Sự vận dụng của Đảng ta về chủ nghĩa duy vật biện chứng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác- Lênin góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên. Ở đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu vấn đề bản chất của ý thức. Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là toàn bộ sản phẩm những hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hy vọng, ý chí niềm tin,… của con người trong cuộc sống. Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người. Trước năm 1986, đất nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn bởi một nền kinh tế trì trệ, một hệ thống quản lý yếu kém cũng là do một phần không nhận thức đúng và đầy đủ về quan niệm chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức. Vấn đề này được nhận thức đúng sau đổi mới tại đại hội VI, và quả nhiên là đã giành rất nhiều thắng lợi sau khi đã chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. NỘI DUNG I.Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức khoa học, chủ nghĩa duy vật đã trải qua ba hình thức cơ bản là: Chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. -Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại: đồng nhất với vật thể, lý giải toàn bộ sự sinh thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính và coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của thế giới. -Chủ nghĩa duy vật siêu hình: cơ học cổ điển đạt được những thành tựu rực rỡ, ảnh hưởng đến tư duy triết học. Thế giới như một cỗ máy khổng lồ, mà mỗi bộ phận của nó luôn biệt lập tĩnh tại. -Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, đồng thời là hình thức phát triển cao nhất của CNDV do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập từ những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó V.I.Lênin và những người kế tục ông bảo vệ và phát triển. -Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng triệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại, đạt tới trình độ là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử. -Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển; nêu ra những quy luật phổ biến nhất chi phối sự vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; tạo ra sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng; chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng tạo ra cuộc cách mạng trong lịch sử triết học. -Toàn bộ hệ thống quan niệm, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. II.Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức Ý thức là gì ? Triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định, ý thức là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra trong não người, hình thành trong quá trình lao động và được diễn đạt nhờ ngôn ngữ. 1.Nguồn gốc của ý thức (yếu tố cần) Theo quan điểm chủ ý Lê nin thì trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất của ý thức là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT. Nguồn gốc tự nhiên Theo quan điểm triết học mac lê nin ý thức là một thuộc tính của một dang vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người . Nếu không có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người và không có bộ não người với tính cách là cơ quan vật chất của ý thức thì sẽ không có ý thức. Bộ não người và sự tác động của thế giới khác quan vào bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Các nhân tố bao gồm : -Bộ óc người: Là sản phẩm quá trình tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất, từ vô cơ tới hữu cơ, chất sống (thực vật và động vật) rồi đến con người – sinh vật – xã hội. Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động của thần kinh não bộ; bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức con người càng phong phú và sâu sắc. Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh tác động đó thì cũng không thể có ý thức. -Mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tao ra quá trình phản ánh năng động sáng tạo. Đây là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện. Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên ý thức. “Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng". Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật- vật tác động và vật nhận tác động. Đồng thời, quá trình phản ánh bao hàm quá trình thông tin hay vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động” Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất, là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lai lẫn nhau giữa chúng. Sự phản ánh của vật chất là một trong những nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp: 1)Phản ánh vật lý, hóa học (phản ánh của giới vô cơ) : là hính thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh. Thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh. Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động. 2)Phản ánh sinh học: là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh. Phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tính kích thích là phản ánh của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc… khi nhận tác động trong môi trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác , được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện , khi có sự tác động từ bên ngoài môi trướng nên cơ thể sống. 3)Phản ánh tâm lý: là phản ánh của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện. 4)Phản ánh năng động sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là bộ óc người. Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra nhưng thông tin mới, phát hiện ý nghĩa thông tin. Sự phản ánh năng động sáng tạo này được gọi là ý thức Nguồn gốc xã hội của ý thức (yếu tố đủ) Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ điều kiện quyết định cho sự ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội, ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc vào xã hội, và ngay từ đầu đã mang tính chất xã hội. -Lao động là hoạt động có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm tạo ra của cải để tồn tại và phát triển. Lao động làm cho ý thức không ngừng phát triển (bằng cách tích lũy kinh nghiệm), tạo cơ sở cho con người nhận thức những tính chất mới (được suy ra từ những kinh nghiệm đã có) của giới tự nhiên; dẫn đến năng lực tư duy trừu tượng, khả năng phán đoán, suy luận dần được hình thành và phát triển. Qua lao động con người tác động vào tg khách quan buộc nó bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật.. và được ý thức phản ánh nhằm cải tạo giới tự nhiên. Thông qua lao động, hoạt động của con người mang tính tập thể xã hội và nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm từ đó xuất hiện ngôn ngữ. -Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Trong quá trình lao động con người liên kết với nhau, tạo thành các mối quan hệ xã hội tất yếu và các mối quan hệ của các thành viên của xã hội không ngừng được củng cố và phát triển dẫn đến nhu cầu cần thiết “phải trao đổi với nhau điều gì đấy” nên ngôn ngữ xuất hiện. Ngôn ngữ ra đời trở thành “cái vỏ vật chất của ý thức”, thành phương tiện thể hiện ý thức. Nhờ ngôn ngữ
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai tròcủa ý thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấutranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trên cơ sở nhữngthành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội,triết học Mác- Lênin góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên Ở đâychúng ta sẽ đi tìm hiểu vấn đề bản chất của ý thức Ý thức là sự phảnánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc con người, làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Ý thức là toàn bộ sảnphẩm những hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những trithức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hy vọng, ýchí niềm tin,… của con người trong cuộc sống Ý thức là sản phẩmcủa quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội, là kết quả củaquá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của conngười
Trước năm 1986, đất nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn bởi một nềnkinh tế trì trệ, một hệ thống quản lý yếu kém cũng là do một phầnkhông nhận thức đúng và đầy đủ về quan niệm chủ nghĩa duy vậtbiện chứng về ý thức Vấn đề này được nhận thức đúng sau đổi mớitại đại hội VI, và quả nhiên là đã giành rất nhiều thắng lợi sau khi đãchuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 2NỘI DUNG
I Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao
nhất của chủ nghĩa duy vật
Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức khoahọc, chủ nghĩa duy vật đã trải qua ba hình thức cơ bản là: Chủ nghĩaduy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vậtbiện chứng
- Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại: đồng nhất với vật thể, lýgiải toàn bộ sự sinh thành của thế giới từ một hoặc một số dạngvật chất cụ thể, cảm tính và coi đó là thực thể đầu tiên, là bảnnguyên của thế giới
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình: cơ học cổ điển đạt được những thànhtựu rực rỡ, ảnh hưởng đến tư duy triết học Thế giới như một cỗmáy khổng lồ, mà mỗi bộ phận của nó luôn biệt lập tĩnh tại
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Là hình thức cơ bản thứ ba của chủnghĩa duy vật, đồng thời là hình thức phát triển cao nhất củaCNDV do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập từ những năm 40 củathế kỷ XIX, sau đó V.I.Lênin và những người kế tục ông bảo vệ vàphát triển
- Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sửdụng triệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, chủnghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phụcđược hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại và chủnghĩa duy vật siêu hình thời cận đại, đạt tới trình độ là hình thứcphát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử
- Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mốiliên hệ phổ biến và sự phát triển; nêu ra những quy luật phổ biếnnhất chi phối sự vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tưduy; tạo ra sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biệnchứng; chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đạicho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng tạo racuộc cách mạng trong lịch sử triết học
Trang 3- Toàn bộ hệ thống quan niệm, quan điểm của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng được xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học vềvật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ýthức.
II Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức
Ý thức là gì ?
Triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định, ý thức là một phạmtrù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thế giớivật chất diễn ra trong não người, hình thành trong quá trình lao động
và được diễn đạt nhờ ngôn ngữ
1 Nguồn gốc của ý thức (yếu tố cần)
Theo quan điểm chủ ý Lê nin thì trong lịch sử triết học, vấn đề nguồngốc, bản chất của ý thức là một trong những vấn đề trung tâm củacuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT
Nguồn gốc tự nhiên
Theo quan điểm triết học mac lê nin ý thức là một thuộc tính của mộtdang vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là sự phản ánh thế giớikhách quan vào bộ não người Nếu không có sự tác động của thế giớikhách quan vào bộ não người và không có bộ não người với tính cách
là cơ quan vật chất của ý thức thì sẽ không có ý thức Bộ não người
và sự tác động của thế giới khác quan vào bộ não người là nguồn gốc
tự nhiên của ý thức
Các nhân tố bao gồm :
- Bộ óc người: Là sản phẩm quá trình tiến hóa lâu dài của thế giớivật chất, từ vô cơ tới hữu cơ, chất sống (thực vật và động vật) rồiđến con người – sinh vật – xã hội Hoạt động ý thức của con ngườidiễn ra trên cơ sở hoạt động của thần kinh não bộ; bộ óc càng hoànthiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ýthức con người càng phong phú và sâu sắc Tuy nhiên, nếu chỉ có
bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài
để bộ óc phản ánh tác động đó thì cũng không thể có ý thức
- Mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tao ra quátrình phản ánh năng động sáng tạo Đây là quan hệ tất yếu ngay từ
Trang 4khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế giới kháchquan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tácđộng đến bộ óc người, hình thành nên ý thức.
“Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng" Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật- vật tác động và vật nhận tác động Đồng thời, quá trình phản ánh bao hàmquá trình thông tin hay vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động”
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất,
là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất khác trong quátrình tác động qua lai lẫn nhau giữa chúng Sự phản ánh của vậtchất là một trong những nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tínhphản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp:
1) Phản ánh vật lý, hóa học (phản ánh của giới vô cơ) : là hính thứcphản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Thể hiện quanhững biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác động qua lại lẫn nhaugiữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tínhthụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động.2) Phản ánh sinh học: là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng chogiới tự nhiên hữu sinh Phản ánh sinh học được thể hiện qua tínhkích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ánh củathực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinhtrưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc… khi nhậntác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng củađộng vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác , được thực hiệntrên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ khôngđiều kiện , khi có sự tác động từ bên ngoài môi trướng nên cơ thểsống
3) Phản ánh tâm lý: là phản ánh của động vật có hệ thần kinh trungương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh thôngqua cơ chế phản xạ có điều kiện
Trang 54) Phản ánh năng động sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhấttrong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vậtchất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là bộ óc người Đây là
sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin
để tạo ra nhưng thông tin mới, phát hiện ý nghĩa thông tin Sựphản ánh năng động sáng tạo này được gọi là ý thức
Nguồn gốc xã hội của ý thức (yếu tố đủ)
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quantrọng, không thể thiếu được, song chưa đủ điều kiện quyết định cho
sự ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người nhờ lao động,ngôn ngữ và những quan hệ xã hội, ý thức là sản phẩm của sự pháttriển xã hội, nó phụ thuộc vào xã hội, và ngay từ đầu đã mang tínhchất xã hội
- Lao động là hoạt động có mục đích, có tính lịch sử - xã hội củacon người nhằm tạo ra của cải để tồn tại và phát triển Lao độnglàm cho ý thức không ngừng phát triển (bằng cách tích lũy kinhnghiệm), tạo cơ sở cho con người nhận thức những tính chất mới(được suy ra từ những kinh nghiệm đã có) của giới tự nhiên; dẫnđến năng lực tư duy trừu tượng, khả năng phán đoán, suy luận dầnđược hình thành và phát triển
Qua lao động con người tác động vào tg khách quan buộc nó bộc
lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật và được ý thức phản ánh nhằm cải tạo giới tự nhiên Thông qua lao động, hoạt động của conngười mang tính tập thể xã hội và nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm từ đó xuất hiện ngôn ngữ
- Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) là hệ thống tín hiệu vật chất chứađựng thông tin mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ, ý thứckhông thể tồn tại và thể hiện Trong quá trình lao động con ngườiliên kết với nhau, tạo thành các mối quan hệ xã hội tất yếu và cácmối quan hệ của các thành viên của xã hội không ngừng đượccủng cố và phát triển dẫn đến nhu cầu cần thiết “phải trao đổi vớinhau điều gì đấy” nên ngôn ngữ xuất hiện Ngôn ngữ ra đời trởthành “cái vỏ vật chất của ý thức”, thành phương tiện thể hiện ýthức Nhờ ngôn ngữ, con người khái quát hóa, trừu tượng hóa
Trang 6những kinh nghiệm để truyền lại cho nhau Ngôn ngữ là sản phẩmcủa lao động, đến lượt nó, ngôn ngữ lại thúc đẩy lao động pháttriển.
Như vậy , nguồn gốc cơ bản , trực tiếp và quan trong nhất quyết định sự ra đời và phát triển ý thức là lao động Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn , đã làm cho bộ óc đó dần biến chuyển thành bộ óc của con người,khiến cho tâm lý động vật dần chuyển hóa thành ý thức
2 Bản chất của ý thức
Bản chất của ý thức thể hiện ở sự phản ánh năng động, sáng tạo thếgiới khách quan vào bộ não người; là hình ảnh chủ quan về thế giớikhách quan
Tính chất năng động, sáng tạo
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh được thể hiện ở khảnăng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng,tiếp cận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu trữ thôngtin và trên những cơ sở thông tin đã có nó có thể tạo ra nhưng thôngtin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin đã được nhập Sự phảnánh đó nhằm nắm bắt bản chất, quy luật vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng; khả năng vượt trước (dự báo) của ý thức tạo nên
sự lường trước những tình huống sẽ gây tác động tốt, xấu lên kết quảcủa hoạt động mà con người đang hướng tới Có dự báo đó, conngười điều chỉnh chương trình của mình sao cho phù hợp với dự kiến
xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng (dự báo thời tiết, khíhậu ); xây dựng các mô hình lý tưởng, đề ra phương pháp thực hiệnphù hợp nhằm đạt kết quả tối ưu Tính chất năng động, sáng tạo cònđược thể hiện ở chỗ quá trình con người tạo ra những ý tưởng, giảthuyết, huyền thoại trong đời sống tinh thần của mình hoặc kháiquát bản chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng,tri thức trong các hoạt động của con người
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Trang 7Điều đó thể hiện ở chỗ: Ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan, bịthế giới khách quan quy định cả về nội dung và hình thức biểu hiện;nhưng thế giới ấy không còn y nguyên như nó vốn có, mà nó cảithiện thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng,tri thức, nhu cầu ) của con người Theo C.Mác, ý thức “ chẳng quachỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc của con người vàđược cải biến đi trong đó” Có thể nói, ý thức phản ánh hiện thực,còn ngôn ngữ thì diễn đạt hiện thực và nói lên tư tưởng Các tưtưởng đó được tín hiệu hóa trong một dạng cụ thể của vật chất – làcái ngôn ngữ - cái mà con người có thể cảm giác được Không cóngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
Ý thức là hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội
Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu
sự chi phối không chỉ của các quy luật tự nhiên mà còn (và chủ yếulà) của các quy luật xã hội; được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xãhội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của đời sống xã hội Với tínhnăng động của mình, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầucủa bản thân và thực tiễn xã hội Ở các thời đại khác nhau, thậm chí ởcùng một thời đại, sự phản ánh ( ý thức) về cùng một sự vật, hiệntượng có sự khác nhau – theo các điều kiện vật chất và tinh thần màchủ thể nhận thức phụ thuộc
3 Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý – xã hội có kết cấu rất phức tạp
Phân theo các yếu tố hợp thành (theo chiều ngang): tri thức,tình cảm, ý chí:
- Tri thức: là toàn bộ hiểu biết của con người, là kết quả của quátrình nhận thức về thế giới hiện thực; là sự tái hiện trong tư tưởngnhững thuộc tính, quy luật của thế giới và diễn đạt chúng bằngngôn ngữ hoặc các hệ thống tín hiệu khác Tri thức là yếu tố quantrọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ýthức phát triển
Theo lĩnh vực phản ánh: tri thức về tự nhiên, con người, xã hội
Theo trình độ phát triển của nhận thức: tri thức đời thường vàkhoa học, kinh nghiệm và lí luận, cảm tính và lí tính
Trang 8- Tình cảm: là những rung động biểu hiện ở thái độ của con ngườitrong các quan hệ hoặc khi tiếp nhận sự tác động của ngoại cảnh.Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, yếu
tố phát huy sức mạnh, một động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức
và thực tiễn
Tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo
- Ý chí: là sự biểu hiện sức mạnh bản thân mỗi người nhằm vượtqua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích Là một biểuhiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con người tự ý thức đượcmục đích của hành động nên tự thực hiện đến cùng mục đích đã
chọn “Ý chí là một trong những yếu tố tạo nên sự nghiệp cách mạng của hàng triệu người trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhằm giải phóng mình, giải phóng nhân loại” – Lênin.
Kết cấu theo chiều sâu nội tâm (theo chiều dọc): tự ý thức,tiềm thức, vô thức:
- Tự ý thức: sự tự ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ýthức về thế giới bên ngoài
- Tiềm thức: là ý thức dưới dạng tiềm năng, những tri thức mà chủthể có từ trước, trở thành bản năng và nằm trong tầng sâu ý thức.Hoạt động do tiềm thức chỉ đạo ngoài sự kiểm soát của chủ thểnhưng liên quan trực tiếp đến hoạt động tâm lý dưới sự kiểm soátcủa chủ thể ấy
- Vô thức: là trạng thái tâm lí ở chiều sâu, điều chỉnh suy nghĩ, hành
vi, thái độ ứng xử của chủ thể mà chủ thể không có tính toán, kiểmsoát được (lỡ lời, thôi miên, ham muốn bản năng, trực giác, mặccảm )
Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.
4 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Vai trò của vật chất đối với ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất có trước, ý thức
có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
Trang 9- Quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức: ý thức chỉ là thuộc tínhphản ánh của một dạng vật chất đặc biệt là bộ óc con người nênchỉ khi có con người thì mới có ý thức Con người là kết quả quátrình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thếgiới vật chất Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên và xã hộiđều là từ thế giới vật chất khách quan hoặc những dạng tồn tại củavật chất nên vật chất là nguồn gốc sinh ra ý thức.
- Quyết định nội dung, bản chất của ý thức: Ý thức là sự phản ánhthế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới vật chất Vậtchất là đối tượng, khách thể của ý thức, nó quy định nội dung,hình thức, khả năng, và quá trình vận động của ý thức
- Quyết định sự biến đổi của ý thức: Sự vận động và phát triển của ýthức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, cácquy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định.Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất cũng quyếtđịnh mọi sự biến đổi của ý thức Do ý thức là chức năng của bộnão con người Hoạt động ý thức không diễn ra ở đâu ngoài nhữnghoạt động sinh lý thần kinh của bộ não Ý thức phụ thuộc vào hoạtđộng của bộ não, do đó khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ýthức sẽ không được bình thường hoặc bị rối loạn
Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vậtchất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo
VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt độngsinh lý thần kinh của bộ não con người Nhưng khi bộ não người bịtổn thương thì hoạt động của ý thức cũng bị rối loạn
VD2: Ở Việt Nam, nhận thức của các học sinh cấp 1, 2, 3 về côngnghệ thông tin là rất yếu kém sở dĩ vậy là do về máy móc cũng nhưđội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu Nhưng nếu vấn đề về cơ sở vậtchất được đáp ứng thì trình độ công nghệ thông tin của các em cấp 1,
2, 3 sẽ tốt hơn nhiều
Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chấtthông qua hoạt động thực tiễn của con người
Trang 10- Ý thức do vật chất sinh ra và quy định, nhưng ý thức lại có tínhđộc lập tương đối của nó Hơn nữa, sự phản ánh của ý thức đối vớivật chất là sự phản ánh tinh thần, phản ánh sáng tạo và chủ độngchứ không thụ động, máy móc, nguyên si thế giới vật chất, vì vậy
nó tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễncủa con người
- Trên cơ sở đó ý thức giúp xác định mục tiêu, đề ra phương hướnghoạt động, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, phươngtiện tác động nhằm cải tạo hiện thực khách quan thông qua hoạtđộng thực tiễn của con người Và bằng nỗ lực, ý chí, con người cóthể thực hiện mục tiêu đề ra trong điều kiện vật chất cụ thể
- Dựa trên các tri thức khách quan, con người đề ra mục tiêu,phương hướng, xác định phương pháp, dùng ý chí để thực hiệnmục tiêu ấy Vì vậy ý thức tác động đến vật chất theo 2 chiềuhướng:
Tác động tích cực: nếu con người có nhận thức đúng đắn, có trithức khoa học, có tình cảm cách mạng , có nghị lực, có ý chí thìhành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan,con người có khả năng vượt qua những thách thức trong quátrình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo =>thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng
Tác động tiêu cực: nếu ý thức của con người phản ánh khôngđúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thìngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lạicác quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác động tiêu cựcđối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan =>kìm hãm sự phát triển của sự vật
Như vậy có nghĩa là cũng có những ý thức khoa học và những
ý thức không khoa học so với hiện thực khách quan, tương ứngvới nó là hai tác động trái ngược nhau tích cực và tiêu cực của
ý thức đối với vật chất
VD1: Hiểu tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở 10000C thì conngười tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất các loại thép với đủ
Trang 11các kích cỡ chủng loại, chứ không phải bằng phương pháp thủ công
xa xưa
VD2: Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nước Tưsản đại hội VI, Đảng ta chuyển nền kinh tế từ tự cung, tự cấp quanliêu sang nền kinh tế thị trường, nhờ đó mà sau gần 20 năm đổi mới
bộ mặt đất nước ta đã thay đổi dần
Tuy vậy, sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với mộtmức độ nhất định chứ nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quyluật vận động của vật chất được Và suy cho cùng, dù ở mức độ nào,
nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất
Như vậy bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức
có thể quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn củacon người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay khônghiệu quả
Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giưa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn, khách thể và chủ thể, vấn đề chân lý,…
5 Ý nghĩa phương pháp luận
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan; nhận thức và hành động theo quy luật khách quan
- Vật chất là nguồn gốc khách quan sản sinh ra ý thức, ý thức chỉ là sản phẩm, là phản ánh thế giới khách quan Vì vậy trong hđ nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, biết tạo điều kiện và phương tiện vật chất tổ chức lực lượng biến khả năng thành hiện thực
- VD: Cương lĩnh năm 1991 của Đảng ta chỉ rõ: "Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan"
Trang 12- VD2: Đảng thừa nhận lỗi Chủ quan duy ý chí là trái ngược với quyết định trên.
Phát huy tính năng động chủ quan, phát huy vài trò của nhân tố con người, của tri thức khoa học và cách mạng trong hoạt động thực tiễn
- Cần nhận rõ vai trò tích cực của nhân tố ý thức, tinh thần trong việc sử dụng hiệu quả nhất điều kiện phương tiện vật chất hiện có Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố cn
để cải tạo thế giới khách quan; phải tạo ra động lực hành động chocon người bằng cách quan tâm tới đời sống kinh tế, lợi ích thiết thực của quần chúng, phát huy dân chủ rộng rãi
- Cần khái quát tổng kết hành động thực tiễn để thường xuyên nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chỉ đạo thực tiễn, chống tư tưởngthụ động ngồi chờ, ỷ lại vào hoàn cảnh, vào điều kiện vật chất
- Bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa tôn trọng khách quan và phát huy năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn Ý thức cóthể quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn cần xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hành động của mình Đồng thời cần phát huy tính năng động sáng tạo của nhân tố con người, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí hoặc bảo thủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động,
Trang 13quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề Ở miền Nam, sau 20 nămchiến tranh, nền kinh tế bị đảo lộn và suy sụp, nông nghiệp nhiềuvùng hoang hóa, lạm phát trầm trọng,
Trước tình hình đó, đại hội Đảng lần thứ IV, Đảng ta đặc biệt quantâm tới việc hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế, nhằm vào những
vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã hội chủ nghĩa
trong phạm vi cả nước “Tổ chức lại tất cả các ngành sản xuất côngnghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp trong cả nước theohướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ tình trạng phân tán, cục
bộ, hình thành những ngành kinh tế - kỹ thuật thống nhất và pháttriển trên phạm vi cả nước ” Đồng thời với việc tổ chức lại nền sản
xuất, Đảng chủ trương cải tiến phương thức quản lý kinh tế, lấy kế
hoạch hóa làm chính Kế hoạch hóa trên cơ sở đề cao trách nhiệm vàphát huy tính sáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở.Trong quản lý kinh tế, Đảng cũng đã nhấn mạnh đến việc phải coitrọng quy luật giá trị, phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, sửdụng tốt thị trường,
Tuy nhiên, việc thực hiện công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyếtđiểm, đặc biệt là không gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế, do đố kếhoạch chưa thực sự xuất phát từ thực tế lao động sản xuất, thiếu tínhkhả thi Đảng vạch rõ: “về tổ chức thực hiện, khuyết điểm, sai lầmcủa chúng ta là quan liêu, xa rời thực tế, không nhạy bén với cuộcsống: là bảo thủ, trì trệ, thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế”.Trong khi đó cơ chế quản lý quan liêu bao cấp vẫn tiếp tục được duytrì đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền sản xuất, nhất là trong việc phânphối, lưu thông Nhà nước đóng vai trò điều tiết giả cả nên đã khôngkích thích được sản xuất kinh doanh phát triển Cơ chế quản lý quanliêu bao cấp với đặc điểm “tách rời việc trả công lao động với sốlượng và chất lượng lao động”, kết hợp với nguyên tắc “phân phốitheo lao động” đã làm cho chế độ phân phối mang tính bình quân, do
đó không kích thích được sự nhiệt tình và khả năng tìm tòi sáng tạocủa người lao động
Trang 14Trong kế hoạch phát triển kinh tế được đề ra tại Đại hội IV, Đảng ta
đã có sự chuyển hướng tương đối phù hợp với điều kiện nước ta Từchủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng được đề ra tại đại hộiIII, tới Đại hội IV Đảng đặt ra nhiệm vụ tập trung cao độ lực lượng cảnước của các ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc vềnông nghiệp, Sự chuyển hướng này có ý nghĩa rất lớn đối với việcgiải quyết tình trạng thiếu lương thực, khai thác một cách triệt để hơncác nguồn lực trong nước, đồng thời sẽ tạo ra những điều kiện và tiền
đề cần thiết cho những bước đi tiếp theo
Đại hội IV đã đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm 1976 – 1980 quácao và phát triển sản xuất quá khả năng của nền kinh tế, như năm
1975, phấn đấu đạt 21 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển, 1 triệuhéc ta khai hoang, 1 triệu 200 héc ta rừng mới trồng, 10 triệu tấn thansạch, 2 triệu tấn xi măng đặc biệt là đã đề ra việc xây dựng thêmnhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đạc biệt là cơ khí và đặt nhiệm
vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam.Những chủ trương sai lầm đó cùng với cơ chế tập trung quan liêu baocấp đã tác động xấu đến nền kinh tế, ảnh hưởng không tốt đến đờisống của nhân dân Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế đạtkhoảng 50 – 60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trưởng rất chậm chạp:tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1.5%, công nghiệp tăng 2.6%,nông nghiệp giảm 0.15%
Trước sự yếu kém của nền kinh tế đất nước, Đại hội V năm 1982cũng chỉ tìm ra được đầy đủ những nguyên nhân đích thực sự trì trệtrong nền kinh tế của nước ta và đã đề ra các chủ trương chính sách
và toàn diện về đổi mới, nhất là về kinh tế Từ Đại hội III năm 1960,Đảng luôn khẳng định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm củathời kỳ quá độ Đến Đại hội V này, điều mới và quan trọng là Đảng
đã xác định cụ thể nội dung và hình thức công nghiệp hóa trongchặng đường đầu tiên Đó là “tập trung phát triển mạnh mẽ nôngnghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp mộtbước lên xã hội chủ nghĩa ”