1. Tính cấp thiết của đề tài Thực tế cho thấy, thời tiết xấu ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sống của các hộ gia đình nghèo, các nhóm xã hội dễ tổn thương và là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo, tình trạng yếu kém của giáo dục, y tế và xa hơn nữa là sự trì trệ kinh tế trong dài hạn. Theo một báo cáo của Liên hiệp quốc, tần suất các thảm họa thiên nhiên đang tăng lên. Trung bình có khoảng 335 thảm họa thiên nhiên mỗi năm trong vòng hai thập kỷ qua, tăng 14% so với thập kỷ trước và gần gấp đôi con số ghi nhận được trong giai đoạn 1985 - 1994. Năm 2016, Việt Nam đã chứng kiến nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt ở Nam Trung Bộ, hạn hán nặng nề, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long. Những thảm họa thiên tai diện rộng đó đã gây ra thiệt hại hàng tỷ USD. Trong khi đó, theo số liệu từ công ty tái bảo hiểm Munich RE của Đức, con số thiệt hại này trên thế giới lên tới 175 tỷ USD. Đây là con số thiệt hại lớn nhất được ghi nhận trong vòng 4 năm qua. Theo thống kê này, thiệt hại về người do thảm họa thiên nhiên trong năm 2016 là 8.700 người, thấp hơn nhiều so với con số 25.400 người năm 2015. Tuy nhiên, thiệt hại về mặt kinh tế của năm 2016 lại tăng gần 2/3 so với năm 2015. Đây là yếu tố gây ra những thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư không chỉ các nước phát triển mà còn các nước đang phát triển. Tuy nhiên, tác động kinh tế của thiên tai đối với nước đang phát triển còn lớn hơn do thị trường bảo hiểm của những nước này còn non trẻ. Trong khi đó, Chính phủ các nước không đủ nguồn lực tài chính để hỗ trợ phục hồi, tái thiết sau thiên tai, làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư. Nằm trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, nơi gánh chịu đến 70% các thảm họa thiên nhiên thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai đồng thời chịu ảnh hưởng nặng nề của tình trạng biến đổi khí hậu. Theo nghiên cứu mới đây của Quỹ Châu Á và Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong 10 năm qua Việt Nam là 1 trong 5 nước có rủi ro thiên tai cao nhất thế giới. Trung bình mỗi năm thiên tai làm chết khoảng 231 người, gây thiệt hại 18.637 tỷ đồng, tương đương 0,5% GDP cả nước. Trong khi đó, chi dự phòng của ngân sách chỉ đảm bảo hỗ trợ 30% giá trị thiệt hại do thiên tai. Nội dung chi chủ yếu nhằm cứu trợ khẩn cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau khi xảy ra thiên tai, các quốc gia đã dành nhiều ưu tiên cho công tác quản lý rủi ro và tài trợ rủi ro thông qua nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc quy định phải mua bảo hiểm cho rủi ro thiên tai. Tuy nhiên, theo Munich Re, ngoại trừ Nhật Bản, các nước khác trong khu vực Đông Á có mức độ quan tâm đến bảo hiểm rủi ro thiên tai không thỏa đáng. Để giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai, Việt Nam đã thực thi một số chính sách tài chính như chính sách miễn giảm thuế, chính sách chi cho công tác giảm nhẹ và khắc phục thiên tai và bảo hiểm (thí điểm bảo hiểm nông nghiệp). Tuy nhiên, cũng giống như các nước khác, vấn đề mà Việt Nam đang gặp phải là ngân sách còn eo hẹp trong khi nhu cầu chi cho giảm nhẹ, khắc phục thiên tai thì ngày một tăng vì vậy, việc phát triển, mở rộng và triển khai bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam là yêu cầu cần thiết. Trên thực tế, xét dưới góc độ là một gói bảo hiểm độc lập, thì bảo hiểm thiên tai là một hình thức bảo hiểm mới, chưa được triển khai tại Việt Nam, rủi ro thiên tai thường được triển khai như là một đơn mở rộng trong các đơn nghiệp vụ bảo hiểm khác. Xuất phát từ thực tế trên, em đã lựa chọn đề tài đề tài: “Bảo hiểm rủi ro thiên tai ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” nhằm đánh giá vai trò của bảo hiểm đối với rủi ro thiên tai ở Việt Nam, thực trạng triển khai bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam... từ đó đề xuất các giải pháp cũng như kiến nghị nhằm phát triển bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam. 2. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu, đánh giá tình hình thiên tai, thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam trong thời gian qua và các giải pháp tài chính chủ yếu để đối phó với thiên tai. - Tìm hiểu về các hình thức bảo hiểm thiên tai trên thế giới, phân tích và đánh giá thực trạng bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam. - Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng mô hình bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hoạt động bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam trong những năm gần đây và các mô hình thiên tai ở một số quốc gia trên thế giới 4. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên việc kết hợp các phương pháp thông dụng trong nghiên cứu khoa học, bao gồm cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Thứ nhất, các phương pháp định lượng trong nghiên cứu này được sử dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng của thiên tai tại Việt Nam.Thứ hai, các phương pháp định tính sẽ được sử dụng để mô tả, đánh giá vai trò của bảo hiểm thiên tai. - Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh để nghiên cứu kinh nghiệm các nước trong việc áp dụng bảo hiểm thiên tai, trên cơ sở đó rút bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 5. Tổng quan nghiên cứu Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy tại một số nước có ngành bảo hiểm phát triển và có lịch sử lâu đời, bảo hiểm thiên tai đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, trong đó tập trung chủ yếu vào những khía cạnh nghiệp vụ, cơ sở pháp lý, vai trò của nhà nước, cách thức tổ chức thực hiện v.v. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước về bảo hiểm thiên tai hầu như rất ít, mặc dù trên thực tế, một số cuộc hội thảo, trao đổi về việc thực hiện bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam đã được tiến hành, tiêu biểu cuộc hội thảo giữa Tổng CTCP Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare) với Tập đoàn Tái bảo hiểm Thụy Sĩ Swiss Re về triển khai giải pháp bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam, Luật Phòng chống thiên tai được Quốc Hội thông qua vào tháng 6/2013 có quy định Quỹ phòng, chống thiên tai; báo cáo “Các giải pháp tài chính cho rủi ro thiên tai tại Việt Nam” của Word Bank năm 2010. Trong khi đó phần lớn các bài viết, công trình khoa học, sách viết về bảo hiểm thiên tai chủ yếu tập trung ở các nghiên cứu nước ngoài. Trên thực tế, đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện mà nội dung ít nhiều có liên quan đến chủ đề này như “Bảo hiểm giảm nhẹ thiên tai” , “Bảo hiểm mùa màng ở Việt Nam” , “Tổng quan về thiên tai Khu vực đồng bằng sông Hồng” , “bảo hiểm thiên tai: Kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng tại Việt Nam” v.v. Đáng chú ý nhất là đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Bảo hiểm thiên tai: Kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng tại Việt Nam” của TS. Lê Thị Thùy Vân và TS. Tống Thiện Phước. Tuy nhiên, đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm các quốc gia (Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha...) về việc thực hiện bảo hiểm thiên tai, từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam mà chưa đưa ra được phương án đề xuất phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương: Chương I: Tình hình thiên tai ở Việt Nam và các giải pháp tài chính Chương II: Bảo hiểm thiên tai trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam Chương III: Giải pháp khắc phục hậu quả thiên tai qua hình thức bảo hiểm
Trang 1
VŨ THỊ THU
BẢO HIỂM RỦI RO THIÊN TAI Ở VIỆT NAM
– THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ BẢO HIỂM
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ CHÍNH
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH THIÊN TAI Ở VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 5
1.1 Địa lý Việt Nam và các loại hình thiên tai chính 5
1.1.1.Địa lý Việt Nam 5
1.1.2 Các loại thiên tai thường xảy ra 6
1.1.3 Thiệt hại do thiên tai gây ra 15
1.1.4 Phân tích về nguyên nhân gây ra thiệt hại 22
1.1.5 Các đối tượng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai 25
1.2 Các cơ chế tài chính hỗ trợ và khắc phục rủi ro thiên tai 25
1.2.1 Phân loại 25
1.2.2 Nguồn tài chính của các nước đang phát triển thường 31
CHƯƠNG 2: BẢO HIỂM THIÊN TAI TRÊN THẾ GIỚI VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM 33
2.1 Nội dung cơ bản về bảo hiểm thiên tai và các mô hình bảo hiểm thiên tai trên thế giới 33
2.1.1 Sự phát triển thị trường bảo hiểm thiên tai 33
2.1.2 Kinh nghiệm về mô hình của các nước trong phát triển baaro hiểm thiên tai 42
2.2 Thực trạng bảo hiểm rủi ro thiên tai tại Việt Nam 46
2.2.1 Các giải pháp, công cụ tài chính cho phòng chống thiên tai tại Việt Nam.46 2.2.2 Một số vấn đề chung về bảo hiểm và bảo hiểm thiên tai 48
2.2.3 Thực trạng bảo hiểm rủi ro thiên tai tại Việt Nam 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ THIÊN TAI THÔNG QUA HÌNH THỨC BẢO HIỂM 60
3.1 Cơ sở pháp lý để triển khai bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam 60
3.2 Phương thức tiến hành bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam 60
3.2.1 Phương án tiến hành bảo hiểm thiên tai trên cơ sở các sản phẩm bảo hiểm hiện có 64
3.2.2 Phương án xây dựng một sản phẩm bảo hiểm thiên tai độc lập tách rời khỏi các loại hình bảo hiểm đã có 66
Trang 4đã có 66
3.3 Đề xuất phương án bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam 67
Hình 3.1: Mô hình tổ chức của Qũy bảo hiểm thiên tai 72
3.4 Một số kiến nghị để triển khai bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam 72
3.4.1 Đối với Nhà nước 72
3.4.2 Đối với các công ty bảo hiểm 73
3.4.3 Đối với người tham gia bảo hiểm 73
3.4.4 Đối với các đối tượng có liên quan khác 74
Trang 5Bảng 1.1: Tần số xuất hiện của các thiên tai ở Việt Nam 7Bảng 1.2 Số trung bình các cơn bão* tại từng vùng (1961 – 2016) 9Bảng 1.3: Một số hạn chế của từng cơ chế hỗ trợ 28
HÌNH
Hình 1.1 Số cơn bão trung bình hàng năm chia theo vùng (1961 – 2016) 9Hình 1.2 Thống kê các trận lũ lớn từ 1961 to 2009 12Hình 3.1: Mô hình tổ chức của Qũy bảo hiểm thiên tai 72
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế cho thấy, thời tiết xấu ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sống củacác hộ gia đình nghèo, các nhóm xã hội dễ tổn thương và là nguyên nhân dẫn đếntình trạng đói nghèo, tình trạng yếu kém của giáo dục, y tế và xa hơn nữa là sự trìtrệ kinh tế trong dài hạn Theo một báo cáo của Liên hiệp quốc, tần suất các thảmhọa thiên nhiên đang tăng lên Trung bình có khoảng 335 thảm họa thiên nhiên mỗinăm trong vòng hai thập kỷ qua, tăng 14% so với thập kỷ trước và gần gấp đôi con
số ghi nhận được trong giai đoạn 1985 - 1994 Năm 2016, Việt Nam đã chứng kiếnnhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt ở Nam Trung Bộ, hạn hán nặng nề,xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long Những thảm họa thiên tai diện rộng đó
đã gây ra thiệt hại hàng tỷ USD Trong khi đó, theo số liệu từ công ty tái bảo hiểmMunich RE của Đức, con số thiệt hại này trên thế giới lên tới 175 tỷ USD Đây làcon số thiệt hại lớn nhất được ghi nhận trong vòng 4 năm qua Theo thống kê này,thiệt hại về người do thảm họa thiên nhiên trong năm 2016 là 8.700 người, thấp hơnnhiều so với con số 25.400 người năm 2015 Tuy nhiên, thiệt hại về mặt kinh tế củanăm 2016 lại tăng gần 2/3 so với năm 2015
Đây là yếu tố gây ra những thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế, ảnh hưởng tiêucực đến môi trường đầu tư không chỉ các nước phát triển mà còn các nước đangphát triển Tuy nhiên, tác động kinh tế của thiên tai đối với nước đang phát triển cònlớn hơn do thị trường bảo hiểm của những nước này còn non trẻ Trong khi đó,Chính phủ các nước không đủ nguồn lực tài chính để hỗ trợ phục hồi, tái thiết sauthiên tai, làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư
Nằm trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, nơi gánh chịu đến 70% cácthảm họa thiên nhiên thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyênchịu ảnh hưởng của thiên tai đồng thời chịu ảnh hưởng nặng nề của tình trạng biếnđổi khí hậu Theo nghiên cứu mới đây của Quỹ Châu Á và Viện Khoa học Khítượng Thủy văn và Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong 10 năm quaViệt Nam là 1 trong 5 nước có rủi ro thiên tai cao nhất thế giới Trung bình mỗi
Trang 7năm thiên tai làm chết khoảng 231 người, gây thiệt hại 18 637 tỷ đồng, tươngđương 0,5% GDP cả nước Trong khi đó, chi dự phòng của ngân sách chỉ đảm bảo
hỗ trợ 30% giá trị thiệt hại do thiên tai Nội dung chi chủ yếu nhằm cứu trợ khẩncấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh
Sau khi xảy ra thiên tai, các quốc gia đã dành nhiều ưu tiên cho công tácquản lý rủi ro và tài trợ rủi ro thông qua nhiều biện pháp khác nhau, trong đó cóviệc quy định phải mua bảo hiểm cho rủi ro thiên tai Tuy nhiên, theo Munich Re,ngoại trừ Nhật Bản, các nước khác trong khu vực Đông Á có mức độ quan tâm đếnbảo hiểm rủi ro thiên tai không thỏa đáng
Để giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai, Việt Nam đã thực thi một sốchính sách tài chính như chính sách miễn giảm thuế, chính sách chi cho công tácgiảm nhẹ và khắc phục thiên tai và bảo hiểm (thí điểm bảo hiểm nông nghiệp) Tuynhiên, cũng giống như các nước khác, vấn đề mà Việt Nam đang gặp phải là ngânsách còn eo hẹp trong khi nhu cầu chi cho giảm nhẹ, khắc phục thiên tai thì ngàymột tăng vì vậy, việc phát triển, mở rộng và triển khai bảo hiểm thiên tai tại ViệtNam là yêu cầu cần thiết
Trên thực tế, xét dưới góc độ là một gói bảo hiểm độc lập, thì bảo hiểm thiêntai là một hình thức bảo hiểm mới, chưa được triển khai tại Việt Nam, rủi ro thiêntai thường được triển khai như là một đơn mở rộng trong các đơn nghiệp vụ bảo
hiểm khác Xuất phát từ thực tế trên, em đã lựa chọn đề tài đề tài: “Bảo hiểm rủi ro
thiên tai ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” nhằm đánh giá vai trò của bảo
hiểm đối với rủi ro thiên tai ở Việt Nam, thực trạng triển khai bảo hiểm thiên tai ởViệt Nam từ đó đề xuất các giải pháp cũng như kiến nghị nhằm phát triển bảohiểm thiên tai ở Việt Nam
Trang 8tai tại Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến bảo hiểm thiêntai tại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hoạt động bảo hiểm thiên tai ởViệt Nam trong những năm gần đây và các mô hình thiên tai ở một số quốc gia trênthế giới
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên việc kết hợp các phương phápthông dụng trong nghiên cứu khoa học, bao gồm cả nghiên cứu định tính và nghiêncứu định lượng Thứ nhất, các phương pháp định lượng trong nghiên cứu này được
sử dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng của thiên tai tại Việt Nam.Thứ hai, cácphương pháp định tính sẽ được sử dụng để mô tả, đánh giá vai trò của bảo hiểmthiên tai
- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phươngpháp so sánh để nghiên cứu kinh nghiệm các nước trong việc áp dụng bảo hiểmthiên tai, trên cơ sở đó rút bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
5 Tổng quan nghiên cứu
Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy tại một số nước có ngành bảo hiểm phát triển và
có lịch sử lâu đời, bảo hiểm thiên tai đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, trong
đó tập trung chủ yếu vào những khía cạnh nghiệp vụ, cơ sở pháp lý, vai trò của nhànước, cách thức tổ chức thực hiện v.v Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước về bảohiểm thiên tai hầu như rất ít, mặc dù trên thực tế, một số cuộc hội thảo, trao đổi vềviệc thực hiện bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam đã được tiến hành, tiêu biểu cuộc hộithảo giữa Tổng CTCP Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare) với Tập đoàn Táibảo hiểm Thụy Sĩ Swiss Re về triển khai giải pháp bảo hiểm thiên tai ở Việt Nam,Luật Phòng chống thiên tai được Quốc Hội thông qua vào tháng 6/2013 có quy địnhQuỹ phòng, chống thiên tai; báo cáo “Các giải pháp tài chính cho rủi ro thiên tai tạiViệt Nam” của Word Bank năm 2010 Trong khi đó phần lớn các bài viết, côngtrình khoa học, sách viết về bảo hiểm thiên tai chủ yếu tập trung ở các nghiên cứu
Trang 9nước ngoài.
Trên thực tế, đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện mà nội
dung ít nhiều có liên quan đến chủ đề này như “Bảo hiểm giảm nhẹ thiên tai”1, “Bảohiểm mùa màng ở Việt Nam”2, “Tổng quan về thiên tai Khu vực đồng bằng sôngHồng”3, “bảo hiểm thiên tai: Kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng tại ViệtNam”4 v.v Đáng chú ý nhất là đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Bảo hiểm thiên tai: Kinhnghiệm quốc tế và khả năng áp dụng tại Việt Nam” của TS Lê Thị Thùy Vân và
TS Tống Thiện Phước Tuy nhiên, đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và kinhnghiệm các quốc gia (Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Mexico, ThổNhĩ Kỳ, Tây Ban Nha ) về việc thực hiện bảo hiểm thiên tai, từ đó, rút ra bài họckinh nghiệm cho Việt Nam mà chưa đưa ra được phương án đề xuất phù hợp vớitình hình thực tế tại Việt Nam
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu và tài liệu tham khảo,nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương I: Tình hình thiên tai ở Việt Nam và các giải pháp tài chính
Chương II: Bảo hiểm thiên tai trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam
Chương III: Giải pháp khắc phục hậu quả thiên tai qua hình thức bảo hiểm
1 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Cơ quan chủ trì: Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: Giáo sư Tiến sĩ Trương Mộc Lâm, Hà Nội năm 1993-1994.
2 Để tài nghiên cứu khoa học cấp Tổng Công ty Cơ quan chủ trì: Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: Giáo sư Tiến sĩ Trương Mộc Lâm, Hà Nội năm 1993.
3 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Vụ Phát triển Công nghệ, tháng 12/1994
4 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - Cơ quan chủ trì: Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Thị Thùy Vân và TS Tống Thiện Phước, Hà Nội năm 2014
Trang 10CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH THIÊN TAI Ở VIỆT NAM
VÀ CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH
1.1 Địa lý Việt Nam và các loại hình thiên tai chính
1.1.1 Địa lý Việt Nam
Là một nước có lượng mưa phong phú nên mật độ sông ngòi ở Việt Nam khádày Ở phía Bắc và phía Nam có đồng bằng châu thổ của hai hệ thống sông lớn là hệthống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long bao gồm hơn 20 tỉnh thành phố và làhai vựa lúa chính của cả nước Bờ biển ở phía Bắc và phía Nam tương đối bằngphẳng, trong khi đó ở Trung Bộ vùng đồng bằng hẹp, núi và biển sát nhau, cácnhánh núi đâm ngang chia thành từng ngăn tạo ra bờ biển khúc khuỷu gập ghềnh
1.1.1.2 Hệ thống sông ngòi
Là một nước có lượng mưa phong phú nên mật độ sông ngòi ở Việt Nam khádày đặc
a Các sông ở Bắc Bộ
Có hai hệ thống sông chính là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình
Hệ thống sông Hồng gồm sông Đà, sông Thao, sông Lô có diện tích lưu vực từ ViệtTrì trở lên F=140.000 km2 Phần lớn diện tích lưu vực thượng nguồn nằm ở phíaTrung Quốc, một số ít nằm trên lãnh thổ Lào, phần diện tích lưu vực ở Việt Namchiếm 60.000 km2 Hệ thống sông Thái Bình do 3 sông Cầu, sông Thương và sôngLục Nam hợp thành có diện tích lưu vực F= 12.700 km2
Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình nối với nhau bằng sông Đuống vàsông Luộc nên lũ của các hệ thống sông này có tác động chi phối lẫn nhau Hệthống sông Hồng nằm trên địa thế cao hơn nên mực nước lũ thường cao hơn và
Trang 11thường truyền lũ về hệ thống sông Thái Bình Hệ thống sông Thái Bình do ở địa thếthấp nên thường chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ triều.
b Các sông ở Trung Bộ:
Các sông ở miền Trung thường ngắn trừ một vài sông ở Thanh Hoá, Nghệ
An bắt nguồn từ Lào Duyên hải miền Trung có rất nhiều sông, phần lớn phát sinh
từ nội địa và đều có xu hướng chảy từ Tây sang Đông Nếu chỉ tính những con sông
có chiều dài từ 10 km trở lên thì đã có 740 sông, trong đó có tới 93% sông có diệntích lưu vực nhỏ hơn 5000 km2 Các sông suối chảy qua 75- 90% diện tích là đồinúi bị cồn cát chắn ngang ở phía biển nên lũ chảy tràn trên đồng bằng nhỏ hẹp gâyúng ngập Các sông thường nối với nhau ra tới biển tạo thành nhiều cửa sông, lạigặp chế độ triều phức tạp, nơi là bán nhật triều, nơi là nhật triều đều, nơi là nhậttriều không đều, nơi là chế độ triều hỗn hợp, biên độ có thể đạt từ 1m đến 4m
Với địa hình bất lợi như trên, mưa dễ gây lũ lớn cho các tỉnh miền Trung,đặc biệt là vùng ven biển
c Các sông ở Nam Bộ
Sông Mê kông là một trong những con sông lớn nhất thế giới Diện tích lưuvực là 793.000 km2, trong đó Lào 202.400 km2 (hầu hết lãnh thổ), Thái Lan 184.240
km2, Campuchia 154.750 km2 Phần diện tích trên đất Việt Nam chỉ có 65.170 km2
chiếm 6,18% diện tích toàn bộ lưu vực Sông Mê Kông có chiều dài là 4.220 km,phần nằm trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có 220 km
Bắt đầu vào đất Việt Nam, lượng nước chảy vào sông Tiền chiếm từ 75% 80%, chỉ có từ 15%-20% lượng nước chảy vào sông Hậu Nhưng vào sâu trong lãnhthổ Việt Nam các kênh rạch như: Vàm Nao, Tân Châu, Châu Đốc, Chợ Mới làmnhiệm vụ điều tiết làm cho lượng nước chảy trong hai sông xấp xỉ nhau, sông Tiền
-là 51% và sông Hậu -là 49%
1.1.2 Các loại thiên tai thường xảy ra
Việt Nam là một trong số những nước nằm trong khu vực thường xuyên chịuảnh hưởng của thiên tai Thiên tai ở Việt Nam cũng có nhiều loại như: bão, lũ, úng,hạn, lốc, động đất, sạt lở đất, cháy rừng, biến đổi bờ biển, xâm nhập mặn, sâu bọ,dịch bệnh, ô nhiễm môi trường v.v
Trang 12Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực châu Á– Thái Bình Dương (nơi gánh chịu đến 70% các thảm họa thiên nhiên thế giới), ViệtNam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và biến đổikhí hậu; trong đó bão, lũ lụt là hai loại thiên tai thường xuyên và nguy hiểm nhất.Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB)5 thì Việt Nam là một trong những quốcgia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng.Bảng 1 dưới đây cho ta thấy mức độ của từng loại thiên tai ở Việt nam.
Bảng 1.1: Tần số xuất hiện của các thiên tai ở Việt Nam
a Đặc điểm chung của bão ở Việt Nam
Bão vào Việt Nam hình thành và phát triển hoặc ở tây Thái Bình Dươnghoặc ngay trên biển Đông Trong số các cơn bão hoạt động ở biển Đông, có khoảng40,7% hình thành ở biển Đông và 59,3% hình thành ở tây Thái Bình Dương
Khí hậu biển Đông được biết là có sự nhiễu loạn nhiều do là nơi hoạt động,giao thoa của nhiều khối khí có nguồn gốc khác nhau Đặc biệt biển Đông còn lànơi hoạt động mạnh mẽ của gió mùa nhưng không thuần nhất về bản chất, cả mùađông lẫn mùa hạ Điều này đã dẫn tới một hệ quả quan trọng là sự xuất hiện của cácnhiễu động trong cơ chế hoàn lưu Biển Đông và lưu vực của nó gần như nằm hoàntoàn trong miền nhiệt đới nên lượng bức xạ khá dồi dào, nhất là trong các thángmùa hạ
Cũng do sự bất ổn định của khí quyển cộng với nguồn nhiệt ẩm dồi dào nênđối lưu rất phát triển trên biển Đông, tạo ra lượng mưa hàng năm lớn
5 Nguồn: Các giải pháp tài chính cho rủi ro thiên tai tại Việt Nam (WB, 3/2010)
Trang 13Với tất cả các đặc điểm này, biển Đông trở thành nơi hình thành xoáy thuậnnhiệt đới, một số phát triển thành bão, tác động trực tiếp đến đất liền các nước khuvực Đông Nam Á, nhất là đối với Việt Nam.
Theo quy luật chung của mùa bão ở Việt Nam thường kéo dài từ tháng 5 đếntháng 12 Bão thường đổ bộ vào miền Bắc từ tháng 5 và di chuyển dần vào phíaNam và thường xảy ra ở miền Nam vào khoảng tháng 11 Xu thế chung là đầu mùa,bão ở vĩ độ cao, dần dần về cuối mùa, bão ở vĩ độ thấp, nhưng cũng có khi trái quyluật gây ra tổn thất lớn Mùa bão tại miền Bắc mùa bão cao điểm là tháng 6/tháng
7, còn cao điểm tại miền Trung rơi vào cuối tháng 8 và tháng 9 và miền Nam làtháng 10, tháng 11
b Thống kê sơ bộ số lượng các cơn bão của Việt Nam thời gian gần đây Trung Tâm KTTVQG ghi lại số liệu hàng năm và từng biến cố tại Việt Nam
có tốc độ gió từ cấp 6 theo thang Beaufort trở lên (39-49 kmh) cho đến cấp 13 (>133 kmh) theo các biến số sau: vùng, cấp, tháng, năm của từng sự kiện Trong
vòng 56 năm (từ năm 1961 đến năm 2016) đã ghi nhận được 274 biến cố có tốc độgió từ cấp 6 đến cấp 13 đã đổ bộ vào Việt Nam Như vậy, Việt Nam chịu trung bìnhkhoảng 5 cơn bão một năm, trong đó 1,5 cơn bão được coi là bão lớn
Miền Bắc và miền Trung bị nhiều bão hơn miền Nam Bảng 2.1 và Hình 2.1cho thấy trong thời gian kể trên vùng Quảng Ninh – Thanh Hóa thuộc miền Bắcchịu trung bình khoảng 1.7 cơn bão một năm trong khi vùng Bình Thuận – Cà Mau
ở phía Nam chỉ chịu trung bình 3 năm một trận Cũng có sự khác biệt rõ rệt giữamiền Bắc và miền Nam về con số các cơn bão cấp 10 trở lên (bão lớn) tính theo tốc
độ gió theo thang Beaufort Vùng Quảng Ninh – Thanh Hóa chịu tổng cộng 37 cơnbão từ cấp 10 trở lên trong vòng 56 năm, tức là 0,7 cơn/năm Trong khi đó vùngBình Thuận – Cà Mau ở phía Nam chỉ chịu 4 cơn bão loại này, tức là cứ 1 4 nămmới có một lần
Bảng 1.2 Số trung bình các cơn bão* tại từng vùng (1961 – 2016)
Vùng (theo chiều Bắc - Số cơn Số cơn bão Số cơn Số trung bình
Trang 14Nam) bão trung bình
hàng năm
bão cấp
10 trở lên
hàng năm bão cấp 10 trở lên
Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia
Ghi chú: * Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia đưa ra số liệu về bão nhiệt đới
từ áp thấp cấp 6 theo thang Beaufort (tố độ gió trên 39 km/h) đến bão cấp 13 –
typhoon (tốc độ gió trên 133 km/h)
Hình 1.1 Số cơn bão trung bình hàng năm chia theo vùng (1961 – 2016)
Quả ng Trị Quảng N g ã i
Nguồn:Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia
1.1.2.2 Mưa, lũ, úng
a Ở các tỉnh Bắc Bộ
- Mưa lũ: Nước lũ của sông Hồng do lũ của 3 sông Đà, sông Thao và sông
Lô, với diện tích lưu vực 143.600 km2 Lũ luôn là mối đe doạ cho đồng bằngsông Hồng là vùng tập trung các cơ sở quan trọng của nền kinh tế quốc dân, tất
cả các cơ sở này đều nằm dưới mức nước lũ thường xuyên của sông Hồng Nếu
vỡ đê, ngập lụt vùng châu thổ sông Hồng thì các thiệt hại không thể lường hết, sẽ
Trang 15kéo lùi sự phát triển của đất nước Những hình thái thời tiết gây ra mưa lớn ở đâythường là bão hoặc áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, cao áp cận nhiệt đới,đường đứt và Front lạnh, thời gian mưa kéo dài 10 đến 12 ngày, gây nên nhữngtrận lũ lớn
- Úng ngập: Do mưa với cường độ lớn và thường tập trung trong một thời đoạnngắn, xảy ra trong lúc nước lũ các triền sông lên cao nên úng là mối đe dọa lớn đếnkinh tế Việt nam, trước hết là nông nghiệp
b Ở các tỉnh Miền Trung
Các tỉnh miền Trung có đồng bằng nhỏ, hẹp, kẹp giữa núi và cồn cát tạothành thế lòng chảo nghiêng Địa hình các tỉnh Miền Trung phía tây là núi, phíađông là biển; dọc ven bờ biển là các cồn cát án ngữ Nền kinh tế nông nghiệpvẫn là chủ yếu nhưng lại bấp bênh, phụ thuộc vào diễn biến của thời tiết Có thểnói đây là một vùng rất nhậy cảm với thời tiết, từ đang khô hạn lại chuyển ngaysang ngập lụt và ngược lại nước lũ vừa rút được ít ngày lại tạo ra hạn hán chomùa màng Điển hình là trận lụt ở miền Trung tháng 10/2011 và tháng 10/2013
Mưa ở Miền Trung chủ yếu là do bão, áp thấp nhiệt đới và các nhiễu độngthời tiết khác gây ra, đặc biệt là khi có gió mùa đông bắc tràn về lại gặp các hìnhthái thời tiết khác tạo nên những đợt mưa rất to gây lũ lớn, có khi các đợt lũ liên tiếpxảy ra trong một thời gian ngắn nên thường gây thiệt hại nặng nề
c Ở các tỉnh Nam bộ
Lũ lụt ở ĐBSCL kéo dài 6 tháng, từ tháng VII đến tháng XII (chậmhơn ở thượng lưu khoảng 1 tháng) Do địa hình thấp, phẳng, cửa thoát lũ lạichịu ảnh hưởng thời kỳ có triều cao nhất trong năm, lượng nước tập trungcủa vùng thượng nguồn rất rộng lớn nên hầu như hàng năm đều bị ngập từ 3-
6 tháng, độ ngập sâu trong toàn vùng từ 0,5m-3m chiếm trên 2/3 diện tíchcủa đồng bằng
Đồng bằng sông Cửu long năm nào cũng xẩy ra lụt, độ ngập lụt chỉ có khácnhau về mức độ của lũ lớn, lũ vừa hay lũ nhỏ
Với đặc tính lũ của vùng ĐBSCL mọi sinh hoạt xã hội và sản xuất phải thíchnghi với lũ, nhưng do các công trình hạn chế lũ chưa phát triển nên các mặt sinh
Trang 16hoạt cần thiết (đi lại, ăn ở, học hành, chữa bệnh ) cho nhân dân hiện nay vẫn bị xáotrộn trong thời gian dài, làm chậm khả năng phát triển của vùng.
1.1.2.3 Lũ quét ở khu vực miền núi
Do đặc điểm của địa hình, các sông suối ở vùng núi phía Bắc, khu vực TâyNguyên và các vùng núi khác có độ dốc rất lớn do vậy thời gian tập trung lũ nhanh,sinh ra lũ quét Lũ quét là loại thiên tai lưu vực nhỏ, cường suất lũ lớn, vận tốc dòngchảy xiết nên lũ quét có sức tàn phá cực kỳ ác liệt Những năm gần đây ở các Thị xãcủa các tỉnh Miền núi như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Yên Bái, Bắc Cạn, Sơn La liêntiếp bị lũ quét; đặc biệt là các trận lũ quét xảy ra ở thị trấn Mường Lay (Lai Châu)liên tiếp xảy ra, tháng 5 năm 1990, tháng 7 năm 1994, tháng 8 năm 1996, tháng 7năm 1997 dẫn đến xoá hẳn trên bản đồ thị trấn này
Rừng bị tàn phá nặng là nguyên nhân chủ yếu gây ra lũ quét, làm cho tìnhtrạng du canh du cư không giảm, vì vậy thực hiện việc định canh định cư, giao đấtgiao rừng, khuyến khích trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc có tầm chiến lượctrong công cuộc phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
Dưới đây là biểu đồ thể hiện số liệu thống kê các trận lũ lớn từ năm 1961 –
2009 Tuy rằng số liệu cho thấy tần suất trận lụt tăng lên trong thời gian gần đaynhưng một phần là do có sự cải thiện trong việc ghi chép và báo cáo thủy văn và
lũ lụt
Trang 17Hình 1.2 Thống kê các trận lũ lớn từ 1961 to 2009
Nguồn: https://dulieudiali.wordpress.com
1.1.2.4 Nước dâng
Gió mạnh và bão nhiệt đới với gió xoáy đổi chiều là nguyên nhân chính gây
ra nước dâng đáng kể ở ven biển Việt Nam; đó là một thiên tai quan trọng ở vùngven biển mà chúng ta cần đặc biệt chú ý
- Khi có gió mạnh hay bão thường gây ra hiện tượng nước dâng hay nước rút
ở biển tuỳ theo hướng gió và vệt bờ, tuỳ theo cường độ gió và các thông số khác.Như vậy, dao động thực của mực nước biển thường gồm dao động do thuỷ triều( nguyên nhân thiên văn ) và dao động nước dâng-rút do gió Chiều cao nước dâng
có thể đạt vài chục cm tới vài mét, tùy từng nơi và tùy cường độ gió
- Nước dâng do gió mạnh nguy hiểm ở chỗ nó xảy ra tương đối đột ngột vàkhi nước triều lên cao nó có thể gây nên tai hoạ lớn cho vùng ven biển; làm ngậpnước mặn hoặc cùng với sóng lớn làm sạt lở đê biển, thậm chí vỡ đê biển Thực tiễncho thấy mỗi khi bão kèm theo nước dâng bao giờ thiệt hại cũng lớn gấp bội ( Cơnbão tháng 11/1970 vào Bangladet làm chết hàng chục vạn người)
- Vùng biển Việt Nam chịu sự chi phối của hoàn lưu gió mùa với tốc độ giómạnh có thể đạt tới 15- 20 cm/s và ảnh hưởng của bão trong một số tháng của nămvới tốc độ gió có thể đạt tới 30-50m/s
Trang 18- Qua kết quả xử lý số liệu thực đo (đã loại trừ ảnh hưởng thuỷ triều và lũ )
và kết quả tính toán nước dâng do gió mùa đông bắc ở vùng ven biển phía bắc ViệtNam hoặc gió chướng ở vùng biển phía nam, có thể đạt tới 10-30 cm và có thểtruyền sâu vào sông Trường hợp gió mùa tây nam, phần lớn vùng ven biển ViệtNam không xảy ra nước dâng mà chủ yếu nước rút
- Một điều cần chú ý nữa là không nhất thiết cơn bão nào cũng gây ra nướcdâng nguy hiểm mà chỉ những cơn bão đổ bộ vào thời kỳ triều lên, nhất là trùng với
kỳ nước cường trong mỗi chu kỳ nửa tháng của thuỷ triều Theo thống kê, cứ 3-4cơn bão mới có một cơn gây ra nước dâng nguy hiểm Vùng ven biển có bờ thấp ởphía bắc Việt Nam cần quan tâm đến hiện tượng nước dâng khi có bão
Mặc dù độ lớn nước dâng do bão ở ven biển Việt Nam chưa bằng một sốvùng khác trên thế giới (Bănglađét, Mỹ, đảo Reuniông ) song vẫn là một hiệntượng nguy hiểm do cộng thêm với thuỷ triều có biên độ đáng kể và đặc biệt nguyhiểm đối với vùng bờ thấp chưa có công trình đê biển vững chắc
Trong mùa khô ở đồng bằng sông Cửu Long, khi thuỷ triều lên cao nướcmặn có thể xâm nhập vào sâu trong sông; nguy hiểm nhất là khi có gió chướng sẽgây ra nước dâng, tuy không lớn nhưng nước có độ mặn cao, xâm nhập sâu tới 10-
20 km là một thiên tai đối với lúa và các cây trồng quý khác
Tuy nhiên, trong khoảng 50 năm gần đây, chưa quan sát thấy tổ hợp triềucường với bão lớn mà mới có bão lớn với triều trung bình hay triều cao hơn trungbình một ít
1.1.2.5 Lốc và vòi rồng
Nguyên nhân: Khối không khí lạnh tràn tới khối không khí nóng và đẩy khínóng bốc lên cao, không khí nóng bị lạnh đi và phía trên bắt đầu hình thành nhữngđám mây vũ tích cho mưa rào có thể gây mưa đá và tố Một số dẫn chứng về cáctrận lốc, tố, vòi rồng ở Việt nam:
- Cơn lốc ở Lào Cai: sáng 3/3/75 một cơn lốc mạnh xuất hiện ở Lào cai, qua
Hưng liên sơn đến Sa pa, tới Simacai, Mường Khương ( dài 65-80km) theo một dảirộng 30-35km Với diện tích 2400-2800km2 sức gió đạt tới cấp 10-11, riêng tạiCam Đường, Bảo Nhai có gió 35-40m/s (cấp 12-13) và kèm theo mưa đá
Trang 19- Vòi rồng và mưa đá: ở Hoàng Long (NB) tối 27/3/81 xuất hiện ở xã YênQuang kèm theo mưa đá Khoảng 19h mây đen bao phủ kín bầu trời, xuất hiện 1 vòirồng trên hồ Yên quang gió cấp 11-12, kèm theo sấm chớp và mưa đá Thời gianvòi rồng khoảng 10’, nhà gỗ loại từ 3-5 gian đổ 18 cái, doanh trại quân đội 50 gian,
250 mẫu thuốc lá bị dập nát
1.1.2.6 Động đất và sóng thần
Việt Nam, về cơ bản, có nguy cơ bị động đất thấp, chủ yếu giới hạn tại vùngTây Bắc là nơi có mật độ dân số thấp và tập trung ít cơ sở hạ tầng Nếu có một trậnđộng đất tại châu thổ sông Hồng thì thiệt hại kinh tế sẽ rất lớn do mức độ tập trungdân số, cơ sở hạ tầng, công nghiệp và nhà ở quanh Hà Nội Trong Quy chuẩn Xâydựng đã có điều khoản qui định về động đất nhưng công tác thực thi rất yếu kémnên nhiều công trình không có khả năng kháng chấn Chính phủ Việt Nam đã xácđịnh việc ban hành và bắt buộc tuân thủ các tiêu chuẩn xây dựng quốc tế là một ưutiên như trong Chiến lược về GNTT đến 2020
Tuy Việt Nam có nguy cơ thấp về sóng thần nhưng trận sóng thần năm 2004 dođộng đất dưới biển ngoài khơi Sumatra gây ra cho thấy hiểm họa tiềm ẩn về độngđất dưới biển tại khu vực gần Phi-lip-pin có thể gây thiệt hại lớn cho những vùngđất thấp ven biển nam Việt Nam
1.1.2.7 Các loại thiên tai khác
Các loại thiên tai khác như hạn hán, cháy rừng, nước mặn xâm lấn, nóng vàlạnh gây ra ít thiệt hại hơn Hạn hán và cháy rừng hay xảy ra nhất tại Tây Nguyên
và đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô Hạn hán được coi là loại gây thiệt hạinhiều thứ 3 tại Việt Nam sau lũ lụt và bão do nó tác động lên mùa màng Không khílạnh và sương muối chỉ xảy ra ở phía Bắc Việt Nam
Một số biến cố điển hình trong các năm vừa qua được liệt kê dưới đây6:
Hạn hán (1998): 3,1 triệu người bị thiếu nước Tổng thiệt hại ước tính 500 tỉĐồng (37 triệu Đô-la);
Hạn hán (2002): Tổng thiệt hại ước tính 2.060 triệu Đồng (135 triệu Đô-la);
Hạn hán (2005): Tổng thiệt hại ước tính1.743 tỉ Đồng (110 triệu Đô-la);
6 Hội thảo về các thiên tai không liên quan đến nước tại Việt Nam, Hà Nội, 5/2008.
Trang 20 Cháy rừng U Minh (2002) (đồng bằng sông Cửu Long): 5.415 ha rừng bị pháhủy;
Cháy rừng (2007): 791 vụ cháy phá hủy 4.740 ha rừng;
Lạnh (1991) miền Trung Việt Nam: 251 người chết
1.1.3 Thiệt hại do thiên tai gây ra
1.1.3.1 Về số lượng người chết
Theo thống kê, 7 năm trở lại đây, thiên tai gây ra ở Việt Nam làm: 2.401người hết, mất tích và 3.437 người mất tích Như vậy, bình quân mỗi năm có 231người chết, 430 người mất tích do thiên tai Trong đó:
- 1 năm có trên dưới 200 người chết, mất tích: 2015
- 3 năm có trên 200 người chết, mất tích: 2011, 2012, 2016
- 3 năm có trên 300 người chết, mất tích : 2010, 2013, 2014
Số người chết do thiên tai ở Việt Nam (2010-2016)
1.1.3.2 Về tổng thiệt hại kinh tế
Do kinh tế của đất nước ngày càng được phát triển nên tổng số giá trị thiệthại có xu hướng chung là tăng hơn Theo báo cáo của WB, giá trị thiệt hại ước tính
do thiên tai trong vòng thời gian qua đã cao hơn nhiều so với mức trung bình hàngnăm dài hạn Trong gần 30 năm qua, giá trị thiệt hại trung bình hàng năm là 8.736
tỷ đồng, cụ thể có thể thấy qua biểu sau:
Trang 21Trong giai đoạn 2010-2016 giá trị thiệt hại thiên tai trung bình tương đương 0,53% GDP và đạt mức cao nhất năm 2016 là 0,88% Đồ thị biểu diễn thiệt hại thiên tai tính theo tỉ lệ phần trăm GDP không cho thấy xu hướng tăng lên trong những năm gần đây Hai năm có tỉ lệ thiệt hại vượt 0,8% là 2013 và 2016
Giá trị thiệt hại thiên tai tính theo tỉ lệ phần trăm GDP (2010-2016)
Ghi chú: Phân tích dựa trên giá trị thiệt hại và GDP theo giá trị thực tế từng năm.
Mặc dù vậy, số liệu thiệt hại do thiên tai vẫn chưa thể phản ánh được đầy đủ so vớimức độ thiệt hại thực tế do:
- Hệ thống đánh giá thiệt hại chủ yếu tập trung ghi lại những thiệt hại vật chất trực tiếp của khu vực công và cơ sở hạ tầng để hỗ trợ Chính phủ ra quyết định
Trang 22về khắc phục hậu quả và tái thiết sau thiên tai Hệ thống không đánh giá (i) chi phí
tài chính hoạt động cứu trợ (lương thực, nước uống, lều bạt, v.v) do những thứ nàykhông nằm trong thiệt hại, (ii) tổn thất thứ cấp do hậu quả bão, lũ gây ra, bao gồmchi phí gián đoạn kinh doanh đối với nông nghiệp, thương mại và công nghiệp, và(iii) các chi phí rộng hơn của cả nền kinh tế7
- Hệ thống không ước lượng tác động lên cuộc sống và sinh kế của người dân
và có lẽ đánh giá không đầy đủ thiệt hại đối với khu vực tư nhân, kinh doanh và công nghiệp Tuy có ghi chép thiệt hại về nhà ở, sản xuất nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi,
thủy sản và lâm nghiệp) nhưng DANA không (i) đánh giá tác động thiên tai ở mức độcộng đồng và hộ gia đình, và (ii) không ghi chép một cách có hệ thống thiệt hại đối vớicác doanh nghiệp tư nhân và nhà ở tư nhân tại khu vực thành thị.8 Vì vậy chắc chắn giátrị kinh tế thực sự của những thiệt hại do thiên tai gây ra đã không được đánh giá đầy
đủ, ít nhất là đối với nhà ở tư nhân, doanh nghiệp và công nghiệp
- Không rõ mức độ chênh lệch giữa con số ước lượng ở cấp tỉnh so với giá trị thiệt hại thực tế là bao nhiêu Cấp tỉnh chịu trách nhiệm tập hợp báo cáo thiệt hại
từ cấp xã và huyện và sau đó áp đơn giá vào để ước lượng tổng thiệt hại Việc tính
giá trị thiệt hại dựa trên chi phí thay thế danh nghĩa của tài sản bị thiệt hại Ví dụ
như, đối với nhà cửa, Chính phủ ấn định một khoản cứu trợ là 5 triệu Đồng (khoảng
300 Đô-la) cho trường hợp bị hư hại hoàn toàn Khoản tiền này có thể đủ để làm lạimột ngôi nhà nhỏ bằng tranh tre tại miền Nam nhưng không đủ để xây lại một ngôinhà ở miền Bắc với chi phí thông thường từ 30 đến 50 triệu Đồng hoặc cao hơn
- Không có bảng đơn giá chuẩn hoặc thống nhất dụng để tính toán giá trị từng hạng mục thiệt cho 64 tỉnh thành Vì vậy không thể kiểm tra tính thống nhất
trong việc đánh giá thiệt hại giữa các tỉnh
- Ước lượng giá trị thiệt hại bằng tiền thường được báo cáo gộp bằng một con số tổng mà không có chi tiết cho từng tiểu mục hoặc ngành Do đó không thể
phân tích tổng thể để biết được nhóm hạng mục nào chịu thiệt hại lớn nhất Tuynhiên trên cơ sở số liệu hạn chế có được, có thể thấy rằng nông nghiệp, ngư nghiệp,
cơ sở hạ tầng và nhà cửa là thiệt hại nặng nề nhất
a Thiệt hại về thuỷ sản
7 Lưu ý rằng hệ thống đánh giá thiệt hại ECLAC có tính đến thiệt hại kinh tế thứ cấp do thiên tai gây ra.
8 Một số tỉnh, tuy vẫn đang dùng hệ thống đánh giá thiệt hại cũ của CCFSC nhưng cũng báo cáo thiệt hại về doanh nghiệp tư nhân và nhà ở tại khu vực đô thị.
Trang 23Diện tích vùng đặc quyền kinh tế trên biển của nước ta là 970.375 km2 (chưa
kể diện tích vùng đặc quyền kinh tế thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).Phần lớn vùng đặc quyền kinh tế này đều có độ sâu thích hợp cho việc khai thác cáchoạt động kinh tế biển và thềm lục địa:
Tính đến năm 2017, tổng số tàu cá (không kể bè mảng) trên toàn quốc là110.950 tàu, trong đó tàu khai thác có 108.619 chiếc (chiếm 97,89%), tàu dịch vụhậu cần 2.331 (chiếm 2,11%) Số tàu thuyền đánh cá này thường chịu tác động củacác cơn bão, đặc biệt là đối với số tàu thuyền đánh cá ở vùng biển miền Trung Cáctàu thuyền không những bị tổn thất khi đang hoạt động trên biển mà cả khi đã vàonơi trú ẩn ở trong các đảo hoặc ở vùng bờ biển
Các khu vực nuôi trồng thuỷ sản trong những năm gần đây đang được pháttriển mạnh ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Tính đến hết tháng 5 năm 2017, cảnước có hơn 1.863 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ (trong đó 1.297 cơ sở sản xuấtgiống tôm sú và 566 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng); khoảng 230 cơ sởsản xuất giống cá tra, trên 4.000 hộ ương dưỡng cá giống với diện tích hơn 2.250ha; 236 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cá rô phi; hình thành lên vùng nuôi cá venbiển cung cấp thực phẩm cho một số thành phố lớn, khu công nghiệp và xuất khẩu.Một số địa phương đã có các dự án liên doanh với nước ngoài Tổng diện tích nuôitrồng thủy sản là 1.300.000 ; trong đó có trên 700.000 ha tôm nước lợ
Số liệu thiệt hại về thủy sản do thiên tai (2010-2016)
Trang 24c Thiệt hại cho các công trình giao thông vận tải:
Các hệ thống giao thông sắt, bộ nối hai miền kinh tế trù phú của đất nướcđều chạy qua các tỉnh miền Trung, chính những con đường này lại cắt ngang cáchướng chảy của nước lũ từ phía Trường Sơn đổ ra biển, vì vậy cứ sau mỗi đợt lũ,bão tại các tỉnh miền Trung thường gây ra sự ách tắc giao thông do các nguyênnhân:
Ngập sâu một số tuyến đường sắt, bộ tại các khu vực thấp trũng hoặc tạicác khu vực tập trung các dòng lũ
Mưa lớn gây ra sạt lở lớn các vách núi tại các khu vực đèo, dốc hiểm trở
Mưa lũ lớn làm trôi các cầu hoặc đường do không đủ khẩu diện thoát lũ
Làm ách tắc giao thông tại các khu vực bến phà do nước lũ chảy xiết
Những nguyên nhân trên thường gây ra những đợt ách tắc giao thông có khi kéo dài hàng tuần lễ làm thiệt hại lớn về kinh tế và ngừng trệ và sản xuất Mấy năm gần, Nhà nước ta đã xây dựng một số công trình giao thông quan trọng Nếu các dự án này được thực thi sẽ cải thiện đáng
kể về giao thông trên đất nước ta Tuy nhiên về cơ bản vẫn chưa khắc phục được các nguyên nhân dẫn đến những ách tắc mỗi khi có thiên tai xảy ra Để giải quyết dứt điểm, cần phải có quy hoạch tổng thể về cầu và nền đường sao cho vừa thoát lũ tốt lại không bị ngập khi có lũ, đó mới là biện pháp hữu hiệu
Năm Khối lượng đất
sạt, trôi, bồi lấp
Khối lượng đá sạt, trôi
Số cầu, cống sập, trôi
Chiều dài đường bị
hư hại
Trang 252013 4,406,475 6,740 15,425 21,892,782
d Thiệt hại về nhà ở của nhân dân
Nhà ở của nước ta thường có 3 loại: kiên cố, bán kiên cố và loại nhà tranh trenứa lá
Loại nhà kiên cố thường được xây dựng ở các thành phố, thị xã; một số ítđược xây dựng ở các thành phố và vùng nông thôn Phần lớn các loại nhà kiên cốmới được xây dựng ở các thành phố, thị xã đều được thiết kế và thi công theo cácquy định của ngành kiến trúc nên có chất lượng đảm bảo, đủ sức chống lại các cấpgió bão phổ biến ở Việt Nam Một số ít nhà kiên cố mới được xây dựng ở các thịtrấn và vùng nông thôn thường không được quản lý chặt chẽ về chất lượng mà chỉxây dựng theo kinh nghiệm đã bị gió bão phá hoại như một số nhà hai tầng ở vùngven biển Thái bình, Hà nam ninh đã bị cơn bão WAYNE đổ bộ vào Thái bình và Hànam ninh ngày 5/9/1986 phá hoại Một nguyên nhân khác dẫn đến hư hỏng khi gặpgió bão của loại nhà này là công trình đã quá tuổi thọ lại mở rộng, cơi nới chắp válàm tăng tải trọng và hệ số an toàn bị giảm đi
Loại nhà bán kiên cố là loại nhà không có khả năng chịu đựng được sức pháhoại của các cơn bão mạnh nhất là các loại nhà được xây dựng bằng các loại vật liệukém chất lượng như gạch ba banh, khi gặp cơn bão mạnh tường bị đổ làm cho toàn
bộ ngôi nhà bị sập như một số lớn nhà của hai tỉnh Thái bình, Hà nam ninh đã bịcơn bão WAYNE phá hoại năm 1986 làm nhiều người bị chết, bị thương
Loại nhà tranh tre nứa lá là loại nhà không chịu được sức phá hoại của cáccơn bão thông thường thường bị tốc mái và làm đổ hàng loạt nếu như không có biệnpháp phòng.
Nhà sập đổ, cuốn trôi Nhà bị thiệt hại, tốc mái, xiêu vẹo,
Trang 26- Đối với các công trình công nghiệp, kho tàng, bến cảng, các nông trường,trạm trại trong các khu vực có lũ bão nhất là ở các tỉnh miền Trung thường chịu cácảnh hưởng do sự phá hoại của các đợt gió bão mạnh, do các dòng lũ quét hoặc bịngập lụt làm đình đốn hoặc phá huỷ các hàng hoá, các cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Các thiệt hại mang tính chất xã hội: Sau mỗi đợt lũ bão xảy ra thường nảy sinh
ra các hậu quả như môi trường sinh thái bị huỷ hoại Nếu như không tổ chức làm tốtviệc vệ sinh phòng dịch thì rất dễ phát sinh các bệnh dịch nguy hiểm cho người, chogia súc và cây trồng Về lâu dài, lụt, bão, nước biển dâng sẽ phá hoại các cơ sở vật chất
kỹ thuật, làm cạn kiệt các nguồn lương thực, thực phẩm, phá hoại mùa màng, màu mỡcủa đất đai làm cho không canh tác được, gây ra nạn đói cho một vùng lớn
- Nếu như không khắc phục tốt những thiệt hại do thiên tai gây ra nó sẽ cónhững ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị và cho sự phát triển bền vững của khu vực
1.1.4 Phân tích về nguyên nhân gây ra thiệt hại
Trong thời gian từ năm 2010 trở lại đây, Bão là nguyên nhân tổn thất chínhchiếm 45% tổng giá trị tổn thất ước tính được kê khai cho Ban PCLBTU, sau đó là
lũ lụt, bằng 32% tổng tổn thất Các hiểm họa khác như là lũ quét, sạt lở đất, lốc, sétmưa đá chiếm dưới 5% tổng giá trị thiệt hại
Giá trị thiệt hại bằng tỷ lệ % theo Nguyên nhân tổn thất từ 2010 đến 2016
Trang 27Tầm quan trọng tương đối của thiệt hại do bão và/hoặc lũ lụt thay đổi đáng
kể từ năm này sang năm khác như được thể hiện trong phân tích ở dưới đây Năm
2012, 2013 hầu như tất cả thiệt hại là do bão gây ra nhưng năm 2010 và 2015 tất cảcác tổn thất là do lũ lụt
Giá trị thiệt hại theo Nguyên nhân tổn thất từ năm 2010-2016 (triệu VNĐ)
Trang 28NHÀ Ở
Nhà sập đổ,
cuốn trôi 636 371 1.561 10.579 2.788 147 3.434Nhà bị thiệt hại,
hư hỏng 24.266 31.180 91.288 117.263 51.499 4.440 40.558Hoa màu mất
trắng 6.724 9.516 36.883 15.252 15.383 33 23.892
THỦY SẢN
Tàu, thuyền
thiệt hại 109 126 503 735 466 - 1.322Lồng, bè nuôi
thủy sản hải sản 24 1.405 13.802 1.290 2.846 201 353Diện tích nuôi
trông thủy, hải
sạt, trôi 5.230 47.349 236 6.740 20.462 50.890 12.324
Số cầu, cống
sập, trôi 11 17 44 15.303 2.600 31 191Chiều dài
đường bị hư hại 50 2.565 - 21.871.024 3.680.769 17.875 193.100
Nhà sập đổ,
cuốn trôi 3.571 1.103 142 89 1.084 377 1.219 Nhà bị thiệt 412.897 403.679 161 5.539 179.982 20.233 237.383
Trang 29trắng 4.786 18.096 22.920 683 11.325 10.176 11.288 Hoa màu
ngập, hư
hỏng
69.877 19.930 15.291 11.849
29.703 16.830 44.438 Hoa màu
mất trắng 7.255 1.789 7.380 1.042 6.954 4.091 20.165
THỦY SẢN
Tàu, thuyền
thiệt hại 257 36 - 13 70 115 Lồng, bè
nuôi thủy
sản hải sản - 1.206 23 - 1.037 2.382 2.612 Diện tích
đá sạt, trôi 51.647 36.345 972 - 61.136 101.160 176.689
Số cầu,
cống sập,
trôi 401 114 130 43 174 74 281 Chiều dài
đường bị hư
hại 1.183 44.783 - 3.210 282.295 57.306 1.587.286
1.1.5 Các đối tượng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai
Thiên tai đã gây ra những tổn thất lớn về người, của cải vật chất, mà đốitượng chịu ảnh hưởng thường xuyên là những người nông dân, ngư dân phải chịucảnh mùa màng thất bát, cơ sở vật chất, nhà cửa tính mạng, môi trường sống bị đedoạ Theo thống kê, các loại thiên tai xuất hiện ngày càng tăng và mức độ thiệt hạicủa nó ngày một nghiêm trọng tới đời sống nhân dân.Vì vậy cần có biện pháp tíchcực trong việc chủ động đưa ra các biện pháp phòng tránh, tuyên truyền, nâng caonhận thức cho các tầng lớp nhân dân về thiên tai và phòng chống khắc phục thiệthại do thiên tai gây ra
Trang 301.2 Các cơ chế tài chính hỗ trợ và khắc phục rủi ro thiên tai
Theo báo cáo đánh giá toàn cầu 2015 về giảm thiểu rủi ro thảm họa của Vănphòng LHQ về giảm thiểu rủi ro, trong tổng số 250-300 tỷ đô la thiệt hại do thiên taihàng năm có khoảng 180-200 là thiệt hại của các công ty bảo hiểm, 70-100 tỷ đô la
là thiệt hại của các quốc gia đang phát triển, nơi thảm họa thiên tai chủ yếu tác độnglên các cộng đồng dân cư có điều kiện sống thấp Báo cáo cũng cho biết các quốcgia cần dự phòng lên tới 314 tỷ đô la mỗi năm để bù đắp cho những thiệt hại dođộng đất, sóng thần, lốc xoáy và lũ lụt gây ra Để giảm nhẹ rủi ro thiên tai và tăng
cường năng lực phòng chống thiên tai tại các vùng bị thiệt hại nặng nề, cơ chế tài chính hỗ trợ được thực hiện thông qua việc cung cấp vốn để nhanh chóng tái thiết các cơ sở hạ tầng công cộng thích hợp sau thiên tai nhằm: (i) Hỗ trợ giải quyết,
đảm bảo việc tái thiết sau thiên tai sẽ khẩn trương hơn; (ii) Giảm đói nghèo và giảmcác tác động ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của thiên tai
Giải pháp, công cụ Nhà nước có thể sử dụng để phòng, chống rủi ro thiên tai(bao gồm khắc phục hậu quả) rất đa dạng và phong phú, bao gồm các công cụ, giảipháp phòng tránh như tuyên truyền, vận động phòng, chống thiên tai, xây dựng các
hệ thống cảnh báo sớm, các chương trình phân vùng, khoanh vùng thiên tai ; vàcác giải pháp tài chính, bảo hiểm khắc phục hậu quả thiên tai
1.2.1 Phân loại
Liên quan đến các giải pháp tài chính, bảo hiểm thiên tai (khắc phục hậu quảthiên tai), có nhiều cách phân loại theo nhiều nhóm khác nhau dựa trên các tiêu chíkhác nhau Ví dụ:
- Nếu phân loại theo cách thức xử lý rủi ro có thể phân loại thành giải phápchấp nhận, sống chung với rủi ro “risk retention” (như dự phòng, dự trữ tài chính để
bù đắp thiệt hại ) và chuyển giao rủi ro “risk transfer” (như bảo hiểm, tái bảo hiểm,chứng khoán hóa rủi ro );
- Nếu phân loại theo chủ thể chính thực hiện, các giải pháp tài chính, bảohiểm có thể phân loại thành giải pháp của nhà nước (chi cứu trợ từ ngân sách nhànước ), giải pháp của khu vực tư nhân (người dân tự bù đắp thiệt hại, bảo hiểm tưnhân) hoặc giải pháp phối hợp công tư
Trang 31- Nếu phân loại theo kế hoạch hóa, giải pháp tài chính, bảo hiểm có thể chiathành giải pháp có kế hoạch “ex ante financing” và ngoài kế hoạch “ex-postfinancing”
- Nếu phân loại theo thời điểm và cách thức huy động, các công cụ tài chínhđược sử dụng nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai có thể chia thành 3 dạng sau đây: (i)Các công cụ tài chính tài trợ sau thiên tai; (ii) Các công cụ tài chính tài trợ trướcthiên tai; (iii) Nguồn tài chính thông qua thị trường vốn quốc tế
1.2.1.1 Phân loại theo công tác kế hoạch hóa
Việc phân loại theo công tác kế hoạch hóa được sử dụng một cách rộng rãi,phổ biến vì tính rõ ràng, minh bạch
+ Công cụ, cơ chế ex-ante financing là các công cụ, cơ chế được hoạch định,lên kế hoạch trước khi xảy ra thiên tai; đó có thể quỹ dự trữ tài chính cho thiên tai,các chương trình vay giải ngân khi thiên tai xảy ra, các chương trình bảo hiểm (baogồm bảo hiểm tham số và bảo hiểm truyền thống) và các công cụ chuyển giao rủi romới (như trái phiếu thiên tai, chứng khoán hóa sản phẩm bảo hiểm thiên tai, sảnphẩm phái sinh thiên tai )
+ Công cụ ex-post financing là các nguồn kinh phí không được lập kế hoạch,hoạch định cụ thể trước nhằm mục tiêu chi trả, tài trợ cho các thiệt hại do thiên taixảy ra Các công cụ này bao gồm nguồn kinh phí dự phòng ngân sách; điều chỉnh
kế hoạch chi tiêu ngân sách trong năm tài khóa; các khoản vay trong nước và quốctế; miễn, giảm, hoãn thuế
Đánh giá các giải pháp tài chính, bảo hiểm ex-ante và ex-post
Giải pháp ex-post
1 Ngân sách dự phòng cho các sự kiện/
nội dung chi ngoài kế hoạch.
2 Cứu trợ của cộng đồng trong nước và
quốc tế.
3 Điều chỉnh kế hoạch chi tiêu NS.
4 Vay trong nước.
5 Vay quốc tế
6 Tái phân bổ vốn đầu tư
1 Chi phí thiết kế, xây dựng thấp khi sử dụng tài trợ cho các rủi ro, thiệt hại thiên tai thấp.
2 Phù hợp trong một số trường hợp các rủi ro bất ngờ;
không xác định được xác suất, khả năng xảy ra để xây dựng
1 Có thể có tác động ngược, không khuyến khích công tác phòng, chống thiên tai.
2 Ảnh hưởng lớn đến ổn định ngân sách Nhà nước; tác động đến các chương trình,
dự án đầu tư đã được lên kế hoạch.
Trang 327 Hỗ trợ tái thiết của cộng đồng trong
nước quốc tế
8 Chính sách thuế
các giải pháp ex-ante 3 Tiến độ giải ngân chậm; và
có thể gây ra vấn đề công bằng và phản ứng xã hội.
Giải pháp ex-ante
1 Quỹ dự trữ phòng, chống thiên tai.
2 Vay giải ngân khi thiên tai xảy ra.
3 Giải pháp bảo hiểm (tham số và
truyền thống), tái bảo hiểm (chuyển giao
rủi ro).
4 Giải pháp chuyển giao rủi ro cho thị
trường vốn (trái phiếu thiên tai, chứng
khoán hóa bảo hiểm thiên tai).
1 Tiến độ giải ngân nhanh do các giải pháp đã được xây dựng, triển khai trước thiên tai.
2 Hạn chế tác động tới chương trình, mục tiêu của ngân sách.
3 Thúc đẩy tăng cường phòng chống thiên tai (điều kiện áp dụng các giải pháp).
1 Chi phí thiết thế, xây dựng (phí bảo hiểm, lãi suất trái phiếu ) cao hơn so với ex- post trong trường hợp các rủi
ro, thiệt hại thấp.
2 Phức tạp hơn các công cụ ex-post, đòi hỏi khuôn khổ pháp lý, thể chế và nhân lực sẵn sàng.
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của WB, OECD
1.2.1.2 Phân loại theo thời điểm và cách thức huy động, các công cụ tài chính
Được sử dụng nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai có thể chia thành 3 dạng sau đây: (i) Các công cụ tài chính tài trợ sau thiên tai; (ii) Các công cụ tài chính tài trợ trước thiên tai; (iii) Nguồn tài chính thông qua thị trường vốn quốc tế
Trang 33Bảng 1.3: Một số hạn chế của từng cơ chế hỗ trợ
1 Nguồn tài chính thu động (sau khi xảy ra thiên tai)
Phân bổ lại ngân sách Ngân sách thường eo hẹp
Chính phủ đi vay Chi phí đi vay đắt đỏ và bị hạn chế bởi các
quy định về bền vững ngân sách
2 Nguồn tài chính chủ động (trước khi xảy ra thiên tai)
Quỹ phòng chống thiên tai Độ lớn của Quỹ có thể không đủ, quốc gia
vẫn phải chịu toàn bộ rủi roBảo hiểm thiên tai Những rủi ro đặc trưng của ngành bảo
hiểmCác thỏa thuận tài chính vay khẩn cấp
(thường với thể chế tài chính đa
phương)
Tăng nợ quốc gia, chi phí có thể lớn, quốc gia vẫn phải chịu toàn bộ rủi ro
3 Nguồn tài chính thông qua thị trường vốn quốc tế
Trái phiếu thảm họa Chi phí giao dịch có thể lớn, yêu cầu lớn
về thông tin
Các chứng khoán thời tiết phái sinh
(các cam kết hoán đổi, quyền chọn,
bảo lãnh thiệt hại v.v.)
Nguồn: Tổng hợp từ “Strategies and Financial Instruments for Disaster Risk
Management in Latin America and the Caribbean” (Stuart Miller and Kari Keipi, Inter-American Development Bank, 4/2005) và “Disaster Risk Financing Options for Vietnam” (Aon Benfield, 4/2011)
a Các công cụ tài chính thụ động (sau khi xảy ra thiên tai)
Đối với các công cụ tài trợ tài chính sau thiên tai, nguồn hình thành các công
cụ này không yêu cầu phải lập kế hoạch trước, bao gồm việc sử dụng các hình thức:(i) Quyên góp; (iii) Phân bổ lại ngân sách (tăng thuế, tăng chi); (iii) Chính phủ đi vay (tín dụng nội địa, tín dụng nước nước ngoài)
Tuy nhiên, hạn chế của cơ chế tài chính này đó là: (i) Không đủ và không kịpthời nếu sử dụng hình thức quyên góp; (ii) Ngân sách thường eo hẹp nên việc phân
bổ lại ngân sách sẽ có thể gặp khó khăn; (iii) Chính phủ sẽ tốn kém chi phí đi vay trong khi bị hạn chế bởi các quy định về bền vững ngân sách
Trang 34Vấn đề đặt ra là chi phí tài chính cho các công cụ tài chính Francis
Ghesquiere &Olivier Mahul (2010) đưa ra hệ số nhân chi phí (indicative cost multiplier) để so sánh về chi phí của các sản phẩm tài chính nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai Hệ số nhân này được xác định là hệ số giữa chi phí (cơ hội) của sản phẩm tài chính (phí bảo hiểm, giá trị NPV ước tính của các công cụ nợ dự phòng) và các giá trị ước tính đạt được từ sản phẩm tài chính Theo nghiên cứu của các tác giả, cáckhoản hỗ trợ tài chính từ các nhà tài trợ luôn là công cụ tài chính sau thiên tai ít chi phí nhất Nhiều nhà tài trợ có các chương trình nhân đạo được hoạch định tốt và có thể đáp ứng nhanh chóng, đặc biệt là cho các hoạt động hỗ trợ giảm thiểu rủi ro
Chi phí của các công cụ tài chính hỗ trợ giảm thiểu rủi ro thiên tai
Công cụ
Hệ số chi phí/indicative cost multiplier
Giải ngân (tháng) Quy mô sẵn có
Vay nợ trong nước
Vay nợ nước ngoài
(vay khẩn cấp, phát
hành trái phiếu)
Chuyển giao rủi rot hay
thế (Alternative Risk
Tranfer ART (trái phiếu
Trang 35(Nguồn: Francis Ghesquiere &Olivier Mahul 2010)
Tuy nhiên, nguồn tài chính từ hoạt động tài trợ cũng có những hạn chế nhất định: (i) thường phụ thuộc vào truyền thông do vậy cũng khó để dự đoán được khả năng hỗ trợ9; (ii) việc huy động, thỏa thuận và giải ngân các quỹ này thường phức tạp, có thể kéo dài hàng tháng; (iii) các quỹ hỗ trợ sau thiên tai thường ít có khả năng hỗ trợ các chương tình tái thiết trên diện rộng Do đó, nếu chỉ dựa vào nguồn tài trợ Chính phủ thường không thể đảm bảo được việc tái thiết và giảm thiểu rủi ro sau thiên tai một cách hiệu quả
Các khoản dự trữ của Chính phủ, dự phòng ngân sách, phân bổ lại ngân sách hay đi vay cũng là các công cụ tài chính thông thường được sử dụng để tài trợ sau thiên tai Tuy nhiên, đối với các khoản dự phòng ngân sách thường chỉ chiếm tỷ
lệ nhỏ trong các khoản chi tiêu ngân sách (2-5% đối với Việt nam, Indonesia,
Colombia) và cũng không chỉ dành riêng cho thiên tai Chính phủ các nước, đặc biệt
là các nước nhỏ thường không có khả năng để tích lũy dự trữ đủ để bù đắp thiệt hại
từ các sự kiện thiên tai lớn Vay khẩn cấp có thể sẽ mất nhiều thời gian để đàm phán, do vậy không cho phép huy động ngay lập tức Nghiên cứu của Francis
Ghesquiere &Olivier Mahul (2010) cho thấy, ngoài các khoản tài trợ, các công cụ còn lại không phải là các công cụ tài chính hỗ trợ thiên tai rẻ
b Các công cụ tài trợ tài chính chủ động (trước thiên tai)
Các công cụ tài trợ trước thiên tai yêu cầu cần có những kế hoạch chủ động trước hoặc các quỹ dự trữ, quỹ thiên tai, dự phòng ngân sách, hoặc cơ chế chuyển giao rủi ro Các công cụ chuyển giao rủi ro là các công cụ mà rủi ro được chuyển cho bên thứ ba có thể là các công ty bảo hiểm truyền thống, tái bảo hiểm, chứng khoán liên kết bảo hiểm…(Insurance Linked Securities)
Lợi thế của các công cụ tài trợ trước thiên tai là: (i) tốc độ giải ngân nhanh chóng nên có thể giải quyết các hậu quả của thiên tai kịp thời hơn; (ii) đảm bảo chắc
9 Trận lũ lụt thảm họa ở Guyana năm 2005 xảy ra chỉ vài tuần sau trận động đất ở Pakistan trong tháng 10/2005 và không được truyền thông rộng rãi do vậy cũng hạn chế mức độ hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.
Trang 36chắn có nguồn tài trợ; và (iii) giảm bớt gánh nặng nợ nần cho người dân và quốc gianơi xảy ra thiên tai10.
Ngoài ra, chính phủ có thể tiếp cập các nguồn vốn từ các công cụ tài chính cósẵn trên thị trường tài chính như các công cụ bảo hiểm truyền thống, bảo hiểm tham
số hay cơ chế chuyển giao rủi ro thay thế ART (trái phiếu CAT) Trong đó, bảo hiểm truyền thống đã được sử dụng ở nhiều quốc gia nhằm bảo hiểm cho tài sản công và tài sản tư Khi được thiết kế phù hợp, bảo hiểm có thể đảm bảo bù đắp sự thiệt hại về tài sản Quan trọng hơn, chính phủ có thể giảm thiểu tác động của thiên tai thông qua việc thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân
Đối với các nước đang phát triển, nhìn chung, thiên tai làm cho các nước đang phát triển thường bị tổn thương nhiều hơn, thiệt hại trung bình khoảng 7,1% GDP giai đoạn 1977-2001 Gánh nặng xã hội và tài chính do thiên tai gây ra càng trầm trọng hơn do biến đổi môi trường và tốc độ đô thị hóa ngày một tăng lên tuy nhiên chỉ khoảng 3% giá trị thiệt hại dự kiến được bảo hiểm ở các nước đang phát triển, trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này là 45%
1.2.2 Nguồn tài chính của các nước đang phát triển thường
Thông thường, các khoản dự trữ của Chính phủ, ngân sách và phân bổ lại ngânsách hoặc đi vay khẩn cấp là những nguồn tài trợ sau thiên tai phổ biến Tuy nhiên, cácnguồn từ ngân sách thường hạn chế, chỉ chiếm khoảng 2-5% chi tiêu của Chính phủ (Việtnam, Indonesia, Colombia) Do đó bên cạnh việc hình thành các quỹ tài chính để giảmthiểu rủi ro thiên tai Chính phủ có thể đi vay để tài trợ cho việc khắc phục hậu quả củathiên tai Các khoản vay khẩn cấp có thể phải mất thời gian cho đàm phán và không thểđáp ứng ngay song ngoài các khoản đóng góp tự nguyên, thì vay qua phát hành trái phiếuquốc tế vẫn là phương án tài trợ thiên tai với ít chi phí nhất Để hỗ trợ các nước đang pháttriển chịu ảnh hưởng bởi thiên tai các tổ chức quốc tế đa phương như Ngân hàng thế giới
và ngân hàng phát triển liên Mỹ đã phát triển các công cụ mới, cung cấp tín dụng kịp thờicho các nước có thu nhập trung bình trong trường hợp khẩn cấp với mức lãi suất thấp11
10 https://www.agriskmanagementforum.org/sites/agriskmanagementforum.org/files/Documents/ GFDRR%20Overview%20of%20Disaster%20RIsk%20Financing%20Instruments%20WB.pdf
11 Francis, G & Olivier, M (2010), “Financial Protection of the State against Natural Disasters”, Policy Research Working Paper of the World Bank
Trang 37Chương trình cho vay chính sách phát triển nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai (gọi tắt là sản phẩm DPL CAT DDO – The development policy loan with catastrophe risk deffered drawdown option)12 của Ngân hàng Tái thiết và phát triểnIBRD cho phép các nước có thu nhập trung bình có thể vay khẩn cấp lên đến 500
triệu đô la Mỹ hoặc 0,25% GDP (nếu mức nào thấp hơn) trong trường hợp có
thiên tai Do đó, xét ở khía cạnh có sự kiện thiên tai, thì đây cũng gần như là cơ
chế tài chính trước khi thiên tai xảy ra Tuy nhiên, để có thể tiếp cận được khoản
vay này của WB, các nước phải xây dựng các chương trình quản lý thiên tai cụ thể.Khoản vay CAT DDO đầu tiên của WB được thực hiện vào tháng 9/2008 với hạnmức 65 triệu đô la cho Chính Phủ Costa Rica Các khoản vay mới nhất là 102 triệu
đô la Mỹ cho Chính phủ Sri Lanka thực hiện trong tháng 9/2014 với thời hạn là 3năm13; Chính phủ Peru với khoản vay là 400 triệu đô la thực hiện trong tháng12/201414
12 WB (2014), “Catastrophe deferred drawdown option (DPL with DDO)”
13 WB (2015), “Sri Lanka - Catastrophe deferred drawdown option (DPL with DDO)”, Project Documents, April 2015
14 WB (2015), “Peru - Second Disaster Risk Management Development Policy Loan Project”, Project Documents, 2/2015
Trang 38CHƯƠNG 2 BẢO HIỂM THIÊN TAI TRÊN THẾ GIỚI
VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
2.1 Nội dung cơ bản về bảo hiểm thiên tai và các mô hình bảo hiểm thiên tai trên thế giới
2.1.1 Sự phát triển thị trường bảo hiểm thiên tai
2.1.1.1 Đặc điểm của rủi ro thiên tai dưới góc nhìn của bảo hiểm
Từ góc độ tài chính và bảo hiểm, thiên tai có một số đặc điểm khác biệt vớicác các rủi ro thông thường khác, cụ thể:
+ Rủi ro thiên tai không có tính độc lập, riêng biệt “Dependant/Correlated”,khi một sự kiện thiên tai xảy ra sẽ có tác động ảnh hưởng tới hàng loạt các đốitượng và chủ thể khác nhau, có thể diện rộng trên phạm vi rộng từ một địa phương,một quốc gia cho đến một khu vực Đồng thời, đối tượng chịu ảnh hưởng của thiêntai rất đa dạng (non- homogenous), có thể là tính mạng, sức khỏe của con ngườihoặc tài sản của cá nhân, dân cư, tài sản doanh nghiệp hoặc tài sản công Trong đótài sản bao gồm tất cả các loại hình bao gồm nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, cơ
sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, cảng biển, sân bay ) Như vậy, có thể thấy, rủi rothiên tai về cơ bản khó có thể đáp ứng nguyên tắc cơ bản của hoạt động kinh doanhbảo hiểm đó là lấy số đông bù số ít (Law of Large Number)
+ Thiên tai có thể gây ra thiệt hại vô cùng lớn không chỉ ở tầm quốc gia mà cònmang tính khu vực Đặc biệt đối với các nền kinh tế nhỏ, kém hoặc đang phát triển thiệthại do thiên tai gây ra có thể làm sụp đổ một ngành kinh tế hoặc thậm chí một nền kinh
tế quốc dân (VD: Cơn bão Gibert gây thiệt hại đến 365% GDP của St.Lucia; Lốc xoáyOfa gây thiệt hại 178% GDP của Samoa ) Mức độ của các thiệt hại đó quá lớn, mangtính chất thảm hoạ và vượt quá khả năng tài chính của một công ty
+ Rủi ro thiên tai rất khó có thể dự báo chính xác quy mô, phạm vi và mức
độ thiệt hại nếu không có một hệ thống dự báo khí tượng, thủy văn, cảnh báo và hệthống thông tin dữ liệu, mô hình dự báo xác suất tiên tiến Nếu không có hệ thống
Trang 39thống kê số liệu đầy đủ, đáng tin cậy về thiên tai thì việc xây dựng biểu phí bảohiểm và tính toán số tiền bồi thường cho những tổn thất do thiên tai gây ra của cáccông ty bảo hiểm gặp nhất nhiều khó khăn;
+ - Nhu cầu bảo hiểm thiên tai trên diện rộng, mang tính toàn quốc nói chungkhông lớn, do đó không đảm bảo nguyên tắc số đông và phí bảo hiểm quá cao đếnmức không thể chấp nhận được đối với điều kiện kinh tế của số đông người có nhucầu bảo hiểm Thực tiễn đã cho thấy, chỉ có những người đang hàng ngày, hàng giờphải đối mặt với thiên tai hay chịu nhiều thiệt hại do thiên tai gây ra mới có nhu cầutham gia loại bảo hiểm này
2.1.1.2 Quan điểm chung về phát triển thị trường bảo hiểm thiên tai
- Thực tiễn cho thấy, thiên tai xảy ra đã làm ảnh hưởng lớn đến đời sống sảnxuất và sinh hoạt của người dân những vùng chịu thiên tai cho nên Nhà nước là thểchế đứng đầu, điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động kinh tế, xã hội của một quốc gia,không thể phủ nhận vai trò, trách nhiệm hấp thụ rủi ro, tài trợ khắc phục hậu quả,thiệt hại do thiên tai, đặc biệt là các thiệt hại đối với các tài sản công cộng (cơ sở hạtầng, tài sản công) có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế cũng như hỗ trợ ngườidân khắc phục thiệt hại, ổn định đời sống và sinh hoạt
- Tuy nhiên, Nhà nước mặc dù có tiềm lực tài chính lớn nhất trong một quốcgia, thể chế này cũng có những khó khăn, hạn chế tài khóa nhất định do đồng thời phảithực hiện hàng loạt nhiệm vụ chi cho các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội, trongkhi đó không phải dễ dàng tăng thu ngân sách (chủ yếu là thuế) để bù đắp cho cácnhiệm vụ chi ngoài kế hoạch Gánh nặng tài chính càng lớn hơn khi Nhà nước là thểchế duy nhất thực hiện hoạt động cứu trợ, khắc phục hậu quả và tái thiết sau thiên tai
- Thách thức này đòi hỏi phải có sự chia sẻ, gánh vác rủi ro giữa Nhà nước,khu vực tư nhân và cộng đồng dân cư Có thể thấy ngoài sự đóng góp, hỗ trợ củakhu vực doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, việc phát triển thị trường bảo hiểm thiêntai là rất cần thiết nhằm chia sẻ trách nhiệm tài chính đối với Nhà nước, tạo dựngmột cơ chế cho khu vực doanh nghiệp và dân cư chuyển giao rủi ro cho doanhnghiệp bảo hiểm và sau đó là thị trường tái bảo hiểm quốc tế (cho phép phân tán rủi
ro ra khỏi lãnh thổ quốc gia)
Trang 40- Theo khuyến nghị của các tổ chức quốc tế, việc phát triển thị trường bảohiểm thiên tai cần cân nhắc triển khai các nội dung có liên quan sau đây:
+ Xây dựng khuôn khổ pháp luật quản lý, giám sát nhằm thúc đẩy sự phát
triển lành mạnh, ổn định của thị trường bảo hiểm thiên tai Khuôn khổ pháp luật cầnchú trọng đến quy định giám sát thận trọng đảm bảo các DNBH xác định, đánh giá
và quản lý hiệu quả rủi ro thiên tai Các quy định liên quan bao gồm yêu cầu về vốn,quy định về trích lập dự phòng cho rủi ro thiên tai, chiến lược tái bảo hiểm Đồngthời, quy định cũng nên tạo điều kiện cho sự phát triển của các yếu tố cơ sở hạ tầngcủa thị trường như phát triển sản phẩm phù hợp (đối tượng BH, tài sản BH, mứctrách nhiệm ); phương pháp tính phí bảo hiểm (cố định, theo rủi ro, biểu phí/tariff);đánh giá thiệt hại, bồi thường và phát triển kênh phân phối
+ Thúc đẩy việc hình thành pool (quỹ tập hợp) rủi ro chung của toàn bộ thị trường Mặc dù, như đã phân tích ở trên, rủi ro thiên tai do tính phụ thuộc
(dependent/correlated) do đó khó có thể đảm bảo nguyên tắc lập quỹ rủi ro lấy sốđông bù số ít (law of large number) Tuy nhiên, để khắc phục vấn đề này, thay vìthực hiện risk pooling một cách độc lập tại các DNBH, cần hình thành, tập hợp poolmang quy mô quốc gia (pool bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm) Với quy mô và tính đadạng của pool, sẽ phần nào đáp ứng được nguyên tắc lập quỹ trong bảo hiểm Đồngthời, việc hình thành pool rủi ro thiên tai phạm vi quốc gia sẽ tạo điều kiện, lợi thếcho DNBH trong đàm phán, thảo thuận, hợp đồng tái bảo hiểm quốc tế với mức phítái bảo hiểm thấp hơn, chi phí giao dịch thấp hơn và điều kiện thuận lợi hơn (có thểloại bỏ event limit sau sự kiện lụt tại Thái Lan năm 2011)
+ Xem xét vai trò của Nhà nước trong việc trực tiếp tham gia các giải pháp phát triển thị trưởng bảo hiểm thiên tai thông qua hình thành các chương trình hợp
tác công tư Nội dung này sẽ được phân tích, đánh giá chi tiết dưới đây, tuy nhiên
về cơ bản hợp tác công tư sẽ góp phần hạn chế yếu điểm (bảo hiểm tư nhân yếu vềtiềm lực tài chính, hạn chế của Nhà nước trong quản lý rủi ro đạo đức) và phát huyđiểm mạnh của mỗi bên
2.1.1.3 Phối hợp công tư trong phát triển thị trường bảo hiểm thiên tai