1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục nghiên cứu phát triển thể thao trường học trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh hải dương

249 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trong các trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 3.2 Đề xuất giải pháp phát triển thể dục thể thao trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

–––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN THỂ THAO TRƯỜNG HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

–––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN THỂ THAO TRƯỜNG HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa tác giả nào công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các bảng biểu, biểu đồ

1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng về thể dục thể thao trường học 17

1.3 Vị trí và vai trò của giáo dục thể chất và thể thao trường

học trong đổi mới căn bản toàn diện giáo dục

Trang 5

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

37

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 37

2.2.7 Phương pháp toán học thống kê 46

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

49

3.1 Thực trạng giáo dục thể chất và thể thao các trường đại

học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

49

3.1.2 Thực trạng thể dục thể thao ngoại khoá 49

3.1.4 Thực trạng phát triển thể chất sinh viên các trường đại học, cao

đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

53

3.1.5 Phân tích SWOT về thực trạng giáo dục thể chất và thể thao 56

Trang 6

trong các trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

3.2 Đề xuất giải pháp phát triển thể dục thể thao trong các

trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá

65

3.2.1 Cơ sở lý luận và nguyên tắc đề xuất các giải pháp phát triển thể

thao trường học chủ yếu thông quaphát huy vai trò của các tổ chức xã hội, theo hướng xã hội hóa TDTT

65

3.2.3 Lộ trình lựa chọn các giải pháp phát triển thể dục thể thao trong

các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá

73

3.2.4 Kiệm nghiệm ứng dụng các giải pháp phát triển TDTT trong

các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG,BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

3.1

Thực trạng phân phối chương trình môn học Giáo dục thể chất (nội khoá)trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Sau trang

50

3.4

Thực trạng cơ cở vật chất kỹ thuật thể dục thể thaocủa các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Sau trang

52

3.7 Thực trạng phát triển thể chất sinh viên các trường

đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Sau trang

54

Trang 8

3.10

Kiểm định của chuyên gia phân tích SWOT về thực

trạng thể dục thể thao trong các trường đại hoc, cao

đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dường- Điểm mạnh

(n=34)

Sau trang

61

3.11

Kiểm định của chuyên gia về phân tích SWOT thực

trạng thể dục thể thao trong các trường đại hoc, cao

đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương - Điểm yếu

(n=34)

Sau trang

61

3.12

Kiểm định của chuyên gia về phân tích SWOT thực

trạng thể dục thể thao trong các trường đại hoc, cao

đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương-Cơ hội (n=34)

Sau trang

61

3.13

Kiểm định của chuyên gia phân tích SWOT về thực

trạng thể dục thể thao các trường đại học, cao đẳng

trên địa bàn tỉnh Hải Dương - Thách thức (n=34)

Sau trang

61

3.14

Khảo sát động cơ tập luyện thể dục thể thao của

sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn

tỉnh Hải Dương (n =1609)

Sau trang

71

3.15

Khảo sát nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của sinh

viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh

Hải Dương (n = 1609)

Sau trang

72

3.16

Khảo sát ý kiến chuyên gia về tính cấp thiết, tính

khả thi của các giải pháp phát triển TDTT

trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh

Hải Dương theo hướng xã hội hoá (n=34)

Sau trang

72

3.17

Ý kiến chuyên gia chuyên gia về tính cấp thiết và

tính khả thi của giải pháp phát triển TDTT trong các

trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải

Dương theo hướng xã hội hoá (n=34)

Sau trang

74

Trang 9

3.18

Kết quả khảo sát tương quan giữa tính cấp thiết, tính

khả thi của các giải pháp phát triển TDTTtrong các

trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải

Dương theo hướng xã hội hoá (n=34)

Sau trang

75

3.19

Kiểm chứng tương quan thứ bậc giữa cấp thiết và

tính khả thi của các giải pháp phát triển TDTT trong

các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải

Dương theo hướng xã hội hoá (n=34)

Sau trang

75

3.20

Bảng đánh giá mức độ quan trọng của các giải pháp

pháp phát triển TDTT trong các trường đại học, cao

đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội

hoá (n=34)

Sau trang

75

3.21

Kiểm định độ tin cậy của các giải pháp phát triển

TDTT trong các trường đại học, cao đẳng trên địa

bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá (n=34)

Sau trang

77

3.22

Các tiêu chí cụ thể đánh giá giải pháp phát triển

TDTTtrong các trường đại học, cao đẳng trên địa

bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá (n=34)

Sau trang

86

3.23

Khảo sát ý kiến chuyên gia về cơ cấu, quy trình

thành lập các câu lạc bộ TDTT trong các trường đại

học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo

hướng xã hội hoá (n=34)

Sau trang

88

3.24

Khảo sát mức đóng lệ phí tập luyện trong các CLB

TDTT sinh viên cáctrường đại học cao đẳng trên địa

Trang 10

trong 1 tuần 88 3.27

Kết quả kiểm nghiệm ứng dụng các giải pháp phát triển TDTT ở trường cao đẳng Hải Dương theo hướng xã hội hoá

Sau trang

94

Trang 11

3.37 Kiểm chứng kết quả ứng dụng các giải pháp thông

qua ý kiến sinh viên (n = 300)

3.4 So sánh sự phát triển thể chất của các hội viên câu

lạc bộ TDTT sinh viên Cao đẳng Hải Dương

Sau trang

93

3.5

So sánh sự phát triển thể lực của các hội viên câu lạc

bộ TDTT nam sinh viên Cao đẳng Hải Dương với QĐ 53/BGD-ĐT ở mức đánh giá loại tốt

3.7 So sánh sự phát triển thể chất của các hội viên câu

lạc bộ TDTT sinh viên Đại học Sao đỏ

Sau trang

94

Trang 12

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

Trang 14

1

PHẦN MỞ ĐẦU

Cùng với Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020, khẳng định: phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế Nghị quyết này cho thấy quan điểm của Ðảng ta luôn xác định việc đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước Việc giữ gìn, tôn vinh những giá trị TDTT truyền thống của dân tộc, tiếp thu các thành tựu và tiến bộ của thể thao thế giới để từ đó phát triển nền TDTT nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân và văn minh, là những quan điểm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển [12], [66], [67]

Những quan điểm chỉ đạo phát triển TDTT nêu trên đã được thể hiện qua các chủ trương, chính sách và sự đầu tư mạnh mẽ Ðảng và Nhà nước đã có những chính sách tăng tỷ lệ chi ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất TDTT; đổi mới phương thức quản lý, phát huy mạnh mẽ chủ trương phân cấp, phân quyền và xã hội hóa trong quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động TDTT Nhờ đó, sự nghiệp TDTT nước ta đã có những bước phát triển mới Phong trào TDTT quần chúng ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức đa dạng, tích cực, góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, tiêu biểu là phong trào "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại"

Thực hiện chủ trương của Ðảng, Nhà nước trong phát triển thể thao, công tác

xã hội hóa TDTT đang được đẩy mạnh thông qua việc xây dựng cơ sở vật chất, tài trợ huấn luyện và tổ chức các hoạt động TDTT Nhiều địa phương đã duy trì và khuyến khích phát triển các cơ sở tư nhân, các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động

Trang 15

2

trong lĩnh vực TDTT, góp phần mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT từ các xã, phường, thị trấn đến làng, bản, thôn, ấp, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân\

Sau 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển thể thao Việt Nam đến năm 2020

và thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, có thể nói, ngành TDTT đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị, xã hội, công tác đối ngoại của Ðảng, Nhà nước ta, từng bước nâng cao sức khỏe nhân dân; đào tạo và xây dựng được một đội ngũ lớn cán bộ, huấn luyện viên và vận động viên cho thể thao thành tích cao đã và đang nhận được nhiều kỳ vọng [12]

Trong đó GDTC và thể thao trường học là nội dung rất quan trọng của giáo dục toàn diện GDTC gắn liền với đức dục, trí dục, mỹ dục, giáo dục lao động và kỹ thuật tổng hợp GDTC có mục tiêu quan trọng nhất, xuyên suốt từ mầm non đến đại học, đó là sức khỏe và thể lực, góp phần giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện [6],[7],[8].Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường có những chuyển biến tích cực cả về hình thức lẫn nội dung, thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển giáo dục

Bên cạnh thành tích có những hạn chế và yếu kém kéo dài chậm được khắc phục, như: chưa thu hút được lực lượng sinh viên tham gia tập luyện và thi đấu Đội ngũ giáo viên, huấn luyện viên và cán bộ làm công tác thể thao còn thiếu về số lượng

và yếu về chuyên môn Cơ sở vật chất nghèo nàn, công tác quản lý và phương pháp tổ chức các hoạt động thể thao chậm đổi mới, thành tích nhiều môn thể thao của học sinh, sinh viên còn thấp so với khu vực và thế giới; Nhận thức của một số cán bộ lãnh đạo các cấp về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác GDTC và thể thao trường học chưa đúng tầm làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục thể chất và thể thao trường học [4],[59],[63]

Để từng bước khắc phục tình trạng trên, về mặt lý luận, đã có nhiều đề tài nghiên cứu xác định biện pháp phát triển thể thao trường học, như: Hoàng Minh Tần

Trang 16

3

(2001) với đề tài “Bước đầu tìm hiểu cơ sở xã hội hóa TDTT trong sinh viên ĐH Thái Nguyên”[75]; Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Gắng (2000) qua đề tài “Nghiên cứu hiệu quả của hoạt động ngoại khoá theo loại hình CLB TDTT hoàn thiện đối với sự phát triển thể chất các trường ĐH TP.Huế” [56]; Trần Kim Cương (2009), “Nghiên cứu những giải pháp phát triển các loại hình câu lạc bộ Thể dục thể thao cơ sở trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Ninh Bình” [24]; Nguyễn Gắng (2012),

"Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết thể dục thể thao giữa Đại học Huế và các tổ chức thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Huế” [28]; Nguyễn Đức Thành (2013), với đề tài “Xây dựng nội dung và hình thức tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên ở một số trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh” [61]…Tuy nhiên, có thể thấy việc nghiên cứu, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện cũng như xác định đầy đủ các yếu tố tiềm năng để biến chủ trương của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn chưa nhiều, chưa thực sự mang lại chất lượng và hiệu quả GDTC cho sinh viên trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng của nước ta nói chung và ở tỉnh Hải

Dương nói riêng Từ cơ sở tiếp cận, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu phát triển thể

thao trường học trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương”

Mục đích nghiên cứu

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất, ứng dụng một số giải pháp chủ yếu dựa vào việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, theo hướng xã hội hóa TDTT nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác GDTC và thể thao trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục thể chất và thể thao của

các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 17

Mục tiêu 2:Lựa chọncác giải pháp phát triển thể dục thể thao trong các

trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá

Nghiên cứu lựa chọn các giải pháp tổ chức quản lý hoạt động thể thao trường học, mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội nghề nghiệp trường học;

Đánh giá hiệu quả một số giải pháp khả thi khi ứng dụng vào thực tiễn công tác GDTC và thể thao trường học trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn

tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá

Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các giải pháp có tính cáp thiết, tính khả thi,thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC và thể thao trường học trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo hướng xã hội hoá

Trang 18

5

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Phương pháp, giải pháp, biện pháp

Tổng hợp các tài liệu về quản lý học, nhiều học gỉa đề cập một số khái niệm liên quan, đó là phương pháp, giải pháp, biện pháp giải quyết những chính sách, đề

án, kế hoạch để đạt mục tiêu đã đặt ra

Phương pháp quản lý là các thức, con đường giải quyết mục tiêu để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của một tổ chức nào đó trong quá trình quản lý một cách khoa học, khách quan phù hợp lý luận và thực tiễn

Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề khó khăn gặp phải trong quá trình làm việc, giải pháp là tổng thể các biện pháp hợp thành Như vậy giải pháp có thể bao gồm rất nhiều biện pháp cụ thể

Trong các tài liệu quản lý xã hội, quản lý kinh tế, các học giả đề cập các nhóm giải pháp theo chức năng nhiệm vụ như: Giải pháp giáo dục; trong đó có những biện pháp tuyên truyền bằng tài liệu, sách báo một cách thường xuyên, tuyên dương khen thưởng; Giải pháp hành chính; trong đó có các biện pháp về bộ máy, nhân lực, tổ chức điều hành cụ thể; Giải pháp kinh tế; trong đó có các biện pháp vật chất, tiền tệ, khen thưởng; Giải pháp động viên tinh thần và vật chất;

Giải pháp được định nghĩa trong quản lý xã hội học đã đề cập đến khái niệm giải pháp quản lý xã hội:giải pháp quản lý xã hội là phương tiện, hành vi thực hiện

sự tác động bằng quản lý; phương thức biểu thị các mối quan hệ quản lý[16],[71],[93].Trên cơ sở khái niệm đã nêu có thể cụ thể hóa các giải pháp như sau: những phương tiện, hành vi, công cụ được tác động sử dụng thông qua quản lý theo một lộ trình quy định

Trang 19

6

Các phương tiện, hành vi, công cụ này thể hiện ở hình thức là các chương trình

và dự án được thực hiện trong một phạm vi lộ trình xác định để đạt được mục tiêu quản lý

Trong các tài liệu về quản lý còn đề cập mối quan hệ giữa phương pháp quản lý gồm các giải pháp, biện pháp sử dụng trong quản lý như:

Giải pháp là cách thức thực hiện các phương pháp Giải pháp là cụ thể hóa các phương pháp hay ứng dụng các phương pháp vào thực tiễn quản lý Trong một phương pháp có nhiều giải pháp cụ thể

Mặt khác một giải pháp cụ thể có thể là thành phần của nhiều phương pháp khác nhau Giữa phương pháp và giải pháp có sự tương đồng nhưng không phải đồng nghĩa với nhau Một nhóm giải pháp cụ thể tổng hợp thành phương pháp quản

lý Từ các phương pháp quản lý hình thành các nhóm giải pháp (mỗi phương pháp

có một nhóm giải pháp), trong mỗi giải pháp có các biện pháp cụ thể[40]

Biện pháp là cách thức, công cụ thực hiện giải pháp Trong quá trình quản lý để thực hiện một phương pháp quản lý cần áp dụng một nhóm giải pháp, trong mỗi giải pháp có những biện pháp cụ thể cần triển khai

Trong một giải pháp lớn có cả hệ thống giải pháp thành phần Hệ thống giải pháp thành phần tác động để hình thành và phát triển thành giải pháp lớn.Các giải pháp xây dựng và phát triển các câu lạc bộ TDTT công lập và ngoài công lập cũng là

hệ thống các giải pháp quản lý[13],[65],[70]

Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác thể dục thể thao thường

đề cập các giải pháp xây dựng và phát triển TDTT trong đó xã hội hóa là một chủ trương lớn nhưng cũng là một giải pháp lớn trong nhiệm vụ xây dựng đất nước trước đây và trong những năm đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước bước vào xây dựng

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa[1]

1.1.2 Người tập thể dục thể thao

Trang 20

7

Người tập TDTT là người thường xuyên sử dụng các bài tập các môn thể thao, các phương pháp hoạt động thể lực để rèn luyện thân thể nhằm mục đích như tăng cường sức khỏe phát triển thể lực, phục hồi chức năng, phòng chữa bệnh, vui chơi giải trí tinh thần [24],[34]

Ở nước ta, bắt đầu từ năm 1978 Chính phủ quyết định công nhận Ngành TDTT là ngành kế hoạch Nhà nước, thì khái niệm người tập TDTT được sử dụng trong hệ thống chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, đó là tỉ lệ phần trăm (%) người tập

TDTT so với tổng số dân của cả nước ở từng thời kỳ (1 năm, 5 năm…)

Theo quy định của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, tiêu chí người tập TDTT thường xuyên là tập luyện ít nhất mỗi tuần 2 - 3 buổi, mỗi buổi 30 phút và liên tục 6 tháng trở lên [13] Người tập TDTT thường xuyên được áp dụng cho những học sinh, sinh viên trong các trường học khi thực hiện đầy đủ nội dung chương trình giáo dục thể chất quy định của Nhà nước cho từng cấp học, áp dụng cho lực lượng vũ trang thực hiện đầy đủ các chương trình rèn luyện thể lực theo quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an về đối tượng, lứa tuổi và nội dung [8],[25],[44]

1.1.3 Phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao trường học

Luật thể dục, thể thao quy định tại điều 11 trách nhiệm của chính quyền, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp về thể thao, cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp phải làm những việc gì để phát triển thể dục, thể thao quần chúng Như thế khi kiểm tra, đánh giá phát triển thể dục, thể thao quần chúng trước hết chúng ta phải đặt ra tiêu chí cho từng nhiệm vụ của mỗi chủ thể và kiểm tra theo tiêu chí đó xem mức độ đạt được đến đâu [58]

Ví dụ, Luật định: "Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm xây dựng các công trình thể thao công cộng, đảm bảo nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ thể dục, thể thao; xây dựng mạng lưới cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở đáp ứng yêu cầu hoạt động thể dục, thể thao của cộng đồng dân cư." Vậy thì, hàng năm chúng ta phải kiểm tra, đánh giá xem bao nhiêu Uỷ ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh xây

Trang 21

8

dựng được bao nhiêu công trình thể thao công cộng theo tiêu chí đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật như thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Văn hoá- thông tin và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban TDTT số 22/2007/TTLT/BVHTT-UBTDTT ngày 24 tháng 7 năm 2007; Bao nhiêu cán bộ TDTT được đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng Mạng lưới cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở đã được xây dựng theo các tiêu chí tại thông tư số 05/2007/TT-UBTDTT ngày 20/7/2007 [80]

Hay như tại khoản 3 Điều 11 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm vận động hội viên tham gia hoạt động thể dục,thể thao nhằm rèn luyện thân thể, nâng cao sức khoẻ; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao tổ chức biểu diễn và thi đấu thể thao quần chúng.” Khi kiểm tra, đánh giá phát triển thể dục, thể thao quần chúng, cơ quan quản

lý nhà nước phải tính toán đưa ra những tiêu chí về "vận động hội viên" là hoạt động

gì cụ thể có phải là số hội viên được phổ biến kiến thức, hướng dẫn tập luyện hay là

số hội viên qua các hình thức phổ biến tuyên truyền nay đang luyện tập thường xuyên hay đánh giá bằng cả hai chỉ số này, để có cơ sở kiểm tra, đánh giá Rồi các tiêu chí về số cuộc thi đấu, biểu diễn thể thao với số hội viên tham gia v.v.Khoản 4 Điều 11 cũng chỉ rất rõ về trách nhiệm của tổ chức xã hội- nghề nghiệp về thể thao

là vận động mọi người tham gia phát triển phong trào thể dục, thể thao, phổ biến kiến thức, hướng dẫn tập luyện thể dục, thể thao phù hợp với sở thích, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở Cách thức vận động, hướng dẫn luyện tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp

vụ đều phải lượng hoá bằng các tiêu chí về thời lượng tuyên truyền, tài liệu xuất bản,

số người tham gia…[58]

Khoản 5 điều 11 về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức và doanh nghiệp đối với phát triển thể dục, thể thao quần chúng là tạo điều kiện để công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị mình tham gia hoạt động thể dục, thể thao Những nhiệm vụ này cũng phải được chuẩn hoá để đánh giá được thế nào là tạo điều

Trang 22

9

kiện, phải chăng là tổ chức các hoạt động ngay tại cơ quan hay là cấp kinh phí thường xuyên cho mỗi thành viên đơn vị hoặc là chỉ tạo điều kiện về thời gian mỗi ngày [58]

Để thực hiện được các nội dung phát triển thể dục, thể thao quần chúng, Luật Thể dục, thể thao quy định rõ các giải pháp (biện pháp) như phát động phong trào thể dục, thể thao quần chúng (điều 12); chính sách phát triển thể dục, thể thao quần chúng trong các đối tượng người khuyết tật (điều 14); thể dục, thể thao cho người cao tuổi (điều15); luật quy định phát triển các loại hình thể dục, thể thao quần chúng phòng bệnh, chữa bệnh (điều 16), các môn thể thao dân tộc (điều 17), thể thao giải trí (điều 18), thể thao quốc phòng (điều 19) Riêng đối tượng là học sinh, sinh viên

có mục 2 chương II về Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường và đối tượng

là cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang có mục 3 chương II về Thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang [58]

Đánh giá phát triển thể dục, thể thao quần chúng không chỉ là đánh giá trong phạm vi một phong trào thể dục, thể thao quần chúng Bởi, theo điều 12 quy định là phong trào thể dục, thể thao quần chúng được nhà nước phát động nhằm động viên khuyến khích mọi người tham gia tập luyện thể dục, biểu diễn và thi đấu thể thao, hình thành thói quen rèn luyện thân thể cho mọi người Như thế người có thói quen rèn luyện thân thể là người tập luyện thường xuyên, tiêu chí thế nào là người tập luyện thường xuyên và thế nào là gia đình thể thao thì luật giao cho Uỷ ban Thể dục thể thao nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định: "Phong trào thể dục, thể thao quần chúng được đánh giá bằng chỉ tiêu số người tập luyện thường xuyên và gia đình thể thao Việc tổ chức đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng tại địa phương được thực hiện theo hướng dẫn của Uỷ ban Thể dục thể thao” Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao ở trung ương trước kia là Uỷ ban Thể dục thể thao nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm theo quy định của pháp luật phải ban hành tiêu chí cụ thể cho các nhiệm vụ phát triển thể dục, thể thao quần

Trang 23

10

chúng để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển thể dục, thể thao quần chúng và làm cơ sở tiến hành kiểm tra, đánh giá theo thẩm quyền [19], [22]

1.1.4.Thiết chế xã hội và thiết chế tổ chức quản lý thể dục thể thao

Xã hội có một số loại thiết chế sau đây:

Thiết chế kinh tế: bao gồm những thiết chế liên quan đến sản xuất và phân phối của cải, điều chỉnh sự lưu thông tiền tệ; tổ chức và phân công lao động xã hội (xí nghiệp, công ty, sàn giao dịch chứng khoán );

Thiết chế chính trị là những thiết chế hệ thống tổ chức, hệ thống giám sát quốc

tế hoặc phạm vi quốc gia (Chính phủ, Quốc hội, tổ chức chính trị, đảng phái chính trị); Thiết chế tinh thần là những thiết chế liên quan đến tổ chức hoạt động văn hoá, giáo dục, khoa học, thể thao, tôn giáo (Nhà văn hoá, câu lạc bộ, Sở thể dục thể thao, Nhà thờ );

Thiết chế giao tiếp công cộng bao gồm tất cả các khuôn mẫu, hành vi tổ chức giao tiếp công cộng (lễ hội, đám cưới, tang lễ )

Thiết chế xã hội thường biến đổi theo thể chế Thể chế là tổng hợp các phương pháp, phương thức vận hành Nhà nước và vận hành xã hội, các chế độ chính sách, sự phân chia quyền lực và lợi ích Những năm gần đây, nhờ đổi mới thể chế kinh tế, phương thức và các chính sách vận hành nền kinh tế, hình thành các thiết chế mới như doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sự đổi mới thể chế kinh tế thể hiện Nhà nước không làm bao biện cả, bắt đầu phân chia quyền lực, quyền lợi đúng với các quy luật vận hành nền kinh tế thị trường Sự hình thành và hoàn thiện thiết chế (hệ thống tổ chức, hệ thống giám sát ) phụ thuộc chính vào thể chế [22]

Thuật ngữ thiết chế được sử dụng rộng rãi ở các ngành văn hoá nước ta từ những năm 70 của thế kỷ trước, ở ngành thể dục thể thao ít người quan tâm Trong

cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp, Nhà nước làm cả: làm kinh tế, làm văn

Trang 24

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam[71], thiết chế xã hội là khái niệm chỉ toàn

bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội Các thiết chế xã hội có nhiệm vụ: Đáp ứng các nhu cầu khác nhau của cộng đồng và của các thành viên; Điều chỉnh hoạt động; Kết hợp hài hoà các bộ phận, đảm bảo sự ổn định cộng đồng Thiết chế thể dục thể thao là chỉ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát hoạt động thể dục thể thao hội tụ đầy đủ các yếu tố: bộ máy tổ chức và nhân sự, cơ sở vật chất, nội dung hoạt động, quy chế hoạt động và giám sát, kinh phí hoạt động Loại thiết chế nào thiếu một trong những yếu tố này sẽ không hoạt động được Trong thiết chế thể dục thể thao có thiết chế Nhà nước về thể dục thể thao, thiết chế xã hội về thể dục thể thao Mỗi loại này lại có thể phân nhỏ theo một số nội dung hoạt động như: thiết chế hành chính Nhà nước, thiết chế sự nghiệp (chuyên môn) thể dục thể thao, thiết chế kinh doanh thể dục thể thao Thiết chế thể dục thể thao phụ thuộc vào thể chế quản lý thể dục thể thao Do nước ta đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên thể chế quản lý TDTT ở nước ta hiện nay còn khác biệt với các nước tiên tiến chủ yếu như sau:

Trang 25

12

Phương thức can thiệp, phân quyền lực của Nhà nước có khác biệt rõ rệt: Số ít nước tiên tiến, Nhà nước không trực tiếp làm thể dục thể thao, mà xã hội làm thể dục thể thao, trừ thể dục trường học (Mỹ, Italia ) Đa số các nước còn lại, Nhà nước và

xã hội kết hợp làm thể dục thể thao nhưng xã hội làm là chính, Nhà nước chỉ hướng dẫn và hỗ trợ Còn ở nước ta hiện nay, Nhà nước và xã hội kết hợp làm thể dục thể thao nhưng Nhà nước làm là chính, xã hội chỉ hỗ trợ một phần

Tỷ trọng đầu tư ngân sách nhà nước cho thể dục thể thao có khác biệt lớn: Ở các nước tiên tiến tỷ trọng đầu tư Ngân sách của Nhà nước cho thể dục thể thao có khác nhau, nhưng đều thấp so với đầu tư của xã hội Nguồn Ngân sách Nhà nước thường chiếm tỷ trọng 10 - 30% tổng kinh phí phát triển thể dục thể thao Còn ở nước ta, môn thể thao đạt thành tựu tốt nhất trong công tác xã hội hoá như môn bóng

đá, nguồn Ngân sách Nhà nước các cấp chi cho phát triển bóng đá vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 68%, xã hội chỉ khoảng 32% Từ tỷ trọng đầu tư thể hiện sự phân bổ quyền lực trong thể chế thể dục thể thao Nhà nước đầu tư nhiều so với xã hội, quyền lực của Nhà nước sẽ chiếm nhiều so với quyền lực của xã hội [19],[22],[34]

Từ sự khác biệt tạm thời về thể chế quản lý thể dục thể thao, ta thấy các thiết chế thể dục thể thao ở nước ta hiện nay có nhiều điểm khác biệt so với các nước tiên tiến Thiết chế quản lý hành chính Nhà nước về thể dục thể thao của ta có từ cấp Trung ương đến cấp xã, phường thị trấn, khác với các nước tiên tiến Các thiết chế này ở nước ta đang thu hẹp để chuyển sang thiết chế sự nghiệp thể dục thể thao (như trung tâm thể dục thể thao quận, huyện ) Sự chuyển đổi này vẫn cần tiếp tục thống nhất, hoàn thiện ngay từ tên gọi, đến nội dung, quy chế hoạt động và giám sát, thu chi kinh phí Nhiều đơn vị sự nghiệp sẽ mãi là sự nghiệp có thu hay sẽ là đơn vị dịch vụ công ích, cần xác định rõ hơn Khái niệm thiết chế chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội Nhờ các tổ chức xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng.Về mặt tổ chức, tổ chức xã hội là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại

Trang 26

13

diện cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn có hệ thống giám sát không mang những hình thức có tổ chức Đó là phong tục, tập quán,

dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng xã hội Các tổ chức xã hội đều có nhiệm vụ: đáp ứng các loại nhu cầu khác nhau của cộng đồng và của các thành viên, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận trong cộng đồng và của các thành viên, kết hợp hài hoà các bộ phận, đảm bảo sự ổn định của cộng đồng [19],[22],[34]

Thiết chế thể dục thể thao là chỉ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát hoạt động thể dục thể thao hội tụ đầy đủ các yếu tố: bộ máy tổ chức và nhân sự, cơ sở vật chất, nội dung hoạt động, quy chế hoạt động và giám sát, kinh phí hoạt động Những yếu tố đó phối hợp chặt chẽ với nhau đảm bảo cho thiết chế hoạt động có mục đích đặt ra

Trong thiết chế thể dục thể thao có thiết chế Nhà nước về thể dục thể thao, thiết chế xã hội về thể dục thể thao Mỗi loại này lại có thể có cấu trúc theo một số nội dung hoạt động như: thiết chế hành chính Nhà nước, thiết chế sự nghiệp (chuyên môn) thể dục thể thao, thiết chế kinh doanh TDTT

Thiết chế TDTT phụ thuộc vào thể chế quản lý thể dục thể thao Do nước ta đang chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lên công nghiệp hoá vận hành từ kế hoạch bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên thể chế quản lý thể dục thể thao ở nước ta hiện nay còn khác biệt với các nước tiên tiến ở chỗ xã, phường nông thôn là cái nền cơ bản của xã hội [22]

Vì vậy, rất cần thiết nhằm phát triển TDTT sâu rộng ở cơ sở xã, phường, thị trấn dưới các loại câu lạc bộ thể dục thể thao sự nghiệp của Nhà nước, cần phát triển các loại hình câu lạc bộ thể dục thể thao khác [65]

TDTT cho mọi người là một mặt cấu thành TDTT hiện đại cùng với thể thao thành tích cao Đối tượng của TDTT cho mọi người là mọi người dân trong mọi độ

Trang 27

14

tuổi tham gia tập luyện TDTT.Do điều kiện sống ngày càng cao, năng suất lao động tăng không ngừng nên nhu cầu nghỉ ngơi chăm lo đến sức khoẻ con người ngày càng trở thành vấn đề bức xúc trong cuộc sống Số ngày lao động trong tuần, tháng năm giảm, số giờ lao động ngày tuần rút ngắn, con người có điều kiện nghỉ ngơi thư giãn giải trí vui chơi và rèn luyện bản thân về thể lực Thời gian cho vận động tăng, con người qua thực tiễn tham gia vận động hiểu sâu hơn vai trò hiệu quả của vận động với bản thân, con cái, giao lưu quan hệ xã hội Nhờ đó, các nhu cầu liên quan đến vận động như thông tin khoa học kỹ thuật sức khoẻ vận động, chi tiêu cho trang thiết

bị vận động chăm sóc sức khoẻ cũng như các tổ chức, quản lí, văn hoá xã hội tăng theo Con người tiếp cận và ứng dụng nhanh các trang thiết bị mới về chăm sóc sức khoẻ, làm đẹp cho cá nhân và cộng đồng Tính xã hội hóa của công việc này đã trở thành một phần không thể thiếu trong quản lí phát triển xã hội văn minh hiện đại trên phạm vi toàn cầu [32],[91],[94],[100]

TDTT cho mọi người không tách khỏi TDTT xã hội, cho dù xu hướng sống ở thành phố hiện nay mang màu sắc “gói gọn” trong gia đình, ít quan hệ với cộng đồng trong các hình thức hoạt động xã hội lớn cũng như nhỏ (câu lạc bộ) ngay tại nơi gia đình sống Hiện nay, hoạt động tập luyện TDTT dựa vào phúc lợi xã hội chịu tác động trực tiếp của xã hội như đầu tư của nhà nước, trình độ kinh tế văn hoá, phát triển khoa học kĩ thuật công nghệ

Điều kiện chất lượng sống, thời gian lao động và thời gian nhàn rỗi, trình độ, thông tin về sức khoẻ con người và cả TDTT (hạt nhân là vận động thể lực) là biện pháp quyết định Các mặt liên quan khác như chi phí cho rèn luyện sức khỏe, sử dụng thời gian nhàn rỗi, hình thức vận động đa dạng hiệu quả, kế hoạch tập luyện…cũng là những nhân tố không thể thiếu trong hoạt động hiệu quả của loại hình tập luyện này [30],[33],[45]

1.1.5 Loại hình và loại hình tập luyện thể dục thể thao

Trang 28

15

Để có khái niệm mô hình hoạt động thể dục thể thao cơ sở, trước hết cần nghiên cứu phân loại các loại hình tập luyện thể dục thể thao cơ sở để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình và các thiết chế tổ chức, quản lý loại hình tập luyện TDTT dựa vào phúc lợi xã hội Cơ sở lý luận và căn cứ để tiếp cận sự phân loại và cơ cấu loại hình tập luyện thể dục thể thao cơ sở ta đề cập một số khái niệm về loại hình như sau:

Theo từ điển triết học do Nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva xuất bản năm 1986 bằng tiếng Việt thì khái niệm loại hình như sau: “Loại hình là phương thức cấu tạo của lôgic hình thức, ở đây người ta tiến hành sự phân biệt các đối tượng thuộc những cấp độ (những loại hình) khác nhau” [71,tr.201]

Theo “Từ điển Quản lý xã hội” của Nguyễn Tuấn Dũng, Đỗ Minh Hợp do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2002, các tác giả coi loại hình: “Là các mối liên hệ chung ổn định giữa các chủ thể hoạt động quản lý trong quá trình thực hiện các mục đích hoạt động và phát triển các khách thể quản lý Đóng vai trò

cơ sở để tách biệt các loại quan hệ quản lý là thành phần đa dạng của các yếu tố và các thiết chế xã hội có lợi ích, cũng như đặc điểm phát triển, mục đích chung và đặc thù Các loại quan hệ quản lý cơ bản là quan hệ tập trung độc lập, phối hợp và hợp tác, trách nhiệm, tranh đấu ” [26, tr 240] Với quan điểm lý luận trên có thể xem loại hình không chỉ phân loại theo hình thức mà phải phân loại theo mối quan hệ hoạt động giữa chủ thể và khách thể, giữa các loại hình với nhau

Theo Nguyễn Như Ý, Từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin xuất bản năm 1999 cho rằng: “Loại hình là một tập hợp những sự vật, hiện tượng có cùng chung những đặc trưng cơ bản nào đó như loại hình nghệ thuật, loại hình báo chí, loại hình ngôn ngữ ”[82].Như vậy, trên cơ sở cấu tạo của lôgic hình thức về các khái niệm loại hình sẽ là căn cứ để phân loại các loại hình tập luyện thể dục thể thao cơ sở

Trang 29

Nơi sinh sống: Chỗ ở của người dân theo địa bàn thôn, xóm, đường, phố, khu dân cư trong đơn vị xã, phường, thị trấn Căn cứ chủ thể quản lý loại hình tập luyện TDTT, chủ thể quản lý ai, cơ quan nào, tổ chức nào trực tiếp quản lý, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, cán bộ… hay còn gọi là quản lý trực tiếp [56]

Các thiết chế thể dục thể thao cơ sở ở nước ta thiếu đa dạng hoá như ở các nước tiên tiến Vì vậy, bên cạnh các loại câu lạc bộ thể dục thể thao sự nghiệp có thu của Nhà nước, cần phát triển các loại hình câu lạc bộ thể dục thể thao khác: Câu lạc

bộ thể dục thể thao hoặc cơ sở thể thao giải trí phúc lợi công cộng do xã hội tự quản; Câu lạc bộ thể dục thể thao tư nhân hoặc cổ phần; Câu lạc bộ thể dục thể thao của các ngành, Hội quần chúng trên địa bàn phường, xã, thị trấn Đa dạng hoá thiết chế thể dục thể thao cơ sở, đa dạng hoá sở hữu tài sản thể dục thể thao là xu thế phát triển chung của thế giới

1.1.6 Xã hội hoá thể dục thể thao

Xã hội hóa dùng trong tổ chức và các hoạt động TDTT Tinh thần cốt lõi của

xã hội hóa là đa dạng hóa tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả, gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước[39] Đại hội Đảng VII đã tiếp tục khẳng định: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa”[1 tr 99]

Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa-xã hội-giáo dục đã nêu rõ: “Xã hội

Trang 30

17

hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, và tinh thần của nhân dân”[15]

Theo các tài liệu về Xã hội học đã đưa ra một số giải pháp triển khai chủ trương

xã hội hóa của thể dục thể thao bao gồm những biện pháp cơ bản sau:Đa dạng hóa các loại hình tổ chức đơn vị, thể dục thể thao quần chúng ở cơ sở (khu dân cư, xã phường, quận, huyện, cơ quan xí nghiệp, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang);Tiếp tục cải tiến hệ thống thi đấu thể dục thể thao, làm tăng nguồn thu và nguồn tài trợ từ các cuộc thi đấu thể dục thể thao, làm lành mạnh hóa thị trường thi đấu thể dục thể thao;Đa dạng hóa các hình thức tổ chức đào tạo tài năng thể thao;Đẩy mạnh vai trò hoạt động của các tổ chức xã hội về thể dục thể thao - một nội dung quan trọng thực hiện xã hội hóa;Khuyến khích hỗ trợ xây dựng các công trình thể thao, sản xuất và lưu thông thiết bị, dụng cụ, hàng hóa thể thao để tăng tài sản thể dục thể thao trong xã hội, đáp ứng nhu cầu thể dục thể thao ngày càng tăng của nhân dân, giảm bớt chi ngân sách nhà nước; khuyến khích hỗ trợ mở rộng thị trường thể dục thể thao theo định hướng của nhà nước;Đẩy mạnh xã hội hóa thể dục thể thao cần xây dựng và hoàn thiện thiết chế quản lý về thể dục thể thao; Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội về thể dục thể thao; Cơ chế phối hợp giữa hoạt động giữa ngành thể dục thể thao với các ngành, các đoàn thể chính trị-xã hội, các doanh nghiệp để phát triển thể dục thể thao[16], [21], [92]

1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng về thể dục thể thao trường học

Đảng lãnh đạo công tác TDTT nói chung và công tác TDTT trường học nói riêng bằng việc hoạch định chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo và được thể hiện trong các thời kỳ cách mạng

Một trong những mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn

2006-2010 đã được Đại hội Đảng (khóa X) xác định là: “GD&ĐT cùng với KH&CN là

Trang 31

18

quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH-HĐH đất nước” Đề cập đến vấn đề sức khỏe của nhân dân, Đại hội cũng khẳng định cần phải “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Tăng cường thể lực của thanh niên” [2]

Báo cáo chính trị tại Đại hội XI khẳng định phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững

đất nước Vì vậy, Đại hội yêu cầu phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học” [3]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ

sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước ” Theo đó, cần phải “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”[59]

Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của BCT về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020; trong phần đánh giá những tồn tại, hạn chế đã chỉ rõ: “GDTC và hoạt động thể thao trong HSSV chưa thường xuyên và kém hiệu quả” Nghị quyết đã đề ra các giải pháp nâng cao

chất lượng GDTC và hoạt động thể thao trường học, một trong những giải pháp quan trọng là đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HSSV Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thể dục cho trường học…[12]

Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị

quyết 29/NQ-TƯ “về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT; đáp ứng yêu cầu

Trang 32

CNH-19

HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” Nghị quyết đã đề ra quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” và

“Đổi mới hệ thống GD theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [4],

Có thể nói Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) là sự tổng kết toàn diện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về phát triển GDĐT trong thời kỳ CNH-HĐH, qua đó đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện GDĐT từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện… Mục tiêu của Nghị quyết sẽ tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GDĐT, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Đồng thời cũng mở ra cơ hội để ngành giáo dục đào tạo quyết tâm đổi mới toàn diện công tác giáo dục đào tạo, trong đó có đổi mới, cải tiến công tác TDTT trường học ngày càng hiệu quả, chất lượng hơn

1.3 Vị trí và vai trò của giáo dục thể chất và thể thao trường học trong đổi mới căn bản toàn diện giáo dục

1.3.1 Vị trí và vai trò của giáo dục thể chất trong đào tạo thế hệ trẻ

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đã chỉ rõ

“Qui định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học” Điều đó đã khẳng định vị trí và vai trò của GDTC trong đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước – lực lượng lao động mới quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong thế kỷ 21 [23],[60]; Luật giáo dục (2005) [57], Luật thể dục, thể thao (2006) [58], khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển TDTT trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao Tuy nhiên, thông qua đó đã cho thấy GDTC trường học chưa phát triển tương xứng với trọng trách được giao phó, chưa đáp ứng được kỳ vọng của toàn xã hội và của học

Trang 33

mở rộng, phát huy vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của công tác TDTT nói chung, GDTC trường học nói riêng Với gần 30.000 trường phổ thông các cấp được phân bố tới từng xã, phường trên lãnh thổ đất nước đã cho thấy sức lan tỏa và sự ảnh hưởng của GDTC trường học trong cộng đồng dân cư và trong mỗi gia đình Đó chính là điều kiện để GDTC trường học đón nhận sự quan tâm và tạo điều kiện của toàn xã hội [73], [74]

GDTC là môn học bắt buộc duy nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiến hành đào tạo từ nhà trường mẫu giáo đến đại học, điều đó không chỉ khẳng định

vị thế của môn học trong công tác giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ, mà còn là điều kiện để GDTC trường học tác động có chủ đích, có kế hoạch và khoa học đến từng giai đoạn phát triển của nhi đồng và thanh thiếu niên Việt Nam [11]

Đối với học sinh, sinh viên, GDTC không chỉ là môn học, mà còn là nội dung, hình thức và phương tiện hoạt động trong quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường; là nội dung và phương thức để nhà trường các cấp triển khai các hoạt động giáo dục học sinh GDTC trường học thực hiện chức năng giao tiếp và liên kết trong giáo dục học sinh, sinh viên, tạo ra bầu không khí thân thiết và hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh, giữa các nhà trường; truyền tải những giá trị chân chính của TDTT đến từng học sinh, sinh viên, thông qua đó giáo dục ở các em những tư tưởng, tình cảm và nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa; góp phần giáo dục và phát triển thị hiếu, thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên

Trong tiến trình thực hiện chủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và nhà nước, những lợi thế nêu trên của GDTC trường học đã khẳng định trường học là địa

Trang 34

Đối với các nhà trường đại học và cao đẳng, GDTC chưa thực sự gắn liền với nhu cầu phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên, nội dung chương trình và hình thức tổ chức đào tạo chưa lôi cuốn và phát huy được tính tích cực, tự giác của

họ trong quá trình học tập và rèn luyện

Về cơ bản, nội dung môn học GDTC trong trường học được thiết kế và xây dựng chưa xuất phát từ điều kiện sức khỏe, giới tính, năng lực sở trường và trình độ thể lực của học sinh, sinh viên; người học không có nhiều lựa chọn đối với môn thể thao và hình thức tập luyện phù hợp với nhu cầu và điều kiện của bản thân; tiêu chí kiểm tra đánh giá được xác định mang tính đồng loạt (ngoài nhóm sức khỏe yếu), vì vậy đối với không ít học sinh, sinh viên, môn học GDTC trở thành “gánh nặng” trong quá trình học tập

Trong hơn quá trình xây dựng và phát triển Đảng, Nhà nước, luôn coi phát triển sự nghiệp TDTT là một bộ phận quan trọng thuộc chính sách xã hội Do đó, công tác TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khoẻ của nhân dân, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội Các quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện qua các văn kiện Nghị quyết đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển TDTTnhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam; góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước [68], [69]

Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định hướng cơ bản để xác định vị trí và mối quan hệ của toàn bộ sự nghiệp thể dục, thể thao đối với các

Trang 35

22

lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội các mối quan hệ nội tại của TDTT Vì vậy, đó chính là các cơ sở để lựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT trong một thời kỳ tương đối

dài [23], [73]

1.3.2 Nội hàm giáo dục thể chất và thể thao trường học

GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển

có chủ định các tố chất vận động của con người [78], [94], [95] GDTC bao gồm dạy học động tác và giáo dục các tố chất thể lực Dạy học động tác là nội dung cơ bản của của quá trình giáo dưỡng thể chất Đó là quá trình tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động

Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng này của GDTC gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và giáo dục lao động Thông qua GDTC, hình thái và chức năng các

hệ cơ quan trong cơ thể được tác động, thay đổi và từng bước hoàn thiện, các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động được hình thành, năng lực vận động được đảm bảo GDTC trường học bao gồm GDTC nội khóa và hoạt động thể thao ngoại khóa [8]

1.3.2.1 Giáo dục thể chất nội khóa

Giờ học TDTT trong các trường học các cấp hoặc các buổi huấn luyện thể thao trong các trường năng khiếu thể thao chính là hiện thân của giờ học GDTC nội khóa (hay còn gọi là GDTC chính khóa) Đây là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành theo kế hoạch trong nhà trường các cấp Bản thân giờ học GDTC nội khóa có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội Thông qua việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để phát triển cơ thể một cách hài hòa, bảo vệ và củng cố sức

Trang 36

23

khỏe, hình thành năng lực pháp quy), đối tượng chuyên môn.Nhiệm vụ trọng tâm của giờ học GDTC nội khóa là trang bị tri thức chuyên môn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống và cho thể thao Trong các trường học, giờ học thể chất nội khóa có ưu điểm là được tổ chức chặt chẽ theo thời khóa biểu trên sân tập hoặc trong nhà tập, ở bể bơi… dưới sự điều khiển của giảng viên hoặc huấn luyện viên theo một kế hoạch giảng dạy chung, thống nhất và có tính đến là HSSV cùng lứa tuổi và trình độ học vấn với số lượng ổn định Các hoạt động vận động với nội dung chủ yếu là gồm các bài tập được quy định trong chương trình

Giờ học GDTC nội khóa có thể được chia thành ba phần: chuẩn bị, cơ bản và kết thúc Bản chất của việc xây dựng cấu trúc giờ học hợp lý là xác định trật tự giải quyết nhiệm vụ sư phạm phù hợp với các trạng thái khả năng hoạt động thể lực của người học và từng bước phát triển lên mức cao hơn, nhằm mục đích tổ chức giao lưu trong các cộng đồng dân cư, giữa các trường chủ yếu ở các môn điền kinh, thể dục và các môn bóng[13],[81]

1.3.2.2 Hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa

Hoạt động TDTT ngoại khóa có vị trí quan trọng trong giáo dục và trong TDTT trường học nói chung và trong hệ thống giáo dục đào tạo đại học nói chung Các hoạt động ngoại khóa cùng với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm

vụ giáo dục Vì thế, hoạt động TDTT ngoại khóa là một bộ phận cấu thành quan trọng của TDTT trường đại học, là con đường trọng yếu để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của TDTT trường học Do đó, không có TDTT ngoại khóa, thì TDTT trường học cũng không hoàn chỉnh

Là hoạt động TDTT tự nguyện có tổ chức được tiến hành ngoài giờ chính khóa, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe của học sinh, sinh viên Hoạt động TDTT ngoại khóa rất đa dạng bao gồm hoạt động TDTT được quy định trong giờ giải lao, huấn luyện đội tuyển của trường phổ thông, tập luyện trong các

Trang 37

24

CLB TDTT, các hoạt động thi đấu thể thao.Hoạt động TDTT ngoại khóa có thể thỏa mãn nhu cầu tham gia hoạt động TDTT của sinh viên, thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao, thúc đẩy cho sự phát triển nhân cách toàn diện, hình thành chế độ lao động - nghỉ ngơi khoa học, phát triển toàn diện đức, trí, thể, mĩ dục, làm phong phú sinh hoạt nghiệp vụ của sinh viên [44],[46],[88]

Các buổi tập ngoại khóa có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn giờ học chính khóa, đòi hỏi ý thức tự tập luyện, tinh thần độc lập sáng tạo cao Nhiệm vụ

cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khóa phụ thuộc vào sở thích và hứng thú cá nhân, của một bộ phận học sinh, sinh viên có nhu cầu ham thích tập luyện TDTT trong thời gian nhàn rỗi để qua vận động tập luyện giúp nâng cao chất lượng giờ học nội khóa góp phần phát triển năng lực, thể chất toàn diện và nâng cao thành tích thể thao cho học sinh, sinh viên [53],[69]

Giờ học ngoại khóa nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học nội khóa, được tiến hành vào giờ tự học của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn viên hoặc tự tập luyện tự do Ngoài ra, còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học còn có: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội đại biểu từng môn thể thao, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hang ngày, thể dục thể thao buổi sáng, giờ tự tập luyện của học sinh, sinh viên, phong trào tự rèn luyện thân thể Như buổi tập nội khóa, cấu trúc buổi tập ngoại khóa phải đảm bảo

cơ thể dần dần bước vào hoạt động điều kiện tốt nhất để thực hiện phần cơ bản và phần kết thúc của buổi tập [51],[72],[78]

Do nội dung buổi tập ngoại khóa có sự khác biệt, nên cách tổ chức tập luyện

có đặc trưng riêng.Hoạt động ngoại khóa với chức năng động viên hấp dẫn nhiều người hơn tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện thân thể tham gia cổ vũ phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể

Trang 38

25

Mục đích của tập luyện TDTT ngoại khóa tổ chức trong thời gian nhàn rỗi của học sinh, sinh viên có nội dung: giáo dục những hiểu biết và những kiến thức sử dụng tự giác các phương tiện giáo dục thể chất khác nhau trong dời sống và hoạt động hàng ngày Những buổi tập ngoại khóa có nội dung khác nhau giúp cho học sinh, sinh viên nắm được nội dung trong chương trình học tập về TDTT, chuẩn bị cho họ thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, ngoài ra giúp hoàn thiện các nội dung thể thao vận động tự chọn

Tập luyện TDTT ngoại khóa là hình thức tập luyện tự nguyện, nhằm tăng cường vận động để củng cố sức khỏe, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể và chữa bệnh, đồng thời giáo dục các tố chất vận động và ý chí, tiếp thu các kỹ năng kỹ xảo vận động [10],[41],[95]

Giữa hình thức tập luyện nội khóa và ngoại khóa có mối liên hệ lẫn nhau Tập luyện ngoại khóa giữ vai trò, vị trí quan trọng là bổ xung và củng cố hiệu quả công tác giáo dục thể thất trong nhà trường và góp phần tạo nếp sống vận động và rèn luyện thân thể, lành mạnh, sôi nổi, phong phú vui tươi, lạc quan, loại bỏ được cuộc sống trống rỗng vô vị, chơi bời lêu lổng của một số học sinh, sinh viên trong thời gian nhàn rỗi, nhất là học sinh, sinh viên thành thị Việc kết hợp tốt giữa tập luyện thể dục thể thao nội khóa với ngoại khóa, giúp cho con người vận động có sức khỏe phát triển, có thân hình đẹp và tạo điều kiện nâng cao thành tích học tập của học sinh, sinh

viên [2], [3], [29], [63]

Vị trí của hoạt động TDTT ngoại khoá: Hoạt động TDTT ngoại khoá có vị trí

quan trọng trong giáo dục và TDTT trường học Các hoạt động ngoại khoá kết hợp cùng với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục TDTT ngoại khoá cùng với GDTC nội khóa là một thể thống nhất của TDTT trường học và song song tồn tại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau không thể thiếu mặt nào Trong quá trình tổ chức tập luyện thể thao còn

có thể giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ: tăng cường sức khỏe, phát triển toàn diện

Trang 39

26

và hài hòa; giáo dục tố chất thể lực và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết trong sinh hoạt và lao động; trang bị những tri thức cần thiết để thực hành TDTT trong lao động và đời sống hàng ngày; hình thành thế giới quan duy vật, sự giác ngộ về chính trị, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, ý thức tập thể…, đào tạo lực lượng hậu bị cho đội tuyển Như vậy có thể đúc kết lại, trong khâu tổ chức, hướng dẫn TDTT ngoại khoá cần nắm rõ đặc điểm phát triển tâm sinh lý đối tượng sinh viên (lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, chuyên ngành, nhu cầu, sở thích thể thao…), các điều kiện cần và đủ để thực hiện công tác này [84],[85],[86]

Cần lưu ý một số nguyên tắc cơ bản sau đây: Phù hợp với xu hướng phát triển chung và đạt hiệu quả thực tiễn; Đáp ứng nhu cầu, sở thích của đối tượng; Tự nguyện,

tự giác Có chương trình, kế hoạch cụ thể và có thể lồng ghép khoa học giữa tập luyện

và thi đấu phong trào; Xã hội hóa công tác TDTT ngoại khoá, đảm bảo tính phổ thông đại chúng

Mục đích của tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa: Nhằm thỏa mãn nhu cầu vận

động của học sinh, sinh viên: Trong suốt những năm học phổ thông, học sinh chỉ được

có khoảng 700 giờ học TDTT nội khóa, trong khi đó thời gian tập luyện TDTT ngoại khoá nhiều gấp bội Vận động là nhu cầu cơ bản nhất của HSSV vì thế, phải có đủ sân bãi, phòng tập TDTT là điều kiện không thể thiếu để thành lập một trường học đủ chuẩn

Thỏa mãn nhu cầu vận động cũng là tiêu chí tiên quyết khi phụ huynh lựa chọn trường học cho con em họ Thực tế cho thấy, việc học GDTC nội khóa mỗi tuần chỉ một buổi (2 - 3 tiết) và thực hiện nhanh chóng trong 2 - 3 học kỳ là chưa đáp ứng nhu cầu vận động, rèn luyện thể chất của HSSV Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng cảnh báo: Giảm hoạt động thể chất và chương trình GDTC trong trường học là một xu hướng đáng báo động trên toàn thế giới[100]

Các điều kiện đảm bảo cho phát triển thể thao trường học rất cần sự ủng hộ của Ban lãnh đạo và các bộ phận chức năng các trường đại học qua việc đầu tư kinh phí cho

Trang 40

27

hoạt động TDTT ngoại khoá; Các điều kiện cơ sở vật chất, sân bãi, phòng tập, trang thiết bị phục vụ TDTT ngoại khoá [42]; Đội ngũ cán bộ, giảng viên TDTT đủ, có năng lực chuyên môn tốt và có tâm huyết với phong trào; Sinh viên có nhận thức đúng đắn

và có nhu cầu lớn về TDTT ngoại khoá và sự hỗ trợ và phối hợp đồng bộ giữa các tổ

chức xã hội, các hiệp hội, liên đoàn thể thao

Ngoài các điều kiện trên, để TDTT ngoại khoá phát triển thuận lợi không thể không kể đến vai trò của Đoàn Thanh niên, Phòng công tác chính trị học sinh, sinh viên, Hội thể thao trường, Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp khu vực, Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam, Hội Sinh viên, các Liên đoàn thể thao và một số doanh nghiệp, các mạnh thường quân, nhà tài trợ…

Chính các tổ chức này đã đứng ra hoạch định, huy động kinh phí, tổ chức các giải

đấu cấp khu vực và quốc gia hàng năm cho HSSV

1.4 Đặc điểm sinh lý, tâm lí độ tuổi sinh viên

1.4.1 Đặc điểm sinh lý

Lứa tuổi sinh viên, xương và khớp bắt đầu ổn định, sau lứa tuổi 20-25 xương

có thể cốt hoá hoàn toàn và không thể phát triển thêm nữa Ở lứa tuổi sinh viên, chiều cao đứng cơ thể có thể tăng thêm được vài cm, do sự phát triển của các sụn đệm giữa các khớp xương Các tổ chức sụn đệm này dần dần xẹp lại ở vào sau tuổi

40 và cũng làm cho chiều cao đứng của cơ thể giảm đi vài centimét Như vậy, có thể nói lứa tuổi 20 -25 là “ Thời điểm chiều cao đứng của cơ thể cao nhất ” của cuộc đời con người Các bài tập thể chất có thể làm tăng khả năng phát triển chiều cao đứng của cơ thể, song phải được bắt đầu tập luyện ở lứa tuổi sớm hơn lứa tuổi sinh viên

Ngày đăng: 09/04/2020, 09:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w