1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tiến sĩ lịch sử đảng bộ tỉnh nghệ an lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2015

215 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng 1996 - 2015 139 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC... * Phạm vi

Trang 1

bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ

rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học

đã được công bố.

Tác giả luận án

Hoàng Văn Vân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 121.2 Khái quát kết quả các công trình khoa học đã được công bố

và những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết 28

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ

TỈNH NGHỆ AN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG (1996 - 2005) 322.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ

An về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng 322.2 Chủ trương Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy

giá trị các di tích lịch sử cách mạng (1996 - 2005) 492.3 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo bảo tồn và phát huy giá trị di

Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH

3.1 Những yếu tố mới tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ

An về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng 733.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát

huy giá trị di tích lịch sử cách mạng (2006 - 2015) 823.3 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo bảo tồn và phát huy giá trị di

4.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng (1996 - 2015) 1154.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo

tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng (1996 - 2015) 139

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC

Trang 4

1 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận án

Di tích lịch sử cách mạng là một bộ phận cấu thành hệ thống cácDSVH, nơi lưu dấu ấn những giá trị truyền thống cách mạng vẻ vang củaĐảng, của đất nước và con người Việt Nam; thể hiện một cách sinh động

về các sự kiện cách mạng, nhân cách và vai trò của các anh hùng dân tộc,danh nhân của đất nước; góp phần tô điểm, làm sáng lên truyền thống yêunước, dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam DTLSCM là minhchứng sinh động và sâu sắc về lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ

Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN

Bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM có vai trò quan trọng trongxây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết Hộinghị lần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII xác định: “phải hết sức coitrọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (báchọc và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phivật thể” [9, tr.60] Bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM góp phầntuyên truyền, giáo dục về truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, truyềnthống yêu nước, dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Hệ thốngDTLSCM là nguồn lực cho phát triển KT - XH; nếu được khai thác, sử dụnghiệu quả, hợp lý sẽ góp phần không nhỏ cho phát triển kinh tế đất nước Đây

là yêu cầu cấp thiết khi đất nước cần phát huy tối đa nội lực để phát triển

Nghệ An là một trong những tỉnh in đậm dấu ấn văn hoá - lịch sử của đấtnước trong suốt cả quá trình dựng nước và giữ nước Trên địa bàn tỉnh Nghệ An cónhiều loại hình di tích như: DTLSVH, DTLSCM, di tích kiến trúc nghệ thuật Đây

là những chứng cứ thể hiện cội nguồn, truyền thống và bản sắc văn hoá xứ Nghệ.Trước năm 1996, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 28 DTLSCM cấp quốc gia.Các DTLSCM đã được Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An bước đầu quan tâmbảo tồn và phát huy giá trị Hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích diễn ra nhiều nơi,

Trang 6

do nhiều lực lượng tiến hành Một số DTLSCM đã được đầu tư chống xuốngcấp, phục hồi, tôn tạo ở các mức độ và trình độ khác nhau Tiêu biểu có các ditích Tràng Kè, di tích nghĩa trang liệt sỹ 12/9/1930 Hoạt động tri ân, tưởngniệm, giáo dục truyền thống, nghiên cứu, học tập, tham quan ngoại khóa được tổ chức có nề nếp Các DTLSCM đã và đang trở thành nguồn lực đểphát triển; là nhân tố quan trọng trong giáo dục truyền thống cách mạng, hìnhthành và hoàn thiện nhân cách con người, góp phần xây dựng và phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nghệ An.

Tuy nhiên, nhiều DTLSCM đã và đang xuống cấp nghiêm trọng do tácđộng của thời tiết, khí hậu, các biến cố lịch sử và sự xâm hại của con người;hay trong quá trình tu bổ, tôn tạo lại xảy ra hư hỏng, thất lạc, mất mát và sailệch so với di tích gốc Việc phát huy giá trị gặp nhiều khó khăn, hiệu quảthấp, một số di tích vắng khách tham quan, thiếu người chăm sóc Mức độxâm hại, lấn chiếm di tích ngày càng nghiêm trọng Sự phát triển mạnh củakinh tế thị trường, bên cạnh những mặt thuận lợi mang lại, vẫn còn có nhữngtác động tiêu cực đến việc bảo tồn DTLSCM như: mâu thuẫn giữa nhu cầukhai thác nguyên vật liệu, xây dựng các công trình kinh tế, công trình dândụng, nhà ở… với yêu cầu bảo tồn nguyên vẹn di tích gốc

Giá trị quan trọng của các DTLSCM trên địa bàn cả nước nói chung vàNghệ An nói riêng còn là chứng tích, là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranhtrên mặt trận tư tưởng lý luận hiện nay đối với các thế lực chống phá cáchmạng Việt Nam Các thế lực phản cách mạng vẫn tìm mọi cách xuyên tạc,bóp méo lịch sử; cố tình biện minh cho quá trình xâm lược phi nghĩa của thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ đối với nước ta Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảngcũng như công lao và sự hy sinh lớn lao của các thế hệ cách mạng Việt Namtrong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà Làm suy giảm niềmtin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hướng thế hệ trẻ thờ ơ với giá

Trang 7

trị truyền thống oanh liệt của dân tộc, giá trị của độc lập tự do mà các thế hệcách mạng Việt Nam đã phải hy sinh xương máu mới giành lại được Do vậy,DTLSCM không chỉ có giá trị về lịch sử truyền thống mà còn góp phần quantrọng trong cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng Trước những vấn

đề đặt ra, đòi hỏi phải tăng cường bảo tồn và phát huy DTLSCM của tỉnh vớinhững chính sách và giải pháp phù hợp

Qua quá trình tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tàicho thấy, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH nói chung và DTLSCMnói riêng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý, cán bộ chuyên trách Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vềbảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địaphương theo chuyên ngành khoa học Lịch sử ĐCSVN Đây vẫn là một “khoảngtrống” cần được nghiên cứu

Từ những lý do trên, Tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2015” làm luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huygiá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015; đúc rút kinh nghiệm đểtham khảo, vận dụng vào hiện tại

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Trình bày, luận giải những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộtỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM (1996 - 2015)

- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhNghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015

- Nhận xét, đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ Anlãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM giai đoạn 1996 - 2015

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trịcác DTLSCM

* Phạm vi nghiên cứu:

Di tích lịch sử cách mạng là những di tích thuộc loại hình di tích lịch sửhoặc di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật, nhưng giá trị nổi bật của chúngđược xác định bởi (các di tích đó) hoặc là: Công trình xây dựng, địa điểm gắnvới sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia và của địa phương dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoặc là công trình xây dựng, địa điểmgắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử

có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc địa phương trong cácthời kỳ lịch sử cách mạng, kháng chiến

Di tích lịch sử cách mạng được chia thành 3 loại: di tích quốc gia đặc biệt; di tích quốc gia; di tích cấp tỉnh, thành phố Bảo tồn DTLSCM bao gồm các hoạt động: bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Phát huy giá trị các

DTLSCM là hoạt động khai thác và sử dụng giá trị DTLSCM phục vụ cholợi ích của toàn xã hội; hướng vào việc khai thác các giá trị văn hóa yêunước, truyền thống chống giặc ngoại xâm vào xây dựng và phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội

Nội dung: luận án nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhNghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM cấp Quốc gia từ năm 1996đến năm 2015, không nghiên cứu đối với các di tích quốc gia đặc biệt Khảo sát,nghiên cứu đối với một số di tích quốc gia trọng điểm của tỉnh Nghệ An như: Khulưu niệm Phan Bội Châu, di tích Xô viết Nghệ Tĩnh; Khu lưu niệm Lê HồngPhong, Mộ và nhà thờ Hồ Tùng Mậu, Khu lưu niệm Phùng Chí Kiên, Nhà lưuniệm Phan Đăng Lưu, di tích Truông Bồn, di tích Tràng Kè, đình Võ Liệt

Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An

Trang 9

Thời gian: Từ 1996 đến năm 2015, có mở rộng nghiên cứu trước năm

1996 và sau năm 2015

Tác giả đặt trọng tâm nghiên cứu trong giai đoạn từ 1996 đến năm 2015

vì đây là khoảng thời gian Đảng bộ tỉnh Nghệ An có sự quan tâm, chăm lonhiều hơn cho nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị DLSCM Năm 1991, tỉnhNghệ An được tái lập, giai đoạn 1991 - 1995, UBND tỉnh Nghệ An tập trungkiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, khắc phục những khó khăn trong pháttriển KT - XH, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM chưa đượccoi trọng đúng mức, nhiều di tích bị xuống cấp nghiêm trọng

1, Mốc mở đầu để nghiên cứu là năm 1996, năm Đảng bộ tỉnh Nghệ Antiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV (nhiệm kỳ 1996

- 2000), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV đánhdấu sự quan tâm nhiều hơn của Đảng bộ đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huygiá trị các DTLSVH nói chung và DTLSCM nói riêng

2, Phân kỳ lịch sử 2 giai đoạn nghiên cứu là 1996 2005 và 2006 2015; vì đến thời điểm 2005, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã có chủ trương và sựchỉ đạo khắc phục sự xuống cấp của một số DTLSCM quan trọng, quan tâmđầu tư bảo tồn và phát huy giá trị một số DTLSCM trọng điểm phục vụ chonăm du lịch Nghệ An 2005 Từ năm 2006, Đảng bộ tỉnh Nghệ An có sự điềuchỉnh về chủ trương và chỉ đạo về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCMgắn liền với Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI (Năm 2006)

-3, Mốc thời gian kết thúc để nghiên cứu luận án là năm 2015; Đây làthời điểm kết thúc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lầnthứ XVII (năm 2015), Theo đánh giá của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnhNghệ An lần thứ XVIII, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCMcấp quốc gia trọng điểm trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều thành tựu quantrọng, các di tích tiêu biểu được đầu tư bảo tồn, tôn tạo bằng việc thành lập vàthực hiện dự án Hoạt động phát huy giá trị DTLSCM trong giáo dục truyềnthống cách mạng, phát triển văn hóa, gắn bảo tồn di tích với phát triển du lịchđạt được những kết quả nhất định

Trang 10

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; chủ trương của ĐCSVN về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH;bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH và DTLSCM

* Cơ sở thực tiễn:

Luận án nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhNghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM Khai thác, sử dụng các tài liệuphản ánh sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ tỉnh Nghệ An; các văn kiện của Tỉnh ủy,BTV Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM đượclưu trữ tại phòng Lưu trữ Tỉnh ủy, kho Văn thư - lưu trữ của UBND tỉnh; các báo cáotổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý di tích và danh thắng Nghệ

An về bảo tồn và phát huy giá trị di tích và danh thắng trên địa bàn tỉnh

* Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp chuyên ngành và liênngành, trong đó sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic.Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp tổng hợp,phương pháp thống kê, phương pháp phân kỳ, phương pháp so sánh, phươngpháp khảo sát thực tiễn và phương pháp chuyên gia

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hệ thống, khái quát hóa, phân tích làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo củaĐảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm

1996 đến năm 2015

Đưa ra nhận xét về quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và pháthuy giá trị các DTLSCM (1996 - 2015) trên hai bình diện ưu điểm và hạn chế; làm rõnguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó

Đúc rút những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào lãnh đạo bảotồn và phát huy giá trị các DTLSCM hiện nay

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7 Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), Kết luận, Danh mục các

công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, Danh mục tàiliệu tham khảo và Phụ lục

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

Các tác giả Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá [26] Công trình này đi sâu trình bày về vị trí, tầm quan trọng của

các DTLSVH Các di tích được coi là tài sản quý của quốc gia, là bộ phận di sảnvật thể có vai trò quan trọng trong bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nềnvăn hóa mới Nêu lên thực trạng bảo tồn và khai thác các DTLSVH; trên cơ sở đó

đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị một số DTLSVH tiêu biểunhư: Văn miếu Quốc Tử Giám, Phủ Chủ tịch theo hướng bảo tồn để phát triển

Tác giả Đặng Việt Thủy (Chủ biên), (1996), Di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam [124] Tác giả Dương Văn Sáu (2000) Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Việt Nam [96] Các tác giả trình bày khái niệm và

phân loại các DTLSVH, danh thắng của Việt Nam Giới thiệu về lịch sử hìnhthành và những nét cơ bản về công trình kiến trúc của một số DTLSVH, danhthắng tiêu biểu như: Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, Nghĩa trangTrường Sơn, đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm, tháp Po Klong Garai Ở địa phươngnào cũng có những di tích biểu tượng cho tinh thần yêu nước, bản lĩnh kiêncường của người Việt Nam, nền văn hóa giàu bản sắc của các dân tộc Các tácgiả đã giới thiệu về cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghệ An và Khu lưuniệm Phan Bội Châu ở thị trấn Nam Đàn - Nghệ An Tuy nhiên, mới chỉ giớithiệu sơ bộ về địa điểm và hiện trạng một số công trình chính của các di tích

Tác giả Hoàng Thanh Hải (1999), Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở [57] Trong công trình này tác

giả tập trung luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc sử dụng các

Trang 13

DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở; mối quan

hệ giữa các DTLS với nội dung, chương trình lịch sử dân tộc ở các trườngtrung học cơ sở Đề xuất những hình thức và phương pháp sử dụng các DTLStrong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở

Tác giả Từ Mạnh Lương (2003), nghiên cứu về Một số chính sách và giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích lịch sử văn hóa của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước

[87] Tác giả trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về các chính sách, giảipháp KT - XH trong bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH.Nêu lên thực trạng về một số chính sách và giải pháp KT - XH chủ yếu để bảo tồn,tôn tạo, nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH ở Việt Nam Đưa ra một sốchính sách và giải pháp KT - XH chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, tôn tạo

và khai thác DTLSVH trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Tác giả Đinh Trung Kiên (2003), “Di tích lịch sử và tư liệu lịch sử vớiviệc phát triển du lịch Việt Nam” [79] Tác giả chỉ rõ: DTLS và tư liệu lịch sử

là nguồn tài nguyên du lịch sẵn có và hấp dẫn trong phát triển du lịch Đưa ramột số biện pháp khai thác hiệu quả DTLS và tư liệu lịch sử cho phát triểnkinh tế du lịch Việt Nam Cùng nghiên cứu về vai trò của di tích trong pháttriển du lịch, tác giả Nguyễn Văn Đức (2013) với đề tài: Tổ chức các hoạtđộng du lịch tại một số di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theohướng phát triển bền vững [53] Công trình đã làm rõ cơ sở khoa học tổ chứccác hoạt động du lịch tại các khu DTLSVH; trình bày thực trạng tổ chức cáchoạt động du lịch tại một số DTLSVH quốc gia của Hà Nội; đi sâu khảo sáttại: đền Ngọc Sơn, Văn miếu Quốc tử giám, thành Cổ Loa Tác giả nêu lênbốn quan điểm vừa bảo tồn vừa khai thác bền vững các di tích: Bảo tồn vàphát huy giá trị của DTLS phải bảo đảm tính trung thực lịch sử hình thành ditích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của di tích, phảigiữ nguyên tính nguyên gốc của di tích; khai thác các DTLSVH phải nhằm

Trang 14

phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đối với phát triển KT - XH củađịa phương, của các ngành kinh tế; tạo lập sự hài hòa giữa phát triển kinh tế,quá trình đô thị hóa với bảo vệ các di tích, ngăn chặn tình trạng xâm chiếmđất đai và xây dựng các công trình không phù hợp trong khu vực bảo vệ ditích; nâng cao vai trò quản lý nhà nước, thực hiện xã hội hóa hoạt động bảotồn và phát huy giá trị các di tích Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháphoàn thiện tổ chức các hoạt động du lịch tại một số điểm DTLS tiêu biểu trênđịa bàn thành phố Hà Nội.

Tác giả Khoa Thị Khánh Chi (2010), nghiên cứu về Vi phạm di tích lịch

sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh - thực trạng và giải pháp [21] Công trình này

đã trình bày khái quát chung về DTLSVH và danh lam thắng cảnh; nêu lên thựctrạng những vi phạm di tích, danh thắng trên địa bàn cả nước nói chung và một

số di tích tiêu biểu tại một số địa phương như: chùa Phước Điền (chùa Hang)

An Giang; đền Độc Cước Thanh Hóa; Mộ và đền thờ Trần Quý Khoáng Nghệ An; núi Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị - Lạng Sơn Chỉ rõ nguyên nhâncủa những vi phạm trên Qua đó, tác giả đưa ra 12 giải pháp nhằm hạn chế tối

-đa tình trạng vi phạm các di tích, danh thắng; nâng cao hiệu quả quản lý và bảo

vệ DTLSVH, danh lam thắng cảnh ở nước ta trong thời gian tới Các tác giảQuốc Hiệp, Thu Hằng (2013) nghiên cứu “Về tình hình vi phạm và xử lý viphạm trong hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích thời gian qua” [61] Các tácgiả chỉ rõ: “Việc quản lý hoạt động bảo tồn di tích tại một số địa phương chưachặt chẽ, một số nơi để xảy ra hiện tượng tự ý tu bổ hoặc sơn thếp di tích, divật; không tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng và tu bổ ditích; đưa đồ thờ tự không phù hợp vào di tích…, làm ảnh hưởng đến việc giữgìn yếu tố gốc và tính chất văn hóa tâm linh của di tích” [61, tr.42] Công trình

đã làm rõ một số vi phạm thường xảy ra trong bảo tồn di tích như: xâm phạmkhu vực khoanh vùng bảo vệ và giải tỏa trong khu vực di tích; sai phạm trong tu

bổ, quản lý các hoạt động văn hoá, lễ hội tại các di tích Chỉ ra nguyên nhân của

Trang 15

những vi phạm trên Đề xuất một số giải pháp chủ yếu khắc phục và xử lý viphạm trong hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích.

Tác giả Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam, bản sắc và những vấn đề về quản lý, bảo tồn [116] Nguyễn Đình Thanh, Lê Thị Minh Lý (2008), Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển [111] Các tác giả tập trung luận giải

khái niệm về DSVH và bản sắc riêng có của nó; nêu lên chức năng và phân loạicác DSVH Có sự tham khảo một số kinh nghiệm bảo tồn DSVH ở nước ngoài và

đề xuất phương hướng, giải pháp trong quản lý và bảo tồn các DSVH ở Việt Nam

Nghiên cứu của Ngô Thị Ngà (2013), về “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnhđạo công tác bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 đến năm2010” [89] Tác giả nêu lên thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo DTLSVH ở tỉnhThái Nguyên trước năm 2001 Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng

bộ tỉnh Thái Nguyên về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH (2001 - 2010).Nhận xét, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và đề xuấtmột số kiến nghị về công tác bảo tồn và phát huy DTLSVH trên địa bàn tỉnhThái Nguyên trong thời gian tới Tuy nhiên, Thái Nguyên là tỉnh có số lượng ditích khá lớn với hơn 700 DTLSVH, trong nghiên cứu tác giả có đề cập đến một

số DTLSCM tiêu biểu trên địa bàn tỉnh nhưng chưa đi sâu nghiên cứu về bảo tồn

huy giá trị DSVH Theo tác giả Nguyễn Thu Trang:

Bảo tàng hóa DSVH theo nghĩa rộng là phương pháp tối ưu và hiệnđại nhằm bảo tồn và phát huy DSVH trực tiếp tại điểm di sản tồntại, ngay trong môi trường sinh thái nhân văn nơi di sản được sángtạo ra, hiện đang tồn tại và gắn bó mật thiết với đời sống thường

Trang 16

nhật của cộng đồng cư dân địa phương, các chủ thể sáng tạo vănhoá Môi trường bảo tàng được tạo dựng sau di sản (về thời gian) vàxung quanh di sản (về không gian), còn di sản lại trở thành hiện vậttrưng bày chính của bảo tàng vừa được ra đời [152, tr.97-98]

Tác giả nêu lên những kinh nghiệm thực hiện Bảo tàng hóa các DSVHcủa: Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Ý, Ba Lan Từ đó đề xuất một sốbiện pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các di tích: đẩy mạnh hoạtđộng nghiệp vụ của các di tích; vận dụng lý thuyết cơ bản của Bảo tàng học vàohoạt động chuyên môn tại các di tích hoạt động như một bảo tàng

Tác giả Trần Bá Đồng (2015), “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn vàphát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 1998 đến năm 2013” [50] Côngtrình đã nêu rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh bảo tồn và pháthuy giá trị các DTLSVH từ năm 1998 đến năm 2013; nhận xét và rút ra một sốkinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giátrị các DTLSVH (1998 - 2013) Tác giả đã trình bày khá rõ nét về bảo tồn và pháthuy giá trị các DTLSVH của Hà Tĩnh - địa phương có hơn 300 di tích Nhữngkinh nghiệm rút ra là cơ sở, tiền đề có thể vận dụng trong thực hiện nhiệm vụ bảotồn và phát huy giá trị DTLSVH ở các địa phương trong thời gian tới

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hùng (2015) “Vai trò của cộng đồngtrong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa” [72] Tác giả chỉ rõ trongmấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đãsáng tạo và giữ gìn được một kho tàng DSVH nhiều về số lượng, phong phú

về loại hình và đa dạng trong cách biểu đạt Khối lượng DSVH đó được cácthế hệ người Việt sáng tạo, bảo tồn và trao truyền cho đến ngày nay Có đượcthành quả đó là nhờ cha ông ta đã phát huy được vai trò của cả cộng đồngtrong tham gia bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH Tác giả đưa ra một sốbiện pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và pháthuy giá trị của các DSVH ở nước ta hiện nay

Trang 17

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng của cả nước

Tác giả Trần Tiến Dũng (chủ biên), (1976), Di tích cách mạng Việt Nam (1930 - 1945) [25] Phạm Hồng Châu (2013), Di tích lịch sử cách mạng Việt Nam

[19] Các tác giả đã giới thiệu về DTLSCM trên địa bàn cả nước, trong đó đề cậpmột số DTLSCM tiêu biểu ở Nghệ An: các di tích cơ bản nằm trong khu di tíchKim Liên gắn với thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh [25, tr.11-19];các di tích gắn với lịch sử đấu tranh giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảngnhư: Tràng Kè, đình Võ Liệt (Thanh Chương), đền Thuận Đức (Hưng Nguyên)[25, tr.37-43] Qua đó khẳng định: các DTLSCM là những “địa chỉ đỏ” trong giáodục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau Tuy nhiên, cáctác giả mới chỉ đề cập sơ bộ về địa danh và lịch sử hình thành di tích, chưa đi sâulàm rõ quá trình bảo tồn và phát huy giá trị các di tích này tại các địa phương cũngnhư trên địa bàn cả nước

Tác giả Đỗ Hồng Thái (1996) nghiên cứu về Sử dụng di tích lịch sử cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông: “Đổi mới dạy học lấy

người học làm trung tâm” [110] Công trình đã giới thiệu về khu di tích TânTrào và ý nghĩa của việc sử dụng khu di tích này đối với việc giảng dạy lịch

sử cho học sinh Tác giả khẳng định: “giáo viên có thể sử dụng một cách linhhoạt và rộng rãi nguồn thông tin, tư liệu và giá trị của di tích Tân Trào ở nhiềubài học lịch sử, ở nhiều hình thức tổ chức dạy học với mục đích nâng cao chấtlượng dạy học lịch sử ở các trường phổ thông” [110, tr.239] Nghiên cứu của

tác giả Hoàng Thanh Hải (1999), về Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở [57] Công trình đi sâu làm rõ những vấn đề

lý luận và thực tiễn về sử dụng DTLS trong dạy học lịch sử; ý nghĩa và vai trò của

Trang 18

DTLS đối với dạy học lịch sử ở các trường trung học cơ sở Theo tác giả,DTLSCM có 10 loại hình sau: 1 - Các di tích về phong trào yêu nước từ trước khi

có Đảng, các di tích về Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học; 2 Các di tích về sự ra đời các tổ chức tiền thân của Đảng; 3 - Các di tích về thân thế

-và sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh; 4 - Di tích phản ánh về sự kiện, biến cốlịch sử: Xô viết Nghệ Tĩnh, giai đoạn đấu tranh 1936 - 1939, 1939 - 1945 dưới sựlãnh đạo của Đảng; 5 - Các di tích tiêu biểu của 2 cuộc kháng chiến; 6 - Hệ thống

di tích về căn cứ địa cách mạng: Việt Bắc, Tân Trào, Lộc Ninh, chiến khu D,Đồng Tháp Mười; 7 - Di tích ghi dấu ấn tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹnhư: Côn Đảo, Hỏa Lò, Lao Bảo, Sơn Mỹ; 8 - Hệ thống di tích tưởng niệm, ghi

ơn các lãnh tụ; 9 - Đường giao thông, bến cảng, bến sông như: đường TrườngSơn, đường Hồ Chí Minh trên biển, sông Bến Hải; 10 - Các di tích phản ánh sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Tác giả luận giải mối quan hệ giữa DTLS vớinội dung, chương trình dạy học môn lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở,nêu lên những nguyên tắc sử dụng DTLS trong dạy học Lịch sử ở các trườngtrung học cơ sở; trên cơ sở đó, đề xuất một số hình thức và phương pháp sử dụngcác DTLS trong dạy học lịch sử ở các trường trung học cơ sở

Tác giả Nguyễn Thanh Minh (2004), “Di tích về Hồ Chí Minh ở TháiNguyên” [88] Thái Nguyên là một tỉnh nằm trong An toàn khu (ATK) Việt Bắc,nơi hiện đang lưu giữ nhiều dấu tích quan trọng của Trung ương Đảng, ChínhPhủ và Bác Hồ trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và trong cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp xâm lược Đặc biệt, ATK Định Hóa được coi là Thủ đô củakháng chiến Bài viết đã cung cấp thông tin và giới thiệu sơ bộ về 47 di tích vàđiểm di tích gắn bó với hoạt động của Bác Hồ ở tỉnh Thái Nguyên

Đỗ Đức Hinh (2004), “Cần có cách nhìn lịch sử trong bảo tồn, tôn tạokhu di tích Điện Biên Phủ” [62] Theo tác giả, Khu di tích Điện Biên Phủgồm nhiều di tích, vấn đề bảo tồn cần thống nhất quan điểm trong quy hoạch

và quy hoạch theo từng khu di tích để tạo ra một tập hợp khu di tích liên hoàn

Trang 19

Qua đó, nêu lên những nội dung cần nắm vững trong bảo tồn tôn tạo khu di tíchnày: Một là, cần đặt di tích đúng với ý nghĩa và tầm vóc của nó; Hai là, cần đặt nódưới góc độ một cuộc đụng đầu lịch sử, một trận quyết chiến chiến lược, nơi minhchứng cho nghệ thuật quân sự và sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam;

Ba là, cần đặt di tích trong sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái, môitrường văn hóa nói chung và môi trường văn hóa tây Bắc nói riêng

Tác giả Đỗ Hữu Hà (chủ biên) (2006), Di tích lịch sử cách mạng Thừa Thiên Huế [55] Cuốn sách đã khái quát và phân thành các nhóm về di tích và điểm di tích

theo các thời kỳ cụ thể là: di tích và điểm di tích thời kỳ trước và trong Cách mạngTháng Tám năm 1945; di tích và điểm di tích trong kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược; di tích và điểm di tích trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâmlược Trong đó, đi sâu giới thiệu về địa điểm và sự hình thành của 53 DTLSCM trênđịa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Các DTLSCM trên địa bàn tỉnh thể hiện sự đóng gópcủa Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế trong lịch sử đấu tranh cách mạng dưới sựlãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, công trình mới chỉ giới thiệu sơ bộ về địa điểm cũngnhư sự kiện lịch sử cách mạng gắn với việc hình thành di tích, chưa đi sâu luận giảiđến hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM

Trần Đức Nguyên (2010) “Phát huy giá trị của các di tích lịch sử cáchmạng - kháng chiến trên địa bàn thủ đô Hà Nội” [91] Theo tác giả: Di tíchcách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các DTLSVH,tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng nhưđình, đền, chùa, miếu ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc

có sẵn (nhà ở, đường phố…), những công trình được con người tạo nên phùhợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn với những sự kiện cụthể, nhân vật lịch sử mà trở thành di tích như: Khu di tích Phủ Chủ tịch, Nhà

48 Hàng Ngang, Nhà lưu niệm Vạn Phúc, Hầm chỉ huy Thành ủy ở Võng Thị,

Hồ Hữu Tiệp (nơi máy bay B52 Mỹ bị bắn rơi) Các di tích này vừa khó bảo

Trang 20

tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt Tác giả đãthống kê về các DTLSCM và nêu lên giá trị lịch sử, văn hóa, lưu niệm, giáodục truyền thống của các di tích; đánh giá thực trạng và đề xuất những giảipháp nhằm phát huy hơn nữa giá trị các DTLSCM trên địa bàn thủ đô Hà Nội.

Tác giá Nguyễn Quốc Hùng (2012), “Di tích cách mạng - bằng chứngcủa sự đổi thay” [71] Tác giả đề cập đến quan niệm về DTLSCM trong kho tàngDSVH Việt Nam Theo đó “Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, có mộtloại hình di tích đặc biệt, khi được xếp chung với di tích lịch sử, khi đượctách riêng với xưng danh “di tích cách mạng” [71, tr.3] Loại hình di tíchnày là bằng chứng của một giai đoạn lịch sử, gắn liền với phong trào cáchmạng dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN Đây là giai đoạn lịch sử làm thay đổidiện mạo và nâng cao vị thế của đất nước DTLSCM “là những bằng chứngthể hiện vật chất và tinh thần phản ánh quá trình đấu tranh giành độc lập dântộc (1930 - 1945), cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954),chống đế quốc Mỹ thống nhất đất nước (1954 - 1975), những cuộc chiến bảo

vệ biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam và quá trình xây dựng đất nướcdưới sự lãnh đạo của Đảng” [71, tr.3]

Về thời gian ra đời của các DTLSCM: “Dấu mốc bắt đầu của giai đoạn lịch

sử này có thể được đẩy lên sớm hơn trước khi Đảng ra đời, bắt đầu từ các phongtrào yêu nước cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Chí ít là thời điểm ra đời và hoạtđộng của các tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam” [71, tr.4].Không gian phân bố các DTLSCM trải dài trên khắp đất nước Tác giả nêu lênnhững khó khăn trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình di tíchnày Từ đó khẳng định: các DTLSCM được bảo tồn, giữ gìn và phát huy hiệuquả, phù hợp với truyền thống và thời đại sẽ là những thông điệp, những bằngchứng sinh động có sức thuyết phục đối với các thế hệ Việt Nam

Trang 21

Các tác giả Sông Lam, Bình Minh, Minh Khánh (2012), Địa chỉ đỏ của tuổi trẻ Việt Nam [80] Theo các tác giả: hiện nay, nhiều đoàn viên thanh niên

trong đó có cả học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường “hổng” kiếnthức về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, ít được tiếp cận với các DTLSCM,những “địa chỉ đỏ” ngay chính trên quê hương mình Cuốn sách giới thiệu vềcác DTLSCM như: An toàn khu Định Hóa, Ngã ba Đồng Lộc, Nhà tù Côn Đảo,Thành cổ Quảng Trị, Truông Bồn Qua đó khẳng định giá trị văn hóa, lịch sử;truyền thống cách mạng của các di tích, là nơi góp phần giáo dục truyền thốngđối với toàn thể nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ĐắkNông (2013), Lịch sử di tích cách mạng nhà ngục ĐăkMil (1942 - 1943) [3] Công trình tập trung trình bày về

âm mưu thành lập nhà ngục ĐăkMil của thực dân pháp, tinh thần đấu tranhbất khuất của các chiến sỹ cách mạng tại nhà ngục này Trên cơ sở đó, cầntiếp tục phát huy giá trị di tích nhà ngục ĐăkMil với công cuộc bảo vệ Tổquốc hiện nay Đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích nhàngục ĐăkMil trong thời gian tới như: tổ chức công tác giáo dục, giới thiệu ditích đến các nhà trường, thầy, cô giáo, các em học sinh, phụ huynh; tổ chứctrưng bày, giới thiệu hiện vật, phù hợp với tâm lý, tình cảm của các đối tượngtham quan; khai thác di tích cần làm nổi bật lên những giá trị đặc sắc của ditích; thực hiện có hiệu quả hoạt động phối hợp tuyên truyền, quảng bá trêncác phương tiện thông tin đại chúng; áp dụng những thành tựu khoa học côngnghệ vào bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích; bổ sung các yếu tố cầnthiết để phát huy giá trị của các di tích như: đường giao thông, xây dựngtượng đài, trồng cây xanh

Các tác giả Lưu Đức Thọ, Nguyễn Thị Triều (2013), “Bảo tồn và phát huy

Di tích lịch sử cách mạng ở tỉnh Quảng Trị” [118] Cuộc kháng chiến chống Pháp

và Mỹ đi qua đã để lại cho Quảng Trị nhiều DTLSCM có quy mô và tầm cỡ:Thành cổ Quảng Trị, Sân bay Tà Cơn, Địa đạo Vĩnh Mốc, Nhà lao Lao Bảo…

Trang 22

Các tác giả nêu lên một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM thờigian tới như: công tác kiểm kê, điều tra di tích phải được tiến hành thường xuyên;phát huy giá trị di tích cần chú trọng cả yếu tố vật chất và tinh thần; phân cấp quản

lý chặt chẽ; đẩy mạnh xã hội hóa bảo tồn và phát huy DTLSCM của tỉnh

Tác giả Nguyễn Doãn Tuân (2013), “Pho sử vô giá từ các di tích lịch sửvăn hóa và cách mạng kháng chiến của Thủ đô Hà Nội” [156] Trên địa bànThủ đô không chỉ có về sự phong phú, đa dạng của DTLSVH, mà còn có các ditích cách mạng kháng chiến như: nhà 90 Thợ Nhuộm, 5D Hàm Long, 48 HàngNgang, với các địa đạo Nam Hồng, Hầm Chỉ huy Sư đoàn 361, pháo đài XuânCanh, pháo đài Láng Những di tích cách mạng và kháng chiến là trang sử vẻvang chói lọi của Đảng bộ và nhân dân Thủ đô, của Đảng, Bác Hồ và cả dântộc; góp phần làm nên một bách khoa thư Hà Nội, bản sắc của “Thủ đô Anhhùng”, “Thành phố di sản” thành phố ngàn năm văn hiến

Tác giả Cao Huy Hùng (chủ biên) (2014), Di tích lịch sử văn hóa ở Thừa Thiên Huế [68] Cuốn sách khẳng định tỉnh Thừa Thiên Huế không chỉ có những

DTLSVH trường tồn với bề dày lịch sử, mà còn có các DTLSCM gắn với các sựkiện cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ trong tiến trình cách mạngcủa dân tộc Như Khu di tích Chín Hầm (thuộc phường An Tây, thành phố Huế),Chiến khu Dương Hòa; Địa đạo Khu uỷ Trị Thiên Huế (xã Hương Vân, huyệnHương Trà) Các DTLSCM thể hiện phẩm chất, ý chí, trí tuệ và bản lĩnh cách mạngcủa Đảng bộ và nhân dân xứ Huế Ngày nay, việc bảo tồn, tôn tạo, giới thiệu về giátrị của hệ thống DTLSVH trên địa bàn Huế có ý nghĩa to lớn trong giáo dục truyềnthống, giáo dục những giá trị văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ người Việt Nam Tuynhiên, công trình chưa đi sâu luận giải về quá trình bảo tồn và phát huy giá trị cácDTLSCM dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương

Tác giả Phạm Xuân Thăng (2014) “Phát huy giá trị các di tích lịch sử cáchmạng trên địa bàn tỉnh Hải Dương” [115] Theo thống kê toàn tỉnh Hải Dương có

116 DTLSCM cấp quốc gia và cấp tỉnh Thời gian qua, các DTLSCM đã được

Trang 23

các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân trong tỉnh quan tâm đầu tư, tôn tạo.Tuy nhiên, một tỷ lệ không nhỏ di tích đó đã và đang bị xuống cấp hoặc bị sửdụng sai mục đích hay đã được phê duyệt dự án trùng tu, tôn tạo nhưng chưa đượctriển khai xây dựng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những yêu cầu và biện phápnhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các DTLSCM trên địa bàn tỉnh

Trần Đức Nguyên (2014) nghiên cứu về “Các di tích lịch sử cách mạngtiêu biểu ở tỉnh Bắc Ninh” [92] Tác giả nêu rõ: tỉnh Bắc Ninh là địa phươnggiàu truyền thống lịch sử, đấu tranh cách mạng Truyền thống đó được minhchứng qua hệ thống DTLSVH đa dạng và phong phú, trong đó có cácDTLSCM Các DTLSCM tiêu biểu của tỉnh như: Khu di tích lưu niệm đồngchí Nguyễn Văn Cừ, Khu di tích lưu niệm đồng chí Ngô Gia Tự, Di tích gácnhà cụ Đám Thi - địa điểm được Thường vụ Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc

Kỳ đã chọn làm cơ sở hoạt động cách mạng Ngày nay, những di tích ấy đã

và đang giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần không nhỏtrong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh nóiriêng và nhân dân cả nước nói chung

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở Nghệ An

Tác giả Đoàn Minh Duệ (chủ nhiệm đề tài) (2004), Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh, thiếu niên tỉnh Nghệ An

[24] Tác giả nêu lên khái niệm về truyền thống và các truyền thống đặc trưngcủa con người Nghệ An Khái quát những nét tiêu biểu về thực trạng công tácgiáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên ở Nghệ An Từ đó, đề xuất nhữnggiải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên trênđịa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay Các tác giả khẳng định: quá trình mở cửa, hộinhập quốc tế mang lại nhiều thuận lợi, song cũng đặt ra nhiều thách thức, tiêucực về lý tưởng cách mạng, đạo đức, văn hóa của một bộ phận không nhỏthanh, thiếu niên đang có dấu hiệu suy thoái, xuống cấp Việc lựa chọn và phát

Trang 24

huy những giá trị văn hóa, nhất là truyền thống cách mạng để giáo dục chothanh thiếu niên là yêu cầu bức thiết Theo các tác giả: “di tích lịch sử văn hóa

và cách mạng cung cấp những kiến thức văn hóa, lịch sử, truyền thống cáchmạng của dân tộc và quê hương xứ Nghệ, là cội nguồn để hun đúc lòng tự hàodân tộc, xây dựng bản lĩnh, trí tuệ cho thế hệ trẻ” [24, tr.119] Để nâng caotính hiệu quả giáo dục truyền thống qua sử dụng các di tích; cần đưa chươngtrình tham quan, hoạt động ngoại khóa ở các di tích vào kế hoạch đào tạo củatrường, gắn liền với nội dung, chương trình giảng dạy các môn khoa học xãhội; kết hợp hoạt động tham quan với hoạt động văn nghệ và gặp gỡ, trao đổivới nhân chứng lịch sử Những hoạt động này được tổ chức chu đáo, linh hoạt

sẽ gây được hứng thú và xúc động trong giới trẻ, hun đúc tinh thần ham họchỏi, tự phấn đấu, tự rèn luyện, noi gương các thế hệ cha anh đi trước Côngtrình mới chỉ đề cập tới biện pháp khai thác giá trị của hệ thống DTLSVH nóichung và DTLSCM nói riêng trong giáo dục truyền thống Chưa luận bàn vềquá trình bảo tồn, tôn tạo cũng như việc phát huy giá trị các DTLSCM trongphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nghệ An

Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An (2005), Nghệ An di tích danh thắng

[102] Nghệ An là một trong những địa chỉ văn hóa đặc biệt của cả nước với

hệ thống di tích và danh thắng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại CácDTLSCM trên địa bàn tỉnh là nơi ghi dấu những cơ sở cách mạng, phongtrào đấu tranh của nhân dân Nghệ An dưới sự lãnh đạo của Đảng Hệ thống

di tích Xô viết Nghệ Tĩnh như: mộ các chiến sỹ hy sinh trong ngày12/9/1930 ở Thái Lão - Hưng Nguyên; đình Võ Liệt; cụm di tích làng Đỏ -Hưng Dũng; di tích Tràng Kè; Ngã ba Bến Thủy Các di tích trong khángchiến chống Mỹ như: Truông Bồn, cột Mốc số 0 đường Hồ Chí Minh, HangHỏa Tiễn Các di tích lưu niệm danh nhân như: Khu di tích Phan Bội Châu,

di tích lưu niệm Lê Hồng Phong, Phan Đăng Lưu, Phùng Chí Kiên Cuốnsách cung cấp cho độc giả thông tin sơ bộ về địa điểm, lịch sử hình thành và

Trang 25

tồn tại của các DTLSCM tiêu biểu trên quê hương xứ Nghệ Đây là mộtnguồn lực quan trọng và cần thiết để phát triển KT - XH của tỉnh, là “địa chỉđỏ”, mạnh nguồn nuôi dưỡng và giáo dục những giá trị truyền thống cáchmạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Các tác giả Nguyễn Đức Cường, Phạm Hương Lan, Anh Minh

(2008), Huyền thoại Truông Bồn bản hùng ca thế kỷ XX [23]; Ban tổ chức

kỷ niệm 40 năm chiến thắng Truông Bồn (2008), Truông Bồn chiến công

và huyền thoại [8] Các công trình đã giới thiệu về địa danh Truông Bồn

-là điểm kết nối các huyết mạnh giao thông quan trọng chi viện cho miềnNam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; là địa điểm chiến đấu anh dũng,kiên cường của bao thế hệ thanh niên xung phong Nghệ An, nổi bật là sự

hy sinh của 13 liệt sỹ thanh niên xung phong Di tích Truông Bồn là bảnhùng ca nhằm tri ân các chiến sỹ, liệt sỹ của lực lượng bộ đội, thanh niênxung phong, dân quân tự vệ đã ngã xuống trên mảnh đất này trong sựnghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Di tích Truông Bồn mãi mai làmốc son chói ngời, “địa chỉ đỏ” để giáo dục truyền thống cách mạng chocán bộ, nhân dân, đặc biệt là cho các thế hệ trẻ

Tác giả Nguyễn Xuân Thủy (2010), Di tích Bác Hồ ở Kim Liên

[125] Cuốn sách giới thiệu về 13 di tích lịch sử gắn bó với quê nội, quêngoại, tuổi thơ và hai lần Bác về thăm quê (1957; 1961) Khu di tích KimLiên là một trong những di tích đặc biệt quan trọng gắn với quê hương, giađình, thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tác giả trình bày một sốnét về bảo tồn, tôn tạo khu di tích Kim Liên gắn với phát triển du lịch [125,tr.87-93] Từ góc nhìn mới về quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch,kinh tế, Tỉnh ủy Nghệ An đã chủ trương lập dự án bảo tồn, tôn tạo KhuDTLSVH Kim Liên gắn với phát triển du lịch Dự án còn đi sâu bảo tồn vàphát huy giá trị các DSVH phi vật thể như: hát ví dặm, hát phường vải, đòđưa, lễ hội dân gian… Những giá trị văn hóa gắn bó và tác động sâu sắc

Trang 26

đến nhân cách người dân xứ Nghệ Tuy nhiên, Khu di tích Kim liên đượccông nhận là di tích quốc gia đặc biệt từ năm tháng 5 năm 2012 Phạm vinghiên cứu của luận án đề cập đến các DTLSCM cấp quốc gia, khôngnghiên cứu các di tích cấp quốc gia đặc biệt

Các tác giả Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Trọng Đệ (2011), Văn hóa và con người Xứ Nghệ những bức chân dung [94] Các tác giả luận bàn về truyền

thống văn hóa lâu đời và phong phú của xứ Nghệ, sự đóng góp của văn hóa

xứ Nghệ vào nền văn hóa Việt Nam ngàn năm văn hiến Trong phần nhữngbức chân dung, tác giả đề cập đến một số nhân vật tiểu biểu như: Hồ ChíMinh, Phan Bội Châu, Phùng Chí Kiên những danh nhân văn hóa có vai trò

to lớn trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam Ngày nay, nhữngđịa danh, di tích gắn với cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của những danh nhân

là địa chỉ văn hóa tiêu biểu của địa phương, là minh chứng góp phần bảo vệ

và phát huy giá trị văn hóa cách mạng trong giáo dục truyền thống, lòng yêunước cho nhân dân Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung

Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Nghệ An (2012), Lịch sử Nghệ An, tập 2 (từ năm 1945 đến năm 2005) [150] Cuốn sách giới thiệu

những chặng đường đầy gian lao, thử thách nhưng rất đỗi tự hào của Đảng bộ,chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945đến năm 2005 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Nghệ An là địa phươnggóp sức mình cùng với quân và dân cả nước đi đến toàn thắng mùa Xuân năm

1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Đây là giai đoạn để lại nhiềuDTLSCM ghi nhận tinh thần, ý chí cách mạng kiên trung của bao thế hệ ngườidân Nghệ An trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, là địa chỉ đỏ trong giáo dụctruyền thống cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam

Vũ Thị Thanh Tú (2013), nghiên cứu về Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa từ năm 1991 đến năm

2012 [155] Công trình trình bày chủ trương và sự chỉ đạo Đảng bộ tỉnh

Trang 27

Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH từ năm 1991 đến năm

2012 Đưa ra nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạocủa Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH Cáckinh nghiệm trong xác định chủ trương như: Cần hoàn thiện chính sách bảotồn và phát huy giá trị di tích để tiếp tục nâng cao nhận thức cho các cấp,các ngành, địa phương, nhân dân về sự cần thiết phải bảo tồn và phát huygiá trị các DTLSVH trong thời kỳ mới; cần phát huy quan điểm bảo tồn ditích là trách nhiệm của toàn xã hội, nhưng Nhà nước vẫn giữ vai trò chủđạo Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện: Việc bảo tồn các ditích trước hết phải đảm bảo được tính trung thực của lịch sử hình thànhcác di tích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của ditích, phải giữ gìn nguyên vẹn, không làm biến đổi những yếu tố cấu thànhcủa di tích, đảm bảo tính nguyên gốc của di tích; bảo tồn di tích phải gắnvới khai thác những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, với

sự phát triển KT - XH của địa phương và đặc biệt phải gắn liền với sựphát triển du lịch của tỉnh nhà; tạo lập sự hài hòa giữa phát triển kinh tế,quá trình đô thị hóa với việc bảo vệ di tích, ngăn chặn tình trạng lấnchiếm đất đai và xây dựng các công trình không phù hợp trong các khuvực bảo vệ và vùng đệm của di tích Kết quả nghiên cứu là nội dung đểnghiên cứu sinh có thể thảm khảo trong thực hiện luận án Tuy nhiên,Nghệ An là tỉnh có hơn 1395 DTLSVH, phạm vi nghiên cứu của luận vănthạc sĩ này chưa đi sâu làm rõ hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị cácDTLSCM cấp quốc gia dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ

Tác giả Phạm Xuân Thành (2015), nghiên cứu về Đình làng Nghệ An với lễ hội dân gian, tập 1 [113] Công trình đã giới thiệu về 62 ngôi đình

làng trên địa bàn tỉnh Nghệ An Tác giả chỉ rõ có sự giao thoa giữa di tích

Trang 28

đình làng với DTLSCM trên địa bàn tỉnh Nghệ An Trong nhưng năm 1930

-1931, khi cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh nổ ra, đình làng là nơi diễn ra các cuộchọp của các tổ chức đảng, nơi nhân dân tập trung đấu tranh; khi chính quyền

Xô Viết được thành lập, các cán bộ xã, thôn lấy đình làng làm nơi làm việc.Tiêu biểu như: đình Võ Liệt, đình Hậu, đình Tám Mái, đình Mõ… Đình làngtrên địa bàn Nghệ An không chỉ là DTLSVH truyền thống mà còn làDTLSCM, do đó giá trị của đình làng luôn gắn bó và trường tồn với sự pháttriển của nền văn hóa dân tộc

1.2 Khái quát kết quả các công trình khoa học đã được công bố và những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Một là, bảo tồn và phát huy các DTLSVH nói chung và DTLSCM nói

riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, của đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý, cán bộ chuyên trách Các công trình chủ yếu giải quyếtvấn đề dưới góc độ khoa học Lịch sử, Văn hóa, Kinh tế, Du lịch, Luật học

Có một số công trình khai thác dưới góc độ nghiên cứu của khoa học Lịch

sử ĐCSVN nhưng chỉ khai thác đối với các DTLSVH nói chung mà chưanghiên cứu, đề cập nhiều đến bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM

Hai là, những công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị

DTLSVH trên phạm vi cả nước đã giới thiệu khá rõ nét về các di tích tiểubiểu Một số công trình chỉ rõ vị trí, vai trò của các DTLSVH - một nguồn lựcquan trọng trong phát triển KT - XH, nhất là phát triển Du lịch Một số côngtrình nêu lên thực trạng, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp phát huy giátrị di tích trong phát triển du lịch, giáo dục đào tạo, giáo dục truyền thống, xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Ba là, các công trình nghiên cứu về DTLSCM giới thiệu về địa điểm,

lịch sử hình thành, tồn tại, phát triển của các DTLSCM Nhiều công trình đãnêu lên vai trò và thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị loại hình di

Trang 29

tích này Đưa ra yêu cầu, biện pháp để nâng cao hiệu quả bảo tồn, tôn tạo vàphát huy giá trị các DTLSCM trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuynhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị cácDTLSCM dưới sự lãnh đạo của một Đảng bộ địa phương.

Bốn là, các công trình nghiên cứu dưới góc độ khoa học Lịch sử

ĐCSVN về Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Nguyên lãnh đạo bảo tồnDTLSVH ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể Các công trình đã trình bày chủtrương, sự chỉ đạo cũng như kết quả đạt được trong bảo tồn và phát huy giá trịDTLSVH tại các địa phương; rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉđạo trong linh vực này Tuy nhiên, Nghệ An là một tỉnh có mật độ di tích khádày, với hơn 1395 di tích, các đề tài luận văn thạc sĩ chưa nghiên cứu toàndiện, hệ thống và chuyên sâu về bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM cấpquốc gia giai đoạn 1996 - 2015

Từ tổng quan những công trình được trình bày ở trên, chưa có côngtrình nào đi sâu nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảotồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015 Trên thực

tế, đây vẫn là một “khoảng trống” rất cần được nghiên cứu

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, bảo tồn và phát huy các DTLSCM

có nhiều nội dung, mỗi giai đoạn, mỗi địa phương lại có những nét đặc thù riêng.Thực tiễn quá trình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM của Đảng

bộ tỉnh Nghệ An (1996 - 2015) là một điển hình ở địa phương có bề dày truyềnthống cách mạng Từ những vấn đề chưa được nghiên cứu, giải quyết thấu đáo

dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Đề tài luận án “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2015” tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Một là, nghiên cứu làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của

Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm

1996 đến năm 2015

Trang 30

Luận án khái quát, phân tích về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vàtruyền thống văn hóa lịch sử; nêu lên thực trạng bảo tồn và phát huy giá trịDTLSCM trước năm 1996 của tỉnh Nghệ An Đi sâu làm rõ chủ trương củaĐảng và chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM.Đây là những yếu tố cơ bản tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An

về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM trong những năm 1996 - 2015

Hai là, luận giải, làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh

Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM giai đoạn 1996 - 2015

Luận án đi sâu phân tích làm rõ chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An

về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015 trêncác nội dung: tư tưởng chỉ đạo, phương phướng, nhiệm vụ và giải pháp Phântích làm rõ sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trịcác DTLSCM (1996 - 2015) trên các nội dung: lập hồ sơ khoa học xếp hạng ditích; chỉ đạo phân cấp quản lý, kiện toàn bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ,nhân viên quản lý trong bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM; chỉ đạo huyđộng nguồn vốn và triển khai các dự án bảo tồn, tôn tạo các DTLSCM; tổ chứccác hoạt động văn hóa, giáo dục truyền thống gắn với hoạt động của các ditích; bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM gắn với phát triển du lịch

Ba là, nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và

phát huy giá trị DTLSCM (1996 - 2015)

Để nhận xét đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn

và phát huy giá trị các DTLSCM trong giai đoạn 1996 - 2015 đòi hỏi nghiêncứu sinh phải tổng hợp, khái quát, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản, cốt lõi

từ kết quả quá trình lãnh đạo của Đảng bộ trong thực hiện nhiệm vụ này Trên

cơ sở đó, đưa ra nhận xét khái quát trên hai bình diện, ưu điểm và hạn chế,làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó

Bốn là, rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh

đạo bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015

Trang 31

Đây là nội dung quan trọng thể hiện đóng góp mới của luận án Trên

cơ sở phân tích, nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn

và phát huy giá trị các DTLSCM trong chương 2 và chương 3, tác giả đúcrút một số kinh nghiệm phản ảnh tính đặc thù, sát với thực tiễn của tỉnhNghệ An Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ Anlãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm

2015 có giá trị tham khảo, vận dụng thực hiện hiệu quả hơn nhiệm vụ nàytrong giai đoạn hiện nay

Kết luận chương 1

Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung và các DTLSCM nóiriêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, cán bộlãnh đạo, quản lý Nhiều công trình đã giới thiệu khá rõ nét về địa điểm, kiếntrúc cũng như các giá trị văn hóa, lịch sử của các DTLSVH trên địa bàn cảnước, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị củacác DTLSVH trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ Tổ quốc Cáccông trình nghiên cứu về các DTLSCM trên địa bàn cả nước thể hiện sựphong phú và đa dạng của loại hình di tích này Đó là những di tích ra đờigắn liền với quá trình đấu tranh giành chính quyền, hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN CácDTLSCM là bằng chứng phản ánh chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sự tiếpnối truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về DTLSCM trên địa bàn tỉnh Nghệ An đãgiới thiệu về một số di tích tiêu biểu của tỉnh Đó là các di tích gắn với phongtrào đấu tranh cách mạng giai đoạn 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết NghệTĩnh, gắn với cuộc chiến đấu của quân và dân Nghệ An trong đấu tranh giảiphóng miền nam, thống nhất đất nước và vai trò, công lao to lớn của các anhhùng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Trên cơ sở phân tích nội dung của cáccông trình đã được công bố, tác giả đã làm rõ kết quả chủ yếu của các công trình

Trang 32

đó, đồng thời chỉ ra những vấn đề cơ bản mà luận án phải giải quyết, cụ thể là:nghiên cứu làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhNghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM (1996 - 2015); luận giải,làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn vàphát huy giá trị các DTLSCM (1996 - 2015); nhận xét rút ra một số kinh nghiệm

từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị cácDTLSCM (1996 - 2015)có thể vận dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quảthực hiện nhiệm vụ này trong giai đoạn mới

Trang 33

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ

TỈNH NGHỆ AN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH

LỊCH SỬ CÁCH MẠNG (1996 - 2005) 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ

An về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống lịch sử văn hóa của tỉnh Nghệ An

* Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ,

diện tích tự nhiên là 16.490,25 km2 Tỉnh Nghệ An có tọa độ 18033’ đến

20001’ vĩ độ Bắc, 103052’ đến 105048’ kinh độ Đông; phía bắc giáp tỉnhThanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp nước Cộng hòa Dânchủ nhân dân Lào Vị trí này tạo cho tỉnh Nghệ An vai trò quan trọng trong mốigiao lưu KT - XH giữa 2 miền Bắc - Nam, phát triển kinh tế đối ngoại và hợp tácquốc tế Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc - Nam (tuyến quốc lộ1A; đường Hồ Chí Minh; tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 94 km) Đến năm

1996, tỉnh Nghệ An có 1 thành phố (Vinh), 1 thị xã (Cửa Lò) và 17 huyện (có

10 huyện miền núi và 7 huyện đồng bằng)

Địa hình: Nghệ An là tỉnh có hơn 80% diện tích vùng đồi núi nằm ở

phía tây; phía đông là phần diện tích đồng bằng duyên hải Nghệ An có địahình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông,suối Địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõrệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển Trong đó, miền núi chiếm tới 83% diệntích lãnh thổ Địa hình có độ dốc lớn, đất có độ dốc lớn chiếm gần 80% diện tích tựnhiên toàn tỉnh Trong khi đó, nhiều DTLSCM nằm ở các huyện miền tây Nghệ Annhư: Tân Kỳ, Con Cuông, Anh Sơn Đặc điểm địa hình trên là một trở ngại lớncho việc phát triển mạng lưới giao thông đến các di tích, đặc biệt là các tuyến giaothông tại các di tích thuộc các huyện trung du và miền núi của tỉnh

Trang 34

Về khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chia làm hai

mùa rõ rệt: mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùađông lạnh, ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Nhiệt độ trung bìnhhàng năm từ 230 - 240C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khácao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6, tháng 7) là 330C, nhiệt

độ cao nhất trong năm là 42,70 C, chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Namkhắc nghiệt; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đếntháng 2 năm sau) là 190C Số giờ nắng trung bình/năm là 1.500 - 1.700 giờ.Lượng mưa bình quân dao động từ 1.200 - 2.000 mm/năm Mỗi năm gánhchịu từ 2 đến 3 cơn bão Đặc điểm khí hậu trên tác động mãnh mẽ đến sựxuống cấp của các di tích nói chung và DTLSCM nói riêng

Những nét đặc trưng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nhất là thời tiết, khíhậu của tỉnh Nghệ An gây khó khăn lớn cho thực hiện nhiệm vụ bảo tồn vàphát huy giá trị DTLSCM trên địa bàn tỉnh Đây là căn cứ quan trọng để Đảng

bộ xác định các chủ trương, chỉ đạo thực hiện bảo tồn, trùng tu, tôn tạo và phát huygiá trị các DTLSCM phù hợp với thực tiễn của tỉnh

* Điều kiện kinh tế - xã hội

Nghệ An nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, dân số hơn 2,9 triệungười Tính đến năm 1995, tình hình KT - XH tỉnh Nghệ An có nhiều chuyểnbiến tích cực “Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm (1991

- 1995) là 8,9% Trong đó nông nghiệp tăng 5.9%, công nghiệp tăng 10.25%,dịch vụ tăng 14.8% GDP bình quân đầu người tăng từ 153 USD năm 1990 lên

207 USD năm 1995” [40, tr.12] Sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp có tăngtrưởng liên tục, đã cơ bản xóa được nạn đói giáp hạt trong tỉnh Các dịch vụ vậntải, thông tin, bưu điện, tài chính, ngân hàng có sự chuyển biến tích cực Thựchiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm: phong trào xây dựng kếtcấu hạ tầng nông thôn mà tập trung vào “điện, đường, trường, trạm” được triểnkhai và đạt được kết quả thiết thực, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới Cácchương trình về giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, dân số kế hoạch hóa gia đình,

Trang 35

các chính sách xã hội được triển khai tích cực theo hướng xã hội hóa Hoạt độngvăn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao có nhiều chuyển biến tích cực phục vụ tốt chonhiệm vụ chính trị, xây dựng con người mới, thúc đẩy KT - XH phát triển Cácchính sách xã hội được thực hiện tốt hơn, nhất là chính sách xóa đói giảm nghèo,chính sách với người có công với cách mạng “Với tinh thần “đền ơn đáp nghĩa”,

“uống nước nhớ nguồn”, phong trào xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa, làm nhà tìnhnghĩa, tặng sổ tiết kiệm, xây dựng nghĩa trang, đài tưởng niệm, nhà tưởng niệm cácanh hùng liệt sỹ - các danh nhân cách mạng được chú trọng” [40, tr.16]

Đến năm 1996, nền KT - XH của tỉnh Nghệ An có bước phát triển khá ổnđịnh, ngân sách của tỉnh ngày càng tăng, đời sống nhân dân từng bước nâng lên;đây là những điều kiện thuận lợi để Đảng bộ và chính quyền và nhân dân trongtỉnh Nghệ An đầu tư nhiều hơn cho xây dựng và phát triển văn hóa nói chungcũng như quan tâm thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCMnói riêng Tuy nhiên, Nghệ An vẫn là tỉnh nghèo, nền kinh tế chủ yếu là nôngnghiệp, mang nặng tính tự túc tự cấp, nguồn thu ngân sách chưa đủ chi; các mặt

xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp như: thất nghiệp, quản lý đất đai, tỷ lệ tăngdân số cao; các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế chưa theo kịp yêu cầu pháttriển KT - XH, đầu tư cho lĩnh vực văn hóa thấp

* Truyền thống lịch sử, văn hóa cách mạng của tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có bề dày truyền thống cách mạng Nơi đây có nhiềuDTLSCM gắn với các sự kiện lịch sử cách mạng và vai trò của các danh nhân cócông với nước Nghệ An cũng là cái nôi của nhiều anh hùng dân tộc như: PhanBội Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Phùng ChíKiên, Phan Đăng Lưu… Đặc biệt, phong trào cách mạng mà đỉnh cao là XôViết - Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) như một dấu son chói lọi trong truyềnthống đánh giặc giữ nước của dân tộc dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN.Truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của người dân xứ Nghệ còn đượcminh chứng qua các DTLSCM như: Cụm di tích Làng Đỏ, Tràng Kè, Khutưởng niệm Xô viết Nghệ Tĩnh 12/9, đình Võ Liệt; các di tích lưu niệmdanh nhân: Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu

Trang 36

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Nghệ

An là quê hương của phong trào: “Lương không thiếu một cân, quân khôngthiếu một người”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc” để góp sức mình cùng vớiquân và dân cả nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Hàng vạnngười con của Nghệ An nối tiếp nhau lên đường chiến đấu, phục vụ chiến đấu.Nếu như trên trận tuyến đánh giặc, người Nghệ An thể hiện chí khí anh hùngcùng quân và dân cả nước đánh bại kè thù thì ngay trên quê hương, các thế hệdân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong đã vượt qua “mưa bom, bão đạn”,

mở đường, tải đạn, tiếp sức cho tiền tuyến đánh giặc Gắn với những chiến công

và sự hy sinh của nhân dân Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước có Khu di tích Truông Bồn, di tích Hang hỏa tiễn, Cột mốc số 0 đường HồChí Minh…

Từ lịch sử truyền thống hào hùng đó, Nghệ An là mảnh đất lưu giữ nhiều

di tích không chỉ ghi đậm dấu ấn lịch sử văn hóa của địa phương mà của cả dântộc Trải qua những biến cố lịch sử, xã hội, chiến tranh và sự tàn phá của thiêntai nhưng: “Nghệ An vẫn còn một số lượng di tích lịch sử khá lớn (tính đếnnăm 2000, có 545 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh) Đây lànhững giá trị văn hóa truyền thống quý báu cần được bảo tồn và khai thác phục

vụ phát triển kinh tế - xã hội” [150, tr.740] DTLSCM trên địa bàn tỉnh Nghệ

An là nguồn DSVH quý giá của địa phương Đây là tiền đề, cơ sở để Đảng bộtỉnh Nghệ An có những chủ trương, biện pháp sát đúng nhằm bảo tồn và pháthuy giá trị các DTLSCM; khai thác hiệu quả giá trị của DTLSCM trong pháttriển kinh tế, văn hóa xã hội; góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồidưỡng lòng yêu nước, ý chí tự tôn dân tộc cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ

2.1.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn tỉnh trước năm 1996

2.1.2.1 Ưu điểm

Về bảo tồn các DTLSCM:

Trang 37

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trịcác DTLSCM, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã bước đầuquan tâm bảo vệ loại hình di tích này Hoạt động trùng tu, tôn tạo di tíchdiễn ra nhiều nơi, bằng nhiều nguồn vốn và do nhiều lực lượng tiến hành.Một số DTLSCM được đầu tư chống xuống cấp, tôn tạo ở các mức độ vàtrình độ khác nhau Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh được Sở Văn hóa Thôngtin giao trách nhiệm tiến hành kiểm kê và lập hồ sơ khoa học để xếp hạng

di tích Hồ sơ khoa học di tích là cơ sở để UBND tỉnh đề nghị Bộ Văn hóaThông tin ra quyết định xếp hạng di tích

Hoạt động kiểm kê, lập hồ sơ xếp hạng DTLSCM cấp quốc gia trướcnăm 1995 được thể hiện như sau: Năm 1988, có 05 di tích và được Bộ Vănhóa Thông tin ra quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia bao gồm: Đình VõLiệt, Nhà thờ họ Nguyễn Duy, Ngã ba Bến Thủy, Hiệu Yên Xuân và di tíchNghĩa trang 12/9 (Nghĩa trang Thái Lão) - Hưng Nguyên Các DTLSCM nàyđược xếp hạng cấp quốc gia theo quyết định số 1288 QĐ-VH, ngày 16 tháng 1năm 1988 của Bộ Văn hoá Thông tin [Phụ lục 4]

Từ năm 1990 đến năm 1995, hoạt động lập hồ sơ khoa học di tích đượcchú trọng, số lượng DTLSCM được công nhận cấp quốc gia ngày càng tăng.Năm 1990, Bộ Văn hóa Thông tin ra các Quyết định công nhận di tích quốc giađối với: Cụm di tích Làng Đỏ - Hưng Dũng, di tích Nhà lưu niệm đồng chí PhanĐăng Lưu, di tích lưu niệm Lê Hồng Phong, di tích Tràng Kè, di tích Mộ các liệt

sỹ hy sinh ngày 07/11/1930 tại Diễn Châu và đình Lương Sơn, Địa điểm Mốc số

0 đường Hồ Chí Minh Năm 1991, Bộ Văn hóa Thông tin ký Quyết định số1348/QĐ - VH (30/8/1991) công nhận di tích quốc gia đối với Đình làng QuỳnhĐôi; Quyết định số 457/QĐ - VH (25/3/1991) công nhận di tích quốc gia đối với

di tích Nhà ông Hoàng Viện ở Hưng Nguyên Năm 1992, Bộ Văn hóa Thông tin

ký Quyết định 97/QĐ - VH, ngày 21/01/1992 công nhận di tích quốc gia đối với

di tích nhà cụ Phan Bội Châu; Quyết định số 559/QĐ - VH (11/3/1992) côngnhận di tích quốc gia đối với 03 di tích: Đình Long Ân ở Diễn Châu và ĐìnhTám Mái ở Quỳnh Lưu và Nhà thờ Họ Uông ở thành phố Vinh

Trang 38

Năm 1993, Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích quốc gia đối với ditích Nhà thờ họ Hoàng Văn (Cửa Lò) theo Quyết định 1207/QĐ/BT, ngày11/9/1993 Năm 1994, Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích quốc gia đốivới Đình Liên Trì (Yên Thành); di tích Nhà thờ họ Phạm tại Hưng Nguyên;Đình Phú Nhuận và Nhà thờ họ Hoàng Trần tại Đô Lương; đền Bạch Mã(Võ Liệt, Thanh Chương); di tích Nhà cụ Vi Văn Khang tại Môn Sơn, ConCuông Năm 1995, di tích Nhà thờ họ Hoàng và Đền Trìa (thành phố Vinh)được xếp hạng di tích cấp quốc gia Tính đến trước năm 1996, trên địa bàntỉnh Nghệ An có 28 DTLSCM cấp quốc gia [Phụ lục 9] Trong đó, di tíchđịa điểm lịch sử cách mạng: 10; di tích đền: 02; di tích đình làng: 07; ditích nhà thờ dòng họ: 06; di tích lưu niệm danh nhân: 03

Về phân cấp quản lý đối với các DTLSCM cụ thể như sau: Sở Văn hóaThông tin quản lý Khu lưu niệm Phan Bội Châu (thị trấn Nam Đàn) Có 06 ditích do Sở Văn hóa Thông tin và UBND các huyện, thành phố, thị xã đồngquản lý: di tích Lê Hồng Phong, Ngã ba Bến Thủy, đình Võ Liệt, Nghĩatrang liệt sỹ 12/9, cụm di tích Làng Đỏ và đền Bạch Mã Các di tích giaocho UBND các huyện, thành, thị quản lý cụ thể như sau Thành phố Vinhquản lý các di tích: nhà thờ họ Hoàng và Đền Trìa Di tích đình làng QuỳnhĐôi, đình Tám Mái do huyện Quỳnh Lưu quản lý Huyện Diễn Châu quản

lý di tích địa điểm lịch sử và mộ các liệt sỹ hy sinh ngày 07/11/1930 tạiDiễn Ngọc Huyện Yên Thành quản lý di tích Tràng Kè, đình Liên Trì, nhàthờ họ Phan Mạc và nhà lưu niệm đồng chí Phan Đăng Lưu Huyện HưngNguyên quản lý di tích nhà ông Hoàng Viện và nhà thờ họ Phạm Các ditích đình Lương Sơn, đình Phú Nhuận, Nhà thờ họ Hoàng Trần và TruôngBồn do huyện Đô Lương quản lý Huyện Thanh Chương quản lý di tích nhàthờ Nguyễn Duy Di tích Mốc số 0 đường Hồ Chí Minh do huyện Tân Kỳquản lý Di tích Hiệu Yên Xuân do huyện Anh Sơn quản lý Di tích nhà cụ ViVăn Khang do huyện Con Cuông quản lý [Phụ lục 4]

Trang 39

Sự phân cấp quản lý di tích bước đầu phát huy được trách nhiệm củacác cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân trong bảo vệ DTLSCM Các di tíchđược khoanh vùng bảo vệ Tuy nhiên, hoạt động bảo tồn các DTLSCM trướcnăm 1996 mới chỉ dừng lại ở cấp độ bảo vệ, giữ nguyên trạng di tích Một số

di tích như Tràng Kè, Nghĩa trang liệt sỹ hy sinh ngày 12/9/1930 được đầu

tư bảo tồn bằng nguồn kinh phí chống xuống cấp nhưng nguồn vốn này khôngnhiều so với nhu cầu thực tế, chỉ đảm bảo cho việc cắm mốc, khoanh vùngbảo vệ, chống mối, mọt, dột tại các di tích

Về phát huy giá trị các DTLSCM:

Tính đến trước năm 1996, trên địa bàn tỉnh có 28 DTLSCM cấp quốcgia, hệ thống di tích này góp một phần quan trọng trong xây dựng và pháttriển văn hóa, bảo tồn bản sắc văn hóa xứ Nghệ; là nguồn tài nguyên du lịchsẵn có của địa phương Đây là cơ sở, nguồn lực để ngành du lịch tổ chức cáctuyến, tuor du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh; là điểm nhấn trong thu hútngười dân đến thăm quan, học tập, nghiên cứu

Hoạt động phát huy giá trị các DTLSCM trong giáo dục truyền thốngcách mạng được quan tâm Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh đã chỉ đạo hướng dẫncác địa phương trong tỉnh làm tốt nghi thức đón bằng công nhận di tích cấpquốc gia đối với DTLSCM Ngày đón bằng di tích lịch sử văn hóa đã trởthành ngày hội cuả nhân dân địa phương, là dịp khơi dậy niềm tự hào và tráchnhiệm của người dân đối với quá khứ oanh liệt của quê hương, dòng họ Cáchoạt động kỷ niệm, dâng hương, giáo dục truyền thống tại các DTLSCM nhân

kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc và địa phương được các chính quyền vànhân dân địa phương tiến hành có nề nếp Sở Văn hóa Thông tin và Sở Giáodục đã phối kết hợp tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử địa phương vàcác danh nhân; tổ chức tham quan, ngoại khóa tại các DTSLCM cho học sinh,sinh viên trên địa bàn tỉnh

Trang 40

Các hoạt động văn hóa thường niên tại các di tích nhân các ngày lễ lớncủa dân tộc, của Đảng, địa phương, ngày sinh nhật, ngày mất của các danh nhânđược tổ chức chặt chẽ DTLSCM trở thành địa điểm thăm viếng, gặp gỡ, giaolưu và trường học lớn về rèn luyện, giáo dục truyền thống cách mạng, góp phầnnâng cao nhận thức, tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức, lý tưởng và bản lĩnh cáchmạng của các tầng lớp nhân dân; là nguồn tư liệu lịch sử quý giá, là minh chứngsinh động trong giáo dục lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương… Những kết quảđạt được thông qua thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCMgóp phần tích cực trong xây dựng nền văn hóa, phát triển KT - XH của tỉnh

2.1.2.2 Hạn chế

Tuy mật độ DTLSCM trên địa bàn tỉnh khá dày nhưng việc bảo tồn và pháthuy giá trị còn nhiều hạn chế: mức độ bảo tồn, tôn tạo mới chỉ dừng lại ở giữnguyên trạng, cắm mốc, lập hàng rào bảo vệ Một số di tích, di vật đã và đangxuống cấp nghiêm trọng do tác động của thời tiết, chiến tranh và các biến cố lịch

sử, sự xâm hại của con người, hay trong quá trình tu bổ, tôn tạo lại xảy ra hưhỏng, thất lạc, mất mát và sai lệch so với di tích gốc Có 3/7 di tích đình làng bịxuống cấp nghiêm trọng như: đình Tám Mái (Quỳnh Lưu), đình Võ Liệt (ThanhChương), đình Long Ân (Diễn Châu) Nhiều DTLSCM vắng khách tham quan,thiếu người chăm sóc Mức độ xâm hại, lấn chiếm đối với di tích đình làng ngàymột nghiêm trọng Việc phát huy giá trị các DTLSCM còn gặp nhiều khó khăn.Nguyên nhân do các di tích này có hiện vật sơ sài, thiếu tính hấp dẫn; chưa có biadẫn tích, thiếu sự quan tâm, bảo quản thường xuyên

Công tác quản lý đối với một số DTLSCM trên địa bàn tỉnh vẫn cònbiểu hiện chồng chéo Trên cùng một khu vực, một số DTLSCM có giai đoạn

do Sở Văn hóa Thông tin quản lý, có giai đoạn lại giao cho UBND huyệnquản lý, có giai đoạn đồng quản lý Mỗi đơn vị chủ quản lại có quan niệmkhác nhau dẫn đến việc đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị di tích được tiến

Ngày đăng: 09/04/2020, 12:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w