LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án Bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các tƣ liệu đƣợc sử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9319042
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Thị Minh Lý PGS.TS Từ Thị Loan
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ
cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những luận điểm nêu ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Đắc Thủy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2 Những khái niệm cơ bản 17
1.3 Mối quan hệ giữa di sản văn hoá và du lịch 23
1.4 Cơ sở lý luận 28
Tiểu kết 40
Chương 2: NHẬN DIỆN GIÁ TRỊ DI SẢN TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG VÀ HÁT XOAN TRONG KHO TÀNG DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở PHÚ THỌ 42
2.1 Khái lược về di sản văn hoá phi vật thể ở Phú Thọ 42
2.2 Giá trị của di sản tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương 51
2.3 Giá trị của di sản Hát Xoan 55
Tiểu kết 59
Chương 3: THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG HÙNG VƯƠNG VÀ HÁT XOAN Ở PHÚ THỌ 61
3.1 Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 61
3.2 Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hát Xoan 72
Tiểu kết 90
Chương 4: KINH NGHIỆM QUỐC VỀ TẾ BẢO VỆ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ 92
4.1 Một số kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể 92
4.2 Một số vấn đề rút ra qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể 109
Tiểu kết 112
Chương 5: GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNGVÀ HÁT XOAN 114
5.1 Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ và phát huy di sản Hát Xoan và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 114
5.2 Giải pháp quản lý, bảo vệ và phát huy Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 116
5.3 Giải pháp quản lý, bảo vệ và phát huy di sản Hát Xoan 134
5.4 Kiến nghị, đề xuất 143
Tiểu kết 144
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 162
Trang 5TP
Tr
TS
Phi vật thể Trung học cơ sở Thành phố Trang Tiến sĩ TSKH
TW UBND
Tiến sĩ khoa học Trung ƣơng
Ủy ban nhân dân
Scientific and Cutural Organization(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc)
Trang 6Biểu đồ 4: Sự phát triển các Câu lạc bộ Xoan tại tỉnh Phú Thọ
sau khi UNESCO ghi danh
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di sản văn hoá phi vật thể là yếu tố quan trọng tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc, là một trong các nhân tố của đa dạng văn hoá đảm bảo cho sự phát triển bền vững Ngày nay bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá phi vật thể là mối quan tâm chung của toàn nhân loại Công ước về bảo vệ DSVHPVT (gọi tắt là Công ước 2003) của UNESCO đã khuyến cáo các quốc gia tăng cường các biện pháp thống kê và ban hành các chính sách cụ thể nhằm bảo vệ và phát huy vai trò của DSVHPVT của các quốc gia, trong đó nhấn mạnh đặc biệt tới công tác quản lý
và nghiên cứu khoa học, nhằm bảo vệ có hiệu quả DSVHPVT Trong quá trình thực hiện Công ước, UNESCO đã ban hành các văn bản hướng dẫn và các Quyết nghị nhằm bảo vệ di sản một cách bền vững và phù hợp với từng quốc gia Nhận thấy bản chất năng động của DSVHPVT, tháng 6/2016 Đại hội đồng các quốc gia thành viện đã họp và ban hành quyết nghị trong đó đề cập đến việc bảo vệ DSVHPVT và phát triển bền vững bao gồm phát triển xã hội toàn diện, phát triển kinh tế toàn diện, tính bền vững của môi trường, DSVHPVT và hòa bình Đề cập đến phát triển kinh
tế toàn diện UNESCO khuyến cáo “các quốc gia nỗ lực để tận dụng đầy đủ lợi thế của DSVHPVT như một lực lượng mạnh mẽ cho sự phát triển toàn diện và công bằng”, bên cạnh đó UNESCO cũng đưa ra các khuyến cáo nhằm tạo ra sinh kế bền vững, năng suất lao động và việc làm bền vững, những tác động của du lịch đối với bảo vệ DSVHPVT và ngược lại Đồng thời các nguyên tắc đạo đức trong bảo vệ DSVHPVT cũng được UNESCO quy định bổ sung cho Công ước 2003 nhằm làm
cơ sở cho sự phát triển các chuẩn mực đạo đức và công cụ pháp lý phù hợp với từng quốc gia trong quá trình bảo vệ di sản
Phú Thọ là vùng đất cội nguồn dân tộc, ở đó đậm đặc các di sản văn hoá, đặc biệt là DSVHPVT Hệ thống DSVHPVT phong phú trên địa bàn Phú Thọ đã được các thế hệ người Việt sáng tạo, lưu giữ hàng nghìn năm với những giá trị đặc trưng mang đậm dấu ấn nền văn minh nông nghiệp, văn minh lúa nước của người Việt; thể hiện một nền văn hóa lâu đời, một thời kỳ rực rỡ văn hoá thời đại Hùng Vương, chứa
Trang 8đựng giá trị văn hoá đặc sắc mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Với những giá trị đặc trưng và độc đáo, các DSVHPVT ở Phú Thọ đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc trở thành di sản chung của nhân loại: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương ở Phú Thọ (năm 2012) Hát Xoan Phú Thọ (năm 2017) được UNESCO ghi
danh là DSVHPVT đại diện của nhân loại Các di sản trên đã đóng góp vào kho tàng
di sản văn hoá quốc gia và thế giới, tạo nên bức tranh chung về đa dạng văn hoá
Tuy nhiên, vấn đề thực tiễn đang đặt ra là các DSVHPVT sau khi được UNESCO ghi danh thì bảo vệ thế nào? Làm thế nào để thực hiện Chương trình hành động quốc gia mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết với UNESCO khi nộp hồ sơ quốc gia trình UNESCO Làm thế nào để phát huy giá trị di sản một cách bền vững?
Đó cũng chính là vấn đề của nghiên cứu, quản lý di sản
Thứ nhất: Ngay sau khi Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở
Phú Thọ được UNESCO ghi danh thì lượng du khách đến Phú Thọ tăng đột biến Chỉ tính riêng ba tháng đầu năm 2012, lượng du khách về Phú Thọ tham dự các
hoạt động lễ hội mùa xuân và Hát Xoan lên tới gần 6 triệu lượt người Năm 2012 sau khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trở thành di sản văn hoá phi vật thể đại
diện của nhân loại, lượng khách đến tham quan và thực hành di sản tăng hàng năm, trong dịp giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 năm Ất Mùi - 2015, Phú Thọ đã đón hơn 8 triệu lượt du khách
Thứ hai: Di sản đang chịu sự tác động mạnh mẽ từ hoạt động du lịch, điều
này có thể dẫn đến khả năng tiềm tàng ảnh hưởng đến sự tồn tại của di sản Sẽ xuất hiện những vấn đề mới trong công tác quản lý bảo vệ di sản, giữa bảo tồn và phát huy; mục đích của bảo tồn di sản là bảo vệ các giá trị cốt lõi có tính truyền thống của di sản trong khi du lịch luôn tối đa hoá lợi ích kinh tế Bảo tồn tốt di sản tạo ra giá trị, là tài nguyên cho hoạt động du lịch, nhưng du lịch có hai khía cạnh đối lập:
du lịch có thể tác động tích cực khuyến khích việc bảo tồn làm cho di sản sống trong cộng đồng nhưng du lịch cũng có thể xâm hại, làm biến dạng DSVHPVT
Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan Phú Thọ là trường hợp cụ thể đang chịu ảnh hưởng của những phân tích nêu trên Vì vậy, rất cần có những nghiên cứu khoa học chuyên sâu nhằm tìm ra phương pháp luận đúng đắn
Trang 9tiếp cận vấn đề này để phân tích, đánh giá thực tiễn bảo tồn và phát huy giá trị các
di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp bảo vệ di sản văn hoá hướng tới sự phát triển bền vững
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến 2020 đã chọn du lịch là khâu đột phá mũi nhọn trong phát triển kinh tế xã hội, trong đó du lịch nhân văn, du lịch văn hoá dựa trên giá trị của di sản phi vật thể là thế mạnh đặc trưng của Phú Thọ Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu hưởng thụ và khám phá văn hóa ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống cộng đồng Đó là như những quy luật tất yếu trong đời sống kinh tế xã hội, các nhu cầu này thường được thỏa mãn thông qua các hoạt động du lịch văn hóa
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan sau khi được UNESCO ghi danh đang trở thành mối quan tâm, nhu cầu tìm hiểu khám phá của khách du lịch, thậm chí trở thành sản phẩm của du lịch Như vậy, du lịch sẽ có tác động gì đến hai
di sản này? Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan sau khi được thế giới công nhận sẽ được bảo tồn như thế nào? Công tác quản lý di sản sẽ được giải quyết như thế nào để đảm bảo và xử lý tốt vấn đề vai trò của cộng đồng và nhà nước trong bảo vệ và phát huy giá trị của di sản? Đây là những luận điểm cần nghiên cứu và làm sáng tỏ cả ở góc độ lý luận và thực tiễn
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ về bảo vệ các di sản văn hóa của Việt Nam mà UNESCO vinh danh ở
Phú Thọ, do đó NCS chọn đề tài Bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ
cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ với mong muốn làm sáng tỏ các luận
điểm nêu trên; đồng thời góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định và thực thi các chính sách quản lý, bảo tồn và phát huy DSVHPVT đảm bảo sự phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu: Từ những phân tích nêu trên câu hỏi nghiên cứu đặt ra
trong luận án là:
Trang 10(1) Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan có giá trị như thế nào trong đời sống xã hội hiện nay?
(2) Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ đã được bảo vệ và phát huy như thế nào?
(3) Cần làm gì để bảo vệ di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan?
