indonesia xuất khẩu nhiều lao động trong vài thập kỷ gần đây Lao động xuất khẩu của Indonesia có lợi thế đối với các nước Trung Đông là sự gần gũi về mặt văn hóa Hồi giáo, do đó số lượng lao động xuất khẩu sang các quốc gia trong khu vực này nhiều hơn [dẫn theo 48, tr.9]

Hiện tượng di cư quốc tế ở Đông Nam Á cũng được các nhà nghiên cứu quan

tâm Nghiên cứu về Lưu động, di cư và nghèo khó ở Đông Nam Á, của Michel

Bruneau đã chỉ ra rằng, Đông Nam Á là một trong những vùng cung cấp nhân công theo hợp đồng lớn nhất trên thế giới, trong đó Philippine là quốc gia đứng đầu với 9% dân xuất khẩu lao động sống ở nước ngoài [88, tr.12]

Đáng chú ý là nghiên cứu về International Migration and Labor in South Korea (Di dân quốc tế và Lao động ở Hàn Quốc) đề cập đến tình trạng lao động nhập

cư vào Hàn Quốc, chủ yếu từ Trung Quốc, Philippines, Việt Nam,… Các dòng nhập

cư lao động này giúp cấu trúc lại nguồn lao động, nhưng cũng làm nảy sinh nhiều vấn

đề về quản lý người nhập cư, điển hình là tình trạng không thực hiện đúng hợp đồng lao động, truyền giáo và du nhập văn hóa bên ngoài vào Hàn Quốc [dẫn theo 48, tr.10] Các nghiên cứu về di dân trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng đề cập đến vai trò của kiều hối (tiền gửi về nhà) đối với sự phát triển xã hội ở các nước xuất khẩu lao

động Tại Hội thảo quốc tế về di cư lao động quốc tế do Viện Nghiên cứu Lao động

Tokyo tổ chức (02/2004) đã có nhiều tham luận bàn về kiều hối của người lao động

và vai trò của nó đối với phát triển nông thôn; xóa đói giảm nghèo; bảo đảm sinh kế; cải thiện các nhu cầu của cuộc sống ở các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Á Điển hình

là nghiên cứu Workers’s Remittances and its impact on rural development in the Philippines (Kiều hối của người lao động và vai trò của nó trong sự phát triển nông thôn Philippines) của Alvin P.Ang [dẫn theo 48, tr.10] Trend, issues and policies towards international labor migration: An Indonesia case study (Các xu hướng, vấn

đề và chính sách đối với lao động và di cư quốc tế: Nghiên cứu trường hợp Indonesia) của Carunia Mulya Fisdausy [dẫn theo 48, tr.10]

Ngoài ra, còn có những nghiên cứu về quan hệ quốc tế nảy sinh từ quá trình di dân quốc tế, hệ thống chính sách của các nhà nước can thiệp vào di dân để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các dòng di cư,… Các nghiên cứu như:

Trang 22

Cooperation in managing labor migration in a globalizing world (Hợp tác quản lý di

cư lao động trong một thế giới toàn cầu hóa) của Manolo Albela [125] Labor migration in Asia: Trend, challenges and policy responses in coutries of origin (Di cư

lao động ở châu Á: Những xu hướng, thách thức và phản ứng chính sách của các quốc gia có người di cư) của International Organization for Migration [dẫn theo 48, tr.11], đã chỉ ra nhu cầu quản trị toàn cầu, đặc biệt là vai trò của các định chế quốc tế như Tổ chức Di cư quốc tế (International Organization for Migration - IOM) hoặc Tổ chức Lao động quốc tế (International Labor Organization - ILO)… Các định chế quốc tế này có vai trò quan trọng trong xây dựng các công ước, khung thể chế cho ứng xử giữa các quốc gia đối với lao động nhập cư, chống phân biệt, đối xử, đảm bảo quyền con người, quyền lao động vừa phù hợp với luật pháp của nước sở tại, vừa thực hiện các cam kết quốc tế về quyền lao động di cư Ngoài vai trò của các định chế quốc tế, các nghiên cứu còn nhấn mạnh đến sự cần thiết hợp tác giữa các nước trong quản lý xuất cư và nhập cư, nhất là kiểm soát tình trạng buôn bán người, phụ nữ và

vượt biên Ví dụ như: Some Consequences of International Labor Migration in Southeast Asia (Một số tác động của di cư lao động quốc tế ở Nam Á) của Anata Aris; Transnational Networks and Skilled Migration (Mạng lưới xuyên quốc gia và di

dân có tay nghề) của Vertovec Steven [dẫn theo 48, tr.11] Các nghiên cứu này đề cập đến di dân lao động có tay nghề và yêu cầu sự can thiệp chính sách của các nhà nước trong việc đào tạo tay nghề ở nước xuất cư; các hệ quả tiêu cực của di cư cần có chính sách khắc phục kịp thời của các quốc gia có người di cư

Di dân trong bối cảnh toàn cầu hóa thường được đề cập dưới góc độ di dân lao động quốc tế và di dân hôn nhân quốc tế là nhiều hơn cả Ở khu vực Đông Nam Á và Bắc Á còn có trường hợp di dân quốc tế do yếu tố đồng tộc, tộc người, nhất là các quốc gia có đường biên giới chung và nhiều tộc người người thiểu số như Việt Nam, Lào, Trung Quốc,… Các nghiên cứu về di dân trong các mối quan hệ đồng tộc, tộc

người này đã được các nhà nghiên cứu Trung Quốc tiến hành như: Vấn đề di cư bất hợp pháp khu vực dân tộc biên giới Vân Nam và giải pháp quản lý của Lỗ Cương do

Nhà xuất bản Bắc Kinh ấn bản [dẫn theo 48, tr.13] Nghiên cứu này đã làm rõ những đặc trưng, loại hình, thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng di dân bất hợp pháp ở

Trang 23

khu vực biên giới Vân Nam, làm rõ những ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực quản lý vấn đề di cư bất hợp pháp ở khu vực này Từ một góc nhìn khác về ảnh hưởng của di

cư quốc tế có yếu tố đồng tộc, tộc người với vấn đề văn hóa của người di cư bất hợp

pháp, trong bài viết Ảnh hưởng văn hóa xã hội của các tộc người di cư Vân Nam của

Thương Minh [dẫn theo 48, tr.13-14], đã diễn giải rằng, quá trình di cư mang tính chất đồng tộc, tộc người đã giúp cho các tộc người có cơ hội giao lưu văn hóa, qua đó

đã khiến cho các dòng văn hóa không cùng nguồn gốc có hội giao lưu và tiếp biến văn hóa, gặp gỡ, hòa hợp đi đến thống nhất trong cùng một khu vực Điều đó cũng có thể dẫn đến mâu thuẫn thậm chí là xung đột, đối kháng với các tập tục văn hóa truyền thống của cư dân bản địa hoặc cư dân đến trước

