Các nghiên cứu từ trước đến nay cả ở trong và ngoài nước mới chỉ nêu khái quát cả từ góc độ học thuật và góc độ chính sách về việc thực hiện các vấn đề về lợi ích-quốc gia dân tộc an nin
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
-
NGUYỄN VIỆT LÂM
VIỆT NAM TRONG VAI TRÒ ỦY VIÊN KHÔNG THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC GIAI ĐOẠN 2008-2009
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 9310206
Hà Nội - 2018
Trang 2HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
-
NGUYỄN VIỆT LÂM
VIỆT NAM TRONG VAI TRÒ ỦY VIÊN KHÔNG THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC GIAI ĐOẠN 2008-2009
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Trang 3từng được công bố trong bât kì công trình nào khác
Nguyễn Việt Lâm
Trang 4Vũ Tùng đã nhận lời hướng dẫn và tận tình chỉ dẫn để tác giả có thể hoàn thành Luận án này Tác giả cũng xin cảm ơn Gia đình, bạn bè và Khoa sau đại học, Học viện Ngoại giao đã luôn ủng hộ và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện
Nguyễn Việt Lâm
Trang 51.1 Cơ sở lý luận 19
1.1.1 Khái niệm về chủ nghiã đa phương 19
1.1.2 Chủ nghĩa đa phương trong các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế 22
1.1.3 Đa phương trong chính sách đối ngoại của các quốc gia 27
1.1.4 Quá trình phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại đa phương 39
1.2 Cơ sở thực tiễn 43
1.2.1 Bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước 43
1.2.2 Quá trình đi đến quyết định ứng cử UVKTT HĐBA LHQ 2008-2009 48
1.2.3 Mục tiêu chính sách 51
1.3 Quá trình vận động ứng cử UVKTT HĐBA LHQ 2008-2009 53
1.3.1 Giai đoạn 1: từ năm 1997 đến tháng 7 năm 2006: 53
1.3.2 Giai đoạn 2: từ tháng 8 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007: 54
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ, ĐẢM NHIỆM VAI TRÒ UVKTT HĐBA LHQ NHIỆM KỲ 2008-2009 CỦA VIỆT NAM 64
2.1 Quá trình chuẩn bị 64
2.1.1 Về nội dung 64
2.1.2 Về nhân sự, bộ máy, cơ chế phối hợp, triển khai liên ngành 67
2.2 Quá trình đảm nhận nhiệm vụ 69
2.2.1 Phân loại các vấn đề thảo luận tại HĐBA 71
2.2.2 Cơ chế ra quyết định 73
2.2.3 Tham gia thảo luận giải quyết các vấn đề trong chương trình nghị sự của HĐBA 74
2.2.4 Công tác điều hành tại HĐBA LHQ 81
2.2.5 Tham gia các cơ quan trong HĐBA 89
2.2.6 Một số nghiên cưú tình huống điển hình 93
CHƯƠNG 3 THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM 110
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 110
3.1 Thành tựu và Hạn chế 111
3.1.1 Thành tựu 111
3.1.2 Hạn chế 119
3.2 Bài học kinh nghiệm 121
3.2.1 Bài học về tầm nhìn đối ngoại và tổ chức thực hiện 121
Trang 63.3 Những vấn đề đặt ra 121
3.3.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 127 3.3.2 Tình hình tại HĐBA LHQ hiện nay 130 3.3.3 Cơ hội, thách chức và áp dụng bài học kinh nghiệm nhiệm kỳ 2008-2009 131
KẾT LUẬN 141
Trang 71 LHQ The United Nations Liên hợp quốc
Security Council
Hội Đồng Bảo an Liên hợp Quốc
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội quốc gia các nước Đông Nam Á
Non-permanent member of the United Nations Security Council
Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
Organiztion
Tổ chức Thương mại Thế giới
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
the United Nations
Đại Hội đồng Liên hợp quốc
Permanent Member of the United Nations Security Council
Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
Âu
Operations
Hoạt động gìn giữ hoà bình
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là cơ quan chính trị quan trọng nhất của tổ chức Liên hợp quốc, được giao trách nhiệm hàng đầu trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, qua đó có vai trò và ảnh hưởng lớn trong các vấn
đề quan trọng nhất của đời sống chính trị thế giới Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐBA được quy định tại các điều VI, VII, VIII và XII của Hiến chương Liên hợp quốc, bao gồm: (i) ra khuyến nghị, quyết định về các biện pháp giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế; (ii) xác định sự tồn tại của các mối đe doạ đối với hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành động xâm lược, khuyến nghị hoặc quyết định các biện pháp cưỡng chế, kể cả sử dụng
vũ lực, cần được tiến hành để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế; (iii) khuyến khích việc giải quyết hòa bình các tranh chấp thông qua các cơ chế/tổ chức khu vực, sử dụng các cơ chế khu vực để thực thi các hành động trong quyền hạn của HĐBA và thường xuyên được cung cấp thông tin
về các hoạt động do các cơ chế/tổ chức khu vực tiến hành nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; (iv) sử dụng sự hỗ trợ của Hội đồng ủy thác để thực thi các chức năng của Liên hợp quốc liên quan đến các vấn đề chính trị, kinh
tế, xã hội và giáo dục trong các lĩnh vực chiến lược [1]
HĐBA thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao với tư cách thay mặt cho tất cả các thành viên LHQ, là cơ quan duy nhất của LHQ có quyền hạn trong việc dùng hành động để giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế Các quyết định, nghị quyết của HĐBA, theo chương VII Hiến chương, khi đã
được thông qua đều mang tính chất ràng buộc; tất cả các thành viên của LHQ đều có trách nhiệm phải tôn trọng và thi hành
HĐBA gồm 15 nước thành viên, trong đó có 5 nước uỷ viên thường trực Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và 10 thành viên không thường trực do
Trang 9ĐHĐ LHQ bầu ra với nhiệm kỳ hai năm trên cơ sở phân chia công bằng về mặt địa lý, có tính tới sự đóng góp của những nước này cho tôn chỉ và mục đích của LHQ và không được bầu lại nhiệm kỳ kế ngay sau khi mãn nhiệm
10 nước thành viên không thường trực được bầu theo sự phân bổ khu vực địa
lý gồm: 5 nước thuộc châu Phi và châu Á; 1 nước thuộc Đông Âu; 2 nước thuộc vùng Mỹ Latinh và Caribê; 2 nước thuộc Tây Âu và các nước khác
Với vai trò và ảnh hưởng quan trọng của HĐBA LHQ trong các vấn đề
hệ trọng của thế giới có liên quan đến hòa bình và an ninh quốc tế như đã nêu,
đa số các nước đều nhận thức rằng, việc đảm nhiệm vị trí uỷ viên không thường trực HĐBA là cơ hội tốt để theo đuổi lợi ích và nâng cao vị thế quốc
tế của quốc gia ở cả khía cạnh đa phương và song phương Là thành viên không thường trực HĐBA, các quốc gia có điều kiện tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh quốc tế, đặc biệt những vấn đề
có liên quan đến lợi ích trực tiếp của họ; lồng ghép những vấn đề họ có lợi ích vào chương trình nghị sự của LHQ; tranh thủ tăng cường quan hệ với các thành viên thường trực và không thường trực khác qua đó thúc đẩy các mục tiêu quốc gia; nâng cao uy tín quốc tế thông qua việc thể hiện khả năng và trách nhiệm của quốc gia trong xử lý các công việc chung của thế giới Thực tiễn cho thấy, tranh thủ vị trí thành viên HĐBA, nhiều nước đã thu được kết quả cụ thể với các nước, nhóm nước, tổ chức quốc tế, như góp phần tháo gỡ vướng mắc trong quan hệ, tăng cường quan hệ thương mại, viện trợ, lao động, tham gia ký kết các hợp đồng cung ứng hàng hoá cho LHQ, các hoạt động gìn giữ hoà bình LHQ (PKO)…
Chính vì vậy, việc tham gia ứng cử và trở thành Uỷ viên không thường trực HĐBA là một mục tiêu quan trọng của ngoại giao đa phương mà các thành viên LHQ hướng tới Nhiều nước đã nhiều lần làm thành viên không thường trực HĐBA Có 8 nước làm thành viên HĐBA 6 lần trở lên, 14 nước
Trang 10làm từ 4-5 lần, 47 nước làm từ 2-3 lần Chi tính riêng trong ASEAN, pin đã làm UVKTT HĐBA 3 lần, Ma-lai-xi-a làm UVKTT HĐBA 4 lần (trong đó có nhiệm kỳ 1 năm), In-đô-nê-xi-a làm UVKTT HĐBA 3 lần, Xinh-ga-po và Thái Lan mỗi nước đã 1 lần làm thành viên HĐBA
Phi-líp-Từ năm 1997, Việt Nam đã có chủ trương ứng cử Uỷ viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) nhiệm kỳ 2008-
2009 [9] Sáng ngày 16 tháng 10 năm 2007 (giờ New York), với 183/190 phiếu ủng hộ, Đại hội đồng LHQ Khoá 62 đã bầu Việt Nam làm Ủy viên Không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008-2009 [158]
Từ năm 2012, Việt Nam công khai Kế hoạch ứng cử vận động vị trí UVKTT HĐBA nhiệm kỳ 2020-2021 Theo lộ trình tháng 6 năm 2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc sẽ bỏ phiếu bầu Uỷ viên Không thường trực HĐBA cho nhiệm kỳ 2020-2021 Do vậy hiện nay đã là giai đoạn nước rút trong quá trình vận động và chuẩn bị ứng cử cũng như đảm nhiệm nếu ứng cử thành công Những tiền đề (chủ trương và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thế và lực của đất nước hiện nay) cùng kiến thức và kinh nghiệm thu được sau nhiệm kỳ thứ nhất là nền tảng quan trọng cho quá trình chuẩn bị lần này
Tại các cuộc tiếp xúc cấp cao Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam [163] đều đã vận động Lãnh đạo các nước [2] ủng hộ Việt Nam ứng cử làm
Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (UVKTT HĐBA LHQ) giai đoạn 2020-2021 [3] Ngày 24 tháng 9 năm 2016, phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội Đồng Liên hợp quốc khoá 71, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã chính thức thông báo Việt Nam quyết định tham gia ứng cử nhiệm kỳ UVKTT HĐBA 2020-2021
Chính vì vậy, việc có một nghiên cứu toàn diện về về quá trình ứng cử
và đảm nhiệm vai trò là UVKTT HĐBA nhiệm kỳ 2008-2009 của Việt Nam
Trang 11là rất cần thiết, trên cả hai phương diện khoa học và thực tiễn Nhưng đến nay, chưa có công trình đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về quá trình Việt Nam vận động ứng cử và đảm nhiệm vị trí UVKTT HĐBA nhiệm kỳ 2008-2009 Các nghiên cứu từ trước đến nay cả ở trong và ngoài nước mới chỉ nêu khái quát (cả từ góc độ học thuật và góc độ chính sách) về việc thực hiện các vấn đề về lợi ích-quốc gia dân tộc (an ninh, phát triển, và ảnh hưởng) và nhận thức về lợi ích quốc gia-dân tộc, quá trình hoạch định, triển khai chính sách đối ngoại liên quan đến việc ứng cử làm UVKTT HĐBA
và xây dựng bản sắc quốc gia của Việt Nam
Công trình nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ những nguyên nhân đưa tới thành công của Việt Nam trong quá trình vận động ứng cử và đảm nhiệm vai trò UVKTT HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008-2009; phân tích những khó khăn
và hạn chế trong quá trình đó nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình chuẩn bị ứng cử nhiệm kỳ thứ hai của Việt Nam 2010-2021 Công trình cũng góp phần trả lời một trong cáccâu hỏi then chốt nhất phục vụ việc ứng
cử trong nhiệm kỳ tới, đó là: Việt Nam cần phải chuẩn bị gì cho quá trình vận động tái cử và đảm nhiệm thành công vai trò UVKTT HĐBA LHQ trong nhiệm kỳ hai nếu trúng cử?
Theo đó, công trình nghiên cứu đó không chỉ có ý nghĩa về học thuật như là cung cấp và bổ sung nguồn tài liệu, phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại, mà nó còn hữu ích cho quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung và đối ngoại đa phương nói riêng Nghiên cứu này hi vọng đóng góp vào cuộc thảo luận về lý thuyết hiện nay về việc theo đuổi lợi ích quốc gia dân tộc và xây dựng bản sắc quốc gia thông qua công cụ đa phương qua trường hợp cụ thể của Việt Nam; đồng thời đóng góp vào quá trình hoạch định và triển khai thực hiện kế hoạch vận động và ứng cử nhiệm kỳ UVKTT HĐBA 2020-2021 nói
Trang 12riêng, chiến lược hội nhập quốc tế và chiến lược đối ngoại của Đại hội XII nói chung
Luận án này sẽ tận dụng lợi thế của “người trong cuộc” để thực hiện mục tiêu này Đó là do (i) nghiên cứu sinh đang công tác tại Bộ Ngoại giao,
có thể tiếp cận hồ sơ, tài liệu liên quan đến giai đoạn Việt Nam vận động và thực hiện vai trò UVKTT HĐBA nhiệm kỳ 2008-2009, (ii) nghiên cứu sinh
đã có một nhiệm kỳ công tác tại Phái đoàn đại diện Thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc (2012-2015), New York, Hoa Kỳ, có điều kiện trực tiếp quan sát, tham gia hoạt động của Việt Nam tại Liên hợp quốc, chứng kiến
và trải nghiệm sự vận hành của Liên hợp quốc, và có điều kiện trao đổi với các đồng chí, đồng nghiệp đã trực tiếp làm ở Vụ Tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao, hoặc tại Liên hợp quốc trong khoảng thời gian đó, liên quan đến nhiệm
kỳ UVKTT HĐBA của Việt Nam
Với những lí do trên, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Việt Nam trong vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc giai đoạn 2008-2009” cho luận án tiến sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nhìn một cách tổng quan, các công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan tới đề tài tập trung vào một số nhóm vấn đề nổi bật như: (i) phân tích, đánh giá các chức năng, nhiệm vụ của HĐBA; (ii) vai trò và cuộc chơi của các uỷ viên thường trực HĐBA (UVTT HĐBA – P5); (iii) quyền phủ quyết (veto); (iv) cải tổ HĐBA – tăng thêm số lượng UVKTT và tăng cường sự tham gia của UVKTT trong quá trình tham vấn, xây dựng Nghị quyết của HĐBA; (v) bầu UVKTT HĐBA
Đi sâu vào các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp tới vấn đề nghiên cứu của luận án, có thể thấy có các có các nghiên cứu, đánh giá kinh
Trang 13nghiệm làm UVKTT HĐBA (E10)1 của các nước trong và ngoài khu vực có
vị thế, đặc điểm tương đối giống Việt Nam như Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po và một số nước khác như Ấn Độ, Úc và Niu Di-lân…, trong đó có một số nước đã có nhiều lần đảm nhiệm vai trò UVKTT HĐBA Có thể nêu một số công trình tiêu biểu sau:
Trong cuốn “The Little Read Dot: Reflections by Singapore’s Diplomats” [121] và cuốn “50 years of Singapore and the United Nations” [167], Giáo sư Kishore Mahbubani đã đánh giá nhiệm kỳ UVKTT HĐBA của
Singapore giai đoạn 2001-2002 Theo đó, nhờ có chỉ đạo của Bộ Ngoại giao Xinh-ga-po về việc xây dựng một Khung chung đối với các vấn đề quan trọng được thảo luận tại HĐBA (như vấn đề I-rắc và Trung Đông), Phái đoàn Singapore tại LHQ đã có thể chủ động và tác chiến thành công tại các cuộc họp của HĐBA Trong nhiệm kỳ 2001-2002 của mình, tác giả cho rằng Xinh-ga-po dường như đã tham gia vào “hai HĐBA” Cụ thể, giai đoạn trước sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, Singapore đã trải nghiệm công việc, chương trình nghị sự của HĐBA tương tự như giai đoạn cuối những năm 1990 Tuy nhiên, giai đoạn sau 11 tháng 9 năm 2001, HĐBA LHQ có nhiều thay đổi nhanh và bất ngờ, các hoạt động, chương trình nghị sự tập trung nhiều vào việc thảo luận, thông qua các Nghị quyết chống khủng bố, hợp pháp hoá cuộc chiến tại Áp-ga-nít-xtan và xây dựng một đồng thuận mới về vấn đề I-rắc Vì vậy, khối lượng công việc của Phái đoàn Xinh-ga-po giai đoạn này nhiều lên gấp đôi trong khi với số cán bộ ngoại giao làm việc không thay đổi Giai đoạn này, một quốc gia nhỏ như Xinh-ga-po đã được trải nghiệm, tham gia giải quyết nhiều vấn đề quan trọng của HĐBA, qua đó giúp nâng cao uy tín giá trị và vị thế của Xinh-ga-po tại LHQ Giáo sư Kishore Mahbubani khẳng định rằng
“uy tín này là tài sản quốc gia quan trọng của Xinh-ga-po, không được coi
1 E10 tên tiếng Anh là Non-permament members of UNSC: Tên gọi tắt của 10 nước UVKTT HĐBA LHQ.
Trang 14nhẹ, cần được giới thiệu và quán triệt đến các thệ hệ nhà ngoại giao sau này của Xinh-ga-po”
Một số công trình nghiên cứu đề cập tới quá trình vận động, đấu tranh chính trị trong HĐBA và quan hệ giữa các nước P5 và E10 trong HĐBA Tác
phẩm “Perlious Interventions: The Security Council and the Politics of Chaos” [125] của Hardeep Singh Pur, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Ấn Độ, Liên
hợp quốc đã tiết lộ những thông tin đáng chú ý về việc gây ảnh hưởng và đấu tranh chính trị giữa các nước thành viên HĐBA trong quá trình xây dựng và ban hành Nghị quyết về sử dụng vũ lực tại một số nước trên thế giới như Li-
bi, Xi-ri… Cuốn sách “Five to Rule Them All: The UN Security Council and the Making of the Modern World” [112] của tác giả David L Bosco, là công
trình nghiên cứu công phu, đúc rút qua vài chục cuộc phỏng vấn các cựu Đại
sứ, Trưởng Phái đoàn các nước làm UVKTT HĐBA qua các thời kỳ Cuốn sách được đánh giá là biên niên sử các cuộc tranh đấu chính trị và va chạm giữa các cá nhân (nhà ngoại giao) trong các cuộc họp kín và công khai của HĐBA David Bosco cho rằng, về lý thuyết khi các nước P5 đoàn kết lại, HĐBA có thể tiến hành các cuộc chiến tranh, áp đặt lệnh cấm vận, vẽ lại các đường biên giới… Tuy nhiên, trên thực tế nền chính trị hiện nay, các thành viên của HĐBA đều có những lợi ích đa dạng và khác biệt, do vậy sẽ không tránh khỏi xung đột, nhưng sẽ không dẫn đến đổ vỡ vì 5 nước UVKTT HĐBA vẫn có những vai trò nhất định trong việc bảo đảm hoà bình, an ninh trên thế giới
Bài viết của Thom Woodroofe với nhan đề “Australia’s Two Years on the UN Security Council” [166] đăng trên trang bình luận của Viện Nghiên
cứu quốc tế - AIIA, The Australian Institute of International Affairs năm 2012 nhấn mạnh việc Úc đảm nhiệm vị trí UVKTT HĐBA 4 lần là cơ hội để Úc tiếp nối các chính sách đa phương, mục tiêu và thực hiện lợi ích quốc gia của
Trang 15mình ở cấp độ toàn cầu Tác giả cho rằng nếu muốn được quốc tế công nhận
là thành viên chủ động, tích cực và xây dựng của HĐBA giai đoạn
2013-2014, Ốt-xtrây-li-a cần phải đầu tư nhiều nỗ lực để hiểu cuộc chơi, thủ tục, quyền lực của các nước P5 tại HĐBA, cũng như quan hệ của các Nhóm nước, cách định hướng chương trình nghị sự của HĐBA cũng như thường xuyên cập nhật thông tin về trong nước để tạo sự đồng thuận trong nội bộ
Bài viết “Eyes on the Prize: The Quest for Nonpermanent Seats on the
UN Security Council) [123, tr 3-23] của Malone, David M tập trung nghiên
cứu trả lời cho câu hỏi tại sao các nước lại theo đuổi việc ứng cử làm UVKTT HĐBA Malone nghiên cứu cụ thể giai đoạn 1999-2000, qua trường hợp các nước gồm Hà Lan, Hy Lạp và Canada trong Nhóm Tây Âu đấu tranh để được giới thiệu trong Nhóm (Nhóm Tây Âu giai đoạn này có 2 ghế tại HĐBA) ra tranh cử ghế UVKTT HĐBA tại cuộc bầu cử năm 1998 tại New York, Hoa
Kỳ
Bài viết “Mexico’s Experience on the UN Security Council 2009-2010”
của tác giả Guillermo Puente Ordorica, Phó Trưởng phòng, Đại sứ quán xi-cô tại Can-be-ra, Ốt-xtrây-li-a, phân tích quá trình tham gia ứng cử UVKTT HĐBA 2009-2010 của Mê-xi-cô với mục đích, chiến dịch vận động
Mê-và những cam kết khi tham gia ứng cử Ordiorica cho rằng việc xây dựng Mê-và đạt đồng thuận giữa các thành viên HĐBA LHQ là một quá trình phức tạp, không hề dễ dàng [132] Mê-xi-cô luôn bám sát nguyên tắc lập trường của mình (quy định trong Hiến pháp Mê-xi-cô) và nắm chắc vấn đề được đưa ra thảo luận để phục vụ việc xây dựng lập trường của mình tại HĐBA Ví dụ năm 2009, HĐBA LHQ ra Nghị quyết 1860 đối với cuộc khủng hoảng tại Ga-
da, cô lúc đó cùng các thành viên mới được bầu (Úc, Nhật Bản,
Mê-xi-cô, Thổ Nhĩ Kỳ và Uganda) đã tham gia đóng góp cho HĐBA xây dựng dự thảo Nghị quyết cả về số lượng và chất lượng nhằm tạo đồng thuận trong
Trang 16HĐBA để ban hành Nghị quyết trên
Ngoài ra, bài viết “The Permanent and Elected Council Members” [120] trong cuốn sách “The UN Security Council: From the Cold War to the 21st Century” của Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Xinh-ga-po tại LHQ, Kishore
Mahbubani đã tập trung phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa 5 nước UVTT HĐBA (P5) và 10 nước UVKTT HĐBA (E10) Kishore Mahbubani nhận định các nước E10 thường sẽ ít lợi thế trong việc thương lượng, thảo luận chương trình nghị sự tại HĐBA, hay nói cách khác, các nước P5 giữ vai trò
“thống trị” cuộc chơi tại HĐBA
Tác giả Kuziemko & Werker với bài viết “How much is a seat on the Security Council Worth” [164] đăng trên Journal of Political Economy, tập
trung làm rõ việc (i) các nước P5 sử dụng các biện pháp viện trợ kinh tế để mua phiếu của các nước E10 đối với các chương trình nghị sự cụ thể tại HĐBA và ngược lại (ii) các nước E10 sử dụng lá phiếu của mình ủng hộ vấn
đề có lợi cho một trong các nước P5 để tranh thủ thúc đẩy quan hệ song phương cũng như tiếp nhận viện trợ về kinh tế qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó có các khoản viện trợ từ cơ quan hỗ trợ phát triển của LHQ
Có thể thấy các công trình nghiên cứu ngoài nước về HĐBA tương đối phong phú, đa dạng, có nhiều thông tin, nghiên cứu, thực tiễn của nhiều trường hợp khác nhau từ các nước lớn, nước tầm trung và nước nhỏ tham gia
và các vấn đề liên quan đến HĐBA Các nhà nghiên cứu thường sử dụng khung phân tích phù hợp với từng nhóm nước (nước lớn, nước nhỏ/nước tầm trung) tham gia vào HĐBA Chính trị cường quyền thường được thấy trong cách hành xử, chính sách đối ngoại của các nước lớn “Hành xử phù hợp, linh hoạt” để hài hoà quan hệ với các nước P5 và tối đa hoá lợi ích quốc gia là cách tiếp cận thường được áp dụng khi phân tích về việc tham gia vị trí UVKTT HĐBA của các nước nhỏ/tầm trung Những nghiên cứu trên là một
Trang 17nguồn tham khảo, đối chiếu hữu dụng trong quá trình thực hiện Luận án này
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Tới nay, ở Việt Nam không có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, sách chuyên khảo đề cập trực tiếp tới vấn đề nghiên cứu của luận án Các công trình nghiên cứu ở có liên quan tới đề tài tập trung vào một số nhóm vấn
đề nổi bật như: (i) hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc [52]; (ii) vai trò của HĐBA trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế; (iii) cải tổ HĐBA; (iv) các nhóm vấn đề chính được thảo luận tại HĐBA như vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên; trẻ em và phụ nữ trong xung đột vũ trang… Có thể nêu ra đây một số công trình tiêu biểu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu của
Cuốn sách của tác giả Nguyễn Hồng Thao “Việt Nam và Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc” [62] đưa ra bức tranh chung, cập nhật các vấn đề của
HĐBA LHQ Đáng chú ý cuốn sách này được xuất bản trong giai đoạn Việt Nam bắt đầu đảm nhiệm vị trí UVKTT HĐBA
Công trình Liên hợp quốc và lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc
Trang 18của tác giả Nguyễn Hồng Quân và Nguyễn Quốc Hùng đã giới thiệu về nhiệm
vụ, vai trò hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc [52]
Luận án Tiến sĩ của tác giả Phạm Lan Dung về “Địa vị pháp lý, thực tiễn hoạt động và vấn đề nâng cao vai trò của UVKTT HĐBA” đã đề cập phần nào
thành quả nhiệm kỳ UVKTT lần một (2008-2009) của Việt Nam [30]
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác đề cập tới các vấn đề chung
của Liên Hợp quốc như cuốn sách “Cơ cấu tổ chức của Liên hợp quốc” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000) của tác giả Trần Thanh Hải chủ biên và cuốn “Hệ thống Liên hợp quốc” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004) tác
giả Võ Anh Tuấn chủ biên đã cung cấp một số nghiên cứu tổng quan về cơ
cấu tổ chức, của LHQ Cuốn “Các tổ chức quốc tế và Việt Nam” do Bộ Ngoại
