1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nhận xét việc thể hiện cách dùng phụ từ trong các sách giáo khoa dạy tiếng việt như một ngoại ngữ trên tư liệu các tài liệu trong nước xuất bản từ năm 1980 đến năm 2005

170 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là ng-ời may mắn đ-ợc tiếp xúc và dạy những ng-ời n-ớc ngoài học tiếng Việt, cùng với kinh nghiệm ít ỏi của bản thân, tôi mong muốn thực hiện đề tài: B-ớc đầu tìm hiểu việc thể hiện các

Trang 1

đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

Công trình này đ-ợc hoàn thành tại:

Tr-ờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn

Đại học quốc gia Hà Nội

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:

GS TS Đinh Văn Đức

Phản biện 1: PGS TS Vũ Văn Thi

Phản biện 2: PGS TS Đỗ Việt Hùng

Luận văn đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm luận văn tại

tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,

Đại học Quốc gia Hà Nội Vào hồi 2 giờ 00 ngày 12 tháng 11 năm 2007

Có thể tìm đọc luận văn tại th- viện Tr-ờng Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn

Trang 4

du lịch v.v Do vậy việc dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ đang phát triển khá mạnh

mẽ Để đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu của việc giảng dạy cho nhiều đối t-ợng khác nhau, nhiều khoa, trung tâm giảng dạy tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài đã

đ-ợc mở cùng với sự phát triển các cơ sở có sẵn từ tr-ớc Nhiều hội nghị khoa học

về “ Tiếng Việt như mốt ngo³i ngừ”, “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” v.v cðng

đã đ-ợc tổ chức ở trong n-ớc cũng nh- ở n-ớc ngoài Trong báo cáo trình bày tại các hội nghị đõ, vấn đề “ Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cðng đ± đước tiến h¯nh nghiên cứu khá sâu sắc và đã đạt đ-ợc một số kết quả đáng khích lệ Đặc biệt là tại Hối nghị Quỗc tế về “ Việt Nam hóc” lần thử nhất đước tồ chửc v¯o th²ng 7/98 t³i

Hà Nội có hẳn một tiểu ban “ Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” Trong b²o c²o tồng kết cùa hối nghị n¯y, vấn đề “ Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cðng đ± đước chú ý và đ-ợc nêu lên thành một mục riêng

Là ng-ời may mắn đ-ợc tiếp xúc và dạy những ng-ời n-ớc ngoài học tiếng

Việt, cùng với kinh nghiệm ít ỏi của bản thân, tôi mong muốn thực hiện đề tài: B-ớc

đầu tìm hiểu việc thể hiện cách dùng phụ từ trong các sách giáo khoa dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ (Trên t- liệu các tài liệu trong n-ớc xuất bản từ năm 1980

đến năm 2005), nhằm góp một tiếng nói thực tế vào giải quyết một số vấn đề đang

còn tồn tại trong việc biên soạn và giảng dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ hiện nay

2 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối t-ợng nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào khảo sát và nghiên cứu các phụ

từ đ-ợc dùng trong các sách giáo khoa dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ ở cả trình

Trang 5

độ cơ sở và nâng cao Chúng tôi chỉ lựa chọn các quyển sách tiếng Việt có ứng dụng ph-ơng pháp giao tiếp vào tiến trình giảng dạy tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài,

đ-ợc xuất bản trong n-ớc từ năm 1980 đến năm 2005 Những cuốn sách đ-ợc xuất bản trong thời gian đó nh-ng lại thiên về nghiên cứu ngữ pháp sẽ không nằm trong

đối t-ợng khảo cứu của luận văn

Qua việc khảo sát, phân tích phụ từ trong các cuốn sách, chúng tôi hy vọng tiếp cận đ-ợc gần hơn với ng-ời học và ng-ời dạy để tìm ra một ph-ơng pháp tốt trong việc học và dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ

Luận văn không khảo sát phụ từ trong phần hội thoại và phần bài đọc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích lớn nhất của luận văn là đ-a ra đ-ợc những kiến giải cần thiết cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy phụ từ cho ng-ời n-ớc ngoài học tiếng Việt Tuy nhiên với hạn chế về chuyên môn cũng nh- sự hạn hẹp của luận văn, chúng tôi chỉ hy vọng đ-a ra những ý kiến nhỏ nhằm đóng góp cho sự hoàn thiện của giáo trình dạy tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài

Trang 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

* Luận văn thực hiện xác định khái niệm, tiêu chí nhận diện h- từ nói chung

và phụ từ nói riêng trong số các công công trình nghiên cứu về h- từ tiếng Việt Từ

đó cố gắng giới thiệu đ-ợc một khái niệm chung nhất về phụ từ tiếng Việt cũng nh-

đ-a ra đ-ợc các đặc điểm và kiểu loại của nó

*Sau khi thống kê đ-ợc các phụ từ ở phần ngữ pháp, bài tập và bài luyện của

các sách tiếng Việt cơ sở và nâng cao, luận văn phải tiến hành sắp xếp lại các phụ từ

ở cả hai trình độ để tìm ra danh sách những phụ từ không bị trùng lặp và những phụ

từ bị trùng lặp, rồi tiến hành nghiên cứu và mô tả chúng, đ-a ra đ-ợc những bảng biểu và biểu đồ về tình hình sử dụng chúng trong các sách tiếng Việt

*Dựa trên những kết quả nghiên cứu đ-ợc, luận văn sẽ đề xuất về thứ tự các

phụ từ đ-ợc đ-a vào giảng dạy trong phần ngữ pháp của các sách, đồng thời đ-a ra một số ý kiến về giải pháp trong biên soạn và giảng dạy phụ từ tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu và t- liệu

Danh sách 1 Các t- liệu thuộc bậc học cơ sở, đ-ợc xếp theo thứ tự thời gian

1 Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành, tập 1, Trần Khang (chủ biên),

Khoa Tiếng Việt, Tr-ờng Đại học Tổng Hợp Hà Nội, 1980

2 Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành, tập 2, Đặng Ngọc Cừ - Phan Hải

(chủ biên), Khoa Tiếng Việt, Tr-ờng Đại học Tổng Hợp Hà Nội, 1980

Trang 7

3 Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài (Vietnamese for foreigners), Bùi Phụng

(chủ biên), NXB Đại học giáo dục chuyên nghiệp, HN, 1991

4 Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài ( Vietnamese for foreigners), Mai Ngọc

Chừ, NXB Giáo dục Hà Nội, 1995

5 Học tiếng Việt qua tiếng Anh (Studying Vietnamese through English),

Mai Ngọc Chừ, NXB Thế Giới, HN, 1996

6 Tiếng Việt cơ sở ( Vietnamese for Beginners), Vũ Văn Thi, NXB Khoa

học xã hội, HN, 1996

7 Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài (Vietnamese for foreigners), Nguyễn

Anh Quế, NXB Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 2000

8 Tiếng Việt cơ sở cho ng-ời Nhật, Trần Thị Chung Toàn, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2000

9 Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài, ch-ơng trình cơ sở (Vietnamese for

foreigners, elementary level), Nguyễn Văn phúc (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2004

10 Tiếng Việt (Vietnamese) For beginners 1, Phan Văn Gi-ỡng, NXB Trẻ, 2004

11 Tiếng Việt trình độ A, tập 1, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế

Giới, HN, 2004

12 Tiếng Việt trình độ A, tập 2, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế

Giới, HN, 2004

13 Thực hành tiếng Việt (Practice Vietnamese use for Foreigners),

quyển I, Nguyễn Việt H-ơng, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2005

2 Tiếng Việt (Vietnamese), Upper - Intermediate, Phan Văn Gi-ỡng -

Nguyễn Anh Quế, NXB Giáo dục Hà Nội, 1996

Trang 8

3 Tiếng Việt thực hành dùng cho ng-ời n-ớc ngoài (Vietnamese for

foreigners), Đinh Thanh Huệ (chủ biên), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 1997

4 Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 4, Bửu Khải - Phan Văn Gi-ỡng,

NXB Trẻ, 1998

5 Tiếng Việt nâng cao (Intermediate Vietnamese), Nguyễn Thiện Nam,

NXB Giáo dục, HN 1998

6 Tiếng Việt trong giao dịch th-ơng mại (Vietnamese in commercial transaction),

Nguyễn Anh Quế - Hà Thị Quế H-ơng, NXB Văn Hóa Thông Tin, HN, 2000

7 Thực hành tiếng Việt, trình độ B, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế

Giới, HN, 2001

8 Thực hành tiếng Việt, trình độ C, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế

Giới, HN, 2001

9 Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài, trình độ nâng cao (Vietnamese for

foreigners, intermediate level) Trịnh Đức Hiển (chủ biên), NXB Đại học Quốc Gia

Hà Nội, 2004

10 Tiếng Việt nâng cao dành cho ng-ời n-ớc ngoài của Viện Ngôn ngữ,

Vũ Thị Thanh H-ơng (chủ biên), NXB Khoa học xã hội, HN, 2004

Trang 9

Phần 1 Cơ sở lí thuyết Dẫn nhập 1: Những khái niệm lí luận liên quan

đến h- từ và phụ từ

1 H- từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt

1.1 Những ý kiến bàn về từ loại trong tiếng Việt

Để giải quyết đ-ợc những thắc mắc về h- từ của ng-ời n-ớc ngoài trong quá trình học tiếng Việt, luận văn phải quay trở lại những nghiên cứu tr-ớc đây nhằm tìm hiểu rõ hơn lịch sử của vấn đề Khi giải quyết vấn đề này, chúng tôi có một thuận lợi cơ bản là những ng-ời đi tr-ớc đã nói đến khá nhiều công dụng của h- từ với những mô tả chi tiết khá đầy đủ Tuy nhiên những quan niệm khác nhau sẽ bao quát một đối t-ợng nghiên cứu khác nhau Về cơ bản, phạm vi h- từ đ-ợc luận văn khảo sát và nghiên cứu cũng trùng với phạm vi khảo sát của nhiều tác giả

Các công trình nghiên cứu tr-ớc đây cho thấy từ loại là một nội dung quan trọng của ngữ pháp học truyền thống nói chung và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng

“Trong ngừ ph²p cùa c²c ngôn ngừ châu Âu, cõ hai bố phận là hình thái học ( morphology, hay còn gọi là từ pháp học) và cú pháp học ( syntactics) Hình thái học là bộ môn của ngữ pháp học nghiên cứu cấu trúc bên trong của từ và những quy luật cấu tạo từ, nó đ-ợc chia thành hai lĩnh vực: biến đổi từ và cấu tạo từ Cú pháp học là bộ môn ngữ pháp học nghiên cứu những quy luật chi phối cách thức các từ, cụm từ và cú đọan kết hợp với nhau để tạo thành câu, hoặc nghiên cứu mối quan hệ lẫn nhau giừa c²c yếu tỗ ờ trong câu”.(tr 215, 15)

Tài liệu cũ nhất nói về từ loại là cuỗn “ Việt- Bồ Đào Nha- La Tinh” cùa Alecxan de Rhodes “ Trong lội tữa cùa cuỗn tú điển, phần thử 3, t²c gi° cõ nõi sơ qua về ngữ pháp tiếng Việt (Bắc Bộ) và đã chia ra những từ loại: danh từ, đại từ, tính

từ, động từ và những từ không biến hình

Tiếp theo là một số tài liệu dạy tiếng Việt do ng-ời Pháp và ng-ời Việt viết:

G Aubaret: Grammaire de la langue Annamite, Paris, 1864

A Chem: Cours de langue Annamite, 1904

E Deguet: Elemants de grammaire Annamite, 1904 (Hanoi, 1924)

Trang 10

V Barbier: Grammaire Annamite, Hanoi, 1925

Trong số các tác giả trên, có thể chia ra bốn loại ý kiến:

*Căn cứ vào ý nghĩa: H-ớng này đ-ợc đông đảo học giả nghiên cứu tiếng

Việt thừa nhận (tr-ớc năm 1945) Họ ảnh h-ởng trực tiếp hoặc gián tiếp (qua tác phẩm của ng-ời Pháp từ thời Đônatus) Vì vậy, các từ loại đ-ợc chia giống hệt tiếng

La Tinh Họ không nêu tiêu chuẩn phân loại mà chỉ dựa vào ý nghĩa từ loại trong tiếng Pháp, tiếng Latin vận dụng vào tiếng Việt Đó là các tác giả G Obare, Tr-ơng Vĩnh Ký, Dighe, A Seon, Nguyễn Hiệt Chi, Lê Th-ớc

* Căn cứ vào sự không biến hình từ: Cách quan niệm này xuất phát từ ngôn

ngữ ấn - Âu Đại biểu là F Phortunatov, L Hjemslev, O Jesperson, về sau A.A Sapiro, P.X.Kuznhexov phát triển Từ loại là những lớp từ đ-ợc phân loại dựa theo những đặc điểm hình thức ngữ pháp (trên bậc hình thái học và cả trên bậc cú pháp)

Họ chia các ngôn ngữ ấn - Âu thành hai nhóm lớn:

+ Những từ loại biến hình: động từ (biến ngôi), danh từ (biến cách), tính từ (hợp dạng với danh từ)

+ Những từ loại không biến hình: trạng từ, một vài số từ (gboe, mpoe trong tiếng Nga), một số từ loại khác (tiểu từ, trợ từ) áp dụng quan niệm trên vào các ngôn ngữ đơn lập, trong đó có cả tiếng Việt thì từ loại chỉ là vấn đề riêng của các ngôn ngữ có hình thái, và từ đó một số nhà nghiên cứu phủ nhận sự có mặt của từ loại trong các ngôn ngữ Đông Nam á nói chung và tiếng Việt nói riêng M.Grammon - Lê Quang Trinh viết: “Trong tiếng Việt không cõ qu²n tú, danh từ cũng không có đại từ, động từ, không có số từ mà chỉ có từ không thôi Những từ đó nhất loạt là đơn âm tiết, nói chung không biến hình và ý nghĩa cơ bản của chúng trong câu làm cho biến đổi đi và rõ ra Bởi vậy, từ /xe/ có nghĩa là động từ,

danh tú, tú /trên/ cõ nghĩa l¯ danh tú, giỡi tú ” (M Grammon - Lê Quang Trinh,

Etudes sur la langue Annamite, Paris, 1911 -1912, tr 201) Cũng t-ơng tự, Hồ Hữu

Tưộng cho r´ng: “Tiếng Việt cơ cấu theo mốt lỗi kh²c hàn c²c ngôn ngừ phương Tây nên không cõ tú lo³i”

* Căn cứ vào thành phần câu: ảnh h-ởng quan niệm cú bản vị của Lê Cẩm

Hy (Trong tác phẩm Tân -ớc quốc ngữ văn pháp, Th-ợng Hải, 1951, tr 6), một số

Trang 11

t²c gi° Việt ngừ cho r´ng: “Tú lo³i tiếng ta xét qua b°n thân tú thì không cõ gì để phân biệt, phải xem xét vị trí, chức vụ của từ trong câu mới có thể phân định đ-ợc

nó thuộc về tú lo³i n¯o” (tr 41, 33) Theo h-ớng này có Phan Khôi, Nguyễn Lân

“Phan Khôi đ± lấy câu l¯m gỗc để phân định tú lo³i tiếng Việt Như vậy, nghiên cửu ngữ pháp tiếng Việt sẽ bắt đầu bằng cú pháp, tức là bắt đầu bằng phân tích các câu

và phát ngôn chứ không phải bắt đầu bằng phân định từ loại nh- tr-ớc Khuynh hưỡng n¯y thể hiện rỏ hơn ờ Cao Xuân H³o v¯ c²c đọng sữ cùa ông.”

* Căn cứ vào khả năng kết hợp: “Lê Văn Lý trong công trình “Le parler

Vietnamien”, Paris, 1948 đ± đưa ra nhừng b´ng chửng kh²ch quan để xác định từ loại, đó là những từ kiểm nghiệm hay từ chứng

+ con, cái, cây +/A/ + này, nọ, kia - /A/ là danh từ

B-ớc sang giai đoạn hiện đại (từ năm 1945 đến nay), vị thế của vấn đề từ loại trong hệ thống ngữ pháp dần dần có sự thay đổi Sự thay đổi này có nguyên nhân khách quan của nó Tr-ớc hết, ngôn ngữ học càng ngày càng làm quen với nhiều ngôn ngữ ngoài châu Âu, cái mô hình ngữ pháp gồm hình thái học và cú pháp học không phải bao giờ cũng thích hợp Mặt khác, sự ra đời của chủ nghĩa miêu tả Mĩ cũng ảnh h-ởng đến mô hình truyền thống trong nghiên cứu ngữ pháp Các nhà ngôn ngừ hóc miêu t° Mĩ thù tiêu kh²i niệm “tú” thay thế v¯o đõ b´ng kh²i niệm

“chuổi c²c ngừ tỗ” bên c³nh kh²i niệm “ cấu trủc củ ph²p” L.Bloomfield, nhân vật tiêu biểu của tr-ờng pháp ngôn ngữ học miêu tả Mĩ, quan niệm ngữ tố là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, khái niệm từ đ-ợc xem là thứ yếu Vì vậy họ chỉ phân biệt ba bậc: âm vị, ngữ tố và kết cấu, câu phải đ-ợc lấp đầy bằng các ngữ tố Vấn đề từ loại trong cuỗn “Ngừ ph²p tiếng Việt” do Trưộng Đ³i hóc Tồng hớp Leningrad xuất b°n

đ-ợc quan niệm nh- một nội dung ngữ pháp độc lập, chứ không phải là một phần trong cấu trủc tú ph²p tiếng Việt Cuỗn “Ngừ ph²p tiếng Việt” cùa Nguyễn T¯i Cẩn

Trang 12

xuất bản ở Hà Nội cũng coi từ loại nh- một vấn đề độc lập, đ-ợc trình bày sau khi

đã miêu tả kĩ tiếng, từ ghép và đoản ngữ

“Trương Văn Chình v¯ Nguyễn Hiến Lê trong “Kh°o luận về ngừ ph²p Việt Nam” không trình b¯y c²c tú lo³i (các ông gọi là từ tính) thành mục riêng, mà chỉ trình b¯y th¯nh tiết nhà trong chương lỡn về “tú vũ”, tửc l¯ chửc năng củ ph²p cùa tú Nh- vậy, hai ông cũng quan niệm ngữ pháp tiếng Việt không chia hai phần từ pháp v¯ củ ph²p như cùa Tây Phương”.(tr 215, 15)

Qua những ý kiến trên đây chúng tôi xin đ-ợc rút ra một cách hiểu khái quát nhất về từ loại Đó là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đ-ợc phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác nhau trong ngữ l-u

và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu

*Việc phân định từ loại trong tiếng Việt

“Tú lo³i (parts of speech) l¯ nhừng lỡp tú đước phân chia ra trong mốt ngôn ngừ dữa trên ý nghĩa kh²i qu²t v¯ đặc điểm ho³t đống ngừ ph²p cùa tú.”(tr 218, 15)

Các nhà Việt Ngữ học th-ờng dựa vào ba tiêu chuẩn sau đây để phân kho từ vựng thành các từ loại, tiểu loại:

- ý nghĩa khái quát

từ, liên từ, thán từ, trợ ngữ từ, tiếng đệm Qua đó chúng ta thấy đ-ợc một hệ thống với những từ vựng đ-ợc phân chia theo nhóm từ loại có đặc điểm chung về ngữ pháp

Phan Khôi, Nguyễn Lân, Tr-ơng Văn Chình lại dựa vào chức vụ cú pháp để phân định từ loại tiếng Việt Phan Khôi chia từ vựng tiếng Việt thành 2 loại: thực từ

và h- từ Ông cũng chú ý đến việc sử dụng thuật ngữ h- từ và nhận thấy vai trò to lớn của h- từ tiếng Việt khác nhiều so với tiếng Pháp Ông đã dẫn ra một số tr-ờng

Trang 13

hớp chửng tà r´ng “Văn ph³m l¯m hệt theo lỗi tiếng Ph²p nhiều khi đến bất đọng” (tr 172, 29)

Giai đoạn sau (từ những năm 60 đến năm 80 của thế kỉ 20), cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, từ pháp học cũng có b-ớc phát triển đáng kể Nguyễn Kim Th°n trong cuỗn “Nghiên cửu về ngừ ph²p tiếng Việt - tập 1” (1963) đ± chia kho tú vựng tiếng Việt thành 2 mảng: ngữ thái từ và phi ngữ thái từ Ngữ thái từ gồm trợ từ

và thán từ; phi ngữ thái từ lại chia ra thành thực từ, h- từ và bán thực từ, bán h- từ Phó từ đ-ợc ông xếp vào loại bán thực từ, bán h- từ

Nhóm tác giả Bùi Tất T-ơm, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Thị Quy, Hoàng Diệu Minh chia kho từ vựng thành hai mảng: thực từ gồm danh từ,

động từ, tính từ, số từ, đại từ; h- từ gồm: phụ từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ

Nguyễn Minh Thuyết trong “Dẫn luận ngôn ngừ hóc” l³i chia kho tú vững thành 3 loại: thực từ, h- từ và thán từ Thực từ gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ,

đại từ; h- từ gồm phó từ, kết từ, trợ từ

Đinh Văn Đửc trong cuỗn “Ngừ ph²p tiếng Việt” (1986) chia tú lo³i tiếng Việt thành 3 nhóm lớn: thực từ, h- từ và tình thái từ Thực từ gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ; h- từ gồm từ phụ và từ nối còn tình thái từ gồm tiểu từ và trợ từ

Cuốn “Ngừ ph²p tiếng Việt”cùa ủy ban Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983 đã

đánh dấu một b-ớc ngoặt mới trong lịch sử nghiên cứu từ loại tiếng Việt, các tác giả

đ± chia vỗn tú vững th¯nh 2 m°ng lỡn l¯ thữc tú v¯ hư tú rọi chỉ ra “nghĩa hư” cùa hư tú cợng vỡi “nghĩa thữc” cùa thữc tú Cần nhận rỏ đặc điểm cùa hư tú về mặt ngừ pháp và ngữ nghĩa, từ đó h- từ đ-ợc phân chia thành các loại nhỏ với những nét

“nghĩa hư” m¯ nõ biểu thị kh²c nhau

Cuỗn “Tú điển tiếng Việt” cùa Viện Ngôn Ngừ do Ho¯ng Phê (chù biên) t³m chủ “tú lo³i” theo hệ thỗng v¯ tên gói tú lo³i trong “Ngừ ph²p tiếng Việt”cùa ủy ban Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983 Do đó Cuốn từ điển này đã chia kho từ vựng tiếng Việt thành 8 loại: danh từ (hay danh ngữ hoặc tổ hợp t-ơng đ-ơng), động từ (hay động ngữ hoặc tổ hợp t-ơng đ-ơng), tính từ (hay tính ngữ hoặc tổ hợp t-ơng

đ-ơng), đại từ (hay tổ hợp đại từ), phụ từ (hay tổ hợp phụ từ, kết từ (hay tổ hợp kết tú), trớ tú (hay tồ hớp trớ tú), c°m tú (hay tồ hớp c°m tú) “Trong trưộng hớp cõ sữ l-ỡng lự giữa hai khả năng quy từ loại (th-ờng là giữa động từ và tính từ) thì chú cả

Trang 14

hai kh° năng theo kiểu: “đg hay t” để tiện cho ngưội đóc tham kh°o Khi cõ hiện t-ợng tạo từ theo lối chuyển từ loại, nghĩa từ vựng về cơ bản không khác, thì trong nhiều tr-ờng hợp không tách thêm một đơn vị đồng âm, mà chỉ chú đơn giản từ loại

theo kiểu: hoài nghi đg (hoặc d.)” (tr 219, 15)

Hiện t-ợng nhiều ng-ời cùng tuyên bố dựa vào các tiêu chuẩn ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp nh-ng lại đ-a ra những bảng phân loại khác nhau chứng tỏ kết quả phân loại của các tác giả không phải là hoàn toàn khách quan rút ra từ các tiêu chuẩn mà ít nhiều đều có sự châm ch-ớc của mỗi ng-ời Trong quá trình khảo sát h- từ trong các sách dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ trình độ cơ sở

và nâng cao, để đảm bảo tính khách quan và phục vụ tốt cho mục đích cũng nh- nhiệm vũ nghiên cửu cùa luận văn, chủng tôi đ± đi theo c²ch phân lo³i cùa cuỗn “Tú

điển tiếng Việt” cùa Viện Ngôn Ngừ do Ho¯ng Phê (chù biên) Do đõ, c²c hiện t-ợng h- từ mà chúng tôi thống kê đã đ-ợc xếp vào 4 loại: phụ từ, kết từ, trợ từ và cảm từ

1.2 Khái niệm h- từ tiếng Việt

Đã có nhiều ng-ời đề cập đến h- từ trong tiếng Việt Hầu hết các nhà ngữ pháp khi nghiên cứu về tiếng Việt đều trực tiếp hoặc gián tiếp nói đến h- từ.Và cho

đến nay vấn đề h- từ vẫn ch-a phải là một vấn đề đã khép kín

Nhiều nhà ngữ pháp quan niệm h- từ là những từ không có ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa từ vựng chân thực Ng-ời ta phủ nhận ý nghĩa từ vựng của h- từ với lý do chủ yếu là chúng không có tính độc lập hoặc không có tính chất định danh, không biểu thị một khái niệm hoặc ý niệm nào

Nguyễn Kim Th°n trong cuỗn “Nghiên cửu về ngừ ph²p tiếng Việt” (1963) cðng cho r´ng: “Hư tú không cõ ý nghĩa tú vững chân thữc ”

“Hư tú trong tiếng Việt hiện đ³i” l¯ công trình nghiên cứu sâu sắc về h- từ Qua đấy, Nguyễn Anh Quế đã chỉ ra và phân tích một cách chi tiết về h- từ Ông cho r´ng: “Mốt tú, dợ theo quan điểm n¯o, cðng l¯ cõ nghĩa Khi đửng riêng rẽ, tú

có ý nghĩa từ vựng, nh-ng đứng trong câu nói từ có thêm ý nghĩa ngữ pháp ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của một từ là hai mặt không thể thiếu, không thể tách rội ”(tr 39, 45) Tác giả đã đi đến kết luận cho rằng h- từ cũng có ý nghĩa từ vựng, tuy

mờ nhạt hơn thực từ Nói một cách khác, h- từ không mang ý nghĩa tất yếu hay ý

Trang 15

nghĩa tự thân mà chỉ mang ý nghĩa tổ hợp H- từ không bao giờ làm yếu tố chính, yếu

tố trung tâm mà chỉ làm yếu tố phụ trong đoản ngữ hoặc chỉ dùng để nối kết các câu

Quan niệm cùa Đinh Văn Đửc cho r´ng: Hư tú “l¯ mốt tập hớp không lỡn về

số l-ợng của các từ, bản chất của ý nghĩa h- từ là tính chất ngữ pháp, là ph-ơng tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong t- duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của ng-ời bản ngữ Bản chất đó quy định khả năng kết hợp của các h- từ: chúng không làm trung tâm của đoản ngữ, chỉ làm thành tố phụ một cách hãn hữu (công cụ ngữ pháp của thực từ), còn đa số tr-ờng hợp h- từ đ-ợc dùng làm yếu tố liên kết v¯ “xủc t²c” cùa c²c đơn vị cấu trủc ngừ ph²p B°n chất đõ cðng quy định chức năng của h- từ ở trong câu: h- từ không độc lập tạo câu và cũng không làm th¯nh phần câu”

Quan niệm cùa Ho¯ng Tróng Phiến về hư tú tiếng Việt: “Hư tú (tiếng Anh gọi bằng thuật ngữ syncategorematic; syntactic; connecting) là một lớp từ làm ph-ơng tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp - ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ H- từ không có ý nghĩa từ vựng, nh-ng trong tiếng Việt một số l-ợng không nhỏ các h- từ là chuyển từ thực từ mà ra, nhất là các phó từ, giới từ, liên từ, các từ chỉ không gian, thời gian, sở hữu Khi tham gia tổ chức câu nói chúng mang vào câu những nét nghĩa bồ sung, còn gói l¯ nghĩa tình th²i ”

Qua các khái niệm vừa đề cập đến ở trên, chúng tôi xin đ-a ra một vài đặc

điểm của h- từ tiếng Việt trong sự so sánh với thực từ

1.3 Đặc điểm của h- từ tiếng Việt

* Về mặt ý nghĩa: H- từ mang ý nghĩa ngữ pháp, có tác dụng nh- một chất

“xủc t²c”, nỗi kết c²c sữ vật, đặt chủng v¯o mốt hay nhiều quan hệ nhất định Còn thữc tú mang ý nghĩa tú vững Thữc tú cõ thể “vẽ”, “miêu t°” cho chủng ta thấy mốt bức tranh sinh động về cuộc sống hiện thực

* Về mặt làm chức năng trong câu: H- từ không độc lập làm thành phần câu

cũng nh- không độc lập tạo ra câu, Chúng không thể làm trung tâm của cụm từ, của ngữ đoạn mà chỉ có thể làm thành tố phụ trong cụm từ hoặc liên kết tạo cụm từ mới

* Về mặt ngữ dụng: Hai đặc điểm trên qui định khả năng biểu đạt nghĩa ngữ

dụng của h- từ là vô cùng phong phú Đặc biệt với tiếng Việt, khi ph-ơng tiện biểu

Trang 16

thị ngữ pháp là từ thì vai trò của h- từ rất quan trọng trong việc biểu đạt dụng ý của những ng-ời tham gia giao tiếp Nó có sắc thái nghĩa tình thái khi tham gia vào một kết cấu cú pháp nào đó, trong một ngôn cảnh nào đó Trong tr-ờng hợp đó, h- từ, các kết cấu h- từ, các quán ngữ tham gia vào chức năng biểu hiện quan hệ cú pháp

và nghĩa bổ sung Trong khi đó, nghĩa ngữ dụng của thực từ là khá cụ thể và không phức tạp

1.4.Phân loại h- từ tiếng Việt

Trong số các công trình phân định từ loại - h- từ tiếng Việt theo h-ớng dựa vào một tập hợp tiêu chuẩn thì các tiêu chuẩn sau th-ờng đ-ợc nhắc tới:

định về thội gian nhưng “Ng¯y mai tôi đi H°i Phòng”, đ± x²c định về thội gian, vì thế ngưội nõi cõ thể không cần dợng hư tú “sẽ” Chính vì tính chất không bắt buốc phải dùng phó từ và hình thái ẩn của các phạm trù ngữ pháp có một vai trò đặc biệt trong các ngôn ngữ nh- tiếng Việt mà chúng ta không thể dựa vào phạm trù ngữ pháp để phân loại các h- từ đ-ợc Hơn nữa, cùng một ý nghĩa ngữ pháp nh-ng không phải bất kỳ từ nào cũng có thể thể hiện đ-ợc trên cấu trúc nổi Trong các ngôn ngữ ấn âu, các nghĩa của phạm trù ngữ pháp bao giờ cũng đ-ợc thể hiện ra bằng một hình thái hiện nào đó Đối với các ngôn ngữ đơn lập, có hai khuynh h-ớng Khuynh h-ớng thứ nhất coi hình thái ẩn là hình thái zêrô và cùng với các hình thái

Trang 17

hiện khác nằm trong hệ thống phạm trù ngữ pháp Khuynh h-ớng thứ hai không xem đó là hình thái zêrô và loại nó ra khỏi phạm trù Nh- vậy nếu theo khuynh h-ớng thứ hai thì rõ ràng một số phạm trù ngữ pháp của ngôn ngữ đơn lập nh- tiếng Việt không có hình thái hiện biểu thị mà chỉ đ-ợc xác định bởi ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của các lớp thực từ

Căn cứ vào tổ chức đoản ngữ và chức năng cú pháp, Nguyễn Anh Quế đã chia h- từ thành 3 loại sau:

 Các h- từ chuyên dùng thành tố phụ đoản ngữ (h- từ từ pháp)

 Các h- từ không làm thành tố phụ đoản ngữ (h- từ cú pháp)

 Các h- từ nằm ngoài đoản ngữ Các h- từ phụ trợ

Các h- từ chuyên dùng thành tố phụ đoản ngữ: H- từ thuộc nhóm này th-ờng

diễn đạt một số phạm trù ngữ pháp hoặc ý nghĩa ngữ pháp của từ trung tâm Căn cứ vào

từ loại trung tâm mà các h- từ này phụ nghĩa để chia chúng thành hai nhóm:

- Nhóm A chuyên làm thành tố phụ cho một đoản ngữ có danh từ làm trung tâm Gồm các h- từ nh-: những, các, mọi, mỗi, từng, cái

- Nhóm B chuyên làm thành tố phụ cho một đoản ngữ có động từ làm trung tâm Gồm các h- từ nh-: cũng, vẫn, đang, đã ,sẽ, không, ch-a, chẳng, hãy, đừng, chớ

Các h- từ không làm thành tố phụ đoản ngữ: H- từ thuộc loại này không

có vị trí xác định trên cấu trúc đoản ngữ trên câu mà chỉ tham gia vào cấu trúc đoản ngữ, vào câu để biểu thị ý nghĩa của một quan hệ nào đó Căn cứ vào tính chất quan

hệ của các thành tố cú pháp mà những h- từ này nối kết, tác giả đã chia chúng thành

ba nhóm:

- Nhóm 1 là các h- từ nối kết các yếu tố có quan hệ chính - phụ, th-ờng là các yếu tố trong đoản ngữ và các câu có thành phần phụ phát triển từ các giới ngữ Chẳng hạn: của, bằng, cho, để, mà, vì, do, bởi, tại v.v

- Nhóm 2 là các h- từ chuyên nối kết các yếu tố có quan hệ đẳng lập, các kết hợp bất kỳ ( bao gồm các yếu tố cùng loại), các câu ghép có quan hệ song song

và các câu ghép có quan hệ chính phụ nh-ng các sách ngữ pháp truyền thống quen gọi là liên từ Chẳng hạn nh-: hay, hoặc, và, với, cùng với, rồi, nh-ng, mà, song v.v

- Nhóm 3 là các h- từ đặc biệt Chẳng hạn nh-: là, kẻo, huống, thì, ph-ơng chi, vả v.v Nhóm h- từ này giống giới từ và liên từ ở chỗ chúng đều nối các yếu tố

Trang 18

có một quan hệ nào đó nh-ng không thể xác định là quan hệ chính phụ hay đẳng lập hoặc có thể xác định đ-ợc là nối các yếu tố có quan hệ đẳng lập nh-ng chỉ nối các câu hoặc đoạn văn chứ không nối các yếu tố thuộc cấp độ khác nh- đoản ngữ hoặc thành phần câu

Các h- từ nằm ngoài đoản ngữ- các h- từ phụ trợ: Loại h- từ này không

có vai trò gì trong việc tổ chức nên đoản ngữ, chúng không phải là thành tố của cấu trúc Chúng tham gia vào cấu trúc chỉ với chức năng để nhấn mạnh vào một yếu tố nào đó trong cấu trúc hoặc để dạng thức hóa cấu trúc trong lời nói và biểu thị một tình thái nào đó Quan hệ của chúng với một yếu tố trong cấu trúc chỉ là quan hệ một chiều.Căn cứ vào chức năng và ý nghĩa của chúng, tác giả đã chia chúng thành hai loại nhỏ

- Loại 1 luôn luôn phụ trợ cho một yếu tố Chẳng hạn nh-: đích, chính, tự, ngay, cả, đến v.v

- Loại 2 luôn luôn phụ trợ cho cả cấu trúc để dạng thức hóa, để nêu tình thái Chẳng hạn: à, -, nhỉ, nhé, đây, đấy, chứ, ô, ôi v.v

Cũng đi theo h-ớng phân loại h- từ dựa vào một tập hợp tiêu chuẩn nh-ng tác gi° Đinh Văn Đửc trong “Ngừ Ph²p Tiếng Việt-Tú lo³i” (1986), l³i dữa v¯o 3 tiêu chuẩn: ý nghĩa; khả năng kết hợp; và chức vụ cú pháp để chia kho từ vựng tiếng Việt thành ba tập hợp lớn: các thực từ; các h- từ; các tình thái từ Trong đó h- từ bao gồm hai tập hợp :

 Thứ nhất là các h- từ làm từ phụ diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp của thực từ, một số đạt tới khả năng làm công cụ ngữ pháp gần giống các h- từ của dạng thức phân tích tính trong ngữ ấn- Âu, hoặc các phụ tố Có thể tạm gọi là các h- từ từ pháp

 Thứ hai là các h- từ với chức năng liên kết có thể tạm gọi là h- từ cú pháp (quan hệ từ) Ngữ pháp truyền thống vẫn gọi là liên từ và giới từ

Đổ Thị Kim Liên trong cuỗn “Ngừ ph²p tiếng Việt” (1999) cðng cho rằng nghĩa từ vựng và ngữ pháp tuy là hai mặt không thể thiếu, không thể tách rời của một từ nh-ng chúng có sự khác nhau và có tính độc lập t-ơng đối ý nghĩa từ vựng luôn gắn với ý nghĩa một sự vật còn ý nghĩa ngữ pháp lại trừu t-ợng hơn, rộng hơn ý nghĩa từ vựng Đây là ý nghĩa chủng loại, ý nghĩa kết hợp Giữa ý nghĩa ngữ pháp và

ý nghĩa từ vựng có một sự tỉ lệ nghịch Nếu một từ mang ý nghĩa từ vựng càng đậm

Trang 19

thì ý nghĩa đó càng thoát li khỏi bối cảnh ngôn ngữ Ng-ợc lại, ý nghĩa từ vựng càng nhạt thì nét ý nghĩa ấy càng gắn với bối cảnh, tức khả năng kết hợp của chúng càng lớn, nghĩa ngữ pháp của chúng càng nổi rõ Căn cứ vào tiêu chuẩn ý nghĩa khái quát

và khả năng kết hợp, tác giả đã chia hệ thống từ loại thành thực từ và h- từ, trong đó h- từ gồm có phụ từ; kết từ; tình thái từ; trợ từ

2 Phụ từ tiếng Việt

2.1.Khái niệm phụ từ

Qua những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy rằng đ-a ra một định nghĩa về phụ từ để thỏa mãn các yếu tố là khó có thể đạt đ-ợc Bởi:

- Có sự thiếu thống nhất về tiêu chí phân loại h- từ Có ng-ời dựa vào ý nghĩa từ vựng hoặc ý nghĩa ngữ pháp, có tác giả căn cứ vào từ nguyên hoặc khả năng

tổ hợp với các từ thực Cũng có tác giả dựa vào cả chức năng lẫn ý nghĩa ( Nguyễn Kim Thản, Panfilov) hoặc Lê Văn Lý lại dựa vào thực từ để phân loại h- từ v.v Chính vì tiêu chí phân loại của các tác giả khác nhau nên dẫn đến có những nhóm phụ từ khác nhau

- Có sự thiếu thống nhất về tên gọi: Các tác giả th-ờng dựa vào chức năng hoặc ý nghĩa của h- từ để gọi tên Chẳng hạn Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn gọi là phó từ; Trần Trọng Kim gọi là trạng từ, Hoàng Tuệ gọi là tiểu từ; Nguyễn Anh Quế gọi là các h- từ chuyên dùng làm thành tố phụ đoản ngữ v.v Chính vì lẽ đó, để

có cơ sở làm việc, chúng tôi đã theo cách gọi của từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) và xin đ-a ra một khái niệm về phụ từ nh- sau:

Phụ từ là những từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ đi kèm danh từ, động từ - tính từ để bổ sung ý nghĩa phụ cho danh từ, động từ - tính từ

2.2 Đặc điểm và kiểu loại của phụ từ tiếng Việt

Phụ từ cũng giống nh- kết từ và trợ từ, chúng cùng là h- từ Vì thế ngoài những đặc điểm chung (đặc điểm của h- từ), nó còn có những đặc điểm riêng:

- Phụ từ th-ờng đi kèm danh từ, động - tính từ để cấu tạo cụm từ

- Phụ từ không làm thành phần chính của câu

Dựa vào khả năng làm thành tố phụ cho danh từ hay động từ - tính từ, phụ từ

đ-ợc chia ra thành: Định từ và phó từ

Trang 20

- Định từ chỉ l-ợng: mỗi; từng; mọi; mấy Th-ờng dùng tr-ớc danh từ chỉ ý nghĩa phân phối về l-ợng

- Định từ tạo ý nghĩa số: những; các; một .Th-ờng để cấu tạo ý nghĩa số nhiều/ số ít Khác với các ngôn ngữ ấn- Âu, ý nghĩa số ít hay số nhiều đ-ợc thể hiện trong d³ng thửc cùa tú còn trong tiếng Việt l³i đước thể hiện ờ d³ng tú rội “Nhừng”,

“c²c” cợng đửng tr-ớc danh từ để tạo ý nghĩa số nhiều, nh-ng chúng có sự khác nhau trong c²ch sụ dũng “C²c” thưộng đửng trưỡc nhừng danh tú để chỉ ý nghĩa to¯n bố còn “nhừng” dợng trưỡc những danh từ chỉ ý nghĩa số đông (chứ không phải tất c°) Chính vì “c²c” chửa ý nghĩa “to¯n bố” nên thưộng đửng trưỡc danh tú xưng hô trong hối tho³i để d³ng thửc hõa sỗ nhiều.Trong tiếng Việt “mốt” đửng trưỡc danh tú để t³o ý nghĩa sỗ ít (trong sữ đỗi lập vỡi sỗ nhiều).Ta thưộng thấy “mốt” đi thành cặp sóng đôi với các từ chỉ số l-ợng: trăm, vạn, nghìn v.v để tạo sự đối lập

số ít và số nhiều

2.2.2 Phó từ

Là những từ chuyên đi kèm phía tr-ớc và sau động từ - tính từ để làm thành

tố phụ cho đoản ngữ Có những phó từ chuyên đứng tr-ớc hay chuyên đứng sau

động - tính từ nh-ng cũng có những phó từ vừa có khả năng đứng tr-ớc vừa có khả năng đứng sau động - tính từ

- Phó từ đứng tr-ớc động từ - tính từ Chúng gồm các từ: đã, đang, sẽ, vừa,

mới, sắp, từng, vẫn, còn, cứ, càng, đều, cùng, cũng, th-ờng, hay, năng, có, chỉ, không, ch-a, chẳng, hãy, đừng, chớ, bỗng, chợt, liền, dần, mãi, hơi, rất, cực kì, vô cùng Có thể chia chúng thành những nhóm nhỏ sau:

+ Nhóm phó từ chỉ thời gian của hành động: đã, sẽ, đang, sắp, vừa, mới, bỗng, còn

Trang 21

+ Nhóm phó từ chỉ sự tiếp diễn của hành động: đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại, luôn, dần, thỉnh thoảng

+ Nhóm phó từ chỉ sự phủ định hay khẳng định của hành động: không, ch-a, chẳng, chỉ, có

+ Nhóm phó từ chỉ sự cầu khiến: hãy, đừng, chớ

+ Nhóm phó từ chỉ mức độ th-ờng đi với tính từ hoặc nhóm động từ tình thái,

động từ trạng thái: quá, rất, hơi, cực kì, cô cùng, tuyệt, khá, khí

+ Nhóm phó từ chỉ sự diễn biến bất ngờ của hành động: bỗng, bỗng nhiên, bỗng d-ng, chợt

- Phó từ đứng sau động từ - tính từ Chúng gồm những từ: đi, lên, đ-ợc, mất,

ra, nổi, vào, đi, về, rồi, xong, lấy, theo, nhau, ngay, liền, dần, nữa, hoài, luôn, mãi Có thể chia chúng thành những nhóm nhỏ sau:

- Phó từ vừa có khả năng đứng tr-ớc vừa có khả năng đứng sau: mãi, vô cùng,

tuyệt, cực kỳ, luôn luôn, mãi mãi, quá, luôn, dần, liền

3.H- từ nói chung và phụ từ nói riêng từ góc nhìn ngữ dụng học

3.1.Tìm hiểu vai trò ngữ dụng học của h- từ thông qua một vài t- liệu và những ứng dụng trong nghiên cứu của luận văn

H- từ th-ờng đ-ợc coi nh- một phạm trù từ loại đối lập với thực từ theo cách nhìn của ngữ pháp truyền thống Tuy không nói ra nh-ng ng-ời ta dễ cảm nhận

đ-ợc chức năng ngữ pháp của nó hơn là chức năng ngữ nghĩa trong các kết hợp Bên cạnh đó ng-ời ta ngày càng chú ý đến loại h- từ đang biến động từ thực từ và đ-ợc

sử dụng song song với thực từ Đối t-ợng này phần lớn ch-a đ-ợc khảo sát triệt để trong cơ chế giao tiếp gắn với lời nói, do vậy hiệu lực giao tiếp của nó ch-a đ-ợc phát hiện đầy đủ Vậy làm thế nào để xác định đ-ợc hiệu lực giao tiếp của h- từ nói

Trang 22

chung và phụ từ nói riêng? Đây là khâu trực tiếp nhất, cụ thể nhất và mấu chốt nhất

đối với tiến trình giải quyết vấn đề đặt ra Và thực ra, đây cũng chính là chỗ mà các nhà ngữ pháp tiền dụng học khó v-ợt qua dễ dàng, do quan điểm tĩnh, nặng về cấu trúc hình thức, xem nhẹ chức năng giao tiếp- một chức năng vốn là tiền đề khách quan cho sự phát sinh và phát triển ngôn ngữ Nh- vậy, đã đến lúc vấn đề h- từ cần

đ-ợc xem xét trong hoạt động mở của ngôn ngữ gắn với hiệu lực giao tiếp của chính

nó từ góc nhìn ngữ dụng học

Qua b-ớc đầu khảo sát các cứ liệu tiếng Việt, một số tác giả nh-: Nguyễn Lai, Văn Chính đã xác định đ-ợc là: nghĩa giao tiếp là loại nghĩa đ-ợc thể hiện qua hoạt động giao tiếp gắn với cơ chế mở của ngôn ngữ Nét nghĩa của h- từ trong trạng thái hoạt động gắn với cơ chế này th-ờng rất khó nhận dạng và hầu nh- không thể trực tiếp định nghĩa bằng khái niệm logic, vì những lẽ sau đây:

- Ngữ nghĩa gốc của yếu tố ấy th-ờng bị áp lực của hệ thống kết cấu làm biến dạng, rất khó cảm nhận

- Th-ờng trong khi hành chức, nó không mang một chức năng cú pháp quen thuộc, đ-ợc sẵn định hoàn toàn thống nhất theo quan niệm và quan điểm truyền thống

- Chỉ nằm trong kết cấu cụ thể đó, nó mỡi đ°m nhận sắc th²i “nghĩa” m¯ ta

đang khó cảm nhận, cho nên nó không thuộc loại nghĩa phổ quát của từ điển để ta

cõ thể tra cửu; tr²i l³i, ờ đây ta ph°i chù đống tìm c²ch x²c định nõ qua “văn c°nh dũng hóc”

Để làm rõ hơn những điều đã nói ở trên, các tác giả đã đ-a ra ví dụ cụ thể nh- sau:

Cô ấy đẹp ra (1)

Cậu nói đến hay (2)

Nó vừa mất đi m-ời triệu (3)

Trong những tr-ờng hợp này, rõ ràng

ra (1) không còn mang nghĩa vận động không gian từ hẹp đến rộng

đến (2) không còn mang nghĩa tiếp cận đích không gian

đi (3) không còn mang nghĩa vận động di chuyển bằng đôi chân

Trang 23

Tuy rằng khó định nghĩa, nh-ng xét hiệu lực giao tiếp từ góc độ ngữ dụng học thì chắc chắn chúng đều góp phần tạo nên hiệu lực thông báo chung Tức là, trong tr-ờng hợp này, nếu loại bỏ chúng khỏi phát ngôn, ta sẽ mất một phân số thông tin nào đó trong hàm l-ợng thông báo chung của tổng thể cấu trúc phát ngôn

vỗn đang ho³t đống trong tr³ng th²i “ tú hư” ờ ba cấu trúc khác nhau trên Chính

trong c° ba cấu trủc “Cô ấy đẹp ra”, “Cậu nõi đến hay” v¯ “Nõ vúa mất đi m-ời triệu”, cho thấy ra, đến, đi hoàn toàn tự do, chúng không đảm nhận chức năng cú

pháp bắt buộc ( tức là khi l-ợc bỏ chúng, tuy l-ợng thông tin có bị giảm sút, nh-ng

phần còn lại của câu không sai ngữ pháp: Cô ấy đẹp ( ) Cậu nói ( ) hay và Nó

vừa mất ( ) m-ời triệu

Tuy nhiên, bên cạnh việc tách h- từ ra khỏi hiệu lực giao tiếp để để trên cơ

sở đó nhấn m³nh chửc năng “ công cũ thuần tủy ngừ ph²p” cùa hư tú, c²c t²c gi° còn sử dụng thao tác cải biên từ góc nhìn ngữ dụng học để xác định hiệu lực giao tiếp của h- từ trong hoạt động mở của ngôn ngữ tiếng Việt Thao tác cải biên là một trong những thủ pháp rất lợi hại của ngữ dụng học thực hành Vận dụng thao tác cải biên nhằm mục đích làm sáng tỏ chức năng giao tiếp đích thực của những yếu tố

Trang 24

vốn có đóng góp phần riêng của mình vào hiệu lực giao tiếp của cấu trúc phát ngôn chung nh-ng th-ờng khó nhận ra ( do ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp hình thức không miêu tả hoặc ch-a miêu tả đủ rõ) Khi tiến hành thao tác này, các tác giả th-ờng tuân thủ nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc 1: Phải xem xét từ h- đã đóng góp gì vào hiệu lực giao tiếp

chung của cả cấu trúc phát ngôn ở nguyên tắc này, trong nhận thức của ng-ời thao

tác cần xác định rõ ba phạm trù: nghĩa (sens), chức năng (fonction) và hiệu lực giao

tiếp (effet communicatif) là thống nhất nh-ng không đồng nhất Và nghĩa bao giờ

cũng là tiền đề làm hình thức chức năng, và chức năng bao giờ cũng là tiền đề làm hình thành hiệu lực giao tiếp Mối quan hệ logic này có thể đ-ợc mô hình nh- sau:

( S → F → EC) (S ← F ← EC)

Trong đó: S là sens; F là fonction và EC là effet communicatif

Tại đây cần chú ý là S không dễ định nghĩa bằng khái niệm, cho nên nó phải nhờ vào áp lực tối đa của văn cảnh ngữ dụng học ( contexte pragmatique)

- Nguyên tắc 2: Tạm thời l-ợc bỏ yếu tố từ h- ra khỏi cấu trúc ( tức là xử lí

bằng thao tác cải biên) Sau khi tạm l-ợc bỏ nó, ng-ời ta, bằng sự cảm nhận đích thức hiệu lực giao tiếp của ng-ời bản ngữ, đem so sánh hiệu lực giao tiếp của hai cấu trúc ( cấu trúc có từ h- và cấu trúc không còn từ h-) Cuối cùng nếu ở cấu trúc không còn từ h- đã mất l-ợng thông tin gì ( so với cấu trúc còn lại ) thì l-ợng thông tin ấy chính là hiệu lực giao tiếp vốn có đích thực của từ h- đã tạm bị loại bỏ mà ta

đang muốn khảo sát

Qua việc khảo sát của các tác giả chúng ta nhận thấy là không nên ngộ nhận kh²i niệm “hư hõa” l¯ gắn liền vỡi tr³ng th²i “mất nghĩa” hoặc “teo nghĩa” Tr²i l³i, trong một chừng mực nhất định, phải hiểu đó là hiện t-ợng tạo nghĩa mới theo yêu cầu giao tiếp nói chung Điều này có nghĩa là chúng ta cần nhận rõ: trong quá trình t³o nghĩa gắn vỡi sữ l¯m n°y sinh nhừng hiện tướng m¯ tú lâu đước gói l¯ “hư hõa”, tín hiệu xuất hiện sau không phủ định sự tồn tại những tín hiệu cùng gốc xuất hiện tr-ớc; trái lại, các tín hiệu có cùng vỏ ngữ âm này luôn song song tồn tại và đ-ợc sử dụng một cách bình đẳng và tích cực nh- nhau trong giao tiếp hàng ngày của cộng

đồng Ví dụ:

Trang 25

mới ( trong anh ấy mới đi) mới ( trong mới 5 giờ sáng) mới (trong có làm mới có ăn)

C° ba tú “mỡi” vẫn cõ nghĩa riêng trên trục đồng đại và chúng tồn tại bên nhau để thể hiện các sắc thái nghĩa riêng trong giao tiếp mà chúng đang góp phần qua các cấu trúc phát ngôn của ngôn ngữ

Chúng tôi đã thống kê đ-ợc khá nhiều tr-ờng hợp nh- trên trong quá trình khảo sát các hiện t-ợng h- từ, đặc biệt là các phụ từ trong các sách dạy tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài Ví dụ:

Lại ( trong lại đến) lại ( trong hẹp lại) lại ( trong đánh lại)

Điều này cho thấy mặc dù xuất hiện những tín hiệu mới nh-ng trong chúng luôn luôn có một sắc thái nghĩa khác, và cũng vì thế mà chúng không phủ định sự tồn tại của tín hiệu gốc trong bình diện sử dụng ngôn ngữ theo hệ thống đồng đại

3.2.Vai trò của phụ từ trong việc dạy tiếng Việt

Đối với những ngôn ngữ thuộc loại hình phân tích tính nh- tiếng Việt, các phạm trù ngữ pháp nh- giống, số, thể, thời có thật sự tồn tại nh- các ngôn ngữ ấn

- âu hay không, cho đến nay vẫn đang còn là một vấn đề cần đ-ợc thảo luận Ngay cả khi một số phạm trù ngữ pháp nào đó đ-ợc khẳng định thì lại có việc sử dụng ph-ơng thức nào để biểu thị phạm trù ngữ pháp đó: ph-ơng thức h- từ hay ph-ơng thức trật tự từ, ph-ơng thức ngữ điệu .Chính vì x-a nay phần lớn các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt ít nhiều chịu ảnh h-ởng của ngữ pháp ấn - âu cho nên th-ờng cho rằng tiếng Việt cũng có các phạm trù ngữ pháp nh- các ngôn ngữ ấn -

âu và h- từ chính là những công cụ từ để thể hiện các phạm trù ngữ pháp đó Trong

số các loại h- từ thì phụ từ có vai trò đắc lực trong việc diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp cho động từ, tính từ Chẳng hạn nh- diễn đạt ý nghĩa tiếp diễn của hành động, diễn

đạt ý nghĩa thời gian, ý nghĩa phủ định, cầu khiến v.v của hành động Chức năng chủ yếu của phụ từ là làm thành phần phụ cho đoản ngữ Vì thế, dạy phụ từ tiếng

Trang 26

Việt cho ng-ời n-ớc ngoài là việc không thể thiếu trong những bài học đầu tiên Theo thống kê của chúng tôi, những sách tiếng Việt cơ sở trong những bài đầu tiên

đã sử dụng các phụ từ nh-: cũng, vẫn, còn, không, phải không v.v Việc dạy h- từ

nói chung và phụ từ nói riêng có ý nghĩa quan trọng để ng-ời học có thể hình thành câu, đồng thời cũng có thể giới thiệu đ-ợc đặc thù câu trong tiếng Việt Nếu chỉ dạy thực từ thì sinh viên không có khả năng hiểu cũng nh- không thể diễn đạt đ-ợc tâm t-, tình cảm của ng-ời tham gia giao tiếp Vì vậy h- từ và đặc biệt là phụ từ cũng có vai trò rất lớn trong việc xây dựng nội dung ngữ nghĩa của câu Số l-ợng h- từ nói chung và phụ từ nói riêng mặc dù không phong phú nh- các thực từ nh-ng lại có thể cấu tạo đ-ợc số câu khổng lồ trong các tình huống giao tiếp khác nhau Trong các tr-ờng hợp khác nhau lại sử dụng những phụ từ khác nhau với những mục đích giao tiếp khác nhau Vì vậy, dạy phụ từ cho ng-ời n-ớc ngoài là dạy cách sử dụng ngôn ngữ một cách đúng ngữ pháp, có lôgíc và thuần thục nhất

Trang 27

Dẫn nhập 2: phụ từ trong các sách dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ từ năm 1980 đến năm 2005

1.Lựa chọn t- liệu thống kê

Dựa vào tiêu chí về trình độ của sách, chúng tôi đã chia các sách mà chúng tôi thống kê đ-ợc thành 2 trình độ: trình độ cơ sở và trình độ nâng cao Để có thể phân chia đ-ợc, chúng tôi đã dựa vào những nguyên tắc sau:

1.1 Những sách mà tác giả đã phân chia trình độ bằng cách đặt tên

Chúng tôi tôn trọng giữ nguyên theo cách phân chia của tác giả Ví dụ những sách chúng tôi xếp vào trình độ cơ sở là: Tiếng Việt cơ sở của Vũ Văn Thi; Tiếng Việt cơ sở cho ng-ời Nhật của Trần Thị Chung Toàn Những sách mà chúng tôi xếp vào trình độ nâng cao: Tiếng Việt nâng cao của Nguyễn Thiện Nam; Tiếng Việt nâng cao dành cho ng-ời n-ớc ngoài của Vũ Thị Thanh H-ơng (chủ biên)

1.2 Những sách mà tác giả không phân chia trình độ bằng cách đặt tên nh-ng lại có một hệ thống giáo trình theo trật tự từ quyển A đến quyển B và C,

Chúng tôi xếp quyển A vào trình độ cơ sở, còn quyển B,C đ-ợc xếp vào trình

độ nâng cao Ví dụ: Bộ sách Thực hành tiếng Việt do Đoàn Thiện Thuật (chủ biên)

có quyển A, B và C Trong đó quyển A gồm 2 tập 1 và 2 đ-ợc chúng tôi xếp vào trình độ cơ sở còn quyển B và C chúng tôi xếp vào trình độ nâng cao

1.3 Những cuốn sách không có hai đặc điểm trên

Chúng tôi căn cứ vào trình độ của sách để phân loại Để làm đ-ợc điều này, chúng tôi căn cứ vào nội dung của những bài trong sách (chủ yếu là những bài đầu của sách) Sách ở trình độ cơ sở sẽ dạy những mẫu câu cơ bản để phục vụ cho những giao tiếp sơ đẳng nhất Hơn nữa, những bài đọc và bài hội thoại trong sách cơ sở th-ờng rất đơn giản Câu ngắn gọn và dễ hiểu Trong khi đó sách ở trình độ nâng cao thì ng-ợc lại Cấu trúc ngữ pháp khó hơn, diễn đạt lối t- duy phức tạp hơn và

đặc biệt hội thoại và bài đọc xuất hiện nhiều từ mới và nhiều câu dài Ví dụ những cuỗn s²ch sau đ± đước chủng tôi xếp v¯o trình đố cơ sờ: “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Bợi Phũng; “Thữc h¯nh tiếng Việt dợng cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Nguyễn Việt H-ơng; Tiếng Việt cho ng-ời Nhật của Trần Thị Chung Toàn Còn

Trang 28

nhừng cuỗn như: “Tiếng Việt thữc h¯nh dợng cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Đinh Thanh Huệ (chù biên); “Tiếng Việt trong giao dịch thương m³i” cùa Nguyễn Anh Quế-Hà Thị Quế H-ơng đ-ợc chúng tôi xếp vào loại sách trình độ nâng cao

Để tiện cho việc nhận xét và trích dẫn ở những phần tiếp theo, chúng tôi đ-a

ra danh sách các t- liệu đã đ-ợc phân loại theo trình độ và kí hiệu nh- sau:

Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành, tập 1, Trần Khang

(chủ biên), Khoa Tiếng Việt, Tr-ờng Đại học Tổng Hợp Hà

Nội, 1980

6

2

Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành, tập 2, Đặng Ngọc Cừ -

Phan Hải (chủ biên), Khoa Tiếng Việt, Tr-ờng Đại học Tổng

Hợp Hà Nội, 1980

7

3

Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài (Vietnamese for

foreigners), Bùi Phụng (chủ biên), NXB Đại học giáo dục

chuyên nghiệp, HN, 1991

14

4 Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài ( Vietnamese for

5 Học tiếng Việt qua tiếng Anh (Studying Vietnamese through

6 Tiếng Việt cơ sở ( Vietnamese for Beginners), Vũ Văn Thi,

NXB Khoa học xã hội, HN, 1996 3

7

Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài (Vietnamese for

foreigners), Nguyễn Anh Quế, NXB Văn Hóa Thông Tin Hà

Nội, 2000

1

8 Tiếng Việt cơ sở cho ng-ời Nhật, Trần Thị Chung Toàn, NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 11

Trang 29

9

TiÕng ViÖt cho ng-êi n-íc ngoµi, ch-¬ng tr×nh c¬ së

(Vietnamese for foreigners, elementary level), NguyÔn V¨n

phóc (chñ biªn), NXB §¹i häc Quèc gia Hµ Néi, 2004

Thùc hµnh tiÕng ViÖt (Practice Vietnamese use for

Foreigners), quyÓn I, NguyÔn ViÖt H-¬ng, NXB §¹i häc

Quèc Gia Hµ Néi, 2005

Gi-ìng - NguyÔn Anh QuÕ, NXB Gi¸o dôc Hµ Néi, 1996 7

ThiÖn Nam, NXB Gi¸o dôc, HN 1998 2

Trang 30

6

Tiếng Việt trong giao dịch th-ơng mại (Vietnamese in

commercial transaction), Nguyễn Anh Quế - Hà Thị Quế

Tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài, trình độ nâng cao

(Vietnamese for foreigners, intermediate level) Trịnh Đức

Hiển (chủ biên), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2004

3

10

Tiếng Việt nâng cao dành cho ng-ời n-ớc ngoài của Viện

Ngôn ngữ, Vũ Thị Thanh H-ơng (chủ biên), NXB Khoa học xã

Kết quả của việc thống kê các sách ở trên đã cho chúng tôi thấy những phụ từ

đ-ợc giải thích trong phần ngữ pháp đều đ-ợc các tác giả đ-a vào phần bài luyện và bài tập Chính vì vậy mà danh sách phụ từ đ-ợc giải thích trong phần ngữ pháp và danh sách phụ từ trong phần bài tập và bài luyện nhằm ứng dụng kiến thức đã học là t-ơng đ-ơng nhau Về hình thức, một bài học trong các sách dạy tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài th-ờng gồm 4 phần: phần 1 là bài đọc hay hội thoại; phần 2 là phần giải thích ngữ pháp; phần 3 là bài luyện và phần 4 là bài tập Và các phần có thể không theo một trật tự nhất định, có ng-ời cho phần giải thích ngữ pháp xuống cuối bài, nh-ng cũng có ng-ời đ-a phần giải thích ngữ pháp lên phần 2 hoặc phần 3 của bài, điều này tùy thuộc vào dụng ý riêng của mỗi tác giả Tuy nhiên vẫn có một vài tr-ờng hợp cá biệt đi theo bỗ cũc kh²c Chàng h³n cuỗn “Tiếng Việt trình đố A, tập1,2” do Đo¯n Thiện Thuật (chù biên) không cõ phần gi°i thích ngừ ph²p nhưng tác giả lại đ-a ra các tiêu điểm ngữ pháp ở đề bài Hơn nữa trong phần bài tập, bài

Trang 31

luyện tác giả đã đ-a ra rất nhiều dạng bài khác nhau để luyện tập các tiêu điểm ngữ pháp đó, nh- vậy cùng với sự giúp đỡ của giáo viên, học viên có thể nắm bắt và sử dụng đ-ợc các vấn đề ngữ pháp của mỗi bài học Hay Phan Văn Gi-ỡng trong quyển

“Tiếng Việt Intermediate 3, 4”; v¯ “Tiếng Việt - upper Intermediate”, cðng không

có phần giải thích ngữ pháp nh-ng tác giả lại yêu cầu học viên làm các bài luyện có sẵn các mẫu câu, Nh- vậy mặc nhiên họ đã có kiến thức về ngữ pháp này rồi Ví dụ:

- Dợng mẫu “Vì cho nên ” để đặt 5 câu Xem ví dụ tr-ớc khi làm

Ví dụ: Vì tôi muốn mua bánh tráng cuốn chả giò

cho nên tôi phải đến tiệm thực phẩm Việt Nam

(tr 67, bài 8, Tiếng Việt intermediate 4, Bửu Khải - Phan Văn Gi-ỡng) Mai Ngóc Chú trong cuỗn “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cðng không có phần giải thích ngữ pháp nh-ng tác giả lại đ-a ra các mẫu câu cần nhớ Mỗi mẫu câu đều có ví dụ minh họa và đ-ợc dịch sang tiếng Anh Nh- thế sau mỗi bài học, các học viên đều biết tiêu điểm của bài học là gì và cần phải nhớ những gì trong bài

Kết quả thống kê cũng cho chúng tôi thấy số l-ợng phụ từ mà các tác giả đ-a vào giảng dạy trong phần ngữ pháp của mỗi sách hoàn toàn khác nhau

2.2 Số l-ợng phụ từ thống kê đ-ợc trong phần ngữ pháp của các sách tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài

Các sách thuộc bậc học cơ sở

- Quyển “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Nguyễn Anh Quế cõ 120 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 58 hiện t-ợng đề cập đến phụ từ (chiếm 48,33%)

- Quyển “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Mai Ngóc Chú cõ 76 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 41 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 53,94%)

- “Tiếng Việt cơ sờ” cùa Vð Văn Thi gi°i thích 77 hiện tướng hư tú ờ phần ngữ pháp, trong đó 46 hiện t-ợng đề cập đến phụ từ (chiếm 59,74%)

- Quyển “Thữc h¯nh tiếng Việt”, quyển 1 cùa Nguyễn Việt Hương cõ 96 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó có 44 hiện t-ợng là phụ

từ (chiếm 45,83%)

Trang 32

- Trong phần ngừ ph²p cùa cuỗn “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i, chương trình cơ sờ” cùa Nguyễn Văn Phủc (chù biên) có đề cập đến 69 hiện t-ợng h- từ, trong đó 37 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 53,62%)

- Gi²o trình “Cơ sờ tiếng Việt thữc h¯nh” tập 1cùa Trần Khang (chù biên)

đã đề cập đến 93 hiện t-ợng h- từ trong phần ngữ pháp, trong đó số l-ợng phụ từ là

47 (chiếm 50,53%)

- Gi²o trình “Cơ sờ tiếng Việt thữc h¯nh” tập 2 cùa Đặng Ngóc Cú-Phan Hải (chủ biên) có 85 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 39 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 45,88%)

- Quyển “Hóc tiếng Việt qua tiếng Anh” cùa Mai Ngóc Chú cõ 95 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 50 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 52,63%)

- “Tiếng Việt trình đố A” tập 1 cùa Đo¯n Thiện Thuật (chù biên) cõ đề cập

đến 27 hiện t-ợng h- từ trong phần ngữ pháp, trong đó số l-ợng phụ từ là 18 (chiếm 66,66%)

- “Tiếng Việt trình đố A” tập 2 cùa Đo¯n Thiện Thuật (chù biên) đề cập 28 hiện t-ợng h- từ ở phần ngữ pháp, trong đó số l-ợng phụ từ là 18 (chiếm 64,28%)

- Gi²o trình “Tiếng Việt cơ sờ cho ngưội Nhật” cùa Trần Thị Chung To¯n cõ

69 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 38 hiện t-ợng là phụ (chiếm 55,07%)

- Gi²o trình “Tiếng Việt for beginners 2” cùa Bụu Kh°i-Phan Văn Gi-ỡng

có 29 hiện t-ợng h- từ đề cập đến trong phần ngữ pháp, trong đó 16 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 55,17%)

- “Tiếng Việt for beginners 1” cùa Phan Văn Giưởng chỉ cõ 13 hiện tướng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 7 hiện t-ợng là phụ từ, chiếm (53,84%)

- Cuỗn “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Bợi Phũng (chù biên) cõ đến

108 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 65 hiện t-ợng là phụ

từ (chiếm 60,18 %)

Trang 33

Các sách thuộc bậc nâng cao

- Quyển “Thữc h¯nh tiếng Việt, trình đố C” cùa Đo¯n Thiện Thuật (chù biên) có 70 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 36 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 51,42%)

- Quyển “Tiếng Việt nâng cao” cùa Nguyễn Thiện Nam cõ 42 hiện tướng hư

từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 16 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 38,09%)

- Gi²o trình “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i, trình đố nâng cao” cùa Trịnh

Đức Hiển (chủ biên) giải thích 88 hiện t-ợng h- từ ở phần ngữ pháp, trong đó số l-ợng phụ từ là 28 (chiếm 31,81%)

- “Tiếng Việt trong giao dịch thương m³i” cùa Nguyễn Anh Quế-Hà Thị Quế H-ơng có 37 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích ở phần ngữ pháp, trong đó 16 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 43,24%)

- “Tiếng Việt thữc h¯nh dợng cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Đinh Thanh Huệ (chủ biên) đề cập đến 74 hiện t-ợng h- từ ở phần ngữ pháp, trong đó 28 hiện t-ợng

là phụ từ (chiếm 37,83%)

- Quyển “Thữc h¯nh tiếng Việt, trình đố B” cùa Đo¯n Thiện Thuật (chủ biên) đã giải thích 73 hiện t-ợng h- từ ở phần ngữ pháp, trong đó 39 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 53,42%)

- “Tiếng Việt Upper-Intermediate” cùa Phan Văn Giưởng-Nguyễn Anh Quế

đã đề cập đến 12 hiện t-ợng h- từ ở phần bài luyện, trong đó số l-ợng phụ từ chỉ có

3 (chiếm 25%)

- Cuỗn “Tiếng Việt nâng cao d¯nh cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Vð Thị Thanh H-ơng (chủ biên) có 136 hiện t-ợng h- từ đ-ợc giải thích, trong đó 66 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 48,52%)

- “Tiếng Việt Intermediate 4” cùa Bụu Kh°i-Phan Văn Gi-ỡng chỉ có 6 hiện t-ợng h- từ đ-ợc tác giả đề cập đến trong bài luyện, trong đó 5 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 83,33%)

- “Tiếng Việt Intermediate 3” cùa Phan Văn Giưởng cõ 15 hiện tướng hư tú

đ-ợc tác giả đề cập trong bài luyện, trong đó 6 hiện t-ợng là phụ từ (chiếm 40%)

Trang 34

Phần 2 Nghiên cứu triển khai

Ch-ơng 1 phụ từ trong các sách dạy tiếng Việt nh- một ngoại ngữ (bậc học cơ sở) Miêu tả và bàn luận

1 Cách gọi tên các phụ từ trong các sách

Cùng một phụ từ nh-ng có thể đ-ợc các tác giả gọi bằng những tên khác nhau Điều này thể hiện rõ trong các sách khác nhau của các tác giả khác nhau Ví

dũ phũ tú “vẫn” chỉ sữ tiếp diễn trong câu: “tôi vẫn khàe”; “Chị ấy vẫn đang h²t”

trong s²ch “Tiếng Việt Cơ Sờ” cùa Vð Văn Thi đước t²c gi° gói l¯ trớ đống từ, trong khi đõ cuỗn “Tiếng Việt Thữc H¯nh” quyển I, t²c gi° Nguyễn Việt Hương l³i xếp từ này vào nhóm phó từ Có một số tác giả lại không xếp từ này vào nhóm nào c°, m¯ chỉ nõi chung chung Chàng h³n trong cuỗn “Hóc tiếng Việt qua tiếng Anh”

của Mai Ngọc Chú đ± gi°i thích về tú n¯y như sau: “C²c tú vẫn, còn, vẫn còn, vẫn

đang còn, có nghĩa still Chúng luôn đi tr-ớc động từ hoặc tính từ để biểu thị ý

nghĩa tiếp diễn, chưa kết thủc cùa h¯nh đống.” Hay trong cuỗn “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Nguyễn Anh Quế chỉ gi°i thích ngắn gón: “vẫn t-ơng đ-ơng trong tiếng Anh là still” Ngo¯i ra, chủng tôi còn kh°o s²t đước kh² nhiều trưộng

hớp tương tữ như trên S²ch “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i, chương trình cơ sờ” của Nguyễn Văn Phúc (chủ biên) và s²ch “Tiếng Việt cơ sờ” cùa Vð Văn Thi đều

xếp cặp tú “chỉ thôi” v¯o nhõm trớ đống tú nhưng S²ch “Thữc h¯nh tiếng Việt,

quyển 1” cùa Nguyễn Việt Hương; s²ch “Tiếng Việt cho ngưội nưỡc ngo¯i” cùa Nguyễn Anh Quế; giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành” cùa Trần Khang (chù

biên) l³i xếp cặp tú n¯y v¯o nhõm phõ tú Tú “đi” trong c²c câu “Cô mua t²o đi”;

“ăn đi”; “uỗng đi”đước Nguyễn Văn Thi gói l¯ trớ đống tú, trong khi đõ Nguyễn

Anh Quế lại gọi là ngữ khí từ, Trần Khang, Nguyễn Văn Phúc lại gọi từ này là phó

từ Bên cạnh đó, luận văn còn khảo sát sát đ-ợc một vài tr-ờng hợp chuyển hẳn sang

nhõm tú lo³i kh²c Ví dũ: cặp tú nỗi “cả lẫn ” trong “cả A lẫn B” đước Nguyễn Anh Quế xếp v¯o cặp phõ tú; Tú “theo” trong “đi theo thầy”; “ch³y theo mỗt” cũng

đước t²c gi° xếp v¯o phõ tú; cặp tú “vừa vừa ” trong nhừng câu: “Cô ấy vừa trẻ

Trang 35

vừa đẹp”; “Chủng ta vừa ăn vừa nõi chuyện”; Anh Nam vừa đi vừa h²t” đước

Nguyễn Văn Phủc gói l¯ tú nỗi (conjunction) thuốc nhõm kết tú; tú “xong” trong câu “ Tôi đã ăn xong” đước Nguyễn Việt Hương xếp v¯o nhõm đống tú, trong khi

đó, Nguyễn Anh Quế-Hà Thị Quế H-ơng lại xếp vào nhóm phó từ v.v Từ những

điều trên và thực tế giải thích các hiện t-ợng ngữ pháp trong các sách dạy tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài hiện hành, để tránh những ý kiến khác nhau về quan điểm gây

ra những thắc mắc không đáng có của ng-ời học, chúng tôi xin đề xuất quan điểm của luận văn là không gọi tên các phụ từ cũng nh- các thuật ngữ chuyên ngành trong phần giải thích ngữ pháp của sách dạy tiếng Việt mà chỉ đ-a ra từ, cấu trúc và phần h-ớng dẫn sử dụng các từ, cấu trúc đó

2 Danh sách các phụ từ đ-ợc sử dụng trong phần ngữ pháp, bài tập và bài luyện của các sách

Trang 39

3 Tình hình sử dụng phụ từ trong các sách

Tổng số phụ từ và cặp phụ từ mà chúng tôi khảo sát đ-ợc trong phần giải thích ngữ pháp của các sách dạy tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài trình độ cơ sở là

106 phụ từ và cặp phụ từ Để đơn giản hơn trong việc sử dụng, chúng tôi gọi mỗi cặp phụ từ hay mỗi phụ từ là một tr-ờng hợp Nhóm phụ từ xuất hiện với tần số cao nhất,

đạt 85,68% chỉ có 2 tr-ờng hợp, chiếm 1,88% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ xuất hiện với tần số đạt 78,54% cũng có 2 tr-ờng hợp, chiếm 1,88% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ xuất hiện với tần số 71,4% có 10 tr-ờng hợp, chiếm 9,43% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ xuất hiện với tần số 64,26% có 6 tr-ờng hợp, chiếm 5,66% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ xuất hiện với tần số 57,12% có 4 tr-ờng hợp, chiếm 3,77

số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ xuất hiện có tần số 49,98% gồm 6 tr-ờng hợp, chiếm 5,66% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ có tần số xuất hiện 42,86% gồm 10 tr-ờng hợp, chiếm 9,43% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ có tần số xuất hiện là 35,7% có 2

Trang 40

tr-ờng hợp, chiếm 1,88% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ mà tần số xuất hiện là 28,56% có 7 tr-ờng hợp, chiếm 6,60% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ có tần số xuất hiện đạt 21,42% cũng có 7 tr-ờng hợp, chiếm 6,60% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ

có tần số xuất hiện là 14,27% có 17 tr-ờng hợp, chiếm 16,03% số l-ợng phụ từ Nhóm phụ từ có tần số xuất hiện thấp nhất đạt 7,14% lại có số l-ợng phụ từ và cặp phụ từ nhiều nhất, 33 tr-ờng hợp, chiếm 31,13% số l-ợng phụ từ Để tiện cho việc hình dung và so sánh các số liệu kể trên, chúng tôi xin đ-ợc đ-a ra mô hình về việc

sử dụng các phụ từ nh- sau:

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90

%

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Nhóm phụ từ

Biểu đồ tình hình sử dụng phụ từ trong các

sách tiếng Việt cho ng-ời n-ớc ngoài trình

Ngày đăng: 09/04/2020, 10:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w