Phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam từ 2010 đến nay? Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển dịch này? Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh tế, vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn nhất định vừa là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội quốc gia lên một trình độ mới. Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện tại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quôc gia trong một giai đoạn dài, cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch của nó cần phải được xem xét tổng quát để rút ra các ưu nhược điểm, phát hiện các điểm mạnh, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý hiệu quả của nhà nước nện kinh tế của nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Nếu trước đây Nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và chiếm một tỷ lệ lao động vào nông nghiệp rất lớn, thì nay nền kinh tế của ta đã có sự phát triển đồng đều hơn, tỷ trọng Công nghiệp và Dịch vụ trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân đã chiếm một khối lượng đáng kể và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Tuy nhiên sự chuyển dịch kinh tế cần phải có những chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, theo các xu hướng : Chuyển dịch cơ cấu nghành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ. Trong phạm vi chương trình được tiếp cận chúng tôi xin trình bày những nét cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam. I. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hưu cơ tương đối ổn định hợp thành. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự phát triển không đều giữa các ngành, các lĩnh vực, bộ phận… Nơi nào có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng. Ngược lại nơi nào có tốc độ phát triển chậm hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ giảm tỷ trọng. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là sự chuyển dịch sang một cơ cấu kinh tế có khả năng tái sản xuất mở rông cao, phản ánh được năng lực khai thác, sử dụng các nguồn lựcvà phải phù hợp với các quy luật, các xu hướng của thời đại. II. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam từ 2010 đến nay: 1. Tình hình kinh tế năm 2010: Kinh tế việt nam năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và có những chuyển biến tích cực. Song, nhìn chung chưa thực sự ổn định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong nước, thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư. Năm 2010 là năm có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng, đây là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tếxã hội 5 năm 20062010 và Chiến lược phát triển kinh tếxã hội 10 năm 20012010. Chính trong bối cảnh như vậy nên từ đầu năm, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách cùng các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể, trong đó trọng tâm và trực tiếp là Nghị quyết số 03NQCP ngày 15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18NQCP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ với mục đích : + Ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tếxã hội năm 2010. + Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tếxã hội năm 2010 là: “Nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh” 2.Kinh tế 20112013: Những thay đổi của tình hình kinh tế trong và ngoài nước đã làm cho các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch kinh tế xã hội chủ yếu của kế hoạch 5 năm 20112015 trở nên khá cao. Ở trong nước, những kinh nghiệm tích lũy được sau hơn 20 năm đổi mới đã bảo đảm kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng kinh tế khác (bình quân đạt 7,3% thời kỳ 20012010), GDP năm 2010 gấp 2 lần năm 2000, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh và đã hoàn thành hầu hết mục tiêu Thiên niên kỷ cam kết với quốc tế, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững... Thế nhưng, ngay sau khi Đại hội XI bế mạc (1912011), tình hình kinh tế đã nhanh chóng xuất hiện những dấu hiệu bất ổn. Những yếu kém vốn có của nền kinh tế cùng những nhiệm vụ của đổi mới thể chế chưa được giải quyết dồn tích lại từ nhiều năm trước đã bộc lộ ra một cách gay gắt, đòi hỏi phải được giải quyết một cách hệ thống, căn bản và cấp bách. Trên bề mặt của đời sống kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng của năm 2011 đã tăng lên 1,5 lần so với mức lạm phát của năm trước (từ mức 11,75% của năm 2010 lên 18,13%).Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, trực tiếp gây ra tình trạng rủi ro, bất ổn đe dọa hệ thống ngân hàng. Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng cao hơn trước… Kinh tế thế giới cũng xuất hiện nhiều diễn biến xấu, lạm phát tăng, giá dầu thô, nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, lương thực, thực phẩm trên thị trường tiếp tục tăng cao. Sau khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008, kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo. Trước tình hình thực tế như vậy, phản ứng trong chính sách điều hành kinh tế cũng đã rất nhanh nhạy, kịp thời. Ngay trong tháng 22011, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 11NQCP, chuyển trọng tâm điều hành chính sách sang “tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội”.Quan điểm chỉ đạo này được khẳng định tại Kết luận số 02KLTW ngày 1632011 của Bộ Chính trị là: “Tập trung ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát; ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội; coi đây vừa là nhiệm vụ cấp bách ngắn hạn của năm 2011, vừa là nhiệm vụ quan trọng của một vài năm tiếp theo”. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI (102011) đánh giá các giải pháp, chính sách này là ”đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước” và xác định: “Trong năm 2012 và những năm tiếp theo, tiếp tục... ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế”. Trên tinh thần chỉ đạo này, trong 3 năm qua, kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội về đại thể như sau: Về tăng trưởng kinh tế Theo giá so sánh năm 2010, GDP năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng 5,25% và năm 2013 tăng 5,42%. Bình quân 3 năm, GDP tăng 5,6%năm. Tuy chưa đạt kế hoạch đề ra ban đầu cũng như chỉ tiêu đã điều chỉnh, song đây là mức tăng có thể chấp nhận được và có phần cao hơn chút ít so với mức bình quân của các nước ASEAN (5,1%năm trong thời kỳ 20112013, theo IMF). Tuy nhiên, điều rất lo ngại là, khu vực sản xuất vật chất có xu hướng giảm dần tốc độ tăng trưởng (Bảng 1). Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn ăm GDP Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
BỘ MÔN: KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
Phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam từ 2010 đến nay? Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển dịch này?
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh tế, vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn nhất định vừa là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội quốc gia lên một trình độ mới Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện tại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quôc gia trong một giai đoạn dài, cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch của nó cần phải được xem xét tổng quát để rút ra các ưu nhược điểm, phát hiện các điểm mạnh, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý hiệu quả của nhà nước nện kinh tế của nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ Nếu trước đây Nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và chiếm một tỷ lệ lao động vào nông nghiệp rất lớn, thì nay nền kinh tế của ta
đã có sự phát triển đồng đều hơn, tỷ trọng Công nghiệp và Dịch vụ trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân đã chiếm một khối lượng đáng kể và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước Tuy nhiên sự chuyển dịch kinh tế cần phải
có những chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, theo các xu hướng : Chuyển dịch cơ cấu nghành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ Trong phạm vi chương trình được tiếp cận chúng tôi xin trình bày những nét cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam
I Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷtrọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hưu cơ tương đối ổn định hợp thành
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự phát triển không đều giữa cácngành, các lĩnh vực, bộ phận… Nơi nào có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ pháttriển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng Ngược lại nơi nào có tốc độ pháttriển chậm hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ giảm tỷ trọng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là sự chuyển dịch sang một cơ cấu kinh tế
có khả năng tái sản xuất mở rông cao, phản ánh được năng lực khai thác, sử dụngcác nguồn lựcvà phải phù hợp với các quy luật, các xu hướng của thời đại
II Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam từ 2010 đến nay:
1 Tình hình kinh tế năm 2010:
Trang 3Kinh tế việt nam năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và có những chuyển biến tích cực Song, nhìn chung chưa thực sự
ổn định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta Ở trong nước, thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư
Năm 2010 là năm có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng, đây là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược pháttriển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010
Chính trong bối cảnh như vậy nên từ đầu năm, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách cùng các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể, trong đó trọng tâm và trực tiếp là Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày
15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ với mục đích :
+ Ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010
+ Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát của Kếhoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 là: “Nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh”
Thế nhưng, ngay sau khi Đại hội XI bế mạc (19/1/2011), tình hình kinh tế
đã nhanh chóng xuất hiện những dấu hiệu bất ổn Những yếu kém vốn có của nền
Trang 4kinh tế cùng những nhiệm vụ của đổi mới thể chế chưa được giải quyết dồn tích lại từ nhiều năm trước đã bộc lộ ra một cách gay gắt, đòi hỏi phải được giải quyết một cách hệ thống, căn bản và cấp bách Trên bề mặt của đời sống kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng của năm 2011 đã tăng lên 1,5 lần so với mức lạm phát của năm trước(từ mức 11,75% của năm 2010 lên 18,13%).Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, trực tiếp gây ra tình trạng rủi ro, bất
ổn đe dọa hệ thống ngân hàng Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng cao hơn trước… Kinh tế thế giới cũng xuất hiện nhiều diễn biến xấu, lạm phát tăng, giá dầu thô, nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, lương thực, thực phẩm trên thị trường tiếp tục tăng cao Sau khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm
2008, kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo
Trước tình hình thực tế như vậy, phản ứng trong chính sách điều hành kinh
tế cũng đã rất nhanh nhạy, kịp thời Ngay trong tháng 2/2011, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 11/NQ-CP, chuyển trọng tâm điều hành chính sách sang “tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội”.Quan điểm chỉ đạo này được khẳng định tại Kết luận số 02-KL/TW ngày 16/3/2011 của Bộ Chínhtrị là: “Tập trung ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát; ổn định kinh tế vĩ
mô và bảo đảm an sinh xã hội; coi đây vừa là nhiệm vụ cấp bách ngắn hạn của năm 2011, vừa là nhiệm vụ quan trọng của một vài năm tiếp theo” Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI (10/2011) đánh giá các giải pháp, chính sách này là ”đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước” và xác định: “Trong năm 2012 và những năm tiếp theo, tiếp tục ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế”
Trên tinh thần chỉ đạo này, trong 3 năm qua, kết quả thực hiện các nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội về đại thể như sau:
Về tăng trưởng kinh tế
Theo giá so sánh năm 2010, GDP năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng 5,25% và năm 2013 tăng 5,42% Bình quân 3 năm, GDP tăng 5,6%/năm Tuy chưa đạt kế hoạch đề ra ban đầu cũng như chỉ tiêu đã điều chỉnh, song đây là mức tăng có thể chấp nhận được và có phần cao hơn chút ít so với mức bình quân của các nước ASEAN (5,1%/năm trong thời kỳ 2011-2013, theo IMF) Tuy nhiên, điều rất lo ngại là, khu vực sản xuất vật chất có xu hướng giảm dần tốc độ tăng trưởng (Bảng 1)
Trang 5Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn
ă
m
GDP
Nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịc
h vụ2
011
6,24
32
012
5,25
2
013
5,42
Nguồn: Tổng cục Thống kê
2. Triển vọng kinh tế Việt Nam 2014-2015:
Triển vọng kinh tế Việt Nam 2014-2015 gắn liền với £nhiệm vụ dài hạn mà các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu kinh tế được thực hiện để tạo ra được mô hình tăng trưởng mới Theo cách tiếp cận này, nền kinh tế đang phải đối mặt với một số những thách thức mới như sau:
- Một là, thách thức của việc phục hồi và nâng cao tốc độ tăng trưởng
- Hai là, thách thức của việc bảo đảm những nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược
- Ba là, thách thức của việc tạo ra mô hình tăng trưởng mới từ việc duy trì ổnđịnh kinh tế vĩ mô
- Bốn là, thách thức của bước chuyển giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Năm là, thách thức của việc giải quyết mối quan hệ giữa ổn định để phát triển và phát triển để ổn định
3 Tình hình kinh tế-xã hội năm 2016-2020:
Trang 6Năm 2016, năm đầu cả nước thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo, tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm mạnh, hoạt động của thị trường hàng hóa kémsôi động, giá cả hàng hóa thế giới ở mức thấp đã ảnh hưởng đến kinh tế nước ta, nhất là hoạt động xuất nhập khẩu và thu ngân sách Nhà nước Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ dấu hiệu khởi sắc của năm 2015, kinh tế nước ta đối mặt vớinhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu Rétđậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc, tình trạng hạn hán tại Tây Nguyên, Nam Trung
Bộ và xâm nhập mặn nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long, bão lũ và sự cố môi trường biển tại các tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất và đời sống nhân dân
Trước tình hình đó, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, địa phương tậptrung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016 Đồng thời, ban hành hàngloạt các Nghị quyết để chỉ đạo, giải quyết những vấn đề cấp bách, khắc phục khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái như: Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
Trang 7Tóm lại:Giai đoạn từ 2001-2010 GDP tăng bình quân 7,26%/năm Giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 6%/năm
Tính chung cho cả giai đoạn GDP tăng bình quân gần 7%, trong đó có tới 20 năm liên tục GDP tăng bình quân 7,43% Đến năm 2016, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 217 tỷ USD
Trang 8Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh chóng theo mục tiêu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa Ảnh: Minh Hoàng
Việt Nam đang đứng thứ 6 tại Đông Nam Á và top 50 nền kinh tế quy mô nhất thế giới Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2.200 USD (tương đương 48,6 triệu đồng/năm), trở thành một nước có thu nhập trung bình khá của thế giới
* Tăng trưởng kinh tế:
a Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước:
Trang 9Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 ước tính tăng 6,21% so với năm
2015, trong đó quý I tăng 5,48%; quý II tăng 5,78%; quý III tăng 6,56%; quý IV tăng 6,68% Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,68% của năm 2015
và không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% đề ra, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, giá cả và thương mại toàn cầu giảm, trong nước gặp nhiều khó khăn dothời tiết, môi trường biển diễn biến phức tạp thì đạt được mức tăng trưởng trên là một thành công, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giảipháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa
phương cùng thực hiện
Trong mức tăng 6,21% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,36%, thấp nhất kể từ năm 2011 trở lại đây; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,57%, thấp hơn mức tăng 9,64% của năm trước,; khu vực dịch vụ tăng 6,98%
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp có mức tăng cao nhất với 6,11%, nhưng do chiếm tỷ trọng thấp.Ngành nông nghiệp với quy mô trong khu vực lớn nhất (khoảng 75%) chỉ tăng thấp ở mức 0,72%,; ngành thủy sản tăng 2,80% Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm nay gặp nhiều khó khăn do diễn biến bất lợi của thời tiết, rét đậm, rét hại đầu năm tại các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ; hạn hán, xâm nhập mặn tại khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; liên tục những đợt lũ trong các tháng cuối năm tại các tỉnh miền Trung và sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại vùng biển các tỉnh Bắc Trung Bộ đã gây ảnh hưởng lớn tới kết quả sản xuất của khu vực này
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,06% so với năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao
11,90%, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung với 1,83 điểm% Ngành khai khoáng năm nay giảm tới 4,00%, đã làm giảm 0,33 điểm phần trăm mức tăng trưởngchung, đây là mức giảm sâu nhất từ năm 2011 trở lại đây Nguyên nhân chủ yếu do giá dầu thế giới giảm khiến lượng dầu thô khai thác giảm hơn 1,67 triệu tấn so với năm trước; sản lượng khai thác than cũng chỉ đạt 39,6 triệu tấn, giảm 1,26 triệu tấn
Xu hướng ngành công nghiệp chuyển dịch sang lĩnh vực chế biến, chế tạo, giảm sự phụ thuộc vào ngành khai khoáng là điều cần thiết vì Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững hơn Ngành xây dựng tăng trưởng khá với tốc độ 10,00%,
Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 8,28% so với năm 2015; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng
Trang 107,79%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản được cải thiện hơn với mức tăng 4,00%, cao hơn mức tăng 2,96% của năm trước, đóng góp 0,21 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống năm nay có mức tăng trưởng khá cao 6,70% so với mức tăng 2,29% của năm 2015, đóng góp 0,25 điểm phần trăm vàomức tăng trưởng chung
Về cơ cấu nền kinh tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm
tỷ trọng 16,32%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,72%; khu vực dịch vụ chiếm 40,92%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,04% (Cơ cấu tương ứng của năm 2015 là: 17,00%; 33,25%; 39,73%; 10,02%)
Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2016, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,32% so vớinăm 2015, đóng góp 5,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 4,81 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 9,71%,đóng góp 3,08 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 2,16 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung
b Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong năm 2016 gặp nhiều khó khăn dotác động của biến đổi khí hậu và thời tiết khắc nghiệt: Rét đậm, rét hại đầu năm tại các tỉnh phía Bắc; mưa, lũ ở miền Trung; tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và
sự cố môi trường biển xảy ra tại 4 tỉnh miền Trung Giá trị sản xuất nông, lâm
nghiệp và thủy sản năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 870,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,44% so với năm 2015, bao gồm: Nông nghiệp đạt 642,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,79%; lâm nghiệp đạt 28,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,17%; thủy sản đạt 200 nghìn
Trang 11nên sản lượng đạt 19,4 triệu tấn, giảm 1,3 triệu tấn Sản xuất lúa đông xuân năm nay giảm so với vụ đông xuân trước cả về diện tích, năng suất và sản lượng chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết rét buốt, băng giá tại các tỉnh phía Bắc và tình trạng hạn hán,xâm nhập mặn tại các tỉnh phía Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long Diện tích gieo cấy lúa hè thu và thu đông đạt 2,8 triệu ha, tăng 23,9 nghìn ha so với năm trước; năng suất đạt 53,5 tạ/ha, giảm 0,6%; sản lượng đạt 15 triệu tấn, tăng 34 nghìn tấn so với năm 2015 Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước đạt 1,9 triệu ha, giảm 33,5 nghìn ha so với vụ mùa năm trước do khu vực miền Bắc bị ảnh hưởng thời tiết hạn hán, thiếu nước đầu vụ; một số tỉnh phía Nam phải chuyển đổi mùa vụ
do ảnh hưởng xâm nhập mặn và hạn hán lâu ngày Năng suất lúa mùa năm nay ước tính đạt 48,4 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha so với vụ mùa trước; sản lượng ước tính đạt 9,2 triệu tấn, giảm 243 nghìn tấn Một số địa phương sản lượng lúa mùa giảm mạnh so với năm trước: Kiên Giang giảm 175 nghìn tấn; Vĩnh Phúc giảm 33 nghìn tấn; Bến Tre giảm 25,7 nghìn tấn; Sóc Trăng giảm 19,7 nghìn tấn; Long An giảm 12 nghìn tấn
Kết quả sản xuất một số cây hàng năm khác đạt thấp: Sản lượng khoai lang đạt 1.289,1 nghìn tấn, giảm 46,5 nghìn tấn so với năm trước (diện tích giảm 6,1 nghìn ha); mía đạt 17,2 triệu tấn, giảm 1,2 triệu tấn (diện tích giảm 10 nghìn ha); lạc đạt 441,4 nghìn tấn, giảm 12,7 nghìn tấn (diện tích giảm 8,6 nghìn ha) Sản lượng sắn và đậu tương tăng nhẹ: Sản lượng sắn đạt 10,9 triệu tấn, tăng 192 nghìn tấn (diệntích tăng 2 nghìn ha); đậu tương đạt 147,5 nghìn tấn, tăng 1,1 nghìn tấn (diện tích giảm 6,8 nghìn ha); sản lượng rau các loại đạt 16 triệu tấn, tăng 741 nghìn tấn (diện tích tăng 17,7 nghìn ha)
Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm đạt 2,2 triệu ha, tăng 16,2 nghìn ha
so với năm 2015, trong đó một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đang có xu hướng phá bỏ cây cao su già cỗi, chuyển đổi sang trồng tiêu và một số cây trồng khác Diện tích trồng cây cao su năm 2016 ước tính đạt 976,4 nghìn ha, giảm 0,9%
so với năm trước; sản lượng đạt 1.032,1 nghìn tấn, tăng 1,9%; hồ tiêu diện tích đạt 124,5 nghìn ha, tăng 22,5%, sản lượng đạt 193,3 nghìn tấn, tăng 9,4%; cà phê diện tích đạt 645,4 nghìn ha, tăng 0,3%, sản lượng đạt 1.467,9 nghìn tấn, tăng 1%; điều diện tích đạt 293 nghìn ha, tăng 0,9%, sản lượng đạt 303,9 nghìn tấn, giảm 13,7% doảnh hưởng thời tiết khô hạn kéo dài, một số khu vực chịu ảnh hưởng của sương mù nên đợt ra bông đầu tiên năm nay bị mất trắng
Cây ăn quả năm nay đạt khá, nhiều nhóm cây có diện và thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định Sản lượng cam năm 2016 đạt 627,1 nghìn tấn, tăng 10,8% so với năm trước; quýt đạt 172,4 nghìn tấn, tăng 6,9%; bưởi đạt 500,3 nghìn tấn, tăng
Trang 126,1%; xoài đạt 724,4 nghìn tấn, tăng 3,1%; chuối đạt 1.977 nghìn tấn, tăng
1,7% Riêng sản lượng nhãn, vải đạt thấp do nhiều cây trồng không mang lại hiệu quả bị chặt bỏ ở miền Bắc và sâu bệnh tại các tỉnh phía Nam; giá bán sản phẩm duy trì ở mức có lợi cho người nuôi Hình thức nuôi chuyển dịch theo hướng từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, liên kết với các doanh nghiệp, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2016, đàn trâu cả nước có 2,5 triệu con, giảm 0,2% sovới cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,5 triệu con, tăng 2,4%, riêng đàn bò sữa đạt 282,9 nghìn con, tăng 2,8%; đàn lợn có 29,1 triệu con, tăng 4,8%; đàn gia cầm
có 361,7 triệu con, tăng 5,8% Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 86,6 nghìn tấn, tăng 1% so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt bò đạt 308,6 nghìn tấn, tăng 3,1%; sản lượng thịt lợn đạt 3,7 triệu tấn, tăng5%; sản lượng thịt gia cầm đạt 961,6 nghìn tấn, tăng 5,9%; sản lượng trứng gia cầm đạt 9.446,2 triệu quả, tăng 6,4%
- Lâm nghiệp
Năm 2016, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 231,2 nghìn ha, giảm 3,9% so với năm 2015, trong đó một số địa phương có diện tích rừngtrồng tập trung giảm nhiều: Hà Giang giảm 8,9 nghìn ha (giảm 40,3%); Tuyên
Quang giảm 3,3 nghìn ha (giảm 24%); Thanh Hóa giảm 2,2 nghìn ha (giảm 17,3%)
Số cây lâm nghiệp trồng phân tán cả năm đạt 154,5 triệu cây, giảm 4,2% so với năm 2015
Sản lượng gỗ khai thác năm 2016 ước tính đạt 9.568 nghìn m3, tăng 10,3% sovới năm trước, trong đó một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 866 nghìn m3, tăng 21,2%; Bắc Giang đạt 501 nghìn m3, tăng 25,3%; Thanh Hóa đạt 499 nghìn m3, tăng 25,4% Sản lượng củi khai thác đạt 27,1 triệu ste, giảm 0,4% so với năm 2015
Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng do thời tiết hạn hán, nắng nóng kéo dài nên tình trạng cháy rừng tiếp tục xảy ra Diện tích rừng bị thiệt hại của cả nước năm 2016 là 4.519 ha, gấp 2,4lần so với năm 2015, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3.320 ha, gấp 3,1 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 1.199 ha, tăng 47,5% Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Điện Biên 969 ha; Sơn La 919 ha; Hà Giang 226 ha; Yên Bái 194 ha; Bình Định 182 ha; Hà Tĩnh 113 ha
- Thủy sản
Sản lượng thuỷ sản năm 2016 ước tính đạt 6.728,6 nghìn tấn, tăng 2,7% so vớinăm trước, trong đó cá đạt 4.843,3 nghìn tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 823,9 nghìn tấn,
Trang 13tăng 3,3%.
Hoạt động nuôi trồng thủy sản những tháng đầu năm gặp khó khăn do thời tiếtthay đổi thất thường, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thị trường xuất khẩu giảm mạnh, giá thu mua sản phẩm không ổn định Những tháng cuối năm, tình hình đã khởi sắc hơn nhưng nhìn chung kết quả nuôi trồng thủy sản cả năm đạt thấp Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2016 ước tính đạt 3.604,3 nghìn tấn, tăng 2,6% so với năm trước, trong đó cá đạt 2.576,8 nghìn tấn, tăng 2,1%; tôm đạt 649,3 nghìn tấn, tăng 3,4%
Nuôi cá tra có tín hiệu tích cực trong những tháng cuối năm nhưng nhìn chungvẫn gặp khó khăn do giá cả và thị trường tiêu thụ chưa thực sự ổn định Diện tích nuôi cá tra công nghiệp năm 2016 ước tính đạt 5.105 ha, giảm 1,2% so với năm trước; sản lượng ước tính đạt 1.143,1 nghìn tấn, tăng 1,3%, trong đó Đồng Tháp đạt 403,4 nghìn tấn, tăng 0,8%, Bến Tre đạt 172,3 nghìn tấn, tăng 1%
Nuôi tôm nước lợ phát triển tương đối tốt trong những tháng cuối năm do thờitiết mưa nhiều làm giảm tình trạng hạn mặn Bên cạnh đó, công tác phòng chống, kiểm soát dịch bệnh được quan tâm thực hiện nên diện tích nuôi và sản lượng thu hoạch đạt khá Diện tích nuôi tôm sú năm 2016 ước tính đạt 571 nghìn ha, tăng 0,1%
so với năm trước; sản lượng đạt 251,7 nghìn tấn, tăng 1% Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng năm 2016 đạt 102,3 nghìn ha, tăng 16,3% so với năm trước; sản lượng đạt 357,6 nghìn tấn, tăng 5%, trong đó Sóc Trăng đạt 85,5 nghìn tấn, tăng 22,9%, CàMau đạt 55,5 nghìn tấn, tăng 5,2%
Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác, đánh bắt thủysản trên biển, giá xăng dầu thấp cùng với dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển đã tạo điều kiện cho ngư dân ra khơi, bám biển dài ngày Tuy nhiên, sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại vùng biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt đã ảnh hưởng đến hoạt động khai thác thủy sản của các tỉnh ven biển miền Trung cũng như của cả nước Năm 2016, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 3.124,3 nghìn tấn, tăng 2,9% so với năm
2015, trong đó cá đạt 2.266,5 nghìn tấn, tăng 2,9%, tôm đạt 174,7 nghìn tấn, tăng 3,3% Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 2.930,8 nghìn tấn, tăng 3,2%, trong đó cá đạt 2.131,3 nghìn tấn, tăng 3,2%, tôm đạt 161,3 nghìn tấn, tăng 3,7%
c Sản xuất công nghiệp:
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Hai ước tính tăng 8,3%
so với cùng kỳ năm trước (tháng Mười Một tăng 8% so với cùng kỳ), trong đó ngànhkhai khoáng giảm 7,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%; sản xuất và phânphối điện tăng 10,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,4%
Trang 14Tính chung cả năm 2016, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,5%
so với năm 2015 (quý I tăng 7,4%; quý II tăng 7,1%; quý III tăng 7,1%; quý IV ước tính tăng 8,2%), thấp hơn nhiều mức tăng 9,8% của năm 2015 và 7,6% của năm
2014 do ngành khai khoáng giảm sút mạnh Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%, đóng góp 7,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm sâu ở mức 5,9%, làm giảm 1,3 điểm phần trăm mức tăng chung
Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo) năm 2016 tăng 5% so với năm trước; sản phẩm phục vụ cho
sử dụng cuối cùng tăng 9,1% (trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 11,4%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 8%) Chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian thấp hơn so với chỉ số sản xuất sản phẩm phục vụ sử dụng cuối cùng cho thấy, sản phẩm trung gian trong sản xuất công nghiệp của nước ta còn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn nhập khẩu
Trong năm 2016, một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng cao
so với năm trước: Sản xuất kim loại tăng 17,9%; dệt tăng 17,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5% Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,2%; khai khoáng khác tăng 2,2%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 1,2%; khai thác than cứng và than non giảm 2,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 8,0% (do giá dầu thế giới ở mức thấp, kế hoạch khai thác dầu thô năm nay chỉ bằng 89% mức thực hiện năm 2015)
Trong năm 2016, một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với năm trước: Ti
vi tăng 70%; thép cán tăng 26,8%; ô tô tăng 21,9%; sắt, thép thô tăng 20,5%; thức ăncho gia súc tăng 18,3%; xi măng tăng 14,4%; sữa bột tăng 13,3% Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thuốc lá điếu tăng 3,5%; giày, dép da tăng 2,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 0,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 2,6%; than đá giảm 3,1%; phân ure giảm 5,8%; đường kính giảm 8,3%; dầu thô khai thác giảm 9,9%; phân hỗnhợp NPK giảm 10,6%; điện thoại di động giảm 10,8%
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2016 so với năm 2015 của một số địa
phương như sau: Quảng Nam tăng 30%; Thái Nguyên tăng 24%; Hải Phòng tăng 16,8%; Đà Nẵng tăng 13,1%; Bình Dương tăng 10,3%; Hải Dương tăng 8,9%; ĐồngNai tăng 8,5%; Cần Thơ tăng 8,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,4%; Hà Nội tăng
Trang 157%; Vĩnh Phúc tăng 6,8%; Bắc Ninh tăng 5%; Quảng Ninh tăng 0,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 6,3%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2016 tăng 4% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước Tính
chung 11 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 12,6%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất xe cóđộng cơ tăng 20,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,1%; sản xuất đồ uống tăng 11,9%; sản xuất kim loại tăng 11,9%; sản xuất trang phục tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng
10,6% Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất thiết bị điện tăng 6,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm và sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic cùng tăng 6,1%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,2%; sản xuất thuốc, hóa dược
và dược liệu tăng 2,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 2,7%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 1,4%
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm
01/12/2016 tăng 8,1% so với cùng thời điểm năm trước, là mức tồn kho thấp nhất trong nhiều năm qua (cùng thời điểm năm 2015 tăng 9,5%), trong đó một số ngành
có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,5%; dệt tăng 6%; sản xuất trang phục giảm 1,5%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 4,3%; sản xuất thiết bị điện giảm 7,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 9,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 10%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 13%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 27,5% Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuấtgiấy và sản phẩm từ giấy tăng 117,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 93,5%; sản xuất đồ uống tăng 40,4%; sản xuất sản phẩm
từ khoáng phi kim loại khác tăng 26,5%
Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 11 tháng năm 2016 là 66,1% (cùng kỳ năm trước là 72,3%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) là
125,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu là 112,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 108,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm 84,9%
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2016 tăng 2,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,8%; doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,9% Tại thời điểm trên, số lao độngđang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 6,9% so với cùng
Trang 16thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,5%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 1,3%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng2,3%.
Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2016 so vớicùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 13,9%; Bắc Ninh tăng 8,1%; Bình Dương tăng 7,9%; Vĩnh Phúc tăng 6,6%; Đồng Nai tăng 4,1%; Đà Nẵng tăng 3,1%; Hải Dương tăng 2,2%;
Hà Nội tăng 1,5%; Quảng Nam tăng 1,1%; Cần Thơ tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,3%; Thái Nguyên tăng 0,2%; Quảng Ninh giảm 1,9%
Nhìn chung, tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2016 chủ yếu dựa vào ngànhchế biến, chế tạo với mức tăng khá cao; tình hình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, tồn kho ở mức thấp nhất trong nhiều năm vừa qua Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp nước ta vẫn chủ yếu về bề rộng (tăng số doanh nghiệp, tăng vốn đầu tư và thu hút lao động), trong khi năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn hạn chế
d Hoạt động của doanh nghiệp:
- Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2016 cho thấy: Có 80,6% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV ổn định và tốt hơn quý trước (có 41,2% số doanh nghiệp đánh giá tốt lên; 39,4% số doanh nghiệp đánh giá ổn định), trong khi 19,4% số doanh nghiệp đánh giá còn gặp khó khăn Dự báo trong quý I/2017, có 81,1% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định
và tốt lên, trong đó có 42,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 38,5%
số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 18,9% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn
Về khối lượng sản xuất, có 43,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV năm nay tăng so với quý trước; 20,1% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 36,7% số doanh nghiệp cho rằng ổn định Trong quý I/2017, có 43,3% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên
so với quý IV/2016; 18% số doanh nghiệp dự báo giảm và 38,7% số doanh nghiệp
Trang 17quý IV/2016, có 39,3% số doanh nghiệp dự kiến có số đơn đặt hàng cao hơn; 16,7%
số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 44,0% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định
Về đơn đặt hàng xuất khẩu, có 30,6% số doanh nghiệp cho biết số đơn hàng xuất khẩu quý IV năm nay cao hơn quý trước; 18,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 51,1% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định Xu
hướng quý I/2017 so với quý IV/2016, có 34,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 16,8% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 48,4% số doanh nghiệp dự kiến ổn định
Về chi phí sản xuất,có 23,1% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý IV năm nay tăng so với quý trước; 9% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 67,9% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định Xuhướng trong quý I/2017, có 19,8% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng
so với quý IV/2016; 10% số doanh nghiệp cho rằng chi phí giảm và 70,2% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định
Về giá bán sản phẩm, quý IV năm nay so với quý trước, có 15,7% doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 10% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn
và 74,3% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định Dự kiến giá bán sản phẩm quý I/2017 so với quý IV/2016, có 16,3% số doanh nghiệp cho rằng giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 7,9% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,8% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định
Về tình hình tồn kho thành phẩm, có 18,7% số doanh nghiệp có lượng tồn khoquý IV năm nay tăng so với quý trước; 34,2% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 47,1% số doanh nghiệp giữ ổn định Xu hướng quý I/2017 so với quý
IV/2016, có 15,6% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 33% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 51,4% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định
Về tồn kho nguyên vật liệu, quý IV/2016 so với quý trước, có 17,9% số doanhnghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 31,9% số doanh nghiệp cho là giảm và 50,2% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên Dự kiến quý I/2017 so với quý IV/2016, có 14,4% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 31,2% doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho giảm và 54,4% số doanh nghiệp dự báo
sẽ không có biến động về tồn kho nguyên vật liệu
Về sử dụng lao động, quý IV năm nay so với quý trước, có 16,9% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 12,1% số doanh nghiệp khẳng định giảm
và 71% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định Xu hướng sử dụng lao động trong quý
Trang 18I/2017, có 88,8% số doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng hoặc giữ ổn định quy mô lao động
so với quý IV/2016 và 11,2% số doanh nghiệp dự báo giảm quy mô lao động
e Hoạt động dịch vụ:
- Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 ước tính đạt 320,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 241,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8%
và tăng 9,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 38,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%
và tăng 13,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% và tăng 26,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 36,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3% và tăng 8,6%
Tính chung cả năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.527,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với năm trước (Năm
2015 tăng 9,8%), nếu loại trừ yếu tố giá thì còn tăng 7,8%, thấp hơn mức tăng 8,5% của năm trước do sức mua không biến động lớn, trong khi giá tiêu dùng năm nay tăng cao hơn so với năm 2015
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2016 ước tính đạt 413,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng mức và tăng 10,7% so với năm 2015, trong đó 6 tháng cuối năm doanh thu tăng mạnh (quý III tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước; quý IV tăng 16,7%) nhờ chính sách thu hút khách du lịch được cải thiện nên lượng khách quốc tế đến nước ta trong những tháng cuối năm tăng cao Một số địa
phương có doanh thu tăng khá: Bình Dương tăng 17,7%; Bình Thuận tăng 17,1%; Hải Phòng tăng 16%; Hà Nội tăng 13,7%; thành phố Hồ Chí Minh
tăng 8,4% Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 34,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tổng mức và tăng 12% so với năm trước, trong đó doanh thu Bà Rịa - Vũng Tàu tăng13,8%; Quảng Ninh tăng 13,6%; Kiên Giang tăng 13,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,6%; Hà Nội tăng 11,1%
Doanh thu dịch vụ khác năm nay ước tính đạt 403,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% tổng mức và tăng 9,3% so với năm 2015 Một số địa phương có doanh thu tăng: Quảng Ninh tăng 15,7%; Bắc Ninh tăng 13,6%; Hưng Yên tăng 8%; Hà Giang tăng 7,3%; Hải Phòng tăng 2,5% Tuy nhiên có một số địa phương doanh thu giảm
so với năm trước: Lào Cai giảm 1,5%; Hòa Bình giảm 7,1%; Hà Tĩnh giảm 15,1%
- Vận tải và viễn thông
Vận tải hành khách tháng 12 ước tính đạt 307,5 triệu lượt khách, tăng 9,2%
so với cùng kỳ năm trước và 14,6 tỷ lượt khách.km, tăng 9% Tính chung cả năm
Trang 192016, vận tải hành khách đạt 3.620,5 triệu lượt khách, tăng 9,6% so với năm trước
và 171,3 tỷ lượt khách.km, tăng 11%,
Vận tải hàng hóa tháng 12 ước tính đạt 114,9 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng
kỳ năm trước và 21 tỷ tấn.km, tăng 4,9
Trong năm 2016, doanh thu lĩnh vực viễn thông ước tính đạt 381,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6% so với năm 2015
- Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Hai ước tính đạt 897,3 nghìn lượt người, trong đó khách đến từ châu Á giảm 1,6% và tăng 20,8%; từ châu Âu giảm 17,3% và tăng 15,2%; từ châu Mỹ giảm 2% và tăng 8,1%; từ châu Phi tăng 41,3% và tăng 32,5%; từ châu Úc tăng 8,3% và giảm 4,1%
Trong năm 2016, với các chính sách, nỗ lực thu hút khách du lịch được triển khai như miễn thị thực cho công dân 5 nước Tây Âu, tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, ứng dụng công nghệ mạng e-marketing, triển khai chương trình quảng bá du lịch trên truyền hình, phương tiện truyền thông, đại chúng, lần đầu tiên Việt Nam đón trên 10 triệu lượt khách quốc tế, gấp 2 lần lượng khách quốc tế đến nước ta năm 2010
Trong năm 2016, khách đến từ châu Âu đạt 1.617,4 nghìn lượt người, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 434 nghìn lượt người, tăng 28,1%; Vương quốc Anh 254,8 nghìn lượt người, tăng 19,8%; Pháp 240,8 nghìn lượt người, tăng 13,8%; Đức 176 nghìn lượt người, tăng 18,1%;
* Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát:
a Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm:
Tính đến thời điểm 20/12/2016, tổng phương tiện thanh toán tăng 16,47% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 13,55%), mặc dù tăng cao hơn so với cùng kỳ nhưng tổng phương tiện thanh toán chưa tạo sức ép lên lạm phát, lạm phát
cơ bản ổn định Cũng tính đến thời điểm trên, huy động vốn của các tổ chức tín dụngtăng 16,88% (cùng kỳ năm 2015 tăng 13,59%), giúp các tổ chức tín dụng ổn định thanh khoản, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế và đảm bảo tỷ
lệ tín dụng/huy động ở mức an toàn; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt
16,46% cho thấy khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp tương đối tốt và thu nhập lãi của các ngân hàng có sự cải thiện tích cực
Lãi suất huy động hiện nay tương đối ổn định Lãi suất huy động bằng đồng
Trang 20Việt Nam phổ biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4%-7,2%/năm Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-7%/năm đối với ngắn hạn, 9%-10%/năm đối với trung và dài hạn Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài hạn Nhìn chung, cơ cấu tín dụng đang tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
Thị trường bảo hiểm năm 2016 duy trì tăng trưởng tích cực Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính tăng 22,1% so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 30,5%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 12,5%
Tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc trong bảo hiểm phi nhân thọ ước tính 32,98% (cùng kỳ năm 2015 là 41,47%)
b Xây dựng, đầu tư:
tỷ đồng, chiếm 87,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 53,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,9% Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 428,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,3%; công trình nhà không để ở đạt 188,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,3%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 344,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,6%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 128,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8%
Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất xây dựng năm 2016 ước tính tăng 10,1% so với năm 2015, bao gồm: Khu vực Nhà nước tăng 1,7%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 12,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 10,9% do một số dự
án có vốn đầu tư lớn đã kết thúc giai đoạn xây dựng hoặc hoàn thành đi vào hoạt động sản xuất như các công trình ở khu công nghiệp Formosa Hà Tĩnh, Công ty Điện tử Samsung Vina Thái Nguyên Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xâydựng công trình nhà ở tăng 13,6%; công trình nhà không để ở giảm 2,5%; công trình
kỹ thuật dân dụng tăng 13,1%; hoạt động xây dựng chuyên dụng tăng 11,8%