1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN của GIÁO dục BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI dân tộc THIỂU số

64 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 55,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong số đó là Tuyên bố Xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993.Rất nhiều nỗ lực cải cách luật pháp đã được thực hiện trên thếgiới để giải qu

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI

DÂN TỘC THIỂU SỐ

Trang 2

Cơ sở lý luận

Những nghiên cứu ở nước ngoài

Thúc đẩy bình đẳng giới là một trong những vấn đề cótính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung vàcủa mỗi quốc gia nói riêng Trong giai đoạn hiện nay, thúc đẩybình đẳng giới là vấn đề hết sức quan trọng góp phần bảo đảm

sự phát triển bền vững của xã hội

Trên thế giới, nhiều văn bản quốc tế quan trọng trongviệc giải quyết vấn đề giới và bạo lực trên cơ sở giới đã rađời Một trong số đó là Tuyên bố Xoá bỏ bạo lực đối với phụ

nữ được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993.Rất nhiều nỗ lực cải cách luật pháp đã được thực hiện trên thếgiới để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới Cụ thể, có rấtnhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã sửa đổi hoặcban hành những quy định pháp luật về bình đẳng giới và bạo

lực đối với phụ nữ Ở Châu Mỹ, 29 quốc gia và vùng lãnh thổ

đã ban hành luật pháp về Bình đẳng giới và chống bạo lực đốivới phụ nữ, phần lớn trong giai đoạn 2000-2012 Puerto Rico

là quốc gia đầu tiên ban hành luật phòng chống bạo lực đốivới phụ nữ bằng việc thông qua đạo luật Phòng chống và can

Trang 3

thiệp đối với bạo lực gia đình năm 1989 Ở Châu Âu, trong số

17 quốc gia và vùng lãnh thổ có luật pháp về bình đẳng giới

và phòng chống bạo lực đối với phụ nữ, Ukraine là quốc giađầu tiên ban hành Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm

2001 Tây Ban Nha có Luật về Các biện pháp bảo vệ chốnglại bạo lực giới năm 2004 Châu Á có 23 quốc gia đã xâydựng và ban hành luật pháp phòng chống bạo lực đối với phụ

nữ, chủ yếu trong giai đoạn 1994-2012 và Malaysia là quốcgia đầu tiên ban hành Luật Bạo lực gia đình năm 1994 ChâuPhi có 10 quốc gia và Châu Đại Dương có 1 quốc gia đã banhành luật bình đẳng giới về chống bạo lực đối với phụ nữ.Năm 2011, Quốc hội Zambia đã thông qua Luật Chống bạolực trên cơ sở giới sau những đề xuất về luật pháp nhằm giảiquyết vấn đề giới và bạo lực trên cơ sở giới

Mặc dù nhiều quốc gia đã phê chuẩn và ký các công ướccủa Liên hợp quốc về xây dựng và thực hiện luật về bạo lựcđối với phụ nữ nhưng các bộ luật này dường như vẫn còn hạnchế về nội dung và việc thực thi vì quyền và lợi ích hợp pháp

và cơ bản của người phụ nữ

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới về ”Bình đẳng

giới và phát triển” (2012), mức độ bạo lực gia đình giữa các

Trang 4

quốc gia có những khác biệt rất lớn và không có quan hệ rõràng với thu nhập, trong khi phạm vi bạo lực có xu hướng giatăng cùng suy thoái kinh tế -xã hội, bạo lực không phân biệtranh giới Tại một số quốc gia có thu nhập trung bình, chẳnghạn như Braxin và Secbia có tới 25% phụ nữ bị bạn đời hoặcngười thân bạo lực thể chất Tại Peru, gần 50% phụ nữ là nạnnhân của bạo lực thể chất trong suốt cuộc đời Theo báo cáo ởEtiopia, 54% phụ nữ bị người thân lạm dụng thể chất hoặctình dục trong vòng 12 tháng qua.[28]

Kamla Bhasin, trong cuốn sách“Những nghiên cứu về

đặc điểm nam tính” đã cho rằng: “Tính gia trưởng là một hệ

tư tưởng xã hội mà trong đó coi đàn ông là đẳng cấp trên sovới phụ nữ, một biểu hiện cụ thể là đàn ông điều khiển nhiềuhơn ở mọi lĩnh vực và được đưa ra quyết định” Theo lẽ đó,đàn ông là người lãnh đạo gia đình, người thừa kế của giađình và người đứng tên tài sản Uy quyền của người đàn ôngtrong gia đình cho phép họ có những hành động bạo lực đốivới người vợ của mình.[14]

Nhiều nghiên cứu về giới đã chỉ ra rằng: theo cấu trúc xãhội của giới, nam giới được dạy để có nam tính: Mạnh mẽ,

uy quyền, xông xáo, độc lập, bình tĩnh, thống trị, năng động,

Trang 5

ganh đua, tự tin…Phụ nữ được dạy để có nữ tính: Mềm yếu,thụ động, ân cần, lệ thuộc, mong manh, dễ xúc động, phụctùng, nhu mì, sẵn sàng hợp tác, thiếu tự tin…Theo RobinHaarr, quan hệ giới và cấu trúc nam tính- nữ tính dựa trên

cơ sở nguyên lý tổ chức: Ưu thế của nam giới đối với phụnữ; sự thống trị của nam giới về mặt xã hội, chính trị vàkinh tế đối với phụ nữ; sự phục tùng của phụ nữ đối với namgiới trong gia đình và xã hội

Pierre Bourdieu đã viết trong cuốn “Sự thống trị của

nam giới” như sau: “Sự thống trị của nam giới neo chắc vào

vô thức của chúng ta đến mức ta không nhận thấy nó nữa vàphù hợp với những trông đợi của chúng ta đến mức ta khó màxét lại nó” Bởi lẽ, về phương diện lịch sử, sự thống trị củanam giới đã được thực hiện thường xuyên, bền bỉ kể từ khi cóđàn ông và đàn bà thông qua các thể chế gia đình, nhà Thờ,nhà trường, Nhà nước Những thể chế này được tổ chức vàđiều hoà một cách khách quan và có điểm chung giống nhau

là tác động đến các cấu trúc vô thức Có lẽ, gia đình có vai tròchính trong việc tái sản xuất nền thống trị và cách nhìn củanam giới, bởi trong gia đình con người buộc phải sớm có trảinghiệm về sự phân chia lao động theo giới Nhà Thờ thông

Trang 6

qua biểu tượng của Kinh thánh, các lễ điển đã có cái nhìn biquan về phụ nữ và về nữ tính Nhà trường là nơi truyền đạtnhững tư tưởng thống trị của nam giới đã không ngừngchuyên chở các kiến thức tư duy mẫu mực cổ xưa nhằm hạnchế quyền tự trị của phụ nữ Nhà nước có trách nhiệm quản lý

và điều chỉnh cuộc sống hàng ngày của con người có vai tròphê chuẩn và đề ra những quy định trong xã hội Trong cácyếu tố đó, gia đình được coi là nơi mà sự thống trị của namgiới biểu lộ theo cách hiển nhiên nhất và nhìn thấy rõ nhất.Nhưng căn nguyên của sự vĩnh cửu hoá quan hệ này lại ở cấpnhà Thờ, nhà trường, Nhà nước.[34]

Những nghiên cứu và các văn bản trên thể hiện sự quantâm của thế giới tới phụ nữ và khẳng định vai trò của bìnhđẳng giới trong xã hội, là cơ sở quan trọng để tác giả thamkhảo, nghiên cứu lý luận, xây dựng các khái niệm liên quan

về bình đẳng giới, giáo dục bình đẳng giới và đề xuất các biệnpháp giáo dục bình đẳng giới trên địa bàn

Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh vàNhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngay từ

Trang 7

những ngày đầu cách mạng đã quan tâm tới vấn đề này, coiviệc giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ, thực hiện

“nam nữ bình quyền” là một trong những mục tiêu đấu tranh

cơ bản của sự nghiệp các mạng Điều đó được thể hiện bằngcác văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong hệ thốngpháp luật và chính sách của Nhà nước ta

Hiện nay, với tâm huyết của các nhà khoa học trongnước cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, một số lýluận và thực tiễn nghiên cứu vấn đề giới- bình đẳng giới đãnghiên cứu và có những giải pháp phù hợp, đúng đắn Trongnhững năm gần đây, việc nghiên cứu vấn đề giới đã đượctriển khai rộng rãi và đồng bộ Đã có rất nhiều cơ sở, cáctrung tâm, các khoa, bộ môn thuộc chính phủ và phi chínhphủ nghiên cứu và giảng dạy khoa học về giới

Đấu tranh cho mục tiêu bình đẳng giới bao gồm các hoạtđộng nghiên cứu khoa học và thực tiễn mang tính toàn cầu.Tuy vậy, nghiên cứu khoa học về giới và bình đẳng giới được

“phổ biến” vào Việt Nam và chính thức trở thành một chuyênngành khoa học chỉ trong khoảng hơn 30 năm trở lại đây(nhiều nhà khoa học coi sự kiện thành lập trung tâm nghiêncứu phụ nữ, nay là viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, thuộc

Trang 8

viện Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 1987 như là cột mốccủa sự ra đời và phát triển của khoa học này) Các công trìnhnghiên cứu của cá nhân hoặc tổ chức đã góp phần luận giảinhiều vấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu về vai trò củaphụ nữ trong gia đình và xã hội, thực hiện bình đẳng giớitrong gia đình

Có thể kể đến một số nghiên cứu sau:

Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, “Phụ nữ - giới và

phát triển”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, (1996) [2] Tác giả cuốn

sách đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữaphụ nữ - giới và phát triển Phân tích vị trí, vai trò của phụ nữtrong đổi mới kinh tế - xã hội gắn với vấn đề việc làm, thunhập, sức khỏe, học vấn chuyên môn; phụ nữ quản lý kinh tế -

xã hội; phụ nữ và gia đình; chính sách xã hội đối với phụ nữ

và ảnh hưởng của chính sách xã hội đối với phụ nữ và thựchiện bình đẳng giới

Lê Thi, “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt

Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, (1998) [43] Công trình khoa học

này chính là kết quả bước đầu của sự vận dụng quan điểm củaĐảng và Nhà nước, cũng như quan điểm tiếp cận giới vào

Trang 9

việc xem xét các vấn đề có liên quan đến bình đẳng giới, kếthợp với các hình thức thu thập thông tin qua các cuộc khảo sátđời sống phụ nữ công nhân, nông dân, trí thức trong quá trìnhđổi mới đất nước Từ đó đã nêu lên những vấn đề đáng quantâm và đề xuất ý kiến về một số chính sách xã hội cần thiết,nhằm xây dựng sự bình đẳng giới trong tình hình mới

Lê Thi, “Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi

kinh tế ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, (1999)

[44]; Hoàng Bá Thịnh, “Vai trò của người phụ nữ nông

thôn trong công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn”, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2002) [45] Các công trình này

đã trình bày lý luận về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinhtế- xã hội, quan điểm của Hồ Chí Minh, của Đảng và chínhsách của Nhà nước Việt Nam về vấn đề này trên quan điểm vàphương pháp tiếp cận giới, đặc biệt trong lao động và hưởngthụ, vấn đề xây dựng chính sách kinh tế- xã hội đáp ứng sựbình đẳng giới hiện nay

Nguyễn Linh Khiếu, “Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia

đình”, Nxb KHXH, Hà Nội, (2003) [17] Tác giả đã phân tích

làm sáng rõ vai trò của phụ nữ cũng như quan hệ giới tronggia đình thể hiện trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, tiếp cận

Trang 10

nguồn lực, giáo dục và chăm sóc sức khỏe Đặc biệt, tác giảnhấn mạnh hơn đối với phụ nữ nông thôn miền núi, vị thế của

họ trong gia đình cũng như những rào cản văn hóa đang cảntrở quá trình phát triển của họ Những kết luận mà tác giả kháiquát cũng chính là những vấn đề đặt ra cho những nhà khoahọc cũng như những nhà hoạch định chính sách đối với vấn

đề phụ nữ - giới và gia đình

Nguyễn Thị Tuyết, “Vấn đề giới trong lãnh đạo và ra

quyết định ở Việt Nam, hiện trạng và giải pháp” - Kỷ yếu

Hội thảo Hội nghị cán bộ khoa học nữ Đại học Quốc gia Hà

Nội lần thứ 8, 2003 [50]; Lê Thị Nhâm Tuyết, “Phụ nữ

Việt Nam qua các thời đại”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

(1973) [51]; Nguyễn Đức Bạt, “Nâng cao năng lực lãnh

đạo củ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị”, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, (2007) [4] Các công trình này đã trìnhbày khái quát, tổng hợp nhiều khía cạnh của phụ nữ ViệtNam qua các thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau, từ thờinguyên thủy đến thời đại chống Mỹ và đề cập đến các vấn

đề phụ nữ để hướng tới bình đẳng giới trong hệ thống chínhtrị, đánh giá thực trạng bình đẳng giới, trong đó có những

số liệu về phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội

Trang 11

Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên)

(2007) [41], “Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại”.

Đây là công trình của tập thể các nhà khoa học của ViệnCNXHKH - Học viện CTQG Hồ Chí Minh Các tác giả củacông trình đã nghiên cứu các vấn đề về giới từ tiếp cận trongcác tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và

Hồ Chí Minh đến vấn đề giới trong đường lối, chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam; vấn đề giới trongmột số phương tiện thông tin đại chúng và trong sách giáokhoa Có thể nói, đây là một công trình đã đề cập đến tươngđối đầy đủ những vấn đề về giới Đó cũng chính là căn cứ lýluận và thực tiễn về thực trạng quan hệ giới ở nước ta hiệnnay

Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên),

(2008),“Bình đẳng giới ở Việt Nam”, (Phân tích số liệu điều

tra), Nxb KHXH, Hà Nội [3] Với mục tiêu chính là điều tra

cơ bản về bình đẳng giới, xác định thực trạng bình đẳng giới

về cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ và nam giới

và tương quan giữa hai giới trên lĩnh vực lao động - việc làm,giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị trong giađình, cộng đồng và xã hội

Trang 12

Đối với cộng đồng dân tộc thiểu số và vai trò củangười phụ nữ dân tộc thiểu số trong gia đình và xã hội,chúng ta có thể kể đến một số công trình sau:

Đỗ Thị Bình (2001), “Mấy vấn đề về vai trò giới trong

gia đình nông thôn hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp các xã

miền núi phía Bắc), Khoa học về phụ nữ, số 3 [6] Từ phântích vai trò giới trong gia đình dân tộc Thái, Mông, Dao, tácgiả đã chỉ ra sự biến đổi vai trò giới trong gia đình ở đây theo

cả hai xu hướng tích cực và tiêu cực

Đặng Thị Hoa (2001), “Vị thế của người phụ nữ

H’Mông trong gia đình và xã hội”, (Nghiên cứu ở bản Hang

Kia, xã Pa cò, huyện Mai Châu, Hòa Bình), Khoa học về phụ

nữ, số 1 [12] Tác giả phân tích vai trò, vị thế của phụ nữH’mông trong gia đình trước đây cũng như hiện nay và kếtluận: Người phụ nữ H’mông là người phụ thuộc trong giađình lại càng trở nên bị cách biệt trong xã hội khi họ không cótrình độ học vấn, ngôn ngữ phổ thông, không thể hòa nhậpvào cộng đồng và càng không thể chủ động tham gia công tác

xã hội Những ràng buộc về phong tục tập quán, thói quentrong suy nghĩ, cách làm của họ bị khép kín trong cộng đồng

Trang 13

và chưa thể hòa nhập với nhịp độ phát triển của xã hội trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Nguyễn Linh Khiếu (2002), “Khía cạnh quan hệ giới

trong gia đình nông thôn miền núi” (Nghiên cứu trường hợp

xã Cát Thịnh, Văn Chấn, Yên Bái), Khoa học về phụ nữ, số 1năm 2002 [16] Trong khuôn khổ một cuộc khảo sát tiền dự

án tại một xã nghèo miền núi phía Bắc, tác giả đã chỉ ranhững thành tựu đã đạt được, những hạn chế cần phải khắcphục, cũng như những xu hướng vận động và phát triển trongtương lai của nông thôn miền núi phía Bắc Việt Nam trongđiều kiện toàn cầu hóa hiện nay

Báo cáo “Hiện trạng bất bình đẳng giới trong cộng

đồng người dân tộc thiểu số” cho thấy phụ nữ dân tộc thiểu

số thiệt thòi hơn nam giới trên hầu hết mọi phương diện, kếtquả của một chuỗi những bất bình đẳng trong xã hội Về mộtphương diện nào đó có thể kết luận rằng vị thế của người phụ

nữ dân tộc thiểu số có sự liên hệ mật thiết với mức độ pháttriển kinh tế, cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận các dịch vụ cơbản và tiếp cận thị trường ở từng địa phương cụ thể Chẳnghạn, trong những cộng đồng vùng thấp có mức sống cao hơnthì tiếng nói và nhu cầu của người phụ nữ được quan tâm hơn

Trang 14

những cộng đồng vùng cao với điều kiện kinh tế khó khănhơn Các nhóm dân tộc vùng sâu vùng xa không những bịtách biệt về không gian địa lý mà còn bị tách biệt về khônggian xã hội Chính sự tách biệt này đang ảnh hưởng đến khảnăng ứng phó với những thay đổi không lường trước trongmôi trường sống của họ [56].

Phạm Quỳnh Phương trong nghiên cứu “Giới, tăng

quyền và phát triển Quan hệ giới từ góc nhìn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam” cho rằng các chương trình phát triển

nhắm đến quyền gần đây thường gắn bình đẳng giới với yếu

tố kinh tế nhưng chưa quan tâm đúng mức đến góc độ văn hóacộng đồng và yếu tố tộc người Các hoạt động can thiệp nhằmnâng cao nhận thức về bình đẳng giới cần xóa bỏ định kiếnđối với phụ nữ dân tộc thiểu số thay vì chỉ nâng cao nhận thứccho phụ nữ và các chương trình xóa đói giảm nghèo do phụ

nữ phụ trách, cần chú trọng thay đổi niềm tin và quan niệmcủa nam giới và cộng đồng nhiều hơn Mặt khác, chiến lượctăng quyền cho phụ nữ cần đi liền với những điều tra đánh giá

ở từng cộng đồng xem cách thực hành nào được coi trọng,những hoạt động nào phụ nữ đang bị giới hạn tham gia để từ

đó có những hoạt động can thiệp căn bản và gốc rễ [35]

Trang 15

Theo Báo cáo “Đánh giá tiếp cận và sử dụng các dịch

vụ pháp lý của phụ nữ dân tộc thiểu số”, mặc dù có nhiều nhu

cầu về dịch vụ pháp lý, khi tình trạng thiếu tiếp cận đến cácdịch vụ của phụ nữ dân tộc thiểu số còn khá phổ biến, thiếuthông tin và kiến thức về các quyền lợi hợp pháp của mìnhhoặc là nạn nhân của bạo lực gia đình, nhưng tiếp cận đến cácdịch vụ pháp lý của phụ nữ dân tộc thiểu số lại rất hạn chế vàhạn chế hơn so với dân tộc đa số Việc tiếp cận hạn chế nàythể hiện qua việc phụ nữ dân tộc thiểu số thiếu kiến thức vàhiểu biết về các dịch vụ, họ hầu như không sử dụng các dịch

vụ này khi có nhu cầu thay vào đó là cam chịu và chấp nhậnmỗi khi quyền hợp pháp của họ bị xâm phạm [55]

Theo “Đánh giá giới tại Việt Nam”, mặc dù có nhiều sự

quan tâm dành cho các khu vực có đồng bào dân tộc, khoảngcách về giới trong các nhóm đồng bào thiểu số vẫn lớn hơn sovới trong nhóm đa số Vẫn phải có các chương trình trình diễncùng với các đánh giá tác động đi kèm để xác định chiến lượctốt nhất nhằm giúp đỡ cho nhóm đối tượng này Ngoài ra, cầnphải tiến hành nghiên cứu về văn hoá và các chuẩn mực xãhội và ảnh hưởng của chúng tới các quyết định trong gia đình

và công việc [27]

Trang 16

Các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên

đã đề cập đến vấn đề giới, vai trò của bình đẳng giới đối với

sự phát triển xã hội nói chung, ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,

xã hội, gia đình Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở lý

luận cho việc nghiên cứu bình đẳng giới, đã phác họa bứctranh đa dạng, nhiều màu sắc về địa vị người phụ nữ trong sựnghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Qua đó tác động đến suynghĩ, quan niệm, thái độ và hành vi của mọi người đối với giađình và bình đẳng giới ở Việt Nam, do vậy đây là những tưliệu hết sức quý báu cho việc triển khai đi sâu nghiên cứu củatác giả về giáo dục bình đẳng giới cho cộng đồng dân tộcthiểu số huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La

Bình đẳng giới của cộng đồng người dân tộc thiểu số

Cộng đồng người dân tộc thiểu số

Khái niệm dân tộc thiểu số

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Dân tộc thiểu số làdân tộc có số dân ít (có thể là hàng trăm, hàng ngàn và chođến hàng triệu dân) cư trú trong một quốc gia thống nhất cónhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc số dân đông Như vậy,

có thể hiểu, dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn

Trang 17

so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam Trong các quốc gia có nhiều thànhphần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý thức về

Tổ quốc chung và ý thức về dân tộc mình Những dân tộcthiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ, thường ởnhững vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triểnkinh tế - xã hội còn khó khăn Vì vậy, các Nhà nước tiến bộthường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xóa dầnnhững chênh lệch trong sự phát triển kinh tế - xã hội giữa dântộc đông người và các dân tộc thiểu số

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Việt Nam là một đất nước đa dân tộc với 54 dân tộccùng sinh sống Dân tộc Việt (Kinh) chiếm 87% dân số cảnước Các nhóm DTTS hiện chiếm khoảng 13% tổng dân số

cả nước, tương đương hơn 10 triệu người thuộc về 53 dân tộcsống tập trung chủ yếu trên các vùng đồi núi, cao nguyên,chiếm 2/3 diện tích tự nhiện cả nước và trải dài từ Bắc vàoNam Các nhóm DTTS rất khác nhau về số dân Có nhữngnhóm có đông dân cư như Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơ-me,Nùng với dân số của mỗi dân tộc lên đến trên một triệu người,nhưng cũng có những nhóm người DTTS như Brâu, Romam,

Trang 18

O-du với số dân chỉ hơn 300 người trên một nhóm Mỗinhóm dân tộc đều có nền văn hoá riêng biệt, giàu có và độcđáo Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng có điểmkhác biệt Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc cũng tạonên sự khác biệt trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhậptrong nền kinh tế thị trường

Về phân bố dân cư, người DTTS ở Việt Nam sinh sốngchủ yếu ở hai vùng miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên,với khoảng 75% tổng số người DTTS sống ở 2 khu vực này.Hai nhóm DTTS là người Chăm và người Khơ Me sống biệtlập ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Do nhiều lý do, hiệnnay, các nhóm người DTTS ở Việt Nam thường sống xen kẽgiữa các dân tộc trên một địa bàn Có đến hơn một nửa sốhuyện ở miền núi phía Bắc có mười hoặc nhiều hơn nhóm dântộc đang sinh sống hoặc là cạnh nhau hoặc đan xen nhau trongmột thôn bản Ngay cả một dân tộc cũng không sinh sốngcùng nhau ở một vùng mà rải rác ở các khu vực khác nhau.Đặc điểm này có đã lâu đời ở các vùng người DTTS ở phíaBắc và đang dần xuất hiện ở các khu vực khác như TâyNguyên Sự phân bố rải rác của một nhóm DTTS trên nhiềuđịa phương hay đan xen các nhóm DTTS trong cùng một địa

Trang 19

bàn cùng với sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ và mức độphát triển giữa các nhóm DTTS ở Việt Nam đang đặt ra tháchthức cho các chính sách ở các địa phương có đông người dântộc và các chính sách đối với người DTTS Các chính sáchkhông những phải quan tâm đến vấn đề người DTTS mà cònphải quan tâm đến sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc thì mớitránh không tạo ra những bất bình đẳng vốn đã có

Đặc điểm của cộng đồng người dân tộc thiểu số

Ở nước ta hiện nay có 53 dân tộc thiểu số Số dân củacác dân tộc nhiều ít khác nhau, nhưng mỗi dân tộc có bản sắcvăn hóa riêng, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng củavăn hóa Việt Nam (biểu hiện qua ngôn ngữ, phong tục, luậttục, kiến trúc nhà cửa, giao tiếp, ứng xử ) Do hậu quả lâudài bởi các chính sách áp bức, bóc lột của chế độ thực dânphong kiến cùng với điều kiện tự nhiên và môi trường khắcnghiệt, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộckhông đều nhau, thậm chí còn có sự chênh lệch khá lớn giữacác vùng miền và giữa các dân tộc; đặc điểm tâm lý, văn hóatộc người mang nhiều sắc thái đa dạng, phức tạp Đồng bàocác dân tộc thiểu số ở nước ta sống phân tán và xen kẽ ởnhiều cấp độ khác nhau, không hình thành vùng lãnh thổ riêng

Trang 20

cho từng dân tộc Tỉnh Sơn La