Nhìn nhận về di cư của tộc người thiểu số và vai trò lịch sử của nó, các nhà nghiên cứu xã hội Trung Quốc đã chỉ ra đặc điểm nổi bật là dòng di cư của người Hán tới các khu vực biên giới và các khu vực tộc người thiểu số vùng biên; hay dòng di cư của tộc người thiểu số trong các vùng lãnh thổ khác nhau Quá trình di

cư của các tộc người thiểu số, theo các học giả Trung Quốc, đều có ý nghĩa tích cực trong duy trì và đảm bảo sự ổn định QP, AN ở các khu vực biên giới, vùng dân tộc thiểu số [dẫn theo 48]

Ngoài yếu tố đồng tộc, tộc người nêu trên, vấn đề di dân dưới hình thức hôn nhân xuyên biên giới và quản lý di dân xuyên biên giới bất hợp pháp cũng được các nhà nghiên cứu xã hội Trung Quốc đề cập khá sâu sắc Ví dụ, nghiên

cứu về Di dân bất hợp pháp dưới hình thức hôn nhân xuyên biên giới và an ninh Trung - Việt (Nghiên cứu trường hợp 4 thành phố biên giới Quảng Tây) của

Trương Khiết [dẫn theo 48, tr.13-14], đã chỉ ra thực trạng di dân bất hợp pháp dưới hình thức hôn nhân xuyên biên giới ở một số huyện biên giới của Quảng Tây - Trung Quốc sau khi Trung - Việt bình thường hóa quan hệ vào năm 1991 Trong các dòng di cư hôn nhân xuyên biên giới này có sự hiện diện của tình trạng nhập cư và cư trú bất hợp pháp tương đối phổ biến dưới hình thức hôn nhân xuyên biên giới Điều này đã dẫn tới hàng loạt các vấn đề xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết trong hoạch định chính sách, chiến lược đối ngoại hợp tác giữa hai quốc gia Trung - Việt Để quản lý các dòng di cư xuyên biên giới bất hợp

Trang 24

pháp này hai quốc gia cần có chung quan điểm trong xử lý, hợp tác và chia sẻ trong quản lý, tạo khung pháp lý thống nhất, hợp tác, ký kết song phương trong giải quyết vấn đề di dân, hôn nhân xuyên biên giới bất hợp pháp, hợp tác lao động di dân mùa vụ,… Trên cơ sở đó mở rộng hợp tác mang tính khu vực giữa Đông Nam Á với Trung Quốc trong vấn đề quản lý di dân

Có thể thấy, các nghiên cứu trên đã cho bức tranh chung về hiện tượng di dân trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong đó điển hình là di dân quốc tế với nhiều loại hình đa dạng từ di dân lao động quốc tế đến di dân do yếu tố hôn nhân nước ngoài; di dân có yếu tố đồng tộc và tộc người; tác động của di dân quốc tế đối với sự hòa nhập xã hội, tiếp biến khuôn mẫu văn hóa; vấn đề di dân với xóa đói giảm nghèo; di dân với vấn đề xung đột xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia trong xu thế hội nhập quốc tế Ngoài ra, các đánh giá về vai trò của di dân quốc tế đối với các quốc gia, khu vực trên thế giới cũng được đề cập đến như là giải quyết tình trạng thừa, thiếu lao động, mất cân bằng giới tính, kiều hối, đảm bảo sinh kế, các vấn đề sức khỏe, sự hòa nhập xã hội của người di

cư, chống tình trạng buôn bán, trẻ em,… giữa các quốc gia nhập cư và xuất cư

Điểm luận các nội dung, hướng nghiên cứu về di dân ở ngoài nước, giúp cho luận án có được tri thức và phương pháp tìm hiểu các loại hình di dân ở trong nước

và ảnh hưởng của di dân đến các hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó

có sự ảnh hưởng đến xây dựng nền QPTD, điển hình là ảnh hưởng đến xây dựng lực lượng QPTD ở nước ta hiện nay

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DI DÂN TRONG NƯỚC

1.2.1 Những nghiên cứu về di dân ở Việt Nam từ góc độ lý thuyết và phương pháp

Các nghiên cứu về di dân ở Việt Nam từ góc độ lý thuyết chủ yếu được lồng ghép trong các giáo trình giảng dạy về dân số, xã hội học dân số và một số công trình nghiên cứu thực nghiệm về di dân

Trong giáo trình Xã hội học dân số, tác giả Đặng Nguyên Anh đã chỉ ra

những khía cạnh cần lưu ý khi nghiên cứu về di dân như, cần làm rõ bản chất của hiện tượng di dân, phân biệt hiện tượng di dân với các hiện tượng khác của dân số như hiện tượng sinh đẻ, tử vong [9, tr.135] Cần xem xét các dấu hiệu di chuyển dân

số để xác định đâu là hành vi di dân và đâu không phải là hành vi di dân, bởi vì

Trang 25

trong dân cư luôn có một bộ phận di chuyển từ nơi này đến nơi khác vì mục đích khác nhau, nhưng không phải bộ phận di chuyển nào cùng là di dân [60]

Theo Đặng Nguyên Anh, việc làm rõ các khái niệm di dân không nhất thiết phải tuân thủ theo một định nghĩa nhất định, mà nó tùy thuộc vào mục tiêu và hướng phân tích của người nghiên cứu để đưa ra khái niệm cho phù hợp, cần phải bám vào những tiêu chí không gian, thời gian để xác định nội hàm khái niệm [9] Ngoài ra, trong việc thiết lập khái niệm cần phải khẳng định mối quan hệ giữa di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới, nghĩa là xác định loại hình di dân cụ thể [39] Trong xây dựng khái niệm di dân cần phải chú đến hai yếu tố cấu thành di dân

là xuất cư và nhập cư [9]

Di dân là một hiện tượng xã hội vừa đa dạng về loại hình, vừa phức tạp về tính chất, cường độ di cư, ở mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi địa phương tồn tại đa dạng loại hình di dân, do đó cần phải phân loại di dân [8] Đồng thời phải chỉ ra được những nguyên nhân, yếu tố tác động đến di dân [39]

Về phương pháp nghiên cứu di dân và sự ứng dụng các lý thuyết trong nghiên cứu di dân ở Việt Nam Các nghiên cứu về di dân đều cho rằng, để đánh

giá vấn đề di dân cần phải nắm được các nguồn số liệu thông qua điều tra dân số, thống kê dân số và thực hiện bằng phương pháp đánh giá trực tiếp, hoặc phương pháp đánh giá gián tiếp [60] Đánh giá di dân cần thông qua 3 nguồn số liệu chính: (i) Các loại sổ sách liên quan đến sự di chuyển (thông qua hệ thống đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, xuất nhập cảnh), (ii) Tổng điều tra dân số, (iii) Khảo sát chọn mẫu [9] Trong nghiên cứu của Bhaskar D Misra cho rằng, những phương pháp đánh giá di dân trực tiếp được sử dụng để phân tích di dân từ những số liệu trực tiếp về

nó Có thể có được những số liệu trực tiếp trong các thống kê thu thập được qua các cửa khẩu quốc tế, những thống kê thu được từ các sổ đăng ký dân cư, kiểm kê dân số, nghiên cứu di dân và những nghiên cứu khác qua mẫu [18] Những phương pháp gián tiếp đánh giá di dân gồm có đánh giá phần dân cư thay đổi mà không thể quy được cho sự gia tăng tự nhiên [98]

