Nghị quyết Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội, quyết định tiềm lực kinh tế, an ninh quốc phòng của một quốc gia. Trong các nguồn lực, nguồn nhân lực được coi là nguồn lực chính chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì lẽ đó, công tác phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực giáo dục được xem là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng hơn để đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại đặt ra cho giáo dục, đào tạo nước nhà những yêu cầu, nhiệm
vụ, thách thức mới Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế tri thức đang là áp lực của ngành giáo dục nói riêng và của toàn Đảng, toàn dân nói chung Điều này đòi hỏi phải có định hướng phát triển,
có tầm nhìn chiến lược, ổn định lâu dài cùng những phương pháp, hình thức, tổ chức, quản lý giáo dục và đào tạo cho phù hợp
Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo của nước ta Bối cảnh mới tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục, đào tạo nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục, đào tạo; tạo điều kiện để đổi mới căn bản, toàn diện nội dung, phương pháp
và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, đào tạo, tiến tới một nền giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của xã hội và từng cá nhân người học Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược phát triển nhân lực giai đoạn 2011- 2020 và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề cơ bản để chúng ta thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo, như: khoảng cách phát triển kinh tế, khoảng cách về giáo dục, đào tạo giữa nước ta và các nước ngày càng mở rộng; hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn dần
Trang 2bản sắc văn hóa dân tộc, sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục, đào tạo kém chất lượng từ bên ngoài có thể gây rủi ro lớn đối với giáo dục, đào tạo, sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền có nguy cơ dẫn đến tình trạng thiếu bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của người dân Những vấn đề đó đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới cả về triết lý, lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn để phát triển giáo dục, đào tạo Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục, đào tạo đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với phát triển giáo dục, đào tạo, trong khi nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo có hạn, tạo sức ép lớn cho sự phát triển giáo dục, đào tạo
Nghị quyết Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội, quyết định tiềm lực kinh tế, an ninh quốc phòng của một quốc gia Trong các nguồn lực, nguồn nhân lực được coi là nguồn lực chính chi phối quá trình phát triển kinh tế
- xã hội Chính vì lẽ đó, công tác phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực giáo dục được xem là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay.
Trang 3PHẦN LÝ LUẬN
I THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC NĂM QUA:
1 Thực trạng:
Chất lượng nguồn nhân lực được tạo ra bằng cách nào? Lý luận và thực tiễn đều khẳng định giáo dục, đào tạo là những nhân tố cơ bản nhất tạo nên chất lượng nguồn nhân lực Như vậy, giáo dục, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn bó chặt chẽ với nhau Có thể nói giáo dục, đào tạo là một trong những biện pháp cơ bản nhất để tạo chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời chất lượng nguồn nhân lực cũng trở thành mục tiêu hàng đầu của giáo dục, đào tạo Không thể có một nguồn nhân lực chất lượng tốt nếu không thông qua giáo dục, đào tạo và cũng không thể có sự nghiệp giáo dục, đào tạo mà lại không nhằm vào việc giáo dục lòng yêu nước, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng ứng dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn Đó chính
là những nhân tố tạo nên chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, đất nước ta đang đứng trước một nghịch cảnh: Kinh tế phát triển mạnh và cơ hội đang đến với đất nước rất lớn, nhưng giáo dục, đào tạo và vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung sau thời kỳ đạt được một số thành tựu ban đầu theo xu hướng phát triển đại trà, hiện đang đi tới một “điểm nóng”, với nhiều hệ quả trầm trọng Trong phát triển con người và nguồn nhân lực, nhiều yếu kém và tiêu cực tích tụ lâu năm đang dồn nén lại thành nguy cơ có thể làm cho đất nước bỏ lỡ cơ hội lớn Bản thân ngành giáo dục, đào tạo và nhìn chung là toàn hệ thống phát triển nguồn nhân lực đang có nguy cơ rơi vào khủng hoảng: đào tạo nhiều mà dùng được ít, số người được đào tạo thất nghiệp cao, chi phí của toàn xã hội quá lớn
