1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tiến sĩ lịch sử đảng lãnh đạo đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳng từ năm 2001 đến năm 2015

175 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nội dung và giải pháp trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũgiảng viên mà các tác giả đưa ra có ý nghĩa tham khảo cho tác giả luận án.- Nhóm công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng g

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Luận án không trung lặp với các công trình khoa học đã công bố.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NCS Nguyễn Thị Hiền

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 121.2 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và

những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 28

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ ĐÀO

TẠO GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG (2001 - 2006) 322.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng về đào

tạo giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao

2.2 Chủ trương của Đảng về đào tạo giảng viên lý luận chính

trị cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2006) 402.3 Đảng chỉ đạo đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các

trường đại học, cao đẳng (2001 - 2006) 51

Chương 3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN LÝ

LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

3.1 Tình hình mới và chủ trương của Đảng về đào tạo giảng

viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳng

3.2 Đảng chỉ đạo đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các

trường đại học, cao đẳng trong tình hình mới (2007 - 2015) 87

4.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng về đào tạo giảng viên lý luận

chính trị cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2015) 1134.2 Một số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng về đào tạo

giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 3

Bộ Giáo dục và Đào tạo BGDĐT

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Thách thức của cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thùđịch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối vớiđội ngũ cán bộ lý luận, trong đó, GV LLCT trong các trường đại học, cao đẳnggiữ vị trí quan trọng.Sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm thựchiện âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luậnhướng tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, xóa bỏ nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã đặt ranhiệm vụ rất nặng nề đối với cán bộ tư tưởng, lý luận nói chung, GV LLCTtrong các trường đại học, cao đẳng nói riêng Muốn giữ gìn, bảo vệ và phát triểnnền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết độingũ cán bộ lý luận được đào tạo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sựgiỏi về chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ GV LLCT ở các trường đại học, caođẳng là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ tư tưởng lý luận Thông qua vai tròtrang bị những kiến thức khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước cho sinh viên, góp phần tuyêntruyền, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng Do đó, nâng cao chấtlượng đào tạo GV LLCT có ý nghĩa cấp thiết và rất quan trọng

Công tác giáo dục lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng đãđạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chếnhất định Ở các trường đại học, cao đẳng, giáo dục lý luận chính trị được tiếnhành một cách đồng thời cùng với giáo dục các khoa chuyên ngành, trau dồi cáctri thức chuyên môn nghề nghiệp cho sinh viên, nhằm góp phần thực hiện mụctiêu giáo dục là đào tạo ra những cán bộ khoa học trẻ không chỉ giỏi về chuyênmôn, nghiệp vụ mà còn tốt cả về phẩm chất chính trị, tư tưởng và đạo đức, đápứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN Tuy

Trang 5

nhiên, trong thời gian qua, công tác giáo dục lý luận chính trị trong các nhà trườngđang bộc lộ những mặt hạn chế Nội dung, chương trình lạc hậu, phương phápgiảng dạy theo lối áp đặt, người học tiếp nhận thụ động, dạy và học theo lối kinhviện, giáo điều, lý luận không gắn với thực tiễn, thực hành; một bộ phận GVLLCT còn hạn chế về cả kiến thức, kỹ năng và phương pháp sư phạm; tài liệu, cơ

sở vật chất nghèo nàn Tại các cơ sở đào tạo GV LLCT cũng ít nhiều tồn tại tìnhtrạng trên Điều này, ảnh hưởng rất lớn đến tình hình giảng dạy cũng như chấtlượng giáo dục lý luận chính trị nói chung, ở các trường đại học, cao đẳng nóiriêng Từ đó, đặt ra yêu cầu vô cùng bức thiết phải đổi mới công tác giáo dục lýluận chính trị, mà trước hết phải nâng cao chất lượng đào tạo GV LLCT cho cáctrường đại học, cao đẳng Bởi, đào tạo là một trong những khâu trọng yếu, đột phátác động trực tiếp đến chất lượng GV LLCT

Cùng với những thăng trầm của lịch sử, đào tạo GV LLCT đã có nhữngbiến đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác giáo dục lý luận chính trị ở cáctrường đại học, cao đẳng qua từng thời kỳ, tuy nhiên, số lượng và chất lượng đàotạo không phải bao giờ cũng đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn giáo dục.Các cơ sở đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng là không nhiều;công tác đào tạo, quản lý đào tạo GV LLCT còn nhiều mặt lỏng lẻo, chưa thực

sự thống nhất về chương trình nội dung; nhận thức, nhu cầu xã hội của học sinhphổ thông đối với các chuyên ngành lý luận chính trị còn hạn chế; chất lượngđầu vào thấp, đầu ra hạn chế về vị trí việc làm Đó là những vấn đề cần đượcquan tâm, trong khi yêu cầu về chất lượng giáo dục lý luận chính trị trong nhàtrường đang đặt ra ngày càng cao và bức thiết

Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm tăng cường sựlãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung,trong đó có đào tạo GV LLCT Đó là những chủ trương, quan điểm chỉ đạo quantrọng nhằm tiếp tục đổi mới đào tạo GV LLCT đáp ứng yêu cầu nâng cao chấtlượng giáo dục lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trang 6

Đặc biệt gần đây nhất, Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban

Bí thư, Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới nhấn mạnh: Học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển

chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nội dung quantrọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về mặt tư tưởng, vừa có vai trònền tảng, vừa có vị trí then chốt trong tình hình hiện nay Do đó, đào tạo, bồidưỡng, tập huấn cán bộ tư tưởng lý luận, có cơ chế, chế độ phù hợp cho độingũ GV LLCT là nhiệm vụ cấp thiết

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ GV LLCT các trường đại học, cao đẳng Tuy nhiên,các công trình trên chủ yếu tập trung khai thác phạm vi đào tạo, bồi dưỡngnâng cao trình độ cho đội ngũ hiện đang công tác tại các trường đại học,cao đẳng Hiện tại, nghiên cứu dưới mã chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộngsản Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng vềđạo tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng

Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳng từ năm

2001 đến năm 2015” làm luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.

Trang 7

Thứ hai, làm rõ tác động của tình hình thế giới, trong nước đến quá

trình Đảng lãnh đạo đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng(2001 - 2015)

Thứ ba, phân tích, luận giải chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về đào tạo

GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2015)

Thứ tư, nhận xét và đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh

đạo đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2015)

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động lãnh đạo của Đảng về đào tạo GV LLCT cho các trường đạihọc, cao đẳng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung:

Luận án nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về đào tạo GVLLCT cho các trường đại học, cao đẳng Đối tượng đào tạo là sinh viên bậc đạihọc hệ chính quy tập trung các chuyên ngành: Triết học Mác - Lênin, Kinh tếchính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh vàLịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đào tạo GV LLCT được tập trungnghiên cứu trên các mặt: Công tác tuyển sinh; bổ sung, cập nhật chương trình,nội dung, tổ chức quản lý quá trình đào tạo, xây dựng đội ngũ giảng viên; đầu

tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy và học tập; thực hiện tốtchế độ, chính sách nhằm thu hút người học vào học các chuyên ngành đào tạo

GV LLCT

Đào tạo sinh viên các chuyên ngành lý luận chính trị bậc đại học nằmtrong tổng thể chủ trương, chiến lược, sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đào

Trang 8

tạo đại học Do đó, bên cạnh việc khai thác những chủ trương, sự chỉ đạo củaĐảng về đào tạo sinh viên chuyên ngành lý luận chính trị, luận án còn khaithác những chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đào tạo đại học.

Về thời gian:

Luận án tập trung nghiên cứu khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm

2015 Tác giả chia thành 2 giai đoạn: 2001 - 2006 và 2007 - 2015 Vì năm

2001 là năm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đại hội nhấn mạnhnhiệm vụ phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, coi trọng chất lượng và đạođức sư phạm, cải thiện chế độ đãi ngộ

Năm 2007 là năm ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 01/8/2007,

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khóa X) của Đảng Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, trong đó khẳng định:

Tăng cường đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ khoa học, bản lĩnh chínhtrị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy các bộmôn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Năm 2015 là năm thực hiện Kết luận số 94-KL/TW ngày 28/3/2014 của

Ban Bí thư Về việc tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân với yêu cầu: Đổi mới mạnh mẽ việc đào tạo, bồi dưỡng giáo

viên lý luận chính trị, bảo đảm sát hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu tiếp tục đổimới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân Xây dựng chođược đội ngũ giáo viên lý luận chính trị tâm huyết, yêu nghề, tuyệt đối trungthành, có niềm tin, có kiến thức mới gắn với thực tiễn Đây là nhân tố quyết định

sự thành công của việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong nhà trường

Bên cạnh đó, để bảo đảm tính hệ thống và đạt được mục đích nghiêncứu, luận án có đề cập một số nội dung về đào tạo GV LLCT cho các trườngđại học, cao đẳng trước mốc thời gian nói trên

Trang 9

Về không gian:

Luận án nghiên cứu thực tiễn đào tạo GV LLCT tại các cơ sở đào tạotrên phạm vi cả nước Trong đó, chủ yếu tập trung khảo sát ở các cơ sở đàotạo GV LLCT: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Hà Nội,

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn

Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo giảng viên nói chung, trong đó cóđào tạo GV LLCT

-Cơ sở thực tiễn

Luận án được thực hiện trên cơ sở thực tiễn hoạt động lãnh đạo củaĐảng về đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2015).Đồng thời, dựa trên số liệu báo cáo tổng kết của Đảng, các cơ quan Nhà nước,các cơ sở đào tạo và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học

có liên quan đã được công bố

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Phương pháp lịch sử và phương

pháp lôgic, kết hợp nhuần nhuyễn hai phương pháp đó trong toàn bộ nội dungluận án Tuy nhiên, chương 2, chương 3 thiên nhiều về phương pháp lịch sử,chương 4 thiên nhiều về phương pháp lôgic

Phương pháp phân tích tổng hợp: Làm rõ những chủ trương, chỉ đạo,nhận xét và kinh nghiệm đào tạo GV LLCT trong 15 năm qua phân tích 2giai đoạn: 2001 - 2006 và 2007 - 2015, trong đó, tác giả luận án sử dụngphương pháp phân tích tổng hợp nhiều hơn ở nội dung viết về nhận xét sựlãnh đạo của Đảng và kinh nghiệm rút ra

Trang 10

Phương pháp so sánh: Tác giả luận án sử dụng để so sánh chủ trương,

sự chỉ đạo của Đảng và kết quả (số liệu) giữa các giai đoạn: Trước năm 2001,

2001 - 2006, 2007 - 2015

5 Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của

Đảng về đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng từ năm 2001đến năm 2015

Thứ hai, đánh giá ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân của những ưu

điểm hạn chế đó trong quá trình Đảng lãnh đạo đào tạo GV LLCT cho cáctrường đại học, cao đẳng từ năm 2001 đến năm 2015

Thứ ba, đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị, cung cấp luận cứ cho

Đảng tham khảo hoạch định chủ trương và chỉ đạo đào tạo GV LLCT cho cáctrường đại học, cao đẳng ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho đổimới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đào tạo GV LLCT trong tìnhhình mới

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án làm tài liệu tham khảo cho việc hoạchđịnh chủ trương, sự chỉ đạo về đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, caođẳng trong các năm tiếp theo

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đãcông bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 9 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Trong quá trình xây dựng CNXH ở LiênXô và một số nước Đông Âu,cũng như các nước khác trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu vềphương pháp và nội dung giáo dục tư tưởng, một số đã được dịch ra tiếng Việt

Cuốn sách Nghệ thuật diễn giảng (1976) [135] đã khẳng định: Một

trong những hình thức quan trọng và thích hợp nhất để phổ biến kiến thứcchính trị, khoa học là bài giảng Theo E.Phancôvích, những bài giảng đượcchuẩn bị cẩn thận và truyền đạt tốt sẽ giúp cho người nghe có thêm kiến thứcmới trong từng lĩnh vực, biết tư duy sâu rộng và hiểu rõ hơn những hiệntượng phức tạp của tự nhiên và xã hội Giảng viên cần phải lao động miệtmài, sáng tạo để đạt được kỹ năng diễn giảng Muốn như vậy, giảng viên cầnphải được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên

X.G.Lucônhin và V.V.Xêrêbriannicốp (Chủ biên, 1981), Phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội [123] Công trình đã tổng kết những kinh

nghiệm giảng dạy khoa học xã hội ở các trường cao đẳng quân sự, sự vậndụng những phương pháp và hình thức tiên tiến trong giảng dạy khoa học xãhội, nhằm phổ biến kinh nghiệm giảng dạy cho tất cả giảng viên, đặc biệt làđối với những giảng viên mới bước vào môi trường sư phạm Với họ, sựtrưởng thành về nhân cách phụ thuộc vào sự tham gia các hoạt động giảngdạy và nghiên cứu khoa học

Khi nghiên cứu về cơ sở của hoạt động tuyên truyền tư tưởng của đảngcộng sản, các nhà khoa học đã đi sâu phân tích làm rõ các đặc điểm và những

Trang 12

yêu cầu dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học đối với hoạt động này Nhà giáo

dục Xôviết nổi tiếng V.A.Cruchetxki (1981), Những cơ sở tâm lý học [72],

khẳng định: Nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục cộng sản chủ nghĩa làhình thành ở thế hệ trẻ niềm tin và tình cảm cộng sản chủ nghĩa vững chắc vàhành vi đạo đức dựa trên cơ sở niềm tin vào tình cảm đó Chỉ có thể giảiquyết được nhiệm vụ đó bằng cách dựa trên những tri thức về quy luật tâm lýcủa sự hình thành nhân cách tích cực và có mục đích, về những quy luật pháttriển đạo đức của nó cũng như sự hiểu biết đầy đủ những đặc điểm cá nhân

Nhà giáo dục Xôviết M.I.Calinin (1983), Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa [66] đã nhấn mạnh một trong những phương pháp giáo dục tư tưởng quan

trọng là sử dụng và phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục đối với ý thức conngười Theo M.I.Calinin, giáo dục và bồi dưỡng những phẩm chất cao quý đó làmột yếu tố hết sức quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản M.I.Calinincũng đã khẳng định: Cần phải đến với từng người, đánh giá họ, làm nổi bậtnhững mặt tốt của họ bởi vì không thể chỉ giáo dục dựa trên mặt tiêu cực

Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng, phảiđảm bảo đầy đủ các điều kiện cơ bản: Có sự am hiểu sâu sắc đặc điểm tâm lýcủa đối tượng, phải khêu gợi được tính tích cực, tự giác của đối tượng và bảnthân chủ thể làm công tác giáo dục tư tưởng phải có trình độ, năng lực, phươngpháp luận khoa học và phẩm chất đạo đức trong sáng Điều này chỉ có đượcthông qua quá trình đào tạo và tự đào tạo

Frederich K.S.Leung (2007), “Đào tạo giáo viên ở vùng Đông Á”, Chuyên san Giáo dục quốc tế [105] Công trình tập trung nghiên cứu về

những vấn đề liên quan đến đào tạo giáo viên vùng Đông Á bao gồm xuhướng đại học hóa toàn bộ giáo viên các cấp, chương trình đào tạo giáo viên,vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên Việc xây dựng một lý thuyết Đông

Á về đào tạo giáo viên trên cơ sở nhìn lại truyền thống lịch sử về đào tạo giáo

Trang 13

viên và những giá trị văn hóa tiềm ẩn của vùng Đông Á là rất cần thiết.

Masahairo Arimoto (2007), “Các trường sư phạm ở Nhật trước ngã ba

đường - Những thử thách và cơ hội trong thế kỷ XXI”, Chuyên san Giáo dục quốc tế [128] Tác giả đưa ra các nghiên cứu chi tiết về hệ thống các trường

đại học, cao đẳng và học viện đào tạo giáo viên ở Nhật Bản, bối cảnh lịch sửcủa các trường sư phạm; những khác biệt chính giữa đại học sư phạm và cácđại học đa ngành, đồng thời nêu rõ những điểm mạnh cũng như những vấn đềvướng mắc của hệ thống này

David G.IMIG - Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Sư phạm Hoa Kỳ (2011),

Hiện trạng giáo dục sư phạm trong thế kỷ XXI ở nước Mỹ [73] Tác giả đã tập

trung phân tích những nhân tố luật pháp và chính trị tác động đến đào tạo giáoviên và hoạt động của các trường sư phạm ở Mỹ Theo đó, chương trình đàotạo giáo viên theo kiểu truyền thống cần được xem xét lại Những nhân tố gâyảnh hưởng tới việc đào tạo giáo viên vẫn còn chưa được xác định thật rõ vàvẫn còn nhiều tranh luận xung quanh hiệu quả của những phương thức đàotạo khác nhau như xây dựng chương trình bốn năm hay là năm năm học vànhững cách tiếp cận khác nhau như lấy học sinh làm trung tâm hay lấy thầygiáo làm trung tâm Chương trình đào tạo hiện nay đã thất bại trong việc tạo

ra một đội ngũ giáo viên có đủ năng lực vượt qua những thử thách và yêu cầungày càng cao của nghề giáo để đáp ứng nhu cầu của nhà trường hiện đại

Các công trình trên đều nhấn mạnh vai trò của người giảng viên trongquá trình đào tạo Tất cả những kỹ năng, nhân cách, tri thức của giảng viênđều được hình thành thông qua đào tạo, bồi dưỡng Để đáp ứng nhu cầu của

xã hội thì chương trình đào tạo giảng viên ở mỗi giai đoạn cần có sự thay đổi.Các công trình đề cao tính thích ứng của chương trình đào tạo với thực trạng

và nhu cầu giáo dục, đào tạo

Trang 14

1.1.2 Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

- Nhóm công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, Đảng lãnh đạo đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các trường đại học, cao đẳng.

Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội (1996), Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Kỷ yếu hội thảo khoa học [85], các nhà khoa học đã đề cập đến

nhiều vấn đề khác nhau liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng caochất lượng giáo viên và vai trò của trường sư phạm trong thực hiện nhiệm vụnày Các ý kiến tham luận thống nhất cho rằng: Chất lượng giáo dục phụthuộc chặt chẽ vào chất lượng đào tạo giáo viên, sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác đào tạo giáo viên tại cáctrường sư phạm - với tư cách là đòn bẩy để tạo nên sự đổi mới của cả hệthống giáo dục Những giải pháp được đưa ra tại Hội thảo tập trung vàochương trình, nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên, coi đây là nhữngkhâu đột phá nhằm thiết thực đổi mới quá trình đào tạo giáo viên để đáp ứngnhững biến đổi về kinh tế, xã hội đất nước

Cuốn sách Trí thức Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nguyễn Văn Sơn (2002) [145] Theo tác giả, đội ngũ

trí thức giáo dục đại học Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản: Là lực lượng trựctiếp tham gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốcdân; đối tượng tác động chủ yếu của người trí thức giáo dục đại học là những sinhviên, học viên cao học và nghiên cứu sinh; mục đích lao động là nhằm đào tạo ranhững người lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt; trí thức giáo dục đại họcvừa là nhà giáo vừa là nhà khoa học, nhà chính trị Từ việc đánh giá thực trạng về

cơ cấu, chất lượng của trí thức giáo dục đại học, tác giả đưa ra phương hướng, giảipháp cơ bản để phát triển đội ngũ trí thức giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu vềnguồn nhân lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH đất nước

Trang 15

Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - Vấn đề và giải pháp [22] Theo các tác giả, một trong các giải

pháp phát triển giáo dục trong những năm tới là phải củng cố, phát triển độingũ nhà giáo Việc đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là khâuđột phá có ý nghĩa quyết định Cần coi trọng việc bồi dưỡng năng lực, cải tiếnphương pháp giảng dạy cho nhà giáo để thích ứng, phù hợp với đặc điểm mỗiđịa phương và giáo dục lòng yêu người, yêu nghề cho nhà giáo

Cuốn sách Giáo dục đại học - Quan điểm và giải pháp của Lê Đức

Ngọc (2005) [133] khi đề cập đến vấn đề đổi mới công tác giáo viên để nângcao chất lượng đào tạo trong các trường đại học và cao đẳng, đã cho rằng: Cóhai lý do chính làm cho vấn đề đội ngũ nhà giáo trở thành mối quan tâm hàng

đầu của nhà trường ĐH Thứ nhất, trình đội của đội ngũ quyết định chất

lượng và khả năng của một trường trong nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ xã

hội trong nền kinh tế hàng hóa Thứ hai, chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ

này là khoản chi lớn nhất của mỗi trường đại học, nó gắn liền với vấn đề chấtlượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo Từ đó, tác giả đề nghị: Cần có một tổchức để thực hiện việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên

Nguyễn Thị Thu Hương (2012), “Xây dựng đội ngũ giảng viên trong

trường đại học - Thực trạng và giải pháp”, bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học,

Đại học Quốc gia Hà Nội [118] Từ việc đánh giá thực trạng đội ngũ và công tácquản lý đội ngũ giảng viên trong trường đại học, tác giả đã đề xuất những giảipháp nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học ở Việt Nam.Một trong những giải pháp mà tác giả đưa ra đó là đào tạo giảng viên cho cáctrường đại học Giáo dục Việt Nam chuyển từ đào tạo theo “cung” (đào tạo những

gì cơ sở đào tạo có, giảng viên có) sang đào tạo theo “cầu” (đào tạo theo nhu cầucủa khách hàng); củng cố hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng Cần có một kênhriêng để đào tạo, bồi dưỡng; phát triển đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, có bềdày kinh nghiệm quản lý và công tác thực tiễn và có nghiệp vụ sư phạm

Trang 16

Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay của tác giả Ngô Văn Hà (2013) [106] Trên

cơ sở phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy giáo, tác giả đãnêu lên một số luận đề về đặc điểm lao động của giảng viên; công tác giảngdạy là loại lao động đặc thù; “người giảng viên đại học phải kết hợp trong bảnthân mình những phẩm chất năng lực của một nhà khoa học và một nhà giáodục - dạy học; nhiệm vụ của họ không chỉ là đào tạo nhân lực có trình độ caocho đất nước mà còn là chỗ dựa về khoa học cho các viện nghiên cứu và các

cơ sở sản xuất kinh doanh” Đạo đức cách mạng của người giảng viên là sựsay mê với công việc giảng dạy, nghiên cứu, trung thực trong khoa học, tìmtòi sáng tạo, có khát vọng chinh phục đỉnh cao của trí thức

Luận án tiến sĩ Triết học, Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay của Trần Thị Lan (2014) [121] Tác giả quan

niệm, trí thức giáo dục đại học Việt Nam là một lực lượng xã hội hay một nhóm

xã hội - nghề nghiệp đặc thù, tiêu biểu của trí thức, là chủ thể của lĩnh vực giáodục đại học, có nhiệm vụ giảng dạy; nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyểngiao công nghệ, tổ chức, quản lý hoạt động sư phạm nhằm nâng cao dân trí, đàotạo nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển nhân tài cho đất nước Đánh giáthực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam

và những vấn đề đặt ra; đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chấtlượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầuhội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.Trong đó, không thể không kể đến giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này

Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế của

Nguyễn Văn Lượng (2015) [124] Luận án tập trung khảo sát, nghiên cứuthực trạng và đề xuất giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên tạiHọc viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Phần thực trạng, tác giả đã đi sâuphân tích nội dung, hình thức, chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên

Trang 17

trong đó có đề cập đến các hệ đào tạo và các khóa bồi dưỡng Tổ chức đàotạo, bồi dưỡng, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, nâng cao năng lựchội nhập quốc tế là một trong những giải pháp mà tác giả đã đề xuất Tác giảcho rằng đây là giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của giảng viên cả vềnăng lực chuyên môn lẫn kiến thức, nghiệp vụ sư phạm, đáp ứng khung nănglực của giảng viên Vì vậy, để thực hiện hiệu quả giải pháp nêu trên cần đổimới các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo, đề ra cách thức thực hiện và điềukiện để thực hiện biện pháp đó Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài

là phát triển đội ngũ giảng viên tại hệ thống của Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh trên địa bàn thủ đô Hà Nội nên tác giả chưa khái quát đượccông tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở tầm vĩ mô

Gần đây nhất, luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản

Việt Nam, Đảng bộ Công an Trung ương lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân từ năm 2001 đến năm

2010 của Nguyễn Thị Thu Trang (2017), đã khảo sát thực trạng, làm rõ những

yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ giảng viên trong các học viện,trường Công an nhân dân Bên cạnh đó, luận án phân tích, làm rõ chủ trươngcủa Trung ương Đảng, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an

về xây dựng đội ngũ giảng viên các học viện, trường Công an nhân dân từnăm 2001 đến năm 2010 Những chủ trương, sự chỉ đạo của Trung ươngĐảng về xây dựng đội ngũ giảng viên sẽ được kế thừa và khai thác, phân tích,làm rõ hơn, phù hợp với nội dung nghiên cứu của nghiên cứu sinh

Ngoài những công trình nêu trên, có thể kể đến một số bài nghiên cứucủa các học giả đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo, tiêu biểu như: Nguyễn VănDuệ (1997), “Đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học - thực trạng và kiến nghị”,

Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (11) [75]; Nguyễn Duy Yên (2004), “Đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới từ những người làm giáo dục”, Tạp chí Khoa giáo, (10) [179]; Đinh Thị Minh Tuyết (2010), “Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đại học”, Tạp chí Giáo dục, (250) [173] Nhìn chung, các tác

Trang 18

giả nêu trên đều có chung quan điểm khi xem nhà giáo ở bậc đại học là lựclượng nòng cốt xây dựng cho sinh viên thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ,trang bị tri thức và phương pháp tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập,sáng tạo cho người học Các tác giả nhận định, để nâng cao chất lượng độingũ nhà giáo cần tập trung đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhàgiáo theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa; việc bố trí, sử dụng nhà giáo phảihợp lý, coi trọng năng lực sáng tạo thực sự về chuyên môn nghiệp vụ đồngthời phải tạo lập hệ thống động lực cho đội ngũ nhà giáo.

“Một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trẻ” của Nguyễn ThếMạnh (2009) [127]; “Chính sách quốc gia về phát triển đội ngũ giảng viên đạihọc Việt Nam” của Trần Khánh Đức (2009) [104] Các công trình nghiên cứu

đã chỉ rõ việc phát triển đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu,đạt chuẩn về chất lượng để thực hiện tốt mục tiêu, nội dung và kế hoạch đàotạo, đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quảgiáo dục đại học Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp dạy - học, chuyển từviệc truyền đạt kiến thức thụ động “Thầy giảng, trò chép” sang hướng dẫntiếp cận tri thức một cách có hệ thống, người học chủ động tư duy phân tích,tổng hợp, phát triển năng lực riêng của cá nhân Đổi mới chương trình đào tạo

và bồi dưỡng giảng viên, chú trọng rèn luyện giữ gìn, nâng cao phẩm chất nhàgiáo Khẩn trương đào tạo, bổ sung đội ngũ giảng viên có chất lượng cao đểđáp ứng mục tiêu đến năm 2020, 100% giảng viên có trình độ thạc sĩ; tăng chỉtiêu giảng viên có trình độ tiến sĩ lên 60% Chú trọng đào tạo giảng viên nữ,lựa chọn sinh viên giỏi để bổ sung cho đội ngũ giảng viên và tiếp tục đào tạohọc đạt trình độ cao

Như vậy, các công trình trên tuy nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhaunhưng đều nhấn mạnh vai trò trung tâm của người giảng viên trong hoạt độnggiáo dục Chất lượng giáo dục phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng đào tạo giáoviên.Việc đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là khâu đột phá có ý

Trang 19

nghĩa quyết định Những nội dung và giải pháp trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũgiảng viên mà các tác giả đưa ra có ý nghĩa tham khảo cho tác giả luận án.

- Nhóm công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳng

Đề tài khoa học, Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo giảng viên lý luận chính trị các trường đại học, cao đẳng do Tô Huy Rứa (chủ nhiệm,

1994) [144], nhóm nghiên cứu đã khảo sát thực trạng đội ngũ GV LLCT ở các

trường đại học lớn ở các khu vực trung tâm; phân tích các chương trình đàotạo GV LLCT của một số trường đại học, học viện khu vực Hà Nội, đồngthời, đánh giá khái quát năng lực đào tạo lý luận Mác - Lênin của các trườngnêu trên; lấy đó làm cơ sở đề xuất khung chương trình đào tạo đội ngũ GVLLCT với những bổ sung, thay đổi phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượngdạy và học các môn lý luận chính trị trong thời kỳ hiện tại

Đề tài nghiên cứu khoa học, Đổi mới quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học Mác - Lênin - Kiến nghị và giải pháp do Phạm Tất Dong (Chủ nhiệm, 1996) [74] Với mục tiêu đưa ra

những giải pháp nhằm đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cácmôn khoa học Mác - Lênin, đề tài đã làm rõ yêu cầu nâng cao chất lượnggiảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, đánh giá thực trạng của đội ngũgiảng viên các môn khoa học Mác - Lênin trong các trường đại học, cao đẳngcủa cả nước, chỉ ra ưu điểm, hạn chế của đội ngũ, nguyên nhân hạn chế Côngtrình đưa ra kiến nghị đổi mới chương trình từ mâu thuẫn khi đưa ra cùng mộtlúc phải đáp ứng nhiều mục tiêu: “Mặc dù phải tuân thủ những yêu cầu chungcủa sách giáo khoa chuẩn, song vẫn có sự thay đổi số lượng tiết học, thời giancủa chương trình”[74, tr.40] Đây là một điều không thể thực hiện trong điềukiện hiện nay

Luận án tiến sĩ Triết học (2001), Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh của Nguyễn

Trang 20

Đình Trãi [167] đã chỉ ra những yêu cầu, biểu hiện đặc thù của công tác giảngdạy lý luận Mác - Lênin, khảo sát sâu thực trạng năng lực tư duy lý luận củađội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh; chỉ

ra những nguyên nhân của những yếu kém về năng lực tư duy lý luận của cán

bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh; từ đó, đề xuấtnhững phương phướng và giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực tư duy lýluận cho đội ngũ cán bộ này Đối với giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng, tạonguồn cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin, tác giả cho rằng công tác này đãđạt được những kết quả to lớn, nhưng còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đápứng dược các yêu cầu thực tiễn, nhất là thực tiên đổi mới Tuy nhiên, tác giảchưa đi sâu vào luận bàn về công tác đào tạo, bồi dưỡng như thế nào để đạthiệu quả cao nhất

Luận án tiến sĩ Triết học, Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay của Phạm Văn Thanh

-(2001) [146], đã khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức khoa họcMác - Lênin trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước Tác giả luận án

đã đề xuất một hệ giải pháp nhằm từng bước tăng cường số lượng, đồngthời nâng cao chất lượng đối ngũ này Luận án cũng đề cập đến vấn đề chấtlượng đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở đào tạo lý luận chính trị như mộtgiải pháp có tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoahọc Mác - Lênin Kết quả nghiên cứu của công trình này là cơ sở để tác giảluận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu

Đề tài KX 10-08, Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề chung do Nguyễn Hữu Vui (Chủ

nhiệm, 2002) [176] Đề tài nghiên cứu đổi mới phương pháp dưới một góc độhẹp - “giảng dạy”, đề tài trình bày một cách tổng quát về đội ngũ giảng viênMác - Lênin, về những phương pháp giảng dạy truyền thống thường gặp ở độingũ và khẳng định: Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học

Trang 21

Mác - Lênin một cách hiệu quả, vấn đề phải được bắt đầu từ chính đổi mới tưduy, nhận thức của đội ngũ giảng viên về phương pháp giảng dạy, về sự cầnthiết phải đổi mới phương pháp Muốn vậy, cần thường xuyên bồi dưỡng,nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chuyên môn cho đội ngũ Đó cũng làmột trong những phương pháp nâng cao chất lượng đội ngũ, từ đó, có tácđộng tích cực ngược lại đối với đổi mới phương pháp giảng dạy.

Đề tài khoa học Phương thức đào tạo đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay do Vũ Đình

Hòe chủ nhiệm (2002) [114] Đề tài tập trung đánh giá thành tựu và hạn chếtrong hoạt động đào tạo đội ngũ GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng,các trường chính trị tỉnh, thành ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền giaiđoạn từ 1990 đến 2002 Trong đó, đặc biệt chú ý đến các giải pháp chung nhằm

đổi mới phương thức đào tạo đội ngũ giảng viên lý luận chính trị: Thứ nhất, cần đổi mới chương trình, nội dung đào tạo; thứ hai, cần đầu tư vào việc viết xuất bản các giáo trình, tài liệu phục vụ cho dạy và học chuyên ngành; thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy; thứ tư, nâng cao chất lượng học tập và

rèn luyện của sinh viên theo hướng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào

tạo; thứ năm, cần đổi mới quản lý quá trình đào tạo; thứ sáu, tăng cường cơ sở

vật chất phục vụ việc dạy và học Những giải pháp này có ý nghĩa tham khảo đốivới đề tài luận án

Ban Khoa giáo Trung ương với đề tài: Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi,

bổ sung một số nội dung giáo dục đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh trong nhà trường ở từng cấp học (2003) [12] Đây là một

công trình nghiên cứu có mục tiêu tìm ra các giải pháp, nhằm nâng cao chấtlượng dạy và học các môn lý luận chính trị, đạo đức công dân trong các bậc họckhác nhau Để hoàn thành mục đích nêu trên, đề tài đã tập trung nghiên cứu vềthực trạng đội ngũ giáo viên, giảng viên giảng dạy các môn học này Theo nhómtác giả, đội ngũ giảng viên Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường

Trang 22

đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay tuy tăng nhanh về số lượng, song vẫn chưađáp ứng được nhu cầu đào tạo Tình trạng dạy vượt giờ, quá tải khiến một sốđông đội ngũ không có thời gian đầu tư, hoàn thiện chuyên môn, ảnh hưởngđáng kể đến chất lượng của đội ngũ Để bổ sung sự thiếu hụt trên, cần tăngcường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV LLCT.

Hội thảo Khoa học, Thực trạng và giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng do Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức (2003) [20] Hội thảo đã đánh giá, phân tích thực trạng giảng dạy,

học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trườngđại học, cao đẳng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượnggiảng dạy, học tập các môn khoa học này Rất nhiều nhà khoa học tham gia Hộithảo đã tập trung nghiên cứu về đội ngũ giảng viên, đề xuất các giải pháp cụ thểnâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, coi đó là một trong những điều kiệnquan trọng để nâng cao một bước chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Luận án tiến sĩ, Kết hợp tính định hướng chính trị với tính khoa học trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường sỹ quan bậc đại học Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của Nguyễn Văn Thạo (2005) [147] Trên cơ sở

phân tích thực trạng kết hợp tính định hướng chính trị với tính khoa học tronggiảng dạy các môn lý luận chính trị, luận án đã đề ra một số giải pháp như:Xây dựng đội ngũ giảng viên; tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình,phương pháp, phương tiện giảng dạy lý luận chính trị Tác giả cho rằng nhữnggiải pháp đó cũng chính là giải pháp phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trongđổi mới giảng dạy lý luận chính trị Đó là thành công nổi bật của luận án Tuynhiên, luận án chưa chỉ ra được những nội dung cần đổi mới trong sự kết hợpgiữa tính định hướng chính trị với tính khoa học trong giảng dạy lý luận chínhtrị; chưa phân tích sự kết hợp này như là vai trò nổi bật của đội ngũ giảng

Trang 23

viên các môn lý luận chính trị.

Đề án Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành Nông - Lâm - Ngư Đại học Nông nghiệp I chủ trì (2006) [78]; Đề án Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành sư phạm Đại học Sư phạm Hà Nội (Chủ trì, 2006) [84]; Đề án Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành kỹ thuật Đại học Bách khoa Hà Nội chủ trì (2006) [77]; Đề án Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì (2006) [79].

Các đề tài này chủ yếu phân tích đặc thù riêng của sinh viên ở mỗingành học Do vậy, giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh cho những đối tượng này cũng cần có phương pháp thích hợp Trên cơ

sở đó, đề tài tập trung đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảngdạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với đặc thùsinh viên của từng khối ngành Một trong những giải pháp được các đề tài chútrọng là giải pháp về đội ngũ giảng dạy, trong đó đặc biệt chú ý vấn đề nâng caonăng lực chuyên môn cho đội ngũ dựa trên việc nắm bắt những đặc điểm riêngbiệt cả về ưu điểm lẫn hạn chế của đội ngũ trong từng khối ngành khác nhau.Những phân tích, luận giải về đặc điểm của giảng viên Mác - Lênin trong cáckhối ngành khác nhau của các đề tài gợi mở cho tác giả luận án về hướng tiếpcận nghiên cứu thực trạng đội ngũ GV LLCT

Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Đề tài Tình hình giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới [16] Nhằm đưa ra các định hướng

lớn và giải pháp tổng thể nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn khoa học

Trang 24

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng, đề tài đãnghiên cứu một cách tổng quát về đội ngũ giảng dạy các môn khoa học này với tưcách là một trong những yếu tố quan trọng, trực tiếp tác động đến chất lượng quátrình dạy và học Vì vậy, giải pháp đề xuất là cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng độingũ này cả về trình độ chuyên môn lẫn phẩm chất chính trị.

Đề tài khoa học thuộc Hội đồng khoa học các Ban Đảng do Nguyễn

Tiến Hoàng chủ nhiệm năm 2007, Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chỉ đạo, quản lý việc giảng dạy các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng [109], đã đánh giá thực

trạng công tác chỉ đạo của các cơ quan Trung ương và các trường đại học, caođẳng đối với việc giảng dạy các môn lý luận chính trị Nhìn chung, công trình

đã chỉ ra được thực trạng công tác chỉ đạo của các cơ quan trung ương và của

Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với việc giảng dạy các môn lý luận chính trị.Thực trạng công tác chỉ đạo đó cũng chính là thực trạng ban hành các chínhsách công cụ về giáo dục lý luận chính trị của Đảng và Nhà nước hiện nay đốivới các trường đại học, cao đẳng Đây chính là vấn đề được tác giả luận án kếthừa và tiếp tục nghiên cứu sâu hơn

Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục Quản lý đào tạo giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới hiện nay của Nguyễn Thị Thu Thủy (2012) [163], đã hệ thống hóa lý luận về quản lý đào tạo nói chung, quản lý

đào tạo GV LLCT nói riêng; nghiên cứu lý luận và phân tích một cách kháchquan, tương đối đầy đủ, toàn diện về thực tiễn quản lý đào tạo GV LLCT, đốichiếu với những yêu cầu, kỳ vọng về nguồn nhân lực có trình độ cao tronglĩnh vực lý luận; xác định được mô hình cấu trúc năng lực, phẩm chất đặc thùcủa GV LLCT, đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra những bất cập trong đàotạo, quản lý đào tạo GV LLCT Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải phápquản lý đào tạo GV LLCT theo hướng tiếp cận mục tiêu và phản ánh những đặcthù của ngành nghề trên cơ sở đáp ứng những yêu cầu của đất nước trong thời kỳ

Trang 25

đổi mới gồm 8 giải pháp Công trình đã cung cấp một số khái niệm công cụ như

GV LLCT, đặc trưng của khoa học lý luận chính trị và yêu cầu về phẩm chất vànăng lực đối với GV LLCT Từ đó đặt ra nhiệm vụ, mục tiêu mà quá trình đào tạo

ở nước ta Nhìn chung, công trình đã đặt ra yêu cầu về năng lực chuyên môn,năng lực sư phạm, phẩm chất đạo đức, của đội ngũ GV LLCT Từ đó, đề xuấtnhững giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này Đào tạo GV LLCTnhằm nâng cao trình độ là một nội dung được công trình đề cập đến Tuy nhiên,

do giới hạn phạm vi đề tài gồm đội ngũ GV LLCT hiện đang công tác tại cáctrường đại học, cao đẳng Nên công trình chỉ đề cập đến đào tạo ở góc độ nângcao trình độ cho đội ngũ này Tức là đào tạo sau đại học

Đề tài khoa học, Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay do PGS, TS Trương Ngọc Nam chủ nhiệm (2015) [132],

đi sâu phân tích những nội dung cơ bản: Thứ nhất, về vị trí, vai trò, phẩm chất và

năng lực của đội ngũ GV LLCT Công trình phân tích những yêu cầu về phẩmchất và năng lực đặc thù của giảng viên lý luận chính trị, những tiêu chí đánh giáchất lượng đào tạo GV LLCT, các nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo giảng

viên lý luận chính trị hiện nay; thứ hai, thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với hoạt động đào tạo - bồi dưỡng GV LLCT hiện nay; thứ ba, đề xuất những giải

pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng GV LLCT hiện nay Đề tài

là nguồn tư liệu tham khảo cho tác giả xác định nội hàm đào tạo GV LLCT cho

Trang 26

các trường đại học, cao đẳng trong luận án của mình.

Luận án tiến sĩ Triết học Phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam hiện nay của Nguyễn Quang Trung (2015) [168], trên cơ sở hệ thống hóa

những vấn đề lý luận về đội ngũ giảng viên dạy các môn lý luận chính trị và vaitrò của họ trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đạihọc, cao đẳng; làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc phát huy vaitrò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở cáctrường đại học, cao đẳng Từ đó, đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát huy hơnnữa vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị

ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam hiện nay Đây là nguồn tư liệu thamkhảo cho tác giả về vị trí vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cáctrường đại học, cao đẳng trong luận án của mình

Nguyễn Đình Trãi (1993), “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho giảng viên Mác - Lênin ở

các trường chính trị tỉnh”, Tạp chí Triết học [166]; Cao Duy Hạ (2005), “Về giảng viên lý luận chính trị”, Báo Nhân Dân [107] Những công trình này đã

đánh giá vai trò đội ngũ GV LLCT nói chung, trong một số trường chính trịtỉnh, thành phố cụ thể nói riêng; qua đó chỉ ra những ưu điểm tiêu biểu và một

số những hạn chế căn bản của đội ngũ này Đề ra giải pháp về đào tạo, bồidưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV LLCT Tuy nhiên, do phạm vi hạn hẹpcủa một bài báo, nên những nội dung nghiên cứu nêu trên mới chỉ dừng lại ởmức khái lược

Đánh giá chung các công trình thuộc hướng nghiên cứu này Các côngtrình chủ yếu tập trung nghiên cứu năng lực, phẩm chất đạo đức, chất lượnggiảng dạy, quy hoạch đào tạo GV LLCT cũng như cơ cấu đội ngũ theo một sốtiêu chí khác nhau Những nghiên cứu đó gợi mở cho nghiên cứu sinh về nănglực chuyên môn, phẩm chất chính trị, nghề nghiệp mà một GV LLCT cần có Từ

Trang 27

đó, xác định mục tiêu của quá trình đào tạo GV LLCT cần hướng đến.

1.2 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố

Qua khảo cứu các công trình đã được công bố trong trong và ngoàinước cho thấy:

Thứ nhất, các công trình đều phân tích vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giảng

viên, GV LLCT, công tác giáo dục lý luận chính trị, đào tạo giảng viên nóichung và GV LLCT nói riêng cho các trường đại học, cao đẳng; nhấn mạnh tầmquan trọng của đội ngũ làm công tác giáo dục lý luận chính trị, trong đó có độingũ GV LLCT Giảng viên các trường đại học, cao đẳng là lực lượng trực tiếptham gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân;đối tượng tác động chủ yếu của trí thức giáo dục đại học là những sinh viên, họcviên cao học và nghiên cứu sinh; mục đích lao động là nhằm đào tạo ra nhữngngười lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt; trí thức giáo dục đại học vừa

là nhà giáo vừa là nhà khoa học, nhà chính trị Vì vậy, cần nâng cao chất lượngđào tạo, bồi dưỡng nhà giáo Đây được coi là khâu đột phá có ý nghĩa quyếtđịnh đối với chất lượng đào tạo tại các nhà trường

Lý luận chính trị với nội dung cơ bản của nó là tri thức khoa học vềchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm củaĐảng GV LLCT có vai trò quan trọng trong định hướng chính trị, xuấtphát từ bản chất của quá trình truyền thụ lý luận chính trị là hình thành chongười học thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan cộng sản Đểthực hiện tốt vai trò của người thầy định hướng chính trị trong giảng dạy,đội ngũ giảng viên phải có những phẩm chất toàn diện về chính trị, đạo đức

và trình độ kiến thức Yêu cầu về bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học sẽ

là cơ sở để giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính trị và khoa học tronggiảng dạy lý luận chính trị Do vậy, việc đào tạo, rèn luyện nâng cao bảnlĩnh chính trị trong mối quan hệ với tri thức khoa học của người GV LLCT

là rất cần thiết nhằm hoàn thiện phẩm chất, năng lực góp phần thực hiện tốt

Trang 28

mục tiêu trong giáo dục - đào tạo ở mỗi nhà trường.

Thứ hai, các công trình đã phản ánh thực trạng đội ngũ giảng viên nói

chung, GV LLCT nói riêng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caochất lượng GV LLCT như: Giải pháp liên quan đến xây dựng và thực hiệnchế độ chính sách để phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ GVLLCT; giải pháp phối hợp các phương thức đào tạo khác nhau (đào tạo chínhquy tập trung tại các Trường, Học viện, cơ sở giáo dục đại học chính quykhông tập trung tại địa phương); giải pháp quản lý đào tạo GV LLCT trị theohướng tiếp cận mục tiêu và phản ánh những đặc thù của ngành nghề trên cơ

sở đáp ứng những yêu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới; giải pháp đượctác giả chú trọng đó là: Đổi mới công tác đào tạo GV LLCT theo hướngchuẩn hóa, hiện đại hóa; giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị trongmối quan hệ với tri thức khoa học của người GV LLCT

Thứ ba, trên cơ sở nhận thức rõ và tầm quan trọng về trình độ và năng

lực của đội ngũ giảng viên nói chung, đội ngũ GV LLCT nói riêng, cũng nhưvai trò, vị trí, ý nghĩa của công tác đào tạo GV LLCT, một số công trình có đềcập ở mức độ nhất định quan điểm, chủ trương của Đảng về đào tạo GV LLCT.Những nội dung này sẽ được tác giả luận án tham khảo, kế thừa trong nghiêncứu thực hiện đề tài luận án

Tuy nhiên, các công trình trên nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ chuyênngành khác nhau như Giáo dục học, Quản lý giáo dục, Triết học… nên mớichỉ dừng lại ở việc phân tích vị trí, vai trò, đánh giá thực trạng, đưa ra giảipháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV LLCT trong đó giải pháp đượcchú ý nhất đó là tăng cường đào tạo đội ngũ này và chủ yếu là đào tạo nângcao trình độ cho đội ngũ hiện đang công tác tại các trường đại học, cao đẳng

Vì vậy, chưa có công trình nào đi sâu phân tích, luận giải sâu sắc các quanđiểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về đào tạo GV LLCT, từ đó đúc kếtnhững kinh nghiệm lịch sử về lãnh đạo công tác đào tạo GV LLCT cho cáctrường đại học, cao đẳng Đây là những vấn đề mà tác giả luận án sẽ tập trung

Trang 29

nghiên cứu khi thực hiện đề tài luận án của mình.

Tóm lại, các công trình khoa học nêu trên dù nghiên cứu ở những góc

độ khác nhau và giới hạn, phạm vi khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh vai trò,

vị trí quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nói chung,đội ngũ GV LLCT nói riêng, thông qua đào tạo, bồi dưỡng từ đó đề xuất cácgiải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cán bộ lý luận nóichung, GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng nói riêng Đây là nhữngtài liệu tham khảo quý cho quá trình thực hiện luận án của tác giả

1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào được công bố đi sâunghiên cứu một cách có hệ thống, dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam, sự lãnh đạo của Đảng về đào tạo GV LLCT cho các trường đạihọc, cao đẳng từ năm 2001 đến năm 2015 Đây là một khoảng trống, màtác giả luận án sẽ phải tập trung nghiên cứu giải quyết trong luận án

Về phương pháp tiếp cận: Đối tượng nghiên cứu của luận án được xácđịnh dưới góc độ mã ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tức là nghiêncứu chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về đào tạo GV LLCT cho các trường đạihọc, cao đẳng

Về nội dung, luận án sẽ tập trung làm rõ những vấn đề như:

Một là, nêu và phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng

về đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2015)

Hai là, phân tích, luận giải rõ chủ trương và chỉ đạo của Đảng về đào

tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng từ năm 2001 đến năm 2015

Ba là, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu

điểm, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng về đào tạo GV LLCT cho cáctrường đại học, cao đẳng

Bốn là, đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo đào tạo

GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng từ năm 2001 đến 2015

Trang 30

Kết luận chương 1

Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên nói chung, giảng viên cho các trường đạihọc, cao đẳng nói riêng là mảng đề tài được nhiều nhà quản lý giáo dục, nhànghiên cứu dành thời gian, công sức và tâm huyết nghiên cứu với những góc độtiếp cận khác nhau Các kết quả nghiên cứu cũng được công bố dưới nhiều hìnhthức khác nhau như: Tham luận hội thảo, đề tài khoa học thuộc nhiều cấp độ, bàiviết trên báo, tạp chí, luận án tiến sĩ

Đào tạo, bồi dưỡng GV LLCT xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vị trí,vai trò của đội ngũ này trong việc bồi dưỡng nền tảng tư tưởng cho thế hệ trẻ, đã

có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau Các đề tàinghiên cứu thường tiếp cận thực trạng đội ngũ giảng viên ở các trường đại học,cao đẳng nói chung, GV LLCT ở các trường đại học nói riêng, chỉ ra những ưuđiểm và hạn chế của đội ngũ này, từ đó, đề xuất những giải pháp đổi mới, khắcphục hạn chế, nâng cao chất lượng của đội ngũ này, trong đó hầu hết đều nhấnmạnh vai trò của đào tạo, bồi dưỡng Đây là khâu trọng yếu của quá trình hìnhthành cả về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ này

Trên cơ sở phân tích tóm tắt những nội dung của các công trình khoa họcthu thập được Tác giả chỉ ra khoảng trống trong nghiên cứu Trong đó, dưới góc

độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về Đảnglãnh đạo đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng Từ đó, đề ra hướngnghiên cứu mới, và những nội dung luận án cần tập trung giải quyết Chỉ ra sự tácđộng của tình hình thế giới và trong nước đến sự lãnh đạo của Đảng về đào tạo

GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng; phân tích, luận giải chủ trương và sựchỉ đạo của Đảng về đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng từ năm

2001 đến năm 2015; từ đó có những đánh giá về quá trình Đảng lãnh đạo đào tạo

GV LLCT cho các trường đại học, cao đẳng; đúc kết một số kinh nghiệm có ýnghĩa tham khảo trong hoạt động đào tạo GV LLCT cho các trường đại học, caođẳng trong những năm tiếp theo

Trang 31

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ ĐÀO TẠO

GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC,

CAO ĐẲNG (2001 - 2006) 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng về đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2006)

2.1.1 Tác động từ tình hình thế giới

Năm 1991, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và một số nước Đông Âu

đã làm thay đổi cục diện chính trị trên thế giới Đảng Cộng sản ở nhiều nướcmất quyền lãnh đạo Mặc dù phong trào cánh tả ở một số nước có sự khôiphục và phát triến, nhưng CNXH vẫn trong tình trạng thoái trào, phong tràocách mạng thế giới vẫn đứng trước những khó khăn và thử thách nghiêmtrọng Trước tình hình đó, không ít người đã bị giảm sút niềm tin chủ nghĩaMác - Lênin, hoài nghi vào tính hiện thực của CNXH, dao động về con đường

đi lên xã hội chủ nghĩa

Trước sự sụp đổ của Liên Xô và một số nước Đông Âu, chủ nghĩa đếquốc tăng cường thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, dưới danh nghĩa “bảo

vệ nhân quyền”, “bảo vệ an ninh thế giới” Mỹ và đồng minh đã can thiệp sâuvào chủ quyền của các quốc gia khác Thực hiện âm mưu “diến biến hòa bình”,

về thực chất, các lực lượng đối lập đang tiến hành một cuộc chiến tranh tâm lý,chính trị, văn hóa, lợi dụng giao lưu văn hóa và kinh tế thị trường, bằng nhiềucon đường, dưới nhiều hình thức tuyên truyền, kích động, làm lung lay nềnmóng chế độ, nhất là nền móng tư tưởng, làm cho chủ nghĩa xã hội rối ren và sẽlật đổ chế độ khi có điều kiện

Những biến động lớn về chính trị - xã hội trên thế giới đã liên tiếp xảy ravới xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo,chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, đặc biệt là vụ khủng bốnước Mỹ ngày 11/9/2001 cho thấy sự bất ổn trong quá trình phát triển của hàng

Trang 32

loạt quốc gia trên thế giới Trong đó, có các nước đi theo con đường XHCN.

Trước những biến động của tình hình thế giới, đòi hỏi các quốc gia phải

có chiến lược riêng Đối với Việt Nam, cần chứng minh việc lựa chọn conđường xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh là hoàn toàn đúng đắn Điều đó đòi hỏi trước hết phải đào tạo cho đượcmột đội ngũ cán bộ lý luận bản lĩnh vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng,với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường mà Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn

2.1.2 Tác động từ tình hình trong nước

Một là, biến động lớn về tình hình thế giới và sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước đã tác động mạnh đến công tác tư tưởng lý luận,đặc biệt là công tác giáo dục lý luận chính trị trong các nhà trường

Sự sụp đổ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và một sốnước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã tác động rất lớn đến công tác giáo dục lýluận chính trị trong các nhà trường Xuất hiện khuynh hướng dao động, hoàinghi về CNXH và chủ nghĩa Mác - Lênin, hoài nghi đối với tính cách mạng,khoa học lý luận chính trị, hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ởViệt Nam, hoài nghi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.Nếu không có cách tiếp cận, nhìn nhận mới, không đủ năng lực khoa học,chuyên môn để phân tích, đánh giá về sự biến đổi vận động của thế giới thì rất

dễ dao động, dẫn đến hoài nghi, lung lay niềm tin, dần đánh mất bản lĩnh chínhtrị và nhiệt huyết để lựa chọn theo học các chuyên ngành lý luận chính trị Dẫnđến các chuyên ngành đào tạo GV LLCT nói riêng không còn sức hút vớingười học như những năm trước đây Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến một

số cơ sở đào tạo không tuyển sinh được người học

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải chủ độngtrên mọi lĩnh vực nhằm nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ Đối với công tác tưtưởng lý luận, cần chủ động, vững vàng, kiên định lập trường chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ những hoài nghi về sự sụp đổ của chế độ

Trang 33

Trọng trách nặng nề trên đặt lên vai đội ngũ cán bộ tư tưởng lý luận Đội ngũnày phải có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Do đó, đào tạo cán bộ tư tưởng, lý luận nói chung, GV LLCT nói riêng phải đápứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH Tức là, đào tạo phải trang bị kiến thứcchuyên sâu, kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm cho người học nhằm hướng tới xâydựng một đội ngũ GV LLCT “vừa hồng” “vừa chuyên”, vừa nắm chắc, hiểu sâu

lý luận chính trị, lại vừa tinh thông nghiệp vụ sư phạm Từ đó, góp phần đấutranh bảo vệ con đường, mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta đã chọn, làm thất bạimọi âm mưu của kẻ thù trong tình hình mới

Hai là, công tác đào tạo GV LLCT đã đạt được một số kết quả quan

trọng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế

Đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳngnói riêng có quá trình lịch sử gắn liền với yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn của mỗigiai đoạn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân

Từ năm 1954 đến tháng 9 năm 1965, là thời kỳ đầu xây dựng và hìnhthành hệ thống trường đại học ở miền Bắc Giảng viên lý luận chính trị chủyếu được đào tạo ở Liên Xô

Từ tháng 10 năm 1965 đến tháng 3 năm 1990, Chỉ thị của Ban Bí thư khoá V, số 25 CT/TW ngày 12/10/1983, Về việc cải cách giáo dục lý luận chính trị trong các trường đại học và cao đẳng nhận định: Đào tạo GV LLCT là vấn

đề có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả giáo dục và cũng là khâu yếunhất hiện nay nên phải có quyết tâm, chủ trương, biện pháp giải quyết cho kỳđược và yêu cầu ngành giáo dục và đào tạo “cần xây dựng một quy hoạch về đàotạo bồi dưỡng đội ngũ này cho toàn ngành đại học, đủ về số lượng, đảm bảo vềchất lượng chính trị và nghiệp vụ, tạo ra cho được một lực lượng nòng cốt, đầungành” [6, tr.4] Chỉ thị đã nêu ra hai biện pháp quan trọng, trước hết, cần tậptrung xây dựng các khoa Mác - Lênin của các Trường Đại học Tổng hợp Hà

Trang 34

Nội, Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế kế hoạch, Đạihọc Sư phạm I Hà Nội Đồng thời, giao cho “Ban Tuyên huấn Trung ương,Trường Đảng cao cấp, Viện Mác - Lênin có nhiệm vụ tích cực góp phần đào tạo,bồi dưỡng giáo viên Mác - Lênin cho ngành đại học” [6, tr.5].

Với chủ trương đúng đắn, sự chỉ đạo thiết thực của Bộ Đại học và Trunghọc chuyên nghiệp, nên đến năm 1983, trong các trường đại học đã “Xây dựngđược một đội ngũ giáo viên lý luận chính trị gần 1000 người, nói chung đội ngũnày có phẩm chất chính trị tốt, có trình độ văn hóa và tri thức chuyên ngànhtương đối khá, có tinh thần khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ” [6, tr.1]

Từ tháng 3 năm 1990 đến 2000, với chủ trương “Làm tốt việc đào tạo, bồidưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên chính trị” [31, tr.1-4] Ngày 20/11/1990, Chủtịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 406-

HĐBT Về việc công nhận trường Tuyên giáo Trung ương I là trường Đại học Tuyên giáo Đến 10/3/1993, theo Quyết định số 61 - QĐ/TW của Bộ Chính trị

Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trương Đại học Tuyên giáo trở thành trườngđại học trực thuộc cơ quan chủ quan là Học viện Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh Từ đây, ngoài vai trò là một trường Đảng đào tạo cán bộ cho hệ thốngchính trị, Đại học Tuyên giáo còn là một trường đại học duy nhất nằm trong hệthống trường Đảng và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, do Bộ Giáo dục vàĐào tạo quản lý về quy chế đào tạo, các mặt khác trực thuộc Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh Có thể nói, trong số các cơ sở đào tạo các chuyên ngành

lý luận chính trị, thì Học viện Báo chí và Tuyên truyền là cơ sở duy nhất thựchiện một cách tập trung nhất nhiệm vụ đào tạo GV LLCT cho cả nước

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đào tạo GV LLCT đã đạt đượcnhững thành tựu đáng khích lệ Đã đào tạo được một đội ngũ phát triển cả về sốlượng và trình độ chuyên môn, từng bước đáp ứng yêu cầu dạy và học lý luậnchính trị trong các trường đại học, cao đẳng Quá trình đào tạo có cả những ưuđiểm và hạn chế

Trang 35

Thứ nhất, quy mô, số lượng đào tạo từng bước được mở rộng và ổn

định hơn

Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995: Trong giai đoạn này, các cơ sở đàotạo gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh viên vào học các chuyênngành đào tạo GV LLCT Vì vậy, số lượng sinh viên tuyển được là rất ít Điểnhình có thể kể đến Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, trong suốt 5 năm (1991 -1995) chỉ tuyển sinh và đào tạo được 05 lớp với 123 sinh viên [114] Thậm chí

có năm Phân viện không tuyển sinh được lớp nào Phân viện gửi thông báo vàcông văn tuyển sinh đào tạo 5 chuyên ngành nhưng chỉ tuyển sinh được 13 đến

17 người và bắt buộc phải ghép nhiều nguyện vọng khác nhau vào đào tạo mộtchuyên ngành nào đó có nhiều người đăng ký

Sự khó khăn trong công tác tuyển sinh giai đoạn này chủ yếu là do ở cáctrường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp việc giảng dạy, học tập cácmôn lý luận chính trị bị coi nhẹ Nhiều trường bỏ một số môn lý luận chính trị(nhất là kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử ĐảngCộng sản Việt Nam) trong chương trình đào tạo Ngoài ra, sự sụp đổ của chủnghĩa xã hội ở Liên Xô và một số nước Đông Âu đã ảnh hưởng đến thái độ củamột bộ phận quần chúng nhân dân, nhất là thế hệ trẻ đối với chủ nghĩa Mác -Lênin, đối với nghề giảng dạy lý luận chính trị Tâm lý chung là không thích học

lý luận chính trị, càng không muốn gắn bó với nghề giảng dạy các môn lý luậnchính trị Hơn thế nữa, tiêu chuẩn tuyển sinh còn nhiều điểm không phù hợptrong điều kiện mới Ngoài tiêu chuẩn về học vấn, các tiêu chuẩn về chính trị (làđảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; cán bộ trong biên chế Nhà nước) quá cao

so với thế hệ trẻ lớn lên sau chiến tranh, lại sống trong thời kinh tế thị trường.Nhiều người có nguyện vọng trở thành cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luậnchính trị nhưng thiếu tiêu chuẩn dự tuyển

Giai đoạn 1996 - 2000: Ở giai đoạn này, quy mô và số lượng đào tạo tăngdần và ổn định hơn so với giai đoạn trước Riêng ở Phân viện Báo chí và Tuyêntruyền quy mô đào tạo giảng viên lý luận chính trị hệ chính quy tập trung ổn

Trang 36

định ở mức 250 người/năm, lưu lượng sinh viên lý luận chính trị học tập tạitrường khoảng 1.200 người/năm [114] Sự tăng lên liên tục và ổn định về sốlượng sinh viên các ngành đào tạo GV LLCT xuất phát từ chính nhu cầu thựctiễn về giảng viên lý luận chính trị tại các trường đại học, cao đẳng tăng lên saukhi ban hành Thông báo số 214 TB/TW ngày 3-5-1999 của Bộ Chính trị khóa

VIII, về ý kiến của Thường vụ Bộ Chính trị, Về Đề án nâng cao chất lượng

và hiệu quả giảng dạy, học tập các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng Bên cạnh đó, đối tượng

tuyển sinh cũng được điều chỉnh, ngoài tiêu chí về học vấn, tiêu chuẩn chínhtrị là đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đang là cán bộ trongbiên chế hoặc đang công tác dưới hình thức hợp đồng lao động dài hạn tạimột cơ quan, xí nghiệp … được cấp có thẩm quyền cử đi học

Nhờ chủ trương tạo nguồn tuyển sinh đúng đắn, phù hợp, công tác đàotạo GV LLCT ở các cơ sở đào tạo GV LLCT đi đúng hướng, mở rộng đượcquy mô đào tạo, tăng cường số lượng và chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu

về giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị cho các trường đại học, caođẳng trong cả nước, phục vụ đắc lực hơn công tác tư tưởng lý luận của Đảng

Thứ hai, chất lượng đào tạo được chú ý về mặt kiến thức, năng lực

chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của người học

Chất lượng đào tạo về mặt kiến thức

Chương trình nội dung đào tạo đã bám sát nhu cầu của thực tiễn xã hội vàyêu cầu về đào tạo GV LLCT Chương trình đào tạo GV LLCT được xây dựngcăn cứ vào nhu cầu thực tiễn xã hội và yêu cầu của công tác giáo dục lý luậnchính trị cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, đồng thời căn cứ vào chương

trình giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng

Với 90 đến 95 đơn vị học trình kiến thức đại cương (bao gồm kiến thức

cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học xã hội vànhân văn, ngoại ngữ, khoa học tự nhiên và toán học, giáo dục thể chất và quốc

Trang 37

phòng) và 120 đơn vị học trình kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (bao gồm kiếnthức cơ sở ngành và kiến thức chuyên ngành (70 - 78 đơn vị học trình)[114],sinh viên các chuyên ngành lý luận chính trị được trang bị một khối lượng kiếnthức vừa cơ bản, hệ thống, vừa hiện đại, vừa tổng hợp, vừa chuyên sâu, phù hợpvới lĩnh vực chuyên môn mà họ giảng dạy Theo kết quả khảo sát 4/2001 tại

công trình khoa học cấp bộ Phương thức đào tạo giảng viên lý luận chính trị ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền: 100% số người được hỏi cho rằng chương

trình đào tạo rất thiết thực; 85% cho rằng thường xuyên sử dụng kiến thức vàocông tác giảng dạy; 66,7% cho rằng thường xuyên sử dụng kiến thức vào côngviệc nghiên cứu khoa học [114]

Tuy nhiên, cũng theo kết quả khảo sát trên, nhiều người được hỏi chorằng chất lượng đào tạo về mặt kiến thức còn một số vấn đề cần khắc phục,chẳng hạn: Khối lượng kiến thức quá lớn, số môn học được thiết kế quá nhiều sovới thời gian đào tạo Thời gian tự học, tự nghiên cứu, thời gian dành choxemina, thảo luận, trao đổi ít, nhiều môn học không tổ chức xemina Điều đódẫn đến hậu quả là nhiều bộ phận kiến thức nắm chưa đủ độ sâu, hạn chế khảnăng nắm kiến thức một cách có hệ thống

Dung lượng kiến thức mới, hiện đại còn ít, nhiều giảng viên chưa tiếp cậnđược các kết quả mới về lý luận và thực tiễn để đưa vào bài giảng Tính kinhviện sách vở, sáo mòn trong nội dung giảng dạy còn nhiều, bài giảng còn thiếuhơi thở của cuộc sống, thiếu tính sinh động của thực tiễn đất nước và thời đại.Kiến thức của một số môn học trong chương trình còn trùng lăp Nhiều môn họcthuộc kiến thức giáo dục đại cương như văn học, lịch sử còn trùng lặp lạichương trình của trung học phổ thông, gây lãng phí về quỹ thời gian, khôngnâng cao được kiến thức mới cho người học Giáo trình, tài liệu tham khảo cònthiếu

Chất lượng đào tạo về năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp

Các cơ sở đào tạo đã chú trọng đào tạo năng lực chuyên môn cho sinhviên các chuyên ngành lý luận chính trị (Năng lực giảng dạy và năng lực nghiên

Trang 38

cứu khoa học) Thể hiện ở việc đưa vào chương trình đào tạo một số môn họctrang bị kiến thức lý thuyết, nâng cao kỹ năng nghiên cứu khoa học như: Khoahọc luận, Xã hội học, đồng thời khai thác vận dụng chức năng hình thànhphương pháp luận nghiên cứu khoa học của tất cả các môn khoa học trongchương trình, nhất là Triết học và các môn khoa học chuyên ngành Bên cạnh đó,việc thiết kế chương trình đào tạo GV LLCT với ba bộ phận kiến thức: Kiến thứcđại cương, kiến thức cơ sở ngành, kiến thức chuyên ngành đã góp phần hình thành

bề rộng và nền kiến thức cơ bản vững chắc, giúp GV LLCT có khả năng nghiêncứu, vận dụng sáng tạo các bộ môn lý luận chính trị sau khi tốt nghiệp

Bên cạnh những ưu điểm trên, trong chương trình nội dung đào tạo thểhiện kiến thức lý thuyết, lý luận về phương pháp giảng dạy các chuyên ngànhcòn nghèo nàn, chưa đủ độ sâu sắc, các vấn đề về tâm lý sư phạm, các phươngpháp dạy - học tích cực chưa được giới thiệu thấu đáo; thời gian kiến tập, thựctập, soạn bài và giảng bài còn ít Hầu hết sinh viên các chuyên ngành lý luậnchính trị chỉ được thực tập 1 - 2 lần tại trường

Thứ ba, tổ chức và quản lý quá trình đào tạo được chú trọng trên tất cả

các khâu

Phương thức tổ chức đào tạo, công tác kiểm định chất lượng đào tạo đượctriển khai có hệ thống Công tác thi, kiểm tra, đánh giá đảm bảo theo tiêu chuẩnkiến thức, kỹ năng, thái độ đã được xác định, đảm bảo yêu cầu khách quan,chính xác, từ đó tạo động lực cho việc dạy và học Một số cơ sở đào tạo đã hoànthiện bộ tiêu chí đánh giá nội bộ trên nhiều mặt hoạt động của nhà tường, tậptrung vào hoạt động đào tạo Trong tổ chức đào tạo, đã chú ý đến sự kết hợpgiữa học tập với nghiên cứu khoa học, rèn luyện bồi dưỡng phẩm chất chính trị,đạo đức, kỹ năng sống cho sinh viên lý luận chính trị Quản lý đào tạo bằng hệthống quy chế, quy định chung của Nhà nước của các nhà trường là nhiệm vụhết sức quan trọng Các cơ sở đào tạo GV LLCT đã xây dựng và bám sát quychế đào tạo và thực hiện tốt công tác quản lý quy chế đào tạo, đảm bảo chohoạt động đào tạo diễn ra đúng quy định, quy trình, quy chuẩn, nhất là quản lý

Trang 39

chương trình, quản lý quá trình dạy và học trên lớp, quản lý rèn luyện, tạomôi trường dân chủ, minh bạch trong các hoạt động của sinh viên.

Mặc dù vậy, công tác tổ chức và quản lý đào tạo còn tồn tại những hạnchế nhất định như: Công tác thi, kiểm tra, đánh giá đang còn những bất cập từkhâu lựa chọn hình thức thi, ra đề, coi thi đến chấm thi Các hình thức thi chủyếu là tự luận, chưa nhiều hình thức thi vấn đáp, trắc nghiệm Khâu ra đề thi cònnặng về kiểm tra kiến thức, chưa chú trọng kiểm tra năng lực và phẩm chất củangười học; chưa tìm cách ra đề hiệu quả để đánh giá khách quan, công bằngnăng lực người học Việc coi thi, chấm thi còn mang tính truyền thống, ít thayđổi và nặng nề Tình trạng tiêu cực, thiếu công bằng trong thi cử vẫn còn nhiều,điều này tác động đến động cơ, thái độ học tập của sinh viên cũng như việcgiảng dạy của giảng viên

Từ thực trạng đào tạo GV LLCT, đặt ra yêu cầu đối với quá trình đào

tạo GV LLCT, đó là: Trước hết, về năng lực chuyên môn và nghiệp vụ Quá

trình đào tạo GV LLCT cần hướng tới trang bị một lượng tri thức khoa học đảmbảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống phù hợp với

chuyên môn; thứ hai, về phẩm chất chính trị và đạo đức Đào tạo GV LLCT là

một hoạt động đặc thù Ngoài nhiệm vụ trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp

vụ sư phạm, quá trình đào tạo phải hướng tới rèn bản lĩnh chính trị vững vàng

cho người học; thứ ba, trang bị kiến thức lý luận chung nhất về nghiên cứu

khoa học; hình thành và phát triển khả năng nghiên cứu khoa học cho sinhviên đối với những vấn đề chính trị xã hội nảy sinh trong thực tiễn Trên cơ sở

đó, sau khi tốt nghiệp các em có thể tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiêncứu khoa học tại các đơn vị công tác

2.2 Chủ trương của Đảng về đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳng (2001 - 2006)

2.2.1 Quan điểm, mục tiêu

Trang 40

Thứ nhất, đào tạo GV LLCT nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực

chất lượng cao trong thời kỳ CNH, HĐH

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng đã nhấn mạnh: Xãhội ta là xã hội vì con người và con người luôn giữ vị trí trung tâm của sự pháttriển kinh tế, xã hội Do đó, “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong nhữngđộng lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điềukiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [92, tr.108 -109] Đại hội IX tiếp tụckhẳng định:

Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyếtđịnh sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo…Đổi mớiphương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạocủa người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủkiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay Đổi mới và tổ chức thựchiện nghiêm minh chế độ thi cử Đề cao tính tự chủ của trường đại học…Phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm, cảithiện chế độ đãi ngộ [92, tr.201, 203-204]

Giáo dục - đào tạo con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóakhông phải là con người chung chung, trừu tượng mà là con người có hoài bão,

có lý tưởng được trang bị lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhữngcon người nhạy bén với cái mới, mạng bản sắc Việt Nam của thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Trước tiên cần có một đội ngũ giảng viên đáp ứng yêucầu về năng lực trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị, hiểu biết sâu sắc về lýluận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Chính quá trình đào tạo GV LLCT sẽhình thành những người giảng viên ấy

Cụ thể hóa chủ trương trên của Đảng, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 của Chính phủ khẳng định: “Để đi tắt đón đầu từ một đất

nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục và khoa học công nghệ lại càng

Ngày đăng: 09/04/2020, 11:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc Am (2009), Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy lý luậnchính trị
Tác giả: Vũ Ngọc Am
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
2. Hoàng Anh (2006), Giáo dục lý luận Mác - Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục lý luận Mác - Lênin với việc hình thành và pháttriển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trườnghiện nay
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2006
3. Trần Xuân Bách, Phạm Quang Xưng (2004), “Một số suy nghĩ về vấn đề quản lý đội ngũ giảng viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở một trường đại học”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc gia về Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam - Hội nhập và thách thức , Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về vấnđề quản lý đội ngũ giảng viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạoở một trường đại học”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc gia về Đổimới giáo dục đại học Việt Nam - Hội nhập và thách thức
Tác giả: Trần Xuân Bách, Phạm Quang Xưng
Năm: 2004
4. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa III (1962), Nghị quyết 36/NQ - TW ngày 16/01/1962, Về việc hợp nhất Trường Nguyễn Ái Quốc phân hiệu II, Trường Tuyên huấn và Trường Đại học Nhân dan thành trường Tuyên giáo Trung ương, Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 36/NQ - TWngày 16/01/1962, Về việc hợp nhất Trường Nguyễn Ái Quốc phân hiệuII, Trường Tuyên huấn và Trường Đại học Nhân dan thành trườngTuyên giáo Trung ương
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa III
Năm: 1962
5. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1983), Quyết định số 15/QĐ - TƯ ngày 02 tháng 01 năm 1983, Về sắp xếp lại hệ thống trường Đảng, Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 15/QĐ - TƯ ngày 02tháng 01 năm 1983, Về sắp xếp lại hệ thống trường Đảng
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 1983
6. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1983), Chỉ thị số 25 - CT/TW ngày 12 tháng 10 năm 1983, Về cải cách giáo dục lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 25 - CT/TW ngày 12 tháng10 năm 1983, Về cải cách giáo dục lý luận chính trị trong các trường đạihọc, cao đẳng
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 1983
7. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2003), Chỉ thị số 23 - CT/TW ngày 27 tháng 3 năm 2003, Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyên giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 23 - CT/TW ngày 27 tháng3 năm 2003, Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyên giáo dục tư tưởngHồ Chí Minh trong giai đoạn mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2003
9. Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06/1/2010, Về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012, Văn phòng Ban cán sự Đảng - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐngày 06/1/2010, Về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012
Tác giả: Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
10. Ban Chấp hành Trung ương (2002), Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 18/3/2002, Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày18/3/2002, Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trongtình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2002
11. Ban Chấp hành Trung ương (2007), Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 01/8/2007, Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày01/8/2007, Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2007
12. Ban Khoa giáo Trung ương (2003), Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung một số nội dung giáo dục đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhà trường ở từng cấp học, Đề tài khoa học, Mã KHBĐ - 2003 - 20, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi, bổsung một số nội dung giáo dục đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác - Lênin,Tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhà trường ở từng cấp học
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Năm: 2003
13. Ban Liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2003), Nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ IV, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Ban Liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
14. Ban Tổ chức Trung ương (2005), Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW ngày 30 tháng 3 năm 2005, Về thực hiện trợ cấp đối với học viên đi học tại các trường chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW ngày 30tháng 3 năm 2005, Về thực hiện trợ cấp đối với học viên đi học tại cáctrường chính trị
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2005
15. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghịTrung ương 5 khóa IX
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
16. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tình hình giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới, Đề tài nghiên cứu khoa học, Vụ Nghiên cứu khoa học - Ban Tuyên giáo Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình giảng dạy, học tập các mônkhoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, caođẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2007
17. Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Đề án công tác giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin trong các trường đại học, cao đẳng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án công tác giảng dạy, học tập cácmôn khoa học Mác - Lênin trong các trường đại học, cao đẳng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2010
18. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2014), Nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên lý uận chính trị ở Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên lý uận chínhtrị ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2014
19. Ban Tuyên giáo Trung ương (2014), Hướng dẫn số 127-HD/BTGTW ngày 30/6/2014, Về thực hiện Kết luận số 94-KL/TW, ngày 28/3/2014 của Ban Bí thư, Về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 127-HD/BTGTW ngày30/6/2014, Về thực hiện Kết luận số 94-KL/TW, ngày 28/3/2014 của BanBí thư, Về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thốnggiáo dục quốc dân
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2014
20. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003), Thực trạng và giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đổimới nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2003
21. Đặng Quốc Bảo (2001), Tổng quan về tổ chức và quản lý, Bài giảng cho lớp cao học khoá 1 Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về tổ chức và quản lý
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w