Sử dụng học thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin đề xuất và luận giải các giải pháp cho việc phát triển của công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Bibica trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo. Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn. Học thuyết giá trị thặng dư vạch ra động cơ, mục đích và kết quả vận động của tư bản. Nó bóc trần bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và mâu thuẫn đối kháng giữa hai giai cấp đó. Do đó, học thuyết giá trị thặng dư là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản. Phục vụ cho phong trào công nhân đương thời và ngày nay. Học thuyết giá trị thặng dư đã luận chứng một cách khoa học tính chất lịch sử quá độ của chủ nghĩa tư bản, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản và tính tất yếu của sự quá độ lên phương thức sản xuất mới cao hơn. Khi nghiên cứu về học thuyết giá trị thặng dư của Marx, V.I Lênin đã đánh giá rất cao quy luật này. Ông coi quy luật giá trị thặng dư là hòn đá tảng trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Marx, là một trong hai phát kiến vĩ đại của Marx bên cạnh Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Vậy học thuyết giá trị thặng dư sau bao nhiêu năm, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, có còn vẹn nguyên tính thời đại, và quan trọng hơn, có thể áp dụng quy luật này vào sự phát triển của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất Việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư là một yêu cầu quan trọng và cần thiết, có nhiều nội dung cần được nghiên cứu, vận dụng để đảm bảo tính khoa học, phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam. 2. Tính cấp thiết của đề tài Tính cấp thiết của học thuyết giá trị của Mác và ý nghĩa thực tiễn trong việc phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất: học thuyết giá trị là xuất phátđiểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của C.Mác. Cơ sở về kinh tế để xáclập quan hệ giữa vật với vật, người với người thông qua quan hệ laođộng, các thực thể yếu tố cấu thành giá trị hàng hóa. + Dựa trên lý luận là nền tảng là học thuyết giá trị, C.Mác đã xây dựng nền học thuyết giá trị thặng dư – hòn đá tảng trong toàn bộ lý luận kinhtế của ông. Vì vậy nghiên cứu học thuyết giá trị của ông cũng cần phảibiết rằng: đó là ta bắt đầu nghiên cứu về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng mới ở trạng thái chung nhất. + Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trong bối cảnh lịch sửTây Âu những năm 40 thế kỷ XIX. • Về thực tiễn kinh tế: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dựa trênthành quả cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành. Chính nó đã tạora cơ sở vật chất để các phạm trù kinh tế với tư cách là quan hệ sản xuấttư bản chủ nghĩa bộc lộ khá rõ nét. • Về thực tiễn chính trị xã hội: Là thời kỳ có nhiều biến đổi về chínhtrị và xã hội đang diễn ra (Cách mạng phong kiến của Pháp, công xã Paris và phong trào công nhân ở Pháp, phong trào hiến hương, cuộc cáchmạng tư sản năm 1948 mang tính toàn châu Âu). Đó là những chất liệuquý giá làm cho học thuyết của ông hình thành • Về tiền đề lý luận: C.Mác đã dựa vào kinh tế chính trị tư sản cổđiển Anh W.petty, A.smit, D.ricardo, chủ nghĩa xã hội không tưởng củaPháp, triết học cổ điển Đức 3. Phạm vi đề tài Về không gian: nghiên cứu công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Bibica. Về thời gian: Sự phát triển của công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Bibica từ khi thành lập cho đến nay. Giai đoạn 19992000, thành lập công ty. Giai đoạn 20002005, tăng vốn điều lệ , thành lập thêm nhà máy thứ 2 tại Hà Nội. Giai đoạn 20062010, mở rộng lĩnh vực sản xuất (SP dinh dưỡng, ...), đầu tư nhà máy thứ 3 tại Bình Dương. Giai đoạn từ năm 2011 đến hiện nay, trở thành công ty sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam. Về nội dung: Sử dụng học thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin đề xuất và luận giải các giải pháp cho việc phát triển của công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Bibica trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo. B. NỘI DUNG I. Lý thuyết về học thuyết giá trị 1. Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá a. Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường. Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiến sau: Phân công lao động xã hội: là sự phân chia lao động xã hội thành các nghành, nghề khác nhau. Do phân công lao động xã hội nên mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm nhất định. Song cuộc sống cuả mỗi người cần đến rất nhiều sản phẩm khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu, đòi hỏi họ phải có mỗi liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Sự tách biệt tương về mặt kinh tế của những ngưởi sản suất: Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau tử tư liệu sản xuất, người nào sở hữu tư liệu sản xuất thì người đó sở hữu sản phẩm lao động. Chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ laị nằm trong hệ thống phâncông lao động nên họ phụ thuộc với nhau về sản suất lẫn tiêu dùng. b. Đặc trưng và ưu thế cuả sản xuất hàng hoá Đặc trưng của sản xuất hàng hoá: • Sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua bán, không phải để người sản xuất ra nó tiêu dùng. • Mục tiêu của sản xuất hàng hoá là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải là giá trị sử dụng. • Lao động cuả sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư nhân vưà mang tính xã hội Ưu thế của sản xuất hàng hoá • Sự phát triển sản xuất hàng hoá dẫn đến chuyên môn hoá, hợp tạc hoá ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các nghành , các vùng ngày càng chặt chẽ • Tạo động lực thúc đẩy người sản xuất tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển bằng cách cải tiến khoa học kỹ thuật. • Sản xuất hàng hoá quymô lớn là hình thức tổ chức kinh tế xã hội hiện đại phù hợp với xu thế thời đại ngày nay. • Thúc đẩy giao lưu kinh tế ,văn hoá trong và ngoài nước. 2. Hàng hoá a. Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá Hàng hoá là sản phẩm cuả lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hoá có thể ở dạng vật thể hoặc ở dạng phi vật thể. b. Hai thuộc tính của hàng hoá Hàng hoá có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử sụng và giá trị • Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn được nhu cầu nảo đó của con người. Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hoá là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hoá quyết định . Do đó giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn. • Giá trị Hai hàng hoá khác nhau có thể trao đổi được với nhau lả do chúng đều là sản phẩm của lao động và đều phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng. Hao phí lao động là cơ sở chung để so sánh trao đổi hàng hoá với nhau.Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn dấu trong hàng hoá chính là giá trị của hàng hoá.Vì vậy giá trị là lao động xã hội của ngừơi sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá c. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá Hai thuộc tính của hàng hoá là do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. • Lao động cụ thể. Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương tiện riêng, phương pháp riêng và kết quả riêng. • Lao động trừu tượng Lao động của người sản xuất hàng hoá,nếu coi đó là sự hao phí về đầu óc, sức thần kinh và cơ bắp nói chung của con người, chứ không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào. d. Lượng giá trị của hàng hoá Thước đo lượng giá trị hàng hoá Thước đo lượng giá trị hàng hoá là thời gian lao động xã hội cần thiết. Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá nào đó những điều kiện sản xuất trung bình của xã hội, với trình độ thành thạo trung bình, trình độ trang thiết bị trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó. Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá • Năng suất lao động Năng suất lao động là năng lực sản xuất lao động , nó được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm • Mức độ phức tạp của lao động Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa. Có 2 mức độ phức tạp của lao động là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Trong nền sản xuất hàng hoá , hoạt động trao đổi diễn ra liên tục, phức tạp. Để thuận tiện cho trao đổi,người ta lấy lao động giản đơn trung bình làm đơn vị trao đổi và quy tất cả lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình. Như vậy, lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giàn đơn trung bình. 3. Tiền tệ a. Sự phát triển các hình thái giá trị Sự phát triển các hình thái giá trị trong nền kinh tế hàng hoá được biểu hiện thông qua các hình thái cụ thể sau đây: • Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên • Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng • Hình thái chung của giá trị • Hình thái giá trị b. Bản chất của tiền tệ Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa chững người
Trang 1BÁO CÁO THẢO LUẬN
Đề tài: Sử dụng học thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin đề
xuất và luận giải các giải pháp cho việc phát triển của một công ty
sản xuất mà anh chị biết.
Giáo viên hướng dẫn:
Lớp:
Nhóm:
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2019
Trang 2Mục lục:
A Mở đầu:……….4
1 Lý do chọn đề tài………4
2 Tính cấp thiết của đề tài……… 4
3 Phạm vi đề tài……… 5
B Nộidung:……….6
I Lý thuyết về học thuyết giá trị……… 6
1 Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá………6
2 Hàng hoá……….7
3 Tiền tệ……….8
4 Quy luật giá trị………9
II Đề xuất và luận giải các giải pháp cho việc phát triển một doanh nghiệp hoạt động sản xuất………10
1 Giới thiệu chung về doanh ngiệp……… 10
2 Đối thủ cạnh tranh……… 14
3 Tình hình hoạt động kinh doanh………16
4 Vận dụng học thuyết giá trị đề xuất giải pháp phát triển công ty…20 C Kết luận:……… 26
Trang 3Tài liệu tham khảo:
1 Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin
2 Giới thiệu công ty
5 “Xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Bibica đến năm 2020” –
Bài Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Vũ Tường Huy
Trang 4Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường
xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy vận
động, phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa
tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội
cao hơn
Học thuyết giá trị thặng dư vạch ra động cơ, mục đích và kết quả vận động của tư bản
Nó bóc trần bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và mâu
thuẫn đối kháng giữa hai giai cấp đó Do đó, học thuyết giá trị thặng dư là vũ khí sắc bén
của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản Phục vụ cho phong trào
công nhân đương thời và ngày nay
Học thuyết giá trị thặng dư đã luận chứng một cách khoa học tính chất lịch sử quá độ
của chủ nghĩa tư bản, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản và tính tất yếu của sự
quá độ lên phương thức sản xuất mới cao hơn
Khi nghiên cứu về học thuyết giá trị thặng dư của Marx, V.I Lênin đã đánh giá rất cao
quy luật này Ông coi quy luật giá trị thặng dư là hòn đá tảng trong toàn bộ học thuyết
kinh tế của Marx, là một trong hai phát kiến vĩ đại của Marx bên cạnh Chủ nghĩa duy vật
lịch sử Vậy học thuyết giá trị thặng dư sau bao nhiêu năm, trải qua bao thăng trầm của
lịch sử, có còn vẹn nguyên tính thời đại, và quan trọng hơn, có thể áp dụng quy luật này
vào sự phát triển của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất
Việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư là một yêu cầu quan trọng và cần thiết, có
nhiều nội dung cần được nghiên cứu, vận dụng để đảm bảo tính khoa học, phù hợp với
các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam
2 Tính cấp thiết của đề tài
Tính cấp thiết của học thuyết giá trị của Mác và ý nghĩa thực tiễn trong việc phát triển
doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất: học thuyết giá trị là xuất phátđiểm trong toàn bộ lý
luận kinh tế của C.Mác Cơ sở về kinh tế để xáclập quan hệ giữa vật với vật, người với
người thông qua quan hệ laođộng, các thực thể yếu tố cấu thành giá trị hàng hóa
+ Dựa trên lý luận là nền tảng là học thuyết giá trị, C.Mác đã xây dựng nền học thuyết
giá trị thặng dư – hòn đá tảng trong toàn bộ lý luận kinhtế của ông Vì vậy nghiên cứu
Trang 5học thuyết giá trị của ông cũng cần phảibiết rằng: đó là ta bắt đầu nghiên cứu về phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng mới ở trạng thái chung nhất
+ Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trong bối cảnh lịch sửTây Âu những năm
40 thế kỷ XIX
cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành Chính nó đã tạora cơ sở vật chất để các
phạm trù kinh tế với tư cách là quan hệ sản xuấttư bản chủ nghĩa bộc lộ khá rõ nét
đang diễn ra (Cách mạng phong kiến của Pháp, công xã Paris và phong trào công nhân ở
Pháp, phong trào hiến hương, cuộc cáchmạng tư sản năm 1948 mang tính toàn châu Âu)
Đó là những chất liệuquý giá làm cho học thuyết của ông hình thành
A.smit, D.ricardo, chủ nghĩa xã hội không tưởng củaPháp, triết học cổ điển Đức
3 Phạm vi đề tài
Về không gian: nghiên cứu công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Bibica
Về thời gian: Sự phát triển của công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Bibica từ khi thành
lập cho đến nay
- Giai đoạn 1999-2000, thành lập công ty.
- Giai đoạn 2000-2005, tăng vốn điều lệ , thành lập thêm nhà máy thứ 2 tại Hà Nội.
- Giai đoạn 2006-2010, mở rộng lĩnh vực sản xuất (SP dinh dưỡng, ), đầu tư nhà
máy thứ 3 tại Bình Dương
- Giai đoạn từ năm 2011 đến hiện nay, trở thành công ty sản xuất bánh kẹo hàng đầu
Việt Nam
Về nội dung: Sử dụng học thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin đề xuất và luận giải
các giải pháp cho việc phát triển của công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Bibica trong
lĩnh vực sản xuất bánh kẹo
Trang 6B NỘI DUNG
1 Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
a Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá
Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để trao
đổi hoặc mua bán trên thị trường Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiến
sau:
- Phân công lao động xã hội: là sự phân chia lao động xã hội thành các nghành,
nghề khác nhau Do phân công lao động xã hội nên mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một
vài sản phẩm nhất định Song cuộc sống cuả mỗi người cần đến rất nhiều sản phẩm khác
nhau Để thoả mãn nhu cầu, đòi hỏi họ phải có mỗi liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, phải trao
đổi sản phẩm cho nhau
- Sự tách biệt tương về mặt kinh tế của những ngưởi sản suất: Sự tách biệt này do
các quan hệ sở hữu khác nhau tử tư liệu sản xuất, người nào sở hữu tư liệu sản xuất thì
người đó sở hữu sản phẩm lao động Chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất
đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ laị nằm trong hệ
thống phâncông lao động nên họ phụ thuộc với nhau về sản suất lẫn tiêu dùng
b Đặc trưng và ưu thế cuả sản xuất hàng hoá
ra nó tiêu dùng
dụng
tăng, mối liên hệ giữa các nghành , các vùng ngày càng chặt chẽ
lượng sản xuất phát triển bằng cách cải tiến khoa học kỹ thuật
với xu thế thời đại ngày nay
Trang 7a Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm cuả lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán Hàng hoá có thể ở dạng vật thể hoặc ở dạng phi vật thể
b Hai thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử sụng và giá trị
Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn được nhu cầu nảo đó của
con người Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hoá là do thuộc tính tự nhiên của vật
thể hàng hoá quyết định Do đó giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
Hai hàng hoá khác nhau có thể trao đổi được với nhau lả do chúng đều là sản phẩm
của lao động và đều phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng Hao phí lao động là cơ
sở chung để so sánh trao đổi hàng hoá với nhau.Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa
ẩn dấu trong hàng hoá chính là giá trị của hàng hoá.Vì vậy giá trị là lao động xã hội của
ngừơi sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
c Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
Hai thuộc tính của hàng hoá là do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
quyết định Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và lao
động trừu tượng
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng,
phương tiện riêng, phương pháp riêng và kết quả riêng
Lao động của người sản xuất hàng hoá,nếu coi đó là sự hao phí về đầu óc, sức thần
kinh và cơ bắp nói chung của con người, chứ không kể đến hình thức cụ thể của nó như
thế nào
Trang 8d Lượng giá trị của hàng hoá
Thước đo lượng giá trị hàng hoá là thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao
động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá nào đó những điều
kiện sản xuất trung bình của xã hội, với trình độ thành thạo trung bình, trình độ trang
thiết bị trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó
Năng suất lao động là năng lực sản xuất lao động , nó được tính bằng số lượng sản
phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm
Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng
hóa Có 2 mức độ phức tạp của lao động là lao động giản đơn và lao động phức tạp
Trong nền sản xuất hàng hoá , hoạt động trao đổi diễn ra liên tục, phức tạp Để thuận tiện
cho trao đổi,người ta lấy lao động giản đơn trung bình làm đơn vị trao đổi và quy tất cả
lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình Như vậy, lượng giá trị hàng hoá
