Vì những lý do như vậy, đề tài “Tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ” được chọn nghiên cứu.. Mục đích nghiên cứu Chỉ ra thực trạng về tính sáng t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Như Mai
HÀ NỘI - 2014
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Phạm Hà Thu
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn PGS.TS
Nguyễn Thị Như Mai, người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận
tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Tâm lý học, Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn của mình
Phạm Hà Thu
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TÍNH SÁNG TẠO TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1.Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Lý luận về sáng tạo 14
1.2.1 Khái niệm về sáng tạo và tính sáng tạo 14
1.2.2 Đặc điểm của sáng tạo 18
1.2.3 Các cấp độ của sáng tạo 19
1.2.4 Đánh giá mức độ sáng tạo 20
1.3 Lý luận về hoạt động tạo hình và tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non 24
1.3.1 Khái niệm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non 24
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động tạo hình ở lứa tuổi mầm non 26
1.3.3 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non 27
1.3.4 Khái niệm tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non 29
1.3.5 Các bước tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ ở trường mầm non 29
1.4 Tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ 31
Trang 71.4.1.Khái niệm tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt
động tạo hình cho trẻ 31
1.4.2 Những tiêu chí đánh giá tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ 32
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến tính sáng tạo của giáo viên mẫu giáo trong tổ chức hoạt động tạo hình 36
1.5.1 Yếu tố khách quan 36
1.5.2 Yếu tố chủ quan 36
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 39
2.1.1 Vài nét chung về địa bàn nghiên cứu 39
2.1.2.Vài nét chung về các trường mầm non trong quận Thanh Xuân - thành phố Hà Nội 39
2.2 Tổ chức nghiên cứu 40
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu về mặt lý thuyết 40
2.2.2 Tổ chức nghiên cứu về mặt thực tiễn 40
2.3 Phương pháp nghiên cứu và công cụ nghiên cứu 40
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 40
2.3.2 Phương pháp quan sát 41
2.3.3 Phương pháp trắc nghiệm 44
2.3.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 50
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 51
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 52
3.1 Mức độ sáng tạo chung của giáo viên mầm non 52
3.2 Mức độ sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ 56
Trang 83.3 Các hình thức tổ chức hoạt động được giáo viên sử dụng trong các giờ
tạo hình 71
3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tính sáng tạo trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non 73
3.4.1 Những thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non: 73
3.4.2 Những khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non 77
3.5 Mối liên hệ giữa mức độ sáng tạo của giáo viên theo test TSD-Z và mức độ sáng tạo trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ 81
3.6 Mối liên hệ giữa mức độ sáng tạo của giáo viên trong tổ chức hoạt động tạo hình với thâm niên công tác 85
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Mức độ sáng tạo của giáo viên mầm non xét theo test TSD-Z 53
Bảng 3.2: Các tiêu chí đánh giá tính sáng tạo trong tổ chức hoạt động tạo hình của giáo viên mầm non 58
Bảng 3.3: Những thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình 74
Bảng 3.4: Những khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình 78
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Mức độ sáng tạo chung của giáo viên mầm non 53
Biểu đồ 3.2: Mức độ sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ 57
Biểu đồ 3.3: Sử dụng nguyên vật liệu 59
Biểu đồ 3.4: Cách thức đặt vấn đề, cung cấp thông tin 61
Biểu đồ 3.5: Cách thức kích thích tính tích cực ở trẻ 61
Biểu đồ 3.6: Cách thức cho trẻ thực hiện nội dung bài dạy 64
Biểu đồ 3.7: Cách thức giáo viên bao quát lớp 64
Biểu đồ 3.8: Cách thức tổ chức, trưng bày sản phẩm 65
Biểu đồ 3.9: Nhận xét, đánh giá sản phẩm 66
Biểu đồ 3.10: Liên hệ sản phẩm vào hoạt động 69
Biểu đồ 3.11: Kết hợp với các hình thức nghệ thuật khác 70
Biểu đồ 3.12: Các hình thức tổ chức hoạt động trong giờ tạo hình 71
Biểu đồ 3.13: Thuận lợi trong tổ chức hoạt động tạo hình 75
Biểu đồ 3.14: Khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình 78
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, giáo dục và đào tạo đóng một vai trò hết sức quan trọng, là nhân tố then chốt, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển Bởi vậy, tại hầu hết các quốc gia, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Mục tiêu giáo dục của chúng ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, kiến thức và trí tuệ, là người làm chủ tương lai, làm cho đất nước ngày một giàu mạnh Muốn đạt được mục tiêu trên thì phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người Lứa tuổi mầm non được ví như “thời kỳ vàng của cuộc đời”, sự phát triển của trẻ từ 0-6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên năng lực phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ trong tương lai Với đời sống người dân ngày càng được nâng cao và những tiến bộ không ngừng trong việc cải thiện chất lượng giáo dục, bậc giáo dục mầm non ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội
Hoạt động tạo hình (HĐTH) ở trẻ mầm non là một trong những hoạt động góp phần cho sự phát triển toàn diện của trẻ Đây là hoạt động nghệ thuật và là phương tiện quan trọng trong việc giáo dục thẩm mỹ, hình thành
và phát triển ở trẻ nhiều mầm mống sáng tạo Nó giúp trẻ tìm hiểu, khám phá
và thể hiện một cách sinh động những gì trẻ nhìn thấy trong thế giới xung quanh Hoạt động này có đầy đủ điều kiện đảm bảo sự tác động đồng bộ lên
sự phát triển của trẻ về đạo đức – trí tuệ - thẩm mỹ và hình thành các phẩm chất, kĩ năng ban đầu của con người như một thành viên trong xã hội
Trang 13Nói như vậy để thấy được tầm quan trọng của hoạt động tạo hình đối với trẻ mầm non Tuy nhiên, việc trẻ có thể tiếp thu cũng như phát triển tốt các năng lực của mình trong hoạt động tạo hình hay không lại phụ thuộc rất lớn vào khả năng tổ chức của giáo viên Nếu giáo viên tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ theo những phương pháp lạc hậu, rập khuôn, đi theo lối mòn sẽ làm hạn chế khả năng của trẻ, ngược lại, nếu biết sáng tạo, sử dụng những phương pháp hay và phù hợp sẽ giúp trẻ phát triển một cách tốt nhất Vì
những lý do như vậy, đề tài “Tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ” được chọn nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra thực trạng về tính sáng tạo trong hoạt động giảng dạy của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ hiện nay và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó, nhằm đưa ra một số khuyến nghị góp phần cải thiện và phát triển tính sáng tạo của giáo viên trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
120 giáo viên thuộc các trường mầm non thuộc địa bàn quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Mức độ sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
4 Giả thuyết nghiên cứu
Tính sáng tạo của giáo viên mầm non hiện nay trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đạt mức trung bình Mức độ sáng tạo trong hoạt động tạo hình cho trẻ của giáo viên mầm non phụ thuộc phần lớn vào mức
độ sáng tạo nói chung của mỗi cá nhân và thâm niên giảng dạy của họ
Trang 145 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài: Phân tích tài liệu để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu liên quan đến tính sáng tạo của giáo viên mầm non và việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
- Nghiên cứu thực trạng mức độ sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
- Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động tạo hình của trường mầm non gồm nhiều nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình vẽ cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn (từ 5 – 6 tuổi)
- Giới hạn khách thể và địa bàn nghiên cứu:
Địa bàn nghiên cứu:
Trường mầm non Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội
Trường mầm non Tràng An, Thanh Xuân, Hà Nội
Trường mầm non Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội
Khách thể nghiên cứu: 120 giáo viên
Trong đó có: 40 giáo viên thuộc trường mầm non Thanh Xuân Bắc
40 giáo viên thuộc trường mầm non Tràng An
40 giáo viên thuộc trường mầm non Khương Đình
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Sử dụng phương pháp này để đọc các văn bản, tài liệu, tạp chí, báo cáo, nghiên cứu khoa học, luận văn…ở trong và ngoài nước nghiên cứu về các lĩnh
Trang 15vực có liên quan đến tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ, từ đó tiếp thu kết quả nghiên cứu từ hệ thống các tài liệu này để làm rõ cơ sở lý luận của đề tài và làm rõ các khái niệm có liên quan
Xây dựng bảng hỏi gồm câu hỏi đóng và câu hỏi mở được sắp xếp một cách hợp lý nhằm thu thập các thông tin tổng quan về tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
Hình thức tiến hành: Phát phiếu hỏi và để khách thể tự làm độc lập
Sử dụng phần mềm SPSS dành cho các nghiên cứu xã hội Phương pháp này để loại bỏ những kết quả nghiên cứu chưa đủ tin cậy và thống kê các kết quả đạt độ tin cậy, đưa số liệu đã xử lý vào luận điểm nhận định của mình
để chứng minh các giả thuyết khoa học của đề tài nghiên cứu
Trang 16Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TÍNH SÁNG TẠO TRONG TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.Trên thế giới
Trên thế giới, sáng tạo không phải là vấn đề nghiên cứu độc tôn của tâm
lý học Các học giả nghiên cứu sáng tạo dựa trên các tác phẩm văn học nghệ thuật, tự thuật của các danh nhân, tiểu sử… để đi tìm nguyên nhân, sự khác biệt nào dẫn đến sáng tạo ở con người
Thuật ngữ khoa học về sáng tạo (Heuristics, Creatology hay Asinveniendi) lần đầu tiên xuất hiện trong những công trình của nhà toán học Pappos sống vào nửa cuối thế kỷ III tại Alexandria – Hy Lạp “Khoa học hóa
tư duy sáng tạo” hay sáng tạo, theo quan niệm lúc bấy giờ, là khoa học về các phương pháp và quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán học, quân sự… Sau đó các nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes, Leibnitz, Bernard Bolzano… đã có nhiều cố gắng thành lập hệ thống khoa học nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người tuy nhiên điều này vẫn chưa thể thực hiện được
Rất lâu sau đó, khoa học sáng tạo hầu như bị lãng quên Mãi đến giữa thế kỷ XIX, các nhà xã hội học mới có những đóng góp đáng kể đầu tiên trong việc giải quyết vấn đề sáng tạo Họ cho rằng, bản chất của tính tích cực sáng tạo là ở hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kích thích khả năng sáng tạo Quan điểm này về sau đã được các nhà tâm lý học Macxit ủng hộ và phát triển
Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, vấn đề sáng tạo được chú ý nghiên cứu mạnh do đây là thời điểm nhân loại có những bước tiến vượt bậc về khoa học
Trang 17kỹ thuật và cũng do yêu cầu phát triển kinh tế của các nước Trong đó, Mỹ và Liên Xô là hai nước có nhiều thành tựu to lớn và đáng kể nhất
Ở nước Mỹ:
Nước Mỹ là một nước có nền khoa học – kỹ thuật phát triển vào bậc nhất trên thế giới, bởi vậy các nhà khoa học ở đây có điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất để tiến hành các công trình nghiên cứu về sáng tạo
Vào đầu những năm 1920, Lewis Terman tiến hành một số công trình nghiên cứu về sáng tạo trên những học sinh có chỉ số IQ từ 140 trở lên Công trình này đã được đánh giá rất cao, sau đó ông còn nghiên cứu nhiều công trình khác cũng về lĩnh vực sáng tạo và đã rút ra nhiều điều về các vấn đề chung của sáng tạo như: nhân cách sáng tạo, sản phẩm sáng tạo…
Năm 1938, cuốn sách đầu tiên về vấn đề sáng tạo được xuất bản, đó là cuốn sách của tác giả A.Osborn Ông là một nhà kinh doanh nhưng lại hết sức quan tâm đến lĩnh vực sáng tạo, đặc biệt là tư duy sáng tạo Ông đã cho ra đời
4 cuốn sách về sáng tạo và được tái bản 26 lần Một trong những cuốn sách đó
là cuốn sách giáo khoa “Ứng dụng của ý tưởng khoáng đạt” đã được sử dụng tại 300 trường đại học và cao đẳng
Năm 1944, William Gardon – nhà nghiên cứu sáng tạo người Mỹ - đã đưa ra luận điểm chung về việc kích thích tư duy sáng tạo Từ năm 1953 –
1959, ông đề xuất phương pháp sáng tạo với cái tên Xinetic (tiếng Hy Lạp nghĩa là kết hợp các yếu tố khác chủng loại).Các nhóm Xinetic là các nhóm bao gồm những người thuộc những ngành nghề khác nhau, gặp nhau với mục đích giải quyết những vấn đề sáng tạo bằng con đường luyện trí tưởng tượng
và kết hợp với những yếu tố không thể dung hòa
Việc nghiên cứu một cách có hệ thống về sáng tạo bắt đầu vào năm
1950 do nhà tâm lý học Mỹ J.P.Guilford đề cập
Trang 18Năm 1959, J.P.Guilford – Giáo sư trường Đại học Tổng hợp ở miền nam California – là nhà Tâm lý học có công đầu tiên trong việc khẳng định sự tồn tại của trí sáng tạo Ông đưa ra mô hình trí tuệ gồm 120 thành tố, trong đó
có 61 thành tố thông minh và 59 thành tố sáng tạo Ông cho rằng sáng tạo có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động tạo ra những giá trị mới chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân, hoặc chưa từng có trong kinh nghiệm xã hội Đồng thời ông khuyến khích các nhà Tâm lý học tham gia nghiên cứu vấn đề này, theo hướng tìm cách trả lời những câu hỏi: Có thể nhận biết khả năng sáng tạo của con người không? Nếu có thì bằng con đường nào? Có thể phát triển được tiềm năng sáng tạo của con người không?
Từ đây, tính sáng tạo đã được các nhà Tâm lý học Mỹ thừa nhận là có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người
Và từ lúc đó ở Mỹ xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo, chỉ tính riêng trong lĩnh vực tâm lý – giáo dục đã có tới 14 nhóm nghiên cứu như: J Holland, May, Mackinnon, F.Barron, F.P.Torrance… Nội dung của các công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo như: những tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo, thuộc tính của nhân cách sáng tạo, vấn đề phát triển năng lực sáng tạo
Nước Mỹ đã đề ra yêu cầu cấp thiết cho các nhà khoa học và đầu tư lớn cho những nghiên cứu tâm lý học về sáng tạo của con người với khẩu hiệu:
Để cho một quốc gia có thể sống sót thì mỗi cá nhân phải suy nghĩ sáng tạo Nước Mỹ đã gặt hái nhiều thành công về lĩnh vực sáng tạo nhờ chính sách phát triển này Từ đó đến nay, nước Mỹ vẫn tiếp tục phát triển nghiên cứu từ việc chẩn đoán, phát triển các thành tố tạo nên sự sáng tạo nhằm chú trọng phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 19Các nhà tâm lý học L.X.Vugotxki và X.L.Rubinstein nhấn mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo, đánh giá
sự có mặt tất yếu của tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động tư duy
P.A.Rudich – giáo sư, tiến sỹ Tâm lý học người Nga – nghiên cứu các đặc điểm cơ bản của quá trình tưởng tượng sáng tạo, đưa ra quan niệm rằng không phải bất kỳ loại tưởng tượng nào cũng có thể tham gia vào quá trình sáng tạo được mà chỉ có những loại tưởng tượng sáng tạo với những nét tiêu biểu như sau:
- Nền tảng kiến thức chung lớn, kinh nghiệm thực tiễn nhiều
- Nảy sinh ý niệm dưới hình thức khái quát chung nhất mang tính chất nguyên tắc; thử giải quyết nhiệm vụ trong thực nghiệm cụ thể hoặc trong thử nghiệm có tính chất cấu trúc
- Biến ý niệm chung ban đầu thành giải pháp cụ thể
- Thể hiện lý thuyết trong các thí nghiệm, chứng minh lý thuyết đó, thể hiện ý niệm sáng chế thành sản phẩm cụ thể
Trang 20Ngoài ra, tác giả còn quan tâm nghiên cứu ý đồ cá nhân, tâm trạng, cách thức, khả năng, vai trò của tưởng tượng, tư duy đối với quá trình sáng tạo của con người
Bên cạnh các nhà Tâm lý học Mỹ và Liên Xô, các nhà Tâm lý học Ba Lan, Đức, Tiệp Khắc, Bulgari cũng rất quan tâm nghiên cứu vấn đề sáng tạo
cả về lý luận lẫn thực nghiệm
Năm 1984, nhà Tâm lý học người Đức Erika Landau trong cuốn sách của mình đã khẳng định: “Trí sáng tạo là một thuộc tính bổ sung, mở rộng trí thông minh Trí sáng tạo được hình thành dựa trên trí thông minh, nó mở rộng
và nâng cao trí thông minh bằng cách tìm ra mối quan hệ mới giữa những thông tin đã biết” [17,tr.205]
M.A.K.Naudov – viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Bungary – đã có công trình nghiên cứu về bản chất sáng tạo của văn học Trong tác phẩm “Tâm lý học sáng tạo văn học” ông đã đề cập đến các vấn đề quá trình sáng tạo, các yếu tố ý thức của sáng tạo văn học và vấn đề cảm hứng sáng tác dưới góc độ triết học duy vật biện chứng
Năm 1994, trắc nghiệm sáng tạo TSD- Z của tác giả người Đức Klaus
K Urban ra đời Đây là dạng trắc nghiệm phi ngôn ngữ (vẽ tranh) được thiết
kế cho cả trẻ em và người lớn, thời gian là 15 phút, đưa ra một trang giấy test
có 6 hoạ tiết trong đó 5 hoạ tiết nằm trong khung hình chữ nhật, một hoạ tiết nằm ngoài khung này, các nghiệm thể được yêu cầu phải hoàn thiện bức tranh dựa trên các hoạ tiết đã cho theo ý của riêng mình Các bức tranh sau đó được chấm điểm theo 14 tiêu chí, phản ánh cấu trúc sáng tạo mà trắc nghiệm muốn
đo lường theo mô hình lý thuyết sáng tạo của Klaus K Urban
=> Tóm lại:
Có thể thấy rằng nghiên cứu về sáng tạo là một lĩnh vực được các nhà tâm lý học rất quan tâm, đặc biệt là trong những năm gần đây, các lĩnh vực
Trang 21nghiên cứu về sáng tạo ngày càng phong phú và phát triển, có thể tựu trung thành một số hướng nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ quá trình sáng tạo, bao gồm các bước đi đến những ý tưởng sáng tạo mới
- Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ nhân cách, làm cơ sở định hướng và phát triển những nhân cách sáng tạo
- Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ văn hóa: nghiên cứu những yếu tố văn hóa tác động đến tính sáng tạo của con người
- Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ sinh lý thần kinh: nhằm lý giải sáng tạo dưới góc độ sinh học
- Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ phân tích sản phẩm hoạt động, làm
cơ sở để đánh giá mức độ sáng tạo của mỗi cá nhân và cộng đồng
Mỗi nhà khoa học nghiên cứu về sáng tạo đều có cách nhìn và cách hiểu riêng của họ, có người nghiên cứu về quy luật, có người nghiên cứu về bản chất… tuy nhiên hầu như mọi nghiên cứu đều hướng đến mục đích phát triển tính sáng tạo của con người một cách toàn diện nhất Điều đó có nghĩa là tất cả các nhà khoa học đều nhận thấy tầm quan trọng và tính thực tiễn của việc nghiên cứu tính sáng tạo, từ việc nghiên cứu trên lý thuyết và thực nghiệm các nhà khoa học mong muốn có thể tìm ra những phương pháp hiệu quả giúp tăng cường khả năng sáng tạo của con người nói riêng và thúc đẩy
sự phát triển của xã hội nói chung
1.1.2 Ở Việt Nam
Năm 1990, Viện Khoa học giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo là
cơ quan khoa học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu về trí sáng tạo của học sinh Các nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra con đường giáo dục có thể phát huy tối đa tính sáng tạo ở học sinh nước ta
Trang 22Tác giả Nguyễn Huy Tú là người có nhiều nghiên cứu có giá trị về tính sáng tạo dưới góc độ tâm lý học và giáo dục học ở Việt Nam, đã có đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu lý thuyết về tính sáng tạo cũng như các phương pháp đo đạc đánh giá tính sáng tạo của người Việt Nam ở các độ tuổi khác nhau Trong cuốn sách “Bộ trắc nghiệm sáng tạo TSD-Z của Klaus K.Urban với những ứng dụng ở nước ngoài và Việt Nam”, tác giả đã trình bày một cách cơ bản về bộ test sáng tạo TSD-Z của Klaus K.Urban (cơ sở lý thuyết,
kỹ thuật thực hiện test, kỹ thuật chấm bài test cũng như kỹ thuật xử lý phân tích số liệu test) và những ứng dụng ở nước ngoài, những nghiên cứu thích ứng TSD-Z của Urban vào Việt Nam cũng như những ứng dụng bước đầu của TSD-Z trong nghiên cứu khảo sát tính sáng tạo của người Việt Nam ở các độ tuổi từ mẫu giáo đến tuổi trưởng thành
Theo hướng đó, tác giả Phan Thị Dung cũng nghiên cứu về trắc nghiệm
đo lường tư duy sáng tạo và rút ra được một số kết quả có giá trị về ưu điểm
bộ test sáng tạo TSD-Z của Klaus K.Urban
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như: “Sáng tạo – bản chất và phương pháp chẩn đoán” của Nguyễn Huy Tú
và Phạm Thành Nghị, “Phát huy tính sáng tạo của trẻ” của tác giả Nguyễn Mạnh Linh, Trần Kiều với nghiên cứu “Trí tuệ và đo lường trí tuệ”…
Năm 1998, tác giả Lê Thị Bằng đã nghiên cứu đề tài “Bước đầu đánh giá về tưởng tượng sáng tạo của sinh viên Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội” Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu thực trạng tưởng tượng sáng tạo của sinh viên trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội bằng trắc nghiệm tâm lý Trên cơ sở đó tác giả đề xuất sử dụng test như một phương pháp bổ trợ trong việc tuyển chọn sinh viên của trường và ở chừng mực nào đó đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Trang 23Năm 2000, tác giả Phạm Thu Hương đã tìm hiểu vấn đề “Tiềm năng sáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động theo nhạc ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi” Thông qua đề tài tác giả muốn tìm hiểu thực trạng tiềm năng sáng tạo
và những biểu hiện sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong vận động theo nhạc ở trường mầm non Tác giả đã rút ra kết luận:trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam có tiềm năng sáng tạo ở mức trung bình theo chuẩn TSD-Z đối với trẻ Âu – Mỹ; trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh có biểu hiện sáng tạo trong vận động theo nhạc còn thấp hơn so với tiềm năng sáng tạo của các em Nguyên nhân là do hiện nay việc giáo dục âm nhạc trong trường mầm non ở nước ta chưa đưa hình thức vận động tự do theo nhạc vào chương trình giảng dạy Từ đó tác giả kiến nghị nên xây dựng lại yêu cầu của chương trình giáo dục âm nhạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, trong
đó cần nêu rõ yêu cầu phát triển tính sáng tạo trong vận động theo nhạc để giúp các cô giáo nhận thực rõ ràng hơn và có năng lực thực hiện yêu cầu này một cách đầy đủ và tốt nhất
Cũng trong năm 2000, tác giả Đỗ Thị Thanh Mai đã bảo vệ thành công
đề tài “Nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vẽ” Theo tác giả, thông qua hoạt động vẽ các em bộc lộ, đồng thời phát triển các thuộc tính sáng tạo nói riêng, các đặc điểm cá nhân nói chung, tuy nhiên, khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo được bộc lộ chưa cao và
có sự khác biệt về khả năng sáng tạo giữa các cá nhân trong cùng độ tuổi, giữa trẻ mẫu giáo nội và ngoại thành Hà Nội Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo được nghiên cứu ở địa bàn nội thành Hà Nội cao hơn so với các bạn cùng
độ tuổi ở ngoại thành Điều này là do sự khác nhau về điều kiện sinh hoạt, môi trường văn hóa, điều kiện dạy học giữa hai môi trường sống tạo nên
Năm 2005, đề tài “Tính sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 tuổi qua test
KVS-P của Guenter Krampen” đã được tác giả Nguyễn Thị Hà nghiên cứu Qua
Trang 24nghiên cứu tác giả cho thấy rằng trẻ mẫu giáo 5 tuổi ở thành phố Thái Nguyên
có tính sáng tạo ở mức trung bình (nghiêng về dưới trung bình) Số liệu này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Huy Tú vào năm 2000 trên trẻ em tiểu học Việt Nam Tác giả cũng cho rằng, có mối quan hệ giữa kiểu giáo dục của cha mẹ và tính sáng tạo của con cái họ Những trẻ mẫu giáo là con của các bậc phụ huynh áp dụng kiểu giáo dục dân chủ có tính sáng tạo cao hơn những trẻ mẫu giáo là con của các bậc phụ huynh áp dụng kiểu giáo dục áp đặt, quyền uy
Như vậy, có thể thấy ở Việt Nam cũng như trên thế giới, vấn đề sáng tạo đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học Về mặt lý thuyết, các nhà tâm lý học đã tiếp thu những kết quả nghiên cứu thành công của nước ngoài và phát triển, cải biến cho phù hợp với điều kiện và đặc điểm riêng của con người Việt Nam Song song với đó, những nghiên cứu thực tiễn liên tiếp được tiến hành để kiểm chứng và củng cố cũng như làm rõ hơn cho lý thuyết
để có thể hoàn thiện mảng lý thuyết về sáng tạo cho thật sự phù hợp với đất nước và con người Việt Nam.Tuy nhiên, những nghiên cứu ở Việt Nam đa phần đều tập trung vào khách thể là học sinh và sinh viên với mục tiêu lớn nhất là tìm ra phương pháp tăng cường và kích thích tính sáng tạo của nhóm tuổi này Đặc biệt, có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành trên trẻ mẫu giáo, lứa tuổi này có thể được uốn nắn để phát triển một cách tốt nhất do vậy mà vấn đề phát triển tính sáng tạo cho các em rất được chú trọng Trong lứa tuổi của các em, một trong những hoạt động không thể thiếu đó là hoạt động tạo hình Hoạt động tạo hình là cái nôi nuôi dưỡng cảm xúc về nghệ thuật, về cuộc sống, là hành trang cho những rung cảm nhân văn về cái đẹp của các em sau này Vì lý do đó, tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo
là một hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm và tiến hành Chúng tôi cũng rất quan tâm đến vấn đề hoạt động tạo hình, tuy nhiên chúng tôi muốn
Trang 25nghiên cứu hoạt động tạo hình dưới góc độ là một hoạt động được tổ chức và sáng tạo bởi giáo viên, giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc dẫn dắt trẻ cảm thụ Sự sáng tạo của giáo viên có thể quyết định sự thành công và hiệu quả của bài dạy Hơn thế nữa,chúng tôi muốn nghiên cứu tính sáng tạo trên khách thể là giáo viên mầm non bởi vì họ là những người đã trưởng thành, đã tự lập, việc nghiên cứu trên lớp khách thể còn mới mẻ này sẽ
có thể sẽ đóng góp thêm một phần nhỏ trong kho tư liệu về sáng tạo đang rất được quan tâm tại Việt Nam Bởi những lý do như vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài về tính sáng tạo của giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
1.2 Lý luận về sáng tạo
1.2.1 Khái niệm về sáng tạo và tính sáng tạo
Khái niệm sáng tạo được sử dụng đồng nghĩa với nhiều thuật ngữ khác
như sự sáng tạo, tư duy sáng tạo hay óc sáng tạo Các thuật ngữ này đều có liên quan đến thuật ngữ gốc Latin “Crear” và mang một nghĩa chung là sự sản xuất, sinh ra một thứ mới trước đây chưa từng có Một số quan điểm nổi bật
về sáng tạo:
- Theo quan điểm duy tâm, sáng tạo được xem là một quá trình vô thức, tiền định, trong đó yếu tố ngẫu nhiên đóng vai trò chủ yếu Platon coi sáng tạo là trạng thái tâm linh quyến rũ Quan niệm này là hoàn toàn sai lầm
vì đã không thấy được bản chất của sự sáng tạo cũng như sự hoạt động tích cực của con người trong quá trình sáng tạo
- L.X.Vugotxki trong cuốn “Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu niên” đã đưa ra quan niệm: “Chúng ta gọi hoạt động sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật cụ thể, hoặc là một sản phẩm của trí tuệ, hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người” [4, tr.5]
Trang 26- Theo X.L Rubistein thì “sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần mới mang ý nghĩa xã hội, hay nói một cách khác thì đó là hoạt động tao ra một cái gì đó mới mẻ, đặc sắc, cái mà không chỉ đi vào lịch sử phát triển bản thân người sáng tạo mà còn đi vào lịch sử phát triển khoa học kỹ thuật, nghệ thuật” [3, tr.11]
- I.A.Ponomariov đã thể hiện quan niệm của mình trong công trình nghiên cứu tâm lý học hoạt động sáng tạo của mình, ông chỉ rõ: “Sáng tạo là nét đặc trưng cho cả thế giới vô sinh và hữu sinh trước khi xuất hiện loài người, khi xuất hiện loài người và xã hội loài người Sáng tạo là điều kiện thiết yếu để phát triển vật chất và cùng với sự xuất hiện của chúng thì bản thân các hình thức sáng tạo cũng thay đổi” Ông còn nhấn mạnh: “Sáng tạo của con người chỉ là một trong những hình thức đó” [20, tr.140]
- Nhà tâm lý học E.P.Torrance cho rằng : “Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết, nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả” Trong quá trình sáng tạo con người phải xem xét những điều kiện khách quan, chủ quan, khám phá, tìm tòi, tạo ra những giả thuyết, sau đó thử đi thử lại, kiểm tra các giả thuyết, cuối cùng trực tiếp hay gián tiếp tạo ra kết quả Như vậy, quá trình giải quyết bất kỳ một nhiệm vụ nào của con người đều là hoạt động sáng tạo nhưng ở các mức độ khác nhau [20, tr.181]
- J.Guilford không đưa ra một định nghĩa cụ thể về quá trình sáng tạo
mà ông đưa ra một mô hình lý thuyết về cấu trúc trí tuệ gồm 120 thành tố, trong đó có hai thành phần: thứ nhất là tư duy hội tụ - thành phần logic của trí tuệ; thứ hai là tư duy phân kỳ - loại tư duy sáng tạo, làm cơ sở để cá nhân tạo
ra cái mới, độc đáo và có ích cho xã hội, như các sáng chế kỹ thuật, sáng tạo văn học, nghệ thuật… tức là sáng tạo ra cái mới có ích mà trước đó chưa có
Từ lý thuyết trên có thể thấy rằng, theo ông, sáng tạo mà một thuộc tính của
tư duy, là một phẩm chất của quá trình tư duy
Trang 27Tại Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo
- Theo từ điển tiếng Việt thì “Sáng tạo là tạo ra giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; có cách giải quyết mới không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có; có óc sáng tạo, vận dụng một cách sáng tạo” [23, tr.1429]
- Tác giả Phan Dũng trong từ điển Triết học đã định nghĩa: “Sáng tạo là một quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, quân sự Có thể nói rằng, sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần” [24, tr.495]
- Tác giả Nguyễn Huy Tú thì cho rằng: “Sáng tạo là một thuộc tính tâm
lý đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý, trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra” [17, tr6]
Qua việc tìm hiểu và phân tích những quan điểm khác nhau của các tác giả ở cả trong và ngoài nước, có thể thấy rằng các tác giả này tuy nghiên cứu sáng tạo dưới những góc độ và cách tiếp cận khác nhau nhưng cốt lõi đều coi sáng tạo là tạo ra cái mới
Khái niệm tính sáng tạo là một khái niệm còn đa nghĩa trong tâm lý
học, giáo dục học và các khoa học liên quan
- Theo Pigpig, “tính sáng tạo là thuộc tính nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề Thuộc tính nhân cách này là
tổ hợp các phẩm chất tâm lý mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên
Trang 28bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống và đưa ra giải pháp mới, độc đáo, thích hợp với vấn đề đặt ra” [20, tr.167]
- Theo M.Rhodes: Tính sáng tạo là cách suy nghĩ hay tìm kiếm, suy nghĩ và xem xét theo các cách mới khác, bao gồm quá trình suy nghĩ và những kỹ năng con người ứng dụng theo những cách độc đáo
- Theo Erinka Landau, “tính sáng tạo là thành phần có thứ bậc cao nhất của trí tuệ con người Nếu trí thông minh là năng lực thu thập thông tin thì tính sáng tạo được hình thành dựa trên năng lực này; nó mở rộng, nâng cao trí thông minh bằng cách tìm ra những mối quan hệ mới giữa những thông tin hay tri thức đã biết.Trí thông minh cần đến tư duy hội tụ trong khi đó tính sáng tạo cần đến tư duy phân kỳ, có khả năng dẫn đến nhiều cách trả lời khác nhau, nó còn huy động cùng một lúc nhiều lĩnh vực tri thức, kinh nghiệm…” [20, tr.205]
- Theo Klaus Urban, “tính sáng tạo là thuộc tính nhân cách bộc lộ trong sản phẩm hoạt động mới mẻ, độc đáo và tối lợi, gây ngạc nhiên cho bản thân và cho người khác, tính sáng tạo không chỉ được xem xét đơn thuần riêng rẽ dưới quan điểm nhận thức mà phải được nhìn nhận trong tinh thần kết hợp của quan điểm nhận thức và nhân cách” [20, tr 188] Dưới góc độ nhận thức và nhân cách, Urban nghiên cứu và đưa ra mô hình cấu trúc các thành tố của sáng tạo và mỗi mặt được trải ra theo ba bình diện (cá nhân, nhóm hoặc môi trường gần; xã hội lịch sử toàn cầu) Các thành tố gồm: Tư duy phân kỳ
và hành động phân kỳ, soạn thảo kế hoạch tỉ mỉ, chi tiết (elaboration), tính độc đáo (originality), mối liên kết xa (remote association), cấu trúc lại và định nghĩa lại (reconstruction and redefinition), tính mềm dẻo (flexibility), tính lưu loát (fluency), tính nhạy cảm vấn đề (sensibility)
Trang 29Dựa vào việc tìm hiểu và phân tích khái niệm sáng tạo và tính sáng tạo
ở trên, có thể thấy rằng các tác giả tiếp cận nghiên cứu sáng tạo và tính sáng tạo ở nhiều góc độ khác nhau Thông qua những quan điểm đa dạng đó, đề tài xin đưa ra khái niệm chung về tính sáng tạo:
Tính sáng tạo là một thuộc tính tâm lý của nhân cách, được hình thành
và phát triển qua hoạt động tích cực của chủ thể nhằm tạo ra các sản phẩm
có tính mới
Như vậy, tính sáng tạo được đo bằng mức độ sáng tạo trong hoạt động
1.2.2 Đặc điểm của sáng tạo
Sáng tạo được bộc lộ ở ba tính chất: tính mới mẻ, tính độc lập và tính tối lợi
- Sáng tạo bộc lộ ở tính mới mẻ trong sản phẩm của tư duy hay hành động Tính mới mẻ này có thể là đối với cá nhân hoặc đối với xã hội Khi đề cập đến sự sáng tạo của người trưởng thành, của nhà khoa học, nhà phát minh sáng chế, sáng tác là nói đến tính mới mẻ trên bình diện xã hội
Do đó, sự sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ của giáo viên mầm non cũng được xem xét với tư cách là sự sáng tạo trên bình diện xã hội
- Tính độc lập trong tư duy và hành động là đặc trưng thứ hai của sáng tạo, chính tư duy độc lập là tiền đề nảy sinh những ý tưởng mới, phương pháp mới, giải pháp mới Điều kiện quan trọng để phát triển tính độc lập trong tư duy là việc đặt cá nhân trước vấn đề mà họ phải đi đến đích bằng con đường giải quyết vấn đề đó Khi rơi vào hoàn cảnh có vấn đề, nếu họ thử nghiệm độc lập để tìm giải pháp mà càng đi chệch xa với thông thường (đã có công thức, giải thuật…) thì càng được đánh giá là có tính sáng tạo Người sáng tạo có khuynh hướng tránh lặp lại cách giải quyết cũ đã có bằng sự hoài nghi, muốn
từ bỏ cách truyền thống, thậm chí từ bỏ cả mục đích truyền thống Họ cố gắng đưa ra các ý tưởng mới, cách thức mới để thực thi ý tưởng độc đáo, khác lạ với thông thường ấy của mình
Trang 30- Tính tối lợi được thể hiện trong giá trị của sản phẩm mới Quá trình sáng tạo ra sản phẩm mới luôn vẫn có mối liên quan đến hiện thực; sáng tạo không phải là sự đoạn tuyệt của hiện thực mà là sự phản ánh hiện thực một cách tối đa – sự phản ánh trong tình huống mới, chất lượng mới và với mục đích mới Thông thường người ta hay cho rằng, sáng tạo (nghệ thuật hay công nghệ) bao giờ cũng nhằm vươn tới việc tạo ra cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi hơn cho sự phát triển của xã hội
- Cấp độ 2 – Sáng tạo sáng chế: Là bậc cao hơn sáng tạo biểu hiện
Nó đòi hỏi kỹ năng nhất định để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến của cá nhân Ở cấp độ này, tính bộc phát, hứng khởi đã nhường bước cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo
- Cấp độ 3 – Sáng tạo phát kiến: Có đặc trưng là sự phát hiện hoặc
“tìm ra” do “nhìn thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trước đây Đây chưa phải là cấp bậc sáng tạo cao nhất, mà chỉ là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại chúng để đi đến các quan hệ mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến
- Cấp độ 4 – Sáng tạo cải biến (đổi mới, cải cách): Là cấp bậc sáng tạo cao Nó thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay sản xuất, tức là đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định, từ đó xây dựng được các ý tưởng cải tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội Lackben cho rằng, dự án trong đầu càng xa với ban đầu bao nhiêu thì sự sáng tạo càng lớn hơn bấy nhiêu
Trang 31- Cấp độ 5 – Sáng tạo cao nhất là những ý tưởng làm nảy sinh ngành nghề mới, trường phái mới, vượt qua cả trí tuệ đương thời Đại diện cho những người đạt cấp bậc này là Einstein trong vật lý, Picasso trong hội họa, Chopin trong âm nhạc, Darwin trong sinh vật học, K.Marx, Hồ Chí Minh trong xã hội và khoa học chính trị
1.2.4 Đánh giá mức độ sáng tạo
1.2.4.1.Tiêu chí sáng tạo
Kết quả của hoạt động sáng tạo là tạo ra sản phẩm (tinh thần hoặc vật chất) Tuy nhiên, khi nào thì sản phẩm của hoạt động được gọi là sáng tạo? Nói cách khác, có những tiêu chí nào để khẳng định một sản phẩm nào đó được gọi là sáng tạo
Một số nhà Tâm lý học người Mỹ như Claus Meier, Ripple, Taylor, Kogan quan niệm cấu trúc của năng lực sáng tạo gồm các yếu tố:
- Tính linh hoạt: Là khả năng biến đổi những thông tin thu nhận được, khả năng thay đổi dễ dàng và nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác, khả năng định nghĩa lại sự vật, gạt bỏ mô hình tư duy đã có sẵn để xây dựng những mối quan hệ khác nhau để tạo nên hình ảnh mới Tính linh hoạt gồm 2 loại là tính linh hoạt bột phát (khả năng cấu trúc lại cái đã có) và linh hoạt thích ứng (khả năng tạo ra cái độc đáo)
- Tính mềm dẻo: Là năng lực tổng hợp nhanh chóng dẫn tới ý tưởng mới để kết hợp các yếu tố riêng của tình huống, hoàn cảnh của sự vật, hiện tượng Tính mềm dẻo được thể hiện qua những yếu tố sau:
Lưu loát trong ý tưởng: tìm ra được cách trả lời phù hợp, các giải pháp phù hợp với điều kiện cho trước
Lưu loát trong từ ngữ: từ một số từ, một số chữ, các tổ hợp từ cho trước có thể nhanh chóng tạo ra các câu văn
Trang 32 Lưu loát trong liên tưởng: Đó là sự nhanh chóng tìm ra mối liên tưởng giữa các sự vật với hoàn cảnh cho trước Là khả năng tìm ra nhiều giải pháp khi có một vấn đề đặt ra nhờ sự liên tưởng đến những giải pháp đã có trong vốn kinh nghiệm
Lưu loát trong biểu đạt: Là khả năng sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt các ý tưởng, các khái niệm một cách chính xác, sinh động và nhanh chóng
- Tính độc đáo: Khả năng này cho phép con người nhìn sự vật, hiện tượng một cách khác lạ, mới mẻ Tính độc đáo được tạo bởi 2 yếu tố sau:
Sự hiếm lạ, duy nhất: “hiếm” ở đây được tính trên căn cứ của thống
kê Đó là khả năng cá nhân lựa chọn những tình huống, những sự vật để giải quyết vấn đề khác hẳn với mọi người
Sự liên tưởng xa: Đó là khả năng đưa ra các liên tưởng mới lạ đối với các sự vật, hiện tượng có quan hệ không gần gữi với nhau Càng đưa ra nhiều giải thích, hoặc giải thích càng xa với tình huống ban đầu thì chứng tỏ tính độc đáo càng cao
Tính độc đáo của sáng tạo chủ yếu thể hiện ở các giải pháp mới lạ, hiếm có, không quen thuộc và duy nhất
- Tính cấu trúc – kế hoạch: Là khả năng xây dựng kế hoạch, thực hiện giải pháp từ những ý tưởng mới, xây dựng cấu trúc mới từ những thông tin đã có
- Tính nhạy cảm của vấn đề: Là sự phát hiện nhanh chóng những sai lầm, mâu thuẫn, thiếu hụt hay thiếu logic, thiếu ngắn gọn, chưa tối ưu của những vấn đề, và từ đó nảy sinh ý muốn cấu trúc lại chúng cho hợp lý hơn, hài hòa hơn, thích hợp hơn để tạo ra cái mới
- Tính định nghĩa lại sự vật, hiện tượng: Là khả năng tìm ra các dấu hiệu tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng để có thể định nghĩa lại, đặt tên lại cho các sự vật, hiện tượng mà vẫn không làm mất ý nghĩa, bản chất của nó
J Guilford dựa theo tính chất phân bố, ông cho rằng năng lực sáng tạo rất giống những biến số nhân cách thông thường Ông xác lập cấu trúc sáng tạo bao gồm:
Trang 33- Tính độc đáo
- Tính trôi chảy (ở phương tiện tư duy và biểu đạt)
- Tính mềm mại và thích ứng
- Tính nhạy cảm đối với các tình huống có vấn đề
Theo quan niệm của E.P.Torrance thì ai cũng có tiềm năng sáng tạo, chỉ có điều mức độ sáng tạo ở mỗi người là không giống nhau Nếu có điều kiện thuận lợi thì tiềm năng này sẽ được bộc lộ một cách tốt hơn Ông chỉ ra 4 chỉ số sáng tạo như sau:
- Nhanh nhạy (Fluency): Khả năng nhanh chóng tạo ra sản phẩm
- Linh hoạt (Flecibility): Khả năng linh hoạt trong việc tạo ra nhiều cách giải quyết khác nhau
- Chi tiết (Elaboration): Tính chi tiết, tỉ mỉ, công phu của sản phẩm
- Độc đáo (Originality): Tính độc đáo của sản phẩm hoặc phương pháp tạo thành sản phẩm
Có thể thấy rằng mỗi tác giả đều có định hướng và cách lý giải riêng
về những tiêu chí để đánh giá mức độ sáng tạo của cá nhân, tuy nhiên hầu hết các tác giả đều xây dựng nên những tiêu chí đánh giá đó dựa trên một vài đặc điểm chung: sự linh hoạt khi tiếp nhận và xử lý thông tin, sự mới mẻ trong cách giải quyết vấn đề và sự mềm dẻo, nhanh nhạy khi gặp tình huống có vấn
đề Từ ba điểm cốt lõi này mà các tác giả phát triển thành những tiêu chí khác nhau cũng như tập trung vào những trọng điểm khác nhau để đúc kết thành một hệ thống đánh giá mức độ sáng tạo của riêng mình
Trong khuôn khổ luận văn này, với đối tượng nghiên cứu là mức độ sáng tạo của giáo viên mầm non, một ngành nghề có đặc thù riêng đó là nhấn mạnh vào sự tương tác trong mối quan hệ thầy – trò để tạo nên hiệu quả giảng dạy, đề tài sẽ phát triển các tiêu chí đánh giá mức độ sáng tạo dựa trên lý thuyết của J Guilford vì lý thuyết của ông tập trung rất nhiều vào việc đánh
Trang 34giá khả năng phát hiện và xử trí của cá nhân khi đối mặt với những tình huống
có vấn đề
1.2.4.2 Phương pháp đo lường tính sáng tạo
Tính sáng tạo là một thành phần trí tuệ cao nhất và chỉ có ở con người, giúp con người cải tạo và biến đổi thế giới Việc đánh giá tính sáng tạo không đơn giản, không thể quan sát trực tiếp mà cần thông qua hành vi của người
đó, không thể cân đo đong đếm như chiều cao hay trọng lượng mà cần phải sử dụng công cụ đo gián tiếp, đó là phương pháp đánh giá hay bộ test tâm lý Các test trí tuệ truyền thống không thể đánh giá, đo đạc tính sáng tạo Về mặt
kỹ thuật, một bộ test trí tuệ có khả năng đánh giá chính xác và khách quan, đáng tin cậy chính là hệ thống các bài tập (items) đủ số lượng cần thiết, có độ khó và tính chặt chẽ logic tăng dần Các items có thể ở dạng hành động, hình
vẽ, ngôn ngữ hoặc kết hợp cả hình, ngôn ngữ, hành động, con số Cho đến gần một thế kỷ con người cố gắng tìm ra phương pháp đánh giá trí tuệ khách quan và chính xác hơn Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn còn nghi ngại những
gì đánh giá đã đúng là trí tuệ con người hay chưa và mối nghi ngại này càng cần phải giải thích rõ hơn trước yêu cầu của xã hội thời hậu chiến thế giới thứ hai về những tài năng đặc biệt cả ở Nga và Mỹ [9, tr 75-80]
Các test trí tuệ truyền thống như test Binet-Simon, test Stanford – Binet; test Raven, test Wechsler là những test có các item kích thích tư duy hội tụ mà không kích thích tư duy phân kỳ nên chỉ thích hợp cho việc đánh giá về trí thông minh mà không đánh giá được tính sáng tạo Để khắc phục nhược điểm này, đối với test đánh giá trí tuệ truyền thống từ việc thêm vào các tiểu test đo tính sáng tao (test HNT của Kratzmeier) đến việc xây dựng ra những test sáng tạo riêng biệt có khả năng xác định chỉ số sáng tạo CQ của trẻ
em và người lớn (Test Torrance, VKT-N của Schope, TSD-Z của Klaus K.Urban)
Trang 35Những test trên đánh giá năng lực sáng tạo của cá nhân, phụ thuộc vào trí tuệ hay bộ não của cá nhân Tuy nhiên, việc đánh giá sáng tạo như thế nào còn phụ thuộc vào cộng đồng Trong tác phẩm Xác định lại trí thông minh, Csikszentmihalyi và Howard Gardner cho rằng sáng tạo của cá nhân do đánh giá của cộng đồng, xã hội sẽ quyết định xem ai là người sáng tạo, nó không phụ thuộc vào mức độ sáng tạo của cá nhân mà phải phụ thuộc vào mức độ chấp nhận của xã hội Có nhiều nhân cách nổi tiếng sáng tạo nhưng khi họ sống thì không được cho là sáng tạo và phải mất nhiều năm sau loài người mới công nhận Như vậy để đánh giá sáng tạo chúng ta cần phải đánh giá cả trên phương diện cá nhân và trên bình diện xã hội
1.3 Lý luận về hoạt động tạo hình và tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
1.3.1 Khái niệm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non
- Nguồn gốc và bản chất hoạt động tạo hình của trẻ
Từ nhiều năm trước, do nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em nên các nhà tâm lý học đã sớm nghiên cứu và đưa ra các quan điểm về nguồn gốc và bản chất hoạt động tạo hình của trẻ em
- Trường phái Ưu sinh trong Tâm lý học cho rằng sự phát triển cá thể là sự
lặp lại quá trình phát triển của cả chủng loài; sự phát triển của con người là
sự kế thừa những tiềm năng sẵn có của cả loài người Quan điểm này coi quá
trình phát triển khả năng tạo hình của bất kỳ đứa trẻ nào cũng sẽ có các giai đoạn giống như các giai đoạn mà tổ tiên, những người đi trước đã trải qua; cũng tức là quan điểm này đã phủ nhận tác động của thế giới khách quan tới trẻ em cũng như phủ nhận vai trò hoạt động nhận thức của trẻ trong quá trình phản ánh thế giới xung quanh
Trang 36- Trường phái Tâm lý học hành vi đưa ra ý kiến tiến bộ hơn so với
quan điểm Ưu sinh khi cho rằng con người tự xây dựng nên bản thân chứ
không phải vốn sinh ra con người đã là con người; nhân cách con người là sự sáng tạo của chính con người chứ không phải là sự ban ơn của Thượng Đế
Tuy nhiên, các nhà Tâm lý học hành vi lại có nhận định khá sai lầm trong giáo dục trẻ nhỏ khi coi giáo dục chỉ như một quá trình điều khiển hành vi của trẻ em, điều này không thể áp dụng được vào việc giáo dục thẩm mỹ, giáo dục nghệ thuật cho trẻ
- Quan điểm Phân tâm học cho rằng hoạt động tạo hình của trẻ xuất phát từ các năng lượng sinh học bản năng, quan điểm này đã không đánh giá đến bản chất xã hội của hoạt động tạo hình
Nhìn chung, sự lý giải chỉ theo một quan điểm này hay một quan điểm khác ở trên đều phiến diện và chưa làm rõ được nguồn gốc, bản chất hoạt động tạo hình ở trẻ
- Quan điểm của Tâm lý học duy vật biện chứng:
Bản chất, nguồn gốc hoạt động tạo hình của trẻ em được các nhà tâm
lý học Xô viết xem xét từ góc độ của lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ Cơ sở của lý luận này là luận điểm macxit về sự phát triển con người thông qua quá trình kế thừa mang tính xã hội các tính chất tâm lý, các năng lực tâm lý đặc trưng cho con người; qua quá trình lĩnh hội của cá thể nền văn hóa vật chất, tinh thần được đúc kết trong lịch sử xã hội loài người Khi tìm hiểu về hoạt động tạo hình mà cụ thể là vẽ tranh, các nhà tâm lý học duy vật biện chứng đã nhận thấy tranh vẽ của trẻ thể hiện các kinh nghiệm về sự vật xung quanh thông qua khả năng tri giác và quá trình giao tiếp với người lớn của trẻ, như vậy tức là hoạt động tạo hình của trẻ là một hoạt động có nguồn gốc xã hội ,mang bản chất xã hội rõ rệt
Trang 37- Khái niệm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, hoạt động tạo hình của trẻ được xem như một quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội
Khi xét ở phạm vi hẹp – trong các hoạt động đa dạng của lứa tuổi mầm non, hoạt động tạo hình được coi là một hoạt động mang tính sáng tạo nghệ thuật Với cấu trúc đặc biệt gồm nhiều loại hình hoạt động như vẽ, nặn, dán… đây là một quá trình phản ánh những ấn tượng từ cuộc sống xã hội, là quá trình thể hiện những suy nghĩ, tình cảm của trẻ đối với thế giới xung quanh bằng các phương tiện, chất liệu nghệ thuật, thông qua các hình tượng mang tính nghệ thuật
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động tạo hình ở lứa tuổi mầm non
LX Vugotxki khẳng định: “Kinh nghiệm của trẻ nghèo hơn kinh nghiệm của người trưởng thành Mối quan hệ của trẻ với môi trường ít phức tạp hơn.”
Khác xa với hoạt động tạo hình của một hoạ sĩ trưởng thành Hoạt động tạo hình của trẻ không nhằm mục đích tạo ra sản phẩm phục vụ xã hội Kết quả to lớn nhất mà hoạt động tạo hình mang lại cho lứa tuổi mầm non là sự biến đổi phát triển của chính bản thân chủ thể, nó thể hiện các đặc điểm của một nhân cách đang được hình thành
Hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo thể hiện rõ “ tính duy kỷ” Tính duy kỷ làm cho trẻ đến với tạo hình một cách dễ dàng Trẻ càng nhỏ càng ít quan tâm tới người xem Trẻ sẵn sàng vẽ bất cứ cái gì và cố gắng truyền đạt những suy nghĩ, thái độ, tình cảm của mình trước những gì được miêu tả Bởi vậy, sự hạn chế khả năng tạo hình thường được bù đắp rất tích cực bằng âm thanh, lời nói, cử chỉ, điệu bộ… Sự chú tâm vào ý tưởng thường làm cho trẻ hài lòng với các hình vẽ sơ đồ đơn giản thể hiện thế giới xung quanh bằng con mắt trẻ
Trang 38Cùng với “tính duy kỷ”, “tính không chủ định” trong các quá trình tâm
lý làm cho các sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ vẽ hấp dẫn riêng Trong tạo hình, trẻ mẫu giáo chưa có khả năng độc lập suy tính công việc sắp tới một cách chi tiết, các ý định thường nảy sinh một cách tình cờ, thường bị thay đổi bởi yếu tố ngẫu nhiên trong quan sát, trong trí nhớ hay trong cảm xúc
Do đặc điểm lứa tuổi trẻ nhanh chóng bị mất tập trung Vì thế trong quá trình cho trẻ tri giác, tích luỹ biểu tượng, hình thành các hình tượng, chúng ta cần luôn thay đổi các hình thức tổ chức kết hợp với các loại đồ chơi để cho trẻ
có niềm say mê hứng thú với hoạt động, tăng cường khả năng độc lập sáng tạo trong hoạt động tạo hình Việc lựa chọn nguyên vật liệu để trẻ sử dụng trong quá trình tạo hình thúc đẩy niềm say mê vốn có ở trẻ thơ
Tóm lại, hoạt động tạo hình ở lứa tuổi mẫu giáo là trẻ miêu tả những gì trẻ biết, trẻ cảm nghĩ được chứ chưa hẳn là những gì trẻ nhìn thấy và sẽ miêu
tả chúng như thế nào Đây là một đặc điểm đáng lưu ý mà người ta đã tận dụng đi sâu để tìm hiểu tâm lý trẻ Tuy nhiên, nếu để lặp đi lặp lại hiện tượng này thì có thể sẽ tạo thành một điểm gây cản trở cho sự phát triển hoạt động tạo hình của trẻ, hạn chế sự phát triển của hình tượng nghệ thuật Để khắc phục nhược điểm này, trẻ cần có sự giúp đỡ của giáo viên để có thể bổ sung nội dung cho những tác phẩm của mình Thông qua sự hướng dẫn của giáo viên, trẻ có thể thu nạp được những kinh nghiệm về sự vật, hiện tượng thông qua quan sát và thông qua các tác phẩm nghệ thuật sẵn có
1.3.3 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non
Từ những năm đầu tiên của cuộc sống, trẻ đã bị lôi cuốn một cách vô ý thức vào tất cả những gì trong sáng và hấp dẫn, chúng thích thú với những đồ chơi với màu sắc rực rỡ, những âm thanh và nhịp điệu rộn rã vui tươi Tất cả những cái đó gây cho trẻ cảm giác vui sướng
Trang 39Từ “đẹp” đã sớm đi vào cuộc sống của trẻ, tình yêu cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật, thực chất đó là hình thức trẻ được khơi gợi những xúc cảm về cái đẹp Quá trình tri giác cho hoạt động tạo hình tạo điều kiện cho trẻ trực tiếp tiếp xúc với cái đẹp, nghĩa là, trẻ phải tập quan sát, tập nhận biết, cảm nhận các đặc điểm thẩm mỹ của đối tượng (hình dáng, màu sắc , kích thứơc, cấu trúc, tỉ lệ, không gian…)
Trong quá trình này trẻ nắm bắt đầy đủ, chính xác các đặc điểm, vẻ bên ngoài của đối tượng và xuất hiện cảm xúc về cái đẹp trong hình dáng, màu sắc, nhịp điệu… Đó chính là cảm xúc thẩm mỹ.Từ những cảm xúc này, dần dần hình thành ở trẻ tình cảm thẩm mỹ, quá trình thể hiện các cảm xúc thẩm
mỹ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc và trí tưởng tượng mang tính nghệ thuật của trẻ ngày càng trở nên phong phú hơn
Do đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo mà ở lứa tuổi này được coi là thời kì “hoàng kim” của giáo dục thẩm mỹ Một nhà giáo dục Xô Viết
đã nói: “Phải giáo dục cho trẻ em biết yêu cái đẹp từ tuổi bé nhất, vì nó là cơ
sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người.” Vì vậy, vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ là vô cùng quan trọng Xúc cảm qua hoạt động tạo hình sẽ trở thành tài sản riêng của những tài năng cho tương lai
Bước sang tuổi thứ 5, trẻ cần được cung cấp biểu tượng và tạo hứng thú cho trẻ Việc mở rộng hiểu biết về vẻ đẹp của sự vật, hiện tượng xung quanh qua màu sắc, hình dáng ,đường nét, bố cục , tỉ lệ, không gian… nhằm tạo cho trẻ có nhiều biểu tượng đa dạng, phong phú về thế giới xung quanh
Hoạt động tạo hình là một hoạt động tổng hợp để trẻ tham gia tích cực vào nhiều quá trình tâm lý khác nhau (óc quan sát, cảm giác , tri giác, trí nhớ ,
tư duy, tưởng tượng) Hoạt động tạo hình càng được tổ chức phong phú bao nhiêu đứa trẻ càng có cơ hội giao lưu, tiếp xúc với thế giới xung quanh bấy
Trang 40nhiêu, nhờ đó mà trẻ tích luỹ thêm cho mình vốn hiểu biết phong phú hơn, củng cố những hiểu biết về thế giới xung quanh Tất cả những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà trẻ lĩnh hội được trẻ sẽ vận dụng trên sản phẩm theo trí tưởng tượng sáng tạo của mình
1.3.4 Khái niệm tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
Tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non chính là tổ chức hoạt động nhận thức thẩm mỹ và hoạt động thực tiễn cho trẻ nhằm bồi dưỡng ở trẻ các năng lực tạo hình, giúp trẻ nắm được những hiểu biết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo tạo hình, hình thành và phát triển ở trẻ khả năng sáng tạo
1.3.5 Các bước tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ ở trường mầm non
1.3.5.1 Chuẩn bị cho hoạt động
Chuẩn bị là công việc rất quan trọng đối với một hoạt động nhận thức mang tính thực hành sáng tạo như hoạt động tạo hình
- Chuẩn bị điều kiện vật chất:
Tùy theo mục đích, nhiệm vụ của giờ học mà giáo viên chuẩn bị môi trường, không gian hoạt động của trẻ theo nhiều cách khác nhau
Đối với giờ tạo hình theo mẫu cần tổ chức nơi trưng bày mẫu có đủ ánh sáng và khoảng không phù hợp với khả năng quan sát của mọi trẻ trong lớp
Đối với các giờ tạo hình theo các loại đề tài cần có những vật liệu, tư liệu bổ sung để làm phong phú biểu tượng, khuyến khích sáng kiến, sáng tạo
Không gian hoạt động , sự bài trí, sắp xếp nơi làm việc trong không gian đó; các đồ dùng, dụng cụ, vật liệu tạo hình cần được lựa chọn, tổ chức sử dụng phù hợp với tính chất của từng loại hình hoạt động và với cơ cấu của nhóm người tham gia hoạt động
- Chuẩn bị khả năng hoạt động của trẻ:
Trước hết mọi trẻ cần được động viên, thu hút tham gia vào công tác chuẩn bị cơ sở vật chất cho giờ hoạt động sắp tới để tạo tâm thế, tạo cảm hứng cho quá trình tạo hình