Tư cáchxứng đáng, lễ vật đưa tạ vua bếp cũng phải hậu hĩnh chu đáo.Làm vậy không chỉ để thổ công nhà Trời thong qua cho cáccửa tiếp theo, mà theo quan niệm của người Tày, Thổ côngcũng là
Trang 1NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA NHỮNG LỜI
CA TRONG LỄ DẦY THÁNG CHO TRẺ CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, LẠNG SƠN
Trang 2- Nội dung
-Lời ca là một hành trình thống nhất trong đa dạng.
Xuyên suốt toàn bộ diễn xướng trong lễ then đầy tháng củangười Tày Tràng Định là một hành trình dài với một chuỗicác chặng dừng chân khác nhau Đích quan trọng cuối cùng làCửa Mụ, song người nghe đã được đi qua biết bao miền đấtqua lời ca Trí tưởng tượng của người Tày xưa đã phác họa ramột thế giới chia làm 2 phần: Đất và Trời Hành trình đến cõiTrời tuy có xa xôi mệt nhọc nhưng cũng vẫn thật gần gũi Xaxôi bởi nó thiêng liêng, bởi nó không phải là cái ở ngay khônggian mà đồng bào đang sống Nhưng cũng gần gũi bởi đi đến
đó bắt đầu từ sau làng bản Cánh rừng ma tuy cũng rung rợnnhưng thật ra bản làng nào cũng có những cánh rừng vắng saulàng làm nơi chon cất người chết như thế Những năm đóikém, điều kiện kinh tế, chăm sóc sức khỏe khó khan, trẻ conchết trẻ chết non, đôi khi người ta chỉ treo lên những cây caotrong rừng sau làng Lâu dần nó trở thành nỗi sợ hãi, và trở
nên huyền bí u ám như những khu rừng trong Khái mạy slung phung mạy cải (Khái cây cao rào cây lớn) Người chủ lễ dẫn
dắt những người nghe theo con đường tín ngưỡng then mà cả
Trang 3hai bên chủ tế - người làm lễ đều hết mực tin tưởng, đi từ ngôinhà thân thuộc, từ miếu thổ công của chính nhà mình:
Sau đó đến mộ tổ tiên để xin phép lên đường Vượt qua cánhrừng sau làng, qua những khu ruộng giữa khe núi, nơi khôngchỉ có ruộng nương mà còn có đầm lầy:
Nơi đầu tiên đến của nhà Trời cũng là nhà Thổ công Cũngnhư cõi đất, ra đi báo cáo thổ công nhà, thì vào cõi trời phảibáo cáo thổ công trời Như quy tắc đến một nơi lạ, người làmthen cũng phải “khai báo” về tư cách của bản thân Tư cáchxứng đáng, lễ vật đưa tạ vua bếp cũng phải hậu hĩnh chu đáo.Làm vậy không chỉ để thổ công nhà Trời thong qua cho cáccửa tiếp theo, mà theo quan niệm của người Tày, Thổ côngcũng là một thần linh quan trọng và quyền năng, chính vì vậy,người làm lễ cũng cầu xin thổ công nhà trời ban phước lànhban lộc cho cháu bé
Hành trình cứ thế tiếp tục lên cao mãi theo lời của dẫn củangười làm lễ Người nghe chìm đắm vào thế giới tưởng tượngđược vẽ ra tưởng mơ hồ nhưng cụ thể Nó dễ hình dung bởicõi trời cũng có rừng vầu tre nứa vót đũa ăn cơm; cũng có câybưởi bờ ao:
- Pây mạ
Trang 4- Khái mạy slung phung mạy cải (Lễ ra thần cây ngoàirừng sâu
- Tu tàng luông (cửa đường lớn
- Tu phia phục phia nhàn (của cây bưởi cây nhãn)
- Tu pắt meè Tấu (cửa bắt ba ba)
- Lên đèo
- Lễ lên cửa Trời
- Lễ lên đường
- Đèo Cốc Mỹ
- Lên đèo cây sâu
- Cây đa nàng Trăng
- Lên đường lớn
- Chợ Trời
- Vượt biển
Như vậy cõi trời cao, cao mãi trong con mắt người trần thế
Và cửa Mụ, nơi cần đến chính là cõi cao nhất Thực hiện xong
Trang 5bước này, con đường về cõi trời dường như ngắn lại Có lẽkhi niềm tin tín ngưỡng lên đến cực điểm, thì sự dẫn dắt dàidòng trở nên không cần thiết Vậy nên khi thực hiện xong sựkhẩn cầu nơi cửa mụ, cả đoàn quân then trong tưởng tượngcũng như những người phàm nghe then cũng nhanh chóng trở
về với cõi đất mà không cần qua lại tỉ mỉ các bước như banđầu
Song song lồng ghép với tín ngưỡng về cõi trời, người làmthen cũng lồng ghép tín ngưỡng về chính Then Bởi lẽ then làTiên, là con của Trời cao quý với sứ mệnh giúp dân cầu ancầu yên Niềm tin về then cần được duy trì trong dân chúng.Nên khi thực hiện một nghi thức lễ, người chủ lễ không chỉcần xây dựng chỉ những tín đồ tham gia sự kính ngưỡng vớithế giới mà họ sẽ vẽ nên mà còn cả sự kính ngưỡng với chính
họ Trong lời ca của lễ đầy tháng, bên cạnh những đoạn trựctiếp nói đến hành trình lên Trời, lên Mẻ Bioóc Mẻ Va nhưtrên đã khảo sát, còn khá nhiều đoạn là then nói về chínhmình, về sức mạnh và sứ mệnh của bản thân Họ cho thấy sựcao quý và khác biệt khi mình được chọn làm thầy:
Điều này là thống nhất với nhiều tài liệu về Then và ngườilàm then Theo đa số thì thuật ngữ Then bắt nguồn từ âm Hán
Trang 6- Việt: Thiên (天) , tức Then được biến âm từ Thiên có nghĩa
là trời, mường Then chính là mường Trời/ Thiên đình Bởitheo quan niệm của người Tày, thế giới có 3 tầng: Thiên đình
- Trần gian - Âm phủ và mường Trời hay Thiên đình là nơi
mà họ vô cùng tôn kính, đó là nơi trú ngụ của các thần linh,những người thuộc thế giới siêu nhiên, những người có khảnăng nghe được lời cầu nguyện của họ, ban cho họ sức khỏe,
tài lộc, may mắn, Có lẽ vậy mà Then trong quan niệm của người Tày Nùng để chỉ một thế giới thần thánh, siêu linh Và cách hiểu thứ hai cho rằng Then nghĩa là Tiên - Sliên Tiên là những người ở trên mường Trời - lực lượng siêu nhiên, thần thánh, những người giữ vai trò thông linh giữa thế giới trần tục với các thần linh Có thể nói: Then là một loại hình tín ngƣỡng dân gian của người Tày thuộc dòng Shaman giáo mà
