1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách năng lượng nga và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của liên bang nga

122 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, năng lượng đóng vai trò là một trong những yếu tố then chốt trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, trong đó có Nga6 – quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên lớn nhất

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN THỊ BÍCH HẠNH

CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG NGA VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

CỦA LIÊN BANG NGA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế

Mã số: 60 31 02 06

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Cảnh Toàn

Hà Nội - 2014

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9

3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 9

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Bố cục luận văn 15

7 Nguồn tài liệu tham khảo 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGÀNH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA 16

1.1 Thực trạng và tiềm năng các ngành năng lượng của Nga 16

1.1.1 Dầu khí 16

1.1.2 Than đá 20

1.1.3 Năng lượng hạt nhân 21

1.1.4 Năng lượng tái tạo 24

1.2 Vị thế quốc tế của Nga trong lĩnh vực năng lượng 25

1.3 Những bất cập và yếu kém của ngành năng lượng Nga 30

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 CHIẾN LƯỢC NĂNG LƯỢNG VÀ CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA 35

2.1 Yêu cầu đặt ra đối với ngành năng lượng của Nga 35

2.2 Chiến lược năng lượng Nga 37

2.2.1 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2020 37

2.2.2 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030 38

2.2.3 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2035 39

2.3 Những cải cách của ngành năng lượng Nga 40

Trang 4

2.3.1 Cải cách về cơ cấu tổ chức 40

2.3.2 Cải cách chính sách phát triển ngành dầu khí 44

2.3.3 Cải cách cơ sở hạ tầng ngành năng lượng 50

2.3.4 Cải cách về công nghệ 62

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 VAI TRÒ CỦA NĂNG LƯỢNG VÀ CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NGA KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 66

3.1 Vai trò của năng lượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga 66

3.1.1 Về kinh tế 67

3.1.2 Về chính trị 71

3.1.3 Chính sách năng lượng của Nga ở một số khu vực trọng điểm 77

3.1.3.1 Đối với Cộng đồng các Quốc gia Độc lập SNG 77

3.1.3.2 Đối với EU 82

3.1.3.3 Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương 87

3.2 Kinh nghiệm cho Việt Nam 96

Tiểu kết chương 3 100

PHẦN KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 117

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 APAC Asia-Pacific

Châu Á – Thái Bình Dương

2 APEC Asia-Pacific Economic Cooperation

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

3 ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

4 BOO Build – Own – Operate

Xây dựng – Sửa chữa – Vận hành

7 EU The European Union

Liên minh Châu Âu

8 ES-2020 Energy Strategy of Russia for the period up to 2020

Chiến lược Năng lượng Nga giai đoạn đến 2020

9 ES-2030 Energy Strategy of Russia for the period up to 2030

Chiến lược Năng lượng Nga giai đoạn đến 2030

10 ES-2035 Energy Strategy of Russia for the period up to 2035

Chiến lược Năng lượng Nga giai đoạn đến 2035

11 ESPO Eastern Siberia Pacific Ocean

Tuyến đường ống dẫn dầu Đông Siberi – Thái Bình Dương

12 EURATOM The European Atomic Energy Community

Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu

13 GECF Gas Exporting Countries Forum

Diễn đàn các nước xuất khẩu khí đốt

Trang 6

14 IEA International Energy Agency

Cơ quan Năng lượng Quốc tế

15 IAEA International Atomic Energy Agency

Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế

16 LNG Liquefied Natural Gas

Khí thiên nhiên hóa lỏng

17 MOX Mixed Oxide Fuel

18 NATO The North Atlantic Treaty Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

19 NMĐHN Nhà máy điện hạt nhân

20 NLHN Năng lượng hạt nhân

21 SCO The Shanghai Cooperation Organization

Tổ chức hợp tác quốc tế Thượng Hải

22 TCNCCA Tạp chí Nghiên cứu châu Âu

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Biểu đồ 1.1: Top 20 nước có trữ lượng khí lớn nhất thế giới (tỷ thùng) 17

Biểu đồ 1.2: Top 20 nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới năm 2013 (tỷ thùng) 17 Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ phân bổ than đá trên toàn thế giới 20

Biểu đồ 3.1: Đông Bắc Á trong nhu cầu năng lượng thế giới (tỷ tấn) 91

Hình 1.1: Mạng lưới đường ống dẫn dầu khí của Nga ở châu Âu 29

Hình 2.1: Tuyến đường ống dẫn khí Bovanenkovo – Ukhta và Ukhta – Torzhok 51

Hình 2.2: Tuyến đường sắt Obskaya – Bovanenkovo: 52

Hình 2.3: Tuyến đường Sakhalin – Khabarovsk – Vladivostok 53

Hình 2.4: Dòng chảy xanh – Blue Stream 55

Hình 2.5: Dự án Dòng chảy phương Bắc 56

Hình 2.6: Đường đi của dòng chảy phương Nam 57

Hình 2.7: Các phương án hình thành hệ thống đường ống cho Đông Bắc Á 59

Hình 2.8: Tuyến đường ống dẫn dầu Đông Siberi – Thái Bình Dương (ESPO) 60

Hình 3.1: Dự án các tuyến đường ống Nabucco, South Stream và North Stream 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, năng lượng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của con người Năng lượng không những gắn liền mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của con người Từ những sinh hoạt tối thiểu như ăn, ở, đến các hoạt động lao động, vui chơi giải trí của con người đều cần đến năng lượng Khi

xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng cao và văn minh hơn Năng lượng là một trong những nguyên nhân của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là động lực cho các ngành kinh tế, quyết định tiềm năng, mức độ và nhịp độ phát triển của một nền kinh tế Do đó, công nghiệp năng lượng trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng và cơ bản của một quốc gia Nền sản xuất hiện đại chỉ có thể phát triển nhờ sự tồn tại của ngành năng lượng Nhu cầu đối với năng lượng càng ngày càng tăng cao Quốc gia càng phát triển thì nhu cầu sử dụng năng lượng càng lớn Chẳng hạn như Mỹ - quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới và trữ lượng năng lượng khổng lồ1 vẫn phải nhập khẩu đến 2/3 lượng dầu mỏ trong tổng mức tiêu thụ 24,4 triệu thùng dầu/ngày, chiếm 25 % tổng lượng tiêu thụ dầu mỏ toàn thế giới2 Hay như đối với Liên minh châu Âu (EU)3,

“dầu và khí đốt chiếm 50 % lượng tiêu thụ năng lượng của EU và nếu không có gì thay đổi, tỉ lệ này sẽ tăng lên 65 % vào năm 2030, trong đó, EU sẽ phải nhập tới

93 % dầu và 84 % khí đốt”4,… Tuy nhiên, nguồn năng lượng truyền thống lại đang dần cạn kiệt tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của kinh tế Do vậy, năng lượng trở thành tâm điểm trong quan hệ quốc tế hiện nay Năng lượng chính là chất xúc tác thúc đẩy quan hệ giữa các nước trên cơ sở gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau, nhưng đồng thời cũng là một trong những tác nhân gây ra xung đột và chiến tranh trong quan hệ quốc tế Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã từng khẳng định “những vấn

đề năng lượng, tài nguyên ngày nay đang đứng ngang hàng với các vấn đề an ninh

1 Mỹ đứng thứ 11 về trữ lượng dầu mỏ, thứ 6 về trữ lượng khí đốt và đứng đầu thế giới về trữ lượng than đá

2 The Booking Foreign Policy Studies (2006), Energy Sercurity Series – the Russian Federation, The

Bookings Institution, Washington D.C

3 Viết tắt của từ tiếng Anh: The European Union

4 Hồ Thắm (2005), Đối ngoại năng lượng Nga – EU, Tạp chí Kinh tế Quốc tế, số 04, tr 12

Trang 9

quân sự, ý thức hệ, tranh giành lãnh thổ”5 Các cuộc xung đột, chiến tranh cục bộ và khu vực, những điểm nóng trên thế giới những năm gần đây, suy cho cùng, có nguyên nhân từ vấn đề tranh chấp và tìm kiếm năng lượng Trong bối cảnh đó, năng lượng đóng vai trò là một trong những yếu tố then chốt trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, trong đó có Nga6 – quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên lớn nhất về khí đốt tự nhiên và phần đáng kể trữ lượng dầu mỏ Việc Nga sử dụng năng lượng như một thứ vũ khí lợi hại nhằm gia tăng ảnh hưởng và quyền lực là điều dễ hiểu, bởi trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia đều sử dụng các liên kết chính trị, các mối quan hệ kinh tế, khả năng quân sự và các công cụ thế mạnh khác để tăng cường tiếng nói và vị thế của mình

Đối với Nga, sau sự sụp đổ của Liên Xô, vị thế cường quốc hàng đầu thế giới cũng bị đánh mất Đặc biệt, sau gần một thập kỷ cầm quyền của Tổng thống Borus Yeltsin (1919-1999), nước Nga không chỉ chìm sâu vào khủng hoảng mà còn bị suy giảm địa vị trên trường quốc tế và bị coi là cường quốc hạng hai Thế mạnh sẵn có của Nga là năng lượng khi ấy cũng chỉ được coi là một thứ hàng hóa “ít giá trị” Tuy nhiên, kể từ khi Putin lên làm ông chủ của Điện Kremlin thay Yeltsin thì quan điểm của Nga về năng lượng đã thay đổi Putin đã nhìn thấy sức mạnh to lớn đằng sau hai chữ “năng lượng” Do vậy, một chương trình cải cách toàn diện ngành năng lượng đã được Putin cùng chính quyền Moscow xây dựng và thực hiện nhằm phát huy tối đa sức mạnh của năng lượng, biến năng lượng trở thành “xương sống” của nền kinh tế và “vũ khí lợi hại” của chính trị Ngay từ những ngày đầu nắm quyền, Putin đã bắt tay vào xây dựng một chính sách phát triển ngành năng lượng toàn diện

và dài hạn Chính sách năng lượng của Putin được thể hiện rõ qua các chiến lược phát triển ngành năng lượng Chiến lược năng lượng được cập nhật ít nhất năm năm một lần Kể từ những ngày đầu dưới quyền Putin, Chính phủ Nga đã xây dựng được

ba chiến lược năng lượng, bao gồm: “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2020”, “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2030” và mới đây là

“Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2035” Thông qua các chiến lược

này, chính quyền Putin đã vạch ra những phương hướng chủ yếu để phát triển

Trang 10

ngành năng lượng, những mục tiêu mà ngành năng lượng cần đạt được Bên cạnh

đó, Moscow còn tìm ra những điểm yếu kém của ngành năng lượng nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục thông qua việc cải cách ngành năng lượng Nhờ đó Nga

đã vực dậy được nền kinh tế và lấy lại được vị thế của mình trên trường quốc tế, đồng thời cũng phá vỡ được ý đồ bao vây, kiềm chế của Mỹ và phương Tây Giờ đây, Nga được mệnh danh là “cường quốc năng lượng” và Putin được mệnh danh là

“Vua năng lượng trong thế kỷ XXI”7 Cường quốc năng lượng này cũng trở thành nhà cung cấp năng lượng và đảm bảo an ninh năng lượng cho toàn thế giới, đặc biệt

là cho khu vực Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (SNG), Liên minh Châu Âu (EU)

và châu Á – Thái Bình Dương (APAC)8 Có thể nói: sự vực dậy và thay đổi nhanh chóng đó của Nga giống như “một cuộc lột xác” và cuộc lột xác đó thành công là nhờ vào công cụ năng lượng Công cụ năng lượng không chỉ giúp Nga khôi phục nền kinh tế mà còn trở thành một thứ vũ khí sắc bén, một nhân tố quyết định của Nga trong chính sách đối ngoại Và như vậy, việc cải cách năng lượng chính là quá trình tôi rèn thứ vũ khí đặc biệt đó Bởi vậy, bất kỳ một động thái nào liên quan đến việc cải cách ngành năng lượng hay thay đổi chính sách năng lượng của Nga cũng đều ít nhiều ảnh hưởng đến tình hình quốc tế nói chung và các quốc gia phụ thuộc vào năng lượng của Nga nói riêng

Vậy, thực trạng và tiềm năng phát triển của ngành năng lượng Nga hiện nay như thế nào? Nga chiếm vị trí nào trên thị trường năng lượng quốc tế? Ngành năng lượng của Nga tồn tại những bất cập và yếu kém gì đòi hỏi Chính phủ Nga phải tiến hành cải cách? Chính phủ Nga kể từ khi Tổng thống Putin lên nắm quyền đã tiến hành cải cách ngành năng lượng như thế nào? Những cải cách đó đã mang lại gì cho Nga? Thông qua đó, chúng ta có thể rút ra được kinh nghiệm gì cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay?

Để trả lời những câu hỏi trên, tác giả đã quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài

“Cải cách năng lượng Nga và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” và lấy đó làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

7 Lê Thế Mẫu (2010), Thế giới: Một góc nhìn Phần I: Trật tự thế giới mới Dầu mỏ - tử huyệt của nhiều

cường quốc kinh tế trong thế giới đương đại Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 7-8

8 Viết tắt của các từ Tiếng Nga và Tiếng Anh: SNG = Sodruzhestvo Nezavisimykh Gosudarst, APAC = Pacific

Trang 11

Asia-2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn

sử dụng năng lượng trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga là hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng và và hoàn thiện chiến lược năng lượng quốc gia nói riêng và chính sách ngoại giao nói chung góp phần tăng cường vị thế cho Việt Nam

và bảo bảm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển cân bằng, nhanh chóng và bền vững

3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

3.1 Trong nước

Theo tìm hiểu của tác giả, ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu

về vấn đề năng lượng của Nga cũng như chính sách ngoại giao năng lượng của Nga

Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề về “Cải cách năng lượng Nga và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Nga” Một

số bài báo, công trình của các học giả hàng đầu như TS Nguyễn Cảnh Toàn, TS

Trang 12

Nguyễn An Hà, PGS TS Nguyễn Quang Thuấn (Viện Nghiên cứu châu Âu), TS Ngô Duy Ngọ (Học viện Quan hệ Quốc tế),… chủ yếu đề cập đến một vài khía cạnh của vấn đề như vai trò của dầu khí, chiến lược dầu khí, hợp tác năng lượng Việt – Nga, chính sách ngoại giao năng lượng của Nga, hoặc tìm hiểu vấn đề trong một giai đoạn lịch sử khác chứ không làm rõ quá trình cải cách ngành năng lượng, các chiến lược năng lượng và vai trò của năng lượng nói chung trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

đã được công bố như:

Cuốn “Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của các tác giả Nguyễn

An Hà (chủ biên), Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Cảnh Toàn do Nhà xuất bản (NXB) Khoa học Xã hội phát hành năm 2011 đã đưa ra những phân tích sâu sắc về vai trò của an ninh năng lượng trong cơ cấu quyền lực thế giới, những yếu kém của ngành dầu khí Nga và vấn đề cải tổ tổ hợp dầu khí Nga tới năm 2020 Tư đó, các tác giả đã đưa ra một bức tranh tổng thể về mối quan hệ hợp tác năng lượng Việt - Nga tới 2020

Cuốn “Các giải pháp phát triển quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới” của tác giả Nguyễn Quang Thuấn, do NXB Từ điển Bách khoa phát hành năm

2009 đã đánh giá và phân tích về thế và lực mới của Liên bang Nga với vai trò là

“siêu cường năng lượng” cũng như phân tích quan điểm mới trong chiến lược đối ngoại của Putin

Cuốn “Hướng tới hợp tác toàn diện Nga - ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI” do tác giả Nguyễn Quang Thuấn chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia

phát hành năm 2007 đã phác họa về vấn đề an ninh năng lượng thế giới và triển vọng xuất khẩu nguồn năng lượng của Nga, đặc biệt là sang khu vực ASEAN

Bên cạnh đó, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác như: “Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI” của TS Nguyễn An Hà, NXB Khoa học Xã hội năm 2008; “Các giải pháp phát triển quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới” của PGS TS Nguyễn Quang Thuấn, NXB Từ điển

Bách khoa năm 2009,… ; một số bài nghiên cứu, phân tích đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu Châu Âu của TS Nguyễn Cảnh Toàn như “Dầu khí và chiến lược năng

Trang 13

lượng của Nga” (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 9 (96), 2008, trang 40), “Dầu mỏ: Vũ khí lợi hại của Nga” (Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 9/2008), hay của TS Nguyễn An Hà như “Chiến lược dầu khí của Liên bang Nga và triển vọng hợp tác Việt – Nga tới 2020” (Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 3, 2011, trang

25-31-36),… hay trên Tài liệu Tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam như:

“Chiến lược năng lượng của Nga tại Trung Á” (số 140, 20/6/2007, tr 12 -19),

“Đằng sau cuộc xung đột khí đốt Nga – Ucraina” (Tài liệu tham khảo đặc biệt, 22/01/2009, tr 6 – 10), “Sự điều chỉnh chính sách năng lượng của Nga và Mỹ” (Số

282, 10/17/2011, tr 16 – 24), “Cuộc chiến khí đốt trở thành "ngoại giao khí đốt"

(số 17, 18/01/2012, tr 9 – 14),… Ngoài ra, có nhiều sinh viên, học viên cao học hay nghiên cứu sinh cũng đã chọn năng lượng Nga làm đề tài nghiên cứu như: Luận văn

Thạc sỹ như Luận văn của Trần Khánh Linh mang tên: “Thực trạng và triển vọng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam-Liên bang Nga” do TS Nguyễn Cảnh Toàn hướng dẫn, Luận văn của Đoàn Thị Thu Hương mang tên “Chính sách ngoại giao năng lượng của Liên bang Nga những năm đầu Thế kỷ 21” do TS Bùi Hồng Hạnh

đường ống dẫn dầu khí của Nga, việc Nga thực hiện chính sách ngoại giao năng lượng bằng cách sử dụng năng lượng như một công cụ đối ngoại dựa trên sự phụ thuộc của các khách hàng và các mục tiêu chiến lược của chính sách ngoại giao

năng lượng của Nga Hay một số nghiên cứu và ấn phẩm khác như: “Energy policy and (energy security) as a part of Russian foreign policy” (Tạm dịch: “Chính sách năng lượng và an ninh năng lượng là một phần trong chính sách đối ngoại của Nga”) của tác giả Jussi Huotari – Trường Đại học Lapland đã chứng minh luận

điểm năng lượng và an ninh năng lượng là một trong những công cụ đối ngoại hiệu

Trang 14

quả nhất của Nga, giúp đảm bảo vị thế “cường quốc năng lượng” của Nga và giúp Nga giữ các nước trong khu vực SNG dưới quyền kiểm soát Tác giả Jussi Huotari

đã chứng minh luận điểm của mình bằng cách phân tích sự thay đổi trong chính sách năng lượng của Nga đối với các quốc gia vùng đệm và so sánh chính sách năng

lượng của Nga giữa các khu vực Ấn phẩm “Oil, carrots, and sticks: Russia’s energy resources as a foreign policy tool” (Tạm dịch là “Dầu mỏ, cây gậy và củ cà rốt: Các nguồn năng lượng của Nga được coi như một công cụ ngoại giao”)

(Tháng 2/2011) của tác giả Randall Newnham – Trường Đại học Penn State, Mỹ đã phân tích vai trò của năng lượng Nga, đặc biệt là dầu mỏ, được sử dụng như “củ cà rốt” để thưởng cho các quốc gia đồng minh và “cây gậy” để trừng phạt các quốc gia quay lưng chống lại Nga Tác giả đã phân tích trường hợp của các quốc gia thuộc khu vực SNG như Belarus, Ucraina,… để làm sáng tỏ điều đó

Ngoài ra còn có nhiều công trình khác như: “The geopolitics of Russian Energy – Looking Back, Looking Forward” (Tạm dịch là “Địa chính trị của năng lượng Nga – Nhìn về quá khứ, hướng tới tương lai”) (Tháng 7/2009) của tác giả Robert E Ebel, “Russian Energy Policy Toward Neighboring Countries” (Tạm dịch

là “Chính sách năng lượng của Nga đối với các quốc gia láng giềng”) của tác giả Steven Woehrel (Tháng 9/2009), hay “Russian Energy Policy and Strategy” (Tạm dịch là “Chiến lược năng lượng và chính sách năng lượng của Nga”) của nhóm tác

giả Paul J Saunders, Robert Legvold, Mikhail Kroutikhin, … Tuy nhiên, hầu hết các công trình này mới chỉ đề cập đến chính sách năng lượng của Nga với việc thúc đẩy xuất khẩu dầu khí, hoặc phân tích vai trò của dầu khí trong hoạt động ngoại giao của Liên bang Nga thông qua hoạt động xuất khẩu, buôn bán trao đổi,… chứ chưa đưa ra nguyên nhân dẫn đến những thay đổi trong chính sách năng lượng của Nga, chưa phân tích quá trình cải cách ngành năng lượng cũng như những thành tựu

do việc cải cách mang lại

Bên cạnh đó, nước Nga đang bước vào một thời kỳ mới với rất nhiều sự thay đổi Thứ nhất, đó là, đất nước tạm thời vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đang đạt được những thành tựu nhất định Thứ hai, ông Putin trở lại Điện

Trang 15

Kremlin trong nhiệm kỳ tổng thống mới kéo dài 6 năm Bên cạnh đó, việc thay thế

“Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2020” bằng “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030” và mới đây là “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2035” đầy đủ và toàn diện hơn đã thể hiện công cuộc cải cách ngành năng lượng

Nga cả về chính sách lẫn thực tế Các học giả quốc tế đã và đang theo sát những diễn biến cải cách năng lượng ấy để đưa ra lời bình luận và đánh giá về chính sách năng lượng của Nga và tìm hiểu xem năng lượng đóng vai trò như thế nào trong chính sách đối ngoại mà Nga đã vạch ra

Do vậy, đây vẫn là một đề tài có sức hút không chỉ với học giả trong nước mà

cả các học giả quốc tế

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: quá trình cải cách ngành năng lượng Nga

và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian nghiên cứu: Luận văn định hướng nghiên cứu tổng quan ngành năng lượng Nga, quá trình cải cách năng lượng của Nga, vai trò của năng lượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga

- Về thời gian nghiên cứu: Việc cải cách và những biện pháp cải cách ngành năng lượng của Nga được đưa ra và thực hiện kể từ sau khi Tổng thống Putin lên nắm quyền thay Boris Yeltsin Và cho đến nay, những biện pháp cải cách đó vẫn đang được tiến hành mạnh mẽ và triệt để nhằm phát huy tối đa vai trò của ngành năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga Do vậy, phần trình bày của luận văn sẽ tập trung vào khoảng thời gian từ khi ông Putin lên nắm quyền Tổng thống cho đến nay

- Về mặt nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu về:

+ Chính sách cải cách năng lượng của Nga trên các lĩnh vực cụ thể như: cải cách về cơ cấu tổ chức, cải cách về chính sách phát triển ngành dầu khí, cải cách về

cơ sở hạ tầng và cải cách về công nghệ;

Trang 16

+ Vai trò của năng lượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga biểu hiện về mặt kinh tế và chính trị; phân tích chính sách ngoại giao năng lượng của Nga đối với một số khu vực và quốc gia là đối tác quan trọng của Nga như khu vực SNG, EU, các nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để làm nổi bật vai trò của năng lượng Thêm vào đó là những tổng hợp của tác giả về kinh nghiệm cho Việt Nam

4.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn cần làm rõ được những vấn đề sau:

- Đưa ra một bức tranh tổng quan về thực trạng và tiềm năng phát triển của ngành năng lượng Nga thông qua một số ngành năng lượng cụ thể là thế mạnh của Nga: dầu khí, than đá, năng lượng hạt nhân, điện, năng lượng tái tạo; qua đó, thể hiện vị thế quốc tế của Nga trên lĩnh vực năng lượng Đồng thời, luận văn cần phân tích những điểm yếu kém và bất cập đang tồn tại của ngành năng lượng Nga

- Khái quát nội dung cơ bản của ba bản chiến lược năng lượng quan trọng của Nga: Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2020, Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2030, và Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2035; đưa ra và phân tích những biện pháp cải cách ngành năng lượng của Nga;

- Phân tích làm nổi bật vai trò của năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga Qua đó làm rõ được vai trò của việc cải cách ngành năng lượng trong việc duy trì sức mạnh và tầm ảnh hưởng của năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga Tổng hợp các kinh nghiệm cho Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu vấn đề trên, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, logic, kiểm tra, đánh giá tư liệu, hệ thống hóa nhằm rút ra những nhận định có tính tổng hợp, khái quát phục vụ cho nghiên cứu được chi tiết, xác thực hơn

Trang 17

6 Bố cục luận văn

Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về các ngành năng lượng của Nga

- Chương 2: Chiến lược năng lượng và cải cách năng lượng của Nga

- Chương 3: Vai trò của năng lượng và cải cách năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga Kinh nghiệm cho Việt Nam

7 Nguồn tài liệu tham khảo

Vấn đề “Cải cách năng lượng Nga và vai trò của nó trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” cho đến nay đã được đề cập nhiều trong các công trình

nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại hoặc các bài báo, tạp chí… Để hoàn thành đề tài này, những nguồn tài liệu chủ yếu bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng

Anh và tiếng Nga được sử dụng gồm:

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGÀNH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA 1.1 Thực trạng và tiềm năng các ngành năng lượng của Nga

1.1.1 Dầu khí

Dưới thời Liên Xô, dầu khí đã không được nhìn nhận hết giá trị và sức mạnh của nó mà chỉ được sử dụng gần như một loại hàng hoá thông thường để thu lợi nhuận thuần tuý Thậm chí, nó còn bị coi là “một thứ hàng hóa thông thường, giá rẻ gần như cho không” Mãi cho đến thời của Tổng thống Putin thì vai trò của nguồn

“vàng đen” này mới được nhìn nhận rõ và được sử dụng hiệu quả không chỉ để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, mà còn để thực thi các biện pháp ngoại giao, nâng cao ảnh hưởng và ràng buộc các nước khác Năm 2006, Tạp chí The Washington Quaterly

đã đưa ra lời nhận xét: “Nga có thể dễ dàng bước vào kỷ nguyên mới với túi dầu trước ngực và túi bom nguyên tử sau lưng Bất kỳ ai đánh giá về sức mạnh ngày nay của nước Nga thì dầu mỏ sẽ là điều khiến họ nghĩ đến đầu tiên” Nhận biết được vai trò to lớn của dầu khí, với một chiến lược táo bạo và khôn ngoan, Nga đã củng cố, phát triển các tổ hợp dầu khí quốc doanh khổng lồ Gazprom, Transneft, Rosneft, trở thành các “đế chế” hùng mạnh với các hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu khí

ra thị trường thế giới Nhờ đó, từ năm 2000 đến nay, sản lượng khai thác dầu khí của Nga liên tục tăng với tốc độ trung bình khoảng 10 %/năm, đưa quốc gia này trở thành một nhà cung cấp dầu khí toàn cầu và mở rộng tầm ảnh hưởng chính trị, kinh

tế của mình

Với trữ lượng khí đốt khoảng 44,8 nghìn tỷ m3 (tương đương với 1688 nghìn

tỷ thùng) [Biểu đồ 1.1], chiếm khoảng 34 % trữ lượng toàn cầu và trữ lượng dầu thô vào khoảng 80 tỷ thùng [Biểu đồ 1.2], Nga trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về

khí đốt và đứng thứ tám thế giới về trữ lượng dầu mỏ Do đó, dầu khí chiếm một vị

trí vô cùng quan trọng và là nguồn đóng góp chính cho GDP của Nga Bất chấp sự cạnh tranh đang gia tăng trên thị trường quốc tế và những vấn đề trong nền kinh tế thế giới, trong năm 2013 Nga vẫn bảo lưu được vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt là dầu khí Bên cạnh đó, năm 2013 cũng đã có những sự kiện hết sức quan trọng đối với ngành khí đốt của Nga Luật về tự do xuất khẩu khí hóa lỏng đã

đi vào hiệu lực, mở đường cho các công ty dầu khí Nga, đặc biệt là các công ty có

kế hoạch xây dựng nhà máy sản xuất khí hóa lỏng như Rosneft và Novatek tiếp cận

Trang 19

thị trường nước ngoài Theo đó, Novatek đã đạt thỏa thuận với các đối tác Trung Quốc về cung cấp khí hóa lỏng trong khuôn khổ đề án quy mô "Yamal LNG9" và hợp đồng đầu tiên về cung cấp khí hóa lỏng cho những người tiêu dùng châu Âu

Biểu đồ 1.1: Top 20 nước có trữ lượng khí lớn nhất thế giới (tỷ thùng)

Nguồn: http://www.eia.gov/

Biểu đồ 1.2: Top 20 nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới năm 2013 (tỷ thùng)

Nguồn: U.S Energy Information Agency, http://www.eia.gov/countries/cab.cfm?fips=RS

9 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Liquefied Natural Gas

Trang 20

Hiện nay, Nga đang là nhà sản xuất và xuất khẩu dầu khí hàng đầu thế giới10

với sản lượng khai thác dầu thô năm 2013 là 523,3 triệu tấn11, cao mức kỷ lục kể từ năm 1991, xuất khẩu năm 2013 đạt 4,72 triệu thùng/ngày; sản lượng khí đốt năm

2013 là 668 tỷ m3 12, trong đó xuất khẩu đạt 196 tỷ m3 13 Sản lượng xuất khẩu dầu khí của Nga sẽ còn tăng lên đáng kể nhờ “hợp đồng thế kỷ khổng lồ” trị giá khoảng

400 tỷ USD mới ký với Trung Quốc vào ngày 21/5/2014 Theo đó, bắt đầu từ năm

2018, Nga sẽ cung cấp khoảng 38 tỷ m3 khí thiên nhiên mỗi năm cho nền kinh tế đang nở rộ - Trung Quốc

Về tiềm năng: Tiềm năng phát triển ngành dầu khí của Nga rất lớn Theo đánh

giá của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA)14, trong “Báo cáo tình hình năng lượng thế giới năm 2011” thì trong vài thập kỷ tới Nga sẽ là "nền tảng của hệ thống năng lượng toàn cầu" và cho đến năm 2035 “Nga sẽ là quốc gia sản xuất khí đốt lớn nhất

và là nguồn chính cho sự gia tăng cung cấp khí đốt của thế giới” Trong bản báo cáo

về “Tiềm năng của các vùng năng lượng mới của Nga” tại Hội nghị Dầu khí Thế giới lần thứ 20 diễn ra vào tháng 12/2011 tại Doha – Qatar, Giáo sư Anatoly Zolotukhin thuộc trường Đại học Dầu Khí Quốc gia Gubkin của Nga đã chỉ ra rằng:

“hiện Nga vẫn đang là một trong những quốc gia có nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt giàu nhất thế giới với tổng trữ lượng ước tính đạt khoảng 355 tỷ tấn dầu Trong đó,

có khoảng 96 tỷ tấn dầu (tương đương với gần 700 tỷ thùng dầu) chưa được khai thác nằm ở vùng ngoài khơi của vùng biển Bắc Cực”15 Nói về trữ lượng khí đốt khổng lồ của Nga, phát biểu tại phiên họp toàn thể của Diễn đàn Kinh tế quốc tế Saint Petersburg - 2014, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết trữ lượng của Nga

đủ cho 50 năm tới

10 Xin xem thêm Phụ lục 1.1 đến 1.4

11 156 Bản tin Quốc tế của Đài Truyền hình Vĩnh Long 1, Nga trở thành nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, http://thvl.vn/?p=338124 , cập nhật ngày 03/01/2014

12 Theo báo cáo của Bộ Năng lượng Nga công bố ngày 2/1/2014, nguồn: thanh-nuoc-xuat-khau-dau-tho-lon-nhat-the-gioi/237944.vnp , cập nhật ngày 02/01/2014

http://www.vietnamplus.vn/nga-tro-13 https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2249rank.html , cập nhật ngày 28/7/2014

14 Viết tắt của từ tiếng Anh: International Energy Agency

15 Professor Anatoly Zolotukhin, Gubkin Russian State University of Oil and Gas, The potential in Russia’s

new energy frontiers, pg 106

Trang 21

Trên thực tế, những đánh giá và những con số đưa ra về trữ lượng dầu mỏ và khí đốt ở vùng biển Bắc Cực còn rất khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có các số liệu được luận chứng khoa học về các nguồn tài nguyên Tính tổng cộng, ở vùng Bắc Cực có gần 60 khu mỏ lớn chứa nhiên liệu hydrocarbon, trong số đó hơn 40 khu mỏ nằm trong khu vực của Nga Theo những ước tính khác nhau, ngoài nguồn tài nguyên sinh học ở đây còn có 1/3 dự trữ khí đốt và 1/10 dự trữ dầu mỏ chưa được khám phá trên thế giới Trong đó, phần biển Bắc Cực - nơi mà phía Nga luôn coi là một phần lãnh thổ của mình - hiện chiếm khoảng 25 %, chưa kể đến các khu vực hẻo lánh hiện đang nằm trong khu vực có tranh chấp Các chuyên gia về dầu khí của Nga tính toán rằng, trữ lượng này tương đương với hơn 100 tỉ tấn dầu và 70 nghìn tỷ mét khối khí đốt16 Các mỏ khí đốt tự nhiên khổng lồ đã được phát hiện tại vùng biển Barent và Kara Các mỏ mới này được Nga coi là cơ sở nhiên liệu – năng lượng mới Bên cạnh đó, “Viện Hải Dương học của Nga cũng khẳng định, chỉ riêng khu vực hình yên ngựa mà người Nga gọi là dãy mỏ Lomonosop trong lòng Bắc Cực, chứa đến 10 tỷ tấn dầu, chưa kể tới số lượng phong phú các loại mỏ kim cương, vàng, platinum, thiếc, mangan, niken, chì Khu vực này và các lãnh thổ phía bắc liền kề có đủ nguồn tài nguyên để nuôi sống nhân loại trong nhiều thập kỷ”17 Hiện nay Nga có kế hoạch mở rộng chủ quyền ở vùng này vì cấu tạo địa chất cho thấy rằng, dãy Lomonosov Ridge trải dọc Bắc Băng Dương là phần lãnh thổ của Nga Như dự định, trong năm tới Nga sẽ chính thức đệ đơn về nội dung này lên

Liên Hợp Quốc

Một vùng khác của Nga cũng có tiềm năng dầu khí vô cùng to lớn là vùng Viễn Đông Đây là một trong 8 vùng đại khu liên bang của nước Nga Nơi đây có tiềm năng dầu khí đáng kể “Tại Cộng hòa Sakha đã phát hiện một khu vực dầu khí lớn là vùng Leno-Vinloi Đã phát hiện và đang khai thác các mỏ dầu khí tại đảo Xakhalin18 Ngoài ra, tại thềm lục địa Xakhalin có lượng dầu khí không nhỏ Tiềm

Trang 22

năng dầu khí còn tìm thấy ở các tỉnh Camchatca, Magadan và khu Chucotca Theo đánh giá sơ bộ, có khoảng 9,6 tỉ tấn dầu và 14 nghìn tỉ m3 khí ở khu vực này”19 Hơn nữa, chất lượng dầu ở vùng Viễn Đông được đánh giá là rất tốt, có độ nhớt cao

và hàm lượng lưu huỳnh thấp

1.1.2 Than đá

Nga là quốc gia có trữ lượng than đá lớn thứ hai thế giới sau Mỹ với khoảng

173 tỉ tấn, chiếm khoảng 19 % tổng trữ lượng toàn thế giới (Biểu đồ 1.3) Trữ lượng than của Nga phân bổ ở 118 mỏ than thuộc 22 lưu vực nằm rải rác trên toàn nước Nga Trong đó, các mỏ than lớn nằm tập trung ở Siberia (chiếm 80 %) và Viễn Đông (chiếm 10 %)

Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ phân bổ than đá trên toàn thế giới

Nguồn: Andrey Butenko, Strategy and Corporate Development Department of

Suek, The future of coal Russia, pg.3

Về sản lượng khai thác, Nga là quốc gia khai thác than lớn thứ 6 thế giới với sản lượng khai thác năm 2013 khoảng 347,1 triệu tấn, chiếm 4,3 % sản lượng khai thác của toàn thế giới và cung cấp khoảng 12 % than cho thị trường toàn cầu20 Hoạt động khai thác và sản xuất than đá của Nga hầu hết sử dụng phương pháp khai thác

lộ thiên và chủ yếu diễn ra ở 7 lưu vực chính, trong đó có 3 lưu vực nằm về phía

19 PGS TS Vũ Dương Huân - Học viện Ngoại giao, Tiềm năng kinh tế Viễn Đông, Liên bang Nga và khả

năng hợp tác với Việt Nam (phần 1), Tạp chí Ngiên cứu Châu Âu, số 2, 2013, tr 63

20 Historical Data Workbook, BP Statistical Review of World Energy 2014,

www.bp.com/en/global/corporate/about-bp/energy-economics/statistical-review-of-world-energy.html Xem

thêm Phụ lục 1.5

Trang 23

Tây của dãy Ural và 4 lưu vực nằm về phía Đông của khu vực Siberia Công ty khai thác và sản xuất than lớn nhất nước Nga là Công ty Suek, đồng thời cũng là một trong mười nhà sản xuất than lớn nhất thế giới có công suất khoảng 92218 tấn/ngày, đáp ứng khoảng 34 % nhu cầu trong nước và xuất khẩu khoảng 28 % ra thị trường nước ngoài Với sản lượng khai thác như hiện tại thì trữ lượng than đá của Nga sẽ còn có thể sử dụng trong khoảng 500 năm nữa Tuy nhiên, theo chương trình dài hạn về phát triển ngành công nghiệp than mà Chính phủ Nga đã thông qua đầu năm

2012 thì đến năm 2030, sản lượng khai thác than của Nga sẽ tăng lên 430 triệu tấn

Về xuất khẩu, hiện Nga đang là nhà xuất khẩu than đứng thứ ba thế giới sau Australia và Indonesia với sản lượng xuất khẩu năm 2012 là khoảng 61,4 triệu tấn Trong đó, trọng tâm xuất khẩu đang ngày càng nghiêng sang phía Đông như: Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Tiềm năng phát triển ngành than của Nga cũng rất lớn Là vựa than lớn thứ hai của Thế giới, sản lượng khai thác hàng năm còn ít nên hiện trong lòng nước Nga vẫn đang lưu giữ một nguồn than vô cùng lớn Trữ lượng than của Nga nằm rải rác trên khắp đất nước nhưng phần lớn là các mỏ và các lưu vực than khó khai thác và chưa được khai thác Hai lưu vực than lớn nhất nước Nga cả về diện tích lẫn tiềm năng là lưu vực Tunguski nằm ở Tây Siberia và lưu vực Lenski nằm ở phía đông bắc vùng Viễn Đông Trong đó, lưu vực Lenski, hay còn gọi là lưu vực Lena, được coi là lưu vực than lớn nhất thế giới Với lợi thế đó, cộng với việc đổi mới công nghệ nhằm giảm thiểu tác động tới môi trường, ngành than đá hứa hẹn sẽ sẽ là ngành mang lại không ít lợi nhuận cho nền kinh tế Nga đồng thời đáp ứng một lượng lớn nhu cầu của thế giới trong tương lai

1.1.3 Năng lượng hạt nhân

Nga là một trong những quốc gia có trình độ phát triển và sức mạnh năng lượng hạt nhân hàng đầu thế giới Với lịch sử hơn 100 năm phát triển, Nga đã trở thành cường quốc về vũ khí hạt nhân và là một trong những nước có nhiều nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) nhất trên thế giới Từ những năm 1920 - 1986, Nga đã phát triển mạnh mẽ về điện hạt nhân cũng như các ứng dụng khác trong các lĩnh vực quân sự, y tế, nông nghiệp NMĐHN đầu tiên của Nga là Obninsk vận hành

Trang 24

năm 1954 với công suất chỉ khoảng 5 MW đã trở thành NMĐHN đầu tiên trên thế giới Năm 1963 và 1971, Nga đã có 2 NMĐHN vận hành thương mại Đến giữa những năm 80, Nga đã có 25 lò phản ứng hoạt động và nhiều kỹ sư công nghệ hạt nhân có trình độ cao Tuy nhiên, vào ngày 26/4/1986 thảm họa Chernobyl xảy ra khi nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Pripyat, Ucraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô Viết) bị nổ khiến người ta phát hiện nhiều khiếm khuyết trong công nghệ hạt nhân của Nga Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân Sau thảm họa kinh hoàng này, ngành công nghiệp hạt nhân của Nga bị gián đoạn và thoái trào Đến cuối những năm 1990, ngành công nghiệp này mới có dấu hiệu hồi sinh thông qua việc xuất khẩu nhiều lò phản ứng sang Iran, Trung Quốc và Ấn Độ Những dấu hiệu hồi sinh đó đã củng cố tinh thần ngành công nghiệp hạt nhân của Nga và tạo đà giúp Nga vững vàng tiến

về phía trước trong chương trình phát triển năng lượng hạt nhân của mình Ngày nay, với tham vọng trở thành nhà cung cấp điện hạt nhân cho toàn thế giới, Chính phủ Nga đã lên kế hoạch tăng cường điện hạt nhân trong nước nhằm đẩy mạnh xuất khẩu bằng cách kết hợp ngành công nghiệp hạt nhân dân sự và quân sự vào làm một thành Tập đoàn Rosatom21 Rosatom, thành lập năm 2007, hiện đang chịu trách nhiệm về tất cả các khía cạnh của ngành công nghiệp hạt nhân Nga, từ khai thác, làm giàu uranium cho đến phát triển mạng lưới điện hạt nhân, xây dựng NMĐHN Rosatom cũng là cơ quan đại diện cho Nga trên thế giới trong lĩnh vực sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình và bảo vệ chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân “Việc thành lập Tập đoàn Rosatom thể hiện sự quyết tâm khôi phục lại vị thế và tiếng nói quan trọng của Nga trong những vấn đề hạt nhân trên thế giới, đồng thời tăng cường sức mạnh thắng thầu trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở nước ngoài”22 Theo số liệu thống kê của của Cơ quan Năng lượng Nguyên

tử Quốc tế (IAEA)23 và Rosatom, “trong số 68 lò phản ứng hạt nhân (dùng cho NMĐHN) đang được xây dựng trên toàn cầu, Rosatom nắm hết 28 lò, bao gồm 19

21 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Rosatom State Atomic Energy Corporation - Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Quốc gia Rosatom

22 Lê Doãn Phác (2007), Một số định hướng chính sách hợp tác giữa Việt Nam với Mỹ và Nga trong lĩnh vực

năng lượng nguyên tử, Báo cáo đề án cấp cơ sở, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, tr 17

23 Viêt tắt của từ Tiếng Anh: International Atomic Energy Agency

Trang 25

lò ở nước ngoài và 9 lò ở Nga”24 Và cho đến nay, Nga đã trở thành nhà sản xuất năng lượng hạt nhân đứng thứ 4 thế giới với công suất ước tính năm 2013 khoảng 23,643 MW, chiếm 17,5 % toàn thế giới25 và điều hành 10 NMĐHN với 33 lò phản ứng có công suất khoảng 25,2 GW, chiếm 15 % các lò phản ứng hạt nhân của thế giới Ngoài ra, với trữ lượng uranium khoảng 487200 tấn có thể khai thác được và

875000 tấn chưa khai thác, Nga đang là quốc gia giữ vị trí thứ 3 thế giới, đồng thời đứng thứ 6 về sản lượng khai thác26, chiếm 45 % thị trường làm giàu uranium, và cung cấp cho thế giới 8 % uranium tự nhiên Bên cạnh đó, theo lời ông Sergei Kiriyenko - Lãnh đạo Rosatom - thì “hiện Nga đang lưu giữ trong kho một trữ lượng uranium đủ để duy trì và vận hành các nhà máy hạt nhân hiện thời thêm 60 năm nữa”27

Bên cạnh nền hạt nhân dân sự phát triển, Nga còn chiếm ưu thế vượt trội về vũ khí hạt nhân chiến lược Nga đang là quốc gia đứng đầu thế giới về việc sở hữu các đầu đạn hạt nhân với khoảng 8500 đầu đạn Trong đó, 4500 đầu đạn hiện còn trong biên chế quân đội Nga, 4000 đầu đạn còn lại thuộc dạng ngừng sử dụng nhưng vẫn còn nguyên vẹn, đang chờ phá dỡ Trong số 4500 đầu đạn đang còn sử dụng, có

1800 đầu đạn hạt nhân chiến lược được lắp đặt trên các tên lửa bệ phóng mặt đất hoặc trên máy bay ném bom, 700 quả được cất trữ trong kho và khoảng 2000 đầu đạn hạt nhân chiến thuật đang được niêm cất Nga có 326 tên lửa xuyên lục địa (ICBM)28 mang đầu đạn hạt nhân với 1050 đầu đạn và đang có kế hoạch giải trừ khoảng trên một nửa số này Số lượng chuẩn bị giải trừ chủ yếu được sản xuất vào cuối thập niên 80 của Thế kỷ trước

Như vậy, cho đến nay, Nga vẫn là một trong những nước đứng đầu thế giới về công nghệ hạt nhân đồng thời cũng là một thành viên của dự án lò phản ứng hạt nhân quốc tế

Trang 26

1.1.4 Năng lượng tái tạo

Được coi là một “nền kinh tế tài nguyên”, một “siêu cường năng lượng”, nhưng trước đây nguồn năng lượng tái tạo tiềm tàng lại chưa được chính phủ Nga chú trọng phát triển Sau khủng hoảng hạt nhân Chernobyl và khủng hoảng hạt nhân

ở nhà máy điện Fukushima (2011) của Nhật Bản, cùng với nghị định thư Kyoto (Nga ký vào 10/2004) về giảm tải lượng khí cacbon gây hiệu ứng nhà kính đã khiến Chính phủ Nga thay đổi quan điểm về chính sách phát triển nguồn năng lượng tái tạo ở quốc gia này Nhờ có lãnh thổ rộng lớn, nước Nga có tiềm năng gần như không giới hạn để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo29 Vì vậy, Nga đang tăng cường các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hình thức năng lượng này Năm

2008, Ông D Medvedev, lúc ấy đang là Tổng thống đã đưa ra chỉ thị rằng nước Nga cần tăng sản lượng năng lượng tái tạo trong tổng sản lượng của ngành năng lượng Nga, đồng thời thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển các dự án năng lượng tái tạo Ông đã đưa ra mục tiêu là đến năm 2020, ngành năng lượng tái tạo sẽ đóng góp 4,5 % vào sản lượng năng lượng thế giới Tuy nhiên, đến thời điểm này, ngành năng lượng tái tạo của Nga vẫn chưa phát triển và hiện đang bị châu Âu

bỏ xa

Với diện tích lớn nhất thế giới, tiềm năng phát triển năng lượng mặt trời và năng lượng gió của Nga là rất lớn Nguồn năng lượng bức xạ mặt trời tiềm năng hàng năm của Nga lên tới 18,7 x 109 GWh, lớn hơn gấp nhiều lần so với tiềm năng của bất kỳ nguồn năng lượng sẵn có nào khác trên lãnh thổ Nga Trong đó, những khu vực có tiềm năng năng lượng mặt trời lớn nhất của Nga bao gồm khu vực Nam Povolzhiye, Bắc Caucasus thuộc vùng lãnh thổ châu Âu và Cộng hòa Tuva, vùng Amur, phía Nam lãnh thổ Khabarovsk, Primorsky Krai thuộc vùng lãnh thổ châu Á của Nga Đây là những khu vực thích hợp nhất cho việc xây dựng các dự án phát triển năng lượng mặt trời tại Nga

Tương tự năng lượng mặt trời, do diện tích lãnh thổ trải dài trên những vùng khí hậu khác nhau cùng với địa hình có nhiều đồng bằng rộng lớn nên tiềm năng về năng lượng gió của Nga cũng vô cùng lớn, vào khoảng 32,6 - 71,7 TWh/năm Nếu

29 Xem thêm Phụ lục 1.8

Trang 27

đến năm 2020, Nga hoàn thành được khung chính sách sản xuất được 22 GW năng lượng tái tạo mới, thì năng lượng gió dự báo sẽ chiếm khoảng 7 GW30 Những khu vực tập trung nhiều tiềm năng năng lượng gió nhất là các vùng thảo nguyên và vùng núi rộng lớn nằm dọc ven biển của Liên bang Nga Cụ thể là vùng Krasnodar dọc

bờ Biển Đen và các vùng Kazan, Samara, Ulyanovsk dọc Sông Volga

Ngoài ra, tiềm năng về năng lượng sinh khối và năng lượng địa nhiệt của Nga cũng rất đáng kể Tổng tiềm năng kỹ thuật năng lượng sinh khối của Nga ước tính khoảng 35 triệu tấn, trong đó: cặn nước thải chiếm khoảng 24,2 triệu tấn, chất thải chăn nuôi là 6,6 triệu tấn và xử lý chất thải gỗ là 46 triệu tấn Còn tổng tiềm năng năng lượng địa nhiệt của Nga khoảng hơn 3000 MW, trong đó, tiềm năng kỹ thuật đạt khoảng 400 MW và tiềm năng kinh tế đạt khoảng 300 MW

1.2 Vị thế quốc tế của Nga trong lĩnh vực năng lượng

Một học giả phương Tây đã từng nhận xét: "Nước Nga không phải là một quốc gia, mà gần như là một châu lục" Quả vậy, Nga là một quốc gia đặc biệt với lãnh thổ rộng lớn nhất thế giới, trải dài trên hai lục địa Á - Âu và được thiên nhiên

ưu đãi một cách “kỳ lạ” với nguồn tài nguyên năng lượng giàu có (chiếm 13 % trữ lượng dầu mỏ thế giới, 34 % trữ lượng khí đốt, 20 % trữ lượng than đá, 32 % than nâu, và 14 % uranium) Cùng với đó, dưới sự lãnh đạo đầy khôn khéo của Tổng thống Putin, cộng với một chính sách phát triển ngành năng lượng hợp lý, kịp thời, Nga đã lột xác từ một quốc gia suy sụp về kinh tế thành một cường quốc về năng lượng Trong nền chính trị thế giới mà ý nghĩa của yếu tố năng lượng ngày càng gia tăng như hiện nay, vị thế của Liên bang Nga như một cường quốc năng lượng ngày càng được củng cố Theo TS Nguyễn Cảnh Toàn – Viện Nghiên cứu Châu Âu, Nga

đã thỏa mãn được ba điều kiện không thể thiếu để đứng ở ngôi thống trị trong ngành năng lượng, đó là: “kiểm soát toàn bộ nguồn dự trữ và việc sản xuất dầu mỏ trên toàn quốc; kiểm soát tất cả hệ thống đường ống dẫn dầu trên toàn quốc và tới các nước láng giềng; thiết lập được những hợp đồng dài hạn và chắc chắn về cung cấp

30 Manel Romeu Bellés, Russia, an energy colossus with plenty of wind,

http://rawi.ru/media/Text_files/Vestas_Kopylov_eng.pdf

Trang 28

dầu mỏ cho các nước EU”31 Một nước Nga hùng mạnh với nguồn năng lượng dồi dào đã trở thành một nhân tố quan trọng trong quan hệ quốc tế nói riêng và trong sự chuyển biến của thế giới nói chung Nga giờ đây đóng vai trò như một con Át chủ bài trong thị trường năng lượng thế giới Cho đến nay, Nga tham gia vào phân công lao động thế giới như một nhà cung cấp nguồn nguyên liệu thô, mà trước hết là dầu

mỏ và khí đốt Khách hàng lớn nhất của Nga là EU (chiếm hơn 90 % kim ngạch xuất khẩu của Nga) và các quốc gia châu Á phát triển khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Nhờ vào trữ lượng dầu khí khổng lồ, Nga có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng ở cả châu Âu và châu Á Bên cạnh đó, với hệ thống đường ống dẫn dầu khí xuyên lục địa dài nhất thế giới32 và phân bố rộng khắp, xuyên suốt lãnh thổ châu Âu và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Nga được coi là quốc gia duy nhất chi phối hầu như toàn bộ các hệ thống ống dẫn dầu khí của thế giới Các nhà phân tích quốc tế cho rằng, các tuyến đường ống dẫn dầu mỏ và khí đốt của Nga có vai trò quan trọng trong cuộc cạnh tranh chiến lược dầu mỏ, khí đốt và ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ địa - chính trị tại khu vực Á - Âu, quan hệ xuyên Đại Tây Dương và quan hệ Nga - EU

Một minh chứng điển hình về sự hiện diện và tham gia vào phân công lao động quốc tế, thể hiện vị thế thống trị và vai trò quyết định trên thị trường năng lượng thế giới của Nga là tập đoàn dầu khí khổng lồ Gazprom Cũng có những ý kiến cho rằng, dưới thời của V Putin, Gazprom đóng vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Nga Là tập đoàn dầu khí quốc doanh có trữ lượng khí đốt chiếm

18 % thế giới, 72 % của Nga và sản lượng khí đốt chiếm 14 % sản lượng toàn cầu33, Gazprom không chỉ độc quyền về xuất khẩu khí đốt mà còn kiểm soát toàn bộ đường ống dẫn khí ra Trung Á và châu Âu Tập đoàn này được mệnh danh là “gã khổng lồ” năng lượng trong một thế giới khát năng lượng Gazprom hiện đang sở

31 Bài trả lời phỏng vấn ngày 28/08/2008 của TS Nguyễn Cảnh Toàn, “Dầu khí – vũ khí lợi hại của Nga”

trên đài Phát thanh Quốc tế RFI, http://www.rfi.fr/actuvi/articles/104/article_839.asp , cập nhật ngày 28/8/2008

32 Đường ống dẫn khí ngưng tụ dài 122 km, dẫn khí đốt dài 163872 km; dẫn khí dầu hóa lỏng dài 1378 km; dẫn dầu 80820 km; dẫn các sản phẩm tinh chế dài 13658 km Số liệu năm 2013, nguồn:

https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/rs.html

33 http://www.gazprom.com/about/

Trang 29

hữu hệ thống đường ống cung cấp “nhiên liệu xanh” lớn nhất thế giới với độ dài

168900 km34 (chưa kể những tuyến xuyên lục địa đang và sẽ được xây dựng) và giữ vai trò là nhà cung cấp khí đốt cho 32 quốc gia trên toàn thế giới Cùng với đó,

“Gazprom đang thực hiện các kế hoạch tăng dung lượng các kho dự trữ ngầm lên 2 lần, mục tiêu đến năm 2015, tổng khối lượng khí đốt dự trữ có thể đạt tới 4,9 tỉ m3

và trong năm 2016 có thể đạt tới 6,5 tỉ m3”35 Bên cạnh đó, Gazprom còn tìm cách tăng cổ phần của mình ở các công ty năng lượng nước ngoài, đặc biệt là ở EU bằng cách đầu tư, mua lại cổ phần từ các công ty phụ trách cơ sở hạ tầng cung cấp khí đốt Hiện tại, Gazprom đã sở hữu 35 % cổ phần trong Công ty Phân phối khí đốt Wingas (Đức), 10 % trong đường ống xuyên quốc gia giữa Bỉ - Anh và nhiều cổ phần trong một số nhà phân phối khí đốt lớn của các nước vùng Baltic Những động thái thâu tóm táo bạo này đã giúp Gaprom ngày càng củng cố vị thế là nhà điều phối

và cung cấp trên thị trường năng lượng thế giới

Không chỉ là “hòn đá tảng” trên thị trường dầu khí quốc tế mà theo lời ông Daniel Yergin, Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu năng lượng Cambridge, Nga còn đóng vai trò quan trọng trong cân bằng năng lượng thế giới và đảm bảo an ninh năng lượng toàn cầu Trong bài diễn văn ngày 22/12/2005 trước Hội đồng an ninh Nga, Tổng thống Putin cũng đã khẳng định: “Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Nga hãnh diện khi trở thành đối tác có trách nhiệm, đáng tin cậy trên thị trường năng lượng và chúng ta xứng đáng với danh tiếng đó… Chúng ta đang đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì an ninh năng lượng khu vực và toàn cầu… Và chúng ta không chỉ khai thác lợi thế về năng lượng của mình phục vụ lợi ích cộng đồng quốc tế mà cần ghi nhớ rằng nó được dùng để thúc đẩy lợi ích quốc gia”36 Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, việc xuất hiện các cường quốc tiêu thụ năng lượng mới với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trong khi các nguồn năng lượng tái sinh, hạt nhân vẫn chỉ chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong cơ cấu sản xuất cũng như tiêu dùng đã tác động mạnh mẽ tới cơ cấu quyền lực của thế giới, gây nhiều bất ổn về an ninh

Trang 30

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Binh-luan/2008/185/Dau-mo-tu-huyet-cua-nhieu-cuong-quoc-kinh-năng lượng Theo đánh giá của tác giả Nicole Gnesotto và Giovanni Grevi trong

cuốn “Thế giới năm 2025” thì “từ nay đến năm 2025, nhu cầu năng lượng của thế

giới sẽ tăng trung bình khoảng 1,6 %/năm Vào năm 2030, nhu cầu năng lượng có thể tăng hơn 50 % nhu cầu hiện nay”37 Chính điều đó đã khiến cho các cuộc cạnh tranh giành giật các nguồn dầu mỏ, khí đốt, than và uranium ngày càng quyết liệt trên toàn cầu, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến an ninh năng lượng Nhiều vấn đề thuần túy năng lượng đã bị chính trị hóa, hoặc ngược lại các vấn đề chính trị được dùng để

áp đặt ý muốn chủ quan của quốc gia này đối với quốc gia khác về các vấn đề năng lượng Trong khi đó, Nga lại là quốc gia có nguồn năng lượng dồi dào, có tiềm năng lớn trong việc phát triển ngành năng lượng, hệ thống đường ống cung cấp rộng khắp

và được đảm bảo an ninh, việc xuất khẩu năng lượng đặc biệt là khí đốt của Nga chưa bao giờ bị gián đoạn và quan trọng hơn cả là Nga “chưa một lần sử dụng năng lượng làm vũ khí để gây áp lực đối với các nước nhập khẩu”38 Do đó, thay vì việc

lao vào các cuộc cạnh tranh giành giật năng lượng gây nhiều tổn hại mà không chắc nắm được phần thắng và do việc phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga mà các nước EU đã buộc “phải cân nhắc, hạn chế sử dụng các công cụ quen thuộc như vấn

đề dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Nga cũng như các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ tại khu vực Trung Á”39 Ngoài ra, Nga đã và đang rót hàng trăm tỷ USD

để đầu tư xây dựng các tuyến đường ống an toàn và hiệu quả để cung cấp trực tiếp nguồn năng lượng cho thị trường châu Âu như: dự án “Dòng chảy xanh” (Blue Stream) đi qua biển Đen sang Thổ Nhĩ Kỳ, có khả năng chuyển tải khoảng 16 tỷ m3

khí; dự án Dòng chảy phương Bắc (North Stream) và Dòng chảy phương Nam (South Stream) với công suất chuyển tải “tương đương với năng lượng của 11

NMĐHN" như lời ông Putin ví von, … Các tuyến đường ống này “thực chất, về kinh tế, là để bảo đảm cung cấp khí đốt một cách ổn định cho thị trường châu Âu với giá cạnh tranh hơn khi không phải quá cảnh qua nước thứ ba; về chính trị, cả thị

trường tiêu thụ EU cũng như Nga sẽ không bị các nước quá cảnh sử dụng vị trí trung chuyển để mặc cả trong các quan hệ song phương”40 Nhờ việc xây dựng các

39 Ngô Duy Ngọ, Chính trị hóa vấn đề năng lượng trong quan hệ Quốc tế, TCNCCA, số 2 (89), 2008, tr 27

40 Ngô Duy Ngọ, Chính trị hóa vấn đề năng lượng trong quan hệ Quốc tế, TCNCCA, số 2 (89), 2008, tr 26

Trang 31

tuyến đường ống như vậy mà Nga “có thể bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn, ngắn hạn và trung hạn cho các nhà tiêu thụ ở Nga và nước ngoài”41, đồng thời khẳng định vai trò giữ cân bằng năng lượng thế giới Đó cũng sẽ là biểu tượng cho

sự trở lại của Nga trên bàn cờ chính trị châu Âu, làm thay đổi vị thế của nước Nga trong quan hệ với châu Âu

Hình 1.1: Mạng lưới đường ống dẫn dầu khí của Nga ở châu Âu

Nguồn: http://www.aworldincrisis.org/2013/11/14/russias-pipelines-empire/

Mới đây, với “hợp đồng thế kỷ khổng lồ” vừa mới ký với Trung Quốc vào tháng 5/2014 trị giá khoảng 400 tỷ USD, cung cấp khoảng 38 tỷ m3 khí đốt mỗi năm cho nền kinh tế Trung Quốc đang nở rộ từ năm 2018, Nga càng khẳng định hơn nữa vai trò là nhà cung cấp và đảm bảo an ninh năng lượng cho toàn thế giới Như vậy, Nga đã “khẳng định vị thế quan trọng toàn cầu trên mặt trận năng lượng, Nga với nền chính trị và kinh tế ổn định, tin cậy, sẵn sàng và có thể trở thành

41 Đỗ Trọng Quang, Tập đoàn khí đốt khổng lồ Gazprom và tầm cỡ của nó trên thị trường năng lượng thế

giới, TCNCCA, số 4 (103), 2009, tr 15

Trang 32

một đối tác năng lượng với bất cứ nước nào, miễn là quyền lợi hợp pháp và an ninh của Nga được tôn trọng và Nga sẽ không lưỡng lự sử dụng vũ khí năng lượng của mình để chống lại bất cứ nước nào đe dọa an ninh và quyền lợi của Nga”42

1.3 Những bất cập và yếu kém của ngành năng lượng Nga

Mặc dù nắm giữ vai trò cường quốc năng lượng, ngành năng lượng Nga vẫn mang trong mình rất nhiều yếu kém và bất cập, đòi hỏi chính phủ Nga phải có

những biện pháp cải cách

Thứ nhất, vai trò kiểm soát của Nhà nước trong ngành năng lượng quá lớn

Sau khi Putin đắc cử, ông đã tiến hành tái quốc hữu hóa ngành năng lượng, đưa nó

về nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước Cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản nhà nước, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế ngày càng lớn, nhà nước ngày càng can thiệp sâu và thâu tóm mọi hoạt động trong ngành năng lượng Điều đó đã tạo cơ hội cho “chủ nghĩa thân hữu” và nhóm lợi ích phát triển, hình thành nên quan

hệ mật thiết, gắn bó giữa giới chính trị và các tài phiệt Mặt khác, căn bệnh này làm triệt tiêu các động lực tích cực của cơ chế thị trường, phá hủy những ảnh hưởng mà

tư nhân có thể mang lại như khả năng cạnh tranh, công nghệ mới, động lực phát triển cao hơn và những kỹ năng quản lý mới “Nhờ tài trợ của nhà nước, các công ty dầu khí quốc doanh có nhiều tín dụng để sử dụng hơn các đối thủ trong khu vực tư,

và những công ty này sẵn sàng trả cao hơn giá thị trường cho các nhà cung cấp vật

tư để có được các hợp đồng dài hạn Điều này cho thấy, hệ thống tư bản nhà nước

đã làm gia tăng chi phí và làm giảm hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh”43 Việc nhà nước nắm giữ tỷ lệ cao và vẫn thực hiện cơ chế bảo hộ, trợ giá, độc quyền đối với ngành năng lượng còn tác động tiêu cực tới sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn tới không minh bạch trong nguyên tắc định giá, ảnh hưởng tới quá trình gia nhập WTO cũng như hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai, việc triển khai công tác thăm dò, khảo sát chưa đáp ứng được nhu cầu

khai thác mặc dù các công ty dầu khí và tập đoàn Gazprom đã tiến hành thăm dò địa

42 TS Nguyễn Cảnh Toàn, Dầu khí và chiến lược năng lượng của Nga, TCNCCA số 9 (96), 2008, tr 36

43 Nguyễn An Hà, Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Cảnh Toàn, Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI,

NXB Khoa học Xã hội, 2011, tr 56

Trang 33

chất ở những vùng mới và trên biển Sự thăm dò nguồn dầu khí không khả quan dẫn tới sau năm 2010 tỉ lệ của các mỏ có sản lượng cao trong tổng khối lượng có thể giảm từ 45 % xuống 30 %, đe dọa trực tiếp đến an ninh năng lượng của Nga

Thứ ba, nền kinh tế của Nga phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu năng lượng và

dễ bị tổn thương khi có biến động mạnh về giá cả nguyên liệu trên thế giới Tỷ trọng của ngành năng lượng Nga trong nền kinh tế quá lớn (gấp 3 - 4 lần so với các nước phát triển khác), hơn một nửa thu nhập ngân sách của Nga trông vào nhiên liệu thô, đặc biệt là dầu khí Theo cơ quan đánh giá toàn cầu Fitch Ratings thì doanh thu từ dầu mỏ và khí đốt của Nga chiếm khoảng hai phần ba tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2012, chiếm 50 % doanh thu của Chính phủ và chiếm đến 20 % GDP Đây là “một nguyên nhân quan trọng làm cho độ ổn định của nền kinh tế Nga không cao, chỉ cần những biến động nhỏ trên thị trường năng lượng có thể gây nên những tác động lớn tới tăng trưởng GDP, tới ngân sách quốc gia, làm mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm trầm trọng các vấn đề an ninh và ổn định xã hội Tác động nặng

nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 là một minh chứng”44 Bên cạnh

đó, ngày càng nhiều quốc gia khám phá ra trữ lượng lớn khí đá phiến sét giúp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng Vấn đề này sẽ khiến cho nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu năng lượng của Nga phải đối mặt với nhiều nguy cơ

và rủi ro hơn bao giờ hết

Thứ tư, việc xuất khẩu nguyên nhiên liệu của Nga tập trung thái quá và phụ

thuộc quá nhiều vào thị trường châu Âu Trong điều kiện tốc độ tăng trưởng chậm chạp của thị trường châu Âu cũng như chính sách năng lượng của EU nhằm đa dạng nguồn cung cấp và giảm bớt sự phụ thuộc vào năng lượng Nga dẫn đến sự đình trệ xuất khẩu của Nga Trên thực tế hiện nay, sự phụ thuộc của châu Âu vào nguồn năng lượng của Nga đang giảm dần Tình trạng thiếu hụt khí đốt tự nhiên diễn ra trên khắp châu Âu trong các cuộc khủng hoảng Nga - Ucraina45 vào năm 2006 và

2009 là một lời nhắc nhở buồn bã về khả năng các quốc gia châu Âu dễ bị tổn thương như thế nào do phải lệ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga Các nước châu Âu

đã bắt đầu phát triển các chiến lược cho phép họ giảm thiểu không chỉ khả năng dễ

bị tổn thương do các tranh chấp giữa Nga và các quốc gia quá cảnh trung gian mà

Trang 34

cả sự lệ thuộc nói chung của họ vào nguồn cung năng lượng từ Nga Ngoài ra, một loạt các chính sách trên toàn EU, trong đó có "Gói năng lượng thứ ba", đã bắt đầu mang lại cho các quốc gia thành viên EU các công cụ chính trị và pháp lý để giảm thiểu sự thống trị của Gazprom trong chuỗi hệ thống cung ứng khí đốt tự nhiên của riêng họ Cùng với đó là những nỗ lực được EU tài trợ nhằm kết nối mạng lưới vận chuyển khí đốt tự nhiên của các nước thành viên EU ở Trung Âu khiến Nga ngày càng gặp khó khăn trong việc sử dụng dầu khí như một công cụ của chính sách đối ngoại Những vấn đề đó đã khiến Nga phải đối mặt với một khả năng giản đơn nhưng nghiêm trọng là cuộc khủng hoảng tài chính và chính trị ở châu Âu sẽ tiếp tục làm suy giảm tiêu thụ năng lượng của lục địa này, hoặc ít nhất là cản trở bất kỳ

sự tăng trưởng nào về mặt tiêu thụ trong thập kỷ tới Do đó, Nga cần phải có chính sách cân đối lại thị trường xuất nhập khẩu của mình

Thứ năm, hệ thống công nghệ của Nga lạc hậu Hiện nay, ngành năng lượng

của Nga đang bị lão hóa, công nghệ lạc hậu và thiết bị tiêu hao nhiều năng lượng đòi hỏi những chi phí cao trong khai thác và bảo dưỡng, đồng thời gây ô nhiễm môi trường Hầu hết các công trình năng lượng như các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, điện hạt nhân,… đều đã được xây dựng cách đây vài chục năm và đến nay đã bị hao mòn đáng kể Thiết bị, công nghệ cũ chiếm tỷ lệ cao, mức hao mòn vốn cố định rất cao: trung bình của toàn ngành là 50 %, riêng của lĩnh vực dầu khí là 80 % Đây là yếu tố tiềm tàng, có thể gây ra "thảm hoạ công nghệ" Công nghệ lạc hậu, kém phát triển cũng làm giảm khả năng khai thác và sản xuất, đồng thời làm tăng chi phí vận chuyển Theo ước tính, hiện nay, “hơn 50 % trữ lượng dầu khí ở các mỏ truyền

thống của Nga đã cạn kiệt và chỉ khoảng 8-10 năm nữa là sẽ cạn kiệt hoàn toàn Do

vậy, việc khai thác và sản xuất dầu khí của Nga đang chuyển dần sang các mỏ khó khai thác nằm trong những khu vực đầy thách thức về địa lý, khí hậu và công nghệ như ở Đông Siberia, Viễn Đông, vùng Bắc Cực và thềm Viễn Đông”46

Bên cạnh đó, công nghệ lạc hậu cũng dẫn đến việc lãng phí nguồn năng lượng Theo một số thống kê, toàn bộ năng lượng lãng phí của nước Nga trong năm 2008

đủ để nước Anh dùng trong một năm Theo lời của ông Vasily Belov – người đứng

46 Vasily Astrov, Current State and Prospects of the Russian Energy Sector, Research Reports , June 2010,

pg 6

Trang 35

đầu nhóm nghiên cứu hiệu quả năng lượng thuộc Quỹ khoa học Skolkovo do chính phủ Nga tài trợ thì Nga hiện đang “sử dụng năng lượng kém hiệu quả khoảng 2,5 lần so với bất kỳ một quốc gia hiện đại tương đối nào ở châu Âu” Những hệ thống tiện ích tiết kiệm năng lượng, kết hợp cả nguồn nhiệt và điện năng, đã được lắp đặt trong các căn hộ tại Nga, nhưng lại không có hiệu quả vì 200000 km đường ống cấp nhiệt đã già nua và các thiết bị cũ nát Bên cạnh đó, việc tiết kiệm năng lượng của Nga lại gặp phải nhiều rào cản do nhận thức của hầu hết các tầng lớp trong xã hội Nga về tiết kiệm năng lượng còn hạn hẹp, thói quen tiêu dùng năng lượng lãng phí, chi phí cho các dự án về tiết kiệm năng lượng cao, và tình trạng độc quyền của các tập đoàn nhà nước Do đó, đây là thời điểm thích hợp để Nga đầu tư vào cải cách công nghệ chứ không phải trong tương lai

Thứ sáu, cơ sở hạ tầng yếu kém Nga đối mặt với những thách thức không chỉ

về trình độ sản xuất mà còn về trình độ xuất khẩu Hệ thống đường ống dẫn dầu khí của Nga khá cũ kỹ và lạc hậu “Thời hạn đã qua sử dụng 73 % toàn bộ đường ống chính của Nga đã vượt quá 20 năm Trong đó gần 41 % đường ống đã vận hành trên

30 năm”47 Hệ thống đường ống lạc hậu này được thiết kế để vận chuyển các loại dầu có chất lượng khác nhau, điều đó không chỉ làm giảm chất lượng dầu khí xuất khẩu mà còn khiến cho năng lượng của Nga trong quá trình vận chuyển bị tiêu hao nhiều, từ 3 - 7 % “Trong khi đó tiêu chuẩn của thế giới đưa ra đối với hao hụt cho phép trên đường vận chuyển xuất khẩu không quá 0,1 % so với tổng lượng dầu khai thác được”48 Hiện nay, chỉ có khoảng 2/3 số dầu của Nga có thể được vận chuyển bằng hệ thống đường ống dẫn dầu; phần còn lại được vận chuyển bằng các tyến đường sắt và đường biển tốn kém hơn Tuy nhiên, việc vận chuyển dầu khí bằng đường biển của Nga còn tồn tại nhiều hạn chế: “hạn chế về khả năng chuyên chở qua eo biển Thổ Nhĩ Kỳ và Đan Mạch, và cả những hạn chế trong tương lai về khả năng chuyên chở qua vịnh Gibralta Hạn chế trên phần nhiều đã gây nghi ngại cho

Trang 36

triển vọng phát triển xuất khẩu theo hướng truyền thống”49 Bên cạnh đó, Nga cũng

không có khả năng tạo bước đột phá tại các thị trường lớn ở nước ngoài như thị trường châu Á – Thái Bình Dương do thiếu đường ống dẫn trực tiếp Hiện mới chỉ

có Trung Quốc và Hàn Quốc có thể nhận trực tiếp khí đốt từ Nga Hơn nữa, Nga hiện mới chỉ có một nhà máy khí hóa lỏng đáp ứng cho việc xuất khẩu dầu khí sang khu vực này đặt ở cảng Korsakov trên đảo Sakhalin Do đó, để chiếm lĩnh thị trường châu Á, Nga cần phải xây dựng thêm các nhà máy sản xuất khí đốt hóa lỏng

Hạ tầng kém phát triển làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Nga và gây nên những bất ổn trong xuất khẩu của Nga nếu giá dầu giảm mạnh Do vậy, Chính phủ Nga cần phải có những biện pháp để cải thiện cơ sở

hạ tầng xuất khẩu

Tiểu kết chương 1

Hiện tại, năng lượng là một trong những lĩnh vực có hoạt động sản xuất ổn định nhất ở Nga; có tác động tích cực đến hiện trạng và triển vọng phát triển nền kinh tế Nga: số nhân lực làm việc trong lĩnh vực này chỉ chiếm 3 – 4 % tổng số nhân lực của toàn bộ nền kinh tế, nhưng mang lại 25 % GDP, 30 % sản phẩm công nghiệp, 54 % cho ngân sách Liên bang Với tiềm năng năng lượng dồi dào và chính sách phát triển linh hoạt, Nga đang ngày càng khẳng định vai trò “ông lớn” của mình trên thị trường năng lượng thế giới Không chỉ là nhà cung cấp nguồn tài nguyên năng lượng mà Nga còn đóng vai trò nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh năng lượng cho toàn thế giới Chính phủ Nga và những người đứng đầu Điện Kremlin đã sử dụng năng lượng, đặc biệt là dầu khí, như một thứ vũ khí lợi hại nhằm duy trì sự ảnh hưởng và dần lấy lại vị thế của mình trên trường quốc tế Tuy nhiên, ngành năng lượng Nga vẫn đang tồn tại khá nhiều yếu kém và bất cập Để đạt được mục tiêu lấy lại vị thế, yêu cầu đặt ra đối với Chính phủ Nga là phải có những biện pháp cải cách linh hoạt và kịp thời

49 Nguyễn Quang Thuấn, Quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới, NXB Chính trị Quốc gia, 2007,

tr 273

Trang 37

Chương 2 CHIẾN LƯỢC NĂNG LƯỢNG VÀ CẢI CÁCH NĂNG LƯỢNG CỦA NGA

2.1 Yêu cầu đặt ra đối với ngành năng lượng của Nga

Sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Tám năm tiếp theo đó, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống say - Boris Yeltsin (1992-1999), tình hình nước Nga trở lên nghiêm trọng tới mức được ví như “một nhà nước

bị moi rỗng ruột và nhiều năm phải nhờ vào những khoản tín dụng quốc tế để tồn tại”50 Do vậy, trọng trách đặt ra đối với Putin khi ông lên nắm quyền Tổng thống thay Boris Yeltsin vô cùng lớn: làm thế nào để khôi phục kinh tế? Làm thế nào để đưa nền kinh tế của đất nước trở thành TOP 5 của nền kinh tế thế giới? Và làm thế nào để lấy lại được vị thế đã bị đánh mất kể từ sự đổ vỡ của Liên Xô? Với sự nhạy bén sẵn có của một nhà tình báo và với sự am hiểu sâu sắc, Putin đã chọn lợi thế sẵn

có của quốc gia – đó là năng lượng Ý tưởng khai thác lợi thế năng lượng đã được Putin đề cập và phân tích trong Luận án Tiến sĩ năm 1997 của ông51 Ngay sau khi lên cầm quyền, ông đã bắt tay quy hoạch lại ngành năng lượng, biến nó trở thành

“xương sống” của nền kinh tế Nga và sử dụng nó như một “công cụ” nhằm tăng cường vị thế của Nga trên thị trường năng lượng toàn cầu nói riêng và gia tăng ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế nói chung Do đó, một chiến lược phát triển dài hạn đã được Chính quyền Putin bắt tay vào xây dựng: Chiến lược Năng lượng Nga giai đoạn đến 2020 (ES-2020)52

Tuy nhiên, cùng với thời gian, tình hình thế giới cũng như trong nước ngày càng có nhiều biến đổi Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu đã để lại những tác động nặng nề đối với nền kinh tế Nga vốn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu năng lượng và nguyên liệu thô Giá dầu xuống thấp đã khiến nền kinh tế Nga phải trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ sau cuộc suy thoái kinh tế năm

1998 Xu hướng “li tâm” để gia nhập EU từ các quốc gia vùng đệm của Nga ngày

50 Nguyễn Đình Hương (2005), Chuyển đổi kinh tế LB Nga: lý luận, thực tiễn và bài học kinh nghiệm, NXB

Lý luận Chính trị, tr 28

51 Vào tháng 6 năm 1997, Vladimir Putin đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Viện Khai khoáng về "Kế

hoạch hóa chiến lược tái sản xuất của các cơ sở tài nguyên khoáng sản khu vực trong điều kiện hình thành các mối quan hệ thị trường (St Petersburg và khu vực Leningrad)"

52 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Energy Strategy of Russia for the period up to 2020

Trang 38

càng mạnh khiến phạm vi ảnh hưởng của Nga bị thu hẹp Nhu cầu năng lượng từ châu Âu ngày càng suy giảm do cuộc khủng hoảng nợ công và suy thoái trong khu vực đồng Euro Trong khi đó, những quốc gia mới nổi ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng trở nên khát năng lượng Do vậy, chiến lược năng lượng đã vạch ra không còn phù hợp với tình hình và nhu cầu phát triển thực tế Ngành năng lượng Nga cũng dần xuất hiện những yếu kém và bất cập Những người đứng đầu điện Kremlin lúc này nhận ra rằng cần phải cải cách ngành năng lượng để đảm bảo phát triển kinh tế cũng như đáp ứng xu thế vận động của thị trường năng lượng thế giới, đồng thời biến năng lượng thành một thứ “quyền lực mềm” nhằm khẳng định và tăng cường vị thế của quốc gia trong quan hệ quốc tế Việc đưa ra một chiến lược năng lượng mới phù hợp đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nỗ lực vực dậy nền kinh tế và khôi phục vị thế cường quốc hàng đầu thế giới mà Liên Xô đã nắm giữ trước đây “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030” (ES-2030)53 ra đời từ đó để thay thế cho ES-2020 Cùng với đó, một loạt các biện pháp cải cách cũng được thực hiện nhằm khắc phục những điểm yếu kém đã và đang tồn tại của ngành năng lượng Nga, bao gồm: Cải cách cơ cấu, cải cách chính sách phát triển dầu khí, cải cách cơ sở hạ tầng, cải cách công nghệ

Không dừng lại ở đó, theo quy định đã đặt ra là chiến lược năng lượng cần được cập nhật ít nhất năm năm một lần, mới đây, Bộ Năng lượng Nga đã cùng với giới cầm quyền Liên bang Nga nghiên cứu, bổ sung “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030” kéo dài đến năm 2035 “Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2035” (ES-2035)54 được ban hành ngày 23/01/2014 nhằm bám sát với tình hình trong nước và quốc tế hơn, phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới và đáp ứng được yêu cầu phát triển đã đề ra

Sự thành công của những cải cách này không chỉ góp phần củng cố sự vững mạnh của ngành năng lượng Nga nói chung và nền kinh tế Nga nói riêng mà còn nâng cao vai trò của năng lượng trong chính sách đối ngoại của Nga và góp phần nâng cao vị thế của Nga trên trường quốc tế

53 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Energy Strategy of Russia for the period up to 2030

54 Viết tắt của từ Tiếng Anh: Energy Strategy of Russia for the period up to 2035

Trang 39

2.2 Chiến lược năng lượng Nga

2.2.1 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2020

Sau khi Tổng thống Vladimir Putin lên nắm quyền, ông đã đưa ra những cải cách đáng kể về chính sách năng lượng Đầu tiên là việc thông qua một tài liệu mang tên “Những phương hướng chủ yếu của Chiến lược Năng lượng Nga giai đoạn đến năm 2020” vào ngày 23/11/2000 Chiến lược này được tiểu ban công tác liên ngành thuộc Viện Chiến lược Năng lượng Quốc gia và Hội đồng Chuyên gia thuộc Bộ Dầu khí và Năng lượng Nga (nay là Bộ Năng lượng Liên bang Nga) soạn thảo Đến tháng 8/2003, “ES-2020” được phê duyệt Mục đích của chiến lược này, trong chính sách đối nội là nhằm “tiến hành khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên dầu khí một cách tiết kiệm và hiệu quả tối đa trong các khu vực của nền kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”55, trong chính sách đối ngoại nhằm nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường vị thế của Nga trên thị trường năng lượng toàn cầu và tối đa hóa hiệu quả xuất khẩu của ngành năng lượng, đảm bảo rằng các công ty Nga có khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, công nghệ và nguồn tài chính Theo đó, những hướng ưu tiên cho “ES-2020”56 bao gồm:

Thứ nhất, đảm bảo cung cấp đầy đủ và tin cậy nguồn năng lượng cho nhân dân

và nền kinh tế của đất nước trong khả năng cho phép và cùng với nó là việc tiết kiệm năng lượng bởi giá cả, giảm thiểu những rủi ro và không cho phép xảy ra tình huống khủng hoảng trong việc cung cấp nhiên liệu – năng lượng của đất nước

Thứ hai, giảm thiểu các đơn vị chi phối đối với sản xuất và sử dụng nguồn

năng lượng một cách tiết kiệm hợp lý, áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến nhằm đảm bảo an toàn nguồn năng lượng, giảm thiểu sự hao hụt mất mát, lãng phí khi khai thác, chế biến, vận chuyển và mua – bán các sản phẩm của các tổ hợp

Thứ ba, đảm bảo và nâng cao một cách vững chắc tài chính và tính hiệu quả

của việc sử dụng tiềm năng của các khu vực năng lượng, nâng cao năng suất lao động để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

55 TS Nguyễn Cảnh Toàn, Dầu khí và chiến lược năng lượng của Nga, TCNCCA, số 9 (96), 2008, tr 26

56 TS Nguyễn Cảnh Toàn, Dầu khí và chiến lược năng lượng của Nga, TCNCCA, số 9 (96), 2008, tr 28

Trang 40

Thứ tư, giảm thiểu tối đa sự tác động xấu trong quá trình khai thác, sử dụng,

vận chuyển nhiên liệu – năng lượng đối với môi trường trên cơ sở khuyến khích sử dụng công nghệ cao, áp dụng các kích thích kinh tế, hoàn thiện các cấu trúc sản xuất, tiến hành áp dụng các công nghệ mới tiên tiến trong nước và thế giới trong việc khai thác, chế biến vận chuyển và mua bán, tiêu thụ các sản phẩm

2.2.2 Chiến lược năng lượng Nga giai đoạn đến 2030

Chính phủ Nga đã thành lập 13 tiểu ban công tác liên ngành gồm 150 chuyên gia từ các Viện Hàn lâm Khoa học Nga, các viện chuyên ngành, các cơ quan trung ương và các cơ quan chính quyền các tỉnh/ thành phố, các công ty năng lượng lớn nhằm nghiên cứu cải tiến “ES-2020” và kéo dài đến năm 2030 Ngày 23/8/2009, Chính phủ Liên Bang Nga đã thông qua đề án “ES-2030” và đến ngày 13/11/2009 thì ES-2030 chính thức được phê chuẩn Mục tiêu của “ES-2030” là nhằm tối đa hóa việc sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng và tiềm lực năng lượng nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng cường vị thế của Nga trên thị trường năng lượng thế giới và tăng cường tiếng nói của Nga trong quan

hệ quốc tế Theo đó, ES-2030 sẽ được thực hiện theo ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu tiên bao gồm việc vượt qua khủng hoảng và hiện đại hóa tổ hợp

nhiên liệu năng lượng trong nước Giai đoạn này sẽ kết thúc trong khoảng năm 2013-2015 tùy thuộc vào mức độ của cuộc khủng hoảng và tốc độ phục hồi của nền kinh tế và ngành năng lượng Do đó, giai đoạn này cần phải tạo ra các điều kiện cần thiết và loại bỏ các rào cản cả ở trong và ngoài nước Đồng thời, cần phải điều chỉnh

và đồng bộ hóa các kế hoạch và các chương trình phát triển ngành năng lượng bằng các biện pháp đã nêu trong “Đường lối Phát triển Kinh tế - Xã hội dài hạn của Liên bang Nga tới năm 2020”

Giai đoạn thứ hai bao gồm quá trình đổi mới và xây dựng các công trình cơ sở

hạ tầng phục vụ cho nền kinh tế mới Nhiệm vụ của giai đoạn thứ hai là đến năm

2022 phải nâng cao tính hiệu quả của ngành năng lượng nhờ phát triển ứng nghiệm Theo đó, giai đoạn thứ hai sẽ được đánh dấu bằng việc tăng hiệu quả năng lượng trong tổ hợp nhiên liệu năng lượng nói riêng và trong nền kinh tế nói chung thông

Ngày đăng: 08/04/2020, 22:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm