CƠ sở lý LUẬN về bồi DƯỠNG NĂNG KHIẾU NGHỆ THUẬT CHO THIẾU NHI dựa VÀO CÁC lực LƯỢNG CỘNG ĐỒNG CƠ sở lý LUẬN về bồi DƯỠNG NĂNG KHIẾU NGHỆ THUẬT CHO THIẾU NHI dựa VÀO CÁC lực LƯỢNG CỘNG ĐỒNG CƠ sở lý LUẬN về bồi DƯỠNG NĂNG KHIẾU NGHỆ THUẬT CHO THIẾU NHI dựa VÀO CÁC lực LƯỢNG CỘNG ĐỒNG
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG KHIẾU NGHỆ THUẬT CHO THIẾU NHI DỰA VÀO CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG
Trang 2- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Ở tất cả các quốc gia trên thế giới, nhân tài có vai tròquan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tạo racác giá trị vật chất và tinh thần, cho nên việc phát hiện, đàotạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài được quan tâm, đầu tư rấtlớn nhất đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời, trở thànhvấn đề quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các nước
- Trên thế giới
Ở Mỹ, ngay từ nhưng năm thập niên 70 của thế kỷ XX,Mỹ đã thành lập Cục Giáo dục thiên tài nhi đồng thuộc BộGiáo dục Liên bang và xây dựng Chương trình giáo dục sớm(0 tuổi) đi đầu là Trường ĐH danh tiếng Harvard với nghiêncứu “công trình 0 tuổi” Năm 1974, nước Anh cũng thành lập
“Hiệp hội Thiên tài nhi đồng quốc gia” và đặt các phân hội tại
34 địa phương trên toàn vương quốc, đặc biệt là các chươngtrình đào tạo nhân tài của các trường đại học
Các nước châu Âu khác như: Pháp, Đức, Nga đã sử dụngchương trình gdiaos dục đặc biệt với những với những đốitượng có năng lực trí tuệ cao sau khi được phân loại Nhà
Trang 3nước đã xây dựng một hệ thống giáo dục toàn diện đào tạonhững nhân tài âm nhạc từ tuổi ấu thơ tới khi họ đạt đếnnhững danh hiệu cao quý nhất.
Đối với châu Á, trường chuyên lớp chọn được sử dụngnhằm ươm mầm tài năng thông qua các nhà trường Ở NhậtBản đã sáng lập trường học anh tài, chuyên chiêu sinh và đàotạo nhi đồng có khả năng phi thường, thành lập Hiệp hộiKhám phá tiềm năng nhi đồng và xây dựng “kế hoạch 0 tuổi”.Đối với Trung Quốc có chiến lược về phát triển nhân tài đãđược triển khai từ rất sớm trên phạm vi cả nước Chiến lượcđào tạo, bồi dưỡng nhân tài của Trung Quốc được thực hiệnbài bản, từ khâu tuyển chọn đến xây dựng chương trình,phương thức đào tạo sử dụng và chế độ đãi ngộ, đặc biệt chútrọng gửi sinh viên, cán bộ tài năng đi du học và tu nghiệp dàihạn, ngắn hạn ở những nước phát triển Trung Quốc coi trọngnhân tài trên tất cả các lĩnh vực nhưng trước hết tập trung vào
ba lĩnh vực: lãnh đạo - quản lý, Đảng - Chính quyền, quản lýkinh doanh - kỹ thuật chuyên môn
Hàn Quốc đã đầu tư rất lớn cho các dự án đào tạo và bồidưỡng nhân tài với 400 triệu USD nhằm nâng năng lực giảng
Trang 4dạy và nghiên cứu cho 15 trường đại học để nâng cấp lênthành những trường đại học hàng đầu của thế giới, rồi 20 triệuUSD/năm để tuyển dụng khoảng 50 giáo sư hạng “sao” giảngdạy cho một số lớp sinh viên tài năng, những ứng viên giảiNô-ben,… xây dựng dự án “Chất xám Hàn Quốc” với mụctiêu cung cấp cho đất nước những nhà khoa học đầu ngành,trong đó có những người có khả năng đạt giải Nô-ben trongtương lai
Về các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đếnđào tạo và bồi dưỡng tài năng, chúng ta có thể kể đến một số
công trình đáng chú ý như: “Educating gifted children”[31] của Havighurst Robert J; “Educating gifted children at
Hunter College Elementary School” [30] của Gertrude
Howell Hildreth
Huy động các nguồn lực cho việc đào tạo nói chung làcông việc mang tính thường xuyên, ổn định và trở thànhtruyền thống của các nước phát triển Các trường đại học philợi nhuận lớn, danh tiếng, các hội đồng trường với các đạidiện từ nhiều lĩnh vực khác nhau của đới sống xã hội, sự thamgia của các tập đoàn, các công ty, các chính sách học bổng của
Trang 5các tổ chức phi chính phủ là những minh chứng cho việc huyđộng rộng rãi các nguồn lực xã hội Tương tự, việc đào tạo tàinăng rất được chú ý Các nghiên cứu về việc thu hút, phânphối các nguồn lực được nhiều tác giả quan tâm từ rất sớm:ảnh hưởng của nguồn lực đối với hoạt động của nhà trường,vai trò của nguồn lực trong quản trị trường học của Martin J.
Donenfeld trong công trình “ Ý nghĩa của nguồn lực xã hội”
là nhân tài trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý
“Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia” nên ngay từ khithành lập Đảng Bác Hồ luôn coi trọng và quan tâm công tácphát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài Người
Trang 6nói: “Nước nhà cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có
nhân tài” [21, tr.451].
Trong những năm trở lại đây, đứng trước yêu cầu củaviệc đẩy mạnh xây dựng và phát triển đất nước, hội nhậpvới quốc tế, Đảng, Nhà nước ngày càng quan tâm chỉ đạo,đầu tư đối với công tác phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhântài nói chung và nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuậtnói riêng Điều đó được thể hiện qua việc nghiên cứu, banhành những văn bản sau:
- “Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của BộChính trị (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [8];
- “Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16/6/2008 của BộChính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học,nghệ thuật trong thời kỳ mới” [11];
- “Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 của BộChính trị (X) về xây dựng xây dựng đội ngũ trí thức trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[10];
Trang 7- “Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của BộChính trị (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, conngười Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đấtnước” [13];
- “Quyết định số 221/2005/QĐ-TTg ngày 09/9/2005 củaThủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Chương trình Quốcgia phát triển nhân lực đến năm 2020” [24];
- “Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hoáđến năm 2020”” [25];
- “Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 24/6/2010 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thứcngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến năm 2020, tầm nhìn2030”” [26];
- “Quyết định số 1243/QĐ-TTg, ngày 25/7/2011 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đổi mới và nângcao chất lượng đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật,giai đoạn 2011 - 2020”” [27] ;
Trang 8- “Chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL ngày 22/5/2009 của BộVăn hoá, Thể thao và Du lịch về tổ chức triển khai thực hiện
“Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020”” [4];
- “Chỉ thị số 152/CT-BVHTTDL, ngày 09/9/2011 của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tổ chức triển khaithực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo củacác trường văn hóa nghệ thuật, giai đoạn 2011 - 2020”” [5];
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BanChấp hành Trung ương về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáodục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế” tiếp tục khẳng định “Phát triển
giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình
và giáo dục xã hội” [12].
Những văn bản nêu trên là những cơ sở pháp lí quantrọng cho công tác phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài
Trang 9trong các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực văn hóa, nghệ thuậtnói riêng.
Xuất phát từ ý nghĩa vô cùng quan trọng của công tác đàotạo và bồi dưỡng nhân tài, trong những năm gần đây, các cấpquản lí, cũng như các nhà khoa học đã hết sức quan tâm nghiêncứu về mặt lí luận cũng như thực tiễn của vấn đề này
Ngày 17 tháng 4 năm 1993 tại Hà Nội, Bộ giáo dục vàđào tạo, Ban chủ nhiệm chương trình Đào tạo và bồi dưỡngngười giỏi, phát triển đội ngũ cho một số ngành mũi nhọn đã
tổ chức hội thảo quốc gia “Phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻđại học và sau đại học” dưới sự chủ trì của Thứ trưởng PhạmMinh Hạc Hội thảo đã đề cập đến các vấn đề cơ sở khoa họccủa tài năng, đánh giá tình hình phát triển và bồi dưỡng tàinăng ở nước ta, kinh nghiệm, phương hướng và kiến nghị vềcông tác phát hiện và bồi dưỡng tài năng
Ngày 22 tháng 8 năm 2000 tại Hà Nội, Bộ Giáo dục vàĐào tạo cũng đã tổ chức Hội thảo quốc gia về “Bồi dưỡngnhân tài phục vụ CNH,HĐH đất nước” dưới sự chủ trì củaThứ trưởng Nguyễn Văn Vọng Các tham luận tại Hội thảo đã
đề cập đến vai trò của nhân tài trong sự nghiệp CNH,HĐH đất
Trang 10nước, thực trạng hệ thống trường chuyên và một số biện phápđào tạo và bồi dưỡng các tài năng ở các bậc học.
Trong Chương trình KX.07 “Con người - mục tiêu vàđộng lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” có một đề tài
“Các con đường và hình thức phát hiện, bồi dưỡng và phát
huy các tài năng trong một số loại hình lao động” mang mã
số KX-07-18 Kết quả nghiên cứu của đề tài này được thể
hiện trong cuốn sách “Gia đình, nhà trường, xã hội với việc
phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài” [2] của Nguyễn Trọng Bảo do NXB Giáo dục
phát hành Công trình nghiên cứu này đi sâu vào các vấn đề
cơ sở lí luận của năng khiếu, tài năng, đề cập đến việc pháthiện và tuyển chọn tài năng cũng như một số chế độ chínhsách trong đào tạo và bồi dưỡng tài năng
Trong đề tài cấp Bộ mã số B2001-52-01 “Nghiên cứu
các giải pháp chiến lược đào tạo và bồi dưỡng nhân tài trong
hệ thống giáo dục - đào tạo” năm 2003 [14], tác giả Nguyễn
Công Giáp và các cộng sự đã hệ thống hóa cơ sở lí luận vềđào tạo và bồi dưỡng nhân tài; phân tích, đánh giá thực trạngđào tạo và bồi dưỡng nhân tài trong hệ thống giáo dục - đàotạo ở một số cơ sở đào tạo nhân tài ở Việt Nam, trên cơ sở đó
Trang 11đề xuất 8 giải pháp đào tạo và bồi dưỡng nhân tài (Hoàn chỉnhquy trình phát hiện, tuyển chọn học sinh tài năng; hoàn thiệnphương pháp đào tạo và bồi dưỡng tài năng; xây dựng các chế
độ, chính sách khuyến khích tài năng và đào tạo, bồi dưỡngtài năng; thành lập hội khuyến khích tài năng và xây dựng hỗtrợ quỹ khuyến khích tài năng; chính sách “nhân” tài năng;những định hướng về chương trình, sách giáo khoa và phươngpháp dạy học ở trường chuyên phổ thông; tăng cường hợp tácquốc tế trong việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài; giải pháp tàichính đối với công tác phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo nhântài)
Về mặt lí luận còn rất ít nghiên cứu dành cho vấn đề tiếpcận dựa vào cộng đồng trong giáo dục Đặng Thành Hưng đã
mô tả tiếp cận dựa vào cộng đồng trong quản lí giáo dục từnhiều khía cạnh như bản chất, nguyên tắc, quá trình, nội dung
… và cho rằng tiếp cận dựa vào cộng đồng trong quản lí giáodục bao gồm 2 mặt: “1/ Khai thác tiềm năng và nguồn lực củacộng đồng để phát triển giáo dục, cải thiện nhà trường và 2/Cải thiện chất lượng giáo dục và hiệu quả nhà trường nhằmgóp phần phát triển cộng đồng tại chỗ” [19] Trong mộtnghiên cứu khác, ông đã bàn về mô hình chất lượng giáo dục
Trang 12ở nông thôn trong quan hệ với bối cảnh kinh tế - xã hội vànhấn mạnh phải dựa vào cộng đồng để giải quyết vấn đề chấtlượng giáo dục [18, tr 11-17]
Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề, có thể rút ra một số kếtluận sau:
- Nhìn chung, ở các nước trên thế giới, vấn đề đào tạo
nhân tài luôn được chính phủ và nhân dân các nước quan tâm.Mặc dù có một số công trình nghiên cứu đề cập đến đào tạo
và bồi dưỡng người tài, tuy nhiên, số lượng công trình nghiêncứu hiện có còn ít so với ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn
đề nghiên cứu; đặc biệt là những công trình nghiên cứuchuyên sâu hệ thống các biện pháp đồng bộ, thống nhất vàliên tục trong việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài trên từnglĩnh vực cụ thể
- Công tác đào tạo tài năng trẻ nói chung và tài năng trẻtrong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật được Đảng, Nhà nước,Chính phủ và các Bộ, Ban, Ngành quan tâm, tuy nhiên, chođến nay, vấn đề xã hội hóa công tác này còn nhiều bất cập.Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lí luận,thực trạng và biện pháp bồi dưỡng NKNT cho thiếu nhi
Trang 13Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề
“Dựa vào các lực lượng cộng đồng trong bồi dưỡng NKNTcho thiếu nhi thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” Bởi vậy,chúng tôi đã chọn nghiên cứu vấn đề này
- Năng khiếu và năng khiếu nghệ thuật
- Khái niệm
- Năng khiếu
Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhắc nhở những ngườilàm công tác giáo dục : “Phải có ý thức phát hiện và bồidưỡng các em có năng khiếu về toán và các môn khác, đừng
bỏ sót em nào, bỏ sót sẽ rất uổng” Vậy năng khiếu là gì mà
có vai trò quan trọng như thế?
Năng khiếu là gì?
Theo Từ điển Tâm lý học: “năng khiếu là tập hợp những
tư chất bẩm sinh, nét đặc trưng và tính chất đặc thù làm tiền đềbẩm sinh cho năng lực” [6]
Theo “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” thì “năng khiếu lànăng lực còn tiềm tàng về một hoạt động nào đó nhưng chưa
Trang 14bộc lộ ở thành tích cao vì chưa qua tập dượt, rèn luyện nêncòn thiếu hiểu biết và chưa thành thạo trong lĩnh vực hoạtđộng đó” [28].
Trong cuốn “Tâm lý học nhân cách”, “Năng khiếu lànhững tiền đề bẩm sinh, những khuynh hướng đầu tiên tạođiều kiện cho năng lực và tài năng phát sinh Nó bao gồmnhững đặc điểm tâm sinh lý giải phẫu của hệ thống thần kinh
và khuynh hướng tâm lý đầu tiên tạo điều kiện thuận lợi choviệc phát triển một năng lực nào đó” [3]
Chỉ khi có năng khiếu việc hình thành năng lực và tàinăng của trẻ mới thuận lợi Tất nhiên, không phải trẻ nào cónăng khiếu cũng là thiên tài, tài năng bởi trong quá trình pháttriển của trẻ các em còn có rất nhiều yếu tố tác động như giađình, nhà trường, xã hội Vì vậy cho nên, không phải đứa trẻ
có năng khiếu đối với hoạt động nào đó thì nhất thiết phải trởthành tài năng trong lĩnh vực ấy và ngược lại
Như vậy, có thể khẳng đình rằng năng khiếu chỉ là dấuhiệu ban đầu của tài năng, là tiền đề để tạo nên tài năng chứchưa phải là tài năng Năng khiếu chỉ là thành phần cơ bảnnhưng chưa ổn định, dễ thay đổi của tài năng
Trang 15Dấu hiệu nhận biết trẻ có khiếu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu việc xác định tiêu chínhận diện ra trẻ có khiếu trên thế giới hiện nay Sau đây làmột số tiêu chí cơ bản để nhận diện năng khiếu:
“Ngôn ngữ phát triển cao hơn so với trẻ cùng lứa: vốn
từ lớn diễn đạt tốt
Đọc nhiều và có khả năng đọc sách không dành cho lứatuổi Ví như trẻ học lớp 1 có thể đọc trôi chảy, viết chính tả tốtnhững từ vựng khó của sách lớp trên
Luôn muốn tự giải quyết công việc riêng và dễ dàng đạttới kết quả cao
Không bằng lòng với kết quả và nhịp điệu làm việc,muốn đạt tới sự hoàn hảo Để có bản Sonate hoàn hảo thìngoài ý tưởng ban đầu, Moda còn chỉnh sửa, gia công bàinhạc rất nhiều lần Muốn có sản phẩm tốt thì cách gia côngcác giai đoạn phát sinh ra sản phẩm là rất quan trọng nhằmtạo ra một sản phẩm hoàn hảo
Quan tâm tới nhiều vấn đề của người lớn: tôn giáo, kinhtế, chính trị, lịch sử, giới tính/ không chấp nhận quyền uy, có
Trang 16tinh thần phê phán Êdixơn khi học tiểu học luôn hỏi thầy giáomọi điều, thậm chí Êdixơn còn nghi ngờ lời giải của thầy,hoài nghi vấn đề qua câu trả lời.
Có xu hướng tìm bạn ngang bằng năng lực, thường làhơn tuổi
Tinh thần trách nhiệm cao, không muốn bằng mọi giá để
có sự đồng thuận” [32]
Sau đây xin trình bày một số biểu biện của trẻ có năngkhiếu trong lĩnh vực toán và âm nhạc
Biểu hiện về mặt toán học của trẻ có khiếu
Trẻ có khả năng thay đổi cách thức hành động nhằm giảiquyết vấn đề phù hợp với những thay đổi các điều kiện
Trẻ có khả năng chuyển đổi tư duy từ trừu tượng kháiquát sang cụ thể và ngược lại từ cụ thể đến trừu tượng
Thích tìm tòi giải bài toán theo nhiều cách hoặc xem xétmột vấn đề theo nhiều khía cạnh khác nhau
Có sự quan sát tinh tế , mau phát hiện ra các dấu hiệuchung và riêng, mau chóng phát hiện ra những chỗ nút làm
Trang 17cho việc giải quyết vấn đề phát triển theo hướng hợp lý hơn,độc đáo hơn
Có trí tưởng tượng phát triển
Có khả năng suy luận có căn cứ, có rõ ràng Có óc tò
mò, không muốn dừng lại ở việc làm theo mẫu có sẵn hay ởnhững gì thă mắc, hoài nghi Có ý thức tự kiểm tra việc làm
Biểu hiện về mặt âm nhạc của trẻ có khiếu
Trong chương 1 tập 1 của Tuyển tập các tác phẩm chọnlọc của nhà tâm lý học Liên Xô B.M Teplov về năng khiếu
âm nhạc gồm các thành phần sau:
“Nhạy cảm điệu thức: biết nhận ra giai điệu, nhạy cảmvới nhạc lý, nhận nốt nhạc rất nhanh, phát hiện sai, đúng củanhạc lý rất mau lẹ
Khả năng tái hiện thính giác: tái hiện giai điệu bằng tai,bằng tai trong
Trang 18Nhạy cảm nhịp nhạc: khả năng cảm thụ nhạc theo kiểuvận động,nhận biết tính biểu cảm cao độ của nhịp nhạc và táihiện nó” [34]
- NKNT
* Nghệ thuật
Nói đến nghệ thuật là nói đến cái hay, cái đẹp để người
ta chiêm nghiệm, cảm thụ qua các giác quan, từ đó người ta bịlôi cuốn, thu hút, ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kỹ năng,kỹ xảo cao hơn mức bình thường
Lĩnh vực nghệ thuật là một phần trọng yếu của văn hoátinh thần, phản ánh khát vọng sáng tạo và thưởng thức nghệthuật theo quy luật của cái đẹp Nghệ thuật là thể hiện sựsáng tạo để làm ra những sản phẩm vật chất hoặc tinh thầnchứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng, thẩm mỹ, mang tínhchất văn hoá làm rung động cảm xúc, tư tưởng, tình cảm chongười thưởng thức
Nghệ thuật là của một lĩnh vực nghề nghiệp khi ngườitrong nghề thực hiện tác phẩm của mình ở mức hoàn hảo với
Trang 19trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt Chẳng hạn nghệ thuậtnấu ăn, viết báo, diễn thuyết, nấu ăn, lãnh đạo, dạy học…
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học,
“nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hìnhtượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực vàtruyền đạt tư tưởng tình cảm” [[29, tr.865] ]
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của hội Khoa học – Xãhội – Nhân văn thì nghệ thuật được định nghĩa là: “Nghệthuật là công việc 10 là có đường lối, phương pháp, để tỏ ýthức, tình cảm hay lý tưởng của mình trên ba điểm: Chân,thiện và mĩ Người ta đã thống nhất ý chí về nghệ thuật và sắpxếp chúng theo thứ tự: 1 Âm nhạc; 2 Vũ điệu; 3 Hội họa; 4.Điêu khắc; 5 Kiến trúc; 6 Ca kịch; 7 Điện Ảnh” [17, tr.844]
Trong cuốn “Từ điển Mĩ thuật phổ thông” của tác giảĐặng Thị Bích Ngân (chủ biên), nghệ thuật được định nghĩa
“là các phương pháp tiến hành để làm ra các sản phẩm chứng
tỏ tài khéo léo, sự suy nghĩ, trí tưởng tượng, cảm xúc và sựsáng tạo của con người Với quan niệm hiện đại, định nghĩanghệ thuật thường phản ánh những tiêu chuẩn thẩm mĩ trongvăn học – xã hội… Nghệ thuật phản ánh các tiêu chuẩn đẹp,
Trang 20khéo và sáng tạo Đặc biệt, nghệ thuật thường khai thác sự đốilập giữa các yếu tố để sáng tạo Người nghệ sĩ tinh tế pháthiện được các yếu tố khác nhau trong nội dung, trong kỹthuật, trong quan điểm để sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật”.[22, tr.101]
Do đó có thể hiểu theo nghĩa “nghệ thuật là sự liên kết(sự rung động) giữa người sáng tác (nghệ sỹ) và người thưởngthức, bằng các thủ pháp nghệ thuật thông qua tác phẩm tácđộng vào ý thức thẩm mỹ của họ, hướng con người tới giá trịthẩm mỹ cao hơn”
Chủ nghĩa duy tâm khách quan và các nhà thần học từthời cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại đều khẳng địnhrằng nghệ thuật là sản phẩm của con người lúc thần nhập
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà đại diện là nhà triết họcngười Đức Cantơ (1724 – 1804) giải thích rằng: nghệ thuật cónguồn gốc từ các trò chơi tưởng tượng của con người Nghệthuật là sản phẩm của các trò chơi cá nhân Nó không liênquan gì đến đời sống xã hội
Các nhà duy vật từ thời cổ đại đến hiện đại đều cho rằng,nghệ thuật là sản phẩm của con người do hoạt động lao động
Trang 21mà có Nghệ thuật là hình thức bắt chước hoặc tái hiện cuộcsống của con người
Như vậy, các nhà triết học có khuynh hướng duy vậtđềucho rằng nghệ thuật có nguồn gốc từ hiện thực khách quan, vàngười nghệ sỹ giỏi là người có khả năng bắt chước giống nhưtrong tự nhiên
Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhìn nhận nghệ thuật làmột hình thái ý thức phản ánh sinh hoạt và đấu tranh xã hội.Nghệ thuật không phải là trò chơi du hí tự do, không phải làcác hành vi của thánh thần, không phải là biểu hiện của ýniệm tuyệt đối, mà là một hoạt động có ý thức do chính cuộcsống lao động của con người tạo ra
Nghệ thuật – là hình thái cao nhất của quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thức, là lĩnh vực hoạt động tinh thần đặc biệt được xã hội tạo nên để thể hiện và để hình thành các quan điểm, các lý tưởng thẩm mỹ xã hội [20].
* Đặc trưng cơ bản của nghệ thuật.
Trang 22Hình tượng nghệ thuật được biểu hiện qua nhiều cấp độkhác nhau – đó là cấp độ vật chất, cấp độ tâm lý và cao hơn cả
là cấp độ tư tưởng
Như vậy, hình tượng nghệ thuật là phương tiện, là chấtliệu đặc thù của nghệ thuật để người nghệ sĩ phản ánh cuộcsống một cách sáng tạo, bằng những hình tượng sinh động,cảm tính, cụ thể như bản thân đời sống, thông qua đó nhằm lýgiải, khái quát về cuộc sống gắn liền với một ý nghĩa tưtưởng, cảm xúc nhất định, xuất phát từ lý tưởng của nghệ sỹ
Nghệ thuật là hình thái cao nhất của sự đồng hóa hiệnthực bằng thẩm mỹ, là nơi mà những quy luật của cái đẹpđược thể hiện một cách tập trung và điển hình nhất
Năng khiếu nghệ thuật là sự tổng hợp những phẩm chất tâm sinh lý phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của mỗi loại hình hoạt động cụ thể, đảm bảo cho cá nhân có khả năng phát triển những giá trị nghệ thuật cao trong cuộc sống.
- Phân loại năng khiếu nghệ thuật
Trang 23Có rất nhiều cách phân loại năng khiếu khác nhau, tuynhiên tác giả dựa vào các loại hình nghệ thuật để phân loạicác NKNT bao gồm:
- Năng khiếu văn học: Văn học là một loại hình nghệthuật có nhiều đặc điểm chung và riêng Đặc trưng riêng nổibật nhất của bộ môn nghệ thuật này là tính phong phú đa dạngcủa hình tượng nghệ thuật Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể đanghĩa, quá trình tiếp nhận và thể hiện đòi hỏi sự sáng tạo.Năng khiếu văn họclà năng khiếu sáng tác nghệ thuật thiênbẩm (sáng tác thơ văn, viết truyện, tiểu thuyết)
- Năng khiếu kiến trúc: Thế hiện năng khiếu vẽ thiết kếtrong xây dựng
- Năng khiếu mỹ thuật: là năng khiếu vẽ, thiết kế, phốimầu, trang trí, nặn tượng,
- Năng khiếu điện ảnh: là năng khiếu, khả năng nhập vaivào các nhân vật trong các bộ phim, kịch sân khấu và cácchương trình nghệ thuật khác của người nghệ sĩ tại các nhàhát, xưởng phim, đài phát thanh - truyền hình và các phươngtiện truyền thông khác Họ sử dụng ngôn ngữ cơ thể, cử chỉ,giọng điệu, gương mặt , họ làm cho nhân vật tưởng tượng
Trang 24trong kịch bản thành con người thật, đầy sống động trong tácphẩm kịch, điện ảnh, truyền thanh
- Năng khiếu âm nhạc: là khả năng cảm nhận, thưởngthức và tạo ra các tiết tấu và nhịp điệu
- Năng khiếu sân khấu: Nghệ thuật sân khấu là mônnghệ thuật tổng hợp phản ánh thực tại bằng ước lệ nghệ thuật
Mô phỏng hiện thực thông qua phương pháp trình diễn củadiễn viên, người dẫn chương trình Vì vậy, năng khiếu sânkhấu có thể nói đến năng khiếu trình diễn trên sâu khấu nhưnăng khiếu kịch, hài, dẫn chương trình (MC), múa, vũ đạo,
- Bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật cho thiếu nhi
- Khái niệm về bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật
- Bồi dưỡng
Theo Từ điển Tiếng Việt, bồi dưỡng là “làm tăng thêmnăng lực hoặc phẩm chất” [23], còn theo Từ điển giáo dục,bồi dưỡng được hiểu theo hai nghĩa: “1) (nghĩa rộng), Quátrình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và nhữngphẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích
đã chọn; 2) (nghĩa hẹp) là trang bị thêm các kiến thức, kĩ năng
Trang 25nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt độngtrong các lĩnh vực cụ thể” [16].
Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu
hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực
định qua một hình thức đào tạo nào đó”
Tóm lại, bồi dưỡng là quá trình trợ giúp cho người họclàm tăng thêm hoặc hoàn thiện các phẩm chất tâm lí mangtính nghề nghiệp của mình (hệ thống tri thức, thái độ, kĩ năng
và các phẩm chất tâm lí tương ứng khác), qua đó giúp ngườihọc thực ứng tốt hơn đối với môi trường sống, hoạt động vàgiao tiếp
- Bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật cho thiếu nhi
Hiện nay, việc bồi dưỡng NKNT đã được diễn ra mộtcách khá phổ biến và phát triển, nhưng chưa có tài liệu, công