giao xuất bản (2005) giới thiệu khái quát về vai trò, chức năng nhiệm vụ của các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, phong trào Không Liên kết, Cộng đồng các nước sử dụng tiếng Pháp…và quan hệ của Việt Nam với các tổ chức này trong giai đoạn 1980-2005
Cuốn sách “30 năm Đổi mới và phát triển ở Việt Nam” do các tác giả
Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền và Nguyễn Viết Thông đồng chủ biên, đã đưa ra nhiều đánh giá thực chất quá trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam, trong đó đều nhấn mạnh đến nhiệm kỳ UVKTT HĐBA của Việt Nam, tập trung vào việc phát huy vai trò, vị thế, và sự phát triển của Việt Nam sau khi hoàn thành nhiệm kỳ trên
Tóm lại, đã có những công trình nghiên cứu về LHQ, HĐBA LHQ và chính sách của Việt Nam, nhưng đa số mới chỉ dừng ở mức giới thiệu về LHQ, HĐBA và các lĩnh vực có thể hợp tác giữa Việt Nam và LHQ Ngoài
ra, không có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá toàn diện, chi tiết, sâu sắc
về việc Việt Nam đảm nhiệm vị trí UVKTT HĐBA LHQ nhiệm kỳ
2008-2009, nhất là nghiên cứu, tìm hiểu quyết sách của Việt Nam trong giai đoạn
Trang 19này và qua trình triển khai quyết định từ vận động đến đảm nhiệm thành công
vai trò sau khi được bầu vào HĐBA Luận án “Việt Nam trong vai trò Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc giai đoạn 2008-2009” sẽ
bổ sung vào mảng kiến thức còn chưa đầy đủ này
2.3 Nhận xét
Trong khuôn khổ của những công trình nghiên cứu mà tác giả luận án tiếp cận được, có thể thấy:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu có liên quan tới Liên Hợp quốc chủ
yếu tập trung vào đề cập tới các vấn đề chung của Liên Hợp quốc như về cơ cấu, chức năng hay nhiệm vụ cũng như các hoạt động và ảnh hưởng chung của tổ chức này
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về Hội đồng Bảo an của Liên Hợp
quốc lại thường tập trung nghiên cứu về vai trò và của các uỷ viên thường trực HĐBA chứ không chú trọng nhiều tới các ủy viên không thường trực
Thứ ba, các công trình bàn về vai trò của thành viên không thường trực
của HĐBA LHQ cũng thường tập trung vào các nước ủy viên là nước lớn, tầm trung Các nước nhỏ như Việt Nam ít được quan tâm đến
Thứ tư, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Hội đồng Bảo an và
về vai trò của các Uỷ viên không thường trực trong Hội đồng Bảo an không nhiều, chủ yếu là nghiên cứu về Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác Xuất phát từ thực trạng nêu trên, luận án có thể bổ sung vào những khoảng trống nghiên cứu ở cả trên thế giới và Việt Nam về vai trò của các nước là ủy viên không thường trực của HĐBA LHQ nói chung và về vai trò của Việt Nam nói riêng Kế thừa các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước, luận án dự kiến triển khai nghiên cứu về vai trò của Việt Nam với tư cách là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc giai đoạn 2008-2009, phân tích những chính sách mà Việt Nam đã áp dụng trong quá
Trang 20trình quyết định ứng cử vận động ứng cử và thực hiện nhiệm vụ sau khi trúng cử; làm rõ những thành công cũng như hạn chế của Việt Nam trong nhiệm kỳ một, từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm, những phân tích những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi ứng cử lần hai vào vị trí UVKTT HĐBA LHQ nhiệm
kỳ 2020-2021 và việc áp dụng các bài học kinh nghiệm cho quá trình vận động ứng cử, đảm nhận nhiệm vụ nếu ứng cử thành công lần hai vị trí UVKTT HĐBA LHQ
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án làm rõ quá trình vai trò của Việt Nam vận động ứng cử và đảm nhiệm vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc giai đoạn 2008-2009 Từ đó, đưa ra những đánh giá về thành công, hạn chế và rút ra các bài học kinh nghiệm từ quá trình Việt Nam vận động bầu cử và đảm nhiệm vai trò UVKTT HĐBA LHQ 2008-2009
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu nêu trên, luận án giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc Việt Nam ra quyết định ứng
cử, quá trình chuẩn bị ứng cử vận động phiếu bầu, chuẩn bị và đảm nhiệm nhiệm
vụ UVKTT HĐBA giai đoạn 2008-2009
- Rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình vận động tranh cử, chuẩn bị và đảm nhiệm vai trò HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2020-2021 (trường hợp trúng cử)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án bao gồm:
- Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, các định hướng triển khai đối ngoại đa phương nói chung và liên quan đến sự tham gia của Việt Nam tại Liên hợp quốc nói riêng;
Trang 21- Thực tiễn quá trình ứng cử và đảm nhiệm nhiệm vụ UVKTT HĐBA của Việt Nam;
- Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong quá trình chuẩn bị ứng cử và đảm nhiệm vị trí UVKTT HĐBA giai đoạn (2020-2021);
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về Nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các hoạt động của Việt
Nam bắt đầu từ quá trình hình thành ý tưởng ứng cử cho tới quá trình vận động ứng cử, chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ và quá trình thực hiện nhiệm vụ với vai trò là UVKTT HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008-2009
Về thời gian: Luận án tập trung vào giai đoạn từ khoảng giữa thập niên
1990 (khi Việt Nam bắt đầu xem xét việc ứng cử) đến hết năm 2009 (kết thúc nhiệm kỳ)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện chủ yếu trên cơ sở phương pháp nghiên cứu sử học kết hợp với việc áp dụng các phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo
Luận án cũng được thực hiện dựa trên nghiên cứu tổng kết quá trình vận động ứng cử và đảm nhận vị trí UVKTT HĐBA LHQ của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009
Ngoài ra, nghiên cứu sinh sẽ kết hợp một số phương pháp so sánh, phân tích-tổng hợp, dự báo và nghiên cứu diễn giải, định tính (phỏng vấn chuyên sâu), nghiên cứu trường hợp (case-studies), thống kê mô tả để hỗ trợ cho các diễn giải, giải thích trong quá trình nghiên cứu
6 Nguồn tài liệu nghiên cứu:
Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu Luận án là (i) những tài liệu, văn kiện/văn bản gốc của Đảng, Nhà nước, (ii) các báo cáo, tờ trình của Bộ Ngoại
Trang 22giao và Phái đoàn đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, được lưu tại Vụ các Tổ chức quốc tế, Vụ Đông Nam Á – Nam Thái Bình Dương,
Vụ Trung Đông – Châu Phi, Bộ Ngoại giao; (iii) các bài viết và trả lời phỏng vấn của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước liên quan đến việc Việt Nam đảm nhận nhiệm kỳ HĐBA nhiệm kỳ 2008-2009; (iv) báo cáo hoạt động của HĐBA trình ĐHĐ LHQ, Báo cáo hàng năm của TTK LHQ về công việc của tổ chức, biên bản các cuộc họp (SPV) và báo cáo tổng thể (Repertoire) các phiên họp của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc trong năm 2008 và 2009, báo cáo của các
tổ chức phi chính phủ uy tín như Security Council Report, Global Policy Forum, International Peace Academy… (v) các sách, bài viết và công trình nghiên cứu phân tích/đánh giá liên quan đến vấn đề nghiên cứu, và (vi) tư liệu, nhận định của các chuyên gia
7 Đóng góp của Luận án
Giải quyết được các nhiệm vụ đặt ra, luận án hy vọng sẽ có những đóng góp sau:
Một là, luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam, từ góc độ
quan hệ quốc tế, làm rõ về vai trò của Việt Nam với tư cách là UVKTT HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008-2009
Hai là, về khía cạnh khoa học, Luận án có thể góp phần lý giải rõ hơn
lý do và những cơ sở của việc Việt Nam quyết định tham gia ứng cử, vận động ứng cử, chuẩn bị và đảm nhiệm thành công vai trò của mình tại LHQ Trên cơ sở đó, Luận án phân tích làm rõ những thành công và hạn chế, cũng như các bài học kinh nghiệm cần rút ra Luận án bổ sung vào mảng nghiên cứu còn trống ở Việt Nam về chủ nghĩa đa phương và ngoại giao đa phương của nước nhỏ và vừa
Ba là, về khía cạnh thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận án có thể là
nguồn tham khảo tốt cho công tác hoạch định chính sách của Việt Nam mà cụ
Trang 23thể là góp phần chuẩn bị cho quá trình vận động và thực hiện nhiệm vụ UVKTT HĐBA của nhiệm kỳ hai, giai đoạn 2020-2021 (trường hợp trúng cử); tham mưu và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là đối ngoại đa phương và quan hệ với LHQ
Luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo và giảng dạy cho bậc đại học, sau đại học và các chương trình bồi dưỡng cho cán bộ làm đối ngoại của Việt Nam đặc biệt là cán bộ đối ngoại đa phương; cung cấp thông tin và định hướng dư luận trong việc nhìn nhận, đánh giá ngoại giao đa phương của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh ảnh hưởng của mạng xã hội ngày càng gia tăng
tư duy, quan điểm, chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối ngoại đa phương của Việt Nam nói riêng qua các thời kì, đặc biệt từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
X (2006); Phân tích những cơ hội và thách thức mà tình hình thế giới và khu vực giai đoạn trước năm 2008 đưa đến cho Việt Nam; Phân tích và đánh giá các nhân tố liên quan và tác động đến quá trình ra quyết định, xây dựng và triển khai kế hoạch vận động ứng cử UVKTT HĐBA giai đoạn 2008-2009 của Việt Nam, gồm hai giai đoạn: (i) từ năm 1997 đến tháng 7 năm 2006 và (ii) từ tháng
Trang 248 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007 (việc chia ra thành hai giai đoạn với thời gian như trên là dựa trên Đề án vận động ứng cử vị trí UVKTT HĐBA nhiệm
kỳ 2008-2009 trình Lãnh đạo Cấp cao của Bộ Ngoại giao)
Chương 2: Quá trình chuẩn bị, đảm nhiệm vai trò UVKTT HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008-2009 của Việt Nam
Nghiên cứu quá trình chuẩn bị và đảm nhận vai trò UVKTT HĐBA trong đó tập trung phân tích và đánh giá (i) quá trình chuẩn bị ứng cử, (ii) quá trình xây dựng bộ máy, tổ chức liên quan đến cơ chế liên ngành, cơ chế phân cấp ra quyết định, (iii) quá trình chuẩn bị, xác định hướng xử lý các vấn đề trong Chương trình nghị sự của HĐBA, (iv) quá trình xây dựng lập trường nguyên tắc và cơ bản đối với các vấn đề trong Chương trình nghị sự HĐBA, (v) quá trình hình thành đội ngũ cán bộ ngoại giao đa phương phục vụ việc đảm nhận nhiệm vụ UVKTT HĐBA LHQ 2008-2009 và (vi) quá trình đảm nhiệm vị trí UVKTT HĐBA trong năm 2008 và năm 2009, đặc biệt là các tháng Việt Nam làm Chủ tịch HĐBA (tháng 8/2008 và tháng 10/2009), cách thức Việt Nam điều hành và điều phối Chương trình nghị sự và các vấn đề phát sinh Chương này cũng đi sâu làm rõ quá trình đảm nhận nhiệm vụ của Việt Nam tại HĐBA LHQ thông qua cách Việt Nam ứng xử, thực hiện chương trình nghị sự, thể hiện lập trường trong một số trường hợp phức tạp để bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc cũng như đóng góp vào công việc chung của LHQ tại HĐBA
Chương 3: Thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm và những vấn
đề đặt ra
Tập trung đánh giá sự thành công trên các mặt chính trị-an ninh, kinh thương mại…, hạn chế và bài học kinh nghiệm rút ra của Việt Nam trong nhiệm kỳ UVKTT HĐBA LHQ 2008-2009; bối cảnh và những vấn đề có thể đặt ra khi Việt Nam ứng cử nhiệm kỳ 2020-2021 và việc áp dụng các bài học
Trang 25tế-của nhiệm kỳ 2008-2009 cho quá trình vận động ứng cử, thực hiện nhiệm vụ khi ứng cử nhiệm kỳ UVKTT HĐBA 2020-2021 thành công
Trang 26CHƯƠNG 1
CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH ỨNG CỬ CỦA VIỆT NAM VÀO VỊ TRÍ
UVKTT HĐBA LHQ NHIỆM KỲ 2008-2009
Chương này tập trung nghiên cứu, làm rõ một số nội dung như sau: (i) lý thuyết quan hệ quốc tế về chủ nghĩa đa phương, trong đó tập trung tìm hiểu các quan niệm về đa phương, lý do các nước quan tâm đến đa phương, hợp tác đa phương giữa các quốc gia, lý do các nước muốn tham gia ứng cử vào các cơ quan chủ chốt của hệ thống đa phương, điển hình là HĐBA của Liên hợp quốc; (ii) ưu tiên quan tâm và hành vi ứng xử của các quốc gia trong các
cơ quan kể trên; (iii) quá trình ra quyết định và vận động ứng cử UVKTT HĐBA LHQ giai đoạn 2008-2009 của Việt Nam, trong đó tập trung phân tích các bước chuyển về tư duy, quan điểm, chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối ngoại đa phương của Việt Nam nói riêng qua các thời kì, đặc biệt là từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X (2006); Phân tích những thuận lợi và thách thức do bối cảnh quốc tế và trong nước giai đoạn trước 2008 mang đến cho Việt Nam; Phân tích quá trình xây dựng và triển khai kế hoạch vận động ứng
cử UVKTT HĐBA giai đoạn 2008-2009 của Việt Nam (gồm hai giai đoạn: (i)
từ năm 1997 đến tháng 7 năm 2006 và (ii) từ tháng 8 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007)
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về chủ nghiã đa phương
Theo Miles Kahler, chủ nghĩa đa phương là một hình thức “quản trị quốc tế” hay “quản trị toàn cầu” của “số nhiều” với nguyên tắc trung tâm là phản đối các thoả thuận song phương bất bình đẳng được cho là tăng cường đòn bẩy quyền lực của các cường quốc đối với các nước yếu thế hơn và tăng
sự xung đột quốc tế” [117]
Trang 27Năm 1990, Robert Keohane đã đưa ra định nghĩa đơn giản hơn về chủ nghĩa đa phương, đó là “thực tiễn điều phối chính sách của các quốc gia trong các Nhóm gồm từ hai hoặc nhiều quốc gia trở lên” [116] Theo đó, chủ nghĩa đa phương bao gồm: (i) hoạt động phối hợp chính sách quốc gia của một nhóm ba hay nhiều nước với nhau thông qua những dàn xếp mang tính thời vụ hoặc các công cụ mang tính thể chế; (ii) hành động tập thể mang tính thể chế hóa do một nhóm các quốc gia độc lập tiến hành riêng với nhau; và (iii) những bộ luật lệ mang tính bền vững, chặt chẽ, có thể chính thức hoặc không chính thức, kiểm soát hoạt động, định hướng kỳ vọng và quy định vai trò của các quốc gia trong quan hệ quốc tế [116]
John Ruggie đã tiếp nối, phát triển khái niệm chủ nghĩa đa phương dựa trên các nguyên tắc “không thể tách rời” và “truyền bá có đi có lại trong quan
hệ quốc tế”, như là “một hình thức thể chế điều phối các mối quan hệ giữa hai hay nhiều quốc gia” trên cơ sở bộ nguyên tắc ứng xử chung qui định hành vi ứng xử phù hợp cho một loại hành động, không liên quan đến lợi ích đặc biệt của các bên hoặc các yêu sách chiến lược có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào” [128,
tr 561-598]
Chủ nghĩa đa phương, tồn tại dưới hình thức các thể chế quốc tế Thể chế quốc tế được định nghĩa là một hệ các nguyên tắc, chuẩn mực, luật lệ và thủ tục theo đó sự kỳ vọng của các bên tham gia đồng nhất về một vấn đề cụ thể nào đó [124] Thể chế quốc tế phản ánh một cách cơ bản những nguyên tắc hành xử thích hợp đã được phổ quát [128, tr.561- 598]] Thể chế quốc tế đóng vai trò ràng buộc các nước lớn, ngăn cản chủ nghĩa đơn phương và tạo
cơ hội cho các nước nhỏ có tiếng nói và quyền bỏ phiếu mà các nước này trước đó không có Dưới dạng hình thức này, chiến lược Liliputian của các nước nhỏ nhằm tạo sự ràng buộc tập thể đối với nước lớn sẽ có phát huy tác dụng Tương tự, trường hợp một nước lớn muốn kiểm soát một nước lớn
Trang 28khác, cơ chế kiểm soát của thể chế đa phương sẽ phát huy tác dụng tốt nhất hơn các cơ chế song phương
Chủ nghĩa đa phương có thể được thể hiện qua Liên Hợp Quốc, liên minh, hiệp ước, hoặc các tổ chức như khu vực hoặc quân sự (như NATO) Các thể chế đa phương này được thành lập và được chấp nhận bởi các quốc gia nhằm tăng khả năng tìm kiếm lợi ích của mình thông qua sự phối hợp các chính sách
Braveboy-Wagner cho rằng “chủ nghĩa đa phương, dù ở cấp độ khu vực hay toàn cầu, sẽ giúp các nước phương Nam chia sẻ ý tưởng và thông tin chiến lược, hướng sự chú ý của toàn cầu đến những quan tâm đặc biệt của họ,
và giúp giảm cái giá phải trả vì không hợp tác với các đối tác thống trị Phương Bắc thông qua sự giả định về lập trường tập thể….và cũng giúp thúc đẩy việc thông qua những hành động tập thể” [129, tr.27]
Arthur Stein bổ sung thêm chủ nghĩa đa phương “cung cấp tính chính danh trong nước cho các Chính phủ, qua đó các chính phủ có được sự ủng hộ của người dân để duy trì chính sách đối ngoại của mình” [129, tr.27] Stein khẳng định:
“Đa phương hiện không còn là một lựa chọn Đó là sự cần thiết và thực
tế Đa phương tồn tại trong hàng nghìn Công ước, Thoả ước mà các quốc gia
ký kết và trong các thể chế được thành lập nhằm thực hiện và giám sát các thoả thuận; trong các Toà án quốc tế nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên Trong khuôn khổ các thể chế, đa phương giúp các quốc gia có thể trở thành một chủ thể chơi trên sân khấu thế giới, trong khi giúp hạn chế những hành tùy tiện hoặc cưỡng ép từ các siêu cường Các thể chế đa quốc gia tạo ra các khuôn khổ pháp lý, các quy phạm pháp luật (normative) và tính chính danh cho hành động giao dịch (transactional action), cho phép sự tham gia điều phối và khuyến khích chia sẻ chi phí và
Trang 29hạn chế các chủ thể không tuân theo các quy định” [114, tr 439]
Hành vi của các quốc gia trong đa phương có thể được lý giải rõ hơn qua các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế Các mảng lý thuyết quan hệ quốc tế đưa ra một số lý giải khác nhau về chủ nghĩa đa phương
1.1.2 Chủ nghĩa đa phương trong các trường phái lý thuyết quan hệ quốc
tế
* Chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực cấu trúc nhìn nhận các thể chế đa phương là sản phẩm của chính trị bá quyền, thể hiện sự phân chia quyền lực trong hệ thống quốc tế và không có tác dụng ràng buộc đối với các nước, đặc biệt các nước lớn Các thể chế được tạo dựng nhằm phục vụ lợi ích của nước nắm quyền bá chủ và thể chế sẽ mất đi vai trò hoặc giải thể khi nước bá chủ đã đạt được lợi ích hoặc thấy rằng thể chế đó không phục vụ hiệu quả lợi ích của họ Nhìn từ lăng kính chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa đa phương không chỉ liên quan chặt chẽ đến những cân nhắc về mục đích, chức năng mà còn gắn liền với mối
quan hệ quyền lực giữa các nước tham gia Theo đó, một mặt, các hình thái
hợp tác đa phương dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản về hợp tác, phối hợp
và ra quyết sách nhằm kiểm soát và giải quyết các vấn đề chung; mặt khác,
các hình thái hợp tác và nguyên tắc còn phản ánh tương quan so sánh lực lượng giữa các quốc gia thành viên và chịu tác động chi phối của nước lớn mạnh nhất
Theo cách tiếp cận này, các thể chế quốc tế như Liên Hợp Quốc, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ hai chủ yếu xuất phát từ ảnh hưởng chi phối của Mỹ chủ yếu phục vụ lợi ích an ninh và kinh tế của Mỹ [127]
Các nhà hiện thực chủ nghĩa lập luận rằng đa phương sẽ thất bại vì các
Trang 30cường quốc sẽ tận dụng và theo đuổi những lợi ích quốc gia của họ trong các cuộc thương lượng song phương, không cần quan tâm đến thái độ của các nước khác [117]
Sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương trong hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 cũng có thể được lý giải bởi thái độ không mặn mà của siêu cường
Mỹ đối với hợp tác đa phương, đặc biệt sau cuộc chiến I-rắc (2003) và khi Mỹ rút khỏi một số hiệp ước đa phương như Nghị định thư Kyoto, Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo và Tòa án hình sự quốc tế dưới thời chính quyền Bush cha Dưới chính quyền Tổng thống Donald Trump, Mỹ tuyên bố rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) (nay là Hiệp định tiến bộ và toàn diện Đối tác xuyên Thái Bình Dương – CPTPP), giảm cam kết với Liên hợp quốc, không phê chuẩn Hiệp định về Biến đổi khí hậu COP21, rút khỏi Thoả Thuận hạt nhân Iran (2018)…
* Chủ nghĩa Tự do
Thuyết thể chế tự do cho rằng các thể chế đa phương đóng vai trò quan trọng và là phương tiện thiết yếu để tạo dựng và duy trì sự hợp tác giữa các quốc gia Các quốc gia sẽ sẵn sàng hợp tác khi họ thấy các thể chế đa phương (với những bộ quy tắc, luật lệ và hoạt động có tác dụng xác định vai trò, hành động cũng như kỳ vọng của các bên tham gia) trở nên có lợi cho họ Các quốc gia với
tư cách là những chủ thể duy lý luôn muốn tối đa hóa những lợi ích tuyệt đối mà
họ có thể thu được thông qua hợp tác với các quốc gia khác và thường ít quan tâm hơn đến những lợi ích tương đối mà các quốc gia khác thu được
Một khi đã được đưa vào vận hành, các thể chế đa phương tự nó có ảnh hưởng quan trọng đối với cách hành xử của các quốc gia trong việc hoạch định và tái hoạch định các ưu tiên và lựa chọn chính sách của họ Các thể chế
đa phương có thể làm gia tăng khả năng hợp tác thông qua khả năng cung cấp thông tin về cách hành xử của các bên, giám sát việc tuân thủ luật chung của
Trang 31các bên, giảm chi phí giao dịch, và tăng kỳ vọng về sự hợp tác giữa các bên
* Chủ nghĩa kiến tạo
Chủ nghĩa kiến tạo nhấn mạnh vai trò của những chuẩn mực và bản sắc trong các thể chế quốc tế, đề cao khả năng tác động của các thể chế quốc tế đối với cách hành xử và cách thức xác định lợi ích của các quốc gia thành viên Mặc dù không phủ nhận vai trò của các nhân tố vật chất như sức mạnh kinh tế hay khả năng quân sự trong quan hệ quốc tế, thuyết kiến tạo cho rằng
ý tưởng và chuẩn mực cũng không kém phần quan trọng có thể tác động làm thay đổi cách hành xử của các quốc gia - và cả các chủ thể phi quốc gia, trong quan hệ quốc tế
Theo các nhà kiến tạo, tình trạng hỗn loạn (anarchy) - vốn được các nhà hiện thực chủ nghĩa coi là đặc trưng cơ bản của hệ thống quốc tế, không phải
là yếu tố buộc các quốc gia hành xử theo những phương thức nhất định Hình thái tương tác giữa các quốc gia mới là yếu tố quan trọng quy định cách hành
xử của quốc gia Hình thái tương tác biểu hiện qua các bộ luật lệ (luật pháp quốc tế), những kỳ vọng chung (về giải pháp, về lợi ích mà ngoại giao đem lại) và những kỳ vọng của các quốc gia về nhau Các nhà kiến tạo gọi đây là
“sợi dây ràng buộc mang tính xã hội” (social fabric) giữa các chủ thể nhà nước và phi nhà nước Xét cho cùng đây chính là những cơ sở cốt lõi của chủ nghĩa đa phương và thông qua đó các thể chế đa phương có thể ràng buộc và tác động đến cách xác định lợi ích và hành xử của các quốc gia
Theo đó, chủ nghĩa đa phương không chỉ là sản phẩm do chiến lược của các nước chủ chốt tạo ra mà còn dựa trên sự nhất trí tập thể trong khuôn khổ đa phương Thông qua sự đồng thuận tập thể đó mà các thể chế quốc tế ngày càng tạo dựng được vai trò trong hệ thống quốc tế, mang tính độc lập nhất định đối với ảnh hưởng chi phối của các nước mạnh Như quan niệm của
Trang 32cựu Tổng thư ký Javier Perez de Cuelar, “chủ nghĩa đa phương có nghĩa là nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, dựa trên các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, để giải quyết một cách thiết thực nhiều vấn đề và nhu cầu của thế giới, khiến cho toàn thể gia đình nhân loại có thể nhận ra tiềm năng của phương thức đa phương” [115]
* Chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin tuy không nêu những nội dung trực tiếp liên quan đến các thể chế đa phương, nhưng lại chứa đựng những luận điểm quan trọng về các nhân tố nền tảng, làm cơ sở cho sự phát triển của chủ nghĩa đa phương Đó là sự liên hợp giai cấp (vô sản) và các dân tộc (bị áp bức toàn thế giới), sự quốc tế hóa đời sống quốc tế (tiền đề của toàn cầu hóa ngày nay) gắn với sự phụ thuộc lẫn nhau và chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau
Cách mạng vô sản theo ý tưởng của Mác có khác với chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa lý tưởng về mục tiêu và phương cách xây dựng xã hội hoàn hảo trong đó mọi người đối xử với nhau bình đẳng, cùng tôn trọng lẫn nhau, giai cấp vô sản thế giới cùng đoàn kết xóa bỏ bóc lột, bất công, không bị bó buộc bởi ranh giới giữa các quốc gia (siêu quốc gia) Học thuyết Mác - Lênin chỉ ra các điều kiện bảo đảm cho cuộc cách mạng ở các nước giành thắng lợi, trong đó nhấn mạnh sự kết hợp giữa đấu tranh giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản, mà cốt lõi là vấn đề đoàn kết quốc tế của các dân tộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Tư tưởng này thể hiện rõ nội hàm của chủ nghĩa đa phương ở cấp độ toàn cầu dựa trên lợi ích giai cấp và lợi ích chung
Học thuyết của Mác về hình thái kinh tế - xã hội và của Ănghen về duy vật lịch sử, trên cơ sở kế thừa các thành tựu lý luận trước đó, đã đưa ra những luận điểm có giá trị xuyên thời đại về sự vận động của xã hội nói chung và xã hội quốc tế nói riêng Mác khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất là tiền đề tạo ra xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế Trong Tuyên ngôn của
Trang 33Đảng Cộng sản năm 1848, Mác viết: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thay thế cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc” [28, tr 601] Đại công nghiệp đòi hỏi phải
có nguồn nguyên liệu đầu vào lớn hơn cùng thị trường tiêu thụ rộng sản phẩm rộng hơn, từ đó thúc đẩy giai cấp tư sản tìm mọi cách mở rộng tầm với ra toàn cầu Trong khi đó, sự phát triển của các phương tiện giao thông tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh lưu thông hàng hóa và qua đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Mác và Ăng-ghen cho rằng giai cấp tư bản “xâm nhập khắp nơi và trụ lại khắp nơi vì bị thúc đẩy bởi nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và thiết lập mối liên hệ ở khắp nơi Điều này làm cho “sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính thế giới” Quá trình quốc tế hóa đời sống quốc tế mà Mác
và Ănghen đề cập chính là tiền thân của toàn cầu hóa kinh tế ngày nay, một trong những tiền đề cho sự phát triển của chủ nghĩa đa phương thế giới
Kế thừa lý luận của Mác – Ănghen, Lênin đã đưa ra những luận giải quan trọng về sự phát triển của các hình thức sản xuất đa quốc gia cũng như những mối liên hệ đa phương trong quá trình chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc và trong quá trình vận động của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế
Suy rộng hơn, từ góc độ chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa đa phương (sự liên hợp mang tính quốc tế) có thể được xem là công cụ cần thiết để đối trọng lại chủ nghĩa đơn phương (đế quốc), tạo cho các nước nhỏ hơn cơ hội
có tiếng nói và vai trò quyết định Nếu một nước nhỏ muốn chi phối một nước lớn hơn thì chiến lược “dùng sức mạnh tập thể” của các nước nhỏ để ràng buộc nước lớn hơn sẽ có tác dụng Đây chính là tư tưởng xem chủ nghĩa đa phương là “vũ khí của kẻ yếu” Theo đó, những nước theo đuổi chủ nghĩa đa phương là những nước không đủ mạnh để áp đặt những giải pháp có lợi cho
Trang 34mình trong các vấn đề quốc tế Đặc biệt, nếu một nước nhỏ muốn tạo ảnh hưởng đối với một nước nhỏ khác thì chủ nghĩa đa phương là sự lựa chọn duy nhất, vì nước nhỏ thường không có đủ nguồn lực và sức mạnh để chi phối các nước khác Ngoài ra, nếu một cường quốc muốn chi phối một cường quốc khác thì việc sử dụng chủ nghĩa đa phương cũng là một phương thức hữu hiệu Các cường quốc có thể gây ảnh hưởng đối với nhau thông qua các biện pháp song phương, tuy nhiên sẽ đòi hỏi phải mặc cả, thỏa hiệp và nhượng bộ lẫn nhau nhiều hơn so với việc thông qua sức mạnh đa số của chủ nghĩa đa phương [67]
1.1.3 Đa phương trong chính sách đối ngoại của các quốc gia
Tuy ra đời sau ngoại giao song phương, ngoại giao đa phương đã nhanh chóng được thừa nhận là một trong những phương thức chủ đạo để triển khai các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của một quốc gia, với các ưu điểm sau:
Một là, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cục diện “đa trung tâm, đa tầng
nấc”, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia gia tăng và sự nổi lên của các vấn đề xuyên quốc gia vượt tầm
xử lý của các quốc gia đơn lẻ, đa phương là đòi hỏi và là nhu cầu khách quan
để các quốc gia thúc đẩy hợp tác, dàn xếp các mâu thuẫn lợi ích thông qua các
cơ chế và diễn đàn đa phương Ngay cả các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc đều coi đa phương là công cụ quan trọng để thúc đẩy lợi ích của mình thông qua các cơ chế đa phương do mình dẫn dắt Các chương trình phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, các thỏa thuận toàn cầu về chống biến đổi khí hậu, các thỏa thuận liên quốc gia, liên châu lục về thương mại tự do thế hệ mới là kết quả nổi bật của đối ngoại đa phương, cho thấy các quốc gia sẵn sàng hợp tác, thậm chí hy sinh một phần lợi ích của mình khi họ thấy các thể chế đa phương (với những bộ quy tắc, luật lệ và hoạt động có tác dụng xác định vai
Trang 35trò, hành động cũng như kỳ vọng của các bên tham gia) trở nên có lợi cho họ Đây là điểm mạnh của đa phương mà không một phương thức ngoại giao nào khác có thể thay thế được
Hai là, so với cách tiếp cận đơn phương, đa phương là công cụ hữu
hiệu giúp các quốc gia tiết kiệm được các nguồn lực trong triển khai chính sách đối ngoại, tập hợp được lực lượng, tạo dựng được đồng thuận trong nước
và quốc tế để vừa thực hiện các mục tiêu chung, giải quyết, xử lý được mâu thuẫn, xung đột thông qua con đường hợp tác, đối thoại vừa thực hiện các mục tiêu đối ngoại của quốc gia
Ba là, đa phương mang tính bổ trợ cao cho ngoại giao song phương,
giúp thúc đẩy quan hệ song phương giữa các nước Nếu ngoại giao song phương là phương thức chủ đạo nhằm đưa quan hệ với từng đối tác đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định và bền vững thì đa phương là phương thức chủ yếu để phát huy lợi thế của các nước trong thúc đẩy các mối quan hệ quan hệ song phương theo hướng cân bằng, bình đẳng hơn nhất là trong quan hệ giữa
nước lớn - nước nhỏ Trong tổng thể nền ngoại giao của một quốc gia, ngoại
giao song phương hay đa phương đều có tầm quan trọng ngang nhau và đều
có tác dụng bổ trợ lẫn nhau Có những vấn đề song phương cần hoặc nên giải quyết thông qua kênh đa phương và một số vấn đề đa phương có thể được giải quyết qua các kênh song phương vừa có tác dụng góp phần tháo gỡ các tồn tại trong đàm phán đa phương, vừa có thể góp phần thúc đẩy quan hệ song phương phát triển và tập hợp lực lượng tại các diễn đàn đa phương
Tuy nhiên, cũng như các phương thức triển khai chính sách đối ngoại khác, đa phương cũng có một số hạn chế, đòi hỏi các quốc gia phải có sự kết hợp linh hoạt với các biện pháp, cách thức khác để đảm bảo hiệu quả cho quá trình triển khai chính sách đối ngoại
Một là, đa phương trên thực tế triển khai thường khó khăn, mất nhiều
Trang 36thời gian công sức đàm phán Lợi ích mà ngoại giao đa phương mang lại thường gián tiếp, dài hạn và ít khi nhìn thấy rõ kết quả thực chất Trên thực tế, không ít tiến trình đa phương rơi vào bế tắc, thất bại (vòng đàm phán Doha về thương mại tự do, Thỏa thuận Kyoto về biến đổi khí hậu hay đàm phán 6 bên
về vấn đề hạt nhân Triều Tiên…) Nguyên nhân chủ yếu là các quốc gia khi tham gia vào các tiến trình đa phương đều dựa trên các tính toán lợi ích quốc gia – dân tộc, nhiều vấn đề đa phương nếu muốn đạt được phải chấp nhận đánh đổi Sức ép chính trị nội bộ lên đối ngoại đa phương nhiều khi rất lớn và khó có thể vượt qua Đa phương thường nhấn mạnh yếu tố “đối thoại”, “đàm phán”, coi trọng vai trò của “thể chế”, “luật lệ” để điều phối và xử lý các mối quan hệ đối ngoại Tuy nhiên, trên thực tế, do tương quan lực lượng, thế và lực, mục tiêu và lợi ích của các quốc gia khác nhau nên quá trình tìm kiếm lợi ích và tiếng nói chung trong các cơ chế đa phương thường gặp nhiều khó khăn
Hai là, song song với các tiến trình ngoại giao đa phương, chính trị
cường quyền và chủ nghĩa đơn phương vẫn tiếp tục tồn tại Một số nước, nhất
là các nước lớn vẫn dùng đa phương làm phương tiện để theo đuổi các lợi ích đơn phương, thao túng các cơ chế đa phương nhằm thực hiện các mục tiêu lợi ích của riêng mình Điều này thường khiến cho các thể chế đa phương có xu hướng hoạt động không vì lợi ích chung của tất cả các thành viên, và thiếu tính ổn định, bền vững, nhất là khi tương quan lực lượng thay đổi, dẫn đến nhu cầu đòi cải tổ, thậm chí “xét lại” hệ thống đa phương (như trường hợp của Trung Quốc gần đây đã lập ra một loạt các cơ chế đa phương mới nhằm đối trọng với các thiết chế do Mỹ dẫn dắt, lãnh đạo)
Ba là, tính hiệu quả của đa phương trong xử lý quan hệ giữa các quốc
gia nhiều nơi, nhiều lúc chưa thật sự thuyết phục được giới hoạch định chính sách Những người theo chủ nghĩa Hiện thực cổ điển thường nghi ngờ cách
Trang 37tiếp cận đa phương trong chính sách đối ngoại Họ cho rằng bản chất của con người cũng như của các quốc gia là đều tìm cách cạnh tranh lẫn nhau để tối đa hóa lợi ích và quyền lực nên hợp tác đa phương không mang lại bất cứ lợi ích
gì hoặc chỉ là giải pháp hòa hoãn tình thế trong quá trình cạnh tranh lâu dài và tất yếu giữa các quốc gia Những người theo trường phái Tân hiện thực cho rằng do bản chất của hệ thống quốc tế là “vô chính phủ” nên sẽ không có cơ chế nào thực sự hiệu quả để thúc đẩy hợp tác đa phương Tương tự như vậy, những người theo thuyết “ổn định bá quyền” cho rằng một trật tự đa cực với
sự nổi lên của nhiều cường quốc có sức mạnh và tham vọng khác nhau sẽ mang lại nhiều bất ổn, rủi ro cho hòa bình và an ninh quốc tế Nhiều nhà lãnh đạo theo đường lối dân túy hoặc dân tộc chủ nghĩa có xu hướng ít coi trọng chủ nghĩa đa phương và ngoại giao đa phương, cho rằng việc tham gia vào các dàn xếp đa phương sẽ làm tổn hại lợi ích quốc gia, tiểu biểu là chính sách đối ngoại thiên về cách tiếp cận song phương của chính quyền Trump hiện nay hay cách tiếp cận “đơn phương khi có thể, đa phương khi cần thiết” của chính quyền Bush con trước đây
Dù còn một số hạn chế nhưng thế mạnh và vai trò của đa phương trong chính sách đối ngoại của các quốc gia đều được công nhận rộng rãi Hầu như tất cả quốc gia tham gia vào hệ thống quốc tế hiện đại từ các nước vừa và nhỏ (Phi-líp-pin, Xinh-ga-po), các cường quốc hạng trung (Canada, Hàn Quốc) cho đến các siêu cường tại vị (Mỹ) hay đang trỗi dậy (Trung Quốc) ở các mức
độ và hình thức khác nhau đều xem ngoại giao đa phương là một trong những công cụ chủ yếu trong chính sách đối ngoại, là một phương thức quan trọng
để bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia
Đối với các nước lớn, đối ngoại đa phương là công cụ để các nước này thể hiện vai trò dẫn dắt, lãnh đạo, định hình cuộc chơi, hợp tác và cạnh tranh ảnh hưởng với nhau Thông qua các cơ chế đa phương khu vực và quốc tế,
Trang 38các nước lớn tìm cách thiết lập và thúc đẩy các luật chơi có lợi cho mình nhằm duy trì củng cố hoặc tìm cách điều chỉnh, thay đổi hệ thống quốc tế hiện hành theo hướng có lợi cho mình
Đối với các quốc gia tầm trung (In-đô-nê-xi-a, Hàn Quốc, Canada…), các diễn đàn đa phương là phương tiện để các nước này duy trì tình trạng cân bằng tương đối với các nước lớn, không để nước lớn nào chiếm vai trò áp đảo hoặc chi phối cục diện, đồng thời phát huy tầm ảnh hưởng ở cấp độ tiểu khu vực
Đối với các nước vừa và nhỏ (Xinh-ga-po, Thái Lan…), việc tham gia vào các thể chế đa phương là một trong những lựa chọn chính sách đối ngoại hàng đầu nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài, xây dựng các tập hợp lực lượng bảo vệ lợi ích chung, là công cụ để cân bằng, ràng buộc các nước lớn
và hóa giải các sức ép trong quan hệ với các nước lớn hơn Một trong những
ví dụ tiêu biểu về ngoại giao đa phương của các nước nhỏ là sự hình thành nhóm G-77 đại diện cho các nước đang phát triển ở Á-Phi - Mỹ latinh trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc hay nhóm các quốc đảo thúc đẩy Hội nghị Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS)
Trên thực tế chủ nghĩa đa phương hiện đại bị ảnh hưởng lớn bởi tư duy của cựu Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson về một trật tự thế giới mới Nhìn vào trường hợp phát triển của LHQ, sự phát triển của chủ nghĩa đa phương thời gian qua đã có những tác động tích cực đối với bốn quy tắc quan trọng khác của ngoại giao đa phương mà LHQ ủng hộ Thứ nhất, Hiến chương LHQ đã đặt một tiêu chuẩn rõ ràng cho một quy tắc quan trọng rằng vũ lực chỉ được sử dụng để phòng vệ có ý nghĩa rất quan trọng đối với các cuộc đối thoại ngoại giao hiện đại về chủ đề chiến tranh Thứ hai, ngoại giao đa phương LHQ được thực hiện bên cạnh ngoại giao song phương truyền thống, tiếp tục khuyến khích quy tắc về tiếp đối thoại ngoại giao Thứ ba, thảo luận
về một nền ngoại giao mới sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã giúp đẩy
Trang 39mạnh một quy tắc là ngoại giao nên cởi mởi hơn đối với công chúng, hay nói cách khác những kết quả đàm phán, thương lượng ngoại giao nên được công
bố cho công chúng Bốn là, nhiều nhà quan sát của LHQ đã ghi nhận rằng các cuộc thảo luận của họ được tiến hành với phong cách/qui tắc rất lịch thiệp (civility) [165, tr 16-17]
Như đã thấy, các quốc gia đều có điểm chung quan tâm đến đa phương
là vì sự hợp tác, thực hiện tối đa lợi ích của mình Và thực tế trong LHQ, các nước thành viên đều tích cực tham gia ứng cử vào các vị trí của các cơ quan trong hệ thống LHQ, trong đó có HĐBA LHQ Việc tham gia với tư cách UVKTT HĐBA LHQ thực tế đã giúp rất nhiều nước nhỏ/trung bình điều chỉnh hành vi đối với các vấn đề khó khăn/phức tạp khi được đưa ra thảo luận, giải quyết tại HĐBA Những nước đã tham gia vị trí UVKTT HĐBA đều bày tỏ ý định tham gia ứng cử thêm một lần nữa tuỳ thuộc vào hoàn cảnh
và khoảng thời gian nhất định Giáo sư Kishore Mahbubani trong cuốn “50 years of Singapore and the United Nations” đã đưa ra ba sự thật mềm (soft
truth) và ba sự thật cứng (hard truth) và về LHQ (trong đó có HĐBA LHQ)
Về ba sự thật cứng: Sự thật cứng thứ nhất là các nước P5 kiểm soát HĐBA thông qua sức mạnh và vị thế thường trực của họ Các nước P5 thường bất đồng về nhiều vấn đề thực chất, (đến mức thô bạo - violently) trước HĐBA Tuy nhiên, các nước này thường rất đoàn kết, đồng quan điểm rằng P5 nắm vai trò điều hành HĐBA Một nhà Ngoại giao của Pháp ở LHQ
đã thể hiện rõ quan điểm của P5 đối với các nước E10 khi ông này miêu tả các nhà ngoại giao E10 là các “khách du lịch” [122, tr 37] Đối với Xinh-ga-
po, Đại sứ các nước P5 chưa bao giờ có thái độ khiếm nhã (rude) với các nhà ngoại giao Xinh-ga-po, đối xử rất hiếu khách, khuyến khích Xinh-ga-po đóng góp nhiều sáng kiến Tuy nhiên, khi Xinh-ga-po thuyết phục hãng tư vấn McKinsey giúp nghiên cứu, nâng cao phương pháp làm việc của HĐBA thì
Trang 40họ bị khước từ Các nước P5 muốn giữ nguyên trạng quy trình thủ tục của HĐBA để họ có thể can dự bằng cách hành xử độc đoán (arbitrary behaviour) Gíao sư Mabhubani nói thêm rằng, các nước P5 là những nhà độc tài không
do dân cử (unelected dictatorships) của nhân loại Tệ hơn là nhân viên Ban Thư ký HĐBA thường có cảm giác bị ép phải tuân thủ ý muốn độc đoán của các nước P5 Họ không có lựa chọn nào khác, nếu chống lại, họ sẽ bị điều chuyển công tác Đáng buồn hơn là truyền thông phương Tây chưa bao giờ đưa vấn đề này ra trước công chúng [122, tr 37] Sự thật cứng thứ hai là trong thực tế, về lý thuyết, HĐBA LHQ hoạt động trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc Luật quốc tế trong việc đưa ra các quyết định Tuy nhiên, thực tế thì lợi ích của các nước P5 luôn thắng các nguyên tắc của Luật pháp quốc tế Ngoài
ra, các nước P5 thường có nguyên tắc “nếu anh đâm sau lưng tôi, tôi sẽ đâm lưng anh” Có rất nhiều thoả thuận kín giữa các nước P5 chưa được phanh phui Sự thật cứng thứ ba là về lý thuyết, các nước P5 luôn hoan nghênh việc cải tổ thành viên HĐBA, bổ sung thêm các uỷ viên thường trực Trên thực tế, các nước này đã phản đối kịch liệt vấn đề này [122, tr 38]
Mặc dù có những thực tế phũ phàng như nêu trên, Giáo sư Mahbubani cho rằng Xinh-ga-po không nên từ bỏ LHQ, mặc dù thực tế trong nội bộ Xinh-ga-po lại có những quan điểm khác Ba sự thật mềm (soft truth) dưới đây sẽ góp phần lý giải tại sao Xinh-ga-po vẫn nên kiên trì niềm tin của mình vào LHQ và tiếp tục là một trong những nước có quan điểm bảo vệ mạnh mẽ nhất đối với thể chế này Và điều này luôn được Đại sứ Tommy Koh ủng hộ [122, tr 50]
Thứ nhất, mặc dù còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, nhưng LHQ (bao gồm cả HĐBA LHQ) đã kiến tạo một thế giới an toàn hơn cho các nước nhỏ như Xinh-ga-po Thực tế là trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước nhỏ
bị xâm lược và chiếm đóng thường xuyên Tuy nhiên, từ lúc Hiến Chương