Trong nghiên cứu về Di cư trong nước, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam (2010) của Liên hợp quốc tại Việt Nam, các nhà

Trang 26

nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các phân tích về di dân trong nước ở Việt Nam trong báo cáo của họ phần lớn các số liệu định lượng được lấy từ các cuộc điều tra Dân số và nhà ở năm 1999 và năm 2009 và điều tra mức sống hộ gia đình năm 1992, 1998 và năm 2004 Các số liệu thường mang tính đại diện cho tổng thể toàn bộ dân số nên chưa có hoặc ít những dữ liệu chuyên sâu về di dân Các kết quả đánh giá, nhận định về di dân cũng chưa bao quát hết được các chiều cạnh xã hội, kinh tế của di dân [97] Điều này cho thấy, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về di dân để có những đánh giá và cung cấp thông tin cho quá trình hoạch định chính sách

Về ứng dụng các lý thuyết và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu di dân

hiện nay Nghiên cứu Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi đã chỉ ra rằng, nghiên cứu di dân trên thế giới mới chỉ bắt đầu

dưới thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa ở phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau như kinh tế học, xã hội học, nhân học, dân số học, Các

lý thuyết được vận dụng góp phần giải thích cho các dòng di dân khác nhau, song hầu hết các lý thuyết về di dân đều tập trung trả lời câu hỏi là: Tại sao người dân chuyển cư, các nhân tố nào dẫn đến quyết định chuyển cư, tại sao trong những hoàn cảnh khó khăn, người di cư vẫn tồn tại vươn lên, di dân có tính tuyển chọn như thế nào, có sự khác biệt cơ bản nào giữa người di cư và người ở lại, mối liên hệ giữa các cộng đồng di dân như thế nào [7]

Trong công trình nghiên cứu về Một số lý thuyết về di dân trên thế giới hiện nay, tác giả Doãn Hùng đã luận giải rằng, di dân là một vấn đề có tính quy luật, việc

lựa chọn các lý thuyết trên thế giới phải giải quyết được nguồn gốc, động lực của vấn đề di dân để trả lời cho các câu hỏi: Tại sao người ta lại di cư, các yếu tố tác động đến di cư như thế nào và các hình thức di cư ra làm sao Hơn nữa, trong bối cảnh xã hội hiện tại, con người di dư không vì đơn thuần vì mục đích nâng cao điều kiện cuộc sống mà còn có sự tác động của nhiều yếu tố văn hóa, tộc người, tôn giáo… Do đó, việc lựa chọn các lý thuyết trong nghiên cứu về di cư đòi hỏi phải quyết được mối quan hệ giữa các vấn đề trên [63] Di dân trên thế giới nói chung và

ở Việt Nam nói riêng hiện diện ở nhiều loại hình di dân, do đó rất cần thiết phải có phương pháp tiếp cận phù hợp, vừa thể hiện tính chuyên ngành ở mỗi lĩnh vực

Trang 27

nghiên cứu, vừa có sự hợp tác trong nghiên cứu liên ngành để làm rõ những vấn đề, khía cạnh xã hội của di dân [48]

Điểm luận những nghiên cứu về mặt phương pháp luận và sự ứng dụng các

lý thuyết trong nghiên cứu về di dân ở Việt Nam, giúp cho tác giả có phương hướng

và sự kế thừa trong chọn lọc lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu về di dân với xây dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu, một địa bàn có vị trí chiến lược về xây dựng nền QPTD với nhiều loại hình di dân đa dạng

1.2.2 Những nghiên cứu về thực trạng di dân qua một số cuộc điều tra dân số nhà ở và di dân

Các nghiên cứu về thực trạng di dân trong nước được biết đến như, điều tra

về di cư, điều tra về dân số, nhà ở được tiến hành theo các giai đoạn, thời điểm do Nhà nước tiến hành; các công trình nghiên cứu, các bài viết chuyên sâu về thực trạng di dân,… Có thể kể đến các nghiên cứu như:

Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 do Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số

Liên hợp quốc tiến hành Đây là cuộc điều tra đã được tiến hành ở 11 tỉnh/thành phố

và được xếp đại diện cho 5 khu vực Cuộc điều tra được tiến hành với số lượng mẫu, gồm 10.000 cuộc phỏng vấn (trong đó 5.000 phỏng vấn người di cư và 5.000 phỏng vấn người không di cư), được chia đều cho các khu vực

Kết quả điều tra cho thấy khoảng 60% người di cư nam và 66% người di cư

nữ ở độ tuổi 15-29 Phần lớn người di cư phải thuê nhà để ở Khoảng 33% người di

cư và 34% người không di cư đã học xong lớp 10 hoặc cao hơn Người di cư là nam nói chung có trình độ học vấn cao hơn so với người di cư là nữ

Về nơi cư trú của người di cư Kết quả điều tra di cư cho thấy, có hai xu hướng liên quan rất rõ đến nơi cư trú của người di cư Thứ nhất, người di cư đến Hà Nội và Khu Kinh

tế Đông Bắc chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc, nhất là Đồng bằng sông Hồng, do sự gần gũi về

mặt địa lý Thứ hai, người di cư đến Tây Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh

Đông Nam Bộ lại từ rất nhiều vùng khác nhau mà không có vùng nào nổi trội

Về tình trạng đăng ký hộ khẩu, mạng lưới thông tin Điều tra di cư cho thấy, có

sự khác nhau đáng kể về tình trạng đăng ký hộ khẩu của người di cư Ở Tây Nguyên tỷ trọng người di cư có hộ khẩu KT1 cao, hộ khẩu KT4 phổ biến hơn tại thành phố Hồ

Trang 28

Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ, trong khi đó hộ khẩu KT3 và chưa đăng

ký hộ khẩu lại thường thấy đối với người di cư đến Hà Nội và Khu Kinh tế Đông Bắc Những thông tin về nơi đến chủ yếu thông qua mạng lưới xã hội của các cá nhân di cư Mạng lưới không chính thức là nguồn quan trọng nhất cung cấp thông tin cho người di

cư Thậm chí sau khi giúp đỡ khi đến nơi ở mới Hơn ba phần tư người di cư của tất cả các khu vực biết ít nhất một người thân hoặc một người bạn ở nơi chuyển đến

Thực trạng di cư trong nước ở Việt Nam dựa trên kết quả Tổng Điều tra dân số

và nhà ở năm 2009, do Tổng cục Thống kê tiến hành Kết quả điều tra cho thấy, tình

hình di cư, đặc biệt là di cư giữa các tỉnh tăng mạnh cả về số lượng và tỉ lệ tăng hơn hẳn

so với thập kỷ trước đó Cụ thể, di cư giữa các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người năm 1989 lên

2 triệu người năm 1999 và lên 3,4 triệu người năm 2009 tại thời điểm điều tra Trong giai đoạn 1999 - 2009, tỉ lệ tăng hàng năm của dân di cư giữa các huyện tăng từ 0,6% lên 4,2% và tỉ lệ này trong nhóm dân di cư giữa các tỉnh tăng từ 4,0% lên 5,4% [109, tr.19]

Có sự khác biệt về luồng di cư giữa các vùng và các tỉnh Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, những người di cư nội tỉnh chiếm 50% số người di

cư, còn lại 50% là di cư khác, điều này cho thấy sự tăng lên của dòng di cư nội tỉnh so với số liệu của cuộc điều tra năm 1999 Vùng Đông Nam Bộ là khu vực nhập cư chủ yếu trong giai đoạn 1994 - 1999 và tốc độ nhập cư đến vùng này tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2004 - 2009 Ngược lại, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất cư chủ yếu trong giai đoạn 1994 - 1999 và tốc độ xuất cư khỏi các vùng này cũng tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2004 - 2009 [109]

Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015 do Tổng cục Thống kê thực hiện đã giới thiệu

một bức tranh chung về diễn biến mới nhất thực trạng di dân ở nước ta Kết quả điều tra cho thấy 13,6% dân số cả nước là người di cư Tỷ lệ người di cư trong độ tuổi lao động 15-

59 là 17,3% Có đến 19,7% dân số của khu vực đô thị là người di cư, trong khi ở nông thôn con số này là 13,4% Như vậy, luồng di cư tới các đô thị đang trở thành luồng di cư chủ đạo hiện nay Vùng Đông Nam Bộ là nơi có tỷ lệ di cư cao nhất cả nước với 29,3% Báo cáo Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015 đã chỉ ra những khác biệt rõ nét giữa người di

cư và không di cư, như về điều kiện sống, về loại nhà ở, nguồn nước sinh hoạt, nhiên liệu sinh hoạt… So với Điều tra di cư Việt Nam 2004, khoảng cách về điều kiện sống giữa

Trang 29

người di cư và không di cư đã được rút ngắn lại Hơn một nửa số người di cư phải đi thuê nhà để ở, trong khi con số này đối với người không di cư chỉ khoảng 8,5% Tỷ lệ người di

cư phải sống trong các nhà trọ cao nhất ở vùng Đông Nam Bộ (81,5%) [110]

Về các đặc điểm nhân khẩu học của người di cư , thông tin thu được cho thấy, nữ di cư độ tuổi 15-59 chiếm 17,7% tổng dân số nữ ở độ tuổi này Tỷ lệ này đối với nam di cư là 16,8% Tỷ lệ nữ trong tổng số người di cư 15-59 là 52,4% Tuổi trung bình của người di cư là 29,2 tuổi Trong đó di cư tập trung nhiều ở nhóm tuổi 15-39 (chiếm 85% trong nhóm tuổi 15-59), tỷ lệ này của năm 2004 là 79% Tương tự kết quả năm 2004, cuộc điều tra 2015 cho thấy người di cư thường kết hôn muộn hơn người không di cư Kết quả điều tra cho thấy, 79,1% người di

cư có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn, còn lại (20,9%) là người di cư có nguồn gốc từ đô thị Luồng di cư nông thôn-thành thị là luồng di cư lớn nhất so với các luồng di cư khác [110, tr.2]

Về học vấn, tỷ lệ người di cư có trình độ chuyên môn kỹ thuật (31,7%) cao hơn người không di cư (24,5%) Đặc biệt, tỷ lệ người di cư có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 23,1% so với tỷ lệ này của người không di cư là 17,4% Sự khác biệt này có thể một phần do tác động của cơ cấu tuổi trẻ hơn của nhóm di cư so với nhóm không di cư [110, tr.42] Báo cáo Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015 cũng đã nêu ra và gợi mở một số vấn đề kinh tế - xã hội liên quan tới di dân ở Việt Nam nói chung

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu về tình hình di dân qua các thời kỳ mới chỉ cho thấy một bức tranh chung về di cư của người dân, không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo Các nghiên cứu về tác động của di dân tới các vấn đề kinh tế - xã hội, đảm bảo QP, AN như thế nào, rất cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn Việc khai thác sử dụng các dữ liệu của cuộc điều tra này là rất cần thiết cho luận án trong quá trình luận giải, phân tích góc độ ảnh hưởng của di dân đến xây dựng lực lượng QPTD trên địa bàn Lai Châu hiện nay

1.2.3 Những nghiên cứu về chính sách di dân ở Việt Nam

Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách di dân của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, đã có một số công trình nghiên cứu, các ấn bản phẩm, bài viết về thực hiện chính sách di dân Có thể chỉ ra các nghiên cứu trên một số nội dung sau:

Trang 30

Các nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách di dân xây dựng kinh tế mới, di dân định canh định cư, di dân ổn định biên giới

Một trong những nghiên cứu đề cập khá toàn diện đến chính sách di dân là

công trình của Đặng Nguyên Anh về Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi [7] Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu tìm

hiểu các loại hình di dân nổi bật ở miền núi trong những năm 1990, bao gồm di dân kinh tế mới, định canh định cư di dân tự do và di dân ổn định biên giới, chỉ ra thực chất của các loại hình di dân này là loại hình di dân nông thôn - nông thôn Đặc biệt

là nghiên cứu đã đánh giá tổng quan về các chính sách di dân trên ba loại hình, phân tích những mặt được và chưa được trong chủ trương chính sách đối với các loại hình di dân nêu trên Nhấn mạnh mặt được lớn nhất của chính sách di dân là phân

bố lại lao động - dân cư, giãn dân đến những vùng vắng dân, thưa dân, vùng còn nhiều tài nguyên đất để phát triển kinh tế, đảm bảo QP, AN, biên giới Đồng thời chỉ ra mặt hạn chế của chính sách là nhiều quy định của chính sách đã bộc lộ sự bất cập, ít khả thi như chính sách di dân kinh tế mới với quy mô đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, mang tính bình quân và chưa tính đến những đặc trưng riêng của từng vùng Công tác định canh, định cư mặc dù được lồng ghép trong các chính sách hỗ trợ cho miền núi song chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, chưa góp phần ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi

Quá trình đánh giá thực trạng, kiểm định hiệu quả của các chính sách di dân đối với các loại hình di dân, tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá đặc điểm chủ yếu của các cộng đồng di dân, dựa trên kết quả khảo sát mẫu của đề tài với 7 tỉnh tại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Kết quả cho thấy, người di cư có cuộc sống tương đối ổn định và có mục đích di cư lâu dài, ổn định cuộc sống Tuy có sự khác nhau giữa các địa phương trong nội dung các chính sách di dân và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, song mức độ hiểu biết về chính sách của người dân địa phương và nhận thức của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế Khả năng tiếp cận được các chính sách hiện hành phụ thuộc rất nhiều vào công tác thông tin, tuyên truyền

và sự triển khai thực hiện đến người dân bằng các lợi ích cụ thể, dù dưới loại hình

di dân nào Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách đồng bộ và

Trang 31

hiệu quả, phù hợp với tình hình di dân và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi hiện nay là rất cần thiết

Đánh giá về chính sách định canh, định cư trong những năm 1990, các nghiên cứu khẳng định, chính sách đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần ổn định đời sống dân cư, đảm bảo gắn chặt mục tiêu an ninh lương thực với củng cố QP,

AN Tuy nhiên, do hiện tượng du canh, du cư trong đồng bào các dân tộc thiểu số còn diễn biến phức tạp, nên đến nay công tác này vần cần phải tiếp tục đẩy mạnh Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2000, trong số 38 tỉnh có hiện tượng du canh thì đối tượng cần định canh vẫn còn rất lớn và có hiện tượng tái du canh Theo số liệu của Uỷ ban Dân tộc năm 2001, đối tượng này ở cấp

độ toàn quốc là 356.000 hộ với 2,15 triệu người phân bổ ở 1410 xã Trong số đối tượng cần vận động định canh, định cư thì đồng bào Hmông có tới 60 vạn người, Dao 49 vạn, Thái 34,6 vạn, Êđê 25,4 vạn, Bana 17 vạn Đánh giá về Chương trình định canh, định cư, tác giả nhấn mạnh, đây là một thành phần không thể thiếu được trong hệ thống giải pháp chính sách xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số Chính sách định canh, định cư cho đồng bào các dân tộc thiểu số đã được triển khai rộng khắp, đạt được những kết quả nhất định Khi bắt đầu thực hiện công tác định canh, định cư, cả miền núi phía Bắc (1968) có 2.879.685 người du canh, du cư Kết quả là, đến năm 1990 (sau 22 năm) đã vận động được 1.025.032 người định canh, định cư (chiếm 35,61%) [7]

Góp phần làm rõ hơn tình hình thực hiện các chính sách di dân, trong nghiên

cứu đánh giá về Tình hình di dân nông nghiệp đi xây dựng các vùng kinh tế mới từ năm 1975 đến nay, tác giả Phạm Nhật Tân đã chỉ ra quy mô, tốc độ và hình thức của

loại hình di dân này là cực kỳ lớn Trong kế hoạch 1976- 1980, trung bình mỗi năm

số nhân khẩu di chuyển xây dựng các vùng kinh tế mới là 30 vạn người, trong đó có

15 vạn lao động Trong kế hoạch 1981 - 1985 số nhân khẩu di chuyển trung bình trong một năm là 21 vạn nhân khẩu với gần 10 vạn lao động Như vậy, nếu lấy chỉ số bình quân đó là chỉ số trung bình trong một năm thì trong kế hoạch 1976 - 1980 nhịp

độ di chuyển lao động và dân cư hàng năm giảm với mức độ 50% Song kế hoạch

1981 - 1984 số lao động và dân cư di chuyển hàng năm tăng với nhịp độ đều, cỡ 20%

Trang 32

Đặc biệt trong năm 1984, nhịp độ tăng lớn, gần gấp đôi so với năm 1983 Về hình thức tổ chức điều độ lao động và dân cư, thì giai đoạn năm 1976 - 1980 phân bố nội vùng là 51%, giai đoạn 1981- 1984 phân bố nội vùng là 61% [101]

Trong bài viết về chính sách di dân lao động và phân bố dân cư miền núi Việt Nam, tác giả Trịnh Thị Quang đã đưa ra nhận định, chính sách di dân xây

dựng các vùng kinh tế mới thực chất là di dân nông nghiệp, dòng di dân này do Nhà nước điều động được thực hiện theo hai giai đoạn Thời kỳ đầu từ khi Chính phủ ban hành chính sách khai hoang miền núi đến cuối những năm 1980 và được đánh dấu bằng Quyết định 95/CP của Hội đồng Chính phủ Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ năm 1990, các chính sách di dân xây dựng kinh tế mới được thực hiện theo các dự án và chương trình di dân Vùng nhập cư chủ yếu là Tây Nguyên Chủ trương di dân kinh tế mới của Nhà nước nhằm phân bổ lại dân cư và lao động trong cả nước, khai thác tiềm năng phong phú của vùng Tổng số dân kinh

tế mới vào Tây Nguyên tính đến đầu năm 2002 khoảng 160 nghìn hộ với 800 nhân khẩu, bao gồm người Kinh từ các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng, duyên hải Nam Trung Bộ và một bộ phận dân tộc ít người ở miền núi phía Bắc đi theo chương trình tái định cư thủy điện (Dự án hợp tác Vietnam - Canada LPRV năm 2003) [93] Nghiên cứu của Iwai Misaki (Đại học Nghiên cứu Quốc tế Kanda, Nhật Bản), đã chỉ ra bản chất của di dân kinh tế mới sau năm 1975 là loại hình di dân nông thôn - nông thôn, với chủ trương của Chính phủ Việt Nam là nhằm phân bố lại dân số, tiến hành khai hoang hóa những vùng đất trống Đặc điểm của phong trào di dân ở Việt Nam là di dân có tổ chức gắn với chính sách hợp tác hóa nông nghiệp Loại hình di dân này cũng đã được thực hiện ở một số nước Đông Nam Á như Indonesia và Philipine [65]

Trong công trình nghiên cứu về Di dân nông thôn miền núi: Những vấn đề chính sách và thực tế hiện nay, tác giả Đỗ Văn Hòa đã phân tích nhiều vấn đề, trong

đó tập trung chủ yếu vào việc tiếp cận vốn và tư liệu sản xuất của người di cư, chính sách cho các hộ gia đình di cư có kế hoạch mặc dù được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế chung của cả nước, song vẫn còn gặp nhiều khó khăn, mức hỗ trợ chưa phù hợp Các chính sách cho người di cư vẫn chưa đáp ứng đủ nhu

Trang 33

cầu như, nhà ở, điện, đường, trường, trạm y tế, nước sinh hoạt, vốn sản xuất… Tác giả đã đưa ra phân tích rất đáng lưu tâm là, người di dân thường xuất thân từ hộ nghèo, gia đình nhiều nhân khẩu, thiếu vốn, lao động không có tay nghề… Nông thôn miền núi là nơi người dân trình độ học vấn chưa cao, tập trung nhiều đồng bào dân tộc, vì vậy cần thu hút nhóm có học thức cao và đào tạo đội ngũ người dân bản địa để thúc đẩy phát triển bền vững vùng khu vực miền núi, dân tộc thiểu số [58]

