1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ quan hệ quốc tế sự chuyển dịch quyền lực trong quan hệ quốc tế từ năm 2001 đến nay

185 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 17,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, công trình này đã tập hợp, phân loại rõ ràng các khái niệm, cách tiếp cận quyền lực cũng như hệ thống hóa bước đầu những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lý luận về quyền lực tron

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

-

Vũ Vân Anh

SỰ CHUYỂN DỊCH QUYỀN LỰC TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIÊN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

MÃ SỐ: 9 31 02 06

Hà Nội, năm 2018

Trang 2

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

-

Vũ Vân Anh

SỰ CHUYỂN DỊCH QUYỀN LỰC TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế

Trang 3

Tôi cam đoan Luận án “Sự chuyển dịch quyền lực trong quan hệ quốc tế từ năm 2001 đến nay” là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Trang 4

người thầy, người thân, và bè bạn Trong hơn 3 năm tìm hiểu, viết lách và biên tập luận án này, tôi có rất nhiều lời cảm ơn cần nói

Trước hết, tôi muốn gửi lời cám ơn chân thành nhất tới hai người thầy

Với sự chỉ bảo, uốn nắn tận tình, GS.TS Hoàng Khắc Nam - người truyền lửa, người thầy hướng dẫn tận tình- đã cho tôi những sự động viên, những bài học thiết thực cùng nhiều kinh nghiệm quý giá, bổ ích trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống Thầy đã luôn theo sát tôi trong quá trình thực hiện luận án này Luận

án này sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của thầy

Mọi thành phẩm đều bắt đầu từ ý tưởng Do đó, tôi cũng muốn dành sự trân trọng và biết ơn tới PGS.TS Đỗ Sơn Hải, người thầy đã dạy dỗ tôi trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, đã gợi mở những ý tưởng và khích lệ tôi từ những ngày đầu tìm hiểu đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Doãn Mai Linh, người thầy đồng hướng dẫn cũng như các thầy cô trong các Hội đồng đã cho tôi những lời khuyên quý báu trong quá trình thực hiện luận án Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn GS.TS Nguyễn Thái Yên Hương, TS Đỗ Thị Thanh Bình và Phòng Đào tạo sau Đại học đã tạo điều kiện, đốc thúc các nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học và giúp đỡ tận tình để luận án này đạt chất lượng tốt nhất

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tôi xin gửi lời cám ơn đặc biệt của mình đến gia đình tôi, cùng những người bạn, đồng nghiệp- những người vẫn thầm lặng ủng hộ và sẻ chia Không một lời cám ơn nào xứng đáng với những tình cảm ấy

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Vũ Vân Anh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢN ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH VẼ, MÔ HÌNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ 22

1.1 Cơ sở lý luận 22

1.1.1 Khái niệm 22

1.1.1.1 Khái niệm quyền lực 22

1.1.1.2 Khái niệm chuyển dịch quyền lực 24

1.1.1.3 Các khái niệm liên quan 25

1.1.2 Các quan niệm về chuyển dịch quyền lực 30

1.1.2.1 Chuyển dịch trong nguồn lực 30

1.1.2.2 Chuyển dịch quyền lực quan hệ 33

1.1.2.3 Chuyển dịch quyền lực cấu trúc 36

1.1.3 Khung phân tích chuyển dịch quyền lực cấu trúc 38

1.1.3.1 Những tiền đề cho chuyển dịch quyền lực 38

1.1.3.2 Các hình thức chuyển dịch quyền lực 41

1.2 Cơ sở lịch sử 47

1.2.1 Chuyển dịch quyền lực nội sinh giữa Anh- Mỹ trong cấu trúc kinh tế (1918-1945) 48

1.2.1.1 Các tiền đề cho chuyển dịch quyền lực 48

1.2.1.2 Quá trình chuyển dịch quyền lực 51

1.2.2 Chuyển dịch quyền lực ngoại sinh giữa Mỹ và Liên Xô trong hệ thống quốc tế Yalta (1945-1991) 53

1.2.2.1 Các tiền đề cho chuyển dịch quyền lực 53

Trang 6

1.2.3.1 Các tiền đề cho chuyển dịch quyền lực 60

1.2.3.2 Quá trình chuyển dịch quyền lực 63

TIỂU KẾT 65

CHƯƠNG 2: TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH QUYỀN LỰC TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2017 66

2.1 Những tiền đề cho quá trình chuyển dịch quyền lực từ năm 2001 66

2.1.1 Biến đổi bên trong quyền lực 66

2.1.1.1 Vai trò gia tăng của kinh tế 67

2.1.1.2 Vai trò của khoa học công nghệ, internet và truyền thông toàn cầu 68

2.1.2 Thay đổi tương quan lực lượng 71

2.1.2.1 Sức mạnh kinh tế 71

2.1.2.2 Sức mạnh quân sự 75

2.1.2.3 Sức mạnh khoa học công nghệ 79

2.1.2.4 Các sức mạnh tinh thần 82

2.1.3 Một số điều chỉnh chính sách của các nước lớn 84

2.1.3.1 Mỹ 84

2.1.3.2 Trung Quốc 86

2.1.3.3 Liên minh châu Âu 88

2.1.3.4 Nhật Bản 89

2.1.3.5 Nga 91

2.1.4 Những thay đổi trong môi trường quốc tế 92

2.1.4.1 Các nguy cơ an ninh mới 92

2.1.4.2 Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia 94

2.2 Quá trình chuyển dịch quyền lực trong các cấu trúc của hệ thống quốc tế từ năm 2001 đến năm 2017 96

Trang 7

2.2.1.3 Về thương mại 101

2.2.2 Chuyển dịch quyền lực trong cấu trúc an ninh- chính trị 103

2.2.2.1 Cấu trúc chính trị 103

2.2.2.2 Cấu trúc an ninh 106

TIỂU KẾT 113

CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG CHUYỂN DỊCH QUYỀN LỰC ĐẾN NĂM 2035 VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM 115

3.1 Triển vọng chuyển dịch quyền lực đến năm 2035 115

3.1.1 Các kịch bản chuyển dịch quyền lực đến năm 2035 115

3.1.1.1 Cơ sở xây dựng các kịch bản 115

3.1.1.2 Nội dung các kịch bản 120

3.1.2 Đánh giá các kịch bản 124

3.2 Đối sách của Việt Nam 127

3.2.1 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam 127

3.2.1.1 Cơ hội 127

3.2.1.2 Thách thức 128

3.2.2 Một số gợi ý cho Việt Nam 129

3.2.2.1 Xác định mục tiêu của chính sách đối ngoại 130

3.2.2.2 Các lựa chọn đối sách 131

TIỂU KẾT 142

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 149

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

PHỤ LỤC 163

Trang 8

ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á

ADIZ Air Defense Identification Zone Vùng nhận dạng phòng không

ADMM ASEAN Defence Ministers’

ARF Asia Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEAN Association of Southeast Asian

ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu

BRIC Brazil, Russia, India, China Nhóm các quốc gia mới nổi

bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc (trước năm 2010)

BRICS Brazil, Russia, India, China,

and South Africa

Nhóm các quốc gia mới nổi bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi (sau năm 2010)

Trang 9

CPTPP Comprehensive and Progressive

Agreement for Trans-Pacific Partnership

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình

Dương

DOC Declaration on the Conduct of

parties in South China Sea

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á

EC European Commission Ủy ban Châu Âu

ECOSOC Economic and Social Council Hội đồng Kinh tế - Xã hội

FDI Foreign Direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngòai

FTA Free Trade Area Khu vực thương mại Tự do

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phấm quốc nội

đầu thế giới

đầu thế giớivà Nga

IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ quốc tế

NATO North Atlantic Treaty

Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

NDB New Development Bank Ngân hàng Phát triển mới

NGOs Non- Govermental

Organizations

Các tổ chức phi chính phủ

OBOR One Belt One Road Sáng kiến Một vành đai Một

con đường

Trang 10

Economic Partnership Toàn diện Khu vực

SCO Shanghai Cooperation

Organisation

Tổ chức hợp tác Thượng Hải

TAC Treaty of Amity and

Cooperation in South East Asia

Hiệp ước thân thiện và hợp tác

ở Đông Nam Á

TNCs Transnational Corporations Các tập đoàn xuyên quốc gia

TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định Đối tác xuyên Thái

Bình Dương

UNCLOS United Nation Convention on

Law of the sea

Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển

UNCTAD United Nations Conference on

Trade and Development

Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc

UNSC United Nations Security

Council

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc

WMD Weapon of mass destruction Vũ khí huỷ diệt hàng loạt

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 12

Mô hình:

Mô hình 1.1 Chuyển dịch nội sinh 42

Mô hình 1.2.Chuyển dịch ly tâm 43

Mô hình 1.3 Chuyển dịch ngoại sinh 46

Mô hình 1.4 Chuyển dịch quyền lực trong cấu trúc kinh tế quốc tế từ năm 1918 đến 1945 51

Mô hình 1.5 Chuyển dịch quyền lực trong các cấu trúc quốc tế từ năm 1945 đến 1991 57

Mô hình 1.6 Chuyển dịch quyền lực trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trong Chiến tranh Lạnh 63

Mô hình 2.1 Chuyển dịch quyền lực trong hệ thống quốc tế từ 2001 đến 2017 112

Hình vẽ:

Hình 3.1 Các kịch bản chuyển dịch quyền lực 120Hình 3.2 Các lựa chọn chính sách 132

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền lực vốn là một vấn đề cơ bản và quan trọng trong nghiên cứu quan

hệ quốc tế “Hầu hết các định nghĩa của chính trị học đều liên quan đến quyền lực Hầu hết các tương tác quốc tế đều có tính chính trị hoặc là các nhánh đối với chính trị” [24, tr.1] Xung quanh khái niệm và vai trò của quyền lực là những cuộc tranh luận bất tận trong giới học giả Quyền lực là vấn đề trung tâm của quan hệ quốc

tế theo lăng kính chủ nghĩa Hiện thực, Hans J Morgenthau đã mô tả “Chính trị quốc tế, giống như mọi nền chính trị, là một cuộc đấu tranh vì quyền lực Bất kể mục tiêu cuối cùng của chính trị quốc tế là gì thì quyền lực vẫn luôn là mục tiêu trước mắt” [98, tr 29] Ngay cả những học giả theo chủ nghĩa Tự do cũng không phủ nhận tầm quan trọng của quyền lực: “Quyền lực là cần thiết những cũng là mối đe doạ đối với tự do, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào dạng thức của quyền lực và cách thức sử dụng chúng” [119, tr 17-18].Không chỉ đối với hai trường phái chính trong nghiên cứu quan hệ quốc tế Hiện thực và Tự do, quyền lực cũng

là mối quan tâm hàng đầu của nhiều lý thuyết khác [12, tr.1].Vì vậy, nghiên cứu

về quyền lực là đi thẳng vào cốt lõi của quan hệ quốc tế

Quyền lực luôn có sự vận động cả bên trong và bên ngoài Sự vận động bên trong quyền lực bao gồm những thay đổi trong bản chất gồm các thành tố của quyền lực, các phương thức thực thi quyền lực và sự mở rộng khái niệm quyền lực Sự vận động bên ngoài của quyền lực chính là quá trình chuyển dịch quyền lực từ nơi này sang nơi khác, từ chủ thể này sang chủ thể khác hoặc giữa các nhóm chủ thể trong quan hệ quốc tế Quá trình chuyển dịch này luôn diễn ra do sự thay đổi của bản thân quyền lực, các nhân tố tác động tới quyền lực như tương quan lực lượng, chính sách của các chủ thể, vàmôi trường quốc tế Quá trình chuyển dịch quyền lực thường dẫn đến những biến động trong các cấu trúc quốc tế và nếu

đủ lớn có thể dẫn tới sự thay đổi hệ thống thế giới Chính vì vậy, việc nắm bắt được xu hướng chuyển dịch quyền lực cho phép đoán định được diễn biến và kết

Trang 14

quả của nhiều tương tác cũng như dự báo về một hệ thống quốc tế mới

Từ năm 2001 đến nay, thế giới bao hàm trong nó là những nhân tố tác động tới quyền lực đã có nhiều biến đổi căn bản khiến cho quyền lực chuyển dịch một cách rõ nét Bước vào thế kỷ XXI, nhiều học giả trên thế giới đã xuất bản những công trình nghiên cứu cùng với những tranh luận sôi nổi trên các tạp chí chuyên ngành về quá trình chuyển dịch này nhằm đưa ra một cái nhìn khách quan và đa chiều về thực trạng quyền lực và những gì đang và sẽ diễn ra trong hệ thống quốc

tế đương đại Điều này cho thấy vấn đề này đang ngày càng được quan tâm và rõ ràng đây không chỉ là một vấn đề cơ bản mà còn có tính thời sự

Việt Nam là một phần tử thuộc hệ thống quốc tế hiện nay tất yếu sẽ bị tác động bởi quá trình chuyển dịch quyền lực đang diễn ra Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam có nhiều cơ hội thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, thể hiện vai trò của mình trên trường quốc tế và tranh thủ được những lợi ích từ các chủ thể khác như các nước lớn, các tổ chức quốc tế và các chủ thể phi quốc gia khác Tuy vậy, quá trình chuyển dịch quyền lực cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam như việc cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, xử lý những vấn đề nhạy cảm liên quan đến chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ với láng giềng Trung Quốc Như vậy, việc nhận thức về những xu hướng chuyển dịch quyền lực có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam trong việc hoạch định chính sách về dài hạn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các quan niệm và cách tiếp cận đối với vấn đề chuyển dịch quyền lực cũng rất đa dạng Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu lý luận và thực tiễn được công bố bao gồm các sách, công trình nghiên cứu khoa học, các bài tạp chí trong và ngoài nước xung quanh vấn đề chuyển dịch quyền lực

a Nhóm các công trình nghiên cứu hệ thống các quan niệm, lý thuyết về quyền lực

Như Felix Berenskoette đã nhận định rằng “Lịch sử nghiên cứu khái niệm quyền lực đã cho chúng ta thấy quyền lực là một khái niệm gây tranh cãi một cách

cơ bản với nhiều cách diễn giải khác nhau Và bởi vì cách diễn giải mà chúng ta

Trang 15

lựa chọn sẽ xác định mối quan hệ nào mà chúng ta coi là có liên quan và cách chúng ta khái niệm hóa ‘chính trị quốc tế’ – do vậy cần phải nhận thức được các hướng định nghĩa quyền lực” [29, tr.3] Chính vì vậy, các học giả trong và ngoài nước đều nỗ lực hệ thống hóa khái niệm quyền lực

Một số công trình nghiên cứu của phương Tây dành khối lượng lớn cho các khái niệm về quyền lực phải kể đến đầu tiên là các công trình của David A

Baldwin bắt đầu từ bài báo “Power analysis and world politics: New Trends versus old tendencies”(Phân tích quyền lực và chính trị quốc tế: các xu hướng mới

và những khuynh hướng cũ) (1979) đăng trên tạp chí World Politics 31(2), “Power and international relations”(Quyền lực và quan hệ quốc tế) (2002) là một phần

trong cuốn sách The handbook of international relations được xuất bản bởi Sage Press Mới đây, các công trình đó đã được bổ sung, cập nhật trong cuốn sách

“Power and International Relations: A conceptual Approach” (Quyền lực và

quan hệ quốc tế: cách tiếp cận khái niệm) Nhìn chung, Baldwin đã tổng hợp và

hệ thống các khái niệm quyền lực dựa trên cơ sở phân loại các cách tiếp cận mà theo ông hiện nay có ba cách tiếp cận chính gồm có: cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực (power as resources), cách tiếp cận quyền lực quan hệ (relational power)

và cách tiếp cận quyền lực cấu trúc (structural power)

Bên cạnh Baldwin, Felix Berenskoette và M J Williams cũng dày công

tổng hợp và phân loại các khái niệm quyền lực trong cuốn sách “Power in World Politics” (Quyền lực trong Chính trị quốc tế) (2007) Trong cuốn sách này, ông

phân loại các khái niệm dưới ba chiều cạnh: (i) chiến thắng trong xung đột (winning conflicts) và (ii) giới hạn sự lựa chọn (limiting alternatives) và (iii) định hình quy chuẩn (shaping normality)

Đi theo một hướng khác, Michael Barnett và Raymond Duvall đã cố gắng đưa ra các khái niệm quyền lực một cách hệ thống và nỗ lực chỉ ra mối liên hệ

giữa các khái niệm này trong bài báo “Power in International Politics” (Quyền

Trang 16

lực trong chính trị quốc tế) (2005) đăng trên tạp chí International Organization 59(1) của the Mit Press Tuy nhiên Barnett và Raymond lại đưa ra một cách tiếp cận quyền lực mà kết hợp cả ba thành tố cấu trúc, quan hệ và vật chất và phân loại quyền lực thành bốn nhóm quyền lực (i) có tính cưỡng buộc (compulsory), (ii) có tính thể chế (institutional), (iii) có tính cấu trúc (structural) và (iv) có tính sản sinh (productive) Cách tiếp cận này của Barnett và Duvall đã có giá trị trong việc nhận thức được sự phức tạp của khái niệm quyền lực nhưng lại bỏ qua sự phát triển về mặt lý luận, không đề cập tới các cuộc tranh luận về quyền lực trong các lý thuyết chính trị và xã hội Mặt khác về tổng thể, Barnett và Duvall cũng chưa làm rõ được mối liên hệ giữa các khái niệm quyền lực và các dạng quyền lực

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu lý luận về quyền lực trong quan hệ

quốc tế không nhiều PGS TS Hoàng Khắc Nam đã xuất bản cuốn sách “Quyền lực trong quan hệ quốc tế: Lịch sử và vấn đề” (2011), trong đó toàn bộ chương 1

đề cập tới Khái niệm và phân loại quyền lực trong quan hệ quốc tế Cuốn sách đã

đề cập một cách toàn diện các khái niệm cùng các cách tiếp cận quyền lực phổ biến trong nghiên cứu quan hệ quốc tế Bên cạnh đó, cuốn sách cũng nhìn nhận quá trình phát triển nhận thức quyền lực trong quan hệ quốc tế theo hai hướng: (i) dựa trên

sự phát triển quan niệm về quyền lực và (ii) dựa trên sự mở rộng mục tiêu của quyền lực Trong đó hướng thứ (i) chia sẻ nhiều điểm chung với cách phân loại của Baldwin trong khi hướng thứ (ii) dựa trên cách phân loại của Felix Berenskoette Như vậy, công trình này đã tập hợp, phân loại rõ ràng các khái niệm, cách tiếp cận quyền lực cũng như hệ thống hóa bước đầu những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu

lý luận về quyền lực trong quan hệ quốc tế

b Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận đi theo một hướng, cách tiếp cận cụ thể

Các công trình nghiên cứu lý luận về quyền lực và chuyển dịch quyền lực

đi theo 3 cách tiếp cận chính: quyền lực như nguồn lực, quyền lực quan hệ và quyền lực cấu trúc

Đi theo cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực, các công trình đi theo hướng

Trang 17

này cho rằng quyền lực của quốc gia được thể hiện qua các năng lực, nguồn lực

mà quốc gia đó sở hữu Cách tiếp cận này ra đời trong thời kỳ cận đại khi khoa học về quan hệ quốc tế chưa phát triển và thực tiễn quan hệ quốc tế còn khá đơn

giản.Nổi bật nhất là cuốn sách Politics Among Nations (Chính trị giữa các quốc

gia) (1960) của Hans J Morgenthau Luận điểm của Morgenthau là tiêu biểu cho các quan niệm của chủ nghĩa Hiện thực về quyền lực khi cho rằng quốc gia là chủ thể chính trong quan hệ quốc tế, quốc gia sở hữu quyền lực và quyền lực đó là tổng hòa của 9 thành tố là nguồn lực của quốc gia Ngoài Morgenthau, các nhà Hiện thực chủ nghĩa nghiên cứu về ‘cân bằng quyền lực’ dù có nhiều điểm khác nhau nhưng đều chia sẻ quan điểm chung khi cho rằng có thể tính toán sự phân bổ quyền lực dựa trên tổng các thành tố khác nhau của quyền lực hay còn gọi là các

nguồn lực Một vài công trình trong số đó là bài báo“The Balance of Power: Prescription, Concept or Propaganda?” (1953) của Ernst B Haas đăng trên tạp chí World Politics 5(7); cuốn sách “Power and International Relations” (1962) của Inis L Claude

Một số các công trình nổi bật được công bố mới đây cũng đi theo cách tiếp

cận này gồm cuốn sách “Theory of International Politics” (Lý thuyết chính trị quốc tế) (1979) của Kenneth Waltz và “The Tragedy of Great Power Politics”

(2001) của John J Mearsheimer Các công trình đi theo cách tiếp cận này đã củng

cố nền móng cho nghiên cứu quyền lực quốc gia.Đặc biệt là từ đây đã có nhiều phương thức lượng hóa cho phép đo lường quyền lực được đưa ra như công thức của Cliffford German năm 1960, công thức của Ray Cline năm 1975 Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng đang bộc lộ những hạn chế trong việc giải thích nhiều thực tiễn quan hệ quốc tế Thật vậy, không phải quốc gia nào có lợi thế về nguồn lực, năng lực thì có nhiều quyền lực hơn Theo cách tiếp cận này, chuyển dịch quyền lực cũng được hiểu như là sự thay đổi trong tương quan so sánh lực lượng khi một quốc gia ngày càng mạnh lên và rút ngắn dần khoảng cách, bắt kịp với một quốc gia khác Tiêu biểu phải kể đến lý thuyết chuyển dịch quyền lực của Organski

Trang 18

trong cuốn sách World Politcs (Chính trị thế giới) xuất bản năm 1968, ông đã hệ

thống và khái quát thành lý thuyết về chuyển dịch quyền lực với cách sử dụng thuật ngữ “power transition” Mới đây hơn, Ronald Tammen cùng các cộng sự đã dựa trên cơ sở lý thuyết của Organski để phát triển và bổ sung thêm lý thuyết về

chuyển dịch quyền lực này trong cuốn sách Power Transitions: Strategies for the 21st Century (Chuyển dịch quyền lực: Chiến lược cho thế kỷ 21) (2000) Sự bổ

sung của Tammen thực tế đã rất chi tiết và phù hợp hơn trong bối cảnh mới Tuy nhiên, một hạn chế của lý thuyết này nằm ở việc tập trung quá nhiều tới kết quả của chuyển dịch quyền lực là chiến tranh hay không mà bỏ qua những nguyên

nhân dẫn đến chuyển dịch quyền lực Cuốn sách của Morgenthau Politics among nations: The struggle for Power and Peace, Brief Edition điều chỉnh bởi

Thompson và Kenneth W cũng chia sẻ những luận điểm này

Các công trình nghiên cứu về cân bằng quyền lực mà theo đó sự trỗi dậy của một số quốc gia sẽ khiến cho quyền lực bị chuyển dịch và thay đổi trật tự thế giới cũng đi theo cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực, trong đó một số tác phẩm

tiêu biểu là World Order (Trật tự thế giới) (2001) của Henrry Kissinger; The Rise and Fall of Great Power (Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc) của Paul Kennedy; The Balance of Power in International Relations: Metaphors, Myths and Models (Cân bằng quyền lực trong quan hệ quốc tế: những ẩn dụ, bí ẩn

và các mô hình) (2007) của Richard Little hay trong chủ nghĩa Hiện thực tấn công

của Mearsheimer

Để khắc phục những tồn tại của các công trình đi theo cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực, một cách tiếp cận mới dựa trên quyền lực quan hệ được phát triển bởi các học giả từ các ngành tâm lý, triết học, xã hội, kinh tế và chính trị từ giữa thế kỷ XX mà được Baldwin gọi là “cách mạng phân tích quyền lực” Tóm lại, theo các tiếp cận này, quyền lực của A chỉ được bộc lộ qua mối quan hệ với

B Cách tiếp cận này tạo ra sự khác biệt căn bản đối với cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực Trong khi cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực cho thấy quyền

Trang 19

lực quốc gia là những gì quốc gia đó có thì cách tiếp cận quyền lực dựa trên quan

hệ này cho thấy quyền lực quốc gia là những gì quốc gia đó thể hiện ra đối với chủ thể khác Nổi bật trong số các công trình theo cách tiếp cận quyền lực quan

hệ có bài báo “The Concept of Power” (Khái niệm quyền lực) (1957)của Robert

A Dahl đăng trên tạp chí Behavioral Science 2:3; cuốn sách “Power and Political Theory: Some European Perspectives” (Quyền lực và lý thuyết chính trị: Một vài quan điểm của châu Âu) 1976 do Brian Barry làm chủ biên; cuốn “The Price of Peace: Incentives and International Conflict Prevention” của David Cartwright; bài báo “Measurement of Social Power, Opportunity Costs, and the Theory of Two-Person Bargaining Game” (Đo lường Quyền lực xã hội, Chi phí cơ hội và

Lý thuyết trò chơi thương lượng giữa 2 bên) (1962) của John C Harsanyi đăng

trên Behavioral Science số 7 và cuốn sách “Paradoxes of Power” (Những nghịch

lý của quyền lực) (1989) của Baldwin

Đi theo cách tiếp cận này, điều khiến cho các học giả tập trung giải quyết hơn cả là cách đo lường quyền lực Trong đó Baldwin cũng đưa ra nhiều chiều cạnh cho khái niệm quyền lực bao gồm: phạm vi (scope), địa hạt (domain), mức

độ (weight), chi phí (costs) và phương tiện (means) và phương thức tính toán cho từng chiều cạnh Trong khi đó Dahl lại đưa ra một hàm số và các công thức gộp phức tạp hơn Một cách rõ ràng, các công trình này đã tạo một bước tiến trong cách tiếp cận quyền lực thực tế, đúng đắn và phù hợp với bối cảnh mới hơn Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng những nỗ lực lượng hóa để đo lường quyền lực cũng chỉ mang tính tương đối và khó áp dụng bởi lẽ một cách tiếp cận quyền lực trừu tượng không giống như các nguồn lực hiện hữu của các quốc gia thì cũng khó

có được một phép tính toàn diện mà chính xác Và vấn đề đo lường quyền lực vẫn

là một thách thức đối với cách tiếp cận này

Tiêu biểu năm 2011, Joseph S Nye cũng cho ra đời cuốn sách có tên The Future of Power (Tương lai của quyền lực) đưa ra được những nhận định mang

tính tổng thể hơn khi phân tách quá trình chuyển dịch quyền lực đang diễn ra hiện

Trang 20

nay bao gồm cả hai quá trình chuyển dịch quyền lực (power transition) giữa các quốc gia và phân tán quyền lực (power diffusion) giữa các chủ thể quốc gia và phi quốc gia Trong cuốn sách của ông, ông đã nghiên cứu sự chuyển dịch giữa Mỹ với EU, Nhật, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, BRICs và phân tán giữa các nước lớn đến các TNCs, NGOs và cả những cá nhân trên không gian mạng Cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng thể khái quát về sự chuyển dịch quyền lực trong các quan hệ của Mỹ với các cường quốc khác, tuy nhiên do phần chuyển dịch quyền lực chiếm một khối lượng vừa phải trong cuốn sách nên khối lượng thông tin mà ông đưa ra vẫn chưa thấy rõ được các chiều cạnh mà cách tiếp cận này đề cập tới

Do vậy có thểxếp công trình của ông mang tính lý luận nhiều hơn là giá trị thực tiễn

Một cách tiếp cận quyền lực khác có khả năng tổng quát hơn xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XX cho rằng quyền lực quốc gia được biểu hiện thông qua khả năng xác lập luật chơi trong quan hệ quốc tế Cách tiếp cận này xuất hiện đầu tiên bởi một học giả nghiên cứu về kinh tế chính trị học Susan Strange trong một

cuốn sách có tên “States and Markets”(Nhà nước và Thị trường) (1988) và sau đó

được Stefano Guzzini áp dụng vào nghiên cứu quan hệ quốc tế và công bố trong

bài báo “Structural Power: The Limits of Neorealist Power Analysis” (Quyền lực

cấu trúc: Hạn chế trong phân tích quyền lực của Chủ nghĩa Tân hiện thực) (1993)

đăng trên tạp chí International Organization 47(3) và cuốn sách “Realism in International Relations and International Political Economy” (Chủ nghĩa hiện

thực trong quan hệ quốc tế và kinh tế chính trị quốc tế)

Cách tiếp cận này được tranh cãi là không phân biệt nhiều với cách tiếp cận quyền lực quan hệ Baldwin cho rằng nếu bỏ qua tính “có chủ ý” của quyền lực thì không cần phải tách biệt cách tiếp cận quyền lực quan hệ và quyền lực cấu trúc bởi “việc tạo ra và kiểm soát các cấu trúc đơn giản là một ví dụ của ảnh hưởng với phạm vi và địa hạt cụ thể” [24, tr 16].Và nếu cấu trúc ở đây có phạm vi gồm tất

cả các lĩnh vực và địa hạt gồm tất cả các quốc gia thì có nghĩa quyền lực cấu trúc

Trang 21

giống với quan niệm về bá quyền (hegemon) Cần phải nhìn nhận, cách tiếp cận cấu trúc này cũng khắc phục được một số những hạn chế mà các học giả theo cách tiếp cận quyền lực quan hệ gặp phải đó là thoát khỏi sự bế tắc của những công thức đo lường quyền lực cồng kềnh Thay vào đó là sử dụng phương pháp định tính đánh giá tổng thể các cấu trúc của hệ thống quốc tế để nhìn nhận về quyền lực Tuy vậy, một hạn chế lớn của các công trình đi theo cách tiếp cận quyền lực cấu trúc là chỉ có thể xem xét được quyền lực của các nước lớn nếu như nghiên cứu quyền lực của các quốc gia mà không thể nhìn nhận quyền lực đang gia tăng của các nước tầm trung hay các nước vừa và nhỏ trong quan hệ quốc tế

Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch quyền lực đi theo cách tiếp cận này chủ yếu thuộc ngành kinh tế chính trị học Nổi bật là công trình của Stephen

D Krasner (1985) có tên Structural Conflict: The Third world against global liberalism (Xung đột cấu trúc: Thế giới thứ Ba chống lại chủ nghĩa tự do toàn cầu);hai công trình của Susan Strange có tên “Finance, Information and Power” (Tài chính, Thông tin và quyền lực), đăng trên tạp chí Review of International Studies số tháng 7 năm 1990 và cuốn sách “The Retreat of the State: The Diffusion

of power in the world economy” (1996); Thomas Schelling xuất bản cuốn sách Choice and Consequence: Perspectives of an Errant Economist (Lựa chọn và kết

quả: Góc độ của một nhà kinh tế nghiệp dư) năm 1984 Do cách tiếp cận này xuất phát điểm từ nhà kinh tế chính trị Susan Strange chính vì vậy những công trình về chuyển dịch quyền lực cấu trúc của những nhà kinh tế chính trị tương đối hệ thống

và hoàn chỉnh.Tuy nhiên bởi đặc thù ngành nên các công trình này chủ yếu tập trung và đặt nặng góc độ kinh tế trong phân tích quyền lực

Trong quan hệ quốc tế, mới chỉ có những công trình nghiên cứu về quyền lực cấu trúc chứ chưa có một công trình nghiên cứu lý luận nào hệ thống và toàn diện về chuyển dịch quyền lực cấu trúc Thay vào đó là những công trình tiếp cận

một hay một vài khía cạnh của quyền lực cấu trúc, điển hình như bài Theorising the Rise of Asia: Global Power Shifts and State Responses (Lý thuyết hóa sự trỗi

Trang 22

dậy của châu Á: Biến đổi quyền lực toàn cầu và phản ứng của các quốc gia) (2009)

của Namrata Goswami và Japan and the East Asian Security in the 21 st Century (Nhật Bản và An ninh Đông Á trong thế kỷ 21) (2009) nằm trong cuốn sách Global Power Shifts and Strategic Transition in Asia (Biến đổi quyền lực toàn cầu và

chuyển dịch chiến lược trong châu Á) (2009) do N.S Sisodia và V Krishnappa làm chủ biên

Ở Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu về cấu trúc trong quan hệ quốc tế cũng phản ánh phần nào quyền lực của các chủ thể bên trong các cấu trúc

Một trong số các công trình về lý luận là Nhận thức về trật tự thế giới của Hoàng Khắc Nam (Kỷ yếu hội thảo “Sự điều chỉnh chính sách của các nước khu vực Châu Á và Thái Bình Dương trong thời gian gần đây”, 1993) Bài viết này bàn

về trật tự thế giới như một dạng của cấu trúc với các cách tiếp cận và cấu trúc trật

tự thế giới khác nhau, khái niệm, đặc điểm của nó Trong đó, trật tự thế giới được coi như một hệ thống mâu thuẫn cơ bản có tính quy luật được biểu hiện trong QHQT với một trạng thái tương đối ổn định của khung chiến lược toàn cầu Từ

đó, bài viết đã xem xét năm mâu thuẫn cơ bản của trật tự thế giới là cạnh tranh kinh tế; mâu thuẫn giữa cố gắng xây dựng sự ổn định trên nền hỗn loạn; mâu thuẫn trong quan hệ thứ bậc nước lớn-nước nhỏ, nước mạnh-nước yếu; mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa và khu vực hóa, giữa chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa biệt lập; mâu thuẫn giữa phát triển và những giới hạn của nó Bài viết có cách tiếp cận theo quan điểm mâu thuẫn vừa là bản chất, vừa là động lực cho sự phát triển biện chứng của trật tự thế giới

Về thực tiễn cấu trúc khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, những bài viết này thường chỉ bàn về cấu trúc an ninh với một vài khía cạnh nào đó của cấu trúc Các bài của tác giả Việt Nam thiên về sự hình thành và mô tả cấu trúc an ninh hiện tại hơn là mô hình, bản chất và tác động của nó đối với QHQT Có một số bài

đáng chú ý là Những chuyển động trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của PGS TS Trần Minh Sơn, Về cấu trúc an ninh khu vực Châu Á- Thái Bình Dương của Nguyễn Nam Dương, Cấu trúc khu vực và vấn đề mở rộng

Trang 23

cấu trúc khu vực ở Châu Á-Thái Bình Dương của Nguyễn Hùng Sơn,

Bài viết Những chuyển động trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 2015) của PGS TS Trần Minh Sơn,

Viện trưởng Viện B70, Tổng cục II đã đưa ra một cách nhìn về cấu trúc an ninh khu vực bao gồm nhiều nhân tố khác nhau như quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội, khoa học công nghệ, Cấu trúc này gồm những bộ phận đã hình thành nên cấu trúc cùng những vấn đề tác động thuận nghịch tới sự vận động của cấu trúc Dựa trên khung phân tích đó, bài viết đã xem xét hai nội dung: cấu trúc an ninh khu vực hiện tại và xu hướng vận động của cấu trúc này Với cách nhìn cấu trúc theo kiểu của Chủ nghĩa Hiện thực, tác giả cho rằng cấu trúc hiện nay đang được định hình bởi một số nhân tố như liên minh Mỹ-Nhật cùng các liên minh song phương khác của Mỹ, các thể chế an ninh đa phương trong khu vực gồm các thể chế do ASEAN điều phối và các thể chế khác như APEC, ASEM, SCO, Theo tác giả, cấu trúc này đang được định hình nhưng bị tác động mạnh của một số nhân

tố như sự trỗi dậy của Trung Quốc, chính sách xoay trục của Mỹ, sự nổi lên của Nhật Bản, Xu hướng của cấu trúc này là đa tầng nấc, phức tạp và có tác động hai mặt tới QHQT khu vực

Bài viết Về cấu trúc an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (Tạp chí

Nghiên cứu Quốc tế, 2011) của Nguyễn Nam Dương, Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Bộ Ngoại giao là một bài khác có đề cập đến một chút đến lý luận bên cạnh việc nghiên cứu thực tiễn về cấu trúc an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Trong bài viết này, có bốn nội dung đáng chú ý: Một là, tác giả đã khảo cứu quan điểm và tầm nhìn của các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ và ASEAN về cấu trúc an ninh Châu Á-Thái Bình Dương khi

đó Hai là, tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm của cấu trúc này như quan hệ

Trung-Mỹ trở thành yếu tố định hình, các dàn xếp an ninh song phương vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ đạo, sự tiến triển của các thể chế an ninh đa phương, những biến động trong cấu trúc kinh tế khu vực Cuối cùng, tác giả đã đánh giá triển vọng vai trò

Trang 24

của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực, trong đó nhấn mạnh vào vai trò kết nối của tổ chức này

Bài viết của Nguyễn Hùng Sơn về Cấu trúc khu vực và vấn đề mở rộng cấu trúc khu vực ở Châu Á-Thái Bình Dương (Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế,

2010) đã đưa ra bức tranh về cấu trúc an ninh khu vực sau Chiến tranh Lạnh Với cách nhìn rộng mở, tác giả cho rằng cấu trúc an ninh khu vực có liên quan chặt chẽ với môi trường bên ngoài, có sự tác động và chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài, có sự tương tác theo hai chiều tới cấu trúc an ninh quốc tế Vì thế, cấu trúc an ninh ở Châu Á-Thái Bình Dương là một cấu trúc mở Theo đó, xây dựng cấu trúc an ninh ở Châu Á-Thái Bình Dương không nên chỉ bó hẹp vào các chủ thể khu vực mà phải tính đến các lực lượng khác dù không hoàn toàn thuộc khu vực Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra nhiều vấn đề mà các nước trong khu vực đang phải đối mặt trong việc xây dựng một cấu trúc đảm bảo hòa bình, ổn định và an ninh trong khu vực Ngoài ra, bài viết cũng cung cấp động thái của một số chủ thể đối với việc định hình cấu trúc an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Về trật tự quyền lực khu vực như mô hình của cấu trúc an ninh-chính trị,

có bài Trật tự quyền lực mới ở Châu Á-Thái Bình Dương (Tạp chí Khoa học, 2005)

của Hoàng Khắc Nam Bài viết này nghiên cứu dựa trên sự phân bố quyền lực vốn

là điểm cốt lõi của cấu trúc theo quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực Mới Trên

cơ sở đó, bài viết đã xem xét thực trạng và triển vọng của trật tự quyền lực Châu Á-Thái Bình Dương – một dạng thức của cấu trúc an ninh-chính trị khu vực Từ

sự phân tích hiện trạng và xu hướng chuyển dịch quyền lực, tác giả đã đưa ra bốn kịch bản cho trật tự quyền lực ở Châu Á-Thái Bình Dương Các kịch bản này bao gồm: 1/ Nhất siêu đa cường biến dần thành đơn cực; 2/ Thể tương quan “nhất siêu

đa cường” – một dạng thức ở giữa đơn cực và đa cực – vẫn không thay đổi; 3/ Nhất siêu đa cường” biến thành hai cực; 4/ Nhất siêu, đa cường” biến thành đa cực nhưng trên phương án cân bằng quyền lực Qua so sánh đánh giá, tác giả bài

Trang 25

viết cho rằng kịch bản hai là có khả năng hơn cả dù có những biến động Một nội dung nữa cũng có giá trị tham khảo là bài viết đã trình bày những tác động lợi hại cho Việt Nam trong từng kịch bản

Một bài viết khác cũng về trật tự quyền lực khu vực là Đặc điểm và xu hướng biến động của trật tự Đông Á hiện nay (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,

2010) của hai tác giả Nguyễn Hoàng Giáp và Phan Văn Rân Tương tự như trên, bài viết này cũng dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực Mới để xác định

mô hình của cấu trúc an ninh-chính trị Đông Á Hai tác giả đã tập trung phân tích vai trò, thực lực, chính sách của các nước lớn trong việc định hình trật tự khu vực

Từ cơ sở đó, bài viết đã đánh giá về khả năng và xu hướng vận động của trật tự khu vực Đông Á Nhìn chung, bài viết này đã phác họa được trật tự quyền lực như

mô hình của cấu trúc an ninh-chính trị khu vực cũng như đã bước đầu chỉ ra được các đặc điểm trong việc hình thành và vận động của cấu trúc khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trên phương diện an ninh-chính trị

Nhìn chung, các công trình nghiên cấu về mặt lý luận đã xây dựng được một nền tảng lý luận vững chắc và đa dạng cho các nghiên cứu xung quanh vấn

đề quyền lực và chuyển dịch quyền lực Đối với mỗi cách tiếp cận đều có những

ưu điểm cũng như hạn chế trong việc áp dụng giải thích các hiện tượng quốc tế Các công trình nghiên cứu lý luận về chuyển dịch quyền lực vẫn đa phần bị ảnh hưởng bởi cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực và dựa trên tương quan lực lượng để xem xét sự chuyển dịch quyền lực của các quốc gia Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch quyền lực trong quan hệ và chuyển dịch quyền lực cấu trúc vẫn còn ít và chưa có tính hệ thống mà chỉ đưa ra một vài luận điểm còn lẻ tẻ

do vậy chưa hình thành nên một lý thuyết chuyển dịch quyền lực nào có thể thay thế lý thuyết của Organski và với một cách tiếp cận khác đi

c Nhóm các nghiên cứu thực tiễn về chuyển dịch quyền lực

Đối với nhóm nghiên cứu này có ba hướng chính dựa trên ba cách tiếp cận khác nhau đối với quyền lực:

Trang 26

Hướng thứ nhất, hầu hết các công trình nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến

tranh và trật tự thế giới giai đoạn trước khi chiến tranh lạnh kết thúc đều chủ yếu dựa trên cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực này Một số công trình nổi bật

như: cuốn The History of the Peloponnesian War của Thucydides viết năm 431 TCN, “The Twenty Years' Crisis: 1919–1939” (Khủng hoảng 20 năm: 1919-1939) của E H Carr xuất bản vào tháng 9/1939, cuốn War and Change in world politics

của Robert Gilpin năm 1981… Mặc dù như Baldwin đã nhận định cách tiếp cận quyền lực quan hệ là một cuộc cách mạng trong phân tích quyền lực nhưng không phải là cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực bị thay thế Đến giai đoạn đầu thế

kỷ XXI, cả thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ,

có thể được coi là các quốc gia mới nổi có ảnh hưởng lớn tới cán cân quyền lực

Sự trỗi dậy này làm dấy lên vấn đề rằng quyền lực của Mỹ có thể bị thách thức bởi một cường quốc khác Các học giả cũng bắt đầu quay trở lại với chuyển dịch quyền lực của Organski Các tác phẩm giai đoạn này thường tập trung vào câu hỏi nghiên cứu: Quyền lực của Mỹ đang chuyển dịch về đâu và như thế nào? Tiêu

biểu trong số các công trình mới đây như: bài báo “Is American’s new declinism for real?” (Có phải Mỹ thực sự suy giảm?) của G Rachman năm 2008 đăng tên tạp chí Financial Times; bài báo “The Interpolar world: A new scenerio” của G

Grevi năm 2009 đăng tải trên Occasional Paper số 79 của Viện nghiên cứu an ninh

của Châu Âu; cuốn The Post-American World (2008) của tác giả Fareed Zakaria; cuốnThe New Asian Hemisphere: The Irresistible Shift of Global Power to the East (2009) của Kishore Mahbubani Có thể thấy rõ các tác phẩm này cũng bị ảnh

hưởng bởi sự thay đổi nhanh chóng trong tương quan lực lượng và chú trọng tới

sự chuyển dịch quyền lực từ Mỹ sang các nước phương Đông mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ Tuy vậy, có thể thấy rằng các tác phẩm được công bố trong giai đoạn cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI thường có xu hướng cho rằng xuất phát điểm của quyền lực sau chiến tranh lạnh là quyền lực của Mỹ nên đi sâu nghiên cứu quyền lực chuyển dịch từ Mỹ sang các chủ thể khác mà chủ yếu là các cường quốc

Trang 27

mới nổi có khả năng thách thức quyền lực Mỹ hơn là các đồng minh

Hướng thứ hai, theo cách tiếp cận quyền lực quan hệ, các công trình được

công bố thường tập trung giải quyết trong các quan hệ song phương rất đa dạng

và không chỉ các quan hệ song phương của các nước lớn Do vậy khối lượng nghiên cứu thực tiễn dựa trên cách tiếp cận này rất nhiều Tuy nhiên lại chỉ ít trong

số công trình đó áp dụng được các chiều cạnh lý thuyết của cách tiếp cận này để giải quyết quyền lực trong quan hệ Các công trình áp dụng được một vài chiều

cạnh trong cách tiếp cận gồm có: ấn phẩm của David Lai có tên The United States and China in Power Transition (Chuyển dịch quyền lực Mỹ và Trung Quốc)năm

2011 xuất bản bởi Viện nghiên cứu chiến lược Đại học U.S Army war; bài báo

Is There a Power Transition between the U.S and China? The Different Faces

of National Power (Có hay không một chuyển dịch quyền lực giữa Mỹ và Trung

Quốc: Các khía cạnh khác nhau của quyền lực quốc gia) (2005) của Steve Chan đăng trên tạp chí Asian Survey Vol 45 No 5 của Đại học California

Hướng thứ ba, rất ít tài liệu nghiên cứu về chuyển dịch quyền lực cấu trúc

trong quan hệ quốc tế mà chủ yếu vẫn là các công trình nghiên cứu kinh tế chính trị đã nêu ở trên

Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quá trình

chuyển dịch quyền lực còn ít ỏi Một trong số đó cần kể đến bài tạp chí Sự biến đổi quyền lực trong thế giới hiện nay của TS Đinh Quý Độ đăng trên tạp chí

nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới số 9 (209) năm 2013 Công trình nghiên cứu này đã phần nào chạm tới cách tiếp cận quyền lực cấu trúc khi đề cập tới ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc trong cấu trúc kinh tế thông qua vai trò của hai quốc gia tại IMF, WB Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu này còn hẹp (i) về chủ thể có Mỹ và Trung Quốc (ii) về cấu trúc chỉ tập trung vào cấu trúc kinh tế

Dựa trên tình hình nghiên cứu vấn đề, có thể thấy các công trình nghiên cứu

lý luận về chuyển dịch quyền lực vẫn còn hạn chế so với các công trình nghiên

Trang 28

cứu lý luận về quyền lực, và chủ yếu là các công trình nghiên cứu thực tiễn Trong

đó, lý thuyết về chuyển dịch quyền lực chủ yếu vẫn được phát triển dựa trên lý thuyết của Organski theo cách tiếp cận quyền lực như nguồn lực Luận án sẽ tiếp thu và vận dụng tất cả những thành quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn nêu trên

về quyền lực và chuyển dịch quyền lực trên Tuy nhiên, luận án sẽ cố gắng phát triển thêm, đưa ra được một khung phân tích về chuyển dịch quyền lực theo cách tiếp cận cấu trúc để dựa vào đó áp dụng vào nghiên cứu quá trình chuyển dịch quyền lực đang diễn ra trong các cấu trúc từ năm 2001 đến nay, từ đó, bổ sung thêm vào những mảng còn thiếu trong những nghiên cứu hiện có

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự chuyển dịch quyền lực đang diễn ra trong quan hệ quốc tế từ 2001 đến nay, từ đó đánh giá triển vọng và đề xuất đối sách phù hợp cho Việt Nam Để đạt được mục đích trên, luận án sẽ thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Một là, hệ thống hoá các khái niệm và thống nhất sử dụng các thuật ngữ có

liên quan đến quyền lực và chuyển dịch quyền lực; chỉ ra những cách tiếp cận phổ biến, áp dụng trong nghiên cứu chuyển dịch quyền lực và những ưu, khuyết của mỗi cách tiếp cận Từ đó, đưa ra cách tiếp cận được áp dụng xuyên suốt luận án

Hai là, đề xuất khung phân tích sẽ áp dụng khi phân tích chuyển dịch quyền

lực theo cách tiếp cận đã được thống nhất sử dụng

Ba là, áp dụng khung phân tích đểxác định những nhân tố tác động hay

những tiền đề cho quá trình chuyển dịch quyền lực từ năm 2001 đến nay

Bốn là, phân tích quá trình chuyển dịch quyền lực đã và đang diễn ra trong

các cấu trúc của hệ thống quốc tế từ 2001 đến nay

Năm là,dựa vào sự vận động của hệ thống thông qua các tiền đề khả biến,

dự báo triển vọng của quá trình chuyển dịch quyền lực cho đến năm 2035 và chỉ

ra những tác động của quá trình chuyển dịch quyền lực này đối với Việt Nam và

đề xuất đối sách phù hợp

Trang 29

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự chuyển dịch quyền lực trong quan

hệ quốc tế

Về phạm vi nghiên cứu

(i) Phạm vi không gian: hệ thống quốc tế thế giới

(ii) Phạm vi thời gian: từ năm 2001 đến 2017, và dự báo đến năm 2035 Luận án lựa chọn mốc thời gian năm 2001 để nghiên cứu bởi năm 2001 gắn với nhiều sự kiện lớn đánh dấu những sự thay đổi căn bản khiến cho quyền lực bị

chuyển dịch rõ nét Thứ nhất, sự kiện khủng bố 11/9 đã tác động lớn tới sự thay

đổi trọng tâm chiến lược của chính quyền tân tổng thống lúc bấy giờ là George W Bush Sự chuyển hướng chiến lược này khiến Mỹ bị sa lầy trong các cuộc chiến

bên ngoài lãnh thổ tốn kém, tiêu tốn các nguồn lực kinh tế, quân sự của Mỹ Thứ hai, năm 2001 cũng đánh dấu sự phục hồi ấn tượng của Nga sau khi Putin lên nắm quyền năm 2000 Thứ ba, năm 2001 là một năm đáng chú ý của Trung Quốc khi

quốc gia này chính thức vượt Ý trở thành nền kinh tế đứng thứ 6 thế giới và tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO Năm 2001 cũng là một thời khắc chuyển giao giữa hai thế kỷ và đánh dấu một giai đoạn quyền lực bị chuyển dịch mạnh mẽ, đặc biệt giữa Mỹ và các cường quốc còn lại

Luận án cũng lựa chọn mốc thời gian năm 2035 để dự báo bởi trong Đại hổi đại biểu toàn quốc lần thứ XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Tập Cận Bình đã đặt mục tiêu đến 2035, Trung Quốc hoàn tất quá trình hiện đại hoá quốc phòng cùng với lực lượng vũ trangvà cơ bản trở thành đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại Trung Quốc là một cường quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ và thách thức quyền lực của siêu cường Mỹ, chính vì thế tuyên bố này của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ là một căn cứ để đánh giá triển vọng chuyển dịch quyền lực.Bên cạnh đó, các báo cáo của World Bank và một số cơ sở nghiên cứu có uy tín cũng lựa chọn mốc 2035 để dự báo cho nền kinh tế thế giới

(iii) Phạm vi nội dung: quá trình chuyển dịch quyền lực giữa các nước lớn

Trang 30

Mặc dù có nhiều công trình đã chỉ ra có sự phân tán quyền lực từ các chủ thể quốc gia sang các chủ thể phi quốc gia, từ các nước lớn sang các nước vừa và nhỏ Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch quyền lực giữa các nước lớn cụ thể là Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc bởi quá trình chuyển dịch này diễn ra rõ nét hơn cả Hơn nữa, sự chuyển dịch quyền lực giữa các nước lớn thường có nhiều ảnh hưởng hơn cả đối với quan hệ quốc tế Luận án không phủ nhận vai trò của các chủ thể phi quốc gia đặc biệt là các tổ chức quốc

tế, tuy nhiên theo cách tiếp cận của luận án, các tổ chức quốc tế được xem như là phương thức và địa hạt để các nước lớn cạnh tranh ảnh hưởng

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án đã sử dụng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng

để giải quyết vấn đề nghiên cứu Luận án cũng kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung cho khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành quan hệ quốc tế

Về các phương pháp nghiên cứu chung cho khoa học xã hội, luận án sử dụng các phương pháp định tính trong quá trình phân tích, nhận định và rút ra các đánh giá

Các phương pháp nghiên cứu lịch sử như phương pháp đồng đại để quan sát những đặc điểm của chuyển dịch quyền lực trong mỗi một giai đoạn cụ thể; phương pháp lịch đại để xem xét diễn tiến và phân tích quá trình chuyển dịch; và phương pháp phân kỳ lịch sử được sử dụng để so sánh, đối chiếu đặc điểm chuyển dịch quyền lực trong mỗi giai đoạn khác nhau

Phương pháp nghiên cứu trường hợp để kiểm nghiệm những mô hình chuyển dịch quyền lực đưa ra trong khung lý thuyết của luận án

Bên cạnh đó, một số phương pháp khác được kết hợp sử dụng như: Các phương pháp thống kê được sử dụng khi tổng hợp các chỉ số liên quan đến sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ; phương pháp tổng hợp và so sánh, phương

Trang 31

pháp thu thập và xử lý thông tin, phương pháp phân tích số liệu, phương pháp quan sát và thẩm định tài liệu nhằm đem lại sự logic, chặt chẽ và thuyết phục cho luận án

Bên cạnh đó, một số phương pháp đặc thù của ngành quan hệ quốc tế được luận án kết hợp áp dụng Thứ nhất, phương pháp phân tích lý trí kết hợp với phương pháp phân tích lợi ích để xác định đâu là lợi ích của các nước lớn khi tham gia vào quan hệ quốc tế để từ đó đưa ra những đoán định Thứ hai, phương pháp phân tích chính sách nhằm giải quyết một số vấn đề đặc trưng liên quan đến chính sách của các nước lớn và kết hợp cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại

để đưa ra những đề xuất chính sách cho Việt Nam

Để dự báo triển vọng chuyển dịch quyền lực đến năm 2035 và đề xuất các lựa chọn chính sách phù hợp, luận án sử dụng phương pháp kịch bản để xây dựng nên các kịch bản chuyển dịch quyền lực có thể xảy ra dựa trên khả năng thay đổi của các nhân tố, và đánh giá khả năng hiện thực hoá của mỗi kịch bản

6 Nguồn tài liệu

Luận án sử dụng các nguồn tài liệu sơ cấp gồm có các văn bản chính sách

của các nước về quan điểm, phương hướng xây dựng và phát triển nguồn lực và ảnh hưởng như chiến lược an ninh quốc gia, sách trắng, các tuyên bố và phát biểu của các nhà lãnh đạo của các quốc gia qua các văn bản được công bố chính thức

Bên cạnh đó luận án còn sử dụng các dữ liệu sơ cấp do các nguồn thống kê

chính thức như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), để so sánh sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia; các nguồn như Viện nghiên cứu Hoà bình Stockholm (SIPRI), The World Factbook của Cơ quan Tình báo Trung Ương Mỹ (CIA) khi tìm hiểu về các chỉ số liên quan đến sức mạnh quân sự và khoa học

công nghệ

Các tài liệu thứ cấp quan trọng mà luận án sử dụng bao gồm các ấn phẩm,

công trình nghiên cứu, các bài tạp chí khoa học công bố quốc tế có giá trị cao về mặt học thuật và thông tin Bên cạnh đó còn có những tin tức cập nhật từ các hãng thông tấn có uy tín

Trang 32

7 Đóng góp của luận án

Về khoa học

Luận án tổng hợp của các quan niệm về chuyển dịch quyền lực từ các lý thuyết QHQT, các cách tiếp cận quyền lực khác nhauvà xác định khả năng áp dụng của các quan niệm đó.Bên cạnh đó, luận án đề xuất một khung phân tích chuyển dịch quyền lực cấu trúc bao gồm những tiền đề cho chuyển dịch quyền lực và các hình thức chuyển dịch quyền lực cấu trúc Qua đó, luận án đóng góp cho việc nghiên cứu lý luận về quyền lực cũng như chuyển dịch quyền lực trong quan hệ quốc tế

Luận án đã phân tích sự chuyển dịch quyền lực đang diễn ra trong các cấu trúc kinh tế, an ninh-chính trị của hệ thống quốc tế từ năm 2001 đến năm 2017 bao gồm những thay đổi lớn làm tiền đề và nhận biết hình thức chuyển dịch quyền lực cấu trúc hiện nay Đây cũng là đóng góp của luận án vào việc nghiên cứu hệ thống quốc tế đương đại

Bên cạnh đó, luận án áp dụng phương pháp xây dựng kịch bản trong xây dựng chiến lược để dự báo triển vọng chuyển dịch quyền lực trong quan hệ quốc tế cho đến năm 2035, từ đó, đóng góp vào việc nghiên cứu dự báo trong quan hệ quốc tế

Về thực tiễn

Luận án là công trình tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu về quyền lực nói chung, chuyển dịch quyền lực giữa các nước lớn nói riêng và áp dụng cách tiếp cận quyền lực cấu trúc trong nghiên cứu quan hệ quốc tế

Công trình này cũng có giá trị trong việc chỉ ra những ưu khuyết của các

lựa chọn chính sách cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

8 Bố cục và nội dung luận án

Để đạt được mục đích và thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, nội dung của luận án được kết cấu thành ba chương với những nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và lịch sử

Chương 1 tổng hợp các khái niệm, quan điểm lý thuyết và các cách tiếp cận phổ biến đối với quyền lực và chuyển dịch quyền lực, từ đó, lựa chọn một khái

Trang 33

niệm và cách tiếp cận phù hợp với phạm vi nghiên cứu và sử dụng xuyên suốt luận

án Dựa trên cách tiếp cận quyền lực cấu trúc được lựa chọn, luận án đề xuất và phát triển một khung phân tích bao gồm các tiền đề dẫn tới quá trình chuyển dịch quyền lực và các hình thức chuyển dịch quyền lực Để củng cố tính thực tiễn của khung phân tích được đề xuất, luận án khảo cứuba trường hợp lịch sử điển hình như sự chuyển dịch quyền lực giữa Anh và Mỹ trong hệ thống kinh tế quốc tế từ cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, sự chuyển dịch quyền lực giữa Mỹ và Liên Xô trong hệ thống Yalta và sự chuyển dịch quyền lực giữa Liên Xô và Trung Quốc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trong Chiến tranh Lạnh

Chương 2: Tiền đề và quá trình chuyển dịch quyền lực trong quan hệ quốc tế

từ năm 2001 đến 2017

Dựa vào khung phân tích nêu ra ở chương 1, luận án phân tích các tiền đề của chuyển dịch quyền lực trong bối cảnh quan hệ quốc tế từ năm 2001 đến 2017 bao gồm những biến đổi bên trong quyền lực, những thay đổi trong tương quan lực lượng, một số điều chỉnh lớn trong chính sách của các cường quốc và những thay đổi lớn của môi trường quốc tế Khi những tiền đề trên đều tồn tại, quá trình chuyển dịch quyền lực tất yếu diễn ra trong các cấu trúc kinh tế và an ninh-chính trị Luận án sẽ chỉ ra quá trình chuyển dịch đang diễn ra dưới hình thức nào, rõ rệt nhất ở cấu trúc nào và giữa những chủ thể nào

Chương 3: Triển vọng chuyển dịch quyền lực đến 2035 và đối sách của Việt Nam

Dựa trên xu hướng vận động và biến đổi của các tiền đề cho chuyển dịch quyền lực, luận án sẽ đưa ra các kịch bản chuyển dịch quyền lực có thể xảy ra trong hệ thống quốc tế và đánh giá khả năng hiện thực hoá các kịch bản đó đến năm 2035 Từ đó, luận án cũng đưa ra các lựa chọn đối sách cho Việt Nam, phân tích các ưu khuyết của mỗi lựa chọn từ đó đề xuất hướng chiến lược phù hợp cho Việt Nam

Trang 34

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm quyền lực

Khái niệm quyền lực là một khái niệm cơ bản nhưng đầy thách thức đối với các học giả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học chính trị nói chung và chính trị quốc tế nói riêng Cùng với sự phát triển của các lý thuyết quan hệ quốc tế, khải niệm quyền lực cũng không ngừng được phát triển với những nội hàm và ngoại diên đa dạng [12]

Trong số các khái niệm được đưa ra, có nhiều khái niệmchịu ảnh hưởng bởi

tư tưởng của chủ nghĩa Hiện thực cho rằng quyền lực là khả năng áp đặt ý chí của chủ thể này lên chủ thể khác Theo quan điểm này, quan hệ quốc tế thường chủ yếu xoay quanh các quốc gia, đặc biệt các nước lớn; chính vì vậy, các công trình nghiên cứu áp dụng nhóm khái niệm này thường đề cập tới quyền lực của các cường quốc Tiêu biểu trong số đó là, khái niệm của Robert Dahl được sử dụng nhiều nhất như một điển hình, “quyền lực là việc A khiến B phải làm cái gì đó mà

lẽ ra B không làm” [29, tr.4].Harold Lasswwell và Abraham Kaplan cũngđịnh nghĩa “quyền lực là sự sản sinh các tác động có chủ ý lên người khác” [29, tr.5] Khái niệm quyền lực được đưa ra bởi Hans Morgenthau là “việc người này kiểm soát suy nghĩ và hành động của người khác” [98, tr.26] Hay như khái niệm của Organski cho rằng “quyền lực là khả năng của cá nhân, tập đoàn hay một quốc gia nàygây ảnh hưởng đối với hành vi của các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia khác phù hợp với mục đích của mình” [106, tr 104] Như vậy, quyền lực được định nghĩa là khả năng ảnh hưởng cho dù mỗi khái niệm lại hàm ý đến những mức độ ảnh hưởng khác nhau như “tác động”, “gây ảnh hưởng”, và mức độ cao nhất là

“kiểm soát”

Trang 35

Quan hệ quốc tế phát triển và ngày càng phức tạp hơn, khi đó, các quốc gia vừa và nhỏ ngày càng nâng cao vai trò và các nước lớn cũng không dễ áp đặt ý chí lên các quốc gia đó Lúc này khái niệm quyền lực cũng được mở rộng hơn, không chỉ bao gồm khả năng ảnh hưởng mang tính áp đặt tới hành vi của các quốc gia khác mà còn bao gồm cả khả năng kiềm chế những hành vi có thể có ảnh hưởng đến mình và khả năng thực hiện mục tiêu và lợi ích của mình trong quan

hệ quốc tế.[12, tr.42] Đây có thể được coi là sự mở rộng hơn phạm vi nội dung so với các khái niệm trên khi nó tính đến những chiều cạnh phức tạp hơn của quyền lực

Tiêu biểu là khái niệm của William Nester “quyền lực là năng lực của cá nhân hay nhóm khiến người khác phải làm cái họ không muốn hoặc kiềm chế không làm điều mà họ định làm” [101, tr 81] Rõ ràng, khái niệm này có tính thêm hai chiều cạnh:(i) quyền lực của các nước lớn trong bối cảnh xu thế dân chủ hoá trong đời sống quốc tế đang phát triển như hiện nay Các nước lớn không còn có thể đơn phương áp đặt hoàn toàn ý chí lên các quốc gia khác mà thay vào đó, tác động lên các cấu trúc thông qua các luật chơi để định hướng hành vi và kiềm chế các quốc gia đóbằng những giá trị chung và luật pháp quốc tế; (ii) quyền lực của các nước vừa và nhỏ khi đứng trước những nguy cơ an ninh từ các nước lớn Có thể các quốc gia này không đủ quyền lực để thay đổi ý định của các nước lớn nhưng có đủ năng lực để thực thi các biện pháp nhằm kiềm chế các nước lớn khi xuất hiện mâu thuẫn giữa hai bên

Trong phạm vi nội dung của luận án, khi xem xét quyền lực của các nước lớn hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự phát triển của các giá trị chung và luật pháp quốc tế đã hạn chế được chủ nghĩa đơn phương từ các nước lớn Bản thân các nước lớn cũng không thể áp đặt lẫn nhau mà chỉ có thể kiềm chế lẫn nhau để cuối cùng, đạt được những lợi ích quốc gia của mình Chính vì lẽ đó, luận án đi

đến một khái niệm quyền lực là khả năng chủ thể này gây ảnh hưởng và điều chỉnh hành vi của chủ thể khác để thực hiện được mục tiêu và lợi ích quốc gia trong quan hệ với nhau

Trang 36

1.1.1.2 Khái niệm chuyển dịch quyền lực

Để mô tả sự vận động của quyền lực, các học giả trong và ngoài nước đã đưa ra rất nhiều thuật ngữ khác nhau Trong các công trình nghiên cứu của các học giả quốc tế, mỗi thuật ngữ thậm chí cũng không được sử dụngthống nhất Cũng chính vì vậy, khi dịch sang Tiếng Việt cũng có nhiều phiên bản khác nhau

Sự đa dạng trong các thuật ngữ cũng phản ánh được tính phức tạp và chưa được

hệ thống của vấn đề nghiên cứu Có ba thuật ngữ thông dụng cần phải làm rõ:

Một là, “power shift” được Alvin Toffler định nghĩa là “một sự thay đổi sâu sắc trong bản chất của quyền lực” [135, tr 17] Cụ thể hơn, Toffler đã diễn giải mộtsự biến đổi bên trong quyền lực đã xuất hiện cùng với cách mạng khoa học kỹ thuật Cuộc cách mạng này đã làm thay đổi căn bản quyền lực, trong đó vai trò của quân sự và kinh tế được chia sẻ cho vai trò của tri thức, đặc biệt là khoa học

kỹ thuật và công nghệ Những người hay quốc gia sở hữu sức mạnh khoa học, công nghệ sẽ có nhiều quyền lực hơn Với cách định nghĩa như vậy “power shift” của Alvin Toffler có thể tạm dịch là biến đổi quyền lực với hàm ý về sự biến đổi bên trong Tuy nhiên cũng với thuật ngữ này, Kishore Mahbubani lại sử dụng để

mô tả sự vận động bên ngoài của quyền lực – một sự chuyển dịch quyền lực từ phương Tây sang phương Đông bởi những thay đổi trong phân bố các nguồn lực

có xu hướng tập trung sang các quốc gia châu Á [91] Hay như Joseph S Nye lại phân tách “power shift” thành hai quá trình là “power transition” và “power diffusion” [104]– sẽ được đề cập ngay dưới đây

Thuật ngữ “power transition” lần đầu tiên được A Organski sử dụng trong

lý thuyết của mình, được hiểu là một sự thay đổi trong tương quan lực lượng dựa trên khả năng công nghiệp hoá Khi một quốc gia mới nổi có khả năng công nghiệp nhanh mạnh sẽ trỗi dậy và dần thay thế vị trí của cường quốc đang dẫn đầu [106] Cũng với thuật ngữ này, Josseph S Nye định nghĩa là một sự chuyển dịch quyền lực giữa các quốc gia mà chủ yếu là giữa các trung tâm quyền lực [104] Riêng với thuật ngữ này, ở Việt Nam, có rất nhiều phiên bản dịch khác nhau như “chuyển

Trang 37

đổi quyền lực” [6] hay “chuyển giao quyền lực”.Và thậm chí với ý nghĩa là sự chuyển dịch quyền lực từ quốc gia này sang quốc gia khác có tác giả sử dụng thuật ngữ “biến đổi quyền lực” [3]

Để phân biệt với sự chuyển dịch quyền lực giữa các chủ thể quốc gia, Nye đưa ra khái niệm “power diffusion” được dịch sang tiếng Việt là phân tán quyền lực Đây là một quá trình chuyển dịch quyền lực từ chủ thể quốc gia sang các chủ thể phi quốc gia bởi sự phát triển nhanh mạnh của các chủ thể phi quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa và phát triển công nghệ thông tin [104]

Với sự đa dạng về thuật ngữ cũng như cách diễn giải như vậy, có thể thấy rằng ngoại trừ khái niệm có nội hàm khác biệt là “power shift” của Alvin Toffle (tạm dịch là biến đổi quyền lực) với sự tập trung vào năng lực bên trong quốc gia, bản chất của các thuật ngữ còn lại nhìn chung đều mô tả sự chuyển dịch quyền lực

từ chủ thể này sang chủ thể khác, tức là trong quan hệ giữa các chủ thể quan hệ quốc tế Với cách hiểu đa số như vậy, luận án sử dụng thuật ngữ chuyển dịch quyền lực để mô tả sự vận động của quyền lực trong quan hệ giữa các nước lớn vốn là những trung tâm quyền lực quan trọng đối với toàn thế giới Sự chuyển dịch quyền lực giữa các nước lớn không chỉ luôn là tâm điểm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước mà còn có ảnh hưởng lớn đối với đời sống quan hệ quốc

tế trong thực tiễn

1.1.1.3 Các khái niệm liên quan

* Nước lớn và thứ bậc trong quan hệ quốc tế

Chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thể đóng một vai trò có thể nhận

thấy được trong quan hệ quốc tế Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, cách phân loại phổ biến nhất được xây dựng dựa trên tiêu chí lấy quốc gia căn cứ trung tâm Theo cách phân loại này, có thể chia chủ thể QHQT thành hai dạng: Chủ thể quốc gia và phi quốc gia [13, tr 43]

Về chủ thể quốc gia, Quốc gia được hình thành bởi ba yếu tố quan trọng

nhất: lãnh thổ, dân cư và nhà nước có chủ quyền được thừa nhận rộng rãi trong

Trang 38

cộng đồng quốc tế Các quốc gia có chủ quyền là những chủ thể chính trị cao nhất

và cũng được công nhận bởi cộng đồng quốc tế và luật pháp quốc tế Quốc gia là nền tảng, là chủ thể chính, quan trọng nhất và đầy đủ nhất trong quan hệ quốc tế

Về chủ thể phi quốc gia, chủ thể này bao gồm: các tổ chức quốc tế, các tổ

chức phi chính phủ (NGOs), công ty xuyên quốc gia (TNCs), các phong trào chính trị xã hội và các cá nhân, Với sự phát triển nhanh mạnh của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cùng với xu thế toàn cầu hóa đang tác động mạnh

mẽ đến nền chính trị của tất cả các quốc gia và thế giới, các chủ thể phi quốc gia xuất hiện ngày càng đa dạng và với vai trò gia tăng tạo nên sự phức tạp của đời sống chính trị quốc tế Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu cho thấy chủ thể phi quốc gia đang ngày càng có vai trò lớn trong quan hệ quốc tế thậm chí các chủ thể này cũng sở hữu những quyền lực nhất định Tuy nhiên, do sức mạnh còn hạn chế của chúng, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chủ thể quốc gia vẫn là chủ thể chính yếu và chủ thể phi quốc gia đóng vai trò như là các địa hạt để các quốc gia cạnh tranh ảnh hưởng

Tất cả các quốc gia đều nhận thức được sự tồn tại của thứ bậc và tương quan lực lượng giữa các quốc gia với nhau Sự phân bổ các nguồn lực thường không đồng đều và sẽ có thể tập trung nhiều vào một số quốc gia Như vậy, sự phân bổ các nguồn lực sẽ tạo ra ý niệm về thứ bậc trong hệ thống quốc tế [125, tr 6]

Siêu cường đứng đầu sở hữu nguồn lực lớn nhất Tuy nhiên, siêu cường không có nghĩa là bá quyền hay quốc gia thống trị bởi sự phân chia thứ bậc này chỉ dựa trên nguồn lực khi so sánh với các quốc gia khác Siêu cường có những lợi thế lớn nhất và toàn diện nhất về các nguồn lực và có khoảng cách tương đối lớn so với các cường quốc khác

Cường quốc là các quốc gia có nguồn lực mạnh để thách thức vị thế siêu cường tuy nhiên vẫn có khoảng cách nhất định với siêu cường hoặc không toàn diện Vai trò của các cường quốc trong nhiều vấn đề còn phụ thuộc vào khu vực hay hoàn cảnh Ví dụ như hiện nay Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ được cho là một cường quốc về kinh tế trong khi Nga lại là cường quốc quân sự Vai trò của

Trang 39

Trung Quốc trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương là rất lớn nhưng tại châu

Âu và châu Mỹ thì bị hạn chế khác với vai trò đồng đều của siêu cường Mỹ trên bình diện toàn cầu

Các quốc gia tầm trung là những quốc gia sở hữu một nguồn lực đủ để không thể bỏ qua nhưng vẫn không đủ để thách thức vị thế của siêu cường Và dưới quốc gia tầm trung là quốc gia vừa và nhỏ với khoảng cách nguồn lực lớn so với các nhóm quốc gia trên và cũng không có đe dọa gì đối với vai trò lãnh đạo của các siêu cường và cường quốc [125, tr 7]

Khái niệm nước lớn mà luận án sử dụng là một khái niệm chung bao hàm

cả siêu cường và cường quốc trong cách phân loại trên Các nước lớn với sức mạnh lớn và những mưu cầu quyền lực luôn có những ảnh hưởng lớn đối với đời sống quốc tế Chính vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch quyền lực trong phạm vi giữa các nước lớn

* Hệ thống quốc tế - Cấu trúc quốc tế - Kiến trúc quốc tế

Việc xem xét các khái niệm này là nhằm cung cấp thêm cơ sở lý luận để tìm hiểu chuyển dịch quyền lực Các quốc gia tương tác với nhau trong hệ thống quốc tế nên chắc chắn sẽ chịu nhiều tác động từ hệ thống Cấu trúc là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống nên cũng có tác động nhiếu đến chuyển dịch quyền lực Ngược lại, do cấu trúc được hình thành từ sự phân bố quyền lực nên chuyển dịch quyền lực sẽ làm thay đổi phân bố quyền lực và từ đó làm thay đổi cấu trúc

và cả hệ thống Bởi sự liên quan này nên các khái niệm hệ thống, cấu trúc và kiến

trúc quốc tế cũng được đề cập nhiều trong luận án

Hệ thống quốc tế là một khái niệm ngày càng được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện nay Bởi lẽ quan hệ quốc tế ngày càng phát triển, tương tác giữa các chủ thể ngày càng nhiều nên tất yếu dẫn đến sự hình thành và

phát triển của hệ thống quốc tế Đối với một hệ thống nói chung, hệ thống quốc tế nói riêng, cấu trúc là nhân tố cốt lõi định hình nên hệ thống và dựa trên cơ sở đó, kiến trúc của hệ thống cũng được phát triển bởi các hình thức tập hợp lực lượng

cả về song phương và đa phương đang ngày một tăng lên Ba khái niệm này cần

Trang 40

được xác định và phân biệt rõ

Xuất phát từ khái niệm hệ thống là “một tập hợp các đơn vị, đối tượng, hoặc

bộ phận được liên kết theo một số dạng tương tác nhất định” [96] Những năm

1950, cuộc cách mạng của chủ nghĩa hành vi trong khoa học xã hội cùng với sự

ra đời của chủ nghĩa hiện thực Mới trong quan hệ quốc tế cuối thập niên 1970 đã khiến cho các học giả ngày càng nhìn nhận chính trị quốc tế như một hệ thống, và

áp dụng lý thuyết hệ thống để nghiên cứu Mặc dù có những quan điểm khác nhau

về hệ thống quốc tế - các nhà hiện thực chủ nghĩa nhìn nhận hệ thống quốc tế là

vô chính phủ hay những người theo chủ nghĩa tự do như Robert Keohane và Joseph Nye mô tả hệ thống quốc tế như là sự phụ thuộc lẫn nhau [96]- thì vẫn có những điểm thống nhất trong cách định nghĩa Theo đó, hệ thống quốc tế là một chỉnh thể gồm các chủ thể quan hệ quốc tế và những mối quan hệ tương tác giữa chúng được cấu trúc theo những luật lệ và mẫu hình nhất định [13, tr.138]

Nhân tố cốt lõi của hệ thống quốc tế chính là cấu trúc của nó Theo cách

hiểu chung nhất mà từ điển Oxford đã định nghĩa, cấu trúc được định nghĩa là sự dàn xếp và mối liên hệ giữa các bộ phận hoặc thành tố của một tổ hợp nào đó Theo quan niệm của chủ nghĩa Tân hiện thực hay còn gọi là chủ nghĩa Hiện thực cấu trúc, bản chất của cấu trúc quốc tế là những nguyên tắc trật tự được hình thành dựa trên sự phân bổ nguồn lực (chủ yếu bởi các nước lớn) [94, tr 3] Trong khi

đó, những người theo chủ nghĩa Tự do lại không thừa nhận sự tồn tại của cấu trúc

mà chỉ coi đó là một quá trình khi các tương tác diễn ra, các chủ thể học hỏi từ những tương tác đó và hình thành nên một mẫu hình quan hệ chung.[96] Có thể nhận thấy rằng, một điểm chung của các quan điểm đó là thừa nhận sự tồn tại của một mẫu hình quan hệ chung (nguyên tắc trật tự hay luật chơi) dù chúng được hình thành bởi ý chí của các nước lớn hay tự định hình trong một quá trình tương tác lâu dài Thực tiễn đã cho thấy rằng, có những nguyên tắc ứng xử trong quan hệ quốc tế được đề ra dưạ trên ý chí của các nước lớn Đó là khi các nước lớn thoả thuận phân chia vùng ảnh hưởng sau những cuộc chiến hay khi bản Hiến chương Liên Hợp

Ngày đăng: 09/04/2020, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w