so với những gì gặt hái được, có nhiều hậu quả lớn phải xử lý tiếp (ví dụ vấn đề đào tạo lại, việc bố trí người không đúng việc, không chuẩn bị kịp cho các bước phát triển tiếp theo của đất nước, phát sinh bộ máy cồng kềnh dẫn đến quan liêu, tham nhũng ) Đất nước đứng trước tình hình: không đẩy nhanh phát triển giáo dục, đào tạo thì thiếu nguồn nhân lực, đẩy nhanh theo hướng mà chúng ta đang làm có nguy cơ dẫn tới đổ vỡ lớn hơn, hướng đúng là gì chưa rõ, ý kiến đang còn rất khác nhau
Trang 4Kết quả điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2010 cho thấy cả nước
có tới 63% số sinh viên ra trường không có việc làm, 37% số còn lại có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và nhiều người không làm đúng ngành nghề được đào tạo, trong khi đó nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có FDI và nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp Khoảng 2/3 số người có học vị tiến sĩ trong cả nước không làm khoa học mà đang làm công tác quản lý; số bài báo khoa học được công bố hằng năm chỉ bằng khoảng 1/4 của Thái Lan và bằng 0,00043% của thế giới, mặc dù số tiến sĩ của ta hằng năm nhận bằng thường nhiều hơn Thái Lan, có năm cao gấp đôi…
Nguồn nhân lực nước ta đứng trước tình hình: trẻ (tính theo tuổi đời trung bình - một ưu thế lớn), đông (một ưu thế khác, nước có dân số đứng thứ 13 trên thế giới), nhưng tỷ lệ tính trên triệu dân của số người có nghề và có trình độ chuyên môn rất thấp so với tất cả các nước trong ASEAN và so với Trung Quốc;
số cán bộ kỹ trị và trình độ quản lý cao rất ít so với dân số cũng như so với quy
mô nền kinh tế:
- Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học thì có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 4 và 10
- Ở Việt Nam cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi con số đó của thế giới là 100, của Trung Quốc là 140, mặc dù mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người của Trung Quốc khoảng gấp đôi của nước ta
Tác động sâu xa và lâu dài về mặt văn hóa của những tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục là nhiều giá trị cao quý bị mai một, với nhiều di chứng khó sửa; suy nghĩ lệch lạc về “cái học” trở thành hiện tượng xã hội phổ biến; tư tưởng bằng cấp, tình trạng chạy trường chạy điểm, bằng thật học giả, gian lận trong thi cử tràn lan; bệnh hình thức và thành tích chủ nghĩa để lại nhiều hậu quả trầm trọng; giác ngộ ý thức làm chủ bản thân và vai trò chủ nhân của đất nước bị hạn chế; tình trạng dạy và học “nhồi sọ” cản trở đáng kể sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như của đất nước, chẳng những không khuyến khích tự do tư duy sáng tạo mà còn ảnh hưởng đến khả năng đề kháng sự nô dịch sùng ngoại; trong
Trang 5xã hội không hiếm tư tưởng “ăn đong” và tư tưởng làm thuê, không hiếm hiện tượng vùi dập và bỏ phí người tài Tất cả những yếu kém này vừa đang cản trở khả năng phấn đấu của từng cá nhân, vừa tiếp tục khoét sâu các mặt yếu kém của xã hội, của đất nước
2 Nguyên nhân:
Nguyên nhân chính của tình trạng nêu trên có thể như sau:
Một là, không quan tâm và không kế thừa, phát huy những thành tựu giáo
dục của nước ta đã tích lũy được trước đổi mới cũng như những thành tựu của thế giới
Hai là, tiêu cực và chủ nghĩa cơ hội đã làm sai lệch những ý tưởng, những
mong muốn tốt đẹp dành cho phát triển con người và nguồn nhân lực Sự ra đời của phạm trù “xã hội hóa” với nội dung bị bóp méo theo khuynh hướng đẩy việc phát triển con người và nguồn nhân lực ngày càng đi vào con đường thương mại hóa, nhiều công việc thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo trở thành hàng hóa và dịch vụ kiếm lợi nhuận
Ba là, không dự liệu được những khó khăn, mâu thuẫn gay gắt giữa một
bên là khả năng rất giới hạn của nguồn lực và một bên là đòi hỏi lớn của sự phát triển Đặc biệt là yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ở một nước nghèo, đông dân trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bốn là, đội ngũ không ít những người làm công tác lãnh đạo, quản lý giáo
dục, đào tạo các cấp, những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo còn thiếu tri thức và tầm nhìn còn hạn chế, cộng với đạo đức nghề nghiệp xuống cấp cho nên việc lãnh đạo và quản lý lĩnh vực phát triển giáo dục
và nguồn lực con người, nhìn chung còn dưới tầm so với đòi hỏi của nhiệm vụ
Năm là, tác động của những yếu kém nằm trong những nguyên nhân tổng
hợp của thực trạng kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của đất nước
Việt Nam là một quốc gia rất chú ý đến các chính sách phát triển giáo dục
và có nhiều thành công hơn so với các nước trong khu vực về việc thiết lập hệ thống giáo dục trên phạm vi cả nước Quy mô giáo dục ngày càng mở rộng, hệ
Trang 6thống giáo dục ngày càng đa dạng, phong phú Tuy nhiên, từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, giáo dục Việt Nam đang gặp phải những vấn đề rất đáng lo
ngại: Một là, quy mô mở rộng nhưng chất lượng lại không kiểm soát được; hai
là, mất cân đối nghiêm trọng trong các ngành học ở bậc đại học, giữa sinh viên
đại học, cao đẳng với học sinh học nghề; ba là, xu hướng thương mại hóa giáo
dục đã len lỏi vào các nhà trường, nhiều hiện tượng tiêu cực ở nhiều nơi, nhiều cấp học đã xảy ra
II TÌNH HÌNH ĐỔI MỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM QUA:
Hơn 25 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Cùng với sự phát triển chung của mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên cả ba mặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đầu tư cho giáo dục, đào tạo ngày càng tăng, trang thiết bị trường học được tăng cường Quy mô đào tạo không ngừng được mở rộng, trình độ dân trí được nâng lên Số học sinh trung cấp chuyên nghiệp, học nghề dài hạn và sinh viên đại học tăng liên tục với mức trung bình 10%/năm Chất lượng dạy nghề có nhiều chuyển biến tích cực Đổi mới giáo dục, đào tạo đang được tích cực triển khai ở mọi cấp học, từ giáo dục mầm non, phổ thông, dạy nghề đến cao đẳng, đại học Việc xã hội hoá giáo dục và xây dựng xã hội học tập đã thu được kết quả bước đầu Nhiều trường dân lập, tư thục bậc đại học, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, phổ thông và mầm non đã được thành lập và hoạt động bước đầu có hiệu quả Về thành tựu của phát triển giáo dục, đào tạo, Đại hội XI của Đảng đánh giá
"Đổi mới giáo dục đạt được một số kết quả bước đầu Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo trên 20% tổng chi ngân sách; việc huy động các nguồn lực
xã hội cho giáo dục, đào tạo, phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển Đến năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm
2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc"(1) Sự ổn định chính trị và những
Trang 7thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo phát triển Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Quốc hội và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, đặc biệt là sự quan tâm, tham gia đóng góp của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong và ngoài nước, cùng với lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề, ý thức trách nhiệm, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đã phát huy mạnh mẽ truyền thống hiếu học của dân tộc để tạo nên những thành quả giáo dục to lớn, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh, chính trị của đất nước
Bên cạnh những thành tích và tiến bộ đã đạt được, giáo dục và đào tạo nước ta những năm qua vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập kéo dài, rất chậm được khắc phục Trong đó, đáng quan tâm nhất là chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo thấp và công tác quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo còn nhiều yếu kém, chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước Văn kiện Đại hội XI của Đảng đánh giá "Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội"(2)
Nguyên nhân của những yếu kém, bất cập kéo dài nêu trên có nhiều, trong
đó phải kể đến: trên thực tế chưa thực sự thấm nhuần và thể hiện đầy đủ quan điểm “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”; tư duy về giáo dục, đào tạo còn chậm đổi mới, chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; chưa nhận thức đúng vai trò quyết định của đội
Trang 8ngũ nhà giáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, bị chi phối bởi tâm lý khoa cử, sính bằng cấp và chịu nhiều tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, cũng như sức
ép khi nhu cầu học tập của nhân dân và đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng của ngành và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn hạn chế Không có quy hoạch phát triển nhân lực của cả nước, của các ngành và địa phương làm căn cứ thực tiễn của việc xác định mục tiêu, kế hoạch, quy mô, cơ cấu và chất lượng giáo dục, đào tạo
Những yếu kém của giáo dục, đào tạo trên đây của nước ta, nếu không sớm được khắc phục, không những sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của giáo dục, đào tạo, mà còn góp phần làm gia tăng nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
III QUAN ĐIỂM VÀ CƠ SỞ ĐỂ TIẾN HÀNH ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO THEO NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XI CỦA ĐẢNG:
Đại hội XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo
ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội"
Những quan điểm chỉ đạo trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo ở nước ta hiện nay: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo ở
nước ta hiện nay cần triển khai theo những quan điểm chỉ đạo chủ yếu sau:
Trang 9Thứ nhất, phát triển giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, là quốc sách hàng đầu Do vậy, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, huy động cả hệ thống chính trị, phát huy đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo;
Thứ hai, đổi mới giáo dục, đào tạo phải nhằm mục tiêu xây dựng nền giáo dục có tính dân tộc, hiện đại, quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; đáp ứng nhu cầu nhân lực phát triển đất nước, nhất là nhân lực chất lượng cao, góp phần xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để mọi người dân đều
có thể đi học và học tập suốt đời;
Thứ ba, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng khó khăn, cho giáo dục phổ cập và đào tạo nhân lực chất lượng cao Phát triển giáo dục, đào tạo phải gắn với phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh, với tiến bộ khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế;
Thứ tư, mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo phải trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, định hướng xã hội chủ nghĩa Khuyến khích các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước hợp tác với các đối tác nước ngoài trong đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản
lý giáo dục, đào tạo
Những cơ sở để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo ở nước ta hiện nay:
Quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, đào tạo; về
sự nghiệp trồng người là căn cứ, là cơ sở hàng đầu cho việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết XI của Đảng Triết
lý, tư tưởng giáo dục, đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng tinh hoa của giáo dục thế giới, như triết học giáo dục đạo làm người của Khổng tử, triết học
xã hội (giáo dục tinh thần công dân) từ thời cổ đại, giáo dục nhân văn-từ thời
Trang 10Phục hưng, thời phương Tây bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá (từ thế kỷ XVIII), giáo dục tự nhiên, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, giáo dục thực hành Trong triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể chỉ ra những nội dung
cơ bản sau: chống chính sách ngu dân; một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; xây dựng nền giáo dục của một nước độc lập; đào tạo những công dân hữu ích cho nước nhà; phát triển các năng lực sẵn có của trẻ em; trọng dụng nhân tài; giáo dục, dạy làm người; dạy tốt, học tốt; học đi đôi với hành Những quan điểm, tư tưởng nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, đào tạo là cơ sở, kim chỉ nam cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển giáo dục, đào tạo của Đảng và Nhà nước ta, có ý nghĩa thời sự đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục, đào tạo ở nước ta hiện nay
Yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở quan trọng để tiến hành đổi mới giáo dục, đào tạo Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo phải gắn chặt với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế Mục đích trực tiếp của giáo dục, đào tạo là tạo ra nguồn lực lao động và quản lý phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Giáo dục là nhân tố quan trọng nhất bảo đảm để một quốc gia phát triển kinh tế theo con đường “phát triển rút ngắn” Chất lượng giáo dục, đào tạo phải đặt bên cạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới
Xu thế phát triển của thời đại, nhu cầu học tập của nhân dân, truyền thống giáo dục, đào tạo của đất nước là cơ sở không thể bỏ qua khi tiến hành đổi mới giáo dục, đào tạo của nước ta hiện nay Do vậy, đổi mới giáo dục, đào tạo ở nước
ta cần phải nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại, yêu cầu của đất nước, nhu cầu của nhân dân, truyền thống hiếu học, trọng học của dân tộc; phải tiếp biến và phát huy được truyền thống lịch sử giáo dục Việt Nam, nhất là những thành tựu của nền giáo dục, đào tạo cách mạng từ năm 1945 đến nay
Các giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục được hiểu là đổi mới hệ thống giáo dục (cả về hệ thống cơ cấu mục tiêu giáo dục, hệ thống mạng lưới trường lớp,