được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giàn đơn trung bình
3 Tiền tệ
a Sự phát triển các hình thái giá trị
Sự phát triển các hình thái giá trị trong nền kinh tế hàng hoá được biểu hiện thông
qua các hình thái cụ thể sau đây:
b Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung thống nhất cho
các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa chững người
sản xuất hàng hoá
Trang 9Chức năng của tiền tệ: Thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh
toán, phương tiện cất giữ và tiền tệ thế giới
c Quy luật lưu thông tiền tệ và vấn đề lạm phát
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần cho lưu thông hàng
hoá ở mỗi thời kỷ nhất định
- Lạm phát là trình trạng mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng lên trong một thời
gian nhất định Nó là một hiện tượng kinh tế phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đó là
hiện tượng khủng hoảng tiền tệ, nhưng nó là sự phản ánh và thể hiện trạng thái chung của
toàn bộ nền kinh tế
- Căn cứ vào mức giá tăng lên, có thể chia lạm phát thành:
4 Quy luật giá trị
a Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
- Nội dung của quy luật giá trị: đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở
giá trị xã hội ( hao phí lao động xã hội cần thiết )
- Yêu cầu của quy luật giá trị:
hơn giá trị xã hội
b Tác động của quy luật giá trị
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
Trang 10Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bố các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các
lĩnh vực của nền kinh tế Tác động này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của
giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung - cầu:
lãi, bán chạy
hơn giá trị, hàng hoá khó bán, sản xuất không có lãi
- Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lí hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực
lượng sản xuất, xã hội phát triển
Do đòi hỏi của quy luật giá trị người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ
hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu được lãi cao
Từ đó, kích thích cải tiến kĩ thuật, cải tiến tổ chức quản lí, thực hiện tiết kiệm chặt
chẽ, tăng năng suất lao động Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra
mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội
- Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá thành người giàu,
người nghèo
bánh kẹo Biên Hoà (BiBiCa)
1 Giới thiệu chung về doanh nghiệp
a Sơ lược về công ty
Ngày 16/01/1999, Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa với thương hiệu Bibica
được thành lập từ việc cổ phần hóa ba phân xưởng: bánh, kẹo và mạch nha của Công ty
Đường Biên Hoà Trụ sở của công ty đặt tại Khu công nghiệp Biên Hòa 1, Đồng Nai
Với năng lực sản xuất lúc mới thành lập là 5 tấn kẹo/ ngày Công ty đã dần dần mở
rộng hoạt động, nâng công suất và đa dạng hóa sản phẩm Hiện nay, Công ty là một trong
những đơn vị sản xuất và kinh doanh bánh kẹo hàng đầu tại Việt Nam với hơn 20 năm
kinh nghiệm và có thương hiệu rất quen thuộc với người tiêu dùng Mỗi năm công ty có
Trang 11thể cung cấp cho thị trường hơn 20.000 tấn bánh kẹo các loại như: bánh tết, bánh hura,
bánh quy, socola, bánh trung thu, kẹo cứng, kẹo mềm,…
Tầm nhìn 2020: Công ty bánh kẹo hàng đầu Việt Nam
b Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1993, công ty bắt đầu sản xuất bánh kẹo, ba dây chuyền sản xuất: dây chuyền
kẹo được nhập khẩu từ châu Âu, dây chuyền bánh Biscuits theo công nghệ APV của Anh,
dây chuyền mạch nha với thiết bị đồng bộ dùng công nghệ thuỷ phân bằng Enzyme và
trao đổi ion lần đầu tiên có ở Việt Nam, được nhập khẩu từ Đài Loan Sản phẩm bánh kẹo
của Công ty nhanh chóng được phân phối đến tất cả các tỉnh thành trong cả nước và đã
được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lương
Năm 1996, Công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền bánh cookies với thiết bị và công
nghệ Hoa Kỳ để đa dạng hóa sản phẩm và kịp thời đáp ứng nhu cầu tăng nhanh của sản
phẩm bánh ngọt trong nước
Năm 1998, Công ty tiếp tục đầu tư thiết bị sản xuất kẹo dẻo được nhập khẩu từ Úc.
Năm 1999 – 2000, thành lập công ty Ngày 16/01/1999, Công ty Cổ phần bánh kẹo
Biên Hòa với thương hiệu Bibica được thành lập từ việc cổ phần hóa ba phân xưởng:
bánh, kẹo và mạch nha của Công ty Đường Biên Hoà Trụ sở của công ty đặt tại Khu
công nghiệp Biên Hòa 1, Đồng Nai Ngành nghề chính của công ty là sản xuất và kinh
doanh các sản phẩm: bánh, kẹo, mạch nha Vốn điều lệ của công ty vào thời điểm ban
đầu là 25 tỷ đồng Cũng trong năm 1999, Công ty đầu tư dây chuyền sản xuất thùng
carton và khay nhựa để phục vụ sản xuất, đồng thời dây chuyền sản xuất kẹo mềm cũng
được đầu tư mở rộng và nâng công suất đến 11 tấn/ngày
Năm 2000 – 2005, tăng vốn điều lệ, thành lập thêm nhà máy thứ hai tại Hà Nội Bắt
đầu từ năm 2000, Công ty phát triển hệ thống phân phối theo mô hình mới Các chi
nhánh tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ lần lượt được thành lập
để kịp thời đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của khách hàng trong cả nước Năm 2000,
Công ty đầu tư dây chuyền sản xuất bánh snack nguồn gốc Indonesia với công suất 2 tấn/
ngày
Năm 2006-2010, mở rộng lĩnh vực sản xuất (SP dinh dưỡng, …), đầu tư nhà máy
thứ ba tại Bình Dương Bước vào năm 2006, Công ty triển khai xây dựng nhà máy mới
trên diện tích 4 ha tại khu công nghiệp Mỹ Phước I, tỉnh Bình Dương Giai đoạn 1 Công
ty đầu tư dây chuyền sản xuất bánh bông lan kem Hura cao cấp nguồn gốc châu Âu công
suất 10 tấn/ngày.Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa chính thức đổi tên thành "Công
Trang 12Ty Cổ Phần Bibica" kể từ ngày 17/1/2007 Tại Đại Hội Cổ Đông bất thường ngày
22/09/2007, Công ty đã điều chỉnh và bổ sung kế hoạch phát hành 9,63 triệu cổ phần giai
đoạn 2 trong số 11,4 triệu cổ phần phát hành thêm trong năm 2017 của Công ty
Từ 2011- hiện nay, trở thành công ty sản xuất bánh kẹo hàng đầu tại Việt
Nam Với tầm nhìn trở thành công ty sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam, với doanh số
2.300 tỉ và chiếm thị phần 14% vào năm 2018, trong năm 2011 Công ty đã cải tổ toàn
diện hệ thống bán hàng, mở thêm nhà phân phối, tăng số lương nhân sự bán hàng và đầu
tư phần mềm quản lý hệ thống bán hàng Kết quả doanh số năm 2011 của Công ty đạt
con số trên 1.000 tỉ
Hội đồng quản trị: Do đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lý Công ty, có
toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công
ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị có 05 thành
viên, nhiệm kỳ là 05 năm, trong đó có 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 3 uỷ viên
Trang 13Ban kiểm soát: Do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, thực hiện giám sát hội đồng quản
trị, Giám đốc trong việc quản lý và điều hành Công ty; kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp
trong điều hành hoạt động kinh doanh và báo cáo tài chính của Công ty và chịu trách
nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao Hiện tại
Ban kiểm soát Công ty gồm 03 thành viên, nhiệm kỳ là 05 năm, thành viên Ban kiểm soát
có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
- Ban Giám đốc
Tổng Giám Đốc: Do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, trực tiếp thay mặt HĐQT để điều
hành các hoạt động hàng ngày của Công ty, là người đại diện hợp pháp theo pháp luật và
chịu trách nhiệm trước HĐQT về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Phó Tổng Giám đốc – phụ trách kinh doanh: Tham mưu cho Tổng Giám đốc trong
lĩnh vực quản lý, điều hành các công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh mua bán
của Công ty
Phó Tổng Giám đốc SX – phụ trách sản xuất: Tham mưu cho Tổng Giám đốc trong
lĩnh vực phụ trách hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001; Quản lý và
điều hành phòng kỹ thuật, phòng quản lý chất lượng, phòng vật tư và các phân xưởng sản
xuất
- Các phòng ban chức năng
Phòng Tài chính – Kế toán: Thực hiện các chức năng hạch toán, kế toán, hoạt động
tài chính và thống kê, phân tích các hoạt động kinh tế
Phòng Kĩ thuật đầu tư: Thực hiện công tác quản lý thiết bị công nghệ sản xuất, các
dự án đầu tư và đào tạo công nhân kỹ thuật
Phòng Xuất nhập khẩu: Thực hiện công tác mua bán xuất nhập khẩu.
Phòng Kinh doanh: Thực hiện các hoạt động tiêu thụ sản phẩm, quản lý kho hàng
cùng với công tác nghiên cứu thị trường, điều độ sản xuất, xây dựng các kế hoạch kinh
doanh và các chiến lược marketing Phòng kinh doanh có hai phòng ban trực thuộc là
phòng bán hàng và phòng marketing
Phòng Kế hoạch – thị trường: Xây dựng kế hoạch SXKD ngắn hạn và dài hạn, triển
khai các đơn vị trong công tác triển khai thực hiện kế hoạch; Xây dựng CLKD của Công
ty; Theo dõi, tập hợp thông tin, điều độ sản xuất