Giả thuyết nghiên cứu
1 Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ có những giá trị lớn trong đời sống xã hội hiện nay
2.Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan hiện nay đang được
bảo vệ và phát huy có hiệu quả, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn
3 Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan sẽ được bảo vệ và phát huy tốt nếu thực hiện đúng các quan điểm bảo vệ di sản của UNESCO và các
lý thuyết phù hợp, cũng như triển khai công tác quản lý hiệu quả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng bảo vệ và phát huy trị giá trị
di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ Từ đó đề xuất các giải pháp để hai di sản này được bảo vệ một cách bền vững và được bảo vệ theo quy định luật pháp của quốc gia, Công ước của quốc tế và các lý thuyết bảo tồn di sản của các học giả
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận, làm sáng tỏ các khái niệm then chốt, trình bày những tiếp cận lý thuyết có liên quan
- Khảo sát, phân tích, đánh giá hiện trạng công tác bảo vệ và phát huy hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ
- Nghiên cứu một số kinh nghiệm quốc tế để rút ra những bài học và gợi mở đối với việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Phú Thọ
- Làm rõ những cơ sở thực tiễn, nhận diện những vấn đề đặt ra đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Trang 11- Đề xuất một hệ thống các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ trong bối cảnh phát triển du lịch
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị hai di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ từ phương diện quản lý văn hóa
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu khảo sát thực tế tại các làng Xoan cổ trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ bao gồm phường Xoan An Thái, xã Phượng Lâu; phường Xoan Thét, Phù Đức, Kim Đái, xã Kim Đức, thành phố Việt trì; Khu di tích lịch sử đền Hùng, một số làng có địa điểm thờ cúng Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (làng Vi, làng Trẹo, thị trấn Hùng Sơn; đình Cả, xóm Mở, xóm Giã, xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao ); các không gian văn hóa liên quan (lễ hội, sự kiện văn hóa, du lịch cộng đồng…)
Về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2017 (Đây là những năm di sản Hát
Xoan trong giai đoạn thực hiện các biện pháp bảo vệ để thoát khỏi tình trạng bảo vệ khẩn cấp và được UNESCO ghi danh là di sản VHPVT đại diện của nhân loại, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được ghi danh là di sản VHPVT đại diện và thực hiện các cam kết, chương trình hành động bảo vệ di sản theo tinh thần công ước
2003 của UNESCO)
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Di sản văn hóa là một vấn đề rất lớn, tuy nhiên,
trong phạm vi của luận án này, NCS chỉ tập trung nghiên cứu và đề cập đến hoạt động bảo vệ và phát huy những giá trị của 2 di sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã được UNESCO ghi danh là Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan thông qua việc nhận diện giá trị của 2 di sản, thực trạng công tác bảo vệ và phát huy 2 di sản, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ di sản VHPVT từ đó đề xuất biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị của 2 di sản một cách bền vững
Trang 125 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận
Từ những đặc điểm của di sản văn hóa PVT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ NCS chọn cách tiếp cận tổng thể, phát triển và cộng đồng
Cách tiếp cận tổng thể: Do DSVHPVT ở Phú Thọ đang chịu sự tác động từ sự
phát triển của du lịch, nên nó sẽ ảnh hưởng và chi phối đến tổng thể các vấn đề kinh tế -
xã hội trên địa bàn tỉnh từ vấn đề môi trường, không gian văn hóa, giao thông, an ninh trật tự, vệ sinh an toàn thực phẩm, cư dân đến cơ chế chính sách, công tác quản lý Cách tiếp cận tổng thể sẽ giúp NCS xem xét và giải quyết tổng hòa các mối quan hệ giữa DSVHPVT với các lĩnh vực kinh tế xã hội một cách toàn diện hơn
Cách tiếp cận phát triển: Một đặc điểm của DSVHPVT là luôn luôn vận
động, nó luôn gắn với thực tiễn sinh động của đời sống kinh tế xã hội, chọn cách tiếp cận phát triển sẽ đảm bảo tính khách quan trong quá trình nghiên cứu và xem xét DSVHPVT trong sự vận động và phát triển chứ không bị đóng băng
Cách tiếp cận cộng đồng: Cộng đồng là chủ thể sáng tạo và thực hành di sản
cũng là chủ thể trong việc bảo vệ, gìn giữ và trao truyền di sản, cách tiếp cận cộng đồng
sẽ giúp NCS xử lý các vấn đề bảo vệ và phát huy DSVHPVT một cách phù hợp và bền vững, tôn trọng chủ thể di sản và vì lợi ích cộng đồng, lấy cộng đồng làm trung tâm
Bên cạnh đó NCS sẽ chọn cách tiếp cận của khoa học quản lý văn hóa và cách tiếp cận liên ngành của văn hóa học để xử lý các vấn đề đặt ra trong luận án
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Trên cơ sở thu thập, tổng hợp,
phân tích các công trình nghiên cứu đã công bố, các báo cáo đề tài khoa học, các luận văn, luận án, các nguồn tài liệu tham khảo khác có liên quan, NCS tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu, làm rõ những gì có thể kế thừa từ các nghiên cứu đi trước, những gì còn là khoảng trống để luận án có thể bổ khuyết, lấp đầy Việc tham khảo công trình của các nhà khoa học trong và ngoài nước, các Công ước, văn bản của UNESCO cũng giúp NCS lựa chọn quan điểm lý thuyết, những vấn đề lý luận
phù hợp để soi chiếu, vận dụng xử lý, giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra
Trang 13- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa, quan sát tham dự của Nhân học:
NCS vận dụng phương pháp này nhằm khảo sát đánh giá thực tế, đặc biệt là các địa điểm các làng có di tích thờ cúng Hùng Vương và các nghi lễ liên quan đến Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; khảo sát đánh giá các địa điểm không gian tự nhiên, môi trường tổ chức diễn xướng Hát Xoan tại các phường Xoan gốc; gặp gỡ phỏng vấn sâu các đối tượng nghệ nhân, những người thực hành
và nắm giữ di sản; khảo sát hiện trạng, đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ hai di sản nêu trên từ đó có những đánh giá giá trị của di sản Thông qua điền dã sẽ
có điều kiện đối chiếu bổ sung các thông tin cần thiết mà các nguồn tư liệu khác còn
thiếu hoặc chưa chính xác
- Phương pháp điều tra xã hội học: NCS dụng phương pháp điều tra xã hội
học nhằm thu thập những thông tin khách quan của du khách về giá trị của hai di sản ở Phú Thọ trong hoạt động du lịch, đồng thời sử dụng phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu nhằm đưa ra những đánh giá kết luận khách quan nhất về nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm, khám phá văn hoá của các đối tượng khách du lịch,
từ đó có những giải pháp hoặc khuyến nghị, đề xuất cho chính sách bảo tồn di sản tránh những tác động xâm hại đến di sản
- Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp: Bên cạnh các số liệu thu thập được từ
kết quả điều tra, khảo sát thực tế, NCS cũng sử dụng số liệu báo cáo của các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị có liên quan, số liệu thống kê của Nhà nước, của các tổ chức quốc tế, v.v
Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các phương pháp khác của nghiên cứu khoa học nói chung và các thao tác kỹ thuật như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, biện luận, lý giải, đánh giá…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở tham khảo và kế thừa những kết quả nghiên cứu về lý luận của các tác giả đi trước, luận án tiếp tục tổng hợp, hệ thống, bổ sung cơ sở lý luận về di sản văn hoá phi vật thể; cơ sở lý luận về bản chất, vai trò, giá trị của Tín ngưỡng thờ
Trang 14cúng Hùng Vương và Hát Xoan; mối quan hệ tác động qua lại giữa di sản văn hoá phi vật thể và du lịch Đây là những đóng góp mới, góp phần bổ sung thiết thực vào vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa "kinh tế" và "văn hoá" trong quá trình hội nhập quốc tế
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học, giúp tư vấn cho các nhà lãnh đạo quản lý định hướng, hoạch định chiến lược và thực thi chính sách bảo tồn hai di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, hát Xoan và các di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn tỉnh Phú Thọ một cách bền vững
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu (8 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham khảo (11 trang), phụ lục (96 trang), luận án có kết cấu năm chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (33 trang)
- Chương 2: Nhận diện giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể ở Phú Thọ (19 trang)
- Chương 3: Thực trạng bảo vệ và phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ (31 trang)
- Chương 4: Kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (21 trang)
- Chương 5: Giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan (32 trang)
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những công trình đề cập đến khái niệm, quan điểm, biện pháp bảo
vệ di sản
Đối với các công trình nghiên cứu liên quan đến các quan điểm bảo vệ di sản: Gregory J Ashworth đã đưa ra các quan điểm bảo tồn nguyên vẹn từ những thập niên 50 của thế kỷ XIX Quan điểm này cho rằng: “Những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại” [121]