ở đó những người làm Then thông qua hiện tượng xuất hồn
và nhập hồn để giao tiếp với thế giới thần linh, cầu mong thần linh đáp ứng nguyện vọng của mình và những người tham dự lễ Trong cuộc sống thường ngày, Then là một thành
viên của cộng đồng làng bản; nhưng Then là một thành viênđặc biệt Then không chỉ có vai trò của người bảo trợ tinhthần thông thường như Mo, Tào mà Then còn là một nghệ sĩ
Trang 7dân gian thực thụ Họ biết đàn, biết hát và múa những điệumúa, bài ca nghi lễ của dân tộc Tuy nhiên thông thường khi
được hỏi các thầy Then thường nói rằng “họ chỉ có thể đàn hát xóc nhạc khi đã xin được phép của thần linh Khi mặc áo đội mũ trước khói hương nghi ngút họ có thể đàn hát điêu luyện thành thạo khúc hát then rất dài, nhưng nếu ra khỏi cuộc then ấy họ không thể nhớ được lời then Tức là khi làm then họ đã tách mình ra khỏi thế giới đời thường nhập vào thế giới huyền bí.” (theo Nguyễn Thị Yên, Then Tày, NXB
Văn hóa Dân tộc, H2010) Xuất phát từ quan niệm trên màngay từ khi dẫn đoàn quân binh ra khỏi làng bản - cõi đất,việc đầu tiên khi vào cửa trời của thầy then chính là chứngminh tư cách làm thầy của bản thân mình Khi dẫn dắt đoàn
quân, có lúc thầy gọi bảo quân binh (Rừng ve sầu), lúc lại là người lo đường đón lễ giao tiếp với người trời (Lễ cửa trời), lúc đường xa mệt mơi, then động viên quân lính (Lễ lên đường) Khi gặp thế lực ngăn cản, người thầy làm then như
một võ tướng xung trận, tiêu diệt ma quỷ chắn lối cản đường:
Ma nào lên theo ngựa binh giống
Đây không phải là chi tiết thừa, mà là minh chứng cần thiếtcho sức mạnh của người làm lễ, củng cố niềm tin của người
Trang 8dân - những người đang cầu xin sự giúp đỡ của Then Đặcbiệt, ở bước thứ 21: Nắng hạn, người làm then chứng minhvai trò đặc biệt của mình trong cuộc sống cộng đồng: cầumưa Chắc chắn một nền nông nghiệp lúc nước lâu đời củangười Tày ảnh hưởng lớn đến nghi thức lễ này Mặc dù đâychỉ là một nghi lễ cầu an giải hạn cho một đứa trẻ mới chàođời, tuy nhiên khát khao mưa thuận gió hòa của những cư dânnông nghiệp luôn luôn thường trực, chính vì vậy, khi Then tổchức một nghi lễ kết nối với cõi Tời, thì khát khao ấy lại đượcbộc lộ ra.
Lúc này, thầy then chính là người mang lại niềm vui, sự no ấmcho bản làng
Như vậy, lời ca trong nghi lễ then đầy tháng có một sựthống nhất trong đa dạng Đó là truyện lồng trong chuyện Sựđan xen chuyện cầu an cho đứa trẻ, chuyện lên trời của mộtđoàn quan binh với tài năng của người làm thầy
Không những thế, buổi diễn xướng còn được kéo dài ra bởicác lời ca mở rộng ngoại vị Nếu ví các chặng đường lên cõitrời như những thanh thang dọc thì những lời ca ngợi ca sứcmạnh của then, vai trò của then chính là những thanh ngangcài chắc các bước đường tiến quân lên đích thượng thiên cao
Trang 9vọi, và phần mở rộng ngoại vi như những hoa lá vấn vít haibên thang làm đẹp chính phần mở rộng này lại là phần làmcho người nghe thấy thú vị Họ gặp lại chính mình trong cácquang cảnh đường lên Trời và cõi Trời Sự dung dị của núirừng được mang vào lời ca là những rừng vầu tre nứa nơingười dân lấy cây về vót đũa, rừng ve sầu dìu dặt cửa trời oainghiêm nhưng cảnh đánh còn thì sôi nổi Nét đẹp văn hóangày tết thoáng hiện ra cho thấy cõi trời đầy niềm vui:
-Thế giới hiện thực trong sinh hoạt của người Tày
Then ra đời từ xa xưa và được truyền từ đời này sang đời kháctrong các làng bản của người Tày Chính vì thế mà nó chứađựng cuộc sống sinh hoạt và thế giới hiện thực của người Tàytrong quá khứ Nó tái hiện bức tranh sinh hoạt thuần nông củamột cộng đồng dân cư nông nghiệp và đồng hiện lên bứctranh giai tầng xã hội mà cộng đồng người Tày đã trải qua.Trong Lễ đầy tháng, tuy là những lời ca giải hạn nối số, tạ ơn
mụ sinh cho một đứa trẻ mới chào đời, nhưng ta thấy hiện lên
đủ mọi kiếp người với đủ mọi không gian thân thuộc gần gũi.Lời Then hát, then kể có thể dưới danh nghĩa về mường trời,mường địa phủ… nhưng không ai trong cộng đồng người Tàynghe được lời then lại không hình dung ra bức tranh tâm linh
Trang 10được vẽ ra ấy Bởi lẽ hiện thực sống động và chân thực củachính những cuộc đời trần thế là chất liệu để xây nên cuộchành trình mà then dẫn dắt
Cộng đồng dân tộc Tày là nhóm dân cư bản địa sinh sống lâuđời trên mảnh đất Bách Việt Họ chính là một trong nhữngchủ nhân ban đầu của nên văn minh Lạc Việt cổ Phần đôngngười Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp NgườiTày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủloại cây trồng như lúa, ngô, khoai và rau quả mùa nào thức
đó Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối Tênbản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông.Trong buổi cúng tế ta dễ thấy sự chuẩn bị dung dị với những
sản vật nông nghiệp vốn có: Ba ống vừng năm ống đỗ, chồi chuối non trường sinh…
Thế giới các loài cây hiện ra từ quen thuộc nơi vườn nhà nhưnhãn, ổi, mía, bưởi đến những loài cây gỗ quý trong rừng: Trên mường trời dù có đẹp lộng lẫy thì các loài cây kì diệucũng không xuất hiện nhiều, thay vào đó là các loại cây dân
dã nơi đầu làng cuối bản Dù là mường trời, người sống trên
đó vẫn có rừng tre nứa vót đũa Ngọn đèo giữa lưng chừngđường lên cửa trời mang tên đèo Cốc Mĩ thực chất xuất phát
Trang 11từ tên gọi cốc mị tức gốc cây mít Cách đặt tên địa danh gắn
liền với đặc điểm địa chất, địa hình đã đi sâu vào trong ý thứccủa người Tày Họ mang tư duy đơn giản ấy vào trong thếgiới mà mính vẽ lên Và ở mường trời, cây đa quen thuộc nơiđầu bản bỗng trở nên kì vĩ về tầm vóc:
Cây đa nàng trăng của mường trời đã hoàn toàn mang tầm vóc
vũ trụ Lúc này nghệ nhân dân gian đã làm cho sự vật quenthuộc từ quen hóa lạ Người nghe biết đấy mà lạ đấy nên họvẫn say sưa đi theo lời hát
Ngay cả việc làm mang tính biểu tượng thiêng liêng là nốithêm số mệnh cho đứa trẻ, người Tày cũng chọn cây chuốitrượng trưng Rõ ràng đây là một loài cây vô cùng dễ kiếm vàthân thuộc nơi vườn nhà
Thế giới các loại con vật cũng rất đa dạng Từ loài vật nuôitrong sân vườn: gà, vịt, lợn… cho đến các loại thủy sản dướisông:
Đặc biệt còn có sự xuất hiện của một loài vật có vai trò đặcbiệt trong đời sống tam linh của người Tày: thuồng luồng
Tua luồng là một sản phẩm của trí tưởng tượng của người Tày xưa Có một số quan niệm đồng nhất luồng - cá sấu - rồng.
Tuy nhiên theo phần lớn các nghệ nhân then ở Tràng Định,
Trang 12luồng là loài vật giống như rắn có màu sống ở dưới nước.
Loài vật này có sức mạnh, phải được thày cao tay trấn áp
Luồng luông luồng cúa thầy Trong bước Khao mạ mà bất
cứ buổi lễ nào cũng phải trải qua thì người thầy không phảichỉ cần học điểm binh tuyển quân, kén ngựa khỏe mà còn cần
chế ngự được luồng lớn Ngày nay ven sông ở nhiều làng bản
Kì Cùng ở Tràng Định vẫn còn những đền, miếu thờ thầnthuồng luồng Điều này chắc hẳn là do đặc điểm địa lí nhiềusông suối và cuộc sống sinh hoạt nhiều gắn bó với sông nướccủa đồng bào Tày nơi này từ xa xưa
Chứa đựng những sự vật quen thuộc là không gian quenthuộc Lời ca vẽ ra con đường trước làng sau bản tiến trìnhcác cửa các bước của buổi lễ là hành trình dẫn dắt người nghe
đi trong cõi tâm linh từ ngôi nhà của mình lên mường trời vàrồi lại quay trở về nhà mình Vì mỗi công đoạn lại chia thànhcác cửa riêng rõ ràng nên đây là một hành trình hết sức logic.Không những không thể đảo ngược các bước mà còn khôngthể loại bỏ Tùy theo số mệnh của đứa trẻ người hành lễ sẽquyết định số cửa và hành trình cụ thể Nhưng bắt buộc cảthầy và người cần làm lễ phải đi từ cửa ngôi nhà mình ở, đếnThổ công nhà mình Sau đó họ lên đường theo con đường sau
Trang 13bản Làng của người Tày ở Thất Khê thường nhìn ra trướcmặt sông suối, và phía sau là rừng nơi có nương rẫy, đi nữa làrừng sâu Chắc hẳn điều này khơi gợi ra rất nhiều sự huyền bí
về một thế giới ít người đặt chân tới, cơ sở của việc thêu dệt
về một thế giới khác không có thật Nơi cửa mường trời cũngbắt đầu bằng cửa Thổ công (không khác nào ngôi nhà của mộtngười trần thế với bàn thờ thổ công ở góc vườn nhà) Cảnhvật cũng tương tự nơi góc vườn hạ giới:
Hoa bưởi cạnh ao, hoa slây cạnh vách
Hoa bưởi nở sớm, hoa đại ngàn sơn lâm
Tiếp đến là rừng vầu vót đũa, rừng ve sầu, rừng lá dong… Cảmột buổi đi rừng của đồng bào như được tái hiện lại đầy đủ.Ngay giữa mường trời là chợ Tam quang với đường lỗi ngang
dọc, hàng hóa người đi nhộn nhịp:
Quan then sai binh lên chợ tam quang
Tiến quân để lễ lên chợ tam phù
Để lễ vào chợ tìm hồn
Để lễ vào tam phù xét vía
Con Hoa ba tên bốn áo sợ ra đồng với quạ, sợ ra đồng cùng gió
Đường nối đường giao nhau, hàng vải nối lại
Trang 14Hàng tại hàng tơ hàng cưa hàng lược
Hàng đánh cờ dáo dác, hàng đánh bạc lao xao
Hàng vịt rồi hàng vải hàng lụa hàng tơ
Sự nhộn nhịp cho thấy phần nào bức tranh văn hóa chợ củađồng bào vùng cao Nhất là đối chiếu lại lịch sử huyện TràngĐịnh - một mảnh đất phát triển lâu đời với sự sầm uất của chợHáng Chu, nơi giao thương trên bến dưới thuyền một thời thìhình ảnh của phiên chợ với các hàng quán san sát không phảichỉ là hình ảnh của nơi thượng giới mà chính là xuất phát từbức tranh cuộc sống thật Tuy thế, để phù hợp với không khítrang trọng, linh thiêng, lời ca không chỉ vẽ ra bức tranh hiệnthực mà còn có đan cài những không gian có phần huyền bí,
có phần siêu thực Con đường lên mường trời và ở mường trờivẫn có những đặc trưng riêng về không gian để không lẫn vớikhông gian cuộc sống trần tục
Chặng này qua nơi ngày ba nghìn người đẻ
Ngày năm trăm người xuống đất không nuôi
Người giàu có xe hoa đưa đón
Người khổ thoi thóp lên không
Ở giữa mường trời mưa nắng không còn phân biệt
Nơi này ông trời đánh trống lớn liền mưa
Trang 15Mẹ trời đánh trống quân liền nắng
Đường mường ăn thóc khô ngoài mưa
Đường mường ăn thóc bay ngoài nắng.
Như đã liệt kê ở trên, cây đa nơi mặt trăng cũng vẽ lại để trởnên kì vĩ và vượt ngoài sức tưởng tượng của người phàm trần
Tuy có các yếu tố tưởng tượng nhưng không giancuãng như các sự vật trong lời ca nghi lễ đầy tháng phần lớn
là các yếu tố hiện thực cuộc sống gần gũi với tư duy thuần
nông của đồng bào Tày miền núi Then là sự lộn ngược giữa cõi âm và cõi dương, cái xã hội trong then chính là một phiên bản của xã hội thực, xã hội của người Tày Nùng xa xưa Các
yếu tố tưởng tượng thần kì trong lời ca là cần thiết bởi lẽ thiếu
nó, sự dẫn dắt về mặt tâm linh của lời ca sẽ không đạt đượchiệu quả như ý muốn Song trên hết, phản ánh hiện thực lại làmột nhu cầu to lớn hơn của người sáng tạo dân gian gửi gắmqua lời ca điệu nhạc Lên trời hay về trần thế, họ vẫn gắn bóvới cuộc sống và viết lời ca gửi gắm nỗi niềm
Đi sâu vào nội dung của lời ca chúng tôi thấy rất nhiều chấtliệu phản ánh thế giới hiện thực khắc nghiệt của người Tàyxưa được ghi lại Chưa xét đến sự phân chia các tầng thế giớitrong tâm linh, lời ca chỉ ra ngay sự phân chia giai cấp trong
Trang 16cuộc sống nơi làng bản Đó là hai thế giới rõ ràng của người
giàu - người nghèo, của quan lớn slay luông với những người
dân cố cùng Cuộc sống của người giàu được nhắc đến quađôi nét phác họa rải rác trong lời ca Tuy không nhiều nhữngcũng đủ thấy hố sâu ngăn cách giữa hai giai tầng xã hội:
Người giàu có xe hoa đưa đón
Người khổ thoi thóp lên không
Nhiều nhất trong lời ca là bức tranh cuộc sống đầy rẫy bất trắc
đối với người nghèo Khái cây cao rào cây lớn (Khái mạy slung pung mạy cải) thực chất là một đoạn thơ miêu tả về một
đoạn hành trình qua rừng ma trẻ nhỏ Khá phổ biến trong cáclàng bản người Tày là sự xác định những khu rừng nhỏ saulàng lại là nơi chon cất những đứa trẻ có sinh không dưỡng.Thậm chí số lượng đó nhiều đến mức họ không thực hiệnđược nghi thức chôn cất và treo lên cành cây
Chặng này qua nơi ngày ba nghìn người đẻ
Ngày năm trăm người xuống đất không nuôi
Điều này thực sự trở thành một hình ảnh ám ảnh trong thực tế
và đau đáu đi vào lời ca như một chặng đường ai oán
Trong cuộc sống còn nhiều khó khăn thiếu thốn thì cái chếtcủa người nghèo khó trở nên phổ biến Tiếng hát của then về
Trang 17hồn ma ác nơi rừng sâu không đáng sợ mà còn gợi ra baothương cảm về những kiếp người ngắn ngủi:
Chuyển lễ ra đồng cửa người chết trẻ chết non
Chuyển lễ ra cửa người chết oan ngoài đường
Người chết dao giết
Người rơi ngựa
Người chết nơi mang nặng đẻ đau
Chết bụng đói không có chỗ ăn
Chết nơi đầu đường cuối bản
Sắp lễ ra cầu an
Sắp đám đi đồng hạn
Đoạn thơ ngắn như một tiểu Văn chiêu hồn với những cái chết
tức tưởi, bất đắc kì tử Kẻ đầu xanh, kẻ nơi đầu đường xó chợ,người chết trận, người sản phụ chết cả mẹ lẫn con, người chếtđói… Cuộc sống với biết bao nguy hiểm rình rập khiến họphải đối diện với các chết dường như bất cứ lúc nào và ở bất
kì đâu, bất kì hoàn cảnh nào
Người chết đã thế, người sống cũng biết bao nhiêu gánh nặng
Đó là nạn cống nạp Cảnh quan then sai quân vào rừng bắthươu nai, ra sông bắt cá, chặt cây làm cầu… là hình ảnh củađoàn người thấp cổ bé họng bị biến thành sai nha sai dịch Họ
Trang 18phải đối mặt với rừng thiêng nước độc, thú dữ và đủ nhữnggian truân.
Tiến quân lính gánh nào nặng không chia
Gánh nào nhiều không nhẹ
Quang nào mục đổi đi
Tiến quân lính kén nước chảy không gánh
Con đường phục dịch không chỉ là mệt mà còn là đói là khátđến kiệt sức trong những hành trình tưởng bất tận:
Khái khác nắng sẽ lắm khau hài nắng quá
Lên khau khác không có cây gỗ nào được che râm
Lên khau hài không có cây móc nào được che nắng
Đễ lễ lên khái này con ngựa chết đói ti sữa
Để đám lên khung này con người chết khát nước
Cùng cực là thế, họ cống nạp tiền của, sức lực cho ai? Tronglời ca đó là Chúa, là quan lớn slay luông… Những kẻ ngồitrên ngồi chốc hưởng thụ sức thành quả sức lao động củangười dân lao động:
Nhanh nhanh về đến quán quan sao
Về đến nơi quan hạn
Rủ nhau đến ngồi mâm
Rủ nhau đến nhắm rượu
Trang 19Hai ba người ngồi cùng nhau
Bốn năm người thành mâm
Cầm đầu thủ chai trái cầm chén
Trái cầm ca phải cầm đũa hoa
Quan sao quan hạn rủ nhau vào cùng nói
Hộ nhau vào ăn
Ăn với trăm chúa nai
Ăn với giai hương ăn sỉu
Ăn với hoa nhiều nhà
Ăn với hương nhiều máng
Mở cổ mình sẽ dốc
Mở bụng cơm sẽ xuống
Rủ nhau mút nước châm xuống tẩu
Rủ nhau mút nước rượu lẽ trên
Chỗ nào tốt chỗ nào được ăn nhiều thì theo
Vừa ăn vừa thơm nức
Vừa nuốt vừa thơm hương
Châm nhang thơm rượu thơm ngát
Cảnh ăn uống linh đình tấp nập ấy của các đấng bề trên thậtđối lập hẳn với sự đói khát của đoàn quân phục vụ thấp kém.Không những hưởng thụ cao, lời ca còn phơi bày tệ ăn hối lộ
Trang 20nơi cửa quan cửa quyền Thầy then muốn qua cửa đều phảibiếu xén lót đường:
Cửa nhà con Hoa không thiếu đám
Cửa nhà con hương không thiếu lễ
Lễ con Hoa này đến Nam Tào giải xung
Đám con hương này đến Nam Tào đồng hạn
Cửa này thiếu lễ không được hỏi thiếu đám không được đòi
Đỉnh cao cuộc sống lầm than của người Tày xưa được
thể hiện tập trung trong đoạn trích khảm hải Nhắc đến khảm hải là nhắc đến truyện thơ nôm cổ gần 1000 câu của người Tày về cuộc sống bĩ cực của người phu chèo đò Khảm hải
nằm rải rác trong những lời ca nghi lễ của nghệ nhân then.Khi thực hiện nghi lễ đầy tháng cho trẻ, nếu thầy then xemđứa trẻ có mệnh Thủy và phải trả nợ nước thì sẽ có diễn
xướng khảm hải với quy mô là một đoạn trích nhỏ Lời ca dưới dạng đối thoại của Pò sluông và mè sluông phác họa sự
đen tối trong bức tranh cống nạp phục dịch phu phen Họ bị
ép buộc phải tham gia vào công việc nhà quan
Không đi nhà quan về gọi
Không đi nhà quan về đòi
Trang 21Bị dồn đến đường cùng, nên dù ý thức được khi tham gia làngu ngốc thì họ vẫn phải bỏ việc nhà đi lo việc quan Nămnăm tháng tháng phục dịch không ngơi, không có đường về
Bươn ất cáp bươn lạp mùa công
Xí xí pò sluông pây tồng quân biên hải
Pây khảm lệ hử slay luông
Lời ca khắc họa sự cô đơn lẻ loi đầy khắc khoải của ngườiphụ nữ chờ đợi ở nhà với người con nhỏ Đè lên vai ngườiphụ nữ là gánh nặng lao động và gánh nặng tinh thần bởi nỗinhớ thương chồng chất qua bao mùa đứng đợi chồng nơi bếnsông bãi cát:
Vẻng mẹ lục dú biến cát slổng mải một mình
Vẻng mẹ lục dú bên sông hại đát
Mẻ sluông chứ pò sluông mạ mại trang slim
Lúc nả bố hăn ngàu
Không lung bố hăn boỏng
Xí xí chứ đưng tọng đưng slim
Mong mại mí hăn nả thắc vằn
Slắng pò sluông cạ câu tịa lục ngòi vài bên sông mại mại
Vất vả lai pò sluông mí mà sỏi đảy thắc vằn
Trang 22Lời ca còn ai oán bởi lời trách móc bố mẹ của người phụ nữkhi gả nhầm chồng bán nhầm nơi Đối tượng của sự than khócthực chất hướng về người chồng và sự lên án công việc một đikhông trở lại Bao lời hứa hẹn suông đã chia lìa lứa đôi, phá
vỡ hạnh phúc gia đình Người chồng trong mong ước nhỏnhoi đến tội nghiệp khi đi chèo đò cho quan lớn slay luông:
Pò sluông cứ cạ chở lệ hử quan cải slay luông quá hải
Pía công lồng lót khỏi mà bên sông bên thí
Khỏi mì kẹo quà hử lục eng
Nằng mì phắc pẻng hử mẻ sluông
Thực chất đó mới chỉ là ước mơ Mơ ước ấy xuất phát từ tìnhyêu thương vợ con mộc mạc, chân thành Ta hiểu tình cảnhcủa người chèo đò ở đây không phải là sự tự nguyện mà là sự
ép uổng Còn thực tế là sự nhanh nhanh chóng chóng tay chèotay lái hầu quan và ngày về thì mãi mờ mịt Sự hi sinh củangười phu chèo đò có thể mãi mãi trở thành vô ích dưới sựbóc lột và xảo trá vô độ của những kẻ giàu
Chỉ là lời ca trong lễ then đầy tháng, hiện thực xã hộitrong cuộc sống của người Tày trong quá khứ vẫn hiện lênđầy đầy và nhuốm sắc màu bi ai Thông qua thầy Then, cõitrời được cụ thể hoá, hiện thực hoá như là một hình ảnh lý
Trang 23tưởng của nhân gian Hay nói cách khác, Then đã nhân hoácõi trời, ngoài cung phủ nguy nga tráng lệ ra, cõi trời củaThen cũng rất gần gũi vói đời thường: có rừng rú, biển cả, córuộng vườn, chợ búa, v.v,., Điều đỏ phàn ánh sự nhận thứcmột cách hồn nhiên thô mộc trong thế giới quan của ngườiTày, Nùng.
-.Thế giới tâm linh của người Tày Tràng Định trong lời then đầy tháng
Thế giới đa thần
Thế giới tâm linh của người Tày, người Nùng là thế giới đathần, nó phản ánh sự giao lưu hội nhập giữa yếu tố tôn giáotín ngưỡng bản địa với các tín ngưỡng du nhập Trước hếtThen là sự sinh động hoá quan niệm về thế giới ba tầng củangười Tày, Nùng Thông qua nhãn quan của những người làmnghề Then, thế giới ba tầng hiện lên rất rành mạch bao gồm cõitrời, cõi đẩt và cõi nhân gian mà ở đó với tư cách là người thôngquan được với thần linh, người làm Then đã đi lại được mộtcách dễ dàng từ cõi này sang cõi khác
Trong Lễ đầy tháng cho trẻ với tư cách là một nghi lễ đươngnhiên xuất hiện hệ thống các thần linh và các thần hồn Chúng
Trang 24tôi tạm chia những đối tượng mang linh hồn không phải conngười trong lời ca thành hai thái cực : Thiện và Ác
Quan hạn
Thổ công, thành hoàng thổ địa, Nàng Cháo một bà hai ông là
hệ thống thần bếp Không chỉ là cai quản ngôi bếp trong nhà,thần bếp trong quan niệm người Tày cũng là thành hoàng, thổđịa, những vị thần cai quản ngôi nhà Nàng Cháo một bà hai
ông cũng xuất phát từ tích truyện Nàng Cháo gần giống với truyện Truyện ba ông đầu rau hay Sự tích vua bếp của dân tộc
Trang 25Việt Dù làm gì thì bước đầu, then cũng phải bắt đầu từ củathổ công, xin phép được vị thần này chấp nhận lên đường:
Chuyển lễ vào quản đất Thổ Công
Chuyển đám sẽ vào ông Thành Hoàng Thổ Địa
Miếu là nơi thờ thổ công/ thần đất có nhiệm vụ che chở, bảo
vệ mọi người, trong dân gian thổ công là người giúp đỡ và cócông lao xây dựng làng bản Vào mùa xuân, người Tày mởhội Lồng tồng tế thần nông, cầu cúng mùa màng, thổ côngbiến thành vị thần bảo trợ cho việc làm ăn phát đạt, thuận lợi.Còn Thành hoàng là vị thần được thờ trong đình, cùng thổcông trong coi canh tác, chăn nuôi, sự an khang của cả mường(nhiều bản) Về chức năng, thành hoàng cai quản địa bàn rộnghơn thổ công Xét theo sử- văn hoá có thể nhận thấy thànhhoàng bắt nguồn từ nguyên gốc vị thần bản mệnh bản mường(phi bản, phi mường), sau đó chịu ảnh hưởng thờ thành hoàngcủa người Kinh (thời phong kiến tự chủ các triều đình phongthần thành hoàng làng) đã tác động, biến cải tên thần bản thầnmường thành thành hoàng
Lên đến mường Trời, nơi đầu tiên đoàn quan binh bắt buộcphải qua cũng là cửa Thổ công nhà trời Nếu như người Việt
Trang 26quen thuộc với quan niệm Trần sao âm vậy thì có lẽ người
Tày cũng quen với nếp nghĩ “trần sao trời vậy” như thế
Trong văn hoá tín ngưỡng người Tày, quan trọng nhất là tụcthờ cúng tổ tiên, đây là hình thức cúng phổ biến trong tất cảcác nhóm cộng đồng Quan niệm ông bà, cha mẹ sau khi chếtnhưng linh hồn/ phi vẫn tồn tại, con cháu phải lập bàn thờcúng bái hàng năm Đây là tục xuất hiện vào giai đoạn thị tộcphát triển, sự ổn định và củng cố vững chắc mối quan hệ giữacác nhóm cá nhân nảy sinh yêu cầu bảo vệ dòng họ, thị tộc.Tục thờ cúng tổ tiên là lớp tín ngưỡng bản địa được bồi đắpliên tục qua từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau trong đời sốngtâm linh người Tày Điển hình là hệ tư tưởng tam giáo (Phật,Đạo, Nho) đã gia cố chế độ tông tộc phụ quyền, tiêu biểu là vịthế bàn thờ luôn được đặt nơi tôn nghiêm nhất trong nhà.Ngoài ra trong gia đình người hát Then có thêm bàn thờ tổ sưnghề cúng bái (bát hương để cao hơn bát hương thờ tổ tiên),được trang hoàng lộng lẫy bằng những tua cắt hình chim énmàu sắc sặc sỡ với chú niệm dùng vào việc truyền tin đưa hồn
vía lên chơi chợ trời (trong lễ hỉn én) Trong lời ca đầy tháng
càng cần có sự chứng kiến và thừa nhận của tổ tiên tổ khảo.Bởi đứa trẻ cần nhận họ, trở thành một thành viên trong gia
Trang 27đình Khi đã được tổ tiên chấp nhận thì sẽ được ban lọc cầuyên cầu mạnh:
Tổ già tổ trẻ thả vế về đến
Tổ thương thả gốc thêm hồn về cho
Vế thêm vế được khỏe
Hồn thêm hồn được mạnh
Bên cạnh tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ Mẫu cũng rất phát triển,khởi phát từ lối tư duy nông nghiệp cầu mong vạn vật sinh sôinảy nở, thờ Mẫu gắn với tín ngưỡng phồn thực, biểu hiện tínhduy sinh trong nghi lễ Then Truyền thuyết về Pú Lương
Quân trên Cao Bằng với sự tích vợ chồng khổng lồ Báo Luông- Trai to và Sao Cải- Gái lớn là những người đầu tiên
làm nghề nông Hình tượng Sao Cải luôn nổi bật, nhấn mạnhvào vai trò người mẹ/ nữ thần nông nghiệp giống như Âu Cơcủa người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ và Pô-na-gar củangười Chăm vùng Trung, Nam Trung Bộ Từ tâm thức tính
nữ, người Tày tạo nên Nàng Trăng với lễ hội Nàng Hai tổchức hàng năm tiêu biểu cho việc tôn thờ Mẹ lớn- Sao Cải.Trong các gia đình Tày việc thờ Mẻ Bjoóc- Mẹ Hoa/ HoaVương Thánh Mẫu giống như Bà Mụ của người Việt, đây là
Trang 28vị thần cai quản việc sinh nở Mẻ Bioóc phân định ra con trai
sinh ra từ cây Hoa vàng và Hoa bạc tạo ra con gái, đồng thời
bảo trợ tình yêu, sức khoẻ, cuộc sống con người Bát hương
Mẻ Bioóc đặt trang trọng ngang hàng với tổ tiên trên bàn thờ.Trong lời ca đầy tháng cũng khẳng định điều này rất nhiềulần:
Lễ lớn lên khái trời trả ơn
Lễ lớn về trả ơn giả khoản
Giả khoản mụ sinh hoa bạc hoa vàng mụ trị
Qua một số yếu tố thờ cúng chính đã nêu ở trên, nói chungngười Tày đã xây dựng nên hệ tín ngưỡng đa dạng với tínniệm đa vật linh Quá trình dung hợp với người Kinh, ngườiHán tạo nên một phức hợp phong tục, lễ nghi được Then quytập trong nhiều hình thức nghi lễ, nhưng trước hết tín ngưỡngngười Tày có những đặc điểm sau:
- Thờ vật tổ (tôtem giáo): là tục ra đời sớm nhất, thuộc dạngtín ngưỡng sơ khai, xuất hiện từ thời kỳ công xã thị tộc
- Gắn với xã hội thuần nông: Không chỉ là những lễ hội vànghi lễ theo chu kì nông nghiệp, mà tính thuần nông thể hiện
ở các thức lễ được chuẩn bị để cúng tế
Trang 29- Chịu ảnh hưởng của tam giáo: những diễn biến tác độngcủa Phật, Đạo, Nho tạo ảnh hưởng sâu sắc vào tín ngưỡngTày Mặc dù không du nhập nguyên xi nhưng về cơ bản tamgiáo đã thẩm thấu và phủ lên tín ngưỡng bản địa một lớp vănhoá Tuỳ theo đặc điểm, hoàn cảnh, thời gian những ảnhhưởng này không thuần nhất mà mang tính pha tạp từ nhiềunguồn, qua nhiều tầng bậc khác nhau Một mặt tam giáo vừanâng cao, cố định hoá các hình thức nghi lễ, cầu cúng, mặtkhác cũng làm mai một, biến dạng tín ngưỡng người Tày.
Quan niệm về con người
Một trong những quan niệm nền móng để xây dựng thế giớitâm linh về then là quan niệm về con người Người Tày chorằng con người có hai phần thể xác và linh hồn Hồn còn gọi
là khoăn trú ngụ cơ thể con người Con gái 9 khoăn, con trai 7khoăn Trong quá trình hành lễ, rất nhiều lần thầy then phảitiến hành tìm vía tìm hồn của đứa trẻ cũng như những ngườitham gia buổi lễ Bởi lẽ người Tày cho rằng khoăn không phải
là cố định, nó trú ngụ ở nhiều phần trong cơ thể, và nếu làm
nó giận hay có việc gì gây hoảng sợ, khoăn có thể bỏ đi
Khoăn nọi vía tắm (hồn ít vía thấp) là nỗi lo sợ lớn của người
Tày bởi lúc đó cơ thể sẽ yếu ớt, con người khó chống cự lại
Trang 30các thế lực đen tối bên ngoài, thậm chí mất mạng Nên để làmđược việc gì thành công, việc đầu tiên là đủ vía đủ hồn Cầuxin cho đứa trẻ mạnh khỏe cũng là cầu xin được thêm hồnthêm vía :
Hồn ít vía thấp đi xuống đồng quay về
Kêu chim đồng quản lại
Vía nhất đến nhà như cũ
Không cho quỷ ác nào vào
Không cho quỷ già nào vào bắt
Tổ già tổ trẻ thả vế về đến
Tổ thương thả gốc thêm hồn về cho
Vế thêm vế được khỏe
Hồn thêm hồn được mạnh
Chính vì thế khi làm lễ đầy tháng, thầy then phải dẫncon hương con hoa tới của Nam Tào Vai trò của Nam Tàotrong tâm linh người Tày chính là vị thần giữ trong tay quyềnsống của con người Vận mệnh của đứa trẻ ra sao phải phụthuộc vào cuốn sổ của Nam Tào
Hầu hạ Nam Tào ra chữ sách ta ra dọn chữ nghĩa ra
Con Hoa có sao hạn
Nam Tào cắt hạn nhất hạn nhì
Trang 31Hạn năm hạn tháng mọi tháng đêm ngày
Cắt hạn bay xuống sông
Cắt hạn Trời không xuống đến
Cắt hạn nhất hạn nhì hạn năm hạn tháng
Đặc biệt quan trọng là chiếc cầu số Chiếc cầu đóng vai trònối giữa đứa trẻ với Mẻ Bioóc mẻ Va, và cũng là chiếc cầu sốmệnh Vì thế cây cầu phải được đóng cho chắc bằng nhữngloài cây quý hiếm
Đóng đầu cầu của con mẹ vào vững như núi đá
Đóng cuối cầu của con mẹ vào dày như bó đũa
Gió trời về không đổ
Gió trời lắc không rung
Bên nào muốn đu khèn không nổi
Bên nào muốn táy máy không xong
Con người được quan tâm nhất trong toàn bộ lời ca là đứa trẻđược tổ chức đầy tháng Thống nhất với các tài liệu về ThenTày Nùng khác, đứa trẻ nhỏ trong lời ca then Tày Tràng Định
cũng được gọi là lục bioóc tức là con Hoa Đây là tên gọi
nâng niu đầy yêu thương xuất phát từ tâm hồn phong phúnhạy cảm của người Tày Đứa trẻ là tinh túy nơi mường trời
được các vị thần phái xuống trần gian Lục bioóc sinh ra là để
Trang 32cha thương mẹ quý Con chào đời trong nỗi vui mừng khôngxiết của họ hàng hai bên:
Ông bà mới chia hoa xuống cho
Sinh hoa xuống cho
Chia hoa nam, hoa nữ, hoa sự khôn ngoan
Hôm nay đã sinh được đứa cháu bé ba mươi ngày về rồi
Sinh được ba mươi ngày về đủ.
Cũng vì con mà họ hàng nội ngoại chú bác kén ngày tốt ngàylành mở lễ dâng sao giải hạn, thêm cầu nối số đưa con trởthành thành viên chính thức trong gia đình Ngoài việc giảitỏa những quan niệm tâm linh, thì sự chuẩn bị công phu, tốn
kém lễ slam sleng khả, lễ nả sleng tơ phải xuất phát từ nỗi
vui mừng, hân hoan khi có được thành viên mới Dù lớp vỏ làmột cuộc vân du lên mường trời chuyển lễ qua bao nhiêu cửa,thì xuyên suốt hành trình lời nguyện cầu cho đứa trẻ vẫn vanglên Trong 30 chặng của buổi lễ đầy tháng có 9 lần người thầythen trực tiếp đọc lời cầu khẩn về đứa trẻ tới các đấng thầnlinh và tổ tiên Theo đó, lí giải lí do của buổi lễ chính là dochính đứa trẻ vừa chào đời nhớ ơn tạo tác:
Hoa này mới chia xuống, hoa này mới tiễn cho
Sinh xuống trần gian ba mươi ngày bế bồng
Trang 33Con Hoa được ăn không quên đũa
Con hương được ở không quên công
Chính vì thế việc đầu tiên cần làm là tạ ơn và trả lễ mụ sinh:
Sắp lễ lên trước cửa mụ sinh
Sắp đám lên trước mặt bạc vàng mụ trị
Con mẹ sinh xuống trần gian thiếu nợ mụ sinh,
thiếu công trình mụ trị Con mẹ sinh xuống dương gian còn sợ phạm các vị quan
Con mẹ sinh xuống dương gian được ăn không quên đũa,
được ở không quên công Kén ngày tách chọn ngày tốt sắp lễ lên trả công,
sắp đám lên giả khoản
Lời then đầy tháng chính là cuộc hành trình của then vượt bao
xa xôi, gian nan vất vả để gặp mẻ Va mẻ Bioóc với sứ mệnhthiêng liêng như thế Bên cạnh đó, then còn gánh thêm sứmệnh cầu an giải hạn cho đứa trẻ, mở đường cho cuộc sốngmới nơi dương gian được suôn sẻ Sự bình an của đứa trẻkhông phải là điều gì cao xa trừu tượng mà người Tày xưa lígiải sự bình an của một đứa trẻ sơ sinh rất mộc mạc dung dị
Họ nhắn gửi tâm nguyện con cháu từ bữa ăn giấc ngủ ăn ngonngủ yên:
Trang 34- Gà gáy không sợ hãi
Nửa đêm không giật mình
- Uống nước thì trôi xuống miệng
Ăn bột thì trôi xuống cổ
- Làm con hoa ăn thì ngon
Con hương ngủ thì yên
Thức dậy không giật mình
Đi ngủ không sợ hãi
Và không thể không kể đến sự cầu cạnh vào sức mạnh củathần linh để che chở cho linh hồn non nớt của một em bé mớisinh Lời ca còn mang ý nghĩa nguyện cầu ma quỷ tránh xa
đứa trẻ không mơ với ma, không đùa với quỷ Trong niềm vui
chào đón đứa trẻ mới sinh cũng vẫn lẫn những ẩn ước buồn vềnhững đứa trẻ có sinh không dưỡng Hiện thực cuộc sống đầykhó khăn không cho phép họ toàn lạc quan và hạnh phúc Lời
ca cũng thoáng vẽ lại nỗi lo sợ khi có trẻ chết yểu chết non:
Con hương họ … Hồn ít vía thấp
Sợ lên ngọn cao không đi xuống không biết đường về
Sợ xuống đất ba tầng cây cỏ
Trang 35Nơi đá phiến kẽ đá đen
Nơi âm dương mường địa phủ
Nơi âm ti khu tốc địa
Sợ hồn ít vía thấp xuống hang thuồng luồng không lại
Sợ đi nơi cung thủy tề cầm vía chèo đò không tha
Cái chết của trẻ nhỏ nhiều đến mức nhuộm thành biển vànghoa héo Cho nên lặp đi lặp lại trong lời ca là lời nhắn nhủ,cầu nguyện thiết tha được lặp đi lặp lại rất nhiều lần:
Không mơ triển ngựa về trên
Không mơ chèo thuyền sang bến
Lời ca chỉ thoáng qua những mặt u tối của cuộc sống, nó vẫnhướng đến những giá trị dài lâu Họ vẫn luôn tin đứa trẻ nào rồicũng hay ăn chóng lớn:
Lớn như vải bông, nở như vải cảo
Lớn như cây bàng cao như cây mạnh
Người Tày đã chứng tỏ họ không chỉ chăm lo hoàn thiện chođứa trẻ về mặt tinh thần, mà họ còn có ý thức rất thực tế vềnuôi dạy trẻ:
- Để con hoa ở trần gian được thông minh
Con hương ở dương gian được thông sáng
Học chữ sách lấy được bằng