1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hà nội

121 151 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những đối tượng đó đó, lứa tuổi học sinh THPT cũng là một đối tượng cần quan tâm về các hành vi sử dụng ĐTDĐ Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho việc phụ huynh học sinh mu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LƯU THỊ TÂN

HÀNH VI SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LƯU THỊ TÂN

HÀNH VI SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành Tâm lý học

Mã số: 60 31 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Lê Thị Minh Loan

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn

thạc sĩ với đề tài: “Hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh Trung

học phổ thông tại thành phố Hà Nội”

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu là kết quả quá trình làm việc của tôi Những nội dung tham khảo được trích dẫn nguồn gốc tài liệu Kết quả nghiên cứu thực tiễn là do tôi trực tiếp tiến hành khảo sát và chưa được công

bố ở bất cứ công trình khoa học nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong đề tài

Tác giả

Lưu Thị Tân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Hành vi sử dụng điện thoại di động của

học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội” - đã được hoàn thành

với nỗ lực của bản thân tác giả và sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều phía

Em xin cảm ơn cô giáo hướng dẫn, PGS TS Lê Thị Minh Loan đã nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên em trong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn các bạn học sinh của các trường đã tham gia trả lời phỏng vấn, chia sẻ nhiều thông tin giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và luôn cổ vũ tinh thần cho tôi

Luận văn khó tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến phản hồi và góp ý

Tác giả

Lưu Thị Tân

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Giả thuyết nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI VÀ HÀNH VI SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG 5

1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1 Một số quan điểm của các nhà tâm lý học ở nước ngoài 5

1.1.1 Theo quan điểm của các nhà Tâm lý học hành vi 5

1.1.2 Quan điểm của các nhà Phân tâm học về hành vi 16

1.1.3 Quan điểm của các nhà Tâm lý học nhân văn về hành vi 17

1.1.4 Quan điểm của các nhà Tâm lý học hoạt động về hành vi 19

1.2 Một số quan điểm của các nhà tâm lý học trong nước 21

1.2.1 Một số nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi của con người 21

1.2.2 Một số nghiên cứu liên quan về hành vi sử dụng điện thoại di động 24

2 Một số khái niệm chính của đề tài 31

2.1 Khái niệm hành vi 31

2.2 Khái niệm điện thoại di động 33

2.2.1 Khái niệm 33

Trang 7

2.2.2 Một số đặc điểm nổi bật của điện thoại di động 34

2.3 Khái niệm học sinh trung học phổ thông 34

2.3.1 Khái niệm 34

2.3.2 Một số đặc điểm nổi bật của học sinh trung học phổ thông 36

2.4 Khái niệm hành vi sử dụng điện thoại di dộng của học sinh trung học phổ thông 38

2.4.1 Khái niệm 38

2.4.2 Các biểu hiện hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh Trung học phổ thông……… 44

2.4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh Trung học phổ thông 39

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Tổ chức nghiên cứu 43

2.1.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 43

2.1.2 Các giai đoạn tổ chức nghiên cứu 44

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 45

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 46

2.1.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 46

2.1.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 47

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HÀNH VI SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 49

3.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội 49

3.2 Thực trạng về các loại hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh 51 3.2.1 Thời gian sử dụng điện thoại di động của học sinh 56

Trang 8

3.2.2 Hành vi nghe gọi của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà

Nội 58

3.2.3 Hành vi chơi game trên điện thoại di động của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội 63

3.2.4 Hành vi nghe nhạc trên điện thoại di động của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội 65

3.2.5 Hành vi quay phim trên điện thoại di động của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội 67

3.2.6 Hành vi sử dụng điện thoại di động trong giờ học 69

3.3 Tác động của hành vi sử dụng điện thoại di động đến tâm lý và kết quả học tập của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội 73

3.3.1 Tác động đến tâm lý học sinh 73

3.3.2 Mối quan hệ qua lại giữa hành vi sử dụng điện thoại di động và kết quả học tập của học sinh Error! Bookmark not defined 3.4 Thực trạng về các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội 76

3.4.1 Yếu tố khách quan 76

3.3.2 Yếu tố chủ quan 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85 PHỤ LỤC

Trang 9

CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Khách thể nghiên cứu 44

Bảng 3.1: Mức độ nhận thức về độ phù hợp của hành vi SD ĐTDĐ của HS 50

Bảng 3.2: Đánh giá chung về hành vi SD ĐTDĐ của học sinh 51

Bảng 3.3 : So sánh hành vi SD ĐTDĐ của học sinh tại hai trường 55

Bảng 3.4: So sánh sự khác nhau giữa nam và nữ với đối tượng liên lạc 60

Bảng 3.5: Tỉ lệ % nội dung hành vi liên lạc bằng điện thoại 61

Bảng 3.6: So sánh nội dung chơi game với chỉ số về giới tính khách thể 65

Bảng 3.7: Thực trạng nội dung hành vi SD ĐTDĐ của học sinh 67

Bảng 3.8: Mục đích hành vi quay phim, chụp ảnh trên ĐTDĐ 69

Bảng 3.9: Thực trạng hành vi SD ĐTDĐ trong giờ học 70

Bảng 3.10: So sánh hành vi trong giờ học của HS hai trường 72

Bảng 3.11: Mức độ ảnh hưởng từ hành vi SD ĐTDĐ của những người xung quanh 77

Bảng 3.12: Biểu hiện sự quan tâm của gia đình đến hành vi SD ĐTDĐ của HS 78

Bảng 3.13: Lý do học sinh SD ĐTDĐ 83

Trang 10

CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Nhận thức về thời gian sử dụng ĐTDĐ ảnh hưởng đến kết quả học tập 49

Biểu đồ 3.2: Nhận thức về nội dung quy định của BGD về việc SD ĐTDĐ trong giờ học 50

Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ % thời gian trung bình mỗi ngày HS SD ĐTDĐ 56

Biểu đồ 3.4: sự phân bố học sinh theo phương án lựa chọn khoảng thời gian sử dụng ĐTDĐ 57

Biểu đồ 3.5: Đối tượng liên lạc bằng ĐTDĐ của học sinh PTTH 59

Biểu đồ 3.6: Nội dung hành vi chơi game 70

Biểu đồ 3.7: Biểu đồ hành vi giải trí – nghe nhạc 66

Biểu đô 3.8: Cảm xúc của học sinh khi SD ĐTDĐ 80

Biểu đồ 3.9: Cảm xúc của học sinh khi không sử dụng ĐTDĐ 81

Biểu đồ 3.9: Tính năng điện thoại di động 84

Biều đồ 3.10: Cảm xúc của học sinh khi bị bố mẹ kiểm soát hành vi SD ĐTDĐ 79

Biểu đồ 3.11: Các biểu hiện quản lý của nhà trường với hành vi SD ĐTDĐ 80

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Điện thoại di động (ĐTDĐ) là sản phẩm điện tử tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghiệp hiện đại Những năm gần đây, điện ĐTDĐ được sản xuất hàng loạt với nhiều loại hình mẫu mã và những tính năng phong phú khác nhau Nếu như trước đây chỉ có một số loại ĐTDĐ đơn giản phục vụ cho nhu cầu giao tiếp, nghe – gọi, truyền tải thông tin từ nơi này đến nơi khác thì cho tới ngày nay, ĐTDĐ được sản xuất hiện đại hơn với nhiều tính năng phóng phú, phục vụ cho nhiều nhu cầu của đời sống con người ĐTDĐ không chỉ có những tính năng đơn giản là nghe, gọi

mà thay vào đó, ĐTDĐ còn có tính năng như một chiếc ti vi, một chiếc máy tính với nhiều màu sắc, kiểu dáng phong phú đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, học tập,

… của con người

Chính vì ĐTDĐ có nhiều tính năng phong phú cho nên việc sử dụng ĐTDĐ đúng cách cũng trở nên phức tạp Đặc biệt với những đối tượng chưa được chuẩn bị tâm thế, kiến thức về sản phẩm ĐTDĐ – sản phẩm công nghệ hiện đại, dễ có những hành vi sử dụng ĐTDĐ chưa khoa học dẫn tới việc ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc và đời sống tâm lý Trong những đối tượng đó đó, lứa tuổi học sinh THPT cũng là một đối tượng cần quan tâm về các hành vi sử dụng ĐTDĐ

Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho việc phụ huynh học sinh mua điện thoại di động cho con Mục đích của gia đình khi cung cấp ĐTDĐ cho con là tìm cách quản lý mọi hoạt động, quản lý thời gian, giúp con học tập và có đời sống tâm lý tốt hơn Tuy nhiên, khi lựa chọn ĐTDĐ, một số cha mẹ mua cho học sinh phổ thông trung học (HS PTTH) những chiếc ĐTDĐ thông minh, đắt tiền với nhiều tính năng hiện đại khá sớm Đây là một trong số những nguyên nhân dẫn tới một số hành vi sử dụng ĐTDĐ không phù hợp với hoạt động của đạo của học sinh THPT Kết quả là quá tình học tập, sinh hoạt của học sinh bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Trước sự phản ánh gần đây của nhiều phụ huynh học sinh và các nhà giáo về ảnh hưởng của ĐTDĐ đến kết quả học tập, sức khỏe của HS, tác giả nhận thấy cần

tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề hành vi sử dụng ĐTDĐ của học sinh nhằm tìm

Trang 12

hiểu cách thức sử dụng, mục đích sử dụng, động cơ sử ĐTDĐ và một số quan niệm cũng như đạo đức lối sống của HS qua hành vi sử dụng ĐTDĐ Từ đó đưa ra được một số định hướng cho nhà quản lý, các bậc phụ huynh trong việc quản lý các hành

vi sử dụng ĐTDĐ của học sinh Bên cạnh đó, chúng tôi hi vọng có thể đưa ra được một số đề xuất với nhà cung cấp ĐTDĐ cho học sinh về việc tư vấn, hướng dẫn cách sử dụng ĐTDĐ hợp lý cho lứa tuổi HS THPT

Trên cơ sở đó, chúng tôi tổ chức nghiên cứu thực trạng về hành vi SD ĐTDĐ của 150 học sinh trường Phổ thông trung học Alfred Nolbel và 150 học sinh trường Đào Duy Từ

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hành vi sử dụng ĐTDĐ của HS Từ

đó đưa ra được những đánh giá về hành vi sử dụng ĐTDĐ của HS cũng như một số kiến nghị với phụ huynh, nhà trường trong quá trình định hướng hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh phù hợp

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Các biểu hiện hành vi và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi sử dụng ĐTDĐ của học sinh trường THPT

4 Khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Khách thể: Khách thể là 150 học sinh trường THPT Alfred Nolbel và150 học sinh trường THPT Đào Duy Từ

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nghiên cứu 150 học sinh trường THPT Alfred Nolbel (Tầng 3, Tòa nhà Lô T1, Khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội) và 150 học sinh PTTH Đào Duy Từ (182, Lương Thế Vinh, Thanh Xuân, Hà Nội)

+ Hành vi sử dụng ĐTDĐ của học sinh THPT tại thành phố Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lý luận: Làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan đến đề tài, xây dựng cở sở lý luận về hành vi và hành vi sử dụng điện thoại di động của HS THPT

Trang 13

5.2 Điều tra thực trạng về hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh trường THPT Alfred Nolbel và trường THPT Đào Duy Từ

5.3 Phân tích một số tác động chủ yếu và những nguyên nhân dẫn tới những

SD ĐTDĐ Đề xuất một số kiến nghị với học sinh, gia đình và nhà trường nhằm định hướng hành vi SD ĐTDĐ phù hợp với lứa tuổi học sinh THPT

6 Giả thiết nghiên cứu

- Học sinh chủ yếu sử dụng ĐTDĐ vào mục đích nghe - gọi, nhắn tin Bên cạnh đó các hành vi như quay phim, chụp ảnh, nghe nhạc, chơi game, cập nhật internet cũng khá phổ biến Vẫn còn một bộ phận học sinh sử dụng ĐTDĐ trong giờ học

- Hành vi SD ĐTDĐ của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan khác nhau Trong đó các yếu tố chủ quan cơ bản là mục đích, thái độ, cảm xúc Yếu tố khách quan là sự đa dạng các tính năng trên DTDĐ, hành

vi mẫu của những người xung quanh, sự quản lý của gia đình, nhà trường

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan nhằm làm sáng rõ khung lý thuyết, các khái niệm cơ bản và xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Nghiên cứu khảo sát 300 học sinh để điều tra thực trạng việc sử dụng ĐTDĐ của học sinh trường THPT Alfred Nolbel và trường THPT Đào Duy Từ tại quận Thanh Xuân – Hà Nội

Trang 14

Tham khảo ý kiến một số chuyên gia đã từng có những nghiên cứu về hành

vi của HS THPT, đang giảng dạy THPT Từ đó củng cố cơ sở lý luận và bổ sung thêm những kinh nghiệm làm nghiên cứu như: đưa ra bảng hỏi, xây dựng luận văn

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI VÀ HÀNH VI SỬ DỤNG

ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG

1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1 Một số quan điểm của các nhà tâm lí học ở nước ngoài

1.1.1 Theo quan điểm của các nhà Tâm lí học hành vi

* Quan điểm của nhà tâm lí học J.Watson (1878-1958)

J.Watson cho rằng, hành vi là phản ứng (là bất cứ cái gì mà sinh ra và nó bao gồm rất nhiều thứ) để trả lời kích thích (là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện ở bên trong nào đó của sinh vật) Kích thích (S- Stimulate) luôn

là nguyên nhân, phản ứng (R – Reaction) luôn là kết quả theo nguyên tắc của thuyết quyết định luận máy móc Nhờ những cử động, phản ứng đó mà động vật và con người với tư cách là “một cơ quan biết phản ứng” hay “một hệ thống vật lý” sẽ thích nghi với môi trường nhằm đảm bảo sự sống còn Cơ chế hình thành các hành

vi là sự mò mẫm của chủ thể theo nguyên tắc “thử và sai”, qua nhiều lần, cho tới khi xác lập được phản ứng phù hợp, luyện tập và củng cố

Bằng các kết quả nghiên cứu hành vi của động vật trong các mê cung, trong các lồng có vấn đề, ông đi đến kết luận rằng việc giải quyết vấn đề đạt được bằng phương pháp “thử lỗi” làm nguyên tắc điều khiển mọi hành vi J.Watson muốn loại trừ tâm lý học duy tâm với phương pháp nội quan bằng cách nghiên cứu hành vi theo phương pháp truyền thống vẫn sử dụng trong tâm lý học hoạt động

Tâm lí học hành vi của J.Watson có những điểm đáng chú ý như sau:

- Tâm lí học hành vi không mô tả, không giảng giải các trạng thái ý thức mà quan tâm tới hành vi tồn tại của con con người Các sự kiện quan sát thấy đều được

lý giải theo nguyên tắc: khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể tạo ra một phản ứng nhất định Do đó, mọi hành vi do cơ thể tạo ra đều được biểu đạt theo công thức: Kích thích – phản ứng Hành vi chỉ còn là tác động bên ngoài, hoàn toàn không liên quan gì tới ý thức được coi là cái bên trong J.Watson đặt ra cho thuyết hành vi mục đích điều khiển, kiểm soát được hành vi Toàn bộ việc điều khiển dựa vào chỗ nếu có một trong hai yếu tố thì biết được tương lai

Trang 16

Thuyết hành vi của J.Watson có một số điểm đáng chú ý khi đề cập tới hành

vi con người như sau: Hành vi của con người tuy có một số khác biệt so với con vật nhưng vẫn chỉ là một tổ hợp phản ứng của cơ thể để trả lời các kích thích tác động vào cơ thể J.Watson không thừa nhận tâm lí, ý thức tham gia vào việc điều khiển hành vi con người Theo ông, để nghiên cứu hay điều khiển hành vi nói chung và hành

vi người nói riêng thì chỉ cần dựa vào yếu tố đầu tiên trong công thức S  R Quan niệm của J.Watson về hành vi với công thức S  R khó có thể lý giải được trường hợp khi cùng một kích thích (S) nhưng lại có nhiều các phản ứng (R) khác nhau, các trường hợp khi có sự liên quan tới những yếu tố thuộc về chủ thể phản ứng

Nhận xét về quan niệm của J.Watson, các tác giả trong giáo trình Tâm lí học

đai cương khẳng định: “Coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể

quan sát được,nghiên cứu được một cách khách quan, từ đó có thể điều khiển hành

vi theo phương pháp “thử - sai” Nhưng chủ nghĩa hành vi đã quan niệm một cách

cơ học, máy móc về hành vi, đánh đồng hành vi của con người với hành vi của con vật, hành vi chỉ còn là những phản ứng máy móc nhằm đáp lại những kích thích, giúp cho cơ thể thích nghi với môi trường xung quanh Chủ nghĩa hành vi đồng nhất phản ứng với nội dung tâm lý bên trong làm mất tính chủ thể, tính xã hội của tâm lý con người, đồng nhất tâm lý con người với tâm lý động vật, còn người chỉ hành vi phản ứng trong thế giới một cách cơ học, máy móc Đây là quan điểm tự

nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử và thực dụng”[29, tr 15]

B.R Hergenhanhn nhận xét thuyết hành vi của J.Watson rằng: “Trường phái tâm lý học do Watson sáng lập, nhấn mạnh rằng nôi dung của tâm lý học là hành vi

và mục tiêu của tâm lý học là việc tiên đoán và kiểm soát hành vi” [34, tr

483],“Chắc chắn Watson sẽ rất vui khi thấy ông đã có ảnh hưởng to lớn thế nào đối

với tâm lý học ngày nay, nhưng ông chắc cũng thấy thất vọng khi ông đã không thành công trong cố gắng gạt bỏ khái niệm ý thức ra khỏi tâm lý học Hơn thế nữa, càng ngày càng có nhiều nhà tâm lý nghiên cứu về chính các quy trình nhận thức

mà Watson gạt bỏ, coi thường hay phủ nhận”[34, tr 477]

Trang 17

* Quan điểm của nhà tâm lý học E.C Tolman (1886 - 1959)

E.C Tolman cho rằng thuyết hành vi có thể gọi tên gọi như sau: Thuyết hành

vi tổng thể, thuyết hành vi có ý định, thuyết hành vi tạo tác [10, tr 157]

E.C Tolman tập trung vào nghiên cứu tâm lý học chủ quan xây dựng bởi phương pháp luận duy tâm; ông phủ nhận trải nghiệm trực tiếp như là trạng thái

“tiền phân tích”, coi trải nghiệm này chỉ là đối tượng của nghệ thuật hay siêu hình học Còn tâm lý học thì chỉ nghiên cứu hành vi trực tiếp, công khai, tức là có thể quan sát từ ngoài cơ thể động vật và người Ông nhấn mạnh tính chất tổng thể của hành vi Đó là hành vi tổng hòa, tổng cộng hay một khối Tóm lại là hành vi của cơ thể nói chung, chứ không phải là từng câu trả lời riêng biệt của các cơ E.C Tolman gọi hành vi đó là “cử động hành vi” Trong các cử động hành vi có các sự kiện vật

lý và sinh lý học cũng như những thuộc tính cá nhân của bản thân Cử động hành vi không phải là phản ứng sinh lý học vì vậy phải nghiên cứu hành vi tổng thể bằng con đường riêng Đây chính là công lao của E.C Tolman với trào lưu hành vi với quan niệm tổng thể về hành vi

E.C Tolman có những học thuyết về “các biến số trung gian”với tư cách là khâu trung gian “can thiệp vào giữa kích thích tác động lên cơ thể và hành vi trả lời” Cử động hành vi có đặc điểm là nhằm đạt tới khách thể chuyên biệt, có lợi thế cho cơ thể Các khách thể này là mục đích cho cơ thể Khách thể này được gọi là “khách thể - mục đích” Trường hợp ngược lại, khi không có lợi cho cơ thể thì cơ thể tránh khách thể Ví dụ về trường hợp có lợi: Chuột chạy theo đường ngoằn nghèo tới thức

ăn, trường hợp ngược lại, chuột sẽ tìm lối thoát Đây là con đường vươn tới đích bằng phương pháp thử - sai Trong quá trình này, có một khả năng, đó gọi là khả năng hiểu biết, khả năng tiếp thu, nói lên xu thế xác định các cử động nào cho phép đạt được kết quả cần thiết mà mất ít sức lao động nhất trong thời gian ngắn nhất E.C Tolman gọi khả năng tiếp thu là khả năng định tính chủ ý Ông cho rằng, có thể

có tính chủ ý mà không có khả năng tiếp thu đi theo Là một mặt khách quan của hành vi, tính chủ ý là một hiện tượng trong hành vi và là hiện tượng cơ bản hơn khả năng tiếp thu: khả năng tiếp thu hình như đi từ tính chủ ý ra

Trang 18

Tính kiên trì, tiếp thu, chủ ý dường như là vốn tự có trong bản thân cơ thể E.C Tolman cho rằng với tư cách là một mặt của hành vi, tính chủ ý được vận dụng vào việc mô tả hành vi Tính chủ ý ấy trong mối liên hệ với khách thể - mục đích là cái đồng nhất với chức năng của khách thể Trong đó khách thể - mục đích có ý nghĩa quyết định: Khách thể mất đi thì hành vi cũng mất đi Tóm lại, theo E.C Tolman bao giờ cũng tồn tại ý định và có thể mô tả được ý định đó nếu như có khách thể - mục đích

Như vậy, E.C Tolman phủ nhận tiêu chuẩn chủ quan của ý định, tính chất chủ quan đó thể hiện ở chỗ thấy trước được củ động cuối cùng Theo E.C Tolman, cái tích cực chỉ là tính kiên trì đạt tới mục đích và tính kiên trì này được xét trong mối quan hệ với khách thể - mục đích Từ quan điểm này có thể thấy E.C Tolman phê phán Oatson vì Oatson loại trừ vấn đề hành vi có ý thức Tính mục đích của hành vi t hể hiện ở chỗ hành vi bao giờ cũng nhằm tới một cái gì đó và xuất hiện từ một cái gì đó, tức là mục đích được hiểu như là một cái gì đó khách quan

Từ điều này cho thấy E.C Tolman có quan điểm không gần với tâm lý học hành vi truyền thống mà gần với “luật nhân quả” và gần với nguyên tắc củng cố của Pavlop Chỉ có chút khác biệt đó chính là hiệu quả mà cơ thể nhận được và cái điều kiện hóa do hành động của cơ thể hoàn thành để lại đều không có ở trong lĩnh vực kích thích bên ngoài và cũng không có ở dưới dạng thần kinh tạm thời mà được chuyển vào trong, tức là chuyển thành các quá trình tâm lý Đến lượt nó, các quá trình tâm lý trở thành cái quy định hành vi và đưa hành vi thành hành vi có ý định

Điều quan trọng là khái niệm có ý định của E.C Tolman mang tính chất khách quan, nó còn quan trọng bởi ông lấy nó từ tâm lý học chủ quan và đưa vào luận điểm do ông xây dựng lên trên cơ sở thuyết hành vi

E.C Tolman đưa ra khái niệm để giải thích cho quan điểm của mình, tuy nhiên những khái niệm của ông vẫn chịu sự ảnh hưởng của quan điểm tâm lý học hành vi cổ điển Tuy nhiên, công lao của E.C Tolman đối với trao lưu hành vi chủ nghĩa đó là nhờ có phương pháp tiếp cận tổng thể đối với hành vi mà trong một phạm vi nhất định ông đã có thể đưa ý thức nói riêng và các biến số trung gian nói

Trang 19

chung vào lĩnh vực nghiên cứu tâm lý học Các biến số được đưa ra là nhờ có sự phân tích tạo tác và phù hợp với việc giải thích hành vi động vật Còn đối với ý thức người, E.C Tolman phụ thuộc vào “quan điểm cơ thể nhân chủng học về ý thức; quan điểm này buộc phải đi tìm lời giải thích ý thức ở các quá trình chập chờn trong đầu cá thể dưới tác động của các kích thích” Dừng lại trên lập trường quyết định luận vật lý, sinh vật hóa và nhân chủng, không thể đạt được vấn đề ý thức một cách khoa học, cũng như không thể giải quyết được vấn đề này Tóm lại, thuyết hành vi mới của E.C Tolman không vươn tới được vấn đề sống còn ccaru khoa học tâm lý

[10, tr 164]

Nhận xét về chủ nghĩa hành vi mới, tác giả Nguyễn Ngọc Phú đánh giá:

E.C Tolman và các cộng sự của ông đã đưa vào giữa S và R biến số trung gian 0 Yếu tố trung gian liên quan tới: Điều kiện thay đổi môi trường Khi kích thích S tác động đến cơ thể thì điều kiện môi trường diễn ra như thế nào Ở đây có liên quan đến tư tưởng quyết định luận vật lý Tại thời điểm kích thích S phát huy tác dụng thì trạng thái, nhu cầu cơ thể diễn ra như thế nào? Khía cạnh này liên quan đến quyết định luận sinh vật Đương nhiên việc bổ sung này của E.C Tolman và những của ông đã không thay đổi và khắc phục được thiếu sót căn bản của tâm lý học hành vi là loại bỏ ý thức, lấy hành vi với tư cách là tổng quan các sản phản ứng của cơ thể trước các kích thích bên ngoài là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học

[25, tr 175]

* Quan điểm của nhà tâm lý học Clark Leonard Hull (1884 - 1952)

Luận điểm của Clark Leonard Hull muốn bổ sung vào công thức hành vi cổ điển bởi thuyết hành vi cổ điển xác lập bằng cách dùng phương pháp thao tác để giải thích hành vi; mặt khác, dùng nguyên lý cung phản xạ với tư cách là nguyên lý làm việc của não bộ làm nguyên lý giải thích kinh nghiệm tự tạo trong học tập và kinh nghiệm này nằm trong cơ chế bên trong của hành vi Kết quả, ông đi đến khái niệm kỹ xảo với tư cách là một kiến tạo lý thuyết chủ yếu và nắm vai trò trung gian tác động và phản ứng Lập trường xuất phát điểm của Clark Leonard Hull dùng để giải quyết các vấn đề cơ bản của tâm lý học như vấn đề con người và vấn đề hành vi

Trang 20

người vẫn là lập trường hành vi chủ nghĩa, lập trường tự nhiên chủ nghĩa và thực dụng chủ nghĩa Vì thế Clark Leonard Hull cũng không khắc phục được những hạn chế mà các vị đại diện của thuyết hành vi cổ điển gặp phải

Lý thuyết của ông bao gồm các ý chính như sau:

+ Lý thuyết của Clark Leonard Hull vẫn giữ nguyên truyền thống của thuyết hành vi cổ điển, kiên quyết gạt bỏ thuyết sức sống, mục đích luận và các loại ý giải

tự biện

+ Clark Leonard Hull vẫn nghiên cứu hành vi , nghiên cứu “các hiện tượng lớn của hành vi có thể quan sát được” Hiện tượng lớn của hành vi được hiểu là hành vi của nhóm tế bào thần kinh cơ hay mấu thần kinh Còn kết quả “lớn” của tính tích cực chung thì nảy sinh khi trả lời các kích thích “lớn” tác động vào

Ông coi hành vi là liên hệ hướng tâm - li tâm theo nguyên tắc cung phản xạ Nói cách khác hành vi là các cử động của cơ thể để thỏa mãn nhu cầu cơ thể Thực

ra, cử động và thao tác chỉ là một phần của cuộc sống con người

Quy luật chủ yếu của hành vi theo Clark Leonard Hull là các tổ hợp kích thích bởi các trạng thái nhu cầu và điều kiện môi trường xung quanh, các tổ hợp này tạo ra hành vi của cơ thể: ở đây có mối liên hệ trực tiếp kích thích cơ thể - phản ứng Hành vi được coi là hàm do các biến số nhu cầu cơ thể và môi t rường ngoài của cơ thể tạo ra Từ đây xuất hiện công thức S – O – R Công thức này về nguyên tắc không có gì khác với sơ đồ hành vi của thuyết hành vi cổ điển, con người đã bị sinh vật hóa hoàn toàn

+ Clark Leonard Hull đưa ra yếu tố trung gian “kỹ xảo” Kỹ xảo tồn tại như à

những điều kiện không nhìn thấy trong hệ thống thần kinh tựa như các điện tử proton, … trong thế giới vật lý Vì không nhìn thấy được các yếu tố trung gian này,

từ ngoài không quan sát được nên các biến số ấy được gọi là các “kiến tạo logic” tương ứng với thao tác do cơ thể tạo ra trong các điều kiện do người thực nghiệm tạo ra

Kỹ xảo có vai trò là thông số trung gian, giúp cho việc giải thích hành vi ra ngoài phạm vi của kích thích bên ngoài Đồng thời kỹ xảo cũng đem tới một số khó

Trang 21

khăn vì chỉ có thể xác định chúng một cách gián tiếp Nhưng nhờ có thể xác định được mối liên hệ chức năng giữa các thông số trung gian và các cứ liệu trức tiếp quan sát được nên cớ thể quy định kỹ xảo như là khâu trung gian giữa kích thích và phản ứng Kết quả, các kích thích từ bên ngoài tác động vào cơ thể tạo ra trạng thái không nhìn thấy được trong hệ thần kinh; trạng thái này cùng với kích thích tạo ra

nó là các nguyên nhân quy định này sinh hành vi

Clark Leonard Hull cho rằng hệ thần kinh có vai trò quyết định trong đời sống cơ thể, nó giữ cho cơ thể thống nhất và giữ mối liên hệ qua lại với môi trường, Phản ứng phụ thuộc vào trạng thái của hệ thần kinh Ngược lại, trạng thái này được quy định bởi kinh nghiệm cũ của cơ thể, bởi năng lực làm việc của tế bào

thần kinh trong thời điểm này và nhiều điều kiện khác [11, tr 220 – tr 222]

Ta có thể thấy, trong quan điểm của Clark Leonard Hull và E.C Tolman, các tác giả muốn nghiên cứu cái gì diễn ra giữa hai yếu tố S – R, họ đưa ra biến số

O (Object) vào giữa S – R Và họ biến công thức S  R thành công thức mới là:

S – O – R Tuy nhiên, trong quan điểm của họ, yếu tố O phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường bên ngoài tác động Cho nên khái niệm hành vi của các nhà tâm lý học hành vi mới vẫn chỉ nằm ở phạm vi của công thức cũ S  R mà J Watson đề cập

mà thôi [10, tr 120]

* Hệ thống TLH của B.F Skinner (1904 - 1990)

Skinner quan niệm, trong hệ thống hành vi, có một loại hành vi tạo tác

Chẳng hạn, nếu động vật bị rơi vào hoàn cảnh chiếc lồng do người thực nghiệm tạo

ra (gọi là lồng Skinner) thì thoạt đầu nó thực hiện một số thao tác (cử động) ngẫu

nhiên Ví dụ: Khi một con chuột đói được đưa vào hộp thì hành vi mang tính ngẫu

nhiên của nó là chạy, nhảy và đánh hơi Những hành vi này mang tính tự phát Sau khoảng thời gian nhất định, con chuột chạm tới chiếc lẫy và thức ăn rơi xuống máng Hành vi đụng vào chiếc lẫy vận hành trong môi trường thí nghiệm này đã thay đổi vì nếu ấn nhiều lần vào chiếc lẫy sẽ có nhiều thức ăn rơi ra Từ đó, hành vi của con chuột sẽ bị thúc đẩy bởi cái củng cố là thức ăn Hành vi của con chuột

Trang 22

không mang tính ngẫu nhiên, ngẫu hứng hơn vì nó dành nhiều thời gian để ấn vào chiếc đòn và ăn

Như vậy, nếu chúng ta đặt con chuột vào trong lồng thì ngày hôm sau chúng

ta có thể dự đoán hành vi của nó và chúng ta có thể kiểm soát hành động ấn đòn của chuột bằng cách thay đổi củng cố Không cho thức ăn vào đĩa nữa thì hành vi vận hành sẽ bị dập tắt cũng giống như hủy bỏ hành vi phản ứng Nếu như hành vi không được củng cố, không lặp lại nữa tức là hành vi không nhận được phần thưởng, nó sẽ dừng lại sau một khoảng thời gian nhất định

Skinner tin rằng hầu hết hành vi của con người và động vật là thông qua tập nhiễm, thông qua tập huấn vận hành Ông lấy ví dụ về những đứa trẻ như sau: Một đứa trẻ lúc đầu thể hiện những hành vi ngẫu hứng và ngẫu nhiên, chỉ một vài trong

số đó mang tính động viên được thưởng đồ ăn, hoặc đồ chơi hay được khen thưởng bởi người thân Khi trẻ lớn, những hành vi được động viên một cách tích cực sẽ tiếp tục tồn tại trong khi những hành vi mà cha mẹ không đông viên thì sẽ bị loại bỏ hoặc gián đoạn Đây chỉ là một ví dụ là minh chứng cho cách tiếp cận của Skinner Cách tiếp cận của Skinner về hành vi khá đơn giản về mặt khái niệm và dựa trên hàng nghìn giờ nghiên cứu tỉ mỉ Ý tưởng cốt lõi của ông đó chính là hành vi có thể được kiểm soát bởi chính hậu quả của nó, hành vi tuân theo những hậu quả này Skinner tin rằng một con vật hay con người có thể được đào tạo thực hiện hầu hết bất cứ hành vi nào và loại củng cố kèm theo hành vi có trách nhiệm xác định hành

vi ấy Như vậy bất cứ ai kiểm soát những cái củng cố đều có quyền lực kiểm soát hành vi con người cũng như một người làm thí nghiệm có thể kiểm hoát hành vi con chuột trong phòng thí nghiệm [33, tr 529]

Như vậy, khi con vật hay con người có thao tác đúng thì có kích thích củng

cố Dù coi môi trường vật lý, môi trường sinh vật, môi trường xã hội hay còn gọi là môi trường văn hóa thì theo quan điểm của Skiner chẳng qua vẫn là cơ thể con người mang hành vi được hình thành nhờ có môi trường trên tác động vào

Khi nghiên cứu hành vi con người, Skinner không phủ nhận sự tồn tại của các trạng thái tinh thần, dạng như đói, cảm xúc, giá trị, niềm tin tôn giáo…nhưng

Trang 23

những trạng thái này không giải thích được cho hành vi Skinner cho rằng hành vi của con người cần phải được nghiên cứu một cách khoa học Để nghiên cứu được tốt nhất, không nên đưa vào đối tượng nghiên cứu những cái gọi là động cơ, nhu cầu, bản năng Đưa động cơ vào nghiên cứu chẳng khác nào đưa ý chí tự do vào tự nhiên

Theo Skinner, hành vi con người bị thay đổi bởi 3 nguyên nhân chủ yếu: chọn lọc tự nhiên hoặc là lịch sử tiến hoá; tiến hoá của môi trường xã hội hay là văn hoá; và lực lượng thứ ba đó là lịch sử củng cố của cá nhân Hành vi con người bị kiểm soát bởi các sự kiện của hoàn cảnh môi trường Những sự kiện đó có thể không được xã hội hoặc chính cá nhân hay người khác chấp nhận song môi trường chịu trách nhiệm về những hành vi con người

Xã hội, các tổ chức/quyền lực xã hội quản lí con người bằng rất nhiều cách thức khác nhau Tuy nhiên cũng có thể chia thành 4 nhóm chính: điều kiện hoá; mô

tả sự kiện; tước đoạt hoặc thoả mãn; kìm giữ cá nhân (Skinner, 1953) Vì vậy, Theo Skinner củng cố đến ngay sau đáp ứng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành hành vi Nhờ có củng cố sau hành vi khiến hành vi có thể sẽ được lặp lại hoặc không khi có kích thích Nhưng củng cố không phải là nguyên nhân của hành vi Theo Skinner, củng cố có 2 hiệu ứng: tăng cường sức mạnh cho hành vi và là phần thưởng cho cá nhân Củng cố và phần thưởng là 2 cái khác nhau Không phải mọi hành vi được củng cố đều đem lại cho cá nhân sự dễ chịu hoặc là phần thưởng

Theo như Skinner, chúng ta có thể làm thay đổi các biến số trong môi trường của người khác và chúng ta cũng có thể sử dụng các biến số trong môi trường của mình để tự kiểm soát Môi trường theo J.Watson có vai trò khơi dậy hành vi còn theo Skiner thì nó có vai trò chọn lọc hành vi Sự tăng cường các yếu tố phụ thuộc

mà môi trường cung cấp sẽ quyết định hành vi nào trở nên mạnh hơn và hành vi nào không Điều này có nghĩa là xác xuất và tần số và cường độ xuất hiện hành vi tạo tác hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố củng cố và cách thức củng cố từ môi trường Skiner cho rằng sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác

là hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cố vòn hành

vi tạo tác nhằm tạo ra kích thích củng cố Vì thế người ta gọi hành vi tạo tác là hành

Trang 24

vi được hình thành “trong điều kiện hóa có hiệu lực” nhằm đáp lại kích thích của môi trường một cách tích cực chủ động Nhờ tiếp nhận các điều kiện hóa có hiệu lực mà có thể kiểm soát được hành vi, do vậy, nếu kiểm soát được củng cố thì kiểm soát được hành vi Theo Skiner, cái gọi là các sự kiện tâm lý thực ra chỉ là các sự kiện sinh lý được dán cho cái nhãn ý thức” [34, tr 504 – 507]

*Hành vi theo quan điểm của Bandura

- Tìm hiểu quan điểm của Bandura, chúng ta có thể thấy ông nghiên cứu các thực nghiệm với búp bê và các hành vi khuôn mẫu để lý giải cho quan điểm của mình

Theo ông yếu tố sinh học đóng một vai trò nhất định trong sự hình thành nhân cách, song con người, về cơ bản là sản phẩm của quá trình học tập Đặc điểm nổi bật của con người: đó là tính linh hoạt - khả năng học được rất nhiều hành vi khác nhau Con người có thể học tập thông qua kinh nghiệm trực tiếp, nhưng cũng

có rất nhiều hành vi của chúng ta được hình thành/thay đổi thông qua quan sát người khác

Ông tìm ra nguyên tắc về sự bắt chước hành vi mẫu cũng như những tác động của hành vi mẫu tới con người Ông nhận thấy trẻ có thể tập nhiễm những hành vi tốt và xấu theo mẫu mà trẻ được giáo dục Từ đó, ông đưa ra quan điểm: Các mẫu hành vi quyết định hành vi của con người thông qua học tập

- Tìm hiểu đặc trưng của tình huống mẫu: Bandura và công sự đã khái quát

ba yếu tố được cho là ảnh hưởng đến việc làm mẫu: Những đặc trưng kiểu mẫu (Mức độ bắt chước tùy vào mức độ tương đồng giữa nhân vật kiểu mẫu và khách

thể), những đặc trưng của nhà quan sát (những người kém tự tin, kém tự trọng có xu

hướng bắt chước hành vi kiểu mẫu nhiều hơn những người tự tin và tự trong cao), tầm cỡ phần thưởng gắn liền với hành vi (phần thưởng gắn liền với hành vi đặc thù

có thể tác động đến mức độ bắt chước thậm chí không them đếm xỉa tới những đặc trưng của người quan sát và kiểu mẫu Nhưng nếu phần thưởng không có ý nghĩa thì con người sẽ không tiếp tục hành vi đó trong tương lai) [33, tr 562 – 563] Như vậy, những yếu tố mà tác giả đưa ra cho thấy hoạt động của con người được kiến

Trang 25

tạo bởi sự tương tác giữa các yếu tố cá nhân (là đặc trưng của nhà quan sát, là sự

nhận thức của mỗi cá nhân, môi trường và hành vi

- Trong lí luận, Bandura đưa ra hệ thống cái tôi – hệ thống hoạt động trên cơ

sở môi trường và hành vi Những người quan sát học được từ thất bại và thành công

của người khác sẽ cố gắng để đạt được thành công như kiểu mẫu, họ có thể cố gắng

để đạt được hoặc thất bại liên tiếp Bên cạnh đó họ có thể tự trừng phạt mình với những cảm giác phiền muộn, hoặc những hành vi tự hủy hoại như lạm dụng ma túy,

rượu bia, Hệ thống cái tôi, theo Bandura, là một phức bộ các cấu trúc nhận thức

bao gồm tri giác, đánh giá và điểu khiển - điều chỉnh hành vi Hệ thống cái tôi cho phép chúng ta quan sát; biểu tượng hoá hành vi và đánh giá nó trên cơ sở trí nhớ về

những hành vi trong quá khứ đã và chưa được củng cố cũng như hệ quả sắp tới

Theo ông, con người có khả năng nhận thức, họ nỗ lực có được sự kiểm soát đối với những sự kiện tác động đến cuộc sống của mình Bằng cách thực hiện ảnh hưởng trong những lĩnh vực mà họ có kiểm soát Họ có thể thực hiện những mong muốn trong tương ai tốt hơn và chặn trước những cái không mong muốn Việc đấu tranh để có được sự kiểm soát đối với hoàn cảnh lan sang bất cứ thứ gì mà con người làm bởi vì nó có thể bảo đảm cho họ những lợi ích xã hội và cá nhân Khả năng tác động đến kết quả làm cho chúng có thể dự đoán được Tính có thể dự đoán được tập trung vào sự chuẩn bị thích hợp Việc không có khả năng tạo ảnh hưởng đến những điều sẽ diễn ra sẽ có tác động không tốt tới việc nhìn nhận cuộc sống,

dẫn đến thờ ơ hoặc thất vọng [33, tr 569]

Như vậy, Bandura đưa ra quan điểm về các yếu tố nhận thức có ảnh hưởng tới môi trường và thay đổi hành vi Vì vậy, mô hình mà Bandura đưa ra gồm 3 biến

số: môi trường, hành vi và cá nhân Theo Bandura hành vi học được là kết quả của

sự tương tác giữa cá nhân; hành vi và môi trường [11, tr 174]

- Nhận xét về quan điểm của Bandura, Tác giả Lê Văn Hảo và Knud S.larsen

cho rằng: Lý thuyết này lập luận hành vi là hệ quả của quá trình củng cố và vì vậy

không cần có sự đánh giá hoặc nhận thức của cá nhân Các sự kiện bên trong bị lảng tránh trong thuyết củng cố bởi nó định nghĩa hành vi được học tập là kết quả của

Trang 26

củng cố để nâng xác xuất lặp lại của hành vi đó Tuy nhiên, có lẽ hợp lý hơn khi tin rằng các sự kiện củng cố có ý nghĩa quan trọng bởi vì chúng đáp lại nhu cầu và mong muốn của người được củng cố Như vậy, thuyết củng cố cho rằng xác xuất

lặp lại của một hành vi sẽ tăng nếu như nó được thưởng, được củng cố [12, tr 69]

Trong quá trình nghiên cứu quan điểm về hành vi của tác giả Bandura, tác giả luận văn cũng đồng ý với sự nhận xét của tác giả Lê Văn Hảo và Knud S.larsen Bandura coi trọng sự học tập hành vi mẫu và sự củng cố bằng phần thưởng mà chưa coi trọng tới những đặc điểm tâm lý như nhận thức, tình cảm bên trong của cá nhân Đây vẫn là luận điểm chưa đầy đủ về các khía cạnh hành vi của con người

1.1.2 Quan điểm của các nhà Phân tâm học về hành vi

- Đại diện cho tâm lý học phân tâm tiêu biểu S Freud, K.Horney, Alfred Adler, cho rằng động lực cơ bản của hành vi con người là những bản năng sinh vật vô thức

Theo Freud tâm lý con người được hình thành bởi ba khối: Vô thức, ý thức

và siêu tôi Ứng với ba khối đó là “cái ấy”, “cái tôi”, “cái siêu tôi”, đó là các giả thuyết về năng lượng tâm thần, vô thức và cơ cấu đời sống tinh thần

Khái niệm vô thức là khái niệm cơ bản trong học thuyết phân tâm Trên cơ

sở thực nghiệm hành vi trong thôi miên, giấc ngủ, khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tính dục giữ vị trí trung tâm Theo Freud xung năng tính dục và những biến đổi của nó có nguồn động lực thúc đẩy mọi hành vi cá nhân xảy ra trong những hoàn cảnh, môi trường khác nhau

Về ý thức tương đương với khối “cái tôi”, cái tôi được hình thành do áp lực thực tại từ bên ngoài, đến toàn bộ khối bản năng Hoạt động của “cái tôi” theo nguyên tắc thực tại Con người phải dùng năng lượng đáng kể để kiềm chế và kiểm soát những bản năng phi lý của “cái ấy” Cái tôi có tính chất tự chủ về nguồn năng lượng từ trong cấu trúc riêng của nó hoặc trong thùng năng lượng của bản năng tính dục được trung hòa Cái tôi còn tự chủ với môi trường và chọn lọc kích thích của môi trường

“Cái siêu tôi” là những chuẩn mực đạo đức của xã hội quy định, đòi hỏi cái tôi phải ý thức thực hiện Hoạt động của cái siêu tôi theo nguyên tắc kiểm duyệt

Trang 27

[16, tr 56 – 57] Như vậy, trong hệ thống luận điểm của mình, Freud cho rằng hành

vi của con người do khối vô thức điều khiển, có sức mạnh từ động lực bên trong bởi các bản năng bị kìm nén tạo thành Tuy nhiên, hành vi của con người không chỉ được điều chỉnh bằng vô thức mà còn được điều chỉnh bằng ý thức Đó là quá trình điều chỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điều chỉnh theo chuẩn mực đạo đức mà xã hội đề ra

- E.From không dành sự chú ý đến bản năng tình dục mà ông quan tâm đến mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và xã hội Với K.Horney cho rằng con người có sức mạnh bẩm sinh, mà cơ sở của nó nằm trong sự cô đơn ở thời kì thơ ấu, những sức mạnh này được thể hiện qua trạng thái, tình cảm, như trạng thái bồn chồn, lo lắng, và nỗi khiếp sợ bẩm sinh Các trường lực này có ảnh hưởng rất lớn đến hành

vi của con người

1.1.3 Quan điểm của các nhà Tâm lý học nhân văn về hành vi

Quan điểm của nhà tâm lý học A.Maslow

A.Maslow được coi là “người cha tinh thần” của tâm lý học nhân văn (ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX) Trong lý thuyết của mình, A.Maslow đưa ra năm mức thang nhu cầu con con người, các nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự nhất định từ bậc thấp tới bậc cao Nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì nảy sinh nhu cầu bậc cao hơn

- Nhu cầu sinh lý: Theo Maslow, nhu cầu sinh lý là nhu cầu bậc thấp của con người Đây là nhu cầu đảm bảo cho sự tồn tại của con người như thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi, Đây là nhu cầu thúc đẩy con người hoạt động mạnh mẽ nhất Nhu cầu sinh lý là nền tảng quyết định sự tồn tại, đỏi hỏi được thỏa mãn đầu tiên Khi nhu cầu này thỏa mãn thì những nhu cầu khác mới có thể xuất hiện

- Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu thứ 2 trong mức thang nhu cầu Con người cần được đảm bảo sự an toàn của bản thân Nếu bản thân không được an toàn, con người phải vướng bận ở nhu cầu này, không thỏa mãn được nhu cầu an toàn thì con người cũng không có nhu cầu khác

- Nhu cầu xã hội: Trong quá trình sinh sống, con người cần có các mối quan

hệ xã hội như giao tiếp, trao đổi, qua lại với nhau Nếu con người không tham gia

Trang 28

vào nhóm xã hội, học các quy luật, trật tự cũng như những khuôn phép xã hội, cùng nhau đấu tranh với thiên tai, lũ lụt, cần có sự gắn kết, … Chính vì thế ở con người

có nhu cầu xã hội, khác hẳn với các loài động vật khác Đây chính là nấc thang thức

ba trong tháp nhu cầu

- Nhu cầu tôn trọng: Con người tham gia vào nhóm xã hội Đấu tranh để tiến

xa hơn trong công việc, trong hoạt động Con người đòi hỏi phải có quyền lực điều

đó đưa con người vào vị trí ganh đua, cạnh tranh và có nảy sinh một nhu cầu đó chính là nhu cầu được mọi người chú ý đến, được mọi người tôn trọng Đây là nhu cầu thứ tư, đỏi hỏi được sự thỏa mãn

- Nhu cầu tự khẳng định: Trong các nấc thang nhu cầu, đây là nhu cầu được xếp ở nấc thang cao nhất Maslow cho rằng việc tự định hướng bản thân, hoàn thiện bản thân chính là mục tiêu hướng tới của mỗi con người Con người luôn mong muốn sự hoàn thiện, hoàn hảo, muốn khẳng định sự tồn tại của cá nhân mình đối với những người khác

Đây chính là năm nấc thang trong tháp nhu cầu mà Maslow đưa ra Mỗi con người sinh ra đều có 5 nhu cầu, sinh ra là con người đã có những nhu cầu đó Tuy nhiên, muốn thỏa mãn được các nhu cầu thì con người cần được học tập, rèn luyện Quá trình tham gia vào hoạt động xã hội chính là quá trình rèn luyện, quá tình hình thành hành vi Từ đó, quan điểm này cho rằng con người có những hành vi khác nhau khi cần thỏa mãn nhu cầu khác nhau Con người có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi theo cơ chế thỏa mãn này Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu khác xuất hiện, bên cạnh đó là sau những hành hành vi này diễn ra thì sẽ có những hành vi khác diễn ra tiếp theo đó Maslow coi trọng việc thỏa mãn nhu cầu bên trong của con người mà không coi trọng nguyên nhân của hành vi là do tác động của các yếu tố bên ngoài hay yếu tố bên trong Tác giả lý giải hành vi con người trên cơ sở tôn trọng con người với tư cách cá nhân - tôn trọng giá trị sáng tạo, trách nhiệm cũng như các phẩm chất cá nhân Theo trường phái này, hành vi của con người không chỉ bao gồm hành vi quan sát được mà còn bao gồm hành vi không quan sát được

Trang 29

1.1.4 Quan điểm của các nhà Tâm lý học hoạt động về hành vi

Quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động không giống với quan điểm của các nhà tâm lý học hành vi

- L.X Vưgốtsky trong bài báo “Ý thức là vấn đề của tâm lý học hành vi” đã xác định hành vi là “cuộc sống”, là “lao động”, là “thực tiễn”, có nghĩa hành vi là hoạt động với đơn vị của nó là hành động trong cuộc sống

Tâm lý – ý thức – hoạt động không tách rời nhau Việc tạo ra và sử dụng các tính hiệu tự tạo làm cho hành vi người khác hẳn hành vi của con vật Quá trình hình thành hành vi người là quá trình hoạt động đấu hiệu, từ các dấu hiệu trung gian đơn giản của hành vi đến chỗ dấu hiệu có ý nghĩa công cụ, phương tiện giao tiếp cũng như phương tiện điều khiển hành vi cá nhân Hành vi không phải là tổ hợp những phản ứng máy móc theo kiểu “ kích thích – phản ứng” nhằm giúp cơ thể thích nghi với môi trường mà hành vi còn chịu sự định hướng, điều khiển và điều chỉnh Hành vi được xem như là tổ hợp các cử động, thao tác bề ngoài của hoạt động [9, tr 296] Như vậy, hành vi theo quan niệm của L.X Vwgotsky là hành vi gắn với tâm lý, hai yếu tố này

không tác rời nhau, hành vi là mặt biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của hoạt động

- X.L.Rubinstein quan niệm hành vi là hoạt động đặc biệt và hoạt động chuyển thành hành vi chỉ khi mà động lực hoạt động từ bình diện đối tượng chuyển sang quan hệ cá nhân – xã hội Như vậy, hành vi không còn là một hay vài cử động riêng lẽ nào đó của con người mà là tổng hợp các cử động, thao tác, hành động bề ngoài của con người Chúng tôi tán thành quan điểm này và coi đây là nền tảng trong việc nghiên cứu hành vi sử dụng điện thoại của học sinh PTTH

- Để có được cách tiếp cận cụ thể hơn trong việc nghiên cứu hành vi con người nói chung và hành vi sử dụng điện thoại di động của học sinh nói riêng, chúng ta hãy xem xét câu trúc vĩ mô của hoạt động trong quan điểm của A.N Leonchiev

Năm 1975, A.N Leonchiev đã mô tả cấu trúc vĩ mô của hoạt động dựa vào những mô tả của ông, các nhà tâm lý học đã mô hình hóa cấu trúc đó như sau: Trong bản thân ý thức có cái “nghĩa” và cái “ý”; cả “nghĩa” và “ý” cùng tham gia vào hành động cảu con người “Nghĩa” là sự phản ánh hiện thực này, còn ý thức của

Trang 30

hành động biến đổi cùng với động cơ của nó và vì thế sự biến đổi của nghĩa và ý là

không như nhau [5, tr 327] Như vậy, về nghĩa hành động có thể không thay đổi

nhưng động cơ thay đổi thì ý của hành động đã biến đổi và điều này có thể dẫn tới kết quả hành động hoàn toàn khác nhau Để cho nội dung đang được tri thức trở thành nội dung được chủ thể ý thức thì hoạt động của chủ thể phải chiếm vị trí cấu trúc của mục đích trực tiếp hành động – tham gia vào mối quan hệ phù hợp với động cơ của hoạt động Ông khẳng định: trong hoàn cảnh sống nhất định buộc cá nhân phải lựa chọn giữa các nghĩa “vô thưởng vô phạt” đối với chủ thể - từ dùng của A.N Leonchiep mà lựa chọn cái “ý cá nhân” Hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật mà hành vi phải được được hiểu là hoạt động

có ý thức của con người nhằm vào các đối tượng để thỏa mãn các nhu cầu của con người [5, tr 329]

Theo quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động hành vi của con người là hành vi có ý thức là chủ yếu, ngay cả hành vi bản năng cũng được ý thức hóa Ở con người, cũng có úc có hành vi không phải do ý thức mà do vô thức định hướng, điều khiển Ý thức là chức năng tâm lý cấp cao chỉ có ở con người và hành vi đặc trưng của con người là hành vi do ý thức định hướng, điều khiển, điều chính

Theo tâm lý học hoạt động, hành vi người là biểu hiện bề ngoài của hoạt động, là hành động bên ngoài luôn thống nhất với tâm lý người Họ cho rằng, tâm lý

và hành vi đều là những cái có thực, quan hệ với nhau, chi phối lẫn nhau, đều có vai trò trong cuộc sống, tham gia tích cực vào sự tác động của con người vào thế giới xung quanh cũng như tác động vào chính con người Hành vi đặc trưng của con người là hành vi do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh (ngay cả hành vi bản năng cũng được ý thức hóa)

Trên cơ sở phân tích lý luận về hành vi của các trường phái tâm lý học ở nước ngoài, chúng tôi nhận thấy rằng: Quan điểm của Tâm lý học hành vi có một sai lầm đó là quan niệm về các kích thích môi trường quyết định một cách máy móc và tuyệt đối đến tâm lý, hành vi của con người; quan điểm của phân tâm học lại quá đề cao yếu tố vô thức trong hành vi của con người Trường phái tâm lý

Trang 31

học nhân văn dựa trên quan điểm nhìn nhận hành vi con người ở góc độ cá nhân

mà bỏ qua sự chi phối của cộng đồng xã hội đến hành vi của cá nhân

Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đồng quan điểm với các nhà tâm lý học hoạt động khi cho rằng hành vi của con người là hành vi có ý thức Tính có ý thức của hành vi của con người thể hiện ở việc trước khi thực hiện hành vi, con người có suy nghĩ, nhận thức được hoàn cảnh và sự dụng những kiến thức kinh nghiệm của mình để hình thành nên mô hình tâm lý của hành vi

Mô hình này sẽ định hướng, điều khiển hành vi

1.2 Một số quan điểm của các nhà tâm lý học trong nước

1.2.1 Một số nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi của con người

* Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga khi nghiên cứu Hành vi con người và môi

trường xã hội đưa ra nhận xét về sự tác động của một số yếu tố môi trường xung quanh như gia đình, bạn bè tới hành vi của trẻ vị thành niên như sau:

Trẻ lứa tuổi học sinh THPT mong muốn mình được bình đẳng trong cách đối

xử nhưng trẻ vẫn phụ thuộc vào bố mẹ Chính vì thế, có nhiều mâu thuẫn khá phổ biến trong giao tiếp và ứng xử Điều này khiến trẻ dễ bị ảnh hưởng tới những hành

vi lệch chuẩn trong nhân cách của trẻ; dễ có hành vi chống đối, mất quyền độc lập

Học sinh THPT muốn thay đổi mối quan hệ với người lớn thay cho mối quan

hệ tuổi thơ ấu chuyển sang một kiểu mới về chất, điều này gây ra không ít khó khăn cho người lớn lẫn HS Trẻ độ tuổi học sinh THPT, quan hệ của trẻ với bạn bè và

người thân được xây dựng trên chuẩn mực đạo đức đó là Đạo đức bình đẳng Còn

cơ sở của những quan hệ của quan hệ cũ là Đạo đức vâng lời Trong mối quan hệ

với người lớn, trẻ luôn thấy mình phải vâng lời, cho nên khi giao tiếp với bạn bè thiếu niên thường nhận thấy sự thỏa mãn nhiều hơn và mối quan hệ với bạn bè trở nên cần thiết hơn Đây là mối quan hệ chủ đạo, góp phẩn phát triển sự trưởng thành

về mặt đạo đức, hành vi xã hội và hình thành nhân cách trẻ [20, tr 187 – 194]

- Tác giả Phạm Thành Nghị đã đưa ra một số quan điểm về hành vi đạo đức

của trẻ cũng như một số hành vi lệch chuẩn đạo đức xã hội như sau : Khi đã đạt

đến cập độ cao của lập luận đạo đức, con người thể hiện hành vi chia sẻ, giúp đỡ và bảo vệ những nạn nhân bị đối xử bất công bằng Hành vi đạo đức là biểu hiện bên

Trang 32

ngoài của đạo đức, là hành động tự giác và được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về

mặt đạo đức, không mang tính vụ lợi

Con đường hình thành hành vi đạo đức : Thứ nhất: Trẻ luôn có những tấm

gương bên mình là những người quan tâm, chăm sóc người khác và có xu hướng

quan tâm đến quyền lợi của người khác Thứ hai: Hành vi của trẻ chịu sự kiểm soát của người lớn thông qua dạy dỗ, kiểm soát, hướng dẫn, khen ngợi và uốn nắn Thứ

ba: Trẻ nhân thức được mình là ai, hình ảnh bản thân như thế nào

Trẻ học hỏi được nhiều điều từ những tấm gương xung quanh mình và dưới

sự kiểm soát cũng như định hướng của người lớn Từ đó, nhận thức về bản thân và xây dựng mục tiêu phấn đấu trong tương lai Tuy nhiên, mỗi cá nhân có cách học hỏi khác nhau, có cách ứng xử khác nhau, có các hành vi khác nhau Điều đó phụ thuộc vào quá trình tự ý thức, tiếp thu và lĩnh hội những quan niệm, niềm tin và đạo đức, lối sống xung quanh mình

Tác giả đưa ra một số hành vi lệch chuẩn mực đạo đức của trẻ em như sau:

+ Hành vi gây hấn:

Về mặt hình thức : Hành vi gây hấn có thể chia thành hành vi gây hấn chiếm

đoạn và gây hấn thù địch Gây hấn chiếm đoạt đồ chơi và gây hấn thù địch gây thương tích Gây hấn thù địch có thể là gây hấn công khai, đe dọa tính mạng, sức khỏe con người và gây hấn đe dọa làm tổn thất các mối quan hệ xã hội Trẻ trai

thường có xu ướng gây hấn công khai hơn trẻ gái

Về mặt động cơ: Gây hấn có thể mang tính phản ứng khi bi đi dọa Gây hấn

có thể có nguyên nhân từ việc chủ động đe dọa người khác nhưng với bản tính lạnh lùng (Ví dụ : Chiếm đoạt đồ dùng của người khác như một phẩn thưởng) Nếu hành

vi được thực hiện với thái độ tức giận thì được coi là gây hấn phản ứng, nếu hành vi gây hấn theo cách nhẹ nhàng thì coi là gây hấn chủ động

+ Hành vi bắt nạt trẻ khác: Những trẻ hay gây hấn có xu hướng tin rằng bạo

lực là cách có tác dụng để đạt được những gì mà chúng muốn Hành vi bắt nạt xảy

ra khi không có sự cân bằng quyền lực giữa bên bắt nạt và bên bị bất nạt Có hai hành vi bắt nạt là bắt nạt trực tiếp (đấm đá, tấn công bằng lời nói lăng mạ) và bắt

Trang 33

nạt gián tiếp (phát tán những câu chuyện tục tĩu, những tin đồn, tin nhắn về người

nào đó nhằm tác động tới các mối quan hệ của nạn nhân)

+ Hành vi quay cóp: Hầu hết học sinh quay cóp trong trường hợp bị sức ép phải

đạt kết quả cao và ít khi bị phát hiện Những học sinh nam quay cóp nhiều hơn học sinh

nữ Những học sinh muốn kết quả học tập cao nhưng hạn chế về khả năng học tập,

đánh giá thấp năng lực của mình thường quay cop nhiều hơn [22, tr 228 - 234]

- Nghiên cứu về sự tác động của dư luận xã hội đến hành vi của cá nhân, tác giả Nguyễn Quý Thanh đưa ra quan điểm như sau: Dư luận xã hội có thể được xem

là tiểu hệ thống trong chỉnh thể xã hội và trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì dư luận xã hội được xã hội giao cho thực hiện những vai trò nhất định tức

là xã hội đòi hỏi dư luận xã hội phải thực hiện những hành vi nhất định Những hành vi đó có thể là lên án cái ác, ủng hộ cái thiện Dư luận xã hội có vai trò nhất định khác nhau trong đời sống xã hội Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn không thống nhất được rằng dư luận xã hội đóng vai trò tích cực hay tiêu cực trong đời sống

xã hội bởi mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào sự trưởng thành của dư luận xã hội

Tác động của dư luận xã hội đến hành vi của cá nhân phụ thuộc vào các yêu tố: (1)Mức độ có sẵn của quan niệm về vấn đề mà dư luận xã hội đề cập (2)Tính đồng hướng của các luồng ý kiến Khi các luồng ý kiến trái ngược nhau tác động của dư luận xã hội sẽ bị giảm sút rất nhiều Điều này tương tự như nguyên tắc cộng lực tác động trong vật lý học (3)Tính ưu tiên cá nhân phụ thuộc vào cặp nhị phân cá nhân – tập thể (4) Ngoài ra, mỗi cá nhân đều được bao bọc bởi một không gian xã hội trực tiếp và gần gũi đối với cá nhân Nhìn từ góc độ lý thuyết mạng xã hội thì ở không gian này tập hợp những quan hệ mạnh của cá nhân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, bạn học của cá nhân, Tất cả những yếu tố đó gọi là “tiểu môi trường

xã hội” của cá nhân [24, tr 142-144]

- Trong công trình nghiên cứu “Game bạo lực với thanh thiếu niên, phân

tích ở góc độ tâm lý học xã hôi”, tác giả Trần Thị Minh Đức đã đưa ra nhận xét về

tác dụng của game bạo lực đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của học

Trang 34

sinh Trong đó, tác giả nhấn mạnh tới những hành vi nguy cơ khi học sinh chơi game bạo lực trực tuyến

Các phương tiện truyền thông đại chúng như ti vi, đài, âm nhạc, báo chí, intrernet, máy vi tính, điện thoại, ngành công nghiệp giải trí càng trở nên phổ biến

đã bị coi như một yếu tố thúc đẩy hành vi nguy cơ ở thanh thiếu niên thông qua việc

mô tả các hoạt động/ hình ảnh không lành mạnh trong nội dung Có một mối liên hệ giữa truyền thông đại chúng và những hành vi nguy cơ từ game như nói dối, uống rượu, bỏ học, quan hệ tình dục, hút thuốc lá, sử dụng ma túy, ăn cắp vặt, Những hình ảnh từ truyền thông về hành vi nguy cơ có thể tạo ra việc thiết lập hoặc củng

cố các quan điểm về thế giới xung quanh của thanh thiếu niên; các hình ảnh trên truyền thông cũng có thể tác động đến quan điểm về nguy cơ của thanh thiếu niên vì những nhân vật chính thường không phải chịu hậu quả nghiêm trọng về hành vi của

họ, bất kể họ trải qua những tình huống bạo lực, đau ốm hoặc phạm tội

Khi chơi game, các em được tham gia vào thế giới ảo, được làm những điều mình bị cấm đoán trong đời thực hoặc những năng lực mong muốn để bù đắp sự yếu kém của bản thân khiến các em thích thú và nhập vai Game bạo lực có thể thỏa mãn những nhu cầu khẳng định bản sắc và năng lực cá nhân của độ tuổi thanh thiếu niên là rất lớn Không chỉ vậy, khi học sinh chơi game bạo lực với giới hạn thời gian càng lớn thì sự ảnh hưởng của game tới sức khỏe, tâm lý và quan hệ xã hội trong đời sống thường nhật bị ảnh hưởng Từ đó dẫn tới sự thay đổi trong thế giới quan,

1.2.2 Một số nghiên cứu liên quan về hành vi sử dụng điện thoại di động

*Một số nghiên cứu về hành vi sử dụng điện thoại di động trước đây

Trang 35

- Nghiên cứu “Nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên một số

trường đại học tại Hà Nội” tác giả Dương Thị Hương Giang đưa ra một số yếu tố

tác động tới nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên sau:

Giá cả hợp lý, hình thức, nhãn hiệu, dịch vụ bảo hành, các loại tính năng cũng như giá trị bền đẹp, hợp mốt của điện thoại là những yếu tố tác động tới nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên

Bên cạnh đó, tác giả cũng lấy ý kiến của sinh viên về việc sử dụng điện thoại

di động trong giờ học đã có kết quả như sau: Với các nội dung khảo sát: (1)Chỉ được sử dụng ngoài giờ học, có 39 phiếu, chiếm 26% (2)Chỉ được sử dụng trong giờ học nhưng không làm ảnh hưởng đến người xung quanh, có 111 phiếu, chiếm 74% (3)Cấm tuyệt đối mang tới trường học thì không có bạn nào lựa chọn

Như vậy, các bạn sinh viên ủng hộ việc sử dụng điên thoại trong giờ học nhưng với điều kiện là không làm ảnh hưởng tới những người xung quanh và chất lượng bài giảng Chỉ một bộ phận nhỏ các bạn sinh viên lựa chọn là không sử dụng điện thoại di động trong giờ học Mặc dù đây là ý kiến tham khảo của các bạn sinh viên nhưng điều này cũng cho thấy nguyện vọng của các bạn trái với quy định của nhà trường bởi sử dụng điện thoại di động trong giờ học có sự ảnh hưởng nhất định

tới bài học và những người xung quanh [6, tr 55]

- Tìm hiểu “Nhu cầu sử dụng điện thoại di động của người dân Hà Nội”, tác

giả Phạm Hồng Hà đã đưa ra các lý do người dân lựa chọn việc SD ĐTDĐ: Thứ nhất người dân sợ ảnh hưởng tới sức khỏe Thứ hai là mức chi phí cho điện thoại Mỗi tháng người dân phải trả mức phí khá cao cho thuê bao điện thoại Đây là yếu

tố giá trị kinh tế gia đình ảnh hưởng tới quyết định việc sử dụng điện thoại di động của người dân Yếu tố thứ ba đó chính là việc điện thoại di động dễ bị hỏng, khi đi thay thế rất đắt bởi bộ phận thay thế không có nhiều trên thị trường Ngoài ra, việc thường xuyên phải nạp điện, vùng phủ sóng hay việc không có nhu cầu cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến quyết định sử dụng điện thoại di động của người dân

Trang 36

- Tìm hiểu “Nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trên địa bàn

Hà Nội”, tác giả Nguyễn Hồng Liên đưa ra khảo sát định hướng hành vi lựa chọn

mùa ĐTDĐ như sau:

(1) Sở thích cá nhân có 90 người lựa chọn, chiếm 56%

(2) Gợi ý của bố mẹ, có 64 người lựa chọn, chiếm 40%

(3) Giới thiệu của bạn bè, có 42 người lựa chọn, chiems 26%

(4) Quảng cáo trên các phương tiện thông tin, có 44 người lựa chọn, chiếm 28%

(5) Ra cửa hàng nhờ nhân viên tư vấn, có 12 người lựa chọn, chiếm 8%

Từ khảo sát, tác giả đưa ra kết luận: Đa phần sinh viên có định hướng hành

vi lựa chọn sản phẩm điện thoại phụ thuộc vào sở thích cá nhân Số lượng sinh viên lựa chọn sản phẩm theo sở thích cá nhân tương đối lớn Bên cạnh đó trọng lượng của sự tư vấn bởi gia đình vẫn chiếm tỉ lệ lựa chọn cao ở mức độ thứ hai Mức độ lựa chọn sản phẩm theo sự quảng cáo của phương tiện truyền thông và sự giới thiệu của bạn bè có số lượng người lựa chọn tương đối với nhau Số lượng sinh viên lựa chọn sản phẩm điện thoại di động theo sự tư vấn của người bán hàng là ít nhất Số lượng sinh viên lựa chọn sử dụng sản phẩm điện thoại theo gợi ý của bố mẹ, của bạn bè và sự ảnh hưởng của truyền thông đại chúng và sự tư vấn của nhân viên bán hàng

*Một số bài báo có liên quan đến hành vi sử dụng điện thoại di động

Trang 37

chuyên gia này, việc tập trung quá lâu vào màn hình sẽ gây ra rất nhiều hậu quả nguy hiểm cho đôi mắt, và điều đáng tiếc nhất có thể xảy ra đó là mù lòa Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến thị giác được các tác giả đưa ra đó là:

Khoảng cách: Đôi mắt của chúng ta hoạt động bằng cách co bóp và làm giãn

những mô cơ thần kinh nhỏ bên trong Do đó, khi chúng ta tập trung lâu trên màn hình thiết bị, những mô cơ nhỏ này sẽ liên tục co bóp trong một thời gian dài, điều này tất yếu dẫn đến tình trạng các mô cơ này mỏi khiến cho chúng ta không thể tập trung vào những điểm tại những khoảng cách khác, gây mờ, mỏi mắt và đau ở đỉnh đầu

Chớp mắt: Khi nhìn chăm chú vào màn hình hay một điểm nào đó, chúng ta

có lẽ sẽ không nháy mắt nhằm đạt tới độ tập trung cao nhất Theo nghiên cứu, một người bình thường nháy mắt 12 - 13 lần một phút, trong khi đó khi tập trung, mắt của chúng ta chỉ nháy 4 - 5 lần trong cùng khoảng thời gian Điều này rất có hại cho mắt bởi nháy mắt là một thói quen tự nhiên giúp cho việc giữ ẩm và bôi trơn nhãn cầu bằng chính những giọt nước mắt Vì vậy ít nháy mắt đồng nghĩa với việc nhãn cầu bị khô, điều này sẽ gây ra tình trạng lóa mắt, đau đầu và xung huyết

Ánh sáng: Hầu hết các màn hình máy tính, điện thoại cũng như máy chơi

game đều sử dụng công nghệ chiếu sáng nền Chính công nghệ này khiến cho màn hình các thiết bị trên có thể được dễ dàng nhìn thấy trong điều kiện ánh sáng yếu (hoặc bóng đêm) cũng như ánh sáng cực mạnh Thoạt nhìn thì thấy nó rất tiện ích, tuy nhiên chính điều này đã khiến cho đôi mắt của chúng ta trở nên giãn ra hoặc co thắt lại tùy thuộc vào mức độ ánh sáng và thời gian tập trung vào màn hình Hậu quả là sau một thời gian, đôi mắt của chúng ta sẽ trở nên rất nhạy cảm với ánh sáng, gây mờ mắt và nhìn không rõ [35]

- Các bài báo trong nước về vấn đề sử dụng ĐTDĐ của học sinh

+ Bài viết “Học sinh phổ thông không nên sử dụng điện thoại di động”, tác

giả Phan Loan sau khi điều ra thực trạng sử dụng điện thoại di động của học sinh phổ thông, rút ra được một số kết luận như sau:

Trang 38

Về độ tuổi sử dụng và mật độ: không chỉ học sinh THPT mà học sinh tiểu

học cũng được trang bị điện thoại để sử dụng Trong số các lớp học sinh THPT lớp càng cao thì càng có nhiều em sử dụng điện thoại di động

Nguyên nhân để các em sử dụng điện thoại di động: Các em có thể tự mua

điện thoại vì giá một chiếc điện thoại không đắt Có thể là do cha mẹ hoặc ông bà,

cô chú mua tặng học sinh Nhằm mục đích cho cha mẹ kiểm soát con cái, tạo điều kiện cho các con trao đổi bài vở với nhau

Thực trạng: Đa số học sinh chỉ sử dụng điện thoại cho việc nghe nhạc, xem

phim, lướt web, chơi trò chơi hoặc liên lạc với bạn bè, ít có trường hợp học sinh sử dụng để liên lạc với gia đình như mục đích chính ban đầu khi xin cha mẹ Một số học sinh sử dụng điện thoại để thể hiện phong cách và đẳng cấp

Hậu quả: Đối với sự hình thành phát triển nhân cách: Tiêu tốn thời gian cho

điện thoại ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu kiến thức học tập của chính học sinh cũng như các bạn khác trong lớp, đồng thời vi phạm vào các nội quy, quy định của nhà trường Một số học sinh THPT chịu ảnh hưởng tâm lý tiêu cực khá lớn từ hậu quả của việc lộ thông tin cá nhân qua điện thoại Việc sử dụng điện thoại

di động cũng đưa một số học sinh đến gần tệ nạn xã hội nhiều hơn Bắt đầu từ những hành vi lừa đảo, trộm cắp trong gia đình, ngoài xã hội để lấy tiền nạp thẻ, Nhiều bạn mượn đồ dùng của bạn, bán lấy tiền mua điện thoại hoặc sửa sang điện

thoại cũ…

Hậu quả đối với sức khỏe sinh học: Nhiều bạn sử dụng điện thoại để chơi trò

chơi điện tử, góp phần làm cho tỷ lệ học sinh bị cận thị nhiều hơn[36]

+ Nội qui học sinh của trường THCS và PTCS Nội trú và bán trú Hồng Hà

đăng nội dung: “Cấm mang theo các vật dụng đắt tiền trên 50 000 đồng, cấm mang

laptop và điện thoại di động (Nếu vi phạm sẽ bị thu và nhà trường chỉ trả lại vào cuối năm học)” Việc cấm đem điện thoại di động tới trường đã được một số trường thực hiện Tuy nhiên, đây là tài sản cá nhân của học sinh cho nên để cấm học sinh đem điện thoại tới trường thường vẫn có nhiều luồng ý kiến trái chiều nhau Bởi

Trang 39

nguyên nhân đa phần học sinh cần có điện thoại để liên lạc với phụ huynh khi đưa

đón con và chuyển địa điểm học thêm cho con [41]

+ Trước tình hình thực trạng về hành vi sử dụng điện thoại di động trong giờ

học gây nhiều ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục, Giám đốc Sở GD - ĐT Hà Nội

Nguyễn Hữu Độ ban hành kế hoạch sử dụng điện thoại trong và ngoài trường nhà trường giai đoạn 2013-2015 như sau:

Về Đối tượng thực hiện: Gồm tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh

sinh viên các cơ sở giáo dục và đơn vị trường học trực thuộc trên địa bàn thành phố

Hà Nội

Sở GD - ĐT yêu cầu: Tuyệt đối không được sử dụng điện thoại di động trong

các giờ học, giờ sinh hoạt lớp, giờ sinh hoạt tập thể trong trường Ngoài các giờ quy định trên, không được sử dụng ĐTDĐ vào những việc có nội dung xấu, ghi hình ảnh thiếu lành mạnh, phát tán trên mạng Nếu cán bộ, công chức, giáo viên, nhân viên vi phạm quy định sẽ căn cứ mức độ lỗi vi phạm và số lần vi phạm để xử lý kỷ luật theo quy định của Luật công chức hiện hành và quy định của ngành Với học sinh, sinh viên, nếu vi phạm lần 1: hạ một bậc hạnh kiểm tháng, mắc lỗi, phê bình trước lớp, trước trường, kiểm điểm và mời gia đình cam kết Đã biết lỗi nhưng vẫn

vi phạm lần 2: hạ một bậc hạnh kiểm của học kỳ, trả về gia đình giáo dục trong 3 ngày để tự kiểm điểm, thông báo tới địa phương nơi cư trú Đã được giáo dục vẫn tái phạm nhiều lần: xếp hạng hạnh kiểm yếu, cảnh cáo trước toàn trường, ghi học

bạ, buộc thôi học 1 tuần để gia đình và địa phương quản lý, giáo dục [37]

+ Bài viết “Báo động đỏ - Học sinh nghiện điện thoại di động” Tác giả Tiêu

Hà - Văn Thanh đưa ra kết quả khảo sát của Sở Y tế và Đại học Y Dược Thành phố

Hồ Chí Minh về thực trạng HS SD ĐTDĐ và những tác động tới tâm lý, sinh lý cũng như kết quả học tập của học sinh THPT như sau:

Trong số 1.000 HS đang học ở các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, THPT Năng khiếu, Trung học thực hành Hùng Vương và THPT Trần Khai Nguyên,

có đến 950 em dùng điện thoại Học sinh có biểu hiện lệ thuộc vào thiết bị này Gần 20% HS có cảm giác bất an, lo sợ, bứt rứt khi không có ĐTDĐ trong túi và 8%

Trang 40

HS rơi vào trạng thái “nghiện” ĐTDĐ Nhiều em sử dụng hơn 50 tin nhắn và 30 cuộc gọi mỗi ngày Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra kết luận: 73% HS từng có ít nhất hai ĐTDĐ một lúc và 70% em tham gia các ứng dụng trên ĐTDĐ mỗi ngày

Học sinh có học lực giỏi thì tỷ lệ nghiện điện thoại thấp so với học sinh khá, yếu kém hoặc học sinh có người yêu Các em này vì bỏ ra nhiều thời gian dùng điện thoại, lên facebook, chat yahoo nên ít thời gian tập trung vào học hành Đặc biệt, học sinh lớp 10 có tần suất sử dụng điện thoại nhiều hơn các lớp khác vì môi trường mới, ít bạn bè

Việc sử dụng ĐTDĐ có liên quan đến các triệu chứng như: đau nhức âm ỉ nửa đầu, biếng ăn, mất ngủ, đau nhức ngón tay cái, ngón trỏ, suy giảm thính lực và

lo sợ, bứt rứt khi không có điện thoại bên cạnh (hội chứng Nomophobia) Việc sử dụng điện thoại không kiểm soát, không thích hợp hay quá mức ảnh hưởng đến sức khỏe và vấn đề xã hội, hành vi và xúc cảm của HS Nghiên cứu đã cho thấy có từ 4 -7% học sinh có một hoặc nhiều biểu hiện: đau nhức ngón tay cái, ảnh hưởng đến tế bào thần kinh, không ngủ được, ù tai, suy giảm thính lực có liên quan đến điện thoại Nhiều HS để ĐTDĐ trong túi quần, đeo bên hông cả ngày có nguy cơ vô sinh nam cao hơn; nữ sinh bỏ trong túi áo hoặc đeo trước ngực liên tục thì có nguy cơ ung thư vú Một số nghiên cứu đã chỉ ra, cơ thể bị tác động bởi sóng của ĐTDĐ có thể bị tổn thương ở não Trẻ nhỏ sử dụng điện thoại quá sớm cũng dễ thiếu tính sáng tạo, giảm tập trung, nhức mắt, đau tay Nếu SD ĐTDĐ để nghe nhạc kéo dài nhiều giờ thính giác mệt mỏi, người dùng sẽ dễ bị giảm thính lực nhanh hơn từ 10 -

20 năm Những biểu hiện này thường không xuất hiện ngay nên ít người nhận biết [39]

+ Bài báo: Cần giáo dục văn hóa sử dụng điện thoại cho học sinh, tác giả

Bùi Minh Tuấn có nêu vấn đề sau: Đưa ra một số mục tiêu của các bậc phụ huynh khi cung cấp điện thoại cho con, tác giả nhấn mạnh hậu quả, bất cập mà điện thoại mang lại cho đời sống cá nhân khi học sinh lạm dụng ĐTDĐ quá mức Nhiều HS chỉ chăm chú nhắn tin, gọi điện, lơ là nghe giảng trong lớp học, bê trễ trong việc

Ngày đăng: 08/04/2020, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w