1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN GIÁO dục văn hóa ỨNG xử CHO đội NGŨ cán bộ CÔNG CHỨC cấp xã dựa vào CỘNG ĐỒNG

71 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 67,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo đức của người cán bộ thể hiện trong lối sống, trongvăn hóa ứng xử hàng ngày với cấp trên, với đồng nghiệp, vớinhân dân, trong thi hành công vụ và trong các mối quan hệ xãhội.. Tác gi

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Trang 2

Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Đối với người cán bộ, công chức, văn hóa là gốc, là nềntảng quyết định sự thành công trong sự nghiệp của mình; Việcbồi dưỡng, rèn luyện đạo đức, văn hóa ứng xử cho đội ngũcán bộ luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm trong suốtcuộc đời hoạt động cách mạng của mình Trong bài nóichuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, ngày 20/02/1947, Chủ

tịch Hồ Chí Minh căn dặn:“Cán bộ chính là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được ”, điều đó cho thấy vai trò và tầm quan trọng

của đội ngũ cán bộ, công chức trong bất kỳ giai đoạn cáchmạng nào Trong hai tiêu chuẩn cơ bản “đức” và “tài” củangười cán bộ thì đạo đức phải là cái gốc, quyết định sự thành

công của người cán bộ “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.

Đạo đức của người cán bộ thể hiện trong lối sống, trongvăn hóa ứng xử hàng ngày với cấp trên, với đồng nghiệp, vớinhân dân, trong thi hành công vụ và trong các mối quan hệ xãhội Trong đó, văn hóa ứng xử trong thi hành công vụ là trình độ

Trang 3

cao của người cán bộ có tri thức, có học vấn, hiểu biết pháp luật

và luôn được tu dưỡng, rèn luyện trên cơ sở kế thừa, phát huy vàgiữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Vì vậy, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, giáo dục vănhoá ứng xử cho cán bộ, công chức luôn được Đảng và Nhànước quan tâm sâu sắc Đã có nhiều đề tài, công trình nghiêncứu, Luận văn Thạc sĩ đến Luận án Tiến sĩ nghiên cứu vềvấn đề công tác cán bộ dưới nhiều góc độ, khía cạnh khácnhau Dưới đây là những nghiên cứu đã được tác giả chọn lọc

để tham khảo:

Công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử

Ở nước ta đã có nhiều nhà khoa học, nhiều công trìnhnghiên cứu về giáo văn hóa ứng xử cho đội ngũ cán bộ như:

Trần Văn Sơn (2013), Nâng cao văn hóa ứng xử cho đội ngũ cán bộ trong thời hiện đại hóa đất nước, NXB Chính

trị quốc gia, Hà Nội Nội dung của tác phẩm đưa ra cơ sở lýluận trong sử dụng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp vớitừng giai đoạn cách mạng, các quan điểm và phương hướngtrong việc nâng cao văn hóa ứng xử cán bộ Điểm nổi bật củatác phẩm là việc đưa ra nội dung, “tiêu chuẩn hóa cán bộ” đây

Trang 4

là một quan điểm đổi mới trong công tác cán bộ mà tác giả cóthể vận dụng và kế thừa trong luận văn của mình để đưa racác tiêu chuẩn hóa công chức cấp xã phù hợp với huyện KimThành trong xu thế phát triển của thời đại và đặc trưng củahuyện Kim Thành

Phan Xuân Thành, (2015), Văn hóa ứng xử của doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập – Luận văn Thạc sĩ

Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội Luận văn đã hệ thống cáccác lý luận cơ bản về văn hóa, văn hóa ứng xử của cộng đồngdoanh nghiệp Việt Nam, phân tích thực trạng đưa ra những ưu

và khuyết điểm của doanh nghiệp Việt Nam, phân tích vai tròcủa văn hóa ứng xử trong thời kỳ mở cửa, hội nhập với thếgiới Từ đó tác giả đưa ra giải pháp nâng cao văn hóa ứng xửcủa doanh nghiệp Việt Nam với người tiêu dùng, với đối táckhách hàng

Nguyễn Kim Diện, (2006), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính tỉnh Hải Dương – Luận án tiến sĩ,

Trường Đại học Kinh tế quốc dân Luận án đã hệ thống đượcnhững lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ côngchức hành chính nhà nước nói chung và nâng cao chất lượngđội ngũ công chức hành chính nhà nước của tỉnh Hải Dương

Trang 5

nói riêng Đồng thời đã phân tích và rút ra những đánh giáthực trạng đó một cách khách quan, chính xác về một số ưuđiểm và hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức hành chính

sự nghiệp nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ mới Luận

án cũng đã đưa ra những quan điểm, mục tiêu và một số giảipháp quan trọng, phù hợp, nêu lên những kiến nghị nhằmnâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nướctỉnh Hải Dương trong thời kỳ đổi mới Song luận án chưa đisâu nghiên cứu vấn đề văn hóa ứng xử của đội ngũ cán bộcông chức cấp xã, chưa thấy rõ được vai trò của văn hóa ứng

xử trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

Các công trình nghiên cứu về giáo dục văn hóa ứng

xử cho cán bộ, công chức cấp xã

Hoàng Bá Dũng (2016), Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức ở các xã đặc biệt khó khăn huyện Mường La, tỉnh Sơn

La, Luận văn thạc sỹ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội Tác giả tập trung phân tích những cơ sở lýluận trong việc phát triển đội ngũ cán bộ công chức cấp xã.Đưa ra những giải pháp trong việc phát triển đội ngũ ở các xãkhó khăn, từ việc nâng cao tư tưởng chính trị, phẩm chất đạođức, năng lực chuyên môn đến giáo dục văn hóa ứng xử đối

Trang 6

với cán bộ công chức ở địa bàn khó khăn huyện Mường La.

Nguyễn Thị Thảo (2014), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn

thạc sĩ Quản trị nhân lực, Trường Đại học Lao động - Xã hội.Tác giả phân tích những cơ sở lý luận trong việc nâng caochất lượng cho đội ngũ công chức cấp xã Phân tích tác độngcủa điều kiện nhân lực vật lực ảnh hưởng đến chất lượng độingũ công chức, trong đó có văn hóa ứng xử của đội ngũ côngchức cấp xã Tác giả đưa ra những phương pháp đổi mới côngtác tuyển dụng, nâng cao công tác đào tạo, hoàn thiện chínhsách, cơ chế khen thưởng - kỷ luật rõ ràng

Nguyễn Thị Ban Mai, (2015), Nâng cao đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn

thạc Sĩ Đại học Lao động – Xã hội Hà Nội, Tác giả đưa ra hệthống lý luận về cán bộ công chức cấp xã, tiêu chí nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã về phẩm chấtđạo đức, trong đó có văn hóa ứng xử của cán bộ cấp xã trênđịa bàn nghiên cứu, đồng thời chỉ ra những yếu tố ảnh hưởngđến nâng cao chất lượng đội ngũ như công tác đào tạo, bồidưỡng, công tác đánh giá, xếp loại, trang thiết bị điều kiệnlàm việc Tác giả cũng đưa ra những quan điểm, giải pháp

Trang 7

để nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã trên địa bànnghiên cứu

Nhận xét

Các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống và tươngđối toàn diện về vấn đề chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã, trong đó nội dung về phẩm chất đạo đức, nói chung, vănhóa ứng xử nói riêng luôn được quan tâm dưới góc độ lý luậncũng như sự vận dụng lý luận đó vào tình hình thực tiễn cụ thể,

đó đều là những công trình, sản phẩm có giá trị và ý nghĩa vềmặt lý luận và thực tiễn

Tuy nhiên vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử được đề cậpcòn khá khái quát, trog các nội dung về nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, chưa có nội dung chuyênsâu về giáo dục văn hóa ứng xử mang tính cộng đồng Ngoài

ra vai trò của cộng đồng rất lớn đối với công tác giáo dục vănhóa ứng xử cho cán bộ, công chức cấp xã nhưng vẫn chưa cótác phẩm, công trình nào thật sự đi sâu khai thác khía cạnhnày Vì vậy việc chọn nghiên cứu đề tài này sẽ góp phầnmang lại hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã ở huyện Kim Thành hiện nay

Trang 8

Các khái niệm cơ bản của đề tài

Văn hóa

Có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa Đối với mỗi

cá nhân, văn hóa là tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ thuật,đạo đức, pháp luật, phong tục và các năng lực, thói quen khác

mà con người với tư cách là thành viên của xã hội tiếp thuđược Văn hóa là tích cực, là những gì tốt đẹp, thậm chí hoànhảo, là những “giá trị”, là tinh hoa của đời sống tinh thần củacộng đồng, dân tộc và cần được tôn vinh Văn hóa có ý nghĩa

là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra tronglịch sử; đời sống tinh thần của con người; tri thức khoa học,trình độ học vấn; lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểuhiện văn minh

Văn hóa là tất cả những gì do con người tạo ra, phục vụcon người, chi phối tư duy và hành động thực tế của conngười

Hay nói một cách khái quát: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của con người sáng tạo ra, được cộng đồng khảng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã hội.

Trang 9

Nghị quyết Trung ương 5 ( khóa VIII), Đảng ta đã khảngđịnh:

“Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước ,là kết quả giao lưu

và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”

Ứng xử

Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứngcủa con người trước sự tác động của người khác với mìnhtrong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ,hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kếtquả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau

Như vậy khái niệm ứng xử bao hàm cả bản chất tự nhiên

và bản chất xã hội của con người Vì vậy con người phải đượcgiáo dục ngay từ nhỏ bởi cái gốc của con người là bản chất tựnhiên

Trang 10

Để ứng xử trở thành nghệ thuật trong cuộc sống, để vừalòng mọi người, điều đó rất khó, không phải cá nhân muốn làđược, mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan vàchủ quan, bên trong, bên ngoài của chủ thể trong quá trìnhứng xử.

Văn hóa ứng xử

Văn hóa ứng xử là hành vi giao tiếp và đối nhân xử thế ởđời, nó thể hiện trình độ học vấn và nhận thức cá nhân, suyrộng ra là của một địa phương, của một cộng đồng dân tộc

Văn hóa ứng xử là cách thể hiện ra bên ngoài của nhữngthái độ, yêu thích, ghét, trọng, khinh và người ta có thể họchỏi chia sẻ điều này với nhau

Văn hóa ứng xử là sự thể hiện triết lý sống, lối sống, lốisuy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong việcứng xử và giải quyết mối quan hệ giữa con người với tựnhiên, với xã hội

Bản chất của văn hóa ứng xử là đạo đức, tình cảm, là lýtrí và sự nhẫn nhịn, nhường nhịn Còn biểu hiện của văn hóaứng xử gồm có văn hóa nói và văn hóa hành động Trong khi

Trang 11

đó, nghệ thuật ứng xử luôn xuất phát từ cuộc sống chân thực,lối sống chất phác, thái độ nhân văn và tâm lý sâu sắc.

Văn hóa ứng xử nói chung là một thành tố đặc trưng củavăn hóa được hình thành từ những quan hệ xã hội như: cácphong tục tập quán, hệ thống pháp luật, các giá trị đạo đức,các nền tôn giáo, những quy tắc, đời sống và tâm lí cộngđồng… từ đó đưa đến cho con người những biểu hiện của tìnhcảm, lý trí, ý thức hệ và hành vi nhằm vươn tới cái Chân -thiện - mỹ trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống

Văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức cấp xã là toàn bộnhững hành vi xử sự, ứng xử có văn hóa của toàn thể cán bộ,công chức nơi công sở, trong các mối quan hệ xã hội và vớicộng đồng nhằm đạt đến chuẩn mực giao tiếp phù hợp vănhóa dân tộc để đạt hiệu quả cao của năng suất lao động

Văn hóa ứng xử nơi công sở chính là thước đo sự vănminh của mỗi cán bộ công chức, nó phản ánh sự nhận thứccũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việcnơi công sở Con người tác động đến việc hình thành văn hóaứng xử với những giá trị bền vững được kế thừa và tiếp thu cóchọn lọc từ quá khứ đến hiện tại, tương lai; từ môi trường bên

Trang 12

trong đến bên ngoài công sở sẽ có tác động trở lại góp phầnhoàn thiện nhân cách, phẩm chất, văn hóa ứng xử cho cán bộcông chức Xây dựng văn hóa ứng xử chính là xây dựng mộtmôi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, thân thiện vàhiệu quả Cách hành xử văn hóa chốn công sở, vì thế mang lạirất nhiều lợi ích góp phần tạo dựng niềm tin, sự đoàn kết nhấttrí của cả tập thể, từ đó tạo bầu không khí làm việc cởi mở,tích cực, giúp cán bộ nâng cao chất lượng và hiệu quả côngviệc

Giáo dục văn hóa ứng xử nơi công sở chính là thúc đẩy

sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương đó

Giáo dục

Giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cáchcon người theo yêu cầu của xã hội, của cộng đồng Hoạt độnggiáo dục được tổ chức có mục đích, có kế hoạch cụ thể, đượctiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, người hướng dẫnnhằm giúp đối tượng được giáo dục phát triển về nhiều mặtnhư trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thế giới quan, nhân sinhquan, giúp họ biến kinh nghiệm lịch sử - xã hội thành kinhnghiệm của bản thân

Trang 13

Giáo dục văn hóa ứng xử cho cán bộ công chức cấp xãdựa vào cộng đồng là hình thức thông qua cộng đồng, coicộng đồng là một môi trường, một nguồn lực để truyền đạtnhững giá trị văn hóa ứng xử cho cán bộ công chức để duy trì

và phát huy được các giá trị văn hóa ứng xử đó.

Giáo dục văn hóa ứng xử

Giáo dục văn hóa ứng xử là một nội dung cơ bản nằmtrong giáo dục văn hóa Giáo dục văn hóa ứng xử là cung cấp,chắt lọc các thông tin tri thức, các quy chuẩn về văn hóa ứng

xử phù hợp với quy định vị trí công việc và theo quy định củapháp luật, nhằm giúp đối tượng nâng cao nhận thức, sự hiểubiết nhằm tiết chế được cảm xúc bản thân, điều chỉnh hành viứng xử của mình phù hợp với nhu cầu và quy chuẩn xã hội

Như vậy Giáo dục văn hóa ứng xử là hoạt động và quátrình trang bị cho đối tượng những hiểu biết về khuôn mẫuứng xử của cộng đồng xã hội, quy định về văn hóa ứng xử củacông chức nơi công sở, giúp đối tượng lựa chọn cách thức, kỹnăng ứng xử linh hoạt và phù hợp với công việc được giao,phù hợp với mọi hoàn cảnh, mọi tình huống đa dạng của cuộcsống

Trang 14

Cộng đồng

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về các dự ánphát triển cộng đồng: cộng đồng là một nhóm cư dân cùngsinh sống trong một địa vực nhất định, có cùng các giá trị và

tổ chức xã hội cơ bản (cộng đồng đô thị, cộng đồng nôngthôn, cộng đồng thôn bản )

Từ điển Đại học Oxford định nghĩa: “Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó”.

TheoTrung tâm Nghiên cứu và Tập huấn Phát triển cộng

đồng: “Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia

sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy”.

Trang 15

Cộng đồng được hiểu là tập hợp người có sự tương tácvới nhau, có sợi dây kết nối, chung lịch sử hình thành, cóchung địa bàn sinh sống, có cùng luật lệ và quy định hay tậphợp những người có cùng những đặc điểm tương tự về kinh tế

- xã hội và văn hoá

Cũng có quan niệm khác, cộng đồng là một nhóm người

có chung sở thích và lợi ích, có chung địa bàn sinh sống, cóchung ngôn ngữ (hoặc loại ngôn ngữ) và có những đặc điểmtương đồng

Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ cộng đồng đã được sửdụng khá phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội Cộng đồng

có thể là một nhóm nhỏ dân cư (ví dụ như cộng đồng dân cư ởmột thôn, xã, cộng đồng những người tái chế chất thải củamột thôn, một xã…) hoặc có thể là cộng đồng dân cư của mộtdân tộc, nhiều dân tộc cùng chung các điểm tương đồng (cộngđồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng các nướcASEAN…)

Dựa vào cộng đồng

Dựa vào cộng đồng là quá trình huy động các nguồn lực

về vật chất, tinh thần, nhân lực, vật lực của các tập thể và cá

Trang 16

nhân (không phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách địalí…) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau nhằm thựchiện mục tiêu đề ra cho một chương trình, dự án, công việc cụthể nào đó để đem lại lợi ích chung cho cộng đồng, quốc gia,dân tộc

Dựa vào cộng đồng, là sự huy động các lực lượng xã hội(nhân lực, vật lực) bao gồm cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ,Công đoàn, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị xãhội, các trung tâm học tập cộng đồng, các trường THPT - Đạihọc, các Doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, người con quêhương công tác trong và ngoài nước, dân cư sinh sống trên địabàn cùng tham gia giáo dục văn hóa ứng xử cho đội ngũCBCC cấp xã phù hợp vị trí, vai trò, điều kiện thực tế của các tổchức, cá nhân đó Sự tham gia của các lực lượng này sẽ giúpcho CBCC gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện, vìlợi ích và nguyện vọng của cộng đồng

Nguyên lý dựa vào cộng đồng: Thứ nhất là trách nhiệm,cộng đồng là nhóm người có tham gia làm chủ, đồng thờitham dự vào việc xây dựng văn hóa ứng xử đội ngũ cán bộ,công chức nhằm nhu cầu được phục vụ tốt hơn Thứ hai làquyền lực, với định hướng nhà nước của dân, do dân và vì

Trang 17

dân, đội ngũ cán bộ, công chức được xây dựng nhằm phục vụlợi ích chung của cộng đồng, cộng đồng cũng là những ngườitham gia bầu cử, kiểm soát chất lượng đội ngũ cán bộ côngchức Thứ ba là kiểm soát, cộng đồng có khả năng thực hiện

và xác định các quyết định của mình có liên quan đến hệthống đội ngũ cán bộ, công chức

Giáo dục dựa vào cộng đồng là một hình thức của giáodục mang tính cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu của cộngđồng, do cộng đồng thực hiện, nhằm mục đích giữ gìn bản sắcvăn hóa của cộng đồng đó, góp phần đem lại lợi ích lâu dàicho xã hội Giáo dục dựa vào cộng đồng là hoạt động giáodục do cộng đồng, vì cộng đồng và tại cộng đồng

Giáo dục văn hóa ứng xử cho cán bộ, công chức cấp

xã dựa vào cộng đồng

Giáo dục văn hóa ứng xử cho cán bộ công chức cấp xãdựa vào cộng đồng: Là Hoạt động và quá trình mà cộng đồngcùng có trách nhiệm tham gia trang bị cho đội ngũ cán bộ,công chức xã những kiến thức, kỹ năng; những hiểu biết, quyđịnh, khuôn mẫu về ứng xử văn hóa nơi công sở và trong cáchoạt động xã hội, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và văn hóa

Trang 18

của dân tộc, phù hợp với văn hóa của cộng đồng nơi cư trú vàcông tác, giúp đối tượng lựa chọn cách thức, kỹ năng ứng xửlinh hoạt và phù hợp với mọi hoàn cảnh, mọi tình huống khithi hành công vụ và trong các mối quan hệ đa dạng của cuộcsống.

“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn,

bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quancủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xãhội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sauđây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố

Trang 19

thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước” Ngoài ra, phạm vi cán bộcòn bao gồm những người được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm

kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Bí thư, Phó Bí thưĐảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội Đây lànhóm cán bộ xã, phường, thị trấn ( gọi chung là cấp xã)

Như vậy, nếu công chức là nhóm người được tuyểndụng, bổ nhiệm thì cán bộ là nhóm người được bầu và làmviệc theo nhiệm kỳ

Công chức: Khoản 2, điều 4, Luật Cán bộ Công chức

2008 quy định:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổnhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của ĐảngCộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ởtrung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcQuân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vịthuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quanchuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

Trang 20

tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sựnghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchnhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcủa đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹlương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của phápluật.”

từ ngân sách nhà nước

Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP thì Cán bộ cấp xã có 11 chức vụ sau đây:

Trang 21

Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và

có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP thì công chức cấp xã có 7 chức danh sau đây:

Trưởng Công an;

Chỉ huy trưởng Quân sự;

Văn phòng - thống kê;

Trang 22

Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);

Đội ngũ cán bộ, công chức là tập hợp có tổ chức nhữngngười có chức vụ, chức danh, có vị trí trong hệ thống cơ quannhà nước cùng thực hiện trách nhiệm công vụ

Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã là một bộ phận của độingũ cán bộ, công chức nhà nước, có vai trò quan trọng trongviệc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước ở cơ sở Họ là những người trựctiếp gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thựchiện, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ

Trang 23

trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhànước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốcphòng theo chức năng nhiệm vụ được giao và đảm bảo quyđịnh của pháp luật.

Công sở

Công sở hành chính nhà nước (sau đây viết tắt là côngsở): Là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc tổ chứccông ích được Nhà nước công nhận, bao gồm cán bộ, côngchức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công chứchoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước.Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơcấu tổ chức do pháp luật quy định, được sử dụng công quyền

để tổ chức công việc Nhà nước hoặc dịch vụ công vì lợi íchchung của xã hội, của cộng đồng Dựa vào khái niệm nêu trên

có thể thấy về mặt nội dung công việc, hoạt động của công sởnhằm thỏa mãn các lợi ích chung của cộng đồng; về mặt hìnhthức tổ chức thì công sở là một tập hợp cơ cấu tổ chức, cóphương tiện vật chất và con người được Nhà nước bảo trợ đểthực hiện nhiệm vụ của mình; về ý nghĩa tổ chức nhà nước thì

có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước, doNhà nước lập ra và có thẩm quyền giải quyết công vụ

Trang 24

Một tổ chức được xác định là công sở, nếu hội tụ đủ cácđiều kiện cơ bản sau:

Thứ nhất, ra đời và tồn tại để thực hiện các hoạt độngcông vụ - hoạt động vì lợi ích chung;

Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm cán bộ, công chức,viên chức cùng các loại hình lao động hợp đồng khác;

Thứ ba, hoạt động trên cơ sở sử dụng công quyền quyền lực công, hoặc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ công

-do luật pháp quy định;

Thứ tư, được sử dụng công sản – các nguồn lực tàichính, vật chất, kỹ thuật là tài sản công để duy trì tổ chức vàthực thi công vụ

Nói một cách khái quát: Công sở là một loại hình tổchức, cấu thành bộ máy của hệ thống chính trị, được thành lập

để thực hiện các hoạt động công vụ

Văn hóa công sở

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa công sở.Khi đề cập đến văn hóa công sở, chúng ta thường nhìn nhậncác góc độ như trình độ, phương pháp quản lý, điều hành hoạt

Trang 25

động của cơ quan; phong cách giao tiếp, ứng xử của cán bộ,công chức, viên chức; cảnh quan và môi trường làm việc Nhưvậy, văn hóa công sở có thể hiểu là tổng hòa các giá trị hữuhình và vô hình, bao gồm trình độ nhận thức, phương pháp tổchức, quản lý, môi trường cảnh quan, phương tiện làm việc,đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán

bộ, công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự,hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao

Văn hóa công sở là ăn mặc đẹp, gọn gàng, lịch sự; Vănhóa công sở là văn hóa ứng xử; Văn hóa công sở là sự tiếtkiệm; Văn hóa công sở là phong cách làm việc; Văn hóa công

sở là giữ gìn, bảo vệ danh dự của cơ quan

Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng một nền nếp làmviệc khoa học, có kỷ cương và dân chủ Nó đòi hỏi các nhàlãnh đạo, quản lý cũng như các thành viên của cơ quan phảiquan tâm dến hiệu quả hoạt động chung của cơ quan Mọithành viên phải tôn trọng kỷ luật cơ quan, đoàn kết và hợp táctrên những nguyên tắc chung, chống lại bệnh quan liêu, háchdịch

Công vụ

Trang 26

Công vụ là thuật ngữ được xem xét đánh giá từ nhiềugóc độ khác nhau, do đó, công vụ được hiểu theo các phạm virộng hẹp khác nhau Theo cách hiểu chung nhất, công vụ làcác việc công Các việc này được thực hiện vì lợi ích chung,lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích của nhà nước.

Công vụ được hiểu theo một số cách sau:

Công vụ là các hoạt động của các cơ quan quyền lực nhànước

Công vụ là hoạt động của Nhà nước nhằm thực hiện ýchí của nhân dân

Công vụ là quy chế, nguyên tắc hoạt động của các cơquan Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng quản lý xã hộitheo các mục tiêu đã vạch ra

Công vụ là hoạt động thực hiện đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước

Công vụ là loại lao động mang tính quyền lực, pháp lýđược thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện cácchính sách của Nhà nước

Trang 27

Tóm lại, công vụ là một loại hoạt động mang tính quyềnlực – pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức nhànước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyềnnhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trongquá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xãhội Công vụ là phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân, gắn vớiquyền lực Nhà nước.

Công vụ gắn liền trực tiếp với con người là công chức

Đạo đức công vụ

Đạo đức công vụ là đạo đức thực thi nhiệm vụ của cán

bộ, công chức, là những giá trị chuẩn mực và đạo đức được ápdụng cho những người làm việc trong tổ chức bộ máy hànhchính của nhà nước Bao gồm hệ thống nguyên tắc, chuẩnmực dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa đội ngũ công chứcvới tổ chức, công dân, thể hiện ở lương tâm và trách nhiệm vìlợi ích chung, ý thức việc cần phải làm và mong muốn đượclàm vì lợi ích chung đó

Đạo đức công vụ được xem xét từ hai góc độ: Thứ nhất

đó là đạo đức của bản thân người công chức Với tư cách làcông dân, người công chức phải mang trong mình những

Trang 28

nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội mà trong đó họsống, hoạt động Thứ hai là góc độ đạo đức nghề nghiệp Với

tư cách là công chức, họ phải tuân thủ những nguyên tắc,chuẩn mực quy định cách ứng xử của người công chức tronghoạt động thực thi công vụ mà không bao giờ được vi phạmđạo đức nghề nghiệp

Đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Cán bộ, công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bảnsau:

Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân, sátdân, biết dân, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước vào dân, gắn bó với dân

Cán bộ, công chức cấp xã có tính ổn định thấp so vớicán bộ, công chức Nhà nước cấp trên

Cán bộ, công chức cấp xã có tính chuyên môn hóa thấp,kiêm nhiệm nhiều

Cán bộ, công chức cấp xã là người đại diện cho quầnchúng nhân dân lao động ở cơ sở Vì vậy cán bộ, công chứcluôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của

Trang 29

nhân dân từ đó có những cách thức tiến hành công việc phùhợp và đảm bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân.

Cán bộ, công chức cấp xã là những người xuất phát từ

cơ sở (người địa phương), họ vừa trực tiếp tham gia lao độngsản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước, giải quyết các công việc của Nhànước Do đó, ở khía cạnh nào đó, cán bộ, công chức cấp xã bịchi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quánlàng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địaphương, của dòng họ

Cán bộ, công chức cấp xã do dân bầu ra, chính vì vậy sốlượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ nhân dânlại bầu những đại diện mới

Cán bộ, công chức cấp xã cả nước hiện nay rất đông( tính đến tháng 12/2016 là 234.217 người, cả nước tính đếntháng 4/2018 có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã, bình quânmỗi xã 21 người); tuy nhiên về chất lượng lại rất yếu, độ tuổitương đối già, chính vì vậy nó là những nguyên nhân dẫn đếnhiệu quả giải quyết công việc không cao

Cán bộ công chức cấp xã chủ yếu là do dân bầu, hoặc

Trang 30

hợp đồng rồi xét tuyển, gần đây mới thực hiện thi tuyển, hoặc

đi bộ đội về rồi tham gia công tác địa phương và kinh qua cácchức vụ, công việc chuyên môn nên trình độ chuyên mônĐại học, Cao đẳng chủ yếu là học tại chức, chính vì vậy màkiến thức chuyên môn, khả năng giải quyết công việc chưachuyên sâu, giao tiếp ứng xử dựa vào kinh nghiệm cá nhân, íttuân thủ theo các quy định chuẩn mực về ứng xử văn hóa củacán bộ, công chức làm việc tại cơ quan nhà nước ở địaphương

Tóm lại, các đặc điểm của các cán bộ, công chức cấp xãchính là sự thể hiện trình độ năng lực và nhận thức của độingũ này trong các lĩnh vực công tác cụ thể, văn hóa ứng xửcũng vì thế mà mang những nét tương đồng, gắn chặt với vănhóa làng xã và kinh nghiệm cá nhân, vì vậy để xây dựng độingũ cán bộ, công chức cấp xã vừa “hồng” vừa “chuyên”, thìnội dung giáo dục văn hóa ứng xử là rất cần thiết và phải đượcthực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài và rất cần có sự thamgia của cộng đồng xã hội, vì lợi ích của cộng đồng, vì sự pháttriển của đất nước

Các tiêu chí đánh giá văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức cấp xã

Trang 31

Ngoài các quy định về trình độ học vấn, trình độ chuyênmôn phù hợp vị trí việc làm theo quy định của Nhà nước; Vănhóa ứng xử của cán bộ công chức cấp xã được đánh giá làchuẩn mực dựa trên các tiêu chí sau:

Phẩm chất chính trị vững vàng

Phẩm chất chính trị là sự nhận thức đúng đắn và trungthành với chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước, trung thành với ĐảngCộng sản Việt Nam, với chế độ chính trị của nước Việt Nam

(được quy định trong Hiến pháp 2013), sống và làm việc theo

pháp luật

Người cán bộ có phẩm chất chính trị vững vàng sẽkhông dao động trước luận điệu xuyên tạc, lôi kéo của các thếlực thù địch, của các thành phần chống phá cách mạng Kiênquyết đấu tranh với những tư tưởng, việc làm sai trái có hạicho cách mạng, cho Đảng, cho chế độ, cho đất nước

Cán bộ, công chức nói chung và cán bộ công chức cấp

xã nói riêng nếu không có phẩm chất chính trị vững vàng sẽkhông có nhận thức đúng đắn về quyền và nghĩa vụ công dân,

Trang 32

trách nhiệm của bản thân với cộng đồng xã hội, và sẽ không

có ứng xử văn hóa chuẩn mực

Đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh

Đạo đức của mỗi con người Việt Nam được quy định tạiđiều 44,45,46,47 Hiến pháp 2013 Đạo đức của cán bộ, côngchức cấp xã cũng nằm trong chuẩn mực đạo đức xã hội và vănhóa cộng đồng như: Trung thành với Tổ quốc, với nhân dân,

có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội;Tích cực học tập lao động, cống hiến Không có việc làm tráivới luân thường đạo lý Được nhân dân, cộng đồng tin tưởng,tôn trọng Người có đạo đức lối sống chuẩn mực sẽ có vănhóa ứng xử chuẩn mực, cư xử chuẩn mực, tôn trọng bản thân,tôn trọng cộng đồng Đối với cán bộ, công chức cấp xã lànhững người gần dân nhất nếu không có đạo đức lối sốngchuẩn mực, nhân dân sẽ mất niềm tin, khi đó văn hóa ứng xử

sẽ trở nên vô nghĩa, không có giá trị

Thực hiện tốt nghĩa vụ, đạo đức công vụ

Cán bộ, công chức khi thi hành nhiệm vụ, công vụ phảithực hiện đầy đủ và đúng các quy định về nghĩa vụ của côngchức bao gồm những việc phải làm và không được làm theo

Trang 33

quy định của pháp luật, Luật Cán bộ, công chức, Luật phòngchống tham nhũng, Luật Tiếp công dân, chỉ có thực hiện tốt đạođức công vụ mới có văn hóa ứng xử chuẩn mực với đồngnghiệp, với người dân, với cộng đồng xung quanh

Nắm vững chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ

Là cán bộ, công chức thì phải có kỹ năng và kiến thứcchuyên môn trong công việc, nắm vững nội dung lĩnh vựccông việc trực tiếp phụ trách, có nghiệp vụ vững vàng khi giảiquyết công việc thuộc chức trách thẩm quyền, biết giải thích,hướng dẫn cho người dân theo quy định của pháp luật cónhư vậy mới đem lại sự hài lòng cho nhân dân, khi giải quyếtcông việc có tình có lý, thì dù có đạt được hay không đạt đượcnhư yêu cầu, mong muốn thì họ cũng sẽ đồng tình cao

Cán bộ, công chức cấp xã phải có trình độ Tin học,ngoại ngữ để giúp cho họ xử lý các công việc chuyên mônđược nhanh chóng, thuận lợi, tự bổ sung, cập nhật kiến thứccho bản thân để phục vụ công việc chuyên môn và giao tiếpứng xử

- Trang phục lịch sự, tác phong, phong cách làm việc chuyên nghiệp

Trang 34

Trang phục thể hiện trình độ văn hóa của con người;Trang phục của cán bộ, công chức tùy thuộc sự quy địnhthống nhất hay không thống nhất của cơ quan, đơn vị, địa

phương nơi công tác (đồng phục hay không đồng phục) nhưng

phải là trang phục công sở, gọn gàng, sạch sẽ, phù hợp thờitiết, công việc, ngành nghề, vị trí công tác, thể hiện sự tôntrọng bản thân và cộng đồng xung quanh

Trang phục phần lớn thể hiện tính cách, văn hóa củangười đó Khi lần đầu tiên gặp gỡ một người, thì ấn tượng tốthay không là do nhìn trang phục và tác phong của người đó;Trang phục chuẩn mực sẽ mang lại tự tin và tạo niềm tin chongười giao tiếp Trang phục có vai trò quan trọng tạo nên ýthức, trách nhiệm của người cán bộ trong thực thi nhiệm vụ vàtrong giao tiếp, ứng xử với nhân dân

Tác phong, phong cách làm việc:

Tác phong, phong cách làm việc là một bộ phận của vănhóa công sở

Tác phong được định nghĩa là “lề lối và cách thức làmviệc và đối xử” (Nguyễn Lân, 2002: Từ điển Từ và ngữ Hán –Việt) Phong cách là cách thức làm việc, ứng xử có những nét

Trang 35

riêng, tạo nên đặc trưng của một chủ thể Cán bộ, công chứchành chính nhà nước đang tồn tại tác phong tốt và tác phongxấu Tác phong xấu là làm việc đại khái, tùy tiện, luộmthuộm, cẩu thả, thiếu trật tự và kỷ luật; nói năng thô tục…thiếu văn hóa Tác phong đẹp là sản phẩm của một nền vănhóa của tổ chức mạnh, môi trường làm việc văn minh vàngười lãnh đạo có tâm, có tài Cán bộ, công chức phải có tácphong làm việc khoa học, chuyên nghiệp, nghiêm túc, đúnghẹn với dân, xác định đúng yêu cầu công việc phải làm, sắpxếp thời gian để hoàn thành công việc đúng tiến độ, đúng quyđịnh của pháp luật; Để đạt được tác phong, phong cách làmviệc như vậy, cán bộ công chức cấp xã trước hết phải đảm bảo tuân thủ luật pháp, kỷ luật lao động và các quy chế của địaphương., có tinh thần hợp tác tốt, ứng xử thân thiện, đoàn kếtvới mọi người, không ngừng học hỏi và cầu tiến bộ, phát huynăng lực sáng tạo trong công việc, coi trọng thời gian, làmviệc theo kế hoạch, đảm bảo đúng giờ, đảm bảo sự an toàn,gọn gàng, vệ sinh sạch sẽ nơi làm việc và nơi sinh hoạt, Ứng

xử, giao tiếp với mọi người lịch sự, văn minh; không quanliêu, nhũng nhiễu với dân, coi trọng danh dự cá nhân, đạo đứcnghề nghiệp và các giá trị chuẩn mực của văn hóa cộng đồng

Ngày đăng: 08/04/2020, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w