Ngoài các chính sách di dân kinh tế mới, định canh, định cư di dân tự do, di dân ổn định biên giới đã được các nghiên cứu đề cập Chính sách di dân tái định cư trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đã được các nhà

nghiên cứu quan tâm Trong số đó, các bài viết như, Chính sách tái định cư các dự

án thủy điện theo định hướng phát triển bền vững của Đỗ Văn Hòa [57]; Công tác

di dân, tái định cư trong các công trình thủy điện ở nước ta từ góc nhìn xã hội học

của Đặng Nguyên Anh đã chỉ ra đặc thù của chính sách tái định cư các công trình thủy điện, làm rõ thực trạng chính sách tái định cư các công trình thủy điện, phân tích những vấn đề tồn tại trong chính sách, những bất cập trong cơ chế quản lý, bồi thường hỗ trợ tái định cư Đặc biệt trong quá trình thực hiện chính sách tái định cư, nâng cao hiệu quả công tác di dân tái định cư cần phải đảm bảo bền vững về sinh kế, môi trường, thực thi chính sách phải rõ ràng, công khai, minh bạch, dân chủ trong công tác đền bù, hỗ trợ và chia sẻ những khó khăn của người dân di cư [10]

Các chính sách di dân không chỉ đơn thuần đáp ứng sự phân bố dân cư và cấu trúc lại lao động cho hợp lý giữa các vùng, miền mà còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với QP, AN Di dân kinh tế mới còn là một trong nhiều chủ trương lớn nhằm phát

triển kinh tế - xã hội góp phần ổn định chính trị, tăng cường và củng cố QP, AN, bảo

vệ chủ quyền biên giới quốc gia [10] Di dân với mục tiêu là điều chỉnh lại sự phân

bố dân số, điều động lao động phát triển sản xuất với việc hình thành địa bàn dân cư mới phục vụ sự nghiệp QP, AN [69] Các mục tiêu của di dân nông nghiệp đi xây

dựng các vùng kinh tế mới trên cơ sở đó hình thành hệ thống các điểm dân cư chiến lược tại các vùng trọng yếu, có ý nghĩa chiến lược đối với QP, AN [101]

Ngoài ra còn có những nghiên cứu khác đề cập đến các vấn đề xã hội của các

chính sách di dân, điển hình như những nghiên cứu: Mấy vấn đề tâm lý của người

Trang 34

chuyển cư đi xây dựng kinh tế mới, của Phạm Xuân Đại [41], Xung quanh tình hình sản xuất và đời sống của một số cộng đồng di dân, của Đặng Nguyên Anh [1] Những nhân tố xã hội trong quá trình ổn định của một số cộng đồng di dân, của

Lưu Đình Nhân [90]

Những nghiên cứu về chính sách di dân đã góp phần khẳng định và làm rõ chiến lược di dân của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo QP, AN qua từng thời kỳ Đây là những nghiên cứu tốt cho luận án kế thừa

và phân tích dưới góc độ di dân với xây dựng lực lượng QPTD ở tỉnh Lai Châu

Những nghiên cứu về di dân của các tộc người thiểu số

Trong các tài liệu, ấn phẩm xuất bản, các công trình nghiên cứu về di dân của các tộc người thiểu số ở nước ta thực tế không nhiều, yếu tố di dân chủ yếu được đề cập trong một số vấn đề có liên quan như chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, dân tộc và phát triển, các vấn đề xóa đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực vùng sâu, vùng xa,… Vấn đề di dân của các tộc người thiểu số trong mối liên hệ với phát triển chưa được xem xét đầy đủ trong các công trình nghiên cứu Khái niệm và đo lường các loại hình di dân được các nghiên cứu sử dụng với sự đa dạng, do đó dẫn đến việc so sánh số liệu và kết quả nghiên cứu gặp khó khăn Tuy những nghiên cứu trực tiếp về di dân trong phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chưa đậm nét, song một số công trình đã đưa ra một số đề xuất, kiến nghị đáng chú ý liên quan đến việc nâng cao chất lượng dân số, đảm bảo an ninh lương thực, điều chỉnh chính sách di dân và phát triển kinh tế của các vùng dân tộc thiểu số

Một số công trình nghiên cứu về di dân của tộc người thiểu số đáng chú ý

như, Di dân tự phát của các dân tộc thiểu số từ miền Bắc và Tây Nguyên của Khổng

Diễn và cộng sự Trong nghiên cứu này, các tác giả đã làm rõ thực trạng vấn đề di dân tự do của các tộc người thiểu số, đánh giá khá toàn diện các nguyên nhân dẫn đến di dân tự phát của một số cộng đồng tộc người thiểu số và đời sống của người

di cư, chỉ ra những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực của di dân tự phát Đồng thời, các tác giả đề xuất một số giải pháp có tính khả thi làm cơ sở cho các cơ quan quản

lý và hoạch định chính sách có chủ trương, chính sách về dân tộc và miền núi sát hợp với tình hình thực tế [38]

Trang 35

Trong công trình Di cư tự do của một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc vào Đắk Lắk từ năm 1975 đến nay của Nguyễn Bá Thủy, đã góp phần làm rõ thực

trạng di cư của một số tộc người Tày, Nùng, Hmông, Dao từ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đắk Lắk thời kỳ 1975 - 2000, đồng thời tập trung phân tích những động lực, nguyên nhân và ảnh hưởng của di dân tự do đối với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của nơi nhập cư và xuất cư; trên cơ sở khảo sát đánh giá thực trạng và tìm ra những nguyên nhân của dòng di dân này, tác giả đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của di dân tự do đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và QP, AN ở địa phương Đắk Lắk [111]

Theo số liệu điều tra di dân Việt nam 2004, một tỷ lệ lớn những người tham gia dòng di cư nông thôn - nông thôn từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên

là đồng bào các tộc người thiểu số Nếu như trong giai đoạn 1999 - 2004, tỷ lệ đồng bào thiểu số di cư tới các đô thị ở phía Bắc và phía Nam chỉ chiếm tương ứng là 0,9

và 1,7%, thì tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số di cư tới các vùng Tây Nguyên chiếm tới 48,5% Phân tích theo chiều cạnh khác, có thể thấy, trong số những người di cư là đồng bào dân tộc thiểu số, có gần 90% số người tham gia dòng di cư nông thôn - nông thôn; và chỉ có khoảng 10% số người tham gia dòng di cư nông thôn - đô thị [107] Điều này lý giải theo lý thuyết “lực đẩy và lực hút” đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc, thì Tây Nguyên là vùng đất hứa hẹn với nguồn tài nguyên đất, rừng màu mỡ, khí hậu thuận lợi để canh tác Đây là những yếu tố hút một

bộ phận tộc người thiểu số từ các vùng nghèo, thiếu đất canh tác, thiếu việc làm và thu nhập thấp ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ di chuyển đến Tây Nguyên làm ăn sinh sống, định cư và phát triển Đa số đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia dòng di cư nông thôn - nông thôn vào Tây Nguyên như đã nêu ở trên mà ít tham gia vào dòng di cư nông thôn - đô thị là bởi vì họ chủ yếu có trình độ văn hóa tương đối thấp và chưa qua đào tạo ngành nghề do đó họ rất khó cạnh tranh được việc làm ở các khu vực đô thị, do đó điểm đến vùng Tây Nguyên là một sự lựa chọn [14]

Bài viết Di dân nội địa của Francis Gendreau, xem xét các luồng di dân giữa

các khu vực ở Việt Nam Kết quả cho thấy, Đắk Lắk và Lâm Đồng là những vùng

có người nhập cư lớn (16,9%) ngày từ thời kỳ sau Đổi mới (1986-1990) Người di

Trang 36

cư trong giai đoạn này chủ yếu là trẻ, độ tuổi 25-29 Kết quả khảo sát 15-20 năm sau đó vẫn cho thấy xu hướng này, điều này cho thấy có sự phù hợp với một nghiên cứu đã mô tả hiện trạng di cư của nhóm người trẻ tuổi (thanh niên) và chỉ ra ngày càng tăng của dòng di cư trong lứa tuổi thanh niên, đồng thời đây cũng là tác nhân gây ra tình trạng thiếu lao động ở các vùng nông thôn và chảy máu chất xám [50, tr.185-213] Số liệu Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 tiếp tục minh chứng xu hướng trẻ hóa người di cư nhất là di cư đến Tây Nguyên, tham gia vào các hoạt động nông nghiệp và buôn bán, dịch vụ

Cùng với việc tìm hiểu hướng di dân của một số tộc người thiểu số, Dự án

Khảo sát một bộ phận đồng bào Hmông di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên - Nguyên nhân, kiến nghị giải pháp của Ban Tôn giáo Chính phủ [17],

đã hướng vào việc tìm hiểu nguyên nhân của một bộ phân người Hmông theo đạo Tin Lành di cư tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên giai đoạn 1986

- 2006 Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách, nhằm thực hiện chủ trương bình thường hóa sinh hoạt đạo Tin Lành của người Hmông ở Tây Nguyên cho phù hợp với điều kiện văn hóa - xã hội, tập quán nơi đây, vừa đáp ứng được nhu cầu tinh thần của đồng bào, vừa không khuyến khích họ tiếp tục di cư Cùng với hướng nghiên cứu này, trong một chuyên

khảo Di cư của người Hmông từ đổi mới đến nay của Đậu Tuấn Nam, đã luận giải

từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện để đồng bào các tộc người thiểu số vươn lên ổn định kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, đóng góp vào sự nghiệp đổi mới đất nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động nên đời sống của đồng bào các tộc người thiểu số nói chung cũng như tộc người Hmông nói riêng còn nhiều khó khăn Trong nhiều năm qua, tập quán du canh, du cư của nhiều tộc người thiểu số, trong

đó có tộc người Hmông vẫn tiếp tục diễn ra với nhiều diễn biến phức tạp, tác động nhiều chiều, đòi hỏi có sự quan tâm, nghiên cứu, phối hợp quản lý tốt hơn để đồng bào an tâm định canh, định cư, ổn định cuộc sống, góp phần giữ vững an ninh quốc gia và bảo vệ lãnh thổ Có thể thấy rằng, di dân tự do của tộc người Hmông trong thời gian qua ngày càng trở lên phức tạp, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn

Trang 37

xuyên quốc gia, điều này tác động không nhỏ đến lĩnh vực quản lý xã hội, đến sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước [89]

Ngoài những nghiên cứu trên, còn có một số nghiên cứu đề cập đến di cư xuyên biên giới đối với ổn định và phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu

số ở nước ta hiện nay Điển hình như công trình nghiên cứu về Di cư xuyên biên giới của các tộc người thiểu số tác động đến ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng tây Bắc Việt Nam hiện nay của Vũ Trường Giang; Hôn nhân xuyên biên giới với phát triển xã hội của Đặng Thị Hoa và cộng sự Trong những nghiên cứu này,

bằng các phương pháp tiếp cận liên ngành nhân học, xã hội học, quốc tế học và khu vực học, với nguồn số liệu đa dạng từ các ngành, các cấp quản lý cung cấp kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học, các tác giả đã mô tả khá rõ về thực trạng di cư xuyên biên giới đối với phát triển xã hội nói chung và của các tộc người thiểu số ở các vùng biên giới nói riêng Trong đó, nghiên cứu của Vũ Trường Giang đã làm khá

rõ các dòng di cư xuyên biên giới của các tộc người thiểu số vùng Tây Bắc, trong đó

có cả hình thức di cư theo ngạch chính thức (di cư lao động ra nước ngoài) và di cư tự

do Chẳng hạn như, trong giai đoạn từ 2009 đến 2014 toàn vùng Tây Bắc mới xuất khẩu được trên 9000 lao động theo dạng chính ngạch, trong khi đó chỉ tính từ năm

2011 đến 2014 đã có hơn 20 vạn lao động đã và đang làm việc trái phép tại Trung Quốc Ngoài các hình thức di dân lao động cả chính ngạch và phi chính ngạch còn có hình thức di dân tự do, vượt biên vì lý do đoàn tụ gia đình, buôn bán người và kết hôn qua biên giới Các nguyên nhân di cư xuyên biên giới của các tộc người thiểu số vùng Tây Bắc cũng được nghiên cứu chỉ ra như, nguyên nhân kinh tế - xã hội, văn hóa tộc người, nguyên nhân từ chính sách và cơ chế quản lý, từ hoạt động của các tôn giáo tác động đến việc di cư của họ Trên cơ sở làm rõ thực trạng di cư xuyên biên giới của các tộc người thiểu số vùng Tây Bắc, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra những tác động của di cư đến phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị - xã hội vùng Tây Bắc trên cả khía cạnh tích cực và tiêu cực và đề xuất các giải pháp khả thi quản lý di cư xuyên biên giới của các tộc người thiểu số vùng Tây Bắc [48]

Công trình nghiên cứu về Hôn nhân xuyên biên giới với phát triển xã hội của

Đặng Thị Hoa, đây là một nghiên cứu có góc nhìn mới về hôn nhân xuyên biên giới

Trang 38

dưới chiều cạnh quản lý phát triển xã hội Nghiên cứu đã cho một bức tranh khá tổng thể về tình trạng di cư hôn nhân xuyên quốc gia Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích khá rõ thực trạng hôn nhân xuyên quốc gia ở các vùng biên giới tiếp giáp giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia Đồng thời nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm, nguyên nhân cơ bản của hôn nhân xuyên biên giới, đó là kết hôn đồng tộc, làm rõ hơn mối quan hệ hôn nhân xuyên biên giới chủ yếu là các quan hệ tộc người, quan hệ thân tộc vùng biên giới và mạng lưới tạo nên hôn nhân xuyên biên giới là mối liên hệ thông qua mai mối, tìm việc làm, buôn bán, làm thuê, các sinh hoạt truyền thống văn hóa, lễ hội tộc người Cùng với việc làm rõ thực trạng, đặc điểm, mạng lưới hôn nhân xuyên biên giới của các tộc người vùng biên giới, nghiên cứu cũng đã chỉ ra những vấn đề xã hội, hệ lụy xã hội của thực trạng này như là vấn đề quản lý hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề hộ khẩu hộ, hộ tịch, di

cư bất hợp pháp, những ảnh hưởng đến QP, AN biên giới [56]

1.2.4 Các nghiên cứu về di dân với quốc phòng, an ninh và xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta

Trong hơn một thập kỷ vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu về di dân

và tác động của nó đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội Tuy nhiên, ít thấy các nghiên cứu

về tác động của di dân đối với lĩnh vực QP, AN nói chung và xây dựng nền QPTD nói

riêng Có thể liệt kê một số công trình như: Di cư tự do và vấn đề quốc phòng, an ninh; Một số vấn đề xã hội học trong xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Phạm Xuân Hảo Tác động của di dân tới xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình hiện nay; Hạn chế tác động tiêu cực của di dân đến xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn Tây Bắc nước ta hiện nay; Những vấn đề xã hội và hệ lụy

xã hội của di dân tự do trên địa bàn Tây Bắc hiện nay của Nguyễn Văn Vị

Trong sách Một số vấn đề xã hội học trong xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tác giả Phạm Xuân Hảo đặt trọng tâm vào phân tích ba nội

dung chính xây dựng quân đội về chính trị trong quá trình biến đổi cấu trúc xã hội - giai cấp, trong xu thế phân hóa giàu nghèo và biến đổi xã hội trong công tác quốc phòng, quân sự ở nước ta hiện nay Đặc biệt trong nội dung bàn về biến đổi xã hội

và công tác quốc phòng, quân sự, tác giả đã đề cập khá sâu sắc đến vấn đề di cư tự

Trang 39

do và vấn đề QP, AN Di cư tự do ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền QP, AN

có cả mặt tích cực và tiêu cực, do đó cần phải quản lý tốt di dân tự do, phát huy mặt tích cực của di dân tự do trong xây dựng tiềm lực QPTD Vì vậy, để phát huy tốt chiến lược xây dựng nền QP, AN rất cần thiết phải nghiên cứu vấn đề di dân và những ảnh hưởng của nó [53] Có thể thấy, đây là một trong những phát hiện mới

của tác giả khi bàn đến các vấn đề xã hội ảnh hưởng đến xây dựng nền QP, AN

Trong bài viết Di cư tự do và vấn đề quốc phòng, an ninh, tác giả Phạm Xuân

Hảo đề cập đến vấn đề di cư tự do và sự hình thành các cụm dân cư mới Quá trình hình thành cụm dân cư mới do di dân tự do tạo nên và vai trò quản lý của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với các cụm điểm dân cư mới ở các vùng trọng yếu là rất quan trọng Quản lý tốt di dân tự do ở vùng miền núi, biên giới sẽ là điểm tựa tốt cho xây dựng tiềm lực, thế trận QPTD vững chắc Ngược lại nếu quản lý không tốt

di dân tự do sẽ là mầm họa cho đất nước, khi những cụm điểm di dân tự do bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước thao túng, lợi dụng để kích động lôi kéo đồng bào gây áp lực dẫn đến chống đối Đảng và Nhà nước [52]

Bài viết Tác động của di dân tới xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình hiện nay của Nguyễn Văn Vị, trên cơ sở làm rõ những vấn đề xã hội của

di dân, tác giả đã bàn về những tác động của di dân đến xây dựng nền QPTD trên các nội dung như: Di dân tác động đến xây dựng lực lượng; tiềm lực và thế trận của nền QPTD, di dân tác động trực tiếp đến các nội dung trên cả mặt tích cực và tiêu cực, đặt ra nhiều nội dung cho công tác quản lý nhà nước về quốc phòng Quản lý nhà nước về quốc phòng đối với di dân mang tính khách quan và là một vấn đề quan trọng trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay [119]

Bài viết Hạn chế tác động tiêu cực của di dân đến xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn Tây Bắc nước ta hiện nay Trên cơ sở tìm hiểu về tình hình di dân trên

địa bàn Tây Bắc và những biến động phức tạp tác động khó lường đến tình hình trật tự,

QP, AN trên địa bàn vùng Tây Bắc, tác giả đã đề cập đến giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, xây dựng khu vực Tây Bắc giàu mạnh, góp phần hạn chế di dân tự do ở vùng này Bài viết đã đưa ra giải pháp là cần làm tốt công tác quy hoạch toàn bộ vùng Tây Bắc, các vùng địa bàn quan

Trang 40

trọng, phục vụ tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nền QPTD vững mạnh; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống giao thông và thông tin liên lạc, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội và xây dựng nền QPTD ở khu vực Tây Bắc vững mạnh; tập trung nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, xây dựng nền văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh trên địa bàn Tây Bắc Thực hiện tốt giải pháp này sẽ là một trong những nút

gỡ cho công tác quản lý dân cư, hạn chế mức thấp nhất tình trạng di dân, nhất là di dân tự

do ở địa bàn khu vực Tây Bắc hiện nay Góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và xây dựng nền QPTD trên địa bàn Tây Bắc vững mạnh toàn diện [120]

Trong bài viết, Những vấn đề xã hội và hệ lụy xã hội của di dân tự do trên địa bàn Tây Bắc hiện nay, tác giả đã đề cập đến tình trạng di cư tự do phá vỡ quy hoạch phát

triển kinh tế - xã hội, kế hoạch bố trí, sắp xếp và quản lý dân cư ở ở các địa phương của vùng Đáng chú ý là một số phần tử xấu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động người dân rời bỏ nơi sinh sống và di cư tự do Trên cơ sở đó bài viết đã chỉ ra một số vấn

đề xã hội và hệ lụy của di dân tự do như, di dân tự do hình thành các tụ điểm dân di cư mới, cả trong và ngoài sự quản lý, kiểm soát của hệ thống chính trị cơ sở; di dân tự do tạo nên sự xáo trộn về dân cư, nảy sinh những vấn đề về kinh tế, văn hóa xã hội mới; các địa bàn có di dân dễ bị lợi dụng gây mất ổn định chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Bài viết cho rằng, các tụ điểm dân di cư tự do tại Tây Bắc thường ở những vùng sâu, vùng xa như, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai Sự có mặt của người dân di cư tự do ở những vùng này khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia Công tác quản lý, xây dựng những tụ điểm dân cư mới cần được quan tâm tạo địa bàn, thế trận QPTD Tuy nhiên sự hình thành các tụ điểm dân cư do di cư tự do có nhiều hệ lụy xã hội gây khó khăn cho việc quản lý dân cư và xây dựng QP, AN [121]

Ngoài các công trình, các bài viết nêu trên còn có những nghiên cứu đề cập

đến vấn đề di dân đối với lĩnh vực QP, AN như, công trình Biến đổi trong hoạt động kinh tế của người Hmông ở miền Tây Nghệ An và những vấn đề đặt ra với xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay của Nguyễn Văn Toàn Dưới góc độ tiếp

cận nhân học, chính trị - xã hội, nghiên cứu này đã chỉ ra được những biến đổi trong hoạt động kinh tế của người Hmông ở miền Tây Nghệ An kể từ khi Đảng ta thực

Ngày đăng: 09/04/2020, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm