Điều đó do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chính là do những hạn chế trong quản lý nhà nước, cụ thể là hệ thống văn bản quy phạm phạm pháp luật, cơ chế chính sách mang tín
Trang 1–––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LOAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN THỂ THAO THÀNH TÍCH CAO Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2018
Trang 3–––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LOAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN THỂ THAO THÀNH TÍCH CAO Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Mã số: 62140104
Cán bộ hướng dẫn khoa học :
CBHD 1: PGS TS Lê Đức Chương
CBHD 2: TS Trần Đức Phấn
HÀ NỘI - 2018
Trang 4Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa tác giả nào công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Phương Loan
Trang 51.1 Những vấn đề cơ bản của quản lý và quản lý nhà nước về thể
1.1.1 Năng lực quản lý nhà nước
1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý
1.1.3 Yếu tố cấu thành hoạt động quản lý quản lý nhà nước về thể
dục thể thao
4
6
8 1.2.Quản lý nhà nước đối với thể thao thành tích cao và thể thao
1.2.1 Khái niệm và nội hàm của thể thao thành tích cao 11 1.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về thể thao thành tích cao 14 1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực thể thao thành tích cao
1.2.4 Quản lý huấn luyện viên
1.2.5 Quản lý cán bộ lãnh đạo và nhân viên nghiệp vụ
1.2.6 Quản lý vận động viên và quản lý quá trình huấn luyện
15
20
25
27 1.3 Chính sách đầu tư, tài chính cho thể thao thành tích cao 35
Trang 6gia trên thế giới 41
1.5.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 44 1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 46 CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP
2.1.Đối tượng nghiên cứu 50 2.2 Phương pháp nghiên cứu 50 2.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử
2.2.3 Phương pháp phân tích SWOT
50
51
51
2.2.5 Phương pháp chuyên gia
2.2.6 Phương pháp thống kê mô tả
2.2.7 Phương pháp toán học thống kê
52
52
55
3.1 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển thể
thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp tại Việt Nam 57 3.1.1 Đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp luật về thể thao
3.1.2 Tác động của quản lý nhà nước đối với phát triển thể thao
Trang 7với thể thao thành tích cao 70 3.1.4 Đánh giá thực trạng lập kế hoạch và thực hiện chính sách đầu
tư, tài chính thể thao thành tích cao
nhà nước đối với phát triển thể thao thành tích cao và thể thao
chuyên nghiệp tại Việt Nam một cách bền vững
LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
129
Trang 8CĐ Chế độ CLB Câu lạc bộ
CS Chính sách
GP Giải pháp HLTT Huấn luyện thể thao HLV Huấn luyện viên TDTT Thể dục thể thao
TT Thực trạng TTCN Thể thao chuyên nghiệp TTHLTT Trung tâm huấn luyện thể thao TTTTC Thể thao thành tích cao
TVH Thế vận hội VĐV Vận động viên XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 9Tên bảng Trang 3.1 Số liệu chi cho đầu tư phát triển giai đoạn 2011 – 2015 70 3.2 Số liệu các mục chi cho sự nghiệp thể dục thể thao Sau trang
70 3.3
Kết quả so sánh chênh lệch giữa giá trị trung bình mức độ
quan trọng và hiện trạng thực hiện các chính sách, chế độ
cho HLV và VĐV
Sau trang
73 3.4 Các môn thể thao Olympic và khả năng phát triển ở Việt
Nam
Sau trang
86
3.6 Các môn thể thao chuyên nghiệp hoàn toàn doanh nghiệp đầu tư 90 3.7 Các môn thể thao chuyên nghiệp do nhà nước và xã hội liên kết đầu tư 90 3.8 Các môn thể thao chuyên nghiệp gắn liền với hoạt động giải trí do xã hội đầu tư 91
93 3.10 Các giải pháp hoàn thiện và phát huy vai trò chủ đạo của nhà nước Sau trang 94 3.11 Các giải pháp cải cách và hoàn thiện hệ thống thi đấu Sau trang
94 3.12 Các giải pháp đổi mới công tác quản lý và huấn luyện Sau trang
95
95 3.14 Các giải pháp tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ Sau trang
96 3.15 Giải pháp tăng cường giáo dục văn hóa và bảo đảm an sinh
xã hội
Sau trang
96 3.16 Các giải pháp tăng cường công tác giáo dục chính trị tư
tưởng và phẩm chất đạo đức
Sau trang
97 3.17 Kiểm nghiêm tương quan giữa cấp thiết và tính khả thi của
các giải pháp phát triển thể thao thành tích cao Sau trang 98 3.18 Phân tích nhân tố cho thang đo mức độ quan trọngcủa các
chính sách, chế độ đặc thù cho các môn thể thao Olympic Sau trang 99
104 3.20 Chế độ chính sách đặc thù về thực phẩm chức năng cho
VĐV
Sau trang
105
Trang 103.21 Chế độ chính sách đặc thù về tiền công VĐV Sau trang
105 3.22 Chính sách chế độ hợp đồng và chế độ tiền lương cho HLV, chuyên gia, bác sỹ, kỹ thuật viên Sau trang
105 3.23 Chính sách tập luyện nước ngoài theo chương trình tập huấn đặc thù Sau trang 106 3.24 Chính sách chế độ bảo hiểm, trợ cấp cho VĐV, HLV Sau trang
106
106 3.26 Chính sách, chế độ cung cấp trang thiết bị tập luyện và thi
đấu đặc thù theo môn thể thao
Sau trang
106 3.27 Chính sách, chế độ sử dụng thiết bị khoa học
trong quá trình tập luyện
Sau trang
107 3.28 Chế độ đảm bảo tiện nghi nơi ăn, ở, sinh hoạt cho VĐV,
HLV, chuyên gia, bác sỹ của các đội tuyển quốc gia
Sau trang
107 3.29 Chế độ chăm sóc sức khỏe, y tế, chữa trị chấn thương cho VĐV Sau trang 107 3.30 Chế độ kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện và giám định khoa học VĐV Sau trang 108 3.31 Chế độ đảm bảo hồi phục sau tập luyện cho các đội tuyển quốc gia Sau trang 108 3.32 Chính sách, chế độ học tập văn hóa và hướng nghiệp cho VĐV Sau trang 108 3.33 Chế độ đảm bảo các hoạt động giáo dục, giải trí cho VĐV Sau trang 108
3.35 Chính sách chế độ khen thưởng thành tích đạt huy chương,
kỷ lục, đạt chuẩn Olympic
Sau trang
109 3.36 Chế độ khen thưởng cho HLV, chuyên gia theo thành tích
của VĐV
Sau trang
109 3.37 Chính sách ưu đãi về nhà đất, khen thưởng bằng hiện vật cho VĐV Sau trang 110 3.38 Chính sách khuyến khích thông qua quảng cáo, tài trợ theo
danh hiệu VĐV
Sau trang
110 3.39 Các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính liên quan đến đối tượng thụ hưởng Sau trang 110 3.40 Các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính liên quan đến các điều kiện đảm bảo Sau trang 111
Trang 113.41 Các giải pháp đầu tư tài chính của nhà nước Sau trang
112
113
3.46 Kiểm chứng tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải phápđầu tư, tài chính đặc thù các môn thể thao
Olympic
Sau trang
115
1.3 Mô hình hoạch định mục tiêu và quy hoạch đầu tư của nhà
3.2 Mô hình hoàn cảnh thị trường câu lạc bộ thể thao chuyên
nghiệp
88
3.3 Định hướng nội dung trong các giải pháp phát triển thể thao
thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp
91
Tên biểu đồ
3.1 Giá trị trung bình của mức độ quan trọng các chính sách,
chế độ trong nhóm chính sách chế độ cho con người
101
3.2 Giá trị trung bình của mức độ quan trọng các chính sách,
chế độ đầu tư vật chất
102
3.3 Giá trị trung bình của các mức độ quan trọng trong nhóm
chính sách, chế độ đầu tư, tài chính cho các lĩnh vực phục
vụ và điểu kiện đảm bảo
103
3.4 Giá trị trung bình của các mức độ quan trọng trong nhóm
chính sách, chế độ khen thưởng khuyến khích điều kiện
đảm bảo
104
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU Trong bối cảnh đất nước ta đang trên con đường hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, với những thời cơ và vận hội mới, đồng thời cũng
có nhiều khó khăn và thách thức, nhiệm vụ từng bước nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước [2],[84] Với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững thì vai trò quản
lý nhà nước ngày càng trở nên bức thiết Song trên thực tế vấn đề nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải nghiên cứu để hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn hoạt động
Trong đó, quản lý nhà nước ngành TDTTcủa nước ta cũng rất cần có bước phát triển mới để đáp ứng những yêu cầu phát triển của xã hội [14],[15],[16] Thực tế cho thấy, TDTT của nước ta trong những năm đất nước đổi mới đã có những thành tựu đáng tự hào, tuy nhiên chưa xứng tầm với tiến trình phát triển của toàn xã hội trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay và chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới [7],[8],[62]
Điều đó do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chính
là do những hạn chế trong quản lý nhà nước, cụ thể là hệ thống văn bản quy phạm phạm pháp luật, cơ chế chính sách mang tính đặc thù còn thiếu, nhiều văn bản không có tính khả thi khi vận dụng, những bất cập tuyển dụng, sử dụng, đào tạo đội ngũ công chức, tình trạng hẫng hụt về cơ cấu, chưa hợp lý ngành nghề, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; cơ sở vật chất phục vụ còn hạn chế; cộng với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, huấn luyện viên…chưa gắn với việc sử dụng, đồng thời chưa có chính sách thoả đáng để thu hút đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao [37],[39],[40],[53]
Trong đó, các văn bản hiện hành về chính sách phát triển các môn thể thao Olympic nói chung và chính sách đầu tư, tài chính nói riêng vẫn
Trang 13còn nhiều bất cập Một số văn bản chậm được ban hành hoặc sửa đổi, hoặc
đã được ban hành nhưng đã bị lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu đặc thù phát triển các môn thể thao Olympic Một số quy định chưa đảm bảo rõ ràng, chặt chẽ và hiệu quả đối với từng nhiệm vụ cụ thể trong quản lý; chưa xác định rõ yêu cầu quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư, tài chính và nội dung quản lý trong các khâu quy hoạch, kế hoạch, chuẩn bị đầu tư, triển khai thực hiện dự án, quản lý sử dụng vốn, quản lý khai thác dự án, còn thiếu các chế tài cụ thể để đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động đầu tư, tài chính của ngành; quy định hiện hành về phân bổ cơ cấu đầu tư, tài chính còn phân tán, chưa hợp lý nên hiệu quả đầu tư chưa cao Một số chính sách về xã hội hóa thu hút các nguồn lực cho phát triển các môn thể thao Olympic chưa được ban hành cụ thể, vẫn còn những vướng mắc, chưa tạo được môi trường khuyến khích các nhà tài trợ đầu tư cho các VĐV cấp cao, cũng như đầu tư phát triển cơ sở vật chất các môn thể thao Olympic [10], [18]
Để khắc phục những tồn tại nêu trên, thực hiện các mục tiêu phấn đấu có nhiều VĐV có trình độ thế giới, vượt qua vòng loại các đại hội Olympic đạt huy chương tại các kỳ đại hội Olympic, cần thiết có những đổi mới trong hoạt động quản lý nhà nước đối với TTTTC, nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách đầu tư, tài chính đặc thù trong việc đào tạo VĐV cấp cao các môn thể thao Olympic, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và pháp luật Việt Nam; Điều chỉnh, bổ sung những chính sách đã ban hành cho phù hợp với thực tiễn; loại bỏ những chính sách, chế
độ không còn phù hợp, cản trở sự phát triển
Đây là một nhiệm vụ quan trọng cấp bách và cần thiết, xuất phát từ yêu cầu đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với phát triển thể thao thành tích cao ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập”
Trang 14MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng, nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước đối với TTTTC và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp thể dục thể thao nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển TTTTC và thể thao chuyên nghiệp tại Việt Nam
Mục tiêu 2: Một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển TTTTC và thể thao chuyên nghiệp tại Việt Nam theo hướng phát triển bền vững
1.4 Giả thuyết khoa học của đề tài
Các mục tiêu nghiên cứu nêu trên nếu hoàn thành và được ứng dụng thành công trong quản lý nhà nước đối với TTTTC sẽ góp phần nâng cao hiệu quả năng lực quản lý nhà nước về TTTTC và nâng cao thành tích thể thao
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề cơ bản của quản lý và quản lý nhà nước về thể dục thể thao
1.1.1 Năng lực quản lý nhà nước:
Năng lực thể hiện công lực, sức mạnh của sự tác động, điều khiển hay định hướng mục tiêu của chủ thể điều khiển tới các đối tượng bị điều khiển Năng lực quản lý nhà nước chính là công lực nhà nước thể hiện quyền lực của bộ máy nhà nước chi phối xuống các đối tượng bị quản lý trong hệ thống bằng những công cụ pháp lý, chính sách, quyết định phù hợp với những quy luật khách quan nhằm đạt mục tiêu quản lý và thỏa mãn nhu cầu thực tiễn xã hội [3]
Trong phạm vi nhất định, năng lực quản lý của nhà nước thể hiện tập trung trong việc hoạch định chính sách, quyết định quán xuyến hoạt động thực thi một cách nghiêm ngặt theo khuôn khổ nhất định nhằm đạt mục tiêu quản lý như mong muốn Như vậy, năng lực quản lý của nhà nước liên quan tới nhiều khâu cơ bản trong chu trình quản lý, gồm: (i) Con người với
tư cách nhân vật trọng tâm trong các khâu của chu trình; (ii) Nội dung chính sách, quyết định gắn với thực tiễn; (iii) Cơ chế, công cụ và tiền đề kinh tế - kỹ thuật bảo đảm hoạt động thực thi và giám sát, xử lý [78]
Cần phải nhận thức rằng các chính sách, quyết định là kết quả nhận thức các quy luật và vận dụng các quy luật, đặc biệt những quy luật kinh tế
để quản lý nền kinh tế vận động theo một định hướng, mục tiêu đã lựa chọn hay đáp ứng tốt những nhu cầu thực tiễn đòi hỏi Khả năng nhận thức ảnh hưởng quyết định tới chất lượng chính sách, quyết định Nếu chủ thể ra quyết định vượt qua cấp độ nhận thức cảm tính, kinh nghiệm lên cấp độ lý tính, những quyết định đưa ra sẽ đúng đắn, vững chắc và sát thực hơn Khi
đó “nguyên tắc tương hợp” sẽ phát huy năng lực cao Tức là, mục tiêu quản
Trang 16lý của nhà nước sẽ được hiện thực hóa trên cơ sở biết vận dụng phù hợp các quy luật thị trường [45]
Nếu chỉ đưa ra chính sách, quyết định đúng đắn thì chưa đủ phản ánh năng lực quản lý nhà nước Năng lực quản lý nhà nước còn thể hiện ở việc lựa chọn thời điểm và quá trình kinh tế - xã hội phù hợp để đưa chính sách vào cuộc sống một cách tốt nhất, thỏa mãn những yêu cầu thực tiễn đang đòi hỏi Ngược lại, việc vận dụng chính sách, quyết định vào cuộc sống đúng vào thời điểm có nhiều khó khăn hay thiếu các công cụ bổ trợ cần thiết sẽ không đem lại hiệu quả cao, tức là năng lực của chính sách đó cũng giảm đáng kể so với yêu cầu thực tiễn
Một trong những điểm mấu chốt của năng lực quản lý là xác định đúng và đầy đủ những điều kiện để hiện thực hóa chính sách, quyết định phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Nói cách khác, “khả năng thanh toán” của chính sách, quyết định là tiền đề tiên quyết bảo đảm tính năng lực quản lý của nhà nước Tức là, các chính sách, quyết định quản lý cần phải xây dựng dựa trên những nền tảng cơ sở kinh tế - kỹ thuật hiện thực chứ không phải dựa trên những “cái vô hư, không khí” Nếu thiếu những tiền đề đó, mọi quyết định hay chính sách chỉ là suông, “hô khẩu hiệu” mà không bao giờ trở thành hiện thực Rõ ràng, mục tiêu chính sách, quyết định cần phải dựa trên những nghiên cứu khoa học tin cậy, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn kinh
tế - xã hội, không thể duy ý chí [3], [45]
Bộ máy quán xuyến toàn bộ chu trình quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định tính năng lực của hệ thống quản lý nhà nước
Về lý thuyết, hai mối tương quan quản lý thuận - nghịch cần được vận hành trôi chảy, nhất quán đối với từng mắt xích thông tin quản lý bởi đội ngũ công chức chuyên môn sâu, công tâm và trách nhiệm cao Dòng thông tin thuận từ trung tâm trên xuống bảo đảm mệnh lệnh điều khiển hành vi tuân thủ và giám sát, điều chỉnh Dòng thông tin nghịch từ dưới lên phản ánh sự
Trang 17phản hồi, kết quả thực thi mệnh lệnh Những dòng thông tin quản lý này đòi hỏi chính xác, công khai, minh bạch và dân chủ Việc đánh giá và xem xét lại thường xuyên những dòng thông tin quản lý là cần thiết nhằm có những điều chỉnh kịp thời, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội
Một điểm quan trọng nữa bảo đảm tính năng lực quản lý của nhà nước là xác định và thực thi chuỗi trách nhiệm quản lý xuyên suốt cả hệ thống quản lý nhà nước Trách nhiệm gắn liền với quy định luật pháp và các nguyên tắc đạo đức, theo đó những người chịu trách nhiệm phải tuân thủ khi thực hiện nhiệm vụ của mình Trách nhiệm tổ chức và trách nhiệm
cá nhân công chức là “chất xúc tác và chất kết dính” trong tất cả mọi khâu của bộ máy quản lý nhà nước [78]
Về lý thuyết, thực hiện tốt trách nhiệm quản lý làm cho bộ máy nhà nước có năng lực và chu đáo hơn bởi xác định rõ ràng chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể của từng đối tượng quản lý và bị quản lý, của từng
tổ chức và cá nhân Trách nhiệm được quy định cụ thể và rõ ràng đối với từng tổ chức và cá nhân trong tổ chức đó thông qua quy chế và hệ thống phân công nhiệm vụ tương ứng với vị trí trong bộ máy Công tác đánh giá năng lực công chức cũng gắn liền với những quy định này Thực hiện tốt nhiệm vụ hay chưa hoàn thành nhiệm vụ phải được phân định công minh bằng các hành động thưởng-phạt kịp thời và chính đáng Việc thực thi trách nhiệm phải được giám sát bằng luật pháp, quy tắc chuẩn mực, vì thế công chức không thể hành động tùy tiện vô tổ chức và thiếu lương tâm nghề nghiệp [45]
1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý:
Quản lý (Management) là hoạt động của những người điều khiển, điều tiết tổ chức thực hiện mọi công việc của đơn vị vì mục tiêu chung; là
sự giao nhận những trách nhiệm cá nhân để đạt được những mục tiêu cụ thể
và rõ ràng [3],[6]
Trang 18Management là phương thức tác động vào con người khiến họ sẵn sàng nhận trọng trách để thực hiện các mục tiêu đã được đề ra và coi nó là nhiệm vụ chung cần phải hoàn thành; Management là quá trình triển khai, phân công trách nhiệm trong việc lập kế hoạch và kiểm tra các nguồn lực (con người, cơ sở, công trình…) trong nội bộ của một tổ chức, đơn vị nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định [44],[46]
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý [94],[95]
Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Bản thân khái niệm quản lý có tính
đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể
từ thế kỷ XXI, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú
Quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng
sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dựng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển" Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển [78],[93]
Cơ cấu các thành phần của một hệ thống quản lý, trình bày ở sơ đồ 1.1
Trang 19Sơ đồ 1.1: Cơ cấu các thành phần của một hệ thống quản lý 1.1.3 Yếu tố cấu thành hoạt động quản lý nhà nước về thể dục thể thao:
Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố
cơ bản sau cấu thành: Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý? Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì? Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì? Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào? [4],[91]
Vì bản thân hành vi quản lý là do 4 yếu tố trên tạo thành, do vậy 4 yếu tố đó đương nhiên cần được thể hiện trong định nghĩa về quản lý Tiếp theo, do hoạt động quản lý đích thực cần vận dụng chức năng và phương pháp quản lý để đạt được mục đích quản lý đề ra, nên điều này cũng cần được thể hiện trong định nghĩa về quản lý Tuy nhiên, có tác giả trong định nghĩa quản lý đã trực tiếp chỉ ra rằng: Quản lý chính là lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện, chỉ huy, tiến hành, kiểm soát và nếu lý giải một cách đơn giản như vậy thì quản lý lại trở thành một hành động cụ thể mà mất đi bản chất thống nhất của nó [56],[70],[82]
Định nghĩa quản lý nên phản ánh khách quan đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý, thể hiện bản chất quản lý, hay có thể nói, trong định nghĩa về quản lý nhất định phải đề cập đến bản chất của quản lý là theo đuổi năng suất, hiệu quả
Dựa trên tác dụng, vai trò của những yếu tố trong quản lý kể trên và quan hệ lôgic giữa chúng, có thể khái quát ý nghĩa cơ bản của quản lý
Trang 20Thông thường mà nói, quản lý là hành vi mà những thành viên trong tổ chức thực hiện ở một môi trường nhất định nhằm nâng cao năng suất công việc, để đạt được mục đích của tổ chức [92],[96],[98]
Quản lý TDTT là thể hiện chức năng quản lý Nhà nước thông qua các thể chế và các tổ chức của ngành TDTT để chỉ đạo, quản lý các hoạt động TDTT
Quản lý nhà nước về TDTT là tác động tổng hòa của quản lý hành chính Nhà nước về TDTT và quản lý tổ chức xã hội về TDTT (trong đó quản lý hành chính Nhà nước về TDTT đóng vai trò giám sát - kiểm tra - chỉ đạo hành chính đối với quản lý tổ chức xã hội về TDTT) đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động mang tính bắt buộc cũng như tự nguyện liên quan đến tập luyện - thi đấu - hưởng thụ TDTT của các tầng lớp nhân dân trong các tổ chức cơ sở do Nhà nước bảo đảm và do các tổ chức xã hội về TDTT bảo đảm [81], [90]; Trong đó:
Chủ thể quản lý TDTT: Các cơ quan Nhà nước và viên chức lãnh đạo, các chuyên gia trong các cơ quan Nhà nước về TDTT từ Trung ương đến cơ sở đơn vị bắt buộc Các Ban chấp hành và chuyên gia của các Liên đoàn, Hiệp hội TDTT từ Trung ương đến đơn vị cơ sở tự nguyện [25],[28] Khách thể quản lý TDTT: Những người nằm trong hệ thống tổ chức
cơ sở TDTT theo ngành nghề, theo lãnh thổ, địa bàn trên cả nước (Người tập luyện bắt buộc; người tập luyện tự nguyện) [24], [27],
Quan hệ quản lý: Theo hệ thống tổ chức với chương trình tập luyện - thi đấu - hưởng thụ TDTT bắt buộc của Nhà nước Theo hệ thống tổ chức với chương trình tập luyện - thi đấu - hưởng thụ TDTT tự nguyện của các Liên đoàn - Hiệp hội TDTT
Nội dung quản lý nhà nước về TDTT: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo phát triển TDTT, coi thể thao là một lĩnh vực hoạt động quan trọng trong đời sống xã hội Dưới
Trang 21sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trong 70 năm xây dựng và phát triển nền TDTT Ngành TDTT nước ta ngày càng đạt được những thành tựu to lớn và có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng qua từng thời kỳ
Luật thể dục, thể thao đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2006, điều 6 đã nêu rõ về cơ quan quản lý nhà nước về TDTT và các nội dung cơ bản về quản lý nhà nước về TDTT cụ thể như sau [57]:
Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển TDTT, các văn bản quy phạm pháp luật về TDTT
Tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho TDTT Kiểm tra, đánh giá phát triển TDTTquần chúng và hoạt động thi đấu thể thao
Tổ chức, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực TDTT
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển sự nghiệp TDTT
Tổ chức, chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động TDTT
Tổ chức, chỉ đạo thực hiện hợp tác quốc tế về thể thao
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về TDTT
Chức năng quản lý nhà nước về TDTT: Ở nước ta phát triển TDTT được coi là một chính sách xã hội mà Nhà nước có vai trò chủ đạo và quyết định
Chức năng chính của Nhà nước trong lĩnh vực này trước hết là những định hướng bằng những chính sách và luật pháp; đảm bảo những
Trang 22điều kiện cơ bản cho sự phát triển TDTT (cán bộ, cơ sở vật chất, khoa học
kỹ thuật…); thực hiện sự kiểm soát và thống nhất quản lý công tác này ở các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội
Để thực hiện chức năng đó, Nhà nước có nhiệm vụ tiến hành công tác dự báo, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, ngắn hạn; ban hành các luật pháp, các chính sách và quy chế của Nhà nước có liên quan đến hoạt động TDTT [62], [65], [67], [68] Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, luật pháp trong các hoạt động trên; trực tiếp phát triển và điều hành các cơ quan, tổ chức sự nghiệp TDTT của Nhà nước; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; cơ sở nghiên cứu khoa học; các cơ sở tập luyện TDTT quần chúng và cơ sở đào tạo VĐV; các công trình thể thao chủ yếu
ở các cấp; phối hợp với các tổ chức xã hội, tổ chức điều hành một số hoạt động thể thao quan trọng [29],[30],[61]
1.2 Quản lý nhà nước đối với thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp
1.2.1 Khái niệm và nội hàm của thể thao thành tích cao:
TTTTC là sự phát huy, nâng cao giới hạn tiềm lực tối đa của cá nhân và tập thể về hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, phẩm chất tâm lý, tố chất thể lực và kỹ - chiến thuật để đạt thành tích thi đấu xuất sắc, thông qua huấn luyện, thi đấu một cách hệ thống, khoa học [55], [59], [75]
Từ khái niệm trên cho thấy đặc điểm của TTTTC là: có tính nghệ thuật thi đấu cao, đòi hỏi VĐV trải qua nhiều năm huấn luyện nghiêm khắc, có tính khó xác định của kết quả thi đấu; tuân thủ nghiêm ngặt các luật lệ, quy tắc thi đấu; thành tích thi đấu được xã hội công nhận; VĐV thường đại diện cho tổ chức, quốc gia hay địa phương thi đấu với mục đích
rõ ràng
Ở góc độ xem xét TTTTC ngày nay đã trở thành hiện tượng văn hóa
xã hội quan trọng của thế giới, thì khái niệm TTTTC “Là hoạt động huấn
Trang 23luyện thi đấu thể thao nhằm đạt được đến thành tích kỷ lục thể thao cao nhất, được coi là giá trị văn hóa, là sức mạnh, tinh hoa, năng lực sáng tạo của con người” [99]
Các bộ phận chính cấu thành TTTTC: Tuyển chọn tài năng thể thao trẻ; Huấn luyện VĐV TTTTC hay gọi là huấn luyện thể thao; Thi đấu thể thao; Các điều kiện đảm bảo nâng cao thành tích thể thao (công nghệ huấn luyện, hồi phục, dinh dưỡng, cơ sở vật chất – kỹ thuật, nguồn tài chính, môi trường…); Quản lý TTTTC
Ngoài các bộ phận cấu thành nêu trên còn có các điều kiện đảm bảo phát triển TTTTC: nguồn nhân lực, sự đảm bảo y học thể thao, văn hóa - giáo dục [86], [87], [88]
Đặc trưng cơ bản của TTTTC: TTTTC lấy tính tương đối độc lập làm thành một trong ba lĩnh vực lớn của TDTT hiện đại, bởi vì đặc trưng
cơ bản của nó có khác biệt, rõ ràng với các lĩnh vực khác của TDTT
Tính thi đấu của TTTTC rõ ràng hơn: Đặc trưng chủ yếu nhất của TTTTC là biểu hiện rõ tính thi đấu, bởi vì mục đích cơ bản của chúng ta khi tham gia TTTTC được quyết định bởi phương thức biểu hiện và nội dung hoạt động cơ bản của TTTTC
Yêu cầu của TTTTC đối với người tham gia: Trình độ kỹ thuật cao siêu, chức năng cơ thể và tâm trí cao hơn người bình thường Sự phối hợp tập luyện thể thao được trải qua các quá trình chuẩn bị tỉ mỉ Người tham gia TTTTC cố gắng hết sức giành được thành tích cao nhất Vì đặc trưng này, TTTTC, thể thao trường học và thể thao quần chúng có sự khác biệt rất lớn [42], [52]
Thi đấu là hình thức biểu hiện cơ bản của TTTTC, mà luật thi đấu là văn bản mang tính pháp luật đảm bảo cho các điều kiện thi đấu của hai bên được ngang bằng, sự cạnh tranh được công bằng Nếu không, ý nghĩa của việc thi đấu sẽ mất đi, TTTTC cũng không có phương pháp nào phát triển,
Trang 24thậm chí không còn tồn tại
Tính giải trí của TTTTC: TTTTC là sản vật văn minh cao độ của loài người Người tham gia và người quan sát đều thu được hiệu quả giải trí, thư giãn trong quá trình tham gia TTTTC và dự khán thi đấu thể thao Vai trò, vị trí của TTTTC trong xã hội văn minh hiện đại: Do chất lượng sống cao và ổn định tương đối, nhu cầu cá nhân và xã hội loài người tăng nhanh, sức khỏe cộng đồng và từng gia đình được mọi người quan tâm hơn trước, tạo nên một chuẩn mực mới của xã hội Các quốc gia coi đời sống sức khỏe là một chính sách lớn liên quan đến con người trong toàn xã
hô ̣i với lý do sức khỏe là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển lành ma ̣nh và trường tồn của con người Sức khỏe và các vấn đề liên quan đến năng lực thể chất, trong đó có tài năng thể chất (thể thao, thể thao đı̉nh cao, tài năng thể thao) đươ ̣c toàn xã hô ̣i và từng quốc gia coi là mô ̣t mă ̣t không thể thiếu trong sự phát triển của xã hô ̣i, là mô ̣t chuẩn mực cho sự phát triển toàn diê ̣n lành ma ̣nh của dân tô ̣c, của quốc gia [74], [99], [100]
Ở mức đô ̣ nhất đi ̣nh, xét từ quan điểm phát triển, khai phá tiềm năng con người, TDTT trong đó có TTTTC góp phần quan tro ̣ng vào viê ̣c hoàn thiê ̣n năng lực con người về thể chất và tài năng
Tài năng thể thao, từ xưa mang tı́nh văn hóa nhân văn của xã hô ̣i loài người, theo phát triển kinh tế văn hóa xã hô ̣i, đến thế kỷ XXI đã trở thành
mô ̣t ngành văn hóa của loài người với đầy đủ những đă ̣c trưng mô ̣t ngành
đô ̣c lâ ̣p, có hê ̣ thống lý luâ ̣n, phương pháp có cơ sở khoa ho ̣c nhất là sinh
ho ̣c, xã hô ̣i ho ̣c, triết ho ̣c, khoa học quản lý [22], [33],[ 72] Hiê ̣n nay đang hoàn thiê ̣n về lý luâ ̣n kinh tế ho ̣c TDTT
Ngày nay, vai trò chı́nh tri ̣ - kinh tế của TDTT được nhấn ma ̣nh dưới các hı̀nh thức khác nhau, tất cả để phát triển cao hơn tác du ̣ng của TDTT với con người theo hướng nhanh hơn, cao hơn, mạnh hơn về tâm hồn lẫn thể chất trong thế kỷ mới và cả trong tương lai xa của thế giới loài người
Trang 25[79], [80], [83] Trong xã hội hiện đại, vị trí của TTTTC (thể thao thi đấu trong hệ thống Olympic và hệ thống thể thao nhà nghề) ngày càng quan trọng trong TDTT bởi những giá trị của nó mang lại cho con người, xã hội, kinh tế và quảng bá hình ảnh của mỗi quốc gia trên đấu trường quốc tế, nâng cao ý thức tự tôn dân tộc và thể hiện sức mạnh của đất nước Do vị trí quan trọng của TTTTC ở mọi quốc gia nên TTTTC có quan hệ chặt chẽ với mọi lĩnh vực khác trong cấu trúc của nền TDTT [54], [71], [88]
1.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về thể thao thành tích cao:
Thể chế quản lý TTTTC ở nước ta hiện nay là thể chế quản lý kết hợp giữa quản lý nhà nước đối với quản lý xã hội, nhưng quản lý và đầu tư nhà nước vẫn là chính [26], [57]
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về TTTTC của nước ta bao gồm
3 cấp [38], trình bày ở sơ đồ 1.2:
Sơ đồ 1.2 Hệ thống quản lý thể thao thành tích cao ở nước ta
Trang 26Cấp Trung ương: quản lý chung về tuyển chọn, huấn luyện và thi đấu cấp quốc gia, quốc tế
Cấp tỉnh, thành, ngành: quản lý, tuyển chọn, huấn luyện và thi đấu đối với VĐV năng khiếu thể thao, đội thể thao tỉnh, thành, ngành quân đội, ngành công an
Cấp quận huyện: quản lý, tuyển chọn, huấn luyện và thi đấu đối với VĐV năng khiếu thể thao nghiệp dư, bán tập trung
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực thể thao thành tích cao:
Quản lý TTTTC tức là quản lý ba mặt chủ yếu: Quản lý con người, quản lý kỹ thuật, quản lý cơ chế điều khiển Trước tiên cần nói đến nội dung của ba mặt trên vào từng mặt cụ thể: quản lý chiến lược TTTTC, quản
lý hệ thống huấn luyện, quản lý cán bộ, quản lý VĐV và quản lý thi đấu thể thao [9],[31],[60]
1.2.3.1 Quản lý chiến lược thể thao thành tich cao:
Mục tiêu của chiến lược TTTTC thực chất là phát triển có định hướng các môn thể thao theo kế hoạch để bảo đảm phát huy cao tiềm năng thể thao, của đất nước, qua huấn luyện hệ thống và đầu tư có kế hoạch để TTTTC có hiệu quả cao trong các cuộc tranh tài trong nước và khu vực, Châu Á và thế giới Khi xác định chiến lược TTTTC, phải chú ý các yếu tố
cơ bản sau:
Mục tiêu chiến lược phải rõ, hướng đi phải cụ thể, khoa học để xác định được hệ biện pháp và điều kiện phù hợp, đảm bảo mục tiêu có thể thực hiện được trong thời gian qui định Hướng và mục tiêu chiến lược rõ rất quan trọng, vì nhờ nó mà tổ chức thực hiện một cách hệ thống, tổng thể, khoa học, phù hợp TTTTC của nước ta hiện lấy mục tiêu là trên cơ sở hòa nhập, đảm bảo từng bước sự tranh tài có hiệu quả ở khu vực Đông Nam Á, tranh thủ ở phạm vi nhất định đạt thành tích tốt hơn ở Châu Á và Thế giới
Trang 27Tính đến nay, số lượng VĐV trên cả nước khoảng 20.000 VĐV, trong đó
số lượng VĐV trẻ là 3.000 Hàng năm, ngành TDTT tổ chức 110 cuộc thi đấu, với 40 đến 50 giải Đông Nam Á, Châu Á và thế giới [55]
Khi xác định chiến lược phải chú ý có tầm nhìn xa, xác định các mức
dự định trong tương lai gần và xa một cách khoa học và biện chứng Cần tính toán kỹ khả năng đạt được, khó đạt được và có thể đạt được theo lịch trình thời gian Không thoát ly hiện trạng, xem xét kỹ tương quan lượng và chất, các bước tiệm tiến và nhảy vọt Phải dự báo được thời gian và chất lượng sẽ đạt, dựa trên thực trạng có sự tính toán đến các nhân tố tích cực, trung gian và nhân tố nhiễu Từ đó, tìm được giới hạn của chủ và thủ, của trọng điểm và không trọng điểm và sự chuyển hóa giữa chúng [58], [73] 1.2.3.2 Quản lý hệ thống huấn luyện:
Hệ thống huấn luyện TTTTC chính là phạm vi thực hiện cụ thể phần quan trọng của mục tiêu chiến lược trong đào tạo trực tiếp VĐV
Quản lý hệ tiêu chuẩn đánh giá hệ thống huấn luyện số lượng, chất lượng, hình thức, phạm vi, cơ chế điều khiển, như các nội dung sau:
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và hiệu quả của hệ thống huấn luyện - đào tạo VĐV gồm số lượng theo độ tuổi, cấp bậc
Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất Cần tính đến hiệu suất kinh tế [34],[34],[36]; Không bỏ qua tỷ lệ thành tài, tỷ lệ đào thải do không hợp tiêu chuẩn và do những lý do khác
Tiêu chuẩn về khoa học hóa và hiện đại hóa quá trình huấn luyện và
hệ thống quản lý tương ứng nhằm giúp cho đào tạo có hiệu quả cao hơn Trình độ giáo dục - xã hội của VĐV Cần phải chú ý đến trình độ văn hóa, tri thức tương xứng với người tài thể thao trong xã hội văn minh Chú
ý phạm vi hoạt động xã hội của người tài thể thao trong xã hội
Quản lý hệ thống huấn luyện TTTTC liên quan đến vấn đề xã hội hóa TTTTC Xã hội hoá TTTTC phải nhằm mục đích cao nhất là hình thành và
Trang 28điều khiển hệ thống đào tạo VĐV đạt chất lượng cao nhất mà không chỉ đầu tư hoặc tài trợ đơn thuần
Đó chính là đầu tư chiều sâu để hiện đại hóa và khoa học hóa quá trình đào tạo huấn luyện, tức chất lượng của quá trình đó Phải tính đến quyền lợi cá nhân và tăng điều kiện đảm bảo các mặt cho điều khiển quá trình đó ngày càng tốt hơn [5], [76]
1.2.3.3 Các cấp của hệ thống huấn luyện thành tích cao:
Một nguyên lý đào tạo - huấn luyện VĐV có tài năng thể thao quan trọng là nguyên lý hệ thống, liên tục, không gián đoạn với các giải pháp tác động tới chất lượng hệ thống tới từng cá thể Theo kinh nghiệm đào tạo VĐV có kỷ lục thế giới thì thời gian trung bình mất từ 8-12 năm và phải bắt đầu không chậm quá 10 tuổi, không kể giai đoạn chơi thể thao mang tính bồi dưỡng lòng hứng thú say mê và phát triển toàn diện Có một số môn tập sớm hơn như Thể dục dụng cụ, Thể dục nghệ thuật, võ
Quá trình đào tạo luôn gắn liền với các giai đoạn nhạy cảm sinh học, với thời kỳ phát dục, trưởng thành, gắn liền với thời kỳ học tập ở trường phổ thông và thường kết thúc vào khoảng 18-20 tuổi Do đó, các cấp huấn luyện phải gắn liền với quá trình đó
Có thể phân thành ba cấp như sau [55], [75]:
Cấp cơ sở (sơ cấp): Cấp này gắn liền với trường tiểu học Hình thức thường là các trường, lớp nghiệp dư với nhiều hình thức nhằm thu hút trẻ vào tập thể thao, tạo hứng thú, phát triển toàn diện, kỹ thuật, kỹ năng cơ bản, đặc biệt là công cơ bản Nhiệm vụ chính là tuyển chọn ban đầu và bước đầu hướng các em vào chuyên môn hóa sau này
Ở nước ta, hình thức phổ biến là lớp nghiệp dư, các câu lạc bộ cơ sở tại cơ sở phường, xã, trường Tại cấp cơ sở, cần các cộng tác viên giỏi, biết cách tổ chức các em tập say mê, sôi nổi, đúng cơ bản và biết phát hiện ban đầu về năng khiếu thể thao Ở nước ngoài, các lớp này thường gắn liền với
Trang 29các CLB thể thao, các trung tâm văn hóa thể thao, các sân vận động mở, thu hút càng nhiều em tập càng tốt Vai trò của các trường học rất quan trọng thực hiện hướng này Hình thức tập của nó chủ yếu là nghiệp dư, có những nét tương tự như các lớp nghiệp dư cơ sở ở nhiều nước [77]
Cấp trung: là cấp huấn luyện tiến hành theo hình thức tập trung, bán tập trung tại các điểm, các trọng điểm, các CLB, các trung tâm, các đội, các trường thể thao nghiệp dư hoặc văn hóa - thể thao các cấp Có trường hợp nghiệp dư nhưng huấn luyện tập trung theo chương trình, kế hoạch hệ thống có quản lý chặt chẽ
Số VĐV này được tuyển chọn ban đầu khá tốt, bước đầu dự báo được hướng phát triển và thấy có thể đưa vào hệ thống đào tạo VĐV thể thao Số được tuyển chọn ban đầu được đưa vào đào tạo chuyên môn gồm 3 bước: chuẩn bị ban đầu, phân hướng chuyên môn hóa, hoàn thiện thể thao
Giai đoạn chuẩn bị ban đầu thường kéo dài 2 năm nhằm mục đích chuẩn bị toàn diện, phát hiện chuyên sâu, học tập, củng cố và nâng cao kỹ năng cơ bản và các mặt thể lực, công cơ bản, kỹ thuật cơ sở, và cơ bản, vận dụng cơ bản, chiến thuật cơ bản, các qui luật vận động cơ bản, các thích ứng cơ bản về chức năng, về hình thái, tâm lý, sinh hoạt, nhân cách
Tiếp đó là phân hướng chuyên sâu hoặc chuyên môn hóa ban đầu mất chừng 3 năm, với nhiệm vụ hoàn thiện kỹ thuật, kỹ năng cơ bản cùng các mặt thể lực, tâm lý, chiến thuật liên quan nhằm tạo ra hướng phát triển chuyên sâu rõ với năng lực, điều kiện đảm bảo phù hợp [82]
Giai đoạn tiếp theo là chuyên sâu hoàn thiện thể chất thể thao mất chừng 3 năm, với nhiệm vụ hoàn thiện mọi mặt, nâng cao kỹ xảo và nghệ thuật thể thao, nâng cao và tăng cường năng lực chuyên sâu về mọi mặt bằng nhiều giải pháp huấn luyện, nhất là lượng vận đông với khối lượng và cường độ lớn, đảm bảo thích ứng với thi đấu với điều kiện khác nhau (toàn diện và chuyên môn), bảo đảm nâng cao thành tích thể thao vững vàng,
Trang 30xuất hiện bước đầu các thành tích có hệ thống để dự báo sự phát triển cao hơn, dài hơn trong các năm tiếp theo
Cả 3 giai đoạn này mất chừng 8-12 năm Nó là cơ sở vững chắc cho
sự phát triển thành tích và tài năng tới hạn của cá thể VĐV trong thời gian tiếp sau, cũng như kéo dài sự phát triển ổn định của thành tích thể thao, đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của cá thể sinh học đó sau khi ngừng tập thể thao Quá trình này được quản lý chặt chẽ và được tác động toàn diện bởi nhiều mặt theo lượng vận động cao không ngừng để luôn tạo sự thích ứng không ngừng và phát triển năng lực đến tới hạn Nó là quá trình kiểm tra đào thải không ngừng và giáo dục nhân cách VĐV
Giai đoạn này được tập trung cao, đầu tư lớn có trọng điểm Hình thức phổ biến là các trường dự bị Olympic, thể thao nghiệp dư, Trường văn hóa thể thao, Trường nghiệp vụ TDTT, Trung tâm Huấn luyện thể thao
Với các môn tập thể đồng đội, cần chú ý hình thức huấn luyện đội, cụm các đội, để hình thành môi trường rèn luyện Việc quản lý về hình thức
tổ chức, về số lượng và chất lượng, tuyển chọn và bổ sung, chăm sóc toàn diện, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, giáo dục nhân cách và chính trị - tư tưởng phải có vị trí đúng
Cấp này thường do cấp tỉnh/thành quản lý trực tiếp Các VĐV được đào tạo đã xuất hiện thành tích thường được bổ sung vào các đội tuyển trẻ, tuyển tỉnh/thành/ngành để huấn luyện và tiếp tục nâng thành tích thể thao, không chỉ dùng trong thi đấu mà chủ yếu hoàn thiện năng lực thể thao, duy trì và phát triển thành tích, giáo dục VĐV trong điều kiện cao hơn Nguyên tắc huấn luyện tập trung, huấn luyện cá biệt, nguyên tác lượng vận động lớn một cách nghiêm ngặt cần được các nhà quản lý đặc biệt chú ý theo dõi, kiểm tra kế hoạch, tập luyện, thi đấu, hoạt động xã hội và tăng cường đầu tư hệ thống, phù hợp
Trang 31Cấp cao: Gồm VĐV thuộc đội tuyển quốc gia hoặc các đội đại biểu, các đội tỉnh/thành/ngành trọng điểm có trình độ nghệ thuật thi đấu thể thao cao và các VĐV có khả năng phát triển cao nhất Loại hình này được tập trung huấn luyện với sự quản lý chặt chẽ của ngành TDTT và chính quyền cấp đó để đầu tư và kiểm tra Cấp quốc gia theo dõi toàn diện và hệ thống các VĐV này, chỉ đạo kiểm tra chuyên môn
Khi cần làm nhiệm vụ thi đấu quốc gia, Ngành TDTT sẽ tổ chức tuyển chọn và tập trung huấn luyện Vấn đề quyền lợi giữa Trung ương và địa phương cần xếp sắp hợp lý, tôn trọng mục tiêu quốc gia và cố gắng thỏa mãn đúng mức quyền lợi của địa phương Hiện tượng đó cũng xảy ra khi VĐV làm nhiệm vụ của cấp trên giao cho Nếu không chú ý giải quyết đúng nguyên tắc sẽ nảy sinh mâu thuẩn, khó thống nhất như: cục bộ, địa phương, cá nhân chủ nghĩa, không coi quyền lợi quốc gia là trên hết Cần
có nguyên tắc chặt chẽ do Trung ương ban hành
Cần phải quản lý bằng các thủ tục hành chính huấn luyện, về chương trình kế hoạch, tiến độ, giáo án, kiểm tra thường kỳ, kết quả thi đấu, và sự phát triển nhiều mặt của của nó [32], [71]
1.2.4 Quản lý huấn luyện viên:
Chất lượng của hệ thống huấn luyện đào tạo VĐV TTTTC phụ thuộc vào nhiều nhân tố như cơ cấu điều khiển hệ thống (sự phối hợp hài hòa có chủ đích của điều khiển, nhân tố tác động và thực hiện qui trình công nghệ đào tạo hiện đại) Người chỉ đạo toàn bộ quá trình đó là nhà quản lý chiến lược thể thao và người trực tiếp thực hiện qui trình đó là HLV
HLV dựa vào mục tiêu chung thể hiện ở chương trình kế hoạch, tiến
độ, giải pháp, biện pháp, thủ đoạn, phương pháp cùng các qui định của qui trình và môi trường thực hiện, soát xét các nhân tố gây nhiễu nhằm tác động trực tiếp có hiệu quả tối đa vào VĐV Mỗi tác động phải tuân theo mục tiêu tổng thể và từng giai đoạn để đạt mục tiêu hệ thống đã đề ra
Trang 32Trong quá trình đó, nhân tố chủ động trực tiếp, liên tục và xuyên suốt là HLV và đối tượng bị tác động là VĐV có đặc tính cá thể, tính năng động, sáng tạo cao với tiềm năng ban đầu, hầu như không giống nhau
HLV có chức trách và nhiệm vụ là trực tiếp tác động chặt chẽ của mình vào đào tạo người tài thể thao, là loại người tài thể thao 2 sau VĐV
Do đó là nhà sư phạm về giáo dục thể chất có trình độ cao về huấn luyện thể thao, về đào tạo VĐV, biết ứng dụng thành tựu khoa học-công nghệ mới nhất, thể hiện bằng nắm vững và vận dụng tốt các nguyên tắc và phương pháp giáo dục và huấn luyện vào đào tạo VĐV
HLV là nhà khoa học thực tiễn, biết dựa vào đặc điểm từng cá nhân,
áp dụng hiệu quả các giải pháp, nhằm khai thác, bồi dưỡng và nâng cao hết mức tài năng thể chất cá thể, thể hiện bằng thành tích kỷ lục cao nhất trong các cuộc thi đấu chính thức (theo lịch) [41], [59], [73]
Nói cách khác, HLV thực hiện mục tiêu của TTTTC một cách cụ thể, khoa học trên cá thể VĐV, là người quản lý, trực tiếp điều khiển quá trình đào tạo huấn luyện thể thao, là người chủ trong quản lý toàn bộ sự phát triển có chất lượng cao của VĐV Nếu không quản lý và nâng cao trình độ HLV là đã hạ thấp chất lượng của toàn bộ hệ thống đào tạo Để đảm bảo đào tạo được VĐV có tài không chỉ yêu cầu HLV có lòng yêu nghề cao mà còn phải nâng cao trình độ chuyên môn trở thành nhà sư phạm giỏi về tri thức, về đời sống, về điều khiển chất lượng hệ thống đào tạo VĐV có thành tích thể thao cao Họ vừa là kiến trúc sư, công trình sư, vừa là kỹ sư thực hiện các qui trình qui phạm, và điều chỉnh, sáng tạo, khoa học
HLV là người phụ trách toàn diện các mặt bằng năng lực, tri thức khoa học sinh học con người, qui luật chung và chuyên từng môn của HLTT, có năng lực về định chương trình, kế hoạch, tiến độ tổ chức thực hiện một cách phù hợp, khoa học và sáng tạo trong thời gian qui định Các mặt phụ trách không chỉ về phát triển thể chất, sức khỏe, trình độ kỹ - chiến
Trang 33thuật, trình độ nghệ thuật thi đấu, mà còn cả tâm lý, tư tưởng, sinh hoạt, học tập, đời sống cá nhân, cũng như quan hệ xã hội
HLV luôn nghiêm ngặt trong quá trình sư phạm huấn luyện, thực hiện tốt quyền hạn của mình Nhà quản lý TTTTC, trên cơ sở chỉ đạo đúng với các mục tiêu đề ra, làm cho HLV chủ động và sáng tạo thực hiện mục tiêu
đã định, tìm hiểu và lắng nghe các quan điểm và ý kiến của họ, tạo điều kiện cho họ thực hiện các chủ ý sáng tạo mới, tích cực, năng động Trên cơ
sở tôn trọng quyền chủ động của HLV không nên can thiệp thô bạo hoặc quá sâu vào chuyên môn của họ
Cần qui định rõ các quyền hạn của HLV: Quyền phụ trách toàn bộ; Quyền sáng tạo, chủ động, và điều chỉnh công việc; Quyền tự chủ tương đối về kinh phí; Quyền thực hiện kế hoạch huấn luyện, điều chỉnh kế hoạch; Quyền kiến nghị hợp lý về mặt phục vụ (ăn, ở, sinh hoạt, học tập, giải trí )
Quản lý trình độ HLV qua các nhân tố cấu thành trình độ và năng lực [70], [71]:
Trước hết là quản lý về lòng say mê yêu nghề sư phạm huấn luyện với
tư cách người thầy Điều đó thể hiện bằng lòng yêu tha thiết với sự nghiệp, đào tạo tài năng thể thao, tinh thần trách nhiệm cao, tác phong huấn luyện
và lối sống tốt, lòng tin, yêu mến VĐV và đồng nghiệp cùng huấn luyện cũng như yêu mến thể thao
Thứ hai, quản lý về trình độ kỹ năng và tri thức huấn luyện - giảng dạy, đào tạo, giáo dục theo hướng hệ thống cơ bản và hiện đại, khoa học, nhưng không thoát ly thực tiễn hoàn cảnh và môi trường, nhất là đối tượng giáo dục, khả năng hiểu biết và vận dụng thành thạo, kịp thời, có logic các nguyên tắc, phương pháp, khoa học, huấn luyện, về sư phạm, về tâm lý và sinh lý, y học, nhân học, dân tộc và xã hội học, tổ chức thực hiện một cách
Trang 34năng động và khoa học HLV là người vừa có tri thức khoa học huấn luyện cao lại là người có kỹ năng tổ chức và hoàn thiện chúng
Thứ ba, có năng lực giỏi trong điều hành huấn luyện và giáo dục một cách khoa học, hệ thống và phù hợp đối tượng; biết phân tích và tổng hợp, kiểm tra theo dõi đối tượng huấn luyện; biết dự báo kết quả một cách khoa học trong tuyển chọn, kiểm tra, dự báo năng lực, trong điều khiển huấn luyện một cách linh hoạt và có hiệu quả; có khả năng điều chỉnh tâm lý và
có nhịp điệu hợp lý trong huấn luyện; có khả năng phân biệt, linh hoạt biến hóa hợp lý theo tình hình và đối tượng, có khả năng cảm thụ tình hình và khả năng sáng tạo, với tư duy sâu sắc độc lập, linh hoạt
Thứ tư, có phẩm chất tâm lý, tác phong tốt như kiên quyết, lòng tin, quan tâm yêu mến VĐV, có nhân cách giao tiếp, tiếp cận con người, nhất là VĐV, đi vào quần chúng dễ dàng và thỏa mái, biết khống chế tình cảm, biết khơi dậy tính tích cực của con người, chân thành và kiên trì giáo dục con người hướng tới cái cao hơn, xa hơn và luôn vượt tự chính mình Tác phong sống, sinh hoạt, thái độ cá nhân cũng là những nhân tố cũng cần chú
ý Người HLV tài giỏi là loại hình người tài có những đặc trưng của nhà sư phạm, nhưng lại có những nét riêng Trong hoàn cảnh VĐV chưa nhiều và chưa hứng thú trở thành HLV như ở nước ta, nên quan điểm về tuyển chọn
và đề bạt HLV phải phù hợp với thực tế HLV là khâu quyết định đào tạo người tài VĐV Không nên mặc định là ai có thành tích vận động cao trước đây sẽ trở thành HLV giỏi và lấy đó làm căn cứ để đề bạt và tuyển chọn, dù
đó là cơ sở yếu tố không thể thiếu Nhiều môn thể thao cần kinh nghiệm đã tích lũy về vận động của họ, vì điều đó có lợi cho quá trình điều khiển, tiếp thu, học tập và áp dụng khoa học huấn luyện trong đào tạo con người VĐV Để tuyển chọn HLV, người đó phải qua quá trình tập luyện hệ thống môn đó, nhưng phải là người nắm vững khoa học huấn luyện và giáo dục Cho nên phải đào tạo HLV dựa trên các yếu tố yêu cần cho nghề HLV
Trang 35Quá trình bồi dưỡng tuyển chọn HLV phải qua nhiều cấp, nhiều đợt như huấn luyện cơ sở, huấn luyện ban đầu, bồi dưỡng nâng cao Chỉ học tri thức khoa học huấn luyện cẩn thận mới nâng cao dần trình độ, rèn luyện tay nghề, để ngày càng am hiểu về huấn luyện VĐV tài năng Quản lý bồi dưỡng VĐV giỏi là phải qua huấn luyện thực tiễn thực hiện các cấp VĐV, tức đào tạo lực lượng hậu bị VĐV
Cần chú ý quan hệ giữa HLV lớn tuổi, bề dày thành tích huấn luyện đào tạo, với HLV trẻ Hết sức coi trọng việc kết hợp giữa kiến thức mới và kinh nghiệm lâu năm một cách nhuần nhuyễn Phải dùng già giúp trẻ, dùng trẻ hỗ trợ và học tập bổ sung cho HLV già, hợp tác làm việc theo mục đích chung
Chuẩn hóa trình độ và phong cấp HLV phải chính qui, bằng văn bản, chế độ phong cấp HLV theo trình độ đào tạo (bằng cấp) kết hợp với hiệu quả đào tạo Kiểm tra chặt chẽ chế độ cấp bậc HLV, cấp bằng HLV theo danh mục nhân viên kỹ thuật Nhà nước mà không phải hành chính đơn thuần Nhiều quốc gia, tuy đã có bằng HLV mà không qua bồi dưỡng nâng cấp theo qui định thì bằng chỉ có giá trị một thời gian (như 5 năm ở Mỹ, Cộng hoà dân chủ Đức ) [88]
Kinh nghiệm của Cộng hòa dân chủ Đức (cũ) cho biết, sau mỗi lần kiểm tra trình độ HLV, có trên 50% HLV không đạt tiêu chuẩn HLV theo cấp bậc mới Có chế độ về qui định bồi dưỡng đào tạo lại HLV, buộc HLV phải tự nâng cao trình độ và vận dụng cái mới vào huấn luyện, qui định việc tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết trao đổi kinh nghiệm, viết báo, học lớp bồi dưỡng có cấp chứng chỉ, không cho phép HLV thờ ơ, bàng quang hoặc không phối hợp với các nhà khoa học, y học
Trong huấn luyện và kiểm tra huấn luyện, hoặc trốn tránh, giấu diếm kinh nghiệm thành công và thất bại Các nhà quản lý không nên và không được phép vì cục bộ địa phương mà bỏ qua vấn đề này [88]
Trang 36Cần kiểm tra uy tín, biểu hiện thực tế về năng lực huấn luyện đào tạo
Có kiểm tra bằng văn bản, kiểm tra định kì, kiểm tra bằng trưng cầu ý kiến
Ý kiến của đối tượng bị giáo dục không phải là cơ sở chính cho đánh giá Trong phong cấp và bồi dưỡng HLV, cần đề cập đến việc chọn HLV trưởng và HLV quốc gia Đây là trách nhiệm của chính quyền cấp phụ trách tương đương, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, kết hợp với bàn bạc dân chủ để quyết định
1.2.5 Quản lý cán bộ lãnh đạo và nhân viên nghiệp vụ:
Cán bộ lãnh đạo TTTTC: Là các cán bộ phụ trách về quản lý công tác huấn luyện như hiệu trưởng, giám đốc các trường và các trung tâm huấn luyện thể thao
Nhiệm vụ của họ là phụ trách toàn bộ công tác của đơn vị đó về đào tạo, huấn luyện nhân tài thể thao Nội dung công việc của họ do cấp chính quyền tương đương giao văn bằng, qui định
Nhiệm vụ cụ thể [69], [87]:
Xác định nhiệm vụ, chương trình công tác phải đạt theo thời gian và điều kiện đảm bảo của đơn vị căn cứ nội dung qui định cấp trên đã giao qua văn bản, qua hướng dẫn, qui định và thảo luận thống nhất
Tuyển chọn, bố trí, điều hành nhân viên dưới quyền một cách hợp lý, khoa học, tận dụng hết năng lực chuyên môn của từng người
Tổ chức công việc của đơn vị theo qui định và nội dung phù hợp với nhiệm vụ được giao Người lãnh đạo đơn vị huấn luyện phải biết dựa vào khả năng của đơn vị, dựa vào ý kiến của HLV để tổ chức công việc, chọn người, phê duyệt danh sách và công việc, phối hợp điều hành, lập qui chế làm việc, kiểm tra đôn đốc, điều chỉnh hoặc phát triển khi có điều kiện và cần Cần chú ý không nên can thiệp quá cụ thể vào công việc của cơ sở để tránh làm rối việc điều khiển hệ thống của các đơn vị cơ sở nếu chưa cần thiết
Trang 37Xác định các qui định chính thức, hoặc tạm thời, cũng như các biện pháp quản lý, kiểm tra, theo dõi, thống kê một cách chặt chẽ
Nắm vững đều đặn và thường xuyên số lượng và chất lượng công việc Xác định các qui định làm việc: họp, báo cáo, kiểm tra về quyền hạn của các bộ phận, về giảng dạy huấn luyện, về kinh phí, về thủ tục hành chính, thủ tục chiêu sinh, thủ tục điều chỉnh chế độ, qui định về bám sát Cải tiến cách làm việc, đồng thời tăng cường, hoàn thiện chất lượng
và điều kiện làm việc theo hướng trực tiếp, nhanh, coi trọng các mặt chế
độ, điều kiện phục vụ như kiểm tra sức khỏe, y học, hồi phục, dinh dưỡng, nghỉ ngơi, tắm rửa, vệ sinh, giải trí, văn hóa, dụng cụ, trang thiết bị, giao thông, kinh phí
Tổ chức tốt việc tiếp nhận thông tin toàn đơn vị gồm báo cáo (định kỳ
và thường kỳ ), chế độ nắm thông tin nhanh, đầy đủ và kịp thời, phân tích
và tổng hợp thông tin trực tiếp và gián tiếp, lưu trữ và dự báo, điều chỉnh,
xử lý thông tin phục vụ huấn luyện, thi đấu Tổ chức mạng lưới thông tin toàn đơn vị tốt, hiệu quả theo mục tiêu thống nhất, chú trọng phối hợp với các đơn vị, các đoàn thể trong, và ngoài đơn vị, trên và dưới thông suốt, nhanh chóng kịp thời [5]
Quyền hạn của cán bộ quản lý đơn vị huấn luyện (Trưởng khoa, Chủ nhiệm khoa, Tổ trưởng, Trưởng phòng ) là được quyền phụ trách toàn bộ công việc của đơn vị mình như tiến độ, kế hoạch, phương án, điều chỉnh, báo cáo, phân tích và tổng hợp thông tin, lưu trữ tài liệu, hồ sơ, kết quả thi đấu của đơn vị, tổ chức hội nghị nghiên cứu và giải quyết, kiểm tra, nâng cao trình độ cán bộ thuộc đơn vị, cũng như nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm và các công tác xã hội khác [99]
Quyền hạn của các cán bộ như lãnh đội các đội thể thao là phải phối hợp với HLV để tiến hành công tác quản lý đơn vị mình phụ trách Lãnh đội các đội thể thao như một thủ trưởng đơn vị Có thể lãnh đội phụ trách
Trang 38một số môn, một môn Các đội cơ sở ít khi có lãnh đội HLV thường là thủ phó phụ trách chuyên môn Nhiệm vụ của lãnh đội là phối hợp chặt chẽ với HLV tiến hành công tác hành chính, chính trị-tư tưởng, đối ngoại, đảng-đoàn, các mặt phục vụ văn hóa sinh hoạt nhằm đảm bảo cho huấn luyện thuận lợi và có chất lượng Quan hệ giữa lãnh đội và HLV là mối quan hệ giữa người lãnh đạo là thủ trưởng và thủ phó (HLV), nên trước tiên phải thống nhất về mục tiêu, phương pháp làm việc, phải có quan hệ đúng đắn, không dẫm chân nhau Lãnh đội phải nắm toàn bộ công việc, phụ trách kỹ cương, kỷ luật của đội đó, nhưng không làm thay HLV HLV phụ trách toàn bộ công tác chuyên môn dưới sự chỉ đạo, kiểm tra của lãnh đội
Các loại nhân viên: Gồm bác sĩ đội thể thao, người nuôi dưỡng và nhà dinh dưỡng, cán bộ nghiên cứu khoa học, giáo viên văn hóa, nhân viên phục vụ, kỹ thuật viên Mỗi loại đều có nhiệm vụ qui định riêng
Phải phân công cụ thể, nội dung và phương pháp rõ cho từng loại, kịp thời theo dõi, đánh giá kịp thời và điều chỉnh công việc Nếu mỗi loại nhân viên hoặc một số nhân viên nào đó cần điều khiển tốt hơn công việc thì có thể cử người phụ trách nhóm để quản lý và điều hành có hiệu quả công việc và bám sát số lượng - chất lượng công việc để điều hành và điều chỉnh kịp thời
1.2.6 Quản lý VĐV và quản lý quá trình huấn luyện:
Quản lý VĐV là quản lý huấn luyện và bồi dưỡng tài năng của từng VĐV Nội dung gồm: Quản lý quá trình huấn luyện, quản lý giáo dục chính trị-tư tưởng và nhân cách tác phong; quản lý đời sống, sinh hoạt và quản lý khi thi đấu
Cần làm cho người quản lý VĐV phải chủ động, có ý thức trách nhiệm cao về đào tạo người tài VĐV Giáo dục và tổ chức ứng dụng nhanh,
có bài bản lý luận và thành tựu khoa học-công nghệ vào huấn luyện để nâng cao nhanh thành tích thể thao của mỗi cá thể
Trang 39Nhấn mạnh việc tập trung sức lực vào nâng cao năng lực vận động và thi đấu để đảm bảo việc tranh tài thể thao giành kết quả cao, bảo đảm huấn luyện thường xuyên gắn chặt với mục đích của đời sống thể thao, có động
cơ và hành động cụ thể trong huấn luyện, đời sống, làm cho con người say
mê nghề nghiệp Giáo dục ý thức và hành động cụ thể, có tính toán hiệu quả kinh tế, nâng cao hiệu suất thi đấu và huấn luyện ở mức hợp lý nhất [48], [49], [51]
Quản lý quá trình huấn luyện: Là quá trình quản lý các mặt cấu thành
số lượng và chất lượng của hệ thống huấn luyện đào tạo VĐV Nó gồm mục tiêu huấn luyện, tuyển chọn kế hoạch huấn luyện, điều khiển quá trình huấn luyện
Mục tiêu huấn luyện: Là những chuẩn mực cần phải đạt tới của quá trình huấn luyện, tức chất lượng và số lượng của sản phẩm đào tạo xác định Mục tiêu phải xuất phát từ chiến lược và chiến thuật, qui hoạch và kế hoạch, chương trình đã qui định, dựa trên phân tích so sánh khả năng và so sánh lực lượng, đặc trưng của cơ sở, theo nguyên tắc tận dụng và điều phối tối đa các mặt của đơn vị đó nhằm đạt chất lượng huấn luyện cao nhất theo qui trình đã định một cách khoa học và hợp lý Mục tiêu đề ra luôn cụ thể, xác thực, ở mức phấn đấu có điều khiển và tận dụng năng lực tối đa mới có thể đạt tới, tức là phải động viên được sức mạnh toàn bộ tổng thể của đơn
vị, lợi dụng được mọi nhân tố trong và ngoài liên quan tới quá trình huấn luyện làm cho mọi người nhận rõ phạm vi và mức đạt tới, kích thích và động viên tinh thần và ý chí, tính chủ động, tự giác, sáng tạo khi hoàn thành công việc, thực thi đúng thời hạn
Tuyển chọn VĐV: Dựa vào cơ sở khoa học về mô hình VĐV hiện đại
và kinh nghiệm đã có để định các chuẩn mực cho tuyển chọn Định rõ tiến trình tuyển chọn thông nhất gắn chặt với quá trình huấn luyện, mục tiêu chiến lược và mục tiêu huấn luyện Các bước tuyển chọn gồm tuyển chọn
Trang 40ban đầu, tuyển chọn trong quá trình huấn luyện (tuyển chọn chuyên môn hóa) Tuyển chọn ban đầu được tiến hành trên diện rộng, thu hút nhiều người, nhất là số trẻ, học sinh, nhi đồng và thiếu niên tham gia, để qua đó tìm được, tập hợp được số có khả năng phát triển xa
Nội dung kiểm tra gồm hình thái cơ thể, di truyền, năng lực ban đầu (xuất phát điểm) về năng lực thể chất, hứng thú, khả năng tâm lý và loại hình thần kinh Coi trọng sự tự nguyện của cá nhân và gia đình Tiến hành kiểm tra ban đầu, quan sát theo dõi vận động của cá thể, điêu tra sự ủng hộ của cơ sở (nhà trường, chính quyền )
Phải thông qua tập thử để kiểm tra, phân tích các số liệu ban đầu Hình thức thường dùng là tập nghiệp dư hoặc tập trung, bán tập trung trong các
kỳ nghỉ hè với thời gian khoảng 3 đến 6 tháng Các kỳ kiểm tra theo định
kỳ, ít nhất ba lần, để đủ số liệu ban đầu cho phân tích, đánh giá để đưa vào đào tạo hệ thống Với các môn thể thao đồng đội, thời gian tập thử, tuyển chọn ban đầu có thể dài hơn [81], [95], [97]
Sau khi tuyển chọn ban đầu, đưa vào tập luyện tập trung tại các trung tâm, các lớp thể thao để tuyển chọn chính thức, xác định toàn diện năng lực theo nguyên tắc phù hợp và thích nghi để chuẩn bị giai đoạn hai của quá trình huấn luyện Các bước tuyển chọn năng lực chuyên sâu hóa được kiểm tra chặt chẽ theo nhiều mặt về sinh học, năng lực vận động, tâm lý, thần kinh, dự báo khă năng phát triển, dự báo khả năng về chức năng và cả tương quan giữa chúng
Cẩn trọng về dự báo năng lực, có khi dùng cả "linh cảm" của HLV (tập thể HLV) để kết luận một cá thể nhằm tránh bỏ sót Chỉ dựa vào kết quả đo định kỳ mà không chú ý xu hướng phát triển để dự báo là chưa đủ chính xác Sau khi xác định được khả năng phát triển xa, đưa vào huấn luyện chuyên sâu và hoàn thiện thể thao chưa phải đã kết thúc quá trình tuyển chọn Sai sót lớn của quá trình tuyển chọn ở giai đoạn này ít xảy ra,