Một số học giả như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham… đưa ra các quan điểm “bảo vệ trên cơ sở kế thừa” Các học giả này xem di sản như những thiết chế văn hoá có giá trị thương mại, giá trị kinh tế và giá trị du lịch Từ đó, cần phải
có cách thức quản lý di sản tương tự như cách thức quản lý một ngành công nghiệp văn hoá Quan điểm này có sự nhìn nhận linh hoạt dựa trên cơ sở mỗi di sản cần được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi tồn tại ở thời gian và không gian nào, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hoá xã hội phù hợp và phải loại bỏ những thứ không còn phù hợp với xã hội ấy
Lucas Lixinski (2013), Intangible Cultural Heritage in International Law
(Cultural Heritage Law And Policy) Di sản văn hóa phi vật thể trong Luật quốc tế (Luật Di sản văn hóa và Chính sách) đã phân tích toàn diện về các vấn đề pháp lý
xung quanh DSVHPVT Theo đó, DSVHPVT được bảo vệ trên ba cấp độ khác nhau: quốc tế, khu vực và quốc gia Lixinski cũng đưa ra các tranh luận lý thuyết cũng như các vấn đề pháp lý về nội dung và thể chế phức tạp xung quanh bảo vệ DSVHPVT; đồng thời đề cập chủ đề bao trùm trong các nỗ lực để bảo vệ di sản và cung cấp các biện pháp, giải quyết các khó khăn trong việc bảo vệ pháp lý cho sự phát triển và sự tồn tại đa dạng của các nền văn hóa [126]
GS.TS Ngô Đức Thịnh trong công trình Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật
thể đã giới thiệu phân loại di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, các dạng
Trang 16thức chính của văn hóa phi vật thể đó là ngữ văn truyền miệng, các hình thức trình diễn xướng và trình diễn, những hành vi ứng xử, các hình thức nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, lễ hội, tri thức dân gian Tác giả đã nghiên cứu một số đặc trưng của văn hóa PVT Từ đó đề ra các giải pháp sưu tầm, bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể dưới dạng “tĩnh” và dạng “động” và nhất là giải pháp bảo vệ con người - nghệ nhân văn hóa - “báu vật sống” của nhân loại [91]
GS.TS Trương Quốc Bình trong công trình Về mối quan hệ văn hóa và du
lịch đã nghiên cứu và phân tích về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch
được thể hiện rõ trong sự kiên kết giữa việc bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử và văn hóa Tác giả đã chỉ ra được những tác động tiêu cực do hoạt động du lịch gây ra đối với việc bảo tồn di sản văn hóa nói riêng và nếp sống văn hóa nói chung Qua
đó đề xuất các giải pháp quản lý văn hóa và phát triển du lịch bền vững [10]
Công trình Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: Quan niệm quốc tế và chính
sách pháp luật của một số quốc gia - Trương Hồng Quang đã khái quát sự hình
thành và phát triển chính sách bảo tồn hệ thống DSVHPVT trên thế giới từ năm
1939 cho đến nay, phân tích các quan niệm về DSVHPVT của UNESCO và một số quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, từ đó rút ra những nhận xét về điểm giống và khác nhau trong các quan niệm Tác giả cũng đưa ra một số chính sách bảo
vệ DSVHPVT tại một số quốc gia cụ thể như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Philipin [72] Đây là những thông tin rất hữu ích giúp NCS tham khảo các biện pháp bảo vệ DSVHPVT của một số quốc gia trong khu vực để so sánh và vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
Công trình Du lịch và di sản văn hóa phi vật thể (Tourism and Intangible
Cultural Heritage) xuất bản năm 2012 của Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism
Organization UNWTO) đã đánh giá cơ hội cũng như thách thức lớn, rủi ro của phát triển du lịch liên quan đến DSVHPVT, đồng thời gợi ý các bước thực tế cho việc lập, quản lý và tiếp thị các sản phẩm du lịch DSVHPVT [130] Các tư liệu của công trình này cung cấp thông tin khá đầy đủ và có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích hành động của chính phủ chỉ đạo, quan hệ đối tác công -tư và các sáng kiến cộng
Trang 17đồng Tư liệu này cũng tiếp tục cung cấp các khuyến nghị về thúc đẩy phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững thông qua việc bảo vệ DSVHPVT
Tác giả Đinh Thị Minh Tuyết với công trình Giáo dục ý thức bảo tồn lễ hội
truyền thống ở Việt Nam: Tiếp cận từ góc độ nhà quản lý, tác giả đã nghiên cứu và
nêu những thách thức đối với việc bảo tồn các lễ hội truyền thống như vấn đề nhận thức, văn hóa ứng xử với lễ hội truyền thống, môi trường, thương mại hóa…Tác giả
đã có những nhận định sâu sắc, toàn diện về những thách thức trong việc bảo tồn lễ hội truyền thống ở Việt Nam mà thách thức cơ bản nhất là do sự hạn chế, bất cập về
tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống [107]
Tác giả Nguyễn Phương Lan trong Chính sách bảo tồn, khai thác tài nguyên
du lịch lễ hội đã giới thiệu một số chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm đẩy mạnh
công tác bảo tồn, khai thác di sản văn hóa trong đó có lễ hội dân gian Việt Nam từ năm 1945 đến nay Tác giả cũng chỉ ra những bấp cập trong công tác quản lý khai thác du lịch lễ hội với những nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hai ngành Văn hóa và Du lịch cần nhận thức và giải quyết Từ góc độ chính sách văn hóa, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị tích cực của lễ hội, khai thác tốt nguồn tài nguyên du lịch lễ hội trong thời gian tiếp theo [46]
Tác giả Phạm Văn Dương trong công trình Từ lễ hội đền Hùng đến lễ hội
dân tộc - quốc gia vị trí, vai trò của người dân với việc gìn giữ nét truyền thống đã
giới thiệu quá trình phát triển của không gian lễ hội đền Hùng từ phạm vi địa phương đến khi trở thành lễ hội chung của dân tộc - quốc gia, khẳng định vị trí, vai trò của người dân trong việc gìn giữ nét truyền thống của lễ hội đền Hùng và tầm quan trọng, giá trị to lớn, sự thiêng liêng của lễ hội đền Hùng trong tâm thức cả dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, tác giả cho rằng với việc ngày càng chuyên nghiệp hóa lễ hội đền Hùng bằng các kịch bản, vai trò của người dân đối với lễ hội trong những năm gần đây bị hạn chế và mờ nhạt.Tác giả cũng nêu quan điểm cần nhìn nhận lại
vai trò của Nhà nước và người dân trong vùng văn hóa Hùng Vương [115]
Tác giả Lê Thị Minh Lý trong Bảo vệ tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội thờ
Hùng Vương ở Phú Thọ - đã nhận định hoàn cảnh và phân tích quá trình bảo vệ di
Trang 18sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam cùng với những hệ quả kéo theo như: sự vận dụng một cách máy móc và cứng nhắc những khái niệm và biện pháp bảo vệ di sản vật thể đối với di sản phi vật thể làm cho quá trình bảo vệ di sản phi vật thể ở Việt Nam một thời gian dài bị hạn chế, thiếu hiệu quả, lúng túng và trì trệ… Tác giả phân tích những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động bảo vệ di sản ở Việt Nam sau khi tiếp cận với những quan điểm của quốc tế, của UNESCO và đặc biệt từ khi có Công ước 2003 Bên cạnh đó là những thách thức và đề xuất, phương
pháp để bảo vệ tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội thờ Hùng Vương ở Phú Thọ [115]
Tác giả Lê Thị Hoài Phương trong Bảo tồn Hát Xoan (Phú Thọ) gắn liền với
không gian thờ cúng Hùng Vương đã nghiên cứu vấn đề bảo tồn Hát Xoan ở Phú
Thọ gắn liền với không gian thờ cúng Hùng Vương qua việc trả lời và giải quyết từng câu hỏi: Bảo tồn bằng cách nào? Bảo tồn bằng cái gì? Bảo tồn như thế nào? Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất một số ý kiến mang tính phương pháp luận như: khôi phục lại càng sớm càng tốt môi trường văn hóa cho Hát Xoan, Việc truyền dạy nghệ thuật Hát Xoan, chính sách của nhà nước hỗ trợ vật chất cho hoạt
động này [115]
1.1.2 Các công trình đề cập đến những giá trị của di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và hát Xoan
Một số công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử thời đại Hùng Vương và
quá trình hình thành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương như Quốc Tổ Hùng Vương,
Nước Văn Lang - thời đại các vua Hùng [78] Thời đại Hùng Vương: Lịch sử - Kinh
tế - Văn hóa - Xã hội [86] là tổng hợp các kết quả nghiên cứu và kết luận của các
cuộc hội thảo khoa học; những bài nghiên cứu của các giáo sư, nhà nghiên cứu về thời đại Hùng Vương từ lúc hình thành đến khi tan rã, các lĩnh vực từ định danh, bờ cõi, dân cư nước Văn Lang đến nền kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, tổ chức sản xuất - trao đổi, thể chế xã hội, chính trị hay đời sống văn hóa lúc bấy giờ Một
số bài nghiên cứu trong cuốn sách đề cập đến các giá trị của di sản vật thể tuy nhiên các giá trị văn hóa phi vật thể và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ẩn chứa trong các bài nghiên cứu khá rõ nét
Trang 19Trong công trình Những giá trị tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ
- GS.TS Nguyễn Chí Bền đã giới thiệu Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương qua góc
nhìn lịch sử Phân tích những giá trị Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương qua các phương diện: Ở phương diện xã hội, giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là
sự thể hiện tính cố kết cộng đồng, truyền thống đoàn kết dân tộc Có thể coi tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương như một sợi chỉ đỏ, nối kết quá khứ với hiện tại, là
bệ đỡ tâm linh cho các thế hệ con người Việt Nam Tác giả khẳng định tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một sáng tạo văn hóa của người Việt qua trường kỳ lịch
sử, sáng tạo này mang tầm kiệt tác của nhân loại Đó là một kho tàng văn hóa dân gian từ truyền thuyết đến lễ hội, từ ẩm thực đến nghi lễ liên quan đến Hùng Vương
được dân gian sáng tạo và lưu truyền [6]
Tác giả Trần Thị Tuyết Mai với Lễ hội đền Hùng trong đời sống văn hoá cộng
đồng đã nghiên cứu đánh giá giá trị của lễ hội Đền Hùng, sự biến đổi của lễ hội và sự
lan toả của lễ hội Đền Hùng, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của lễ hội trong đời sống văn hoá cộng đồng; Tuy nhiên, công trình này mới chỉ nghiên cứu một
lễ hội cụ thể, chưa đề cập đến toàn diện Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và giá trị của nó trong đời sống;
Một công trình tập hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu trực tiếp đến Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được tổng hợp
trong cuốn Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại (nghiên cứu trường
hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam) [115] Trong công trình này các
vấn đề về lý thuyết, phương pháp tiếp cận nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và trên thế giới; các tập tục nghi lễ những giá trị lịch sử của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Việt Nam và trên thế giới đã được các nhà khoa học phân tích
so sánh với nhiều cách tiếp cận khác nhau Sự hình thành, quá trình phát triển, giá trị lịch sử -văn hóa của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; sự biến đổi của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong xã hội đương đại và các nghiên cứu về bảo tồn
và phát huy tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu
hóa là những nội dung chính của các nghiên cứu như: “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Trang 20Vương với việc hình thành bản sắc dân tộc” của tác giả Đặng Văn Bài; “Đôi điều về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng thờ quốc tổ Hùng Vương ở Việt Nam”
của tác giả Trương Quốc Bình; “Đặc điểm của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở
Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Chí Bền; “Tục thờ Hùng Vương trong hệ thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt” của tác giả Từ Thị Loan; “Sáng tạo truyền thống: Nghiên cứu trường hợp Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày mồng 10 - 3 âm lịch hàng năm” của tác giả Nguyễn Thị Hiền - Hoàng Cầm; “Tín ngưỡng thờ vua Hùng
và tín ngưỡng thờ lúa trên vùng đất Tổ” của tác giả Nguyễn Thị Huế; “Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đến giỗ tổ Hùng Vương - sự củng cố cộng đồng trước nhu cầu tồn tại và phát triển quốc gia” của tác giả Lê Hồng Lý - Đào Thế Đức; “Quốc
Tổ Hùng Vương, biểu tượng cội nguồn quốc gia dân tộc Việt Nam” của tác giả Ngô
Đức Thịnh Với những cách tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu trên đã đánh giá
về đặc điểm, nguồn gốc, giá trị, công tác bảo tồn phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và sức sống mạnh mẽ của di sản này
Hát Xoan - dân ca nghi lễ, phong tục của tác giả Tú Ngọc, nhà xuất bản Âm
nhạc (1997) là công trình nghiên cứu đa chiều về hát Xoan Phú Thọ Tác giả đưa ra những nghiên cứu sâu về nguồn gốc và lịch sử phát triển của Hát Xoan trên cơ sở nhận định và đánh giá những truyền thuyết, huyền thoại, những thư tịch, tư liệu cổ
về Hát Xoan; đề cập đến đặc trưng của Hát Xoan, mối quan hệ giữa Hát Xoan và một số hình thức dân ca nghi lễ của vùng trung du, châu thổ Bắc bộ; những đặc điểm và tính phức hợp về mặt thể loại trong Hát Xoan Tác giả khẳng định những giá trị đặc sắc của Hát Xoan và đưa ra những bàn luận, những hướng đi để bảo tồn
và phát huy được những giá trị của Hát Xoan trong điều kiện, tình hình mới [63]
Công trình Hát Xoan Phú Thọ của tác giả Nguyễn Khắc Xương với cách tiếp
cận của văn hóa dân gian để phân tích: Nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật hát Xoan; không gian, thời gian, địa lý hành chính vùng Xoan, truyền thống văn hoá quê Xoan; phương thức trình diễn Hát Xoan; ngôn ngữ hát Xoan, các quả cách (làn điệu) Xoan, trang phục Hát Xoan Tác giả phân tích rõ mọi đặc điểm của Hát Xoan không chỉ cái cốt lõi là âm nhạc đến hình thức diễn xướng của từng quả cách, mà
Trang 21còn hiểu rõ mọi tín ngưỡng, phong tục tập quán, lề lối tổ chức làng xã cổ truyền của người Việt vùng trung du đất Tổ và các tục lệ của nó như: tục lệ đưa đón, tiếp đãi
tục giữ cửa đình, tục kết chạ, tục tế lễ, tục phường họ…[118]
Hát Xoan - Hát Ghẹo dấu ấn một chặng đường của tác giả Cao Khắc Thùy
đã tổng quan về Hát Xoan và Hát Ghẹo - một trong những nét văn hóa đặc trưng thời kì Hùng Vương Tác giả cũng công bố những kết quả sưu tầm, nghiên cứu Hát Xoan, Hát Ghẹo từ giữa những năm 1950 đến nay,tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn ở các làng Xoan, Ghẹo gốc và tiếp tục phổ biến rộng rãi trong nhân dân Kiến nghị về việc thành lập các trung tâm sưu tầm, nghiên cứu Hát Xoan, Hát Ghẹo [95]
Tác phẩm“Hát Xoan ở Phú Thọ“(Xoan singing in Phú Thọ) là tập hợp các
bài viết, bài phát biểu trong Hội thảo khoa học quốc tế về Hát Xoan do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức Các bài viết tập trung nghiên cứu về nguốn gốc hình thành, lịch sử phát triển, các giá trị đặc trưng trong điệu múa, lời ca của Hát Xoan, mối quan hệ giữa Hát Xoan với các loại hình dân ca các tỉnh trung du và đồng bằng sông Hồng như hát quan họ, hát trống quân, hát chèo thuyền Tác giả Sheen Dea Cheol (Hàn Quốc) và tác giả Xiao Mei (Trung Quốc) lại đưa ra những so sánh những điểm tương đồng giữa Hát Xoan của Việt Nam với nghệ thuật biểu diễn mừng đầu năm - cuối năm của người Hàn Quốc và phong cách ca hát của Trung Quốc Vấn đề bảo tồn, phát huy và phổ biến Hát Xoan trong xã hội ngày nay cũng là một vấn đề được nhiều tác giả đề cập đến để Hát Xoan giữ mãi được những giá trị đặc trưng đặc sắc và được phổ biến rộng rãi, có
được sức sống lâu bền [135]
Hát Xoan - Dân ca cội nguồn của tác giả Dương Huy Thiện đã khái lượcvà
đưa ra giả thuyết về nguồn gốc của Hát Xoan của từng khu vực dân cư như: người dân ở Cao Mại (Lâm Thao) với giả thuyết Hát Xoan có từ thời vua Hùng; người dân
ở phường Xoan Kim Đới (Việt Trì) với giả thuyết Hát Xoan có từ nhà Lê; người dân ở Nhang Nộn (Tam Nông) với giả thuyết Hát Xoan có từ thời nhà Lý; người dân phường Xoan Thét (Phù Ninh) với truyền thuyết Hát Xoan phát tiết từ mối quan
Trang 22hệ kết nghĩa giữa hai làng Tử Du và Phù Liễn Tác giả cũng nêu những vấn đề về tổ chức, sinh hoạt và trang phục về những đặc trưng và giá trị nghệ thuật của Hát Xoan; những đặc trưng của âm nhạc, lời ca và điệu múa trong Hát Xoan [89]
Tác giả Duy Linh với Sức lan tỏa của làn điệu cổ - Hát Xoan đã giới thiệu
sức sống và sự lan toả của Hát Xoan qua vị trí, địa bàn hoạt động là trung tâm của
di sản hát Xoan và các vùng lân cận: thôn An Thái (xã Phượng Lâu - TP Việt Trì), thôn Thét, thôn Phù Đức, thôn Kim Đái (xã Kim Đức - TP Việt Trì) và 17 xã, địa bàn liên quan đến Hát Xoan Quy mô phát triển của Hát Xoan qua thời gian [48]
Nhận xét chung: Như đã phân tích ở trên, các công trình nghiên cứu trước
đề tài luận án đã đề cập đến việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với cách tiếp cận khác nhau và phạm vi nghiên cứu khác nhau Trường hợp di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan cũng được đề cập với các cách tiếp cận khác nhau, phản ánh các góc nhìn đa chiều về 2 di sản này Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu bảo vệ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan trong sự tác động của du lịch ở Phú Thọ, mặc dù trong thực tế hoạt động du lịch vẫn hàng ngày tác động đến 2 di sản di sản này
Xét về phương diện lý thuyết: nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến lý thuyết bảo tồn DSVH nói chung và DSVHPVT nói riêng; Chưa có công trình nào
áp dụng lý thuyết cụ thể vào việc bảo vệ 2 di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
và Hát Xoan ở Phú Thọ
Về phương diện thực tiễn: Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ đang chịu sự tác động mạnh mẽ từ du lịch, hàng năm du khách đến trải nghiệm DSVH ở Phú Thọ đạt từ 6 đến 8 triệu lượt Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hôi tỉnh Phú Thọ 15 năm qua đều xác định nhiệm vụ bảo tồn DSVH đất Tổ Hùng Vương là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó xác định du lịch là một trong những khâu đột phá trong phát triển kinh tế xã hội Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 định hướng đến 2020 cũng xác định xây dựng khu di tích lịch sử đền Hùng là khu du lịch văn hóa tâm linh lớn nhất cả nước Tuy nhiên đến nay, chưa
có công trình nào nghiên cứu đề xuất các biện pháp bảo vệ 2 di sản trên một cách cụ
Trang 23thể, việc nghiên cứu bảo tồn di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan dưới tác động mạnh mẽ của du lịch cũng gần như bỏ ngỏ Mối quan hệ tương tác, sự tác động của du lịch với di sản văn hóa và sự tác động ngược lại giữa di sản văn hóa với du lịch qua 2 trường hợp Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ
Từ những phân tích trên đây cho thấy cần có một nghiên cứu cụ thể để tìm
mô hình riêng cho việc bảo vệ di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan ở Phú Thọ Tổng quan tình hình nghiên cứu và các phân tích trên cho thấy, đề
tài luận án Bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
và Hát Xoan ở Phú Thọ là rất cần thiết và là đề tài hoàn toàn mới, nghiên cứu này
xuất phát từ nhu cầu của lý luận và thực tiễn đang diễn ra trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đó Các vấn đề liên quan đến đề tài luận án mà các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước đã đề cập dưới các góc độ và cách tiếp cận khác nhau sẽ là những thông tin, tư liệu rất hữu ích để tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện với một cách nhìn mới, điều kiện hoàn cảnh mới
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Di sản văn hoá
Trong Công ước Bảo vệ và phát huy di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới
của UNESCO ban hành năm 1972, tại Điều 1 có quy định những loại hình sẽ được
coi như là “di sản văn hoá” bao gồm: Di tích kiến trúc (monuments), nhóm công
trình xây dựng (group of buildings) và các di chỉ (sites)
Theo quan niệm của UNESCO (Trong Tuyên bố về những chính sách văn
hoá - Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26 - 27 đến 6 -8 -1982 tại Mê hi cô),
Di sản văn hoá được chia làm hai loại:
Một là, những di sản văn hoá hữu thể (Tangible) như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà sàn v.v
Hai là, những di sản văn hoá vô hình (Intangible) bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hoá được lưu truyền và
Trang 24biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồng rộng rãi [133]
Tại Việt Nam, sự xác lập khái niệm di sản văn hoá từ rất sớm Ở Sắc lệnh số
65 ban hành ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng danh từ
chung là “cổ tích” Nghị định số 519/Ttg ban hành ngày 29 tháng 10 năm 1957 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về thể lệ bảo tồn cổ tích thì sử dụng thuật
ngữ “động sản và bất động sản” có giá trị lịch sử hay nghệ thuật Pháp lệnh bảo vệ
và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh ban hành ngày 4 tháng 4
năm 1984 gọi chung là “di tích lịch sử văn hoá”
Năm 2001, Luật Di sản văn hoá được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông
qua, thuật ngữ “di sản văn hoá” chính thức được xuất hiện trong văn bản pháp quy
cao nhất và được sử dụng phổ biến Đến năm 2009, Luật Di sản văn hoá sửa đổi, bổ
sung đưa ra thì DSVH bao gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể [70]
Trong Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay của
tác giả Hoàng Vinh, “Di sản văn hoá” có cách quan niệm rộng hơn như sau:
Di sản văn hoá là toàn bộ sản phẩm do các thành viên trong cộng đồng dân tộc sáng tạo, thể hiện dưới dạng những đối tượng vật thể (hữu hình)
và phi vật thể (vô hình) mang tính biểu tượng, được lan tỏa (vô thức) và trao truyền (hữu thức) từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ thế hệ trước cho thế hệ sau [116]
1.2.2 Di sản văn hoá phi vật thể
Tại Khoản 1 điều 2 trong Công ước bảo vệ Di sản phi vật thể của UNESCO
năm 2003 đã định nghĩa:
DSVHPVT được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người
và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVHPVT được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo
Trang 25để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với
tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người [109]
Theo Luật Di sản văn hoá của nước CHXHCN Việt Nam:
DSVHPVT là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [70]
Những khái niệm về DSVH, văn hoá vật thể và văn hoá PVT giúp tác giả luận án hiểu được rõ nét đối tượng nghiên cứu của mình đó là Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan Từ đó bắt tay vào việc nghiên cứu về việc bảo vệ và phát huy giá trị của hai DSVHPVT này DSVH là tài nguyên nhân văn phong phú
để du lịch khai thác, làm giàu Ngược lại, du lịch giúp quảng bá di sản, giới thiệu một cách nhanh nhất di sản cho công chúng trong và ngoài nước Nguồn doanh thu
từ du lịch dùng để quay vòng phục vụ việc trung tu di tích, bảo vệ di sản
1.2.3 Quản lý di sản văn hóa
Quản lý DSVH là quá trình theo dõi, chỉ đạo, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển các DSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất các giá trị của chúng Công tác bảo vệ và quản DSVH luôn nhận được
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau khi đất nước
giành độc lập đã Sắc lệnh số 65 -SL ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn
cõi Việt Nam Từ đó đến nay, Đảng nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chính sách liên quan đến quản lý di sản văn hóa như: Nghị quyết hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ quan trọng về xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết
Trang 26hội nghị lần thứ 9 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị của DSVH
Nội dung quản lý nhà nước về DSVH được nêu cụ thể và chi tiết trong Luật
Di sản văn hóa bao gồm:
(1) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; (2) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; (3) Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa (4) Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa (5) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa; (6) Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; (7) Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo
vệ và phát huy giá trịdi sản văn hóa; (8) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
di sản văn hóa [70]
Ngoài các nội dung công tác quản lý được nêu trong Luật di sản văn hóa, nội hàm công tác quản lý di sản còn chứa đựng nhiều nội dung cần đề cập đó là đối tượng quản lý, chủ thể quản lý, công cụ quản lý, các bên tham gia quản lý Trong trường hợp này, đối tượng quản lý là DSVHPVT, cụ thể là 2 trường hợp Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan Chủ thể tham gia quản lý di sản này là cộng đồng nắm giữ và thực hành di sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, cấp ủy và chính quyền các cấp tỉnh Phú Thọ; Các bên tham gia quản lý bao gồm chính phủ, Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch, một số Bộ và cơ quan có liên quan đến hoạch định và thực thi các chính sách bảo vệ di sản; ở địa phương là HĐND và UBND nơi có di sản, các sở ban ngành có liên quan và cộng đồng tham gia trực tiếp vào công tác quản lý
di sản mà họ đang nắm giữ Các công cụ quản lý di sản là hệ thống pháp luật liên
Trang 27quan đến di sản, cụ thể là Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ DSVHPVT, Luật
di sản văn hóa, các nghị định của chính phủ và các thông tư hướng dẫn của Bộ VHTTDL liên quan đến bảo vệ di sản; ngoài ra còn hệ thống cơ chế chính sách của Trung ương và địa phương, các quy hoạch, kế hoạch, đề án, định hướng chiến lược
và các nguồn lực bao gồm nguồn nhân lực và hệ thống cơ sở vật chất
1.2.4 Bảo tồn, bảo vệ và phát huy
Theo quan điểm của UNESCO, trong bối cảnh của công ước, bảo tồn có
nghĩa là những nỗ lực của cộng đồng và những người nắm giữ di sản để duy trì sự liên tục trong thực hành di sản đó theo thời gian Nó không có nghĩa là không có sự
thay đổi trong thực tế hoặc giá trị của di sản theo thời gian Bảo vệ di sản có nghĩa
là đảm bảo khả năng tồn tại của DSVHPVT, khả năng đó được thực hành/thể hiện, được phát triển và được chuyển giao trong hiện tại và tương lai, và vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng, nhóm người hay các cá nhân liên quan
Bảo vệ là những biện pháp nhằm đảm bảo khả năng tồn tại của DSVHPVT, bao gồm các công việc nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, quảng bá, phát huy giá trị, truyền thụ, đặc biệt là sự truyền dạy qua hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy, cũng như việc phục hồi những khía cạnh khác nhau của di sản đó [109]
Theo GS Đào Duy Anh: Bảo là giữ gìn, chăm sóc, gánh trách nhiệm; Tồn có nghĩa là còn, hiện có, dồn cất lại, gởi cất [3] Theo giáo sư Nguyễn Lân: Bảo tồn là
giữ lại không để mất đi [47]
Phát huy, theo GS Đào Duy Anh: Phát là bắn tên ra, nổi dậy, dựng lên, bới ra,
sáng; Huy là ánh sáng mặt trời [3] Tuy nhiên, GS Nguyễn Lân cho rằng: Phát huy là lay động, làm cho tác dụng lan rộng ra hoặc phát triển lên [47] Trong cuốn Từ điển
tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học - Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam ấn hành thì phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [113]
Phát huy, theo quan điểm của UNESCO là những công cụ nhằm tăng thêm
giá trị gắn liền với di sản cả ở trong và ngoài các cộng đồng có liên quan, tăng cường vị thế và chức năng của DSVHPVT
Trang 28Quan niệm của UNESCO về bảo tồn, bảo vệ và phát huy DSVHPVT và của các học giả trong nước sẽ được NCS sử dụng để phân tích và đưa ra các biện pháp bảo
vệ và phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan trong các chương sau của luận án
1.2.5 Cộng đồng
Cộng đồng là thuật ngữ được UNESCO sử dụng liên tục trong Công ước
2003, Hướng dẫn thực hiện Công ước, Định hướng hoạt động và các văn kiện khác của UNESCO Ngay trong lời nói đầu, điều 2.1, điều 15 đều sử dụng thuật ngữ
“cộng đồng, các nhóm người và cá nhân liên quan” [111]; các điều 11b, 14(a)(ii) sử
dụng thuật ngữ “cộng đồng và nhóm người’’ nhưng không được định nghĩa cụ thể
Với mục tiêu thực hiện Công ước, mỗi quốc gia thành viên có thể định nghĩa cộng đồng theo các tiêu chí khác nhau như tiêu chí hành chính, địa lý, tiêu chí dân tộc, tôn giáo hoặc tiêu chí ngôn ngữ, tộc người Theo đó, có thể hình thành các thuật ngữ như: cộng đồng Pháp ngữ, cộng đồng người Dao, cộng đồng người Mường
Trong Luật Di sản văn hóa được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29/6/2001, tại
điều 12 (mục 2) và điều 17 đã sử dụng thuật ngữ cộng đồng nhưng trong phạm vi rộng: “Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích: (1) Phát huy giá trị của di sản văn hóa vì lợi ích toàn xã hội; (2) Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam” [70] Trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
di sản văn hóa được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2009, thuật ngữ cộng đồng được
sử dụng ngay trong điều 1: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với
cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [70] Thuật ngữ “cộng đồng” được sử dụng trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (năm 2009) đồng nghĩa với thuật ngữ “cộng đồng’’ được sử dụng trong Công ước 2003 và các văn kiện khác của UNESCO
Trong khuôn khổ cụ thể của việc bảo vệ DSVHPVT, NCS cho rằng: Cộng
đồng là những người sáng tạo, duy trì và chuyển giao DSVHPVT của họ, là những
Trang 29người tham gia trực tiếp hay gián tiếp việc thực hành hoặc truyền dạy một di sản, hoặc những người coi nó là một phần di sản văn hóa của họ Thuật ngữ cộng đồng được nhắc đến như tập thể những người có liên quan đến một hay nhiều di sản, còn nhóm người như là mạng lưới của cộng đồng; ví dụ nhóm người thực hành, nhóm người truyền dạy hoặc nhóm người có vai trò đặc biệt trong việc tạo ra một DSVHPVT Chẳng hạn, cộng đồng liên quan đến di sản Hát Xoan là những người nắm giữ di sản Hát Xoan, người thực hành, người truyền dạy, những người coi Hát Xoan là di sản của họ Cộng đồng liên quan đến Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là những người thực hành tín ngưỡng, người truyền dạy, nắm giữ các nghi thức thực hành tín ngưỡng, người trông coi gìn giữ di tích và những người coi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản của họ; một cá nhân có thể là một phần của nhiều cộng đồng khác nhau trong cùng một thời điểm Như vậy, đối với DSVHPVT cộng đồng
có vai trò thiết yếu trong quá trình sáng tạo, thực hành, truyền thụ di sản; không có họ DSVHPVT không biểu hiện được Họ là người chủ DSVHPVT của mình, là người đảm đương công việc bảo vệ DSVHPVT của họ Từ các phân tích trên đây, chúng tôi
sử dụng thuật ngữ “cộng đồng” trong các phân tích ở các chương sau của luận án
1.3 Mối quan hệ giữa di sản văn hoá và du lịch
Di sản văn hóa và du lịch là hai lĩnh vực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy nhau cùng phát triển Các DSVHPVT là những hình thái ý thức xã hội Triết học Mác Lê nin khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội, còn ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội và tác động trở lại tồn tại xã hội “Nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự thay đổi và phát triển của văn hoá là do sự thay đổi của nền kinh tế Mọi sự thay đổi của kinh tế sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự thay đổi của văn hoá” [19, tr.182] Tuy nhiên văn hoá có tính độc lập tương đối và văn hoá không phải cái đuôi của nền kinh tế Vấn đề này cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã khẳng định: “Kinh tế và văn hoá gắn bó với nhau hết sức chặt chẽ Kinh tế không tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hoá và văn hoá không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế Phát triển trên cơ sở kết hợp hài hoà kinh tế văn hoá là sự phát triển năng động, có hiệu quả và vững chắc nhất” [39]
Trang 30Trong thực tế lãnh đạo đất nước, Đảng ta cũng đã vận dụng đúng quy luật và mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá: “Văn hoá là nền tảng tinh thần vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội” [26] Văn hoá là mục tiêu của phát triển kinh tế vì mục tiêu của kinh tế xét đến cùng là vì con người, nâng cao mức sống con người cả về vật chất và tinh thần với mức sống cao và lối sống đẹp, vừa an toàn và bền vững, không chỉ cho một người mà cho cả cộng đồng, không chỉ cho thế hệ hiện nay mà cho cả thế hệ mai sau Không những thế văn hoá còn là hệ điều tiết cho phát triển kinh tế, có vai trò định hướng điều chỉnh nền kinh tế Khẳng định vai trò mối quan hệ chặt chẽ giữa văn hoá với kinh tế UNESCO cũng cho rằng:
“Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy ra mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá
và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ mất đi rất nhiều…” [112, tr 19 -22]
Mối quan hệ giữa di sản văn hóa và du lịch là mối quan hệ biện chứng, những giá trị văn hoá đặc sắc của di sản văn hóa là cơ hội thúc đẩy du lịch phát triển, còn các yếu tố tiêu cực, phản giá trị thì sẽ cản trở hoặc kìm hãm sự phát triển
du lịch Ngược lại sự phát triển của du lịch sẽ tác động trở lại đối với việc bảo tồn phát huy các giá trị của di sản văn hoá hoặc cũng có thể có ảnh hưởng tiêu cực làm biến đổi di sản Do vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa di sản văn hóa và du lịch trong luận án này nhằm làm rõ hơn mối quan hệ giữa di sản và
du lịch, qua đó xác định các biện pháp quản lý và bảo vệ di sản tốt hơn, tránh những tác động tiêu cực của du lịch đối với di sản văn hóa
1.3.1 Vai trò của di sản văn hoá phi vật thể đối với phát triển du lịch
* Những tác động tích cực
Các giá trị đặc sắc của di sản văn hóa là nguồn tài nguyên đặc biệt cho phát triển du lịch, đồng thời là sản phẩm độc đáo của hoạt động du lịch Các di sản PVT như Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Hát Xoan, Nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên… có thể là nguồn tài nguyên cho ngành du lịch khai thác lâu dài nếu như phát triển một cách bền vững Khác với các loại hình du lịch khác, du lịch văn hóa với ý nghĩa tâm linh, các giá trị văn hoá cội nguồn độc đáo
Trang 31đã trở thành lời mời gọi mãnh liệt, là sức mạnh thu hút khách du lịch mà các loại hình du lịch khác không thể có được
Các giá trị di sản văn hóa có thể làm phong phú các hoạt động du lịch, là cơ hội cho du lịch phát triển Với đặc thù của tính mùa vụ, lễ hội chủ yếu vào mùa xuân, là lúc “nông nhàn” tạo điều kiện cho sự phát triển các tour, tuyến du lịch liên hoàn để du khách khai thác, khám phá các giá trị văn hoá truyền thống được chứa đựng trong kho tàng lễ hội mùa xuân, từ đó du khách được “hoà mình trong một không gian văn hoá đặc sắc cô đọng của từng địa phương, được tắm mình trong tình cảm cộng đồng sâu sắc, thẩm nhận các giá trị văn hoá của mỗi địa phương được chung đúc và kiểm nghiệm qua thời gian” [75, tr 285]
Di sản văn hóa trong xã hội phát triển là một trong những nhân tố kích thích
sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước từ hoạt động du lịch, mang lại nguồn thu cho các hoạt động dịch vụ kèm theo các hoạt động du lịch như dịch vụ ăn uống, dịch vụ khách sạn, vận tải hành khách, dịch vụ hàng lưu niệm… Đây là một nguồn thu rất lớn cho địa phương và các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh dịch vụ và hoạt động dịch vụ Đồng thời DSVH cũng tạo ra công ăn việc làm cho cư dân địa phương; cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ di sản do chính họ nắm giữ thông qua hoạt động du lịch
Di sản văn hóa làm phong phú, đa dạng hấp dẫn các chương trình du lịch, các tour du lịch góp phần thu hút đông đảo du khách tham gia ở các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch nghỉ dưỡng… Nếu kết hợp các tour du lịch, vừa du lịch văn hoá kết hợp với sinh thái, nghỉ dưỡng sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của chương trình du lịch đáp ứng nhu cầu du khách tạo nên sự phát triển đồng bộ các hoạt động dịch vụ mang tính liên hoàn, dịch vụ này thúc đẩy dịch
vụ kia phát triển, thậm chí kích thích cả sản xuất như sản xuất hàng tiêu dùng, hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ, kích thích làng nghề truyền thống…
* Những thách thức khi khai thác di sản phục vụ du lịch
DSVHPVT nhất là các lễ hội truyền thống là hoạt động cộng đồng có giá trị văn hoá tín ngưỡng tâm linh rất lớn, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham
Trang 32gia, ranh giới giữa hoạt động tín ngưỡng với hoạt động mê tín dị đoan rất mong manh Vì vậy, khi di sản trở thành một hoạt động du lịch thì các yếu tố tiêu cực, lợi dụng di sản để trục lợi, hoạt động mê tín dị đoan có nguy cơ trỗi dậy làm ảnh hưởng đến hình ảnh của du lịch
DSVHPVT thường được diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định nên khách du lịch tăng đột biến vào những thời điểm diễn ra hoạt động trình diễn di sản, gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng đến an toàn về tài sản, sức khoẻ của du khách, do đó cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động du lịch
Do đặc điểm của du lịch văn hóa, nhất là văn hóa PVT thường bị tác động bởi tính mùa vụ nhất là các diễn xướng dân gian, lễ hội truyền thống đã dẫn đến
sự lệ thuộc của hoạt động du lịch vào thời gian cố định mà không thể thay đổi Tính mùa vụ của di sản buộc hoạt động du lịch phải tuân theo tạo nên sự cứng nhắc đôi khi bất khả kháng Chẳng hạn du khách muốn đến du lịch tại Đền Hùng
để thực hành Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và thưởng thức không khí lễ hội, tham gia các hoạt động lễ hội thì bắt buộc phải đi du lịch vào dịp 10/3 Âm lịch hàng năm bất kể thời tiết mưa hay nắng và sức khoẻ của du khách có thuận lợi hay không
1.3.2 Các tác động của du lịch đối với di sản văn hóa phi vật thể
* Các tác động tích cực
Du lịch là làm sống động các giá trị DSVH truyền thống góp phần quảng bá, giới thiệu, lưu giữ các giá trị văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác; nói cách khác thông qua các hoạt động du lịch mà các giá trị văn hoá truyền thống được quảng bá, lan tỏa rộng rãi Sự lan tỏa này được thực hiện thông qua việc tiếp cận giao lưu của khách du lịch với các DSVH và người dân bản địa DSVHPVT là một bảo tàng sống động về lịch sử, truyền thống văn hoá dân tộc còn du lịch là công cụ, phương tiện để “bảo tàng sống” được quảng bá ra một cộng đồng rộng lớn, vượt qua biên giới địa phương khu vực Từ đó các giá trị lịch sử, giá trị văn hoá truyền thống và các giá trị khác mà di sản hàm chứa sẽ được hình thành và lưu giữ trong từng khách
du lịch và tiếp tục hình thành nên những giá trị mới
Trang 33Du lịch là nhân tố thúc đẩy cộng đồng bảo vệ DSVH của mình một cách chặt chẽ và bền vững hơn Bởi lẽ nhu cầu khách du lịch văn hóa luôn muốn khai khai thác tính độc đáo, bản sắc văn hóa và sự khác biệt của từng địa phương Không ai đi
du lịch để trải nghiệm, khám phá khai thác các giá trị văn hoá ở nơi giống y như mình đang sinh sống Và sẽ không ai muốn đi du lịch nếu các DSVHPVT của các địa phương như cách tổ chức các nghi lễ, trò diễn dân gian, các lễ hội cứ na ná giống nhau, không có sự khác biệt Do vậy, đặc điểm này đòi hỏi chính quyền và cộng đồng nơi quản lý và thực hành di sản luôn phải tìm cách bảo tồn các giá trị văn hoá đặc sắc của địa phương, không lai căng pha tạp
Du lịch tạo ra sự giao thoa văn hoá góp phần làm giàu cho văn hoá truyền thống của cha ông, quảng bá rộng rãi văn hoá địa phương, văn hoá tộc người tới mọi miền tổ quốc Đồng thời du lịch cũng góp phần quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam và truyền thống văn hoá dân tộc đối với bạn bè thế giới, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc, tạo sự gắn kết trong quan hệ ngoại giao và đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, du lịch văn hóa luôn là cầu nối cho các quan hệ hợp tác kinh tế, chính trị và ngoại giao
Du lịch gắn kết và tác động vào DSVHPVT làm cho DSVHPVT không chỉ
là một hoạt động văn hoá tinh thần, mà DSVH có giá trị to lớn về mặt kinh tế “Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc chấn hưng và bảo tồn các DSVH Doanh thu từ các hoạt động du lịch được sử dụng một phần cho việc tu
bổ di tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục và phát huy các DSVHPVT, đặc biệt là các nghề thủ công mỹ nghệ, ca múa nhạc truyền thống” [27] Vai trò đó được thể hiện qua việc tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, phát triển các loại hình dịch vụ mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa văn hoá và kinh tế
* Các tác động tiêu cực
Bên cạnh các tác động tích cực, du lịch cũng có ảnh hưởng tiêu cực đến các DSVH Do yếu tố đặc thù của du lịch thường tập trung rất đông người và khách ở
Trang 34nhiều vùng khác nhau, dẫn đến tình trạng có thể dẫn đến nguy cơ xâm hại, làm biến đổi di sản theo nhu cầu của khách du lịch Chẳng hạn lễ hội truyền thống thường gắn với những khuôn mẫu và không gian bản địa với nét văn hoá cổ truyền “Khi hoạt động du lịch mang tính liên ngành liên vùng và xã hội hoá cao… sẽ dễ làm mất
sự cân bằng dẫn tới phá vỡ khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình diễn ra lễ hội” [75, tr.288] Các diễn xướng dân gian cũng có thể bị biến đổi khi không được thực hành trong không gian văn hóa truyền thống mà bị biến thành các
sô diễn phục vụ theo nhu cầu khách du lịch
Dưới tác động của hoạt động du lịch, DSVH dễ bị thương mại hoá để phục
vụ lợi nhuận, coi trọng yếu tố kinh tế, làm lu mờ các yếu tố văn hoá truyền thống Hòm công đức ở một số di tích, lễ hội được đặt quá nhiều, các nghi lễ trò diễn phục
vụ cho mục đích thu tiền, các loại hình dịch vụ lợi dụng di sản để tự ý nâng giá quá mức, quảng cáo tràn lan vì mục đích thương mại…có thể xâm hại làm ảnh hưởng đến giá trị cốt lõi của di sản
Sự phát triển của các dịch vụ du lịch thiếu kiểm soát và sự bùng nổ du khách
có thể tác động làm ảnh hưởng đến giá trị văn hoá nguyên sơ của di tích, xâm hại đến di tích; Cảnh quan môi trường cũng có thể bị phá huỷ do số lượng du khách tập trung đông trong các ngày lễ hội
Từ các phân tích trên về mối quan hệ giữa di sản và du lịch, luận án sẽ khai thác các yếu tố tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của mối quan hệ này để bảo vệ di sản một cách bền vững, tránh các tác động làm ảnh hưởng, xâm hại đến quá trình bảo vệ và gìn giữ di sản
1.4 Cơ sở lý luận
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan là hai DSVHPVT của Việt Nam được UNESCO vinh danh Riêng Hát Xoan, việc vinh danh trải qua hai danh hiệu: giai đoạn là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp từ ngày 24 tháng
11 năm 2011 đến ngày 7/12/2017; giai đoạn là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại từ ngày 8 tháng 12/2017 đến nay Trong khi đó, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại từ ngày 6 tháng 12 năm 2012 đến nay
Trang 35Hai di sản văn hóa phi vật thể này, có nét khác biệt về loại hình, về danh hiệu
mà UNESCO vinh danh theo thời gian, nhưng đều là DSVHPVT cần được bảo vệ
và phát huy theo các lý thuyết khác nhau Các lý thuyết này là cơ sở lý luận của luận án
1.4.1 Quan điểm lý thuyết phát triển cộng đồng trong quan hệ với bảo vệ
và phát huy di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Trước tiên, cần thấy khái niệm “cộng đồng” là một khái niệm lý thuyết xuất hiện vào thập kỷ 40 của thế kỷ XX ở các nước thuộc địa của Vương quốc Anh Năm
1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng, khuyến khích các quốc gia thành viên sử dụng khái niệm phát triển cộng đồng như một công cụ để thực hiện các chương trình viện trợ về kỹ thuật và tài chính
Theo tinh thần Công ước, UNESCO luôn khuyến cáo và ưu tiên các biện pháp bảo vệ nhằm đảm bảo duy trì khả năng tồn tại của loại hình DSVHPVT đang
bị đe dọa và có nguy cơ mai một, biến mất Tuy nhiên để đảm bảo sự tồn tại bền vững của di sản, UNESCO cũng khuyến khích, ưu tiên các biện pháp và sự chủ động khởi xướng đề xuất các biện pháp bảo vệ của các cộng đồng với tư cách họ là chủ thể của di sản một cách sâu rộng nhất; Chính phủ và chính quyền địa phương cũng có thể đề xuất các biện pháp bảo vệ coi như các biện pháp bổ trợ
Về góc độ quản lý di sản, UNESCO cũng khuyến khích cộng đồng trực tiếp tham gia quản lý di sản, trong đó các Quốc gia thành viên sẽ nỗ lực để đảm bảo khả năng tham gia tối đa của các cộng đồng, nhóm người và khi thích hợp là cả các cá nhân, những người sáng tạo, duy trì và truyền thụ loại hình di sản này, và sẽ tích cực thu hút họ tham gia vào công tác quản lý di sản Chú trọng các biện pháp bảo vệ nhằm đảm bảo khả năng tồn tại của những DSVHPVT có các mối đe dọa
và nguy cơ đối với khả năng tồn tại UNESCO tôn trọng vai trò của cộng đồng và không bắt buộc cộng đồng phải phục hồi tất cả các di sản nếu cộng đồng đó không còn coi các DSVHPVT là phù hợp hoặc có ý nghĩa nữa; đồng thời họ có thể ghi lại trước khi ngừng thực hành Việc cam kết bảo vệ di sản của cộng đồng và những người thực hành di sản cũng được UNESCO coi như biện pháp cần thiết:
Trang 36“Nếu không có một động lực mạnh mẽ và cam kết từ phía những người thực hành
và các chủ thể khác của truyền thống, thì các hành động bảo vệ không thể thành công mà là thất bại” [111]
Vai trò cộng đồng trong việc bảo vệ di sản: UNESCO luôn đề cao vai trò cộng
đồng trong hàng loạt chuỗi các vấn đề của quá trình bảo vệ và quản lý di sản, từ việc kiểm kê, phục hồi, nâng cao nhận thức cho tới các biện pháp bảo vệ khác Các cộng đồng và các nhóm người (và trong những trường hợp thích hợp là các cá nhân)
có liên quan là những bên liên quan chính có trách nhiệm truyền thụ và thực hành DSVHPVT Điều 2.1 của Công ước nói rõ rằng việc quyết định một tập quán hay hình thức biểu đạt nào đó có phải là một phần di sản văn hóa của họ hay không thuộc về quyền hạn của các cộng đồng hay các nhóm chủ thể của truyền thống Họ
ở địa vị tốt nhất để quyết định là một tập quán hay hình thức biểu đạt nhất định có
phải là cốt yếu đối với bản sắc hoặc ý thức về sự kế tục của họ hay không
Đây là lý do khiến các Quốc gia thành viên được đề nghị đảm bảo là các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân có liên quan tham gia càng sâu rộng càng tốt vào bất kỳ hoạt động nào liên quan đến các di sản VHPVT của họ được tiến hành trong quá trình thực hiện Công ước Vai trò của cộng đồng được công ước
đề cao ngay từ quá trình nhận diện di sản Theo đó, Công ước quy định rằng các DSVHPVT cần được nhận diện và xác định rõ “với sự tham gia của các cộng đồng, các nhóm người và các tổ chức phi chính phủ có liên quan” [132] Đồng thời, đề nghị các Quốc gia thành viên đảm bảo khả năng tham gia tối đa của các cộng đồng
và các nhóm người vào công tác bảo vệ và quản lý DSVHPVT của chính họ
Điều này có nghĩa là các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân có liên quan cần phải được thông tin đầy đủ và tham gia một cách sâu rộng nhất vào mọi đề nghị hay kiến nghị liên quan đến DSVHPVT của họ, những đề nghị mà các Quốc gia thành viên có thể sẽ gửi tới Ủy ban Liên chính phủ Do đó, các định hướng hoạt động của Công ước đòi hỏi là đối với các hồ sơ đề cử và một số hành động bảo vệ, các Quốc gia thành viên cần phải có được sự đồng thuận trước, hoàn toàn tự nguyện
và có hiểu biết của các cộng đồng có liên quan Các quan điểm của UNESCO về vai
Trang 37trò cộng đồng trong việc bảo vệ di sản sẽ được NCS sử dụng như một tiêu chí để đánh giá thực trạng công tác bảo vệ di sản nhất là so sánh công tác bảo vệ di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan trước và sau khi di sản được UNESCO ghi danh trong chương III của luận án Đồng thời quan điểm này cũng được coi là tiêu chí để NCS đề xuất các giải pháp bảo vệ DSVHPVT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Quan điểm về nguyên tắc đạo đức trong bảo vệ DSVHPVT: Để bảo vệ di sản
văn hóa PVT một cách bền vững UNESCO đã đưa ra 12 nguyên tắc đạo đức theo tinh thần công ước 2003 Đây là những nội dung, quan điểm mới trong quá trình nghiên cứu, bảo vệ di sản, nội dung này đã bổ sung cho Công ước 2003 về bảo vệ DSVHPVT, hướng dẫn hoạt động thực hiện Công ước và các khuôn khổ pháp luật quốc gia, các nguyên tắc này được xác định làm cơ sở cho việc xác định các biện pháp và công cụ bảo vệ di sản phù hợp với từng địa phương Nội dung của các nguyên tắc đề cập đến các vấn đề thuộc vai trò, quyền của nhóm người và cộng đồng, cá nhân trong bảo vệ và quản lý di sản; đảm bảo sự tôn trọng và đa dạng văn hóa giữa các cộng đồng và cá nhân, kể cả quyền được hưởng lợi từ bảo vệ di sản:
Các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân tạo ra di sản văn hóa phi vật thể cần được hưởng lợi từ việc bảo vệ các quyền lợi tinh thần và vật chất từ di sản này, và đặc biệt là việc sử dụng, nghiên cứu, tài liệu, chương trình xúc tiến hay sự mô phỏng di sản bởi các thành viên của
cộng đồng hoặc những người khác [131]
Một trong các nguyên tắc cơ bản được nêu trong văn kiện này đó là UNESCO khuyến cáo các quốc gia cần tôn trọng sự vận động không ngừng và sức sống tự nhiên của di sản: “Sự vận động không ngừng thay đổi và sức sống tự nhiên của di sản văn hóa phi vật thể cần liên tục được tôn trọng Tính xác thực và độc quyền không nên trở thành mối quan tâm và những trở ngại trong việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể” [131] Đây là các quan điểm mới mà NCS sẽ vận dụng trong quá trình nghiên cứu luận án và đưa ra các chính sách bảo vệ di sản đối với 2 di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan Bên cạnh đó nguyên tắc (9) và nguyên tắc (10) trong văn kiện này cũng khuyến cáo cần đánh giá các tác động có
Trang 38thể ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của di sản và vai trò của cộng đồng, cá nhân trong việc xác định những mối đe dọa và lựa chọn biện pháp bảo vệ:
Các cộng đồng, các nhóm, các tổ chức, cá nhân địa phương, trong nước
và xuyên quốc gia nên cẩn thận đánh giá những tác động trực tiếp và gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn, tiềm ẩn và định hình của bất kỳ hành động nào có thể ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể hoặc các cộng đồng người thực hành nó
Các cộng đồng, nhóm người, và trong một số trường hợp là các cá nhân sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định những gì cấu thành mối
đe dọa đối với di sản văn hóa phi vật thể của họ bao gồm các hình thức làm mai một, thương mại hóa và trình bày sai lạc di sản và sẽ quyết định làm thế nào để ngăn chặn và giảm thiểu các mối đe dọa như vậy [131] Các DSVHPVT nói chung, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Hát Xoan nói riêng sau khi được UNESCO ghi danh đang chịu ảnh hưởng và tác động từ các mối quan hệ kinh tế và quá trình vận động phát triển không ngừng của kinh tế xã hội Các quan điểm trên sẽ giúp NCS đánh giá, nhận định các nguy cơ tiềm ẩn có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại của di sản, trên cơ sở đó đề xuất được các biện pháp bảo vệ di sản phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và cộng đồng
cư dân các làng Xoan gốc, các làng thờ cúng Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đảm bảo sự phát triển bền vững, đồng thời đề ra các chính sách nhằm đảm bảo quyền lợi và vai trò của các nghệ nhân trong việc bảo vệ di sản, đặc biệt là dưới tác động của hoạt động du lịch
1.4.2 Quan điểm lý thuyết sáng tạo truyền thống
Tiếp cận các vấn đề lý thuyết về sáng tạo truyền thống ở góc độ di sản văn hóa
trong phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi quá trình vận dụng lý thuyết sáng tạo văn hóa đối với các loại hình di sản văn hóa cần phải có những nghiên cứu và ứng dụng cho từng trường hợp cụ thể, nhất là đối với các yếu tố văn hóa truyền thống như lễ hội cổ truyền, các diễn xướng dân gian…Ở Việt Nam, quá trình tiến hành phục dựng các lễ hội truyền thống, các diễn xướng dân gian đã bị mai một có thể được coi là quá trình
Trang 39“sáng tạo” Tuy nhiên, quá trình sáng tạo vẫn đảm bảo các yếu tố truyền thống mà cộng đồng (chủ thể sáng tạo và thực hành di sản) chấp nhận thì quá trình sáng tạo này mới đảm bảo cho di sản “sống” và phát huy giá trị trong đời sống xã hội đương đại
Trong công trình Sáng tạo ra truyền thống, Eric Hobsbawm (2012) cho rằng:
Truyền thống được sáng tạo là tập hợp những thực hành, thường nằm dưới sự chi phối của những luật lệ thành văn hay bất thành văn, có bản chất nặng tính nghi thức hoặc hình tượng, nhằm khắc sâu các giá trị và tiêu chuẩn hành vi nhất định vào tâm thức cộng đồng qua hình thức tái diễn, đồng thời ngụ ý một dòng chảy tiếp nối từ quá khứ [30, tr.86] Theo đó, những truyền thống được sáng tạo tồn tại ở 3 dạng cụ thể:
a) Những truyền thống được sáng tạo nhằm thiết lập hoặc biểu trưng cho tính gắn kết xã hội hay cho tư cách hội viên của nhóm hội, của những cộng đồng có thực hay tưởng tượng
b) Những truyền thống được sáng tạo nhằm thiết lập các thiết chế xã hội, địa
1.4.3 Quan điểm lý thuyết về tính xác thực
Trong giới khoa học, đã có một công trình của GS Regina Bendix: Đi tìm
tính xác thực: quá trình hình thành ngành nghiên cứu văn hóa dân gian ra mắt bạn
Trang 40đọc vào năm 1997 (Nxb Đại học Wisconsin,Hoa Kỳ) Luận điểm của GS Regina Bendix: “Hành trình tìm kiếm tính xác thực là một mong muốn khác thường,vừa hiện đại,vừa phản hiện đại Hành trình này hướng tới sự phục hồi của một thứ tinh hoa đã mất - cái mất mát đó chỉ được nhận ra rõ nét qua thời kỳ hiện đại,và chỉ có những phương thức và tình cảm được tạo ra trong thời kỳ hiện đại mới có thể giúp phục hồi cái tinh hoa ấy” [74]
Quan điểm của UNESCO về tính xác thực của DSVHPVT: Trong Công ước
2003, UNESCO không sử dụng khái niệm tính xác thực, hoặc các khái niệm khác như
tính cổ xưa hay tính toàn vẹn cũng không được UNESCO sử dụng Công ước định
nghĩa DSVHPVT là di sản sống được trao truyền và tái tạo liên tục; vì vậy các hình thức ngày nay của DSVHPVT không bị xem là kém chân thực hơn so với những hình thức có trong lịch sử Tại khoản 8 tuyên bố Yamato, được các chuyên gia di sản văn hóa vật thể và PVT thông qua tại Nara (Nhật Bản) vào năm 2004 đã nêu rõ: “ Xem xét rằng di sản văn hóa phi vật thể được tái tạo liên tục, thuật ngữ “xác thực” áp dụng đối với di sản văn hóa phi vật thể là không phù hợp để nhận diện và bảo vệ di sản văn
hóa phi vật thể” Điều này cũng được UNESCO thể hiện trong văn kiện Nguyên tắc
đạo đức trong bảo vệ di sản văn hóa PVT: “Sự vận động không ngừng thay đổi và sức
sống tự nhiên của DSVHPVTcần liên tục được tôn trọng Tính xác thực và độc quyền không nên trở thành mối quan tâm và những trở ngại trong việc bảo vệ DSVHPVT” [131] Quan điểm này là một trong những vấn đề học thuật cơ bản được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận án NCS sẽ dựa vào các hình thức biểu đạt và nghi thức thực hành hiện tại mà cộng đồng đang thực hành di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
và Hát Xoan trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để phân tích, đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo vệ dựa trên các quan điểm này của UNESCO
1.4.4 Quan điểm lý thuyết về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể với phát triển bền vững
Tại Hội nghị phiên thứ 6 họp tại trụ sở chính của UNESCO từ ngày 30 tháng
5 đến ngày 1 tháng 6 năm 2016, Đại hội đồng các quốc gia thành viên của Công ước về bảo vệ DSVHPVT đã ra Quyết nghị một số vấn đề về bảo vệ DSVHPVT và
phát triển bền vững, trong đó Công ước yêu cầu: