Với mục tiêu sớm trở thành một cường quốc khu vực và thế giới trong một thế giới đa cực, đa trung tâm, Trung Quốc đẩy mạnh hợp tác và gia tăng ảnh hưởng tới các nước với chính sách đối n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết luận án ―Chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ năm 1993 đến nay‖ là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả đƣợc trình bày trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận án
Đỗ Mạnh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy
cô giáo, các nhà nghiên cứu trong và ngoài Học viện Ngoại giao, Khoa Sau Đại học, gia đình, bạn bè… đã nhiệt tình giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến hai thầy cô giáo hướng dẫn
là GS.TS Đỗ Thanh Bình và GS.TS Nguyễn Thái Yên Hương đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Trong quá trình làm luận án, tôi cũng nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, tư vấn của GS.TS Đỗ Tiến Sâm, GS.TS Trần Thị Vinh, Bác Hồ Sỹ Tuệ, TS Nguyễn Thành Văn, PGS.TS Dương Văn Huy, PGS.TS Võ Kim Cương … tất
cả các thầy cô, các bác đã nhiệt tình góp ý, chia sẻ những kinh nghiệm và giúp tôi trưởng thành nhanh chóng trong công việc nghiên cứu này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tập thể Khoa Sau Đại học, Học viện Ngoại giao, với vai trò thủ lĩnh của cô Đỗ Thị Thanh Bình đã giúp tôi hoàn thành tốt nội dung nghiên cứu, cũng như đảm bảo tiến độ trong quá trình 3 năm học tập, nghiên cứu tại Học viện Ngoại giao Tôi cũng xin trân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp - những người đã hỗ trợ, động viên, giúp tôi hoàn thành Luận án này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân, cảm ơn chân thành nhất tới bố mẹ, các anh chị em trong gia đình, vợ, con luôn an ủi, động viên và sát cánh bên tôi trong quá trình thực hiện luận án nghiên cứu đầy khó khăn này
Luận án xin khép lại với những dư âm còn dang dở phải nghiên cứu tiếp Bởi thực tế, nghiên cứu chính sách là một bài toán khó và cần có quá trình theo dõi, nghiền ngẫm, đúc rút thực tiễn thành quy luật thì mới hiểu được bản chất của chính sách; cũng như lượng tri thức rộng lớn, kéo dài nhiều năm và cần có thời gian thẩm định, do vậy, chắc chắn Luận án còn nhiều thiếu sót, tôi xin nhận được sự cảm thông, chia sẻ, đóng góp của các thầy cô, các nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân quan tâm tới Luận án này
Tác giả luận án
Đỗ Mạnh Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2017 21
1.1 Cơ sở lý luận định hình chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia 21
1.1.1 Tư tưởng, quan điểm đối ngoại truyền thống của Trung Quốc 21
1.1.2 Quan điểm ngoại giao nước lớn của Trung Quốc 25
1.1.3 Quan điểm đối ngoại của Trung Quốc đối với các nước láng giềng 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1 Tình hình thế giới và khu vực 31
1.2.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực từ 1993 đến nay 31
1.2.1.2 Nhân tố Mỹ ở khu vực và Campuchia 33
1.2.2 Tình hình Trung Quốc 36
1.2.2.1 Chính sách đối ngoại 36
1.2.2.2 Nhu cầu mở rộng ra bên ngoài của Trung Quốc 38
1.2.2.3 Quan hệ Trung Quốc - ASEAN 39
1.2.2.4 Chiến lược Tiểu vùng sông Mekong của Trung Quốc (GMS) 44
1.2.3 Tình hình Campuchia 46
1.2.3.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Campuchia 46
1.2.3.2 Vị trí chiến lược của Campuchia 48
1.2.4 Chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia trước năm 1993 52
Tiểu kết chương 1 57
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2017 59
2.1 Nội dung chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia 59
2.1.1 Mục tiêu chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia 59
Trang 62.1.2 Nội dung chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia qua các giai
đoạn 61
2.2 Quá trình triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ 1993 đến 2017 trên các lĩnh vực 65
2.2.1 Đẩy mạnh quan hệ chính trị - ngoại giao 65
2.2.2 Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng - an ninh 77
2.2.3 Tăng cường hợp tác kinh tế 82
2.2.3.1 Thúc đẩy thương mại 82
2.2.3.2 Tăng cường đầu tư 83
2.2.3.3 Gia tăng viện trợ 88
2.2.4 Đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực Văn hóa - Xã hội, Khoa học - Công nghệ 94
Tiểu kết chương 2 102
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CAMPUCHIA, DỰ BÁO VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM 104
3.1 Về thành quả trong chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ sau năm 1993 104
3.1.1 Sử dụng vị trí địa - chính trị của Campuchia 104
3.1.2 Trung Quốc nhận được sự ủng hộ của Campuchia trong các vấn đề khu vực và trong nước 106
3.1.2.1 Tác động Campuchia chia rẽ ASEAN, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông 106
3.1.2.2 Trong vấn đề Đài Loan: 109
3.1.2.3 Trong vấn đề Tây Tạng 112
3.1.2.4 Trong vấn đề Tân Cương: 114
3.1.3 Tạo dựng nền kinh tế Campuchia phát triển phụ thuộc vào Trung Quốc 115
Trang 73.1.4 Trung Quốc đã vượt qua được ―dị ứng Khmer Đỏ‖ 117
3.2 Về những hạn chế, tồn tại trong chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ sau năm 1993 121
3.2.1 Trở ngại về tâm lý 121
3.2.2 Trở ngại chính trị 122
3.2.3 Phản ứng về chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia 125
3.2.4 Những lo ngại đối với BRI 129
3.3 Về tác động 130
3.3.1 Đối với địa - chính trị quốc tế 130
3.3.2 Đối với khu vực Đông Nam Á 132
3.3.3 Đối với Campuchia 135
3.3.4 Đối với Việt Nam 136
3.4 Dự báo chính sách của Trung Quốc ở Campuchia 138
3.4.1 Tiếp tục thúc đẩy quan hệ ―Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện‖ 138
3.4.2 Đẩy mạnh quan hệ kinh tế-đầu tư-thương mại, lấy kết nối BRI với chiến lược quốc gia Campuchia làm trọng tâm 139
3.4.3 Gia tăng phối hợp, lái hướng vấn đề Biển Đông theo lập trường của Trung Quốc 142
3.4.4 Một số khuyến nghị chính sách của Việt Nam 143
3.4.4.1 Với Trung Quốc 143
3.4.4.2 Với Campuchia 144
Tiểu kết chương 3 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 1 : Tuyên bố chung Trung Quốc - Campuchia, ngày 13/11/2000 167
PHỤC LỤC 2: Tuyên bố chung Trung Quốc - Campuchia ngày 08 tháng 4 năm 2006 170
Trang 8PHỤ LỤC 3: Tuyên bố chung Trung Quốc - Campuchia ngày 2 tháng 4 năm 2012 177 PHỤ LỤC 4: Thông báo báo chí chung giữa Trung Quốc - Campuchia, ngày 09/4/2013 184 PHỤ LỤC 5: Điện mừng của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường gửi Thủ tướng Campuchia Hun Sen nhân kỷ niếm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước 187 PHỤ LỤC 6: Điện mừng của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gửi Hoàng thân Norodom Sihamoni nhân kỷ niếm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước 188 PHỤ LỤC 7: Điện mừng của Thủ tướng Hun Sen gửi ông Lý Khắc Cường trở thành Thủ tướng Trung Quốc 189 PHỤ LỤC 8: Điện mừng Thủ tướng Campuchia Hun Sen gửi ông Tập Cận Bình trở thành Chủ tịch nước CHND TQ 190 PHỤ LỤC 9: Tuyên bố chung giữa Trung Quốc và Campuchia ngày 14 tháng 10 năm 2016 191 PHỤ LỤC 10: Tuyên bố chung Trung Quốc - Campuchia ngày 17/5/2017 196 PHỤ LỤC 11: Tuyên bố chung giữa Trung Quốc và Campuchia ngày 11 tháng 1 năm 2018 200
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
TỪ VIẾT
TẮT TÊN TIẾNG VIỆT TÊN TIẾNG ANH
ADB Ngân hang phát triển Châu Á Asia Development Bank
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN ASEAN Economic Community
AMM Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao
AFTA Hiệp định thương mại tự do
AIDZ Vùng nhận dạng phòng không Air Defense Indentification Zone
AIIB Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng
ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu Asia -Europe Meeting
ASCC Cộng đồng Văn hóa – Xã hội
ASEAN
ASEAN Socio-Cultural Community
ARF Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN Regional Forum
BRI Sáng kiến ―Vành đai và con
đường‖ của Trung Quốc The Belt and Road Initiative
Trang 10BRICS
Nhóm các nền kinh tế mới nổi (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi
Group of Brazil, Russia, India, China and South Africa
CA-TBD Châu Á – Thái Bình Dương Asian - Pacific
COC Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển
FTA Hiệp định thương mại tự do Free Trade Agreement
FTAAP Khu vực mậu dịch tự do Châu
Á – Thái Bình Dương
Free Trade Area of the Asia – Pacific
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế International Monetary Fund
RCEP Hiệp định đối tác toàn diện khu
vực
Regional Comprehensive Economic Partnership
TPP Hiệp định Đối tác Kinh tế
Xuyên Thái Bình Dương Trans-Pacific Partnership
TTIP
Hiệp định đối tác Thương mại
và Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương
Trans-Atlantic Trade and Investment Partnership
UNCLOS Công ước Liên Hợp Quốc về
Luật Biển năm 1982
United Nations Convention on Law of the Sea
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hiện nay, cục diện thế giới đa cực đang hình thành, quá trình quốc tế
hóa và hội nhập trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các lĩnh vực Trong bối cảnh đó, tất cả các quốc gia lớn và nhỏ, phát triển và đang phát triển đều gia tăng mở rộng quan hệ, tích cực hội nhập quốc tế, khu vực nhằm tranh thủ nguồn lực, sức mạnh từ bên ngoài, phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển và bảo
vệ đất nước Với mục tiêu sớm trở thành một cường quốc khu vực và thế giới trong một thế giới đa cực, đa trung tâm, Trung Quốc đẩy mạnh hợp tác và gia
tăng ảnh hưởng tới các nước với chính sách đối ngoại: ―Ngoại giao nước lớn là
then chốt; ngoại giao láng giềng là quan trọng hàng đầu; ngoại giao với các nước đang phát triển là cơ sở‖ [30; tr5-10] nhằm duy trì vai trò và ảnh hưởng
đến thế giới và khu vực
Khu vực Đông Nam Á được xem là khu vực có sự gia tăng ảnh hưởng và cạnh tranh chiến lược mạnh mẽ của nhiều nước lớn trên thế giới; trong đó, Trung Quốc được xem là một nước lớn có lợi thế bởi vị địa lý, văn hóa, cũng như nhu cầu mở rộng hợp tác trong chính sách hướng Nam mà nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc theo đuổi Với các nước Đông Nam Á, Campuchia là quốc gia ―đặc biệt‖ trong chính sách của Trung Quốc ở khu vực Chính vì vậy, từ năm 1993 đến nay, quan hệ Trung Quốc - Campuchia không ngừng phát triển trên tất cả các lĩnh vực Trung Quốc trở thành ―người bạn lớn số 1‖ của Campuchia, đáp lại, Campuchia trở thành ―người bạn đáng tin cậy‖ của Trung Quốc Trên cơ sở
đó, hai nước phấn đấu đưa quan hệ trở thành ―láng giềng tốt, bạn bè tốt, anh em tốt, đối tác tốt‖ Tuy nhiên, nhìn lịch sử quan hệ Trung Quốc - Campuchia được phát triển bởi chính sách thực dụng giữa một bên cho, bên nhận và sự ủng hộ lẫn nhau được thế giới bình luận là thiếu khách quan, ảnh hưởng đến môi an ninh khu vực Bên cạnh đó, lịch sử quan hệ và chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia cũng tác động ảnh hưởng không nhỏ nạn diệt chủng ở Campuchia
Trang 12dưới thời Khmer Đỏ và đến nay nhiều thế hệ lãnh đạo hai nước muốn quên đi sự kiện này Trong các giai đoạn lịch sử của quan hệ hai nước, Trung Quốc luôn có chính sách đối ngoại phù hợp, tương ứng để lôi kéo Campuchia tham gia, ủng hộ những sáng kiến, quan điểm chính trị của Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế, khu vực
1.2 Nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ năm
1993 đến nay sẽ giúp chúng ta hiểu sâu thêm về chính sách của một nước lớn với một nước nhỏ, trong một cuộc chơi quyền lực bất cân xứng, cả về quy mô dân
số, diện tích Do vị trí và tầm quan trọng của Campuchia, nên nước này luôn được Trung Quốc sử dụng để phục vụ cho mục tiêu chiến lược của mình Tùy từng thời điểm và tùy theo cách ứng xử của các nhà lãnh đạo mà quan hệ hai nước lúc ấm, lúc lạnh Tuy nhiên, mỗi bên đều biết vận dụng thế mạnh, lợi thế của mình để mang về lợi ích cao nhất cho quốc gia, dân tộc Chính sách của Trung Quốc đối với các quốc gia Đông Nam Á nói chung và với Campuchia nói riêng đều có mặt tích cực và mặt tiêu cực Mặt tích cực là tạo ra môi trường thuận lợi để hai bên hợp tác phát triển, đảm bảo lợi ích và cùng có lợi Mặt tiêu cực là tác động ảnh hưởng đến nước khác từ những mặt tích cực đó Việc tìm ra quy luật vận động trong mối quan hệ đó sẽ góp phần lý giải bản chất quan hệ, đặc biệt là quan hệ lệ thuộc sẽ tác động như thế nào đến quan hệ quốc tế hiện nay và chứng minh những hệ lụy nếu một quốc gia, một chủ thể không có quan điểm độc lập thì uy tín chính trị sẽ giảm trong quan hệ quốc tế Từ nghiên cứu tác động của chính sách trong quan hệ Trung Quốc - Campuchia sẽ xây dựng được cơ sở lý luận, cơ sở khoa học quan trọng tham mưu cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đưa ra những chính sách ngoại giao phù hợp với diễn biến tình hình rất phức tạp hiện nay trong mối quan hệ tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam
1.3 Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có chung đường biên
giới trên biển và trên đất liền Từ lâu trong lịch sử, nhân dân hai nước đã có quan
Trang 13hệ gắn bó với nhau Lịch sử cận, hiện đại cho thấy rằng bất cứ sự biến động về chính trị, kinh tế, xã hội nào ở nước này đều có tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến nước kia Từ năm 1993 đến nay, quan hệ Việt Nam – Campuchia bước sang giai đoạn phát triển mới theo phương châm ―Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bên vững lâu dài‖ Với phương châm này, quan
hệ hai nước đã đạt được nhiều thành tự quan trọng, mang lại lợi ích cho nhân dân hai nước Vì những lý do trên, việc nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ 1993 đến nay là cần thiết, mang tính thời sự, cấp thiết, có tác động đến khu vực và Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Trên cơ sở đó, luận án xác định chủ đề nghiên cứu là ―Chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ năm 1993 đến nay‖ sẽ giúp chúng ta có
cách nhìn nhận đầy đủ, toàn diện về chính sách của một nước lớn với một nước nhỏ trong khoảng thời gian 25 năm - khoảng thời gian đánh dấu những thăng trầm được lịch sử ghi chép và phản ánh đúng sai của sự kiện, từ đó rút ra những
cơ sở khoa học, cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp tham chiếu chính sách của Việt Nam với Trung Quốc và với các nước láng giềng xung quanh
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Trung Quốc và chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á
* Những nghiên cứu của các học giả trong nước: Lê Văn Mỹ, Ngoại
giao cộng hòa nhân dân Trung Hoa hai mươi năm đầu Thế kỷ XXI, NXB Từ
điển Bách Khoa năm 2011 và Bước đầu tìm hiểu về - ngoại giao láng giềng của
Trung Quốc từ sau Chiến tranh Lạnh, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 3 năm
2005 Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả có những luận giải khá toàn diện về chính sách ngoại giao của Trung Quốc trong 20 năm đầu thế kỷ XXI với những nét nổi bật, thành công ở nhiều phương diện trên thế giới và khu vực
Phạm Quốc Trụ với Quan hệ ASEAN - Trung Quốc thời kỳ hậu Chiến tranh
Lạnh, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 79 năm 2009 Tác giả đã đưa ra một bức
Trang 14tranh tổng thể về quan hệ ASEAN - Trung Quốc gần hai chục năm sau Chiến tranh Lạnh, nổi bật với những mảng sáng nhiều màu sắc, khá tương phản với quá khứ ảm đạm của hai thập kỷ trước Khi phân tích về những hạn chế trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, tác giả cho rằng tranh chấp biên giới và biển đảo giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN luôn căng thẳng, đặc biệt việc Trung Quốc chính thức công bố yêu sách ―đường lưỡi bò‖, làm sống lại ám ảnh của ―mối đe dọa Trung Quốc‖ đối với các nước ASEAN
Lê Thị Thu Hồng - Phạm Hồng Thái, Chính sách ngoại giao láng giềng
của Trung Quốc nhìn từ ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 7 năm
2010, trong đó tác giả cho rằng chính sách ngoại giao mới của Trung Quốc là chính sách rất thực tiễn, ở từng giai đoạn, cùng với tình hình phát triển của chính trị quốc tế và sự phát triển nội tại của Trung Quốc Chính sách đó là sự kế thừa chính sách ngoại giao toàn phương vị, phương châm ―ẩn mình chờ thời‖ của Đặng Tiểu Bình, lý luận đa cực hóa, đa phương hóa của Giang Trạch Dân và tiếp đó là chính sách ―trỗi dậy hòa bình‖ hay ―phát triển hòa bình‖ của Hồ Cẩm
Đào Hay, Nguyễn Thị Thu Phương với bài viết Trung Quốc gia tăng sức mạnh
mềm văn hóa ở khu vực Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 7
năm 2010 và Phạm Hồng Yến, Ngoại giao văn hóa trong chiến lược phát triển hòa
bình của Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 85 năm 2011 Trong 2 bài
viết trên các tác giả đều cho rằng chiến lược văn hóa, vốn được coi là ―tư tưởng, mục tiêu, phương thức và hướng chỉ đạo cơ bản của một quốc gia hoặc khu vực nhằm truyền bá và phát triển văn hóa dân tộc‖ đóng vai trò không thể thiếu đối với
sự tồn tại, phát triển lớn mạnh của Trung Quốc Các bài viết trên, được các tác giả
đề cập đến sự hợp tác, gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước ASEAN (phân cực và ám ảnh về mối đe dọa của Trung Quốc), nhưng chưa làm rõ các nhân tố tác động, cũng như các giải pháp, biện pháp để bước đầu hạn chế những tác động tiêu cực từ Trung Quốc trong quan hệ với các nước ASEAN
Trang 15Nguyễn Hùng Sơn - Đặng Cẩm Tú có bài Bàn về chiến lược cường quốc
biển của Trung Quốc sau Đại hội XVIII, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4 tháng
12 năm 2014 Tác giả nhận định rằng trong lịch sử thế giới, hầu hết các cường quốc khi trỗi dậy đều vươn ra biển, khiến việc xây dựng sức mạnh trên biển đã trở thành quy luật phát triển của các cường quốc Tác giả đã làm rõ mục đích để trở thành một cường quốc biển của Trung Quốc, nhưng chưa phân tích được yếu
tố tác động đến các nước chịu ảnh hưởng như thế nào khi Trung Quốc triển khai chiến lược biển; cũng như vai trò lôi kéo, gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với từng nước ASEAN
Về lĩnh vực kinh tế, Đoàn Thị Thanh Nhàn có bài viết Những thách thức
trong quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu
Đông Nam Á, số 11 năm 2014, tác giả đã trình bày những thành tựu đạt được trong quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, đặc biệt là sau khi Trung Quốc và ASEAN ký kết ―Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc - ASEAN‖ năm 2002 Tuy nhiên, loại hình của ACFTA (Khu Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc) hiện nay vẫn đang gây nhiều tranh cãi bởi lẽ nếu xây dựng Khu vực mậu dịch tự do kiểu mở cửa thì ưu đãi mà các nước thành viên được hưởng sẽ tương đối ít và tình trạng phân cực có thể sẽ diễn ra mạnh hơn Một
số nước lạc hậu trong ASEAN lo ngại rằng, tham gia khu vực mậu dịch tự do không những không nâng cao sức cạnh tranh của mình mà ngược lại còn bị lạc hậu hơn về kinh tế, sự phân hóa giữa hai cực càng nghiêm trọng
Ngoài ra, một loạt các nghiên cứu liên quan đến điều chỉnh chính sách của Trung Quốc ở Đông Nam Á trong thời gian gần đây, trong đó có thể kể đến các
công trình như: Lưu Việt Hà, Nhân tố ASEAN trong chính sách đối ngoại của
Trung Quốc đầu thế kỷ XXI, Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (96), 3/2014, trong công
trình này, tác giả cho rằng, Trung Quốc đã và đang điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng từng bước khẳng định vị trí nước lớn của mình Bên cạnh đó, vai trò của khu vực Đông Nam Á đối với Trung Quốc là rất quan trọng thể hiện
Trang 16qua các lợi ích về chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa Khu vực này là chỗ dựa hàng đầu để Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài và thực hiện mục tiêu trở thành một cường quốc thế giới Tuy nhiên, khi phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc chưa làm nổi bật được quy luật lợi ích trong quan hệ quốc tế; tức là ở đâu có lợi ích thì ở đó quan hệ đối ngoại của Trung Quốc được duy trì,
mở rộng, phát triển và kèm theo đó là lợi ích kinh tế đi theo Mặt khác, Nguyễn
Thu Mỹ, Chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á từ sau Đại hội 18,
Tạp chí Đối ngoại, số 7 (69) 2015 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cho rằng Trung Quốc đang ràng buộc ASEAN trên tất cả các lĩnh vực, và chính sách mới của Trung Quốc vừa là kế thừa chính sách trước đây đối với Đông Nam Á, vừa có một số điểm mới, cuối cùng là chính sách mới đối với Đông Nam Á không chỉ nhằm bảo vệ và mở rộng lợi ích và ảnh hưởng của nước này ở khu vực
mà còn nhằm thực hiện những tham vọng quốc tế lớn hơn của Trung Quốc trong quá trình vươn lên thành cường quốc toàn cầu
* Những nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: Tô Cách (Chủ biên)
với cuốn ―Cục diện quan hệ quốc tế xuyên thế kỷ và đối sách của Trung Quốc‖,
NXB Trường Đảng, Trung ương ĐCS Trung Quốc (2002) Dương Thành Tự
(chủ biên), với công trình nghiên cứu ―Xem xét môi trường an ninh xung quanh
Trung Quốc‖ (NXB Thanh Niên, Trung Quốc - 2003) Các công trình trên đã
phân tích, làm rõ đặc điểm, điều kiện thuận lợi và khó khăn của môi trường quốc
tế đến sự phát triển của Trung Quốc Trong đó nhấn mạnh, trong bối cảnh quốc
tế nhiểu biến động, khó lường, quan hệ quốc tế diễn biến nhanh chóng, các nước lớn tận dụng việc hợp tác, mở rộng quan hệ để duy trì và nâng cao ảnh hưởng của mình đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, buộc Trung Quốc phải điều chỉnh trong quan hệ quốc tế, khu vực phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay Các nước khu vực Đông Nam Á được Trung Quốc quan tâm là hướng phát triển phía Nam của Trung Quốc trong thời gian tới, trong đó có Campuchia Lục
Cương và Quách Học Đường (Chủ biên) cho ra mắt độc giả cuốn “Trung Quốc
Trang 17đe dọa ai? Lý giải thuyết mối đe dọa Trung Quốc”, NXB Học Lâm (2004), đã
tuyên truyền về chủ trương, chính sách đối ngoại Trung Quốc là xây dựng hòa bình, ổn định khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung, đối với Đông Nam
Á nói riêng Trung Quốc phát triển hòa bình, không đe dọa bất kỳ nước nào Tạ
Ích Hiển (Chủ biên) công trình nghiên cứu về “Lịch sử ngoại giao đương đại
Trung Quốc 1949 - 2001”, NXB Thanh niên (2002) và Phó Diệu Tổ, Chu Khởi
Bằng (Chủ biên) đã xuất bản cuốn “Tiêu điểm ngoại giao Trung Quốc”, NXB
Đảng Sử, Đảng Cộng sản Trung Quốc (2000) Các công trình trên đã cung cấp thông tin đầy đủ về lịch sử quan hệ ngoại giao Trung Quốc với các nước trên thế giới từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, đồng thời đã khái quát các điểm mốc quan trọng trong hoạt động ngoại giao nổi bật của Trung Quốc với các nước trên thế giới, khu vực Đông Nam Á… Tuy nhiên, các công trình trên nghiêng về tuyên truyền, định hướng thông tin và quảng bá hình ảnh của Trung Quốc trong môi trường quốc tế hiện đại, cũng như chứng minh cho thế giới biết Trung Quốc phát triển không đe dọa ai cả; mà không đề cập đến những tồn tại, hạn chế khi Trung Quốc sử dụng quan hệ nước lớn để gây sức ép đối với các nước nhỏ trong cuộc chơi quyền lực không cân xứng ở khu vực
Lưu Minh Phúc với Giấc mơ Trung Quốc - Tư duy nước lớn và định vị
chiến lược trong thời đại hậu Mỹ, NXB Thời đại, năm 2011 Tác giả cho rằng,
Thế kỷ XXI là thế kỷ chứng kiến cuộc đua tranh quyết liệt giữa hai siêu cường
Mỹ - Trung Quốc để giành vị trí số một thế giới và nhấn mạnh về giấc mơ của người Trung Quốc muốn trở thành cường quốc số một trên thế giới Cụm từ
―giấc mơ Trung Quốc‖ đã trở thành tâm điểm của nhiều công trình nghiên cứu
và cũng nhiều lần được nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc là ông Tập Cận Bình nhắc tới trong các bài phát biểu của mình
Sở Thụ Long - Kim Uy (Chủ biên) xuất bản cuốn “Chiến lược và chính
sách ngoại giao của Trung Quốc”, NXB Thời sự, Trung Quốc (2008), (NXB
Chính trị Quốc gia Sự thật, dịch năm 2013); Diệp Tự Thành (Chủ biên) công bố
Trang 1802 cuốn sách về ―Lịch sử tư tưởng ngoại giao của Trung Quốc mới: Từ Mao
Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình‖, NXB Đại học Bắc Kinh (2001) và cuốn ―Đại chiến lược của Trung Quốc: Những vấn đề chủ yếu để Trung Quốc trở thành cường quốc thế giới và sự lựa chọn chiến lược‖, NXB Khoa học Xã hội Trung
Quốc (2003) Cả 4 cuốn sách trên đều đề cập đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc qua các thời kỳ lịch sử, qua các giai đoạn lãnh đạo của người đứng đầu Trung Quốc có tác động, ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế Lịch sử ngoại giao Trung Quốc là sự tiếp nối chính sách qua các thời kỳ lãnh đạo tạo nên bản sắc ngoại giao riêng của Trung Quốc có chiến lược, sách lược cụ thể để thực thi Trong đó, nhấn mạnh tư tưởng lãnh đạo của người đứng đầu Trung Quốc quyết định mục tiêu, phương châm, nguyên tắc hoạt động đối ngoại Bên cạnh đó,
Dương Khiết Mẫn, với bài viết ―Trung Quốc điều chỉnh chiến lược ngoại giao từ
bước khởi đầu mới”, đăng trên Tạp chí ―Triển vọng quốc tế‖, Trung Quốc, số
1/2014, nêu rõ Đại hội lần thứ 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đánh dấu bước khởi điểm mới trong các phương diện đối nội và ngoại giao của Trung Quốc Trong 10 năm tới, chiến lược ngoại giao Trung Quốc sẽ còn phải tiếp tục điều chỉnh, đổi mới lý luận và nâng cao khả năng vận dụng chiến lược; sẽ chỉ đạo mạnh mẽ hơn, thực tế hơn và hữu hiệu hơn
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Trung Quốc
do các học giả Trung Quốc nghiên cứu, xuất bản đã nêu bật các thành tựu ngoại giao của Trung Quốc qua các thời kỳ với nhiều thành tích Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nghiêng nhiều về tuyên truyền, định hướng chính sách; chưa làm rõ bản chất trong quan hệ quốc tế, các nhân tố tác động của trong quan hệ quốc tế khi Trung Quốc là một chủ thể
* Những nghiên cứu của các học giả nước ngoài khác: Lâm Hoàn Lập
(Willy Wo-Lap Lam) là một học giả nổi tiếng của Nhật Bản, ông đã dành phần lớn tâm trí, thời gian cho việc nghiên cứu nền chính trị Trung Quốc đương đại
Trong cuốn sách ―Nền chính trị Trung Quốc trong kỷ nguyên Hồ Cẩm Đào‖, tác
Trang 19giả dành chương V và chương VI (30% dung lượng cuốn sách) để phân tích, lý giải đường lối đối ngoại của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từ Mao Trạch Đông, đến Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và chủ nghĩa dân tộc nước lớn Trung Quốc Lâm Hoàn Lập đã chỉ rõ: ―Phía sau các luận thuyết ôn hòa, hoa mỹ để thuyết phục nước ngoài như thuyết ―phòng tuyến hàng xóm hữu hảo‖ và học thuyết ―vươn lên trong hòa bình‖ là chủ nghĩa dân tộc nước lớn mà hạt nhân là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán Khi nội bộ Trung Quốc xuất hiện mâu thuẫn gay gắt có nguy cơ không thể dàn xếp, điều hòa được thì những người lãnh đạo Trung Quốc luôn khéo léo chủ động tạo ra các tình huống ―có mâu thuẫn đối kháng về lợi ích dân tộc với nước ngoài‖ mà ở đây ám chỉ là các nước láng giềng, các nước có chung biên giới với đất liền, biên giới biển…; đó là chủ thuyết ―mâu thuẫn nội bộ sẽ phải lùi lại phía sau để nhường chỗ cho ý thức tự tôn dân tộc nhằm vào ―kẻ thù‖ bên ngoài‖
D.V.Mosiakov - Trưởng ban Đông Nam Á và châu Đại Dương thuộc Viện
phương Đông, Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga, xuất bản cuốn “Chính
sách của Trung Quốc ở Đông Nam Á: Từ quá khứ đến hiện tại” (NXB Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội-2016) Dựa trên nguồn tư liệu cá nhân nghiên cứu và khai thác, Mosiakov đã trình bày khái quát lịch sử quan hệ Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á từ thế kỷ XIX đến nay, từ đó phân tích chính sách ngoại giao gắn với những mục tiêu và lợi ích của Trung Quốc trong việc hiện thực hóa các chương trình, kế hoạch địa - chính trị qua các giai đoạn lịch sử của giới cầm quyền Bắc Kinh
Đây là những tài liệu có giá trị để nghiên cứu, tham khảo và giúp ích cho công tác phân tích, dự báo chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng và mang tính khách quan hơn các học giả Trung Quốc nghiên cứu Nhưng vẫn đứng nhìn ở góc độ từ trên xuống, tức là nhìn từ lợi ích của nước lớn (Trung Quốc) để phân tích, mổ xẻ các mối quan hệ mà không suy xét yếu tố lợi ích, ảnh hưởng của nước nhỏ trong quan hệ quốc tế
Trang 202.2 Nhóm nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia
* Những nghiên cứu của các học giả trong nước:
Nguyễn Văn Hà (2010), Quan hệ Campuchia - Trung Quốc trong tương
quan với các nước lớn (Tạp chí Đông Nam Á, số 10, 2010), trong đó tác giả
nhận định rằng, sau Hiệp định Pari năm 1991, quan hệ Campuchia - Trung Quốc cũng dần hồi phục và phát triển Tuy nhiên, do chính phủ liên minh giữa hai đảng chính trị chủ yếu của Campuchia chưa thực sự ổn định, nên quan hệ của Trung Quốc với nước này chỉ dừng lại ở mực độ hết sức thận trọng Sau năm
1997, ông Hun Sen được Trung Quốc ủng hộ mạnh mẽ Do vậy, Campuchia luôn coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ với Trung Quốc và xem đó như là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của nước này
Dương Văn Huy trong nghiên cứu về: Những tiến triển trong quan hệ của
Trung Quốc với Campuchia từ năm 1991 tới nay (Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế,
số 94, 2013), cũng đã chỉ ra rằng, nhờ nằm ở vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với khu vực Đông Nam Á lục địa, Campuchia sớm đã nằm trong ―tầm ngắm‖ trong chiến lược gia tăng ảnh hưởng đối với khu vực của Trung Quốc Với việc Trung Quốc gia tăng thắt chặt quan hệ toàn diện đối với Campuchia, đặc biệt trong giai đoạn gần đây đã khiến cho Trung Quốc đang tiến từng bước sâu hơn trong chiến lược gia tăng ảnh hưởng chiến lược của mình đối với khu vực Đông Nam Á Campuchia - một quốc gia đang ―khát vốn‖ về mặt kinh tế, đang có tranh chấp với Thái Lan về biên giới lãnh thổ, thì việc gia tăng quan hệ với Trung Quốc giúp Campuchia vừa giải quyết trước mắt về vấn đề kinh tế và có
được ―chỗ dựa‖ về mặt chính trị - an ninh Đồng thời, Dương Văn Huy cũng công bố nghiên cứu về: Sự thay đổi vị thế người Hoa ở Campuchia từ sau năm
1991 (Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, 2013), trong đó cho rằng sau năm 1991,
Campuchia đã bước vào giai đoạn phát triển mới Cùng với đó, cộng đồng người Hoa ở Campuchia cũng dần được phục hồi và phát triển một cách nhanh chóng Trong khoảng hơn 20 năm (từ năm 1991 tới nay), cộng đồng người Hoa ở đây đã gia tăng về dân số, khôi phục và phát triển về tổ chức xã hội và nghiệp đoàn và
Trang 21nâng cao về địa vị kinh tế, tham gia vào các hoạt động chính trị Người Hoa được coi như công cụ quan trọng để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng của mình ở Campuchia
Nguyễn Thành Văn với công trình nghiên cứu Những tiến triển trong
quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Campuchia - Trung Quốc (Nghiên cứu
Đông Nam Á, số 6, 2014) Trong đó tác giả nhận định rằng, trong những năm đầu Thế kỷ XXI, quan hệ Campuchia - Trung Quốc đã phát triển lên một tầm cao mới, đó là Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Quan hệ này đã mang lại lợi
ích cho cả hai bên và Trung Quốc luôn cho rằng, ―Campuchia luôn ủng hộ mạnh
mẽ những lợi ích cơ bản của Trung Quốc‖ nhưng những ―lợi ích cơ bản‖ này
xâm hại đến lợi ích chính đáng của nước khác
Các công trình trên nhấn mạnh sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Campuchia có tác động lớn đến các nước trong khu vực Đông Nam Á, tạo sự cạnh tranh và gây ảnh hưởng lớn đến các nước trong khu vực, đặc biệt là từ ―sự gia tăng ảnh hưởng‖ đó đã tác động, kéo Campuchia về phía Trung Quốc và chia
rẽ khối đoàn kết trong các nước ASEAN; giảm vai trò, uy tín của các nước xung quanh Đặc biệt, sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Campuchia tác động một cách toàn diện đến các vấn đề chính trị, an ninh và phát triển kinh tế của Việt Nam trong tương lai Tuy nhiên, nội dung các công trình trên chưa phân tích dưới góc độ chính sách Chưa phân tích mô hình nào Trung Quốc sẽ áp dụng với Campuchia trong thời gian tới, cũng như tác động của chính sách đó đối với các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam
* Những nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: Trong tác phẩm
“Giao thông trên biển giữa Trung Quốc cổ đại và Campuchia”, NXB Nghiên
cứu lịch sử, Trung Quốc (1985), do Triệu Hòa Mạn (Chủ biên), đã nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á, trong đó quan hệ giữa Trung Quốc và Campuchia chiếm một vị trí quan trọng trong khu vực Đây là công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và chuyên sâu về giao thông trên biển thời
Trang 22cổ đại giữa Trung Quốc và Campuchia, cũng như vai trò của nó đối với phát triển quan hệ hữu nghị Trung Quốc - Campuchia và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội của hai nước Nghiên cứu này bổ sung tư liệu và làm cơ sở đánh giá chính sách
của Trung Quốc đối với Campuchia Hạ Thánh Đạt: “Thành tựu và triển vọng về
nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc”, Tạp chí Lịch sử thế giới (2003),
Đông Nam Á không giống Trung Quốc hoặc Ấn Độ, cũng không giống các khu vực khác trên thế giới và giữa các nước Đông Nam Á cũng rất khác nhau Mặt
mà các học giả Trung Quốc quan tâm nghiên cứu về Đông Nam Á là nghiên cứu các đặc điểm phát triển của lịch sử Đông Nam Á, nhất là lịch sử Campuchia, Myanmar và Việt Nam
Vương Nghĩa Nguy đã phân tích quan hệ Trung Quốc - Campuchia trong
bài viết “10 mối lo ngại lớn của Campuchia đối với nhất đới, nhất lộ” (B&R),
đăng trên Mạng ―Nhà quan sát‖ ngày 24/12/2015, nêu rõ 10 lo ngại của Campuchia là: (1) Campuchia còn quá nghèo, chưa thể liên thông được với ―nhất đới, nhất lộ‖; (2) Nước nghèo thì chỉ là nơi qua đường nối với B&R, là bên bị áp đặt các quy tắc, lợi ích; (3) Làm thế nào để kết nối với B&R: Quỹ con đường tơ lụa là tiền của ai? Campuchia không có khả năng trả nợ; (4) B&R có làm mất quyền chủ đạo của ASEAN? Campuchia trước hết kết nối với ASEAN sau đó thông qua ASEAN kết nối với B&R thì yên tâm hơn; (5) Làm thế nào để giữ tập tục Campuchia; (6) Campuchia đã có những ký ức về xuất khẩu cách mạng của Trung Quốc, bây giờ thực hiện kết nối phải chăng sẽ có lợi cho Trung Quốc xuất khẩu cách mạng và can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia; (7) Liệu Trung Quốc có chuyển nhượng kỹ thuật (know-how) không?; (8) Các hạng mục đầu tư hạ tầng cơ sở ảnh hưởng đến môi trường, kinh tế Campuchia và sợ rơi vào tình cảnh ―ô nhiễm trước, xử lý sau‖ như ở Trung Quốc; (9) Liệu có sử dụng lao động địa bàn không?; (10) Liệu có dẫn đến cạnh tranh Trung - Nhật, Trung - Mỹ tại Campuchia? Lo ngại Campuchia sẽ trở thành vật hi sinh cho địa chính trị
Tiếp đến, Dương Bảo Quân có bài viết “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI
và Campuchia”, đăng trên tờ Trung Quốc Hải Dương báo (30/6/2014) đã phân
Trang 23tích, hơn 2000 năm trước, hai nước Trung Quốc - Campuchia đã có giao lưu kinh tế, mậu dịch Hai nước thông qua con đường trên biển để đi lại với nhau; tiến hành giao lưu văn hóa tinh thẩn; xây dựng con đường tơ lụa trên biển mới có lợi cho quan hệ hai nước Trung Quốc - Campuchia hợp tác cùng thắng; kết nối văn hóa có lợi cho kinh tế Campuchia càng phát triển nhanh hơn, có lợi cho Campuchia phát huy hơn nữa ưu thế địa chiến lược của mình
Bài viết của Quách Tục Quang về ―Đầu tư của các doanh nghiệp Trung
Quốc vào Campuchia và ảnh hưởng của nó‖ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
Đông Á (2011), đã đề cập số liệu các công ty của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng đại đa số các cuộc thảo luận đều thiếu các tài liệu xác thực, vì các nghiên cứu rất khó tiếp cận các doanh nghiệp Trung Quốc để lấy đầy đủ thông tin Tác giả đã đi sâu tiếp cận với trên 20 công ty Trung Quốc tại Campuchia trong vòng
3 tháng, cung cấp những thông tin xác thực về đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia và tác động ảnh hưởng của việc đầu tư này
Bên cạnh đó, những nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn diện về tình hình của Lào và Campuchia hiện nay còn thiếu vắng khá nhiều Những nghiên cứu nước ngoài chủ yếu là những nghiên cứu của phía Trung Quốc, chẳng hạn
như những báo cáo về GMS, như Báo cáo quốc gia tổng hợp về việc Trung Quốc
tham gia vào kinh tế khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng của Ủy ban Phát
triển cải cách Quốc gia Trung Quốc Báo cáo này đánh giá tổng hợp tình hình kinh tế các năm của các nước khu vực sông Mekong, trong đó có Lào và
Campuchia; sách xanh về hợp tác vùng sông Mekong như Báo cáo phát triển
hợp tác khu vực Tiểu vùng sông Mekong (2012-2013) do Lữu Trĩ (Chủ biên)
(Nxb Văn hiến Khoa học Xã hội và Trung tâm Nghiên cứu Khu vực tiểu vùng sông Mekong mở rộng Vân Nam ấn hành, tháng 8/2013) Bên cạnh đó, các báo cáo thường niên về tình hình của Lào và Campuchia cũng được thực hiện, trong những báo cáo này, tình hình kinh tế, chính trị, đối ngoại, an ninh - quốc phòng
và văn hóa- xã hội được đề cập tương đối toàn diện
Trang 24Tóm lại, các công trình nghiên cứu của học giả Trung Quốc tập trung
phân tích quan hệ giữa Trung Quốc và Campuchia; chưa phân tích được chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia trên các lĩnh vực chủ yếu, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; chưa làm rõ các nhân tố tác động đến chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia và dự báo Cũng như, không nêu được tác động, phản ứng của chính quyền, người dân Campuchia khi Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng vào quốc gia này
* Những nghiên cứu của học giả Campuchia và các nước khác: Nghiên
cứu của Long, Kosal (2009) về ―Sino-Cambodia Relations‖ (Cambodian
Institute for Cooperation and Peace - CICP, Working Paper, 28, 5) ông cũng cho rằng, ―Campuchia được coi là bạn thân nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á‖
Từ cuối những năm 1990, quan hệ Trung Quốc - Campuchia đã được cải thiện đáng kể trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh Bên cạnh đó, Im
Soksamphoas (2012) với nghiên cứu ―China Strategy Security with Cambodia‖
(Pannasastra University of Cambodia, August 18, 2012) Trong nghiên cứu này, tác giả muốn chỉ ra cách thức mà Trung Quốc thiết kế một chiến lược gia tăng ảnh hưởng của mình đối với Campuchia Công trình của HENG, Pheakdey
(2012) về Cambodia - China Relations: A Positive-Sum Game? (Journal of
Current Southeast Asian Affairs, 31 (2)) cũng cho rằng, Trung Quốc đã nổi lên trở lại để trở thành nhân tố bên ngoài chiếm ưu thế tại Campuchia Trong khi chính phủ Campuchia thì nồng nhiệt hoan nghênh viện trợ Trung Quốc bởi nó không có ràng buộc, song nhiều chuyên gia lo ngại rằng Trung Quốc đang viện trợ nhiều hơn đối với các lý do không chính đáng Tác giả John D.Ciorciari
(2013) với nghiên cứu về China and Cambodia: Patron and Client? (Gerald R
Ford School of Public Policy, University of Michigan, International Policy Center Working Paper No 121, June 14, 2013) cho rằng, Campuchia đã trở thành một trong những đối tác quốc tế và đồng minh ngoại giao thân cận nhất của Trung Quốc Sự hỗ trợ của Campuchia đối với Trung Quốc trong đàm phán
Trang 25đa phương về Biển Đông mang tính một chiều khiến cho một số nhà bình luận miêu tả Campuchia như một ―quốc gia phụ thuộc‖ (client state) của Trung Quốc
Carlyle A Thayer cũng công bố nghiên cứu của mình về China‟s
Relations with Laos and Cambodia (in China International and External
Relations and Lessons for Korea and Asia by Jung-Ho Bae (Author), Gil-Job-Ie Media (January 28, 2016), trong đó ông cho rằng, Lào và Campuchia ―cố gắng hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc để duy trì quyền tự chủ của họ, đồng thời tận dụng quan hệ song phương với Trung Quốc vì lợi ích của họ‖ Trong nghiên
cứu của Vannarith Chheang về Cambodia Embraces China‟s Belt and Road
Initiative (ISEAS - Yusof Ishak Institute, ISSUE: 2017 No 48) cũng cho rằng,
BRI của Trung Quốc là một lực lượng mới hình thành nhằm phản ánh ảnh hưởng
và vai trò lãnh đạo mang tính toàn cầu của Trung Quốc thông qua ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa Campuchia đã nhiệt tình ủng hộ sáng kiến này, chủ yếu là lý do kinh tế đặc biệt là sự phát triển cơ sở hạ tầng và các yếu tố hợp tác năng lực sản xuất
2.3 Nhận xét về các công trình công bố và những vấn đề cần làm rõ
Với nguồn tài liệu phong phú, đa dạng, đa chiều, các học giả Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia và thế giới đã giới thiệu về chính sách đối ngoại của Trung Quốc nói chung và chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia nói riêng Các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam cơ bản khách quan, có cơ
sở khoa học và luận chứng Trong khi các công trình nghiên cứu của học giả Trung Quốc thiên về tuyên truyền, định hướng chính sách, ca ngợi thành tích, hơn là thực trạng Đối với các học giả nước ngoài nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia thiên về tác động và nguy cơ dẫn đến mất tự chủ
ở Campuchia Các công trình nghiên cứu trong nước, ngoài nước đã giúp nghiên cứu sinh: (1) Có bức tranh khá hoàn chỉnh về quan hệ và chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Campuchia từ năm 1993 đến 2017; là những tài liệu quan trọng, hữu ích có thể khai thác, kế thừa và tham khảo trong quá trình
Trang 26nghiên cứu về nội dung của luận án (2) Cung cấp cho nghiên cứu sinh những quan điểm lớn trong nghiên cứu về chính sách Campuchia của Trung Quốc, từ
đó có suy nghĩ độc lập về tác động của chính sách này đến Việt Nam (3) Nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia tuy được nhiều học giả quan tâm song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn hiện nay là tìm ra bản chất, quy luật mang tính lịch sử, truyền thống đối ngoại của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á nói chung và đối với Campuchia nói riêng
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trên, Luận án cần tập trung làm rõ: Thứ nhất, luận án làm rõ những biến động của tình hình thế giới và khu vực tác
động đến chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia Nói một cách khác, luận án đặt sự tương tác giữa Trung Quốc và Campuchia trong chiến lược tổng thể của Trung Quốc cũng như trong sự vận động tương tác quyền lực trong khu vực và thế giới để có cái nhìn rõ hơn về tính vận động trong chính sách của Bắc
Kinh đối với Phnom Penh Thứ hai, luận án làm rõ bản chất chính sách của
Trung Quốc với Campuchia là gì, bởi thực chất Campuchia và Trung Quốc là hai quốc gia có quan hệ bất đối xứng với nhau Chính sách của Trung Quốc với Campuchia được hình dung là chính sách của một nước lớn với một nước nhỏ, trong đó nước lớn luôn thể hiện tính chủ động trong mối quan hệ song phương Đồng thời, luận án cũng muốn làm rõ phản ứng chính sách của Campuchia
(chính quyền và người dân) trước Trung Quốc là gì Thứ ba, trên cơ sở phân tích
bản chất và những diễn biến trong chính sách Trung Quốc đối với Campuchia nói trên, luận án phân tích những tác động đối với một số chủ thể và Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu sinh thử đưa ra dự báo về chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia trong thời gian tới
3 Mục tiêu và nhiệm vụ đề tài nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án làm rõ: Đi sâu phân tích, làm rõ bản chất
chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia
Trang 27Nhiệm vụ nghiên cứu, như sau: (1) Làm rõ cơ sở hoạch định chính sách của
Trung Quốc đối với Campuchia từ 1993 đến 2017; (2) Phân tích nội dung, quá trình thực hiện chính sách; (3) Phân tích kết quả và tác động của chính sách, dự báo khả năng thay đổi, điều chỉnh trong chính sách, từ đó đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách của Trung Quốc đối với
Campuchia từ năm 19931 tới năm 20172
Phạm vi nghiên cứu: Khu vực không gian nghiên cứu địa lý thuộc hai nước
Trung Quốc, Campuchia; trong đó có mở rộng ra các vùng không gian địa lý có ảnh
hưởng đến xung quanh (Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương) Giới hạn phạm
vi thời gian: Nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ khi
Campuchia tái lập Vương Quốc (1993) đến năm 2017 (đánh giá thời điểm Trung
Quốc và Campuchia đi vào ổn định từ năm 1993 đến năm 2017) Phạm vi nội dung
giới hạn ở việc phân tích và làm sáng tỏ chính sách của Trung Quốc đối với
Campuchia từ 1993 đến 2017 trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, quốc phòng - an ninh và một số lĩnh vực khác
5 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
Cơ sở lý thuyết: Luận án sử dụng khung phân tích dựa theo lý thuyết về
quan hệ quốc tế; nhấn mạnh kênh tham chiếu đối với lý thuyết về Chủ nghĩa hiện thực, với luận điểm chủ quyền quốc gia là tối cao và lợi ích quốc gia là tối hậu Lợi ích quốc gia trở thành định hướng và ưu tiên cho mọi chính sách đối ngoại Chính sách đối ngoại là để thực hiện lợi ích quốc gia và lợi ích quốc gia là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm chính sách đối ngoại Đối với chủ nghĩa hiện thực, bảo vệ lợi ích quốc gia là công lý lớn nhất và cũng chỉ rõ quyền lực là thứ quốc gia nào cũng muốn và không có giới hạn do quốc gia không bao giờ hài lòng với quyền
1 Ngày 26.05.1993, Liên Hợp Quốc đã tổ chức Tổng tuyển cử ở Campuchia Ngày 21.09.1993, Quốc hội Campuchia thông qua Hiến pháp, quyết định lấy tên nước là Vương quốc Campuchia, tái lập chế độ quân chủ lập hiến và thể chế chính trị đa nguyên đa đảng
2 Năm 2017: Trung Quốc tổ chức Đại hội XIX Đảng Cộng sản, đánh dấu nhiệm kỳ 2 cầm quyền của Tập Cận Bình, với ―Giấc mộng Trung Hoa‖ Ngày 16/11/2017, Tòa án tối cao Campuchia tuyên bố giải thể Đảng Cứu quốc CNRP với cáo buộc âm mưu lật đổ chính quyền và vi phạm Hiến pháp
Trang 28lực mình đang có; mọi quốc gia đều tìm cách tối đa hóa quyền lực của mình và quyền lực là chìa khóa để lý giải những cách ứng xử trong quan hệ quốc tế và những tính toán của các quốc gia3 Trong nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia đã thể hiện rõ điểm này và tác động rất lớn đến cục diện thế giới và an ninh khu vực
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở tiếp cận từ phương pháp nghiên cứu
nòng cốt là lịch sử quan hệ quốc tế, luận án tiếp cận đa ngành và liên ngành của khoa học xã hội và nhân văn như, phương pháp lịch sử, chính trị học, kinh tế học vv Luận án sử dụng phương pháp: Lịch sử, phân tích chính sách, tổng hợp, hệ thống hóa, thống kê, so sánh, đối chiếu, dự báo, phương pháp chuyên gia… hỗ trợ cho các phương pháp trên để hoàn chỉnh luận án
6 Nguồn tài liệu tham khảo
Các nguồn tài liệu mà nghiên cứu sinh sử dụng bao gồm 3 nhóm chính như
sau: Nhóm thứ nhất: Là các nguồn tư liệu gốc bao gồm các tuyên bố chung, kết quả đàm phán, báo cáo, phát biểu, diễn văn…của lãnh đạo hai nước Nhóm thứ
hai: Là các cuộc phỏng vấn, trao đổi, tọa đàm, hội thảo của nghiên cứu sinh với
các chuyên gia, cán bộ lão thành của ngành Ngoại giao đã có nhiều năm công tác
tại địa bàn Trung Quốc và Campuchia Nhóm thứ ba: Là các công trình nghiên
cứu khoa học, bài viết được công bố ở trong nước và nước ngoài Ngoài ra, luận
án cũng sử dụng một số nguồn thông tin trên các trang mạng chính thức của Chính phủ Trung Quốc, Campuchia và các trang mạng đáng tin cậy của các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu có uy tín
7 Những đóng góp và ý nghĩa của luận án
7.1 Đóng góp về mặt khoa học
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống từ góc nhìn của nhà nghiên cứu Việt Nam về chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia với nguồn tài liệu đa chiều Luận án sẽ phân tích mục tiêu nội dung và sự triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia đầy đủ trên các lĩnh vực chính trị
3 Xem trong: Hoàng Khắc Nam (cb), Lý thuyết quan hệ quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội - 2017, tr:21-52
Trang 29- ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa, giáo dục từ năm 1993 đến năm 2017 với sự tác động của những nhân tố cụ thể
Luận án sử dụng phương pháp phân tích so sánh để giải quyết những mâu thuẫn trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Campuchia qua các thời kỳ để bổ sung và góp thêm cách tiếp cận khác vào kết quả nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn Từ nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia có thể viện dẫn, so sánh, đối chiếu, áp dụng phương pháp tiếp cận về chính sách của Trung Quốc đối với Lào, Myanmar và Việt Nam Đặc biệt, từ kết quả nghiên cứu sử dụng cơ sở lý thuyết là chủ nghĩa hiện thực, chỉ ra những luận điểm ―nhân tố ý thức hệ mác xít không còn chi phối mục tiêu và hành động đối ngoại của Trung Quốc; chủ nghĩa hiện thực đã và đang chiếm vai trò chủ đạo, chi phối mạnh mẽ đường lối đối ngoại của Trung Quốc‖
Luận án là nguồn tham khảo bổ ích cho các cán bộ nghiên cứu, cán bộ hoạch định và triển khai liên quan đến Trung Quốc và Campuchia của ngành ngoại giao Đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy, nghiên cứu về lịch sử, nghiên cứu cách thức triển khai chính sách của Trung Quốc tới Campuchia từ 1993 đến 2017
7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Một là, thông qua phân tích sự triển khai chính sách của Trung Quốc trong
giai đoạn 1993 đến năm 2017 đối với Campuchia, rút ra một số nhận xét (về kết quả của chính sách, đặc biệt phân tích những tác động nhiều chiều từ chính sách
này) Hai là, trên cơ sở phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia
giai đoạn 1993 đến nay, tác giả đưa ra những đánh giá về xu hướng chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia thời gian tới, từ đó khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và Campuchia
8 Kết cấu của luận án
Luận án được bố cục thành ba chương chính, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, luận án được bố cục thành 3 chương với nội dung tóm tắt như sau:
Trang 30CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2017: Nêu bật cơ
sở lý luận, như: Tư tưởng, quan điểm đối ngoại truyền thống của Trung Quốc, ngoại giao nước lớn, quan điểm đối ngoại của Trung Quốc đối với các nước láng giềng; phân tích cơ sở thực thực tiễn, như: Tình hình thế giới, khu vực, tình hình Trung Quốc, tình hình Campuchia từ năm 1993 đến nay Trong chương này, nghiên cứu sinh phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia trước năm 1993 làm cơ sở để triển khai vào chương 2
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2017: Tập trung phân tích nội dung, mục tiêu, các giai đoạn triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2017; thực tiễn triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa- xã hội
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CAMPUCHIA, DỰ BÁO VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM: Phân tích những thành quả, hạn chế, tác động trong chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2017 Từ đó, dự báo chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam
Trang 31CHƯƠNG 1
CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC
ĐỐI VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2017
1.1 Cơ sở lý luận định hình chính sách của Trung Quốc đối với Campuchia
1.1.1 Tư tưởng, quan điểm đối ngoại truyền thống của Trung Quốc
Trong quan hệ với Trung Quốc, trừ Nga, Ấn Độ, còn lại hầu hết là các nước láng giềng của Trung Quốc là các nước nhỏ và trong suốt chiều dài lịch sử, Trung Quốc luôn áp đặt quan hệ theo hệ thống ―chư hầu - triều cống‖ Do đó, các nước nhỏ dưới thời cổ, trung, cận đại luôn bị các Thiên tử Trung Hoa coi là Man di (các dân tộc hạ đẳng, thiếu văn minh) và chịu sự ràng buộc bởi các mối quan hệ triều cống với Trung Quốc [14;tr.66-68], [38;tr.10], [19;tr.59-64]
Tháng 6/1965, tại phiên họp của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã chỉ rõ: ―Chúng ta nhất định phải có được khu vực Đông Nam Á, bao gồm miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện,, Malaixia, Singapore Khu vực Đông Nam Á này rất giàu có, nơi có rất nhiều khoáng sản quý, rất xứng đáng dốc công dốc sức nhằm giành được nó Trong tương lai khu vực này sẽ có ích để phát triển nền công nghiệp Trung Quốc Do vậy, sẽ hoàn toàn có thể bù lại được những tổn phí Sau khi chúng ta có được Đông Nam Á, trên khu vực này có thể tăng cường lực lượng của chúng ta Lúc đó chúng ta sẽ
có sức mạnh đối chọi lại với khối Liên Xô - Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây‖ [4;tr33], [26;tr14-16], [38; tr.83] Những lập luận khá cởi mở của ―người cầm lái vĩ‖, cũng như những hành động thực tế của nhà cầm quyền Trung Quốc cho thấy quan niệm về ―một trật tự thế giới truyền thống của chính quyền đế chế không những chỉ tồn tại sự bất khả xâm phạm đến giữa thế kỷ XIX, mà còn không biến mất hoàn toàn sau này‖ [4; trt34] Trong suốt thời gian qua, các thế
hệ lãnh đạo Trung Quốc luôn nhất quán và kiên trì tìm cách để lấy lại tính ―ưu việt truyền thống‖ của đất nước mình ở Đông Nam Á Để đạt được mục đích
Trang 32này, Trung Quốc trong suốt thời gian qua đã sử dụng rất nhiều mô hình khác nhau, cũng như áp dụng những chính sách khác nhau trong các mối quan hệ tương tác của Trung Quốc với các nước láng giếng phía Nam của mình
Từ khi nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa được thành lập đến nay, Trung Quốc đã thi hành 5 chính sách ngoại giao chủ yếu, gồm: Chính sách
―Nhất biên đảo” liên minh chiến lược với Liên Xô trong thập niên 1950, chính sách ―giương cung hai mặt” vừa chống Mỹ vừa chống Xô trong thập niên 1960, chính sách “một đường thẳng” liên Mỹ chống Xô trong thập niên 1970, chính sách ngoại giao hòa bình độc lập tự chủ từ sau thập niên 1980 đến thập niên đầu Thế kỷ XXI [19;tr.160-164] và chính sách Ngoại giao nước lớn, ngoại giao láng
giềng hiện nay Các chính sách đối ngoại này trong từng giai đoạn cụ thể tương
ứng đã tạo dựng lên mối quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài, đặc biệt
là với các nước lớn chủ yếu trên thế giới Chiến lược ―Nhất biên đảo” là chiến
lược đối ngoại đầu tiên sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập và đến nay với các chính sách ngoại giao đã nêu ở trên cho thấy, Trung Quốc coi trọng yếu tố ý thức hệ và ngoại giao là do nội chính quyết định; chiến lược ngoại giao do chiến lược quốc gia quyết định và phục tùng chiến lược tổng thể quốc gia Tại Đại hội lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (11/2002) Giang
Trạch Dân phát biểu kiên trì quan điểm ―hòa bình và phát triển là chủ đề của thời
đại ngày nay” mà Đặng Tiểu Bình đề xuất từ giữa thập niên 1980 [62;tr.4] và
trong Báo cáo của Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào thay mặt cho Ban Chấp hành Trung
ương Khóa XVI tại Đại hội lần thứ XVII tiếp tục nêu: ―Trung Quốc sẽ kiên trì đi
theo con đường phát triển hòa bình Đây là sự lựa chọn chiến lược của Chính phủ
và nhân dân Trung Quốc dựa trên trào lưu phát triển của thời đại và lợi ích căn bản của mình”[63] Đối nội kiên trì phát triển khoa học, thúc đẩy phát triển hài
hòa, chủ yếu dựa vào sức mạnh tự thân; đối ngoại giương cao ngọn cờ hòa bình, phát triển và hợp tác [21; tr106] Chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập, tự chủ của Trung Quốc được thực hiện từ 1982 và duy trì trong suốt thời gian hơn 20
Trang 33năm qua cho thấy chiến lược ngoại giao của Trung Quốc không thay đổi Phương
châm đối ngoại 24 chữ mà Đặng Tiểu Bình đưa ra cuối năm 1989 ―lặng lẽ quan
sát”, “trụ chân vững vàng”, “bình tĩnh ứng phó”, “giữ kín cái hay”, “biết che cái dở”, “quyết không đi đầu” [57;tr.321-353] đến Đại hội XVIII (2012) cơ bản chấm
dứt phương châm ngoại giao phòng ngự ―giấu mình chờ thời‖, chuyển sang thế tấn công với tư tưởng ―hành động thể hiện‖, sẽ kiên quyết hơn trong việc bảo vệ lợi ích cốt lõi và không gian chiến lược của Trung Quốc [21; tr107]; lấy Ngoại giao nước lớn, Ngoại giao láng giềng là trọng tâm trong chính sách đối ngoại, phấn đấu ―trở thành cường quốc số một trên thế giới‖
Trên cơ sở của thuyết ―phát triển hòa bình‖, Đại hội lần thứ XVII của
Đảng Cộng sản Trung Quốc (2007) lại đưa ra lý luận về “thế giới hài hòa” Nội
dung cơ bản của nó bao gồm 4 phương diện, đó là ―dân chủ, hòa hợp, lẽ phải và bao dung‖ Trung Quốc cho rằng, ―nhân dân thế giới cùng nắm tay nhau phấn đấu xây dựng một thế giới hài hòa, hòa bình lâu dài và cùng chung thịnh vượng‖ [21] Tuy nhiên, Trung Quốc lại luôn nhấn mạnh đến khái niệm ―binh giàu, nước mạnh‖, xây dựng quân đội theo quan điểm ―biên giới chiến lược và không gian chiến lược‖, sử sụng quân đội để bảo vệ ―lợi ích phát triển‖ của mình cả ở ngoài biên giới quốc gia Tại buổi Tọa đàm về vấn đề Biển Đông được tổ chức tại Bắc Kinh vào ngày 17/5/2012, Thiếu tướng La Viện phát biểu rằng, ―hiện nay Trung Quốc đang trỗi dậy hòa bình, tuy nhiên đây không đồng nghĩa với việc chúng ta treo cao biểu ngữ ―không có chiến tranh‖, nếu không họ sẽ không ngừng thách thức giới hạn cuối cùng của chúng ta‖ [32; tr.10-15]
Phương châm 24 chữ trong chính sách đối ngoại mà Đặng Tiểu Bình đưa
ra từ cuối năm 1989 được các thế hệ sau áp dụng và điều chỉnh khá linh hoạt Trung Quốc từ Giang Trạch Dân, nhất là từ thời Hồ Cẩm Đào và hiện nay là Tập Cận Bình cầm quyền đã không còn ―duy trì dáng vẻ thấp, che dấu cái rực rỡ, nấp mình chờ thời, quyết không đi đầu‖ nữa mà cần phải hành động chuyển dần sang ngoại giao nước lớn, mạnh dạn đề xuất, tạo ra luật chơi, chủ động tham gia và đi
Trang 34đầu trong việc đề xuất các cơ chế hợp tác mới, nhất là trong hợp tác kinh tế cũng như an ninh khu vực [12;tr11-16]
Xét về nhân tố ý thức hệ tư tưởng - chính trị và chế độ xã hội của “chiến
lược phát triển hòa bình” và xây dựng “thế giới hài hòa” thì Trung Quốc hầu
như không còn dựa trên học thuyết Mác - Lênin để liên minh, liên kết, tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc hiện tại và có
thể trong tương lai vẫn học theo di huấn của Đặng Tiểu Bình là “mèo trắng, mèo
đen, mèo nào bắt được chuột đều tốt cả” 4
Hay nói một cách khác, nhân tố ý thức hệ mác xít không còn chi phối mục tiêu và hành động đối ngoại của Trung Quốc; Chủ nghĩa hiện thực đã và đang chiếm vai trò chủ đạo, chi phối mạnh mẽ đường lối đối ngoại của nước này Tuy nhiên, hiện nay và trong tương lai gần, Trung Quốc vẫn còn đi theo con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa và đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Như vậy, yếu tố ý thức hệ vẫn tồn tại trong đời sống chính trị-xã hội của nước này, nhất là trong lĩnh vực nội chính Chính sách đối ngoại của Trung Quốc dù muốn, dù không vẫn còn bị ràng buộc bởi chính trị đối nội và ―khi nội bộ Trung Quốc xuất hiện mâu thuẫn gay gắt không thể dàn xếp thì những nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn khéo léo đẩy ra bên ngoài‖
[18;tr.5;tr251]
Đến kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 12 ngày 05/3/2015, Trung Quốc đã đưa
ra tiêu đề điều chỉnh ngoại giao mới: ―Đẩy mạnh chính sách ngoại giao láng giềng, thúc đẩy triển khai chiến lược Vành đai, con đường‖ Theo đó, Trung Quốc sắp xếp thứ tự ưu tiên trong chính sách đối ngoại hiện nay là: (1) ―Ngoại giao nước lớn‖ được đặt ở vị trí đầu tiên với trọng tâm là quan hệ nước lớn kiểu mới Trung - Mỹ; (2) ―Ngoại giao láng giềng‖ được đặt ở vị trí thứ hai; (3)
―Ngoại giao kinh tế‖ với trọng tâm là triển khai sáng kiến ―Vành đai, con
4 Điều này còn được thể hiện rõ nét qua lời nói của Đặng Tiểu Bình với Tổng thống Gorbachev vào ngày 16/5/1989 rằng ―Nhiều năm qua, giữa hai bên tồn tại vấn đề về việc lý giải chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác- Lênin Từ Hội nghị Moscow lần thứ nhất năm 1957 đến nửa đầu thập niên 60, hai Đảng đã có những tranh luận gay gắt Tôi cũng là một trong những người đương sự lúc đó, cũng có một vai trò không phải nhỏ trong thời kỳ đó Nhưng giời đây trải qua hơn hai mươi năm thực tiễn, nhìn lại lịch sử, mới thấy lúc đó hai bên đều nói rất nhiều điều lý thuyết trống rỗng‖ (Sở Thụ Long-Kim Uy, Sđd, tr 92) [19]
Trang 35đường‖ Như vậy, gần 20 năm đầu thế kỷ XXI là thời kỳ cơ hội chiến lược để Trung Quốc thực hiện mục tiêu ―trỗi dậy‖ trấn hưng Trung Hoa Nhiệm vụ ngoại giao của Trung Quốc là phục vụ tích cực cho việc thực hiện những mục tiêu này
và quan hệ Trung Quốc với các quốc gia láng giềng cũng chính là nhằm góp phần đảm bảo thắng lợi chiến lược ―trỗi dậy‖ của Trung Quốc [21; tr.43]
1.1.2 Quan điểm ngoại giao nước lớn của Trung Quốc
Tại ―đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ-Trung‖ (S&ED) lần thứ 2 ( 25/5/2010), Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra ý tưởng xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới với Mỹ Trong cuộc gặp không chính thức với B.Obama tại Sunnylands, California với tư cách là lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc (7-8/6/2013), Tập Cận Bình đã nêu 5 căn cứ để xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới Trung - Mỹ: (i) Hai bên đều có ý nguyện chính trị xây dựng ―quan hệ nước lớn kiểu mới‖; (ii) 40 năm qua, hai bên đã tôn tạo được một cơ sở hợp tác tốt đẹp; (iii) Hai bên đã có trên 90 cơ chế đối thoại, bảo đảm cho ―quan hệ nước lớn kiểu mới‖; (iv) Giao lưu dân gian hai nước sôi động, đã tạo nên cơ
24-sở dân ý sâu sắc cho quan hệ nước lớn kiểu mới; (v) Hai nước có một không gian hợp tác rộng lớn trong tương lai
Tiếp đến, ngày 20/9/2013, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đọc diễn văn tại Viện nghiên cứu Brookings Institution (Mỹ) đã dưa ra 5 phương pháp xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới: Một là, tăng cường tin cậy chiến lược; Hai là, thúc đẩy hợp tác thực chất; Ba là, tăng cường trao đổi nhân văn; Bốn là, tăng cường hợp tác trên các vấn đề toàn cầu và khu vực; Năm là, tăng cường hợp tác có trọng điểm trong các vấn đề ở khu vực CA - TBD; lấy CA - TBD làm thí điểm cho việc xây dựng ―quan hệ nước lớn kiểu mới‖ giữa hai nước Tuy nhiên, đây vẫn là sáng kiến đơn phương Mỹ chưa chấp nhận sáng kiến này, thậm chí chưa sử dụng thuật ngữ này trong các phát ngôn chính thức, nhưng vẫn thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc do có nhiều điểm đồng về lợi ích [17;tr.2]
Trang 36Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chính sách đối ngoại và mang dấu ấn cá
nhân Tập Cận Bình với tên gọi “Ngoại giao nước lớn” với 5 đặc điểm chính:
Một là, có sự thống nhất từ trên xuống dưới, sự phối hợp giữa các bộ, ban,
ngành; Hai là, nhiệm vụ đối ngoại của Trung Quốc được mở rộng không chỉ
phục vụ đối nội, mà còn chú trọng đảm bảo an ninh quốc gia và lợi ích phát triển
hướng ra bên ngoài; Ba là, điều chỉnh bố cục ngoại giao theo hướng nâng cao vai trò của ngoại giao láng giềng (hay ―ngoại giao chu biên‖); Bốn là, chú trọng
lợi ích kinh tế để mua chuộc, lôi kéo các nước, nhất là các nước láng giềng; đồng thời làm công cụ gây áp lực trong giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ,
buộc các nước phải chấp nhận hợp tác hoặc thỏa hiệp ý đồ của Trung Quốc; Năm
là, thúc đẩy tinh thần dân tộc, cứng rắn, quyết đoán hơn trong vấn đề tranh chấp
chủ quyền, lãnh thổ cả trên biển, trên bộ [11; tr.14]
Quyết tâm thực hiện ―ngoại giao nước lớn‖ nhằm thúc đẩy ―giấc mộng Trung Hoa‖, đưa Trung Quốc trở thành cường quốc đứng đầu thế giới vào giữa Thế kỷ XXI Điều này được của Chủ tịch Tập Cận Bình không ít lần nhấn mạnh
―Thực hiện cuộc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa chính là giấc mộng vĩ đại nhất của dân tộc Trung Hoa từ cận đại đến nay‖, rằng ―Giấc mộng Trung Hoa‖
và ―Giấc mộng Mỹ‖ gặp nhau, hòa hợp với nhau để cùng nhau xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới‖5
Phải chăng ―Giấc mộng Trung Hoa‖ là mong muốn Trung Quốc trở lại vị thế ―Quốc gia Trung tâm Thiên hạ‖ hay ―Thiên triều Thượng Quốc‖ và phản ảnh tư tưởng dân tộc Đại Hán, coi ―dân tộc Trung Hoa là dân tộc ưu tú nhất thế giới‖, phải ―lãnh đạo thế giới‖ mà các triều đại phong kiến Trung Quốc từng theo đuổi trong quan hệ với các nước xung quanh và trên thế giới? [17;tr.10]
Thực hiện ngoại giao nước lớn, Trung Quốc đã thu được những thành tựu quan trọng: Nâng cao vai trò, vị thế, ảnh hưởng, lợi ích của Trung Quốc trên
5 Lập luận này được Tập Cận Bình nói trực tiếp với Tổng thống Obama tại cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức Mỹ-Trung tổ chức tại Sunnylands, California vào ngày 8/6/2013
Trang 37phạm vi toàn cầu, nhất là Châu Á Trong ―quan hệ nước lớn kiểu mới Trung - Mỹ‖ với nội hàm là ―không xung đột, không đối đầu, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng thắng‖ Mục đích của Trung Quốc là: (1) Đối phó với chiến lược ―tái cân bằng‖ của Mỹ ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; (2) Xây dựng khung quan
hệ có thể kiềm chế các yếu tố tiêu cực trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc; (3) Tạo
vị thế nước lớn ngang bằng với Mỹ trong các vấn đề quốc tế; (4) Tạo áp lực đối với các nước láng giềng và các đối tác của Mỹ tại khu vực; (5) Chia rẽ, ly gián
Mỹ với đồng minh, chia rẽ nội bộ Mỹ; (6) Thúc đẩy hợp tác với Mỹ phục vụ cho phát triển trong nước; (7) Ổn định quan hệ với Mỹ để Trung Quốc có thể ―yên tâm‖ trong xử lý các vấn đề ―nóng‖ của Trung Quốc (vấn đề Đài Loan, Biển Đông, biển Hoa Đông…); (8) Tạo môi trường bên ngoài thuận lợi cho phát triển kinh tế và ổn định nội bộ [17;tr.11-12]
1.1.3 Quan điểm đối ngoại của Trung Quốc đối với các nước láng giềng
Đông Nam Á được Trung Quốc xác định là khu vực có nhiều tài nguyên phong phú, là khu vực có lợi ích quan trọng của Mỹ, Nhật Bản; là nơi thông thương đường thủy của đa số tàu thuyền nên có vị trí chiến lược quan trọng và là
―khu vực duy nhất để Trung Quốc có thể thực hiện một cách toàn diện chiến lược ngoại giao của mình‖ [19;tr.320] Trung Quốc xác định trong tương lai không xa sẽ là một cường quốc trong khu vực Do vậy, nền tảng vững chắc cho
sự phát triển của Trung Quốc vẫn là khu vực lân cận ―Chỉ khi nào có chỗ đứng vững chắc tại khu vực Đông Nam Á, thì Trung Quốc mới có thể mở rộng lợi ích chiến lược cũng như tăng cường ảnh hưởng của mình trên toàn cầu‖ [104] Điều
đó cho thấy, vị trí chiến lược của Đông Nam Á đối với thực hiện ―Giấc mộng Trung Hoa‖, Trung Quốc thông qua các con đường, biện pháp thể hiện tư duy cùng phát triển với các quốc gia láng giềng, gồm các khái niệm như ―thân thiện với láng giềng, ổn định cùng láng giềng, làm giàu với láng giềng‖, ―lấy láng
Trang 38giềng làm đối tác‖, ―láng giềng tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt‖, ―hài hòa xung quanh, hài hòa thế giới‖ và ―Cộng đồng vận mệnh Trung Quốc-ASEAN‖ 6
Về mục tiêu, ngoại giao láng giềng nhằm hiện thực hóa ―Giấc mộng Trung
Hoa‖, phục hưng một nước Trung Hoa là cường quốc số một của thế giới Về
kinh tế, ngoại giao láng giềng là phương thức Trung Quốc tái thiết lập trật tự khu
vực, đưa Trung Quốc trở lại vị trí là quốc gia có vai trò trung tâm thông qua nhiều
biện pháp, trước hết là kinh tế, thương mại Cụ thể: (i) Phát triển kinh tế khu vực
biên giới, nhất là ở phía Tây Trung Quốc và còn có ý nghĩa quan trọng để đối phó
với nguy cơ khủng bố, ly khai; (ii) Mở rộng đầu tư ra nước ngoài thông qua kết
nối hạ tầng, đầu tư phát triển hạ tầng ở nước ngoài để giảm nóng đầu tư trong nước; đồng thời, xóa bỏ các rào cản, mở rộng thương mại ra bên ngoài, nhất là tới các thị trường tiềm năng và nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế Trung Quốc Trung Quốc dùng công cụ kinh tế, thương mại, văn hóa để thúc đẩy giao thương và giao lưu nhân dân, tạo lợi ích (quốc gia và nhóm) trong việc thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn với Trung Quốc dựa trên tình trạng liên kết và lệ thuộc lẫn nhau nhiều hơn, từ đó đưa các nước vào quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc và từ kết nối hạ tầng, thương mại, tài chính và con người để dần đạt được kết nối về chính sách, khi các nước đã lệ thuộc vào thương mại thì Trung Quốc có thể gây
sức ép về mặt an ninh đối với các nước đó [41]; (iii) Cạnh tranh ảnh hưởng với
các khuôn khổ kinh tế thương mại khác do Mỹ dẫn dắt như WB, IMF, ADB Các sáng kiến do Trung Quốc đưa ra như BRI, AIIB thời gian gần đây đều khuyến khích các nước láng giềng tham gia và tạo điều kiện thuận lợi cho các nước nhỏ tham gia các sáng kiến này cũng không kèm theo các điều kiện về cải cách cơ cấu, bảo vệ tác quyền… Tuy nhiên, trong số các nước láng giềng mới có Campuchia là
6
Bài phát biểu của Quý Chí Nghiệp – Viện trưởng Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại (TQ) về
―Hoạch định chiến lược với láng giềng của Trung Quốc cần gấp Thiết kế ở kiến trúc thượng tầng‖, tại Hội thảo ―tình hình chiến lược xung quanh và chiến lược với láng giềng của Trung Quốc‖ do Tạp chí ―Quan hệ Quốc tế hiện đại‖ thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế hiện đại Trung Quốc, tổ chức ngày 10/10/2013 tại Bắc Kinh, Trung Quốc
Trang 39nhiệt tình tham gia, còn các quốc gia khác đang thận trọng, bởi thực tế lo ngại đến những mục tiêu chính trị của Trung Quốc đằng sau những sáng kiến này
Về chính trị, ngoại giao láng giềng là công cụ để Trung Quốc thiết lập khu
vực ảnh hưởng riêng, củng cố quyền lực vững chắc ở khu vực và đẩy Mỹ ra xa
hơn Cụ thể: (i) Chính sách ngoại giao láng giềng mới với nhiều sáng kiến, khẩu
hiệu ngoại giao như ―thân, thành, huệ, dung‖ (thân thiện, chân thành, bao dung, hợp tác cùng có lợi) kết hợp với hàng loạt sáng kiến kinh tế… Trung Quốc đang
cố gắng tạo ra một hình ảnh mềm mại, thân thiện và hòa bình cùng với mở rộng
ảnh hưởng và trấn an các nước về sự ―trỗi dậy hòa bình‖ của mình; (ii) Sử dụng
ngoại giao kinh tế kết hợp với điều chỉnh linh hoạt của ngoại giao láng giềng thực hiện chính sách ―chia rẽ‖ và tập hợp lực lượng, từng bước tạo ảnh hưởng chi phối các khu vực láng giềng, phá thế bao vây, kiềm tỏa của Mỹ, ngăn chặn các xu hướng tập hợp lực lượng bất lợi cho Trung Quốc
Về an ninh, ngoại giao láng giềng là tiền đề để Trung Quốc giải quyết các
vấn đề an ninh trong khu vực nhằm tăng cường ảnh hưởng, từng bước chiếm vị
trí ―độc tôn‖ tại khu vực (i) Việc triển khai chính sách ngoại giao láng giềng sẽ
giúp Trung Quốc tập hợp lực lượng, gia tăng sức mạnh, chủ động trong bảo vệ các lợi ích cốt lõi; thiết lập vùng đệm an ninh vững chắc để đối phó và từng bước phá thế bao vây, kiềm tỏa của Mỹ; giải quyết các thách thức an ninh từ các khu vực biên giới có thể tác động vào bên trong Trung Quốc như chủ nghĩa khủng bố
hồi giáo cực đoan (ii) Dùng ảnh hưởng kinh tế và các khẩu hiệu ngoại giao để
làm ―mềm hóa‖ các tranh chấp lãnh thổ, xoa dịu các quan ngại về an ninh của các nước láng giềng có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc, giảm lo ngại của các nước về ―mối đe dọa Trung Quốc‖ trên biển, từng bước ―trói‖ các nước, triệt tiêu sự đối kháng của các nước trong tranh chấp chủ quyền biển đảo
với Trung Quốc (iii) Đối phó và vô hiệu hóa chính sách tập hợp lực lượng ở khu
vực gây bất lợi cho Trung Quốc Đây là lý do buộc Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách ngoại giao láng giềng Hàng loạt các sáng kiến kinh tế kết nối khu
Trang 40vực được đề ra, tăng cường các chuyến thăm và nâng cấp quan hệ song phương, nhiều diễn đàn an ninh là nơi Trung Quốc sử dụng để kêu gọi ―công việc của người Châu Á do người Châu Á đảm trách‖…Ý đồ của Trung Quốc là nhằm từng bước thu hẹp ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực, thách thức vị thế độc tôn của
Mỹ, tiến tới ―hất‖ Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương
Về phạm vi, phương châm, nguyên tắc, qua Đại hội XVIII (2012), Hội nghị
Công tác ngoại giao láng giềng (10/2013), Hội nghị Trung ương 3 - Khóa 18 (11/2013) và Hội nghị công tác Đối ngoại Trung ương Trung Quốc (12/2014),
ngoại giao láng giềng đã được điều chỉnh với những nội dung mới như sau:
Phạm vi láng giềng được mở rộng, từ 14 nước biên giới trên bộ (Triều Tiên,
Nga, Mông Cổ, Kazakhtan, Afghanistan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Pakistan, Ấn
Độ, Nepal, Butan, Myanma, Lào và Việt Nam), thành 20 nước trên bộ và trên biển (thêm 6 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines); thậm chí, giới nghiên cứu quốc tế còn cho rằng Trung Quốc đang
mở rộng biên giới theo khái niệm ―đại chu biên‖, bao trùm cả Trung Á, Châu Úc
và Nam Thái Bình Dương Về phương châm, cơ bản của ngoại giao láng giềng
được Trung Quốc đưa ra là ―kiên trì thân thiện, làm bạn và đối tác tốt với láng giềng‖, kiên trì quan điểm ―mục lân, an lân, phú lân‖7 và làm nổi bật ―thân, thành, huệ, dung‖; về bản chất, là dùng các chính sách, biện pháp, thủ đoạn để láng giềng ―quy phục‖ Trung Quốc Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy phương châm ngoại giao chiến lược khu vực ―đứng vững ở Châu Á-Thái Bình Dương, ổn định khu vực xung quanh, tăng cường lòng tin chiến lược với các nước láng giềng‖8
Về nguyên tắc, có ba điểm đáng chú ý: (i) Căn cứ vào ―cong thẳng, đúng sai của
sự việc‖ theo tiêu chí được đo bằng lợi ích của Trung Quốc để quyết sách; ―không nhân nhượng, không đem giao dịch những lợi ích cốt lõi (bảo vệ chủ quyền, an
7
Thân thiện với láng giềng, an ninh với láng giềng, làm giàu với láng giềng
8 Phát biểu của Sở Thụ Long - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược và phát triển, Đại học Thanh Hoa, tại Hội thảo ―Tình hình chiến lược xung quanh và chiến lược với láng giềng của Trung Quốc‖ do Tạp chí ―Quan hệ Quốc tế hiện đại‖ thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế hiện đại Trung Quốc, ngày 10/10/2013 tại Bắc Kinh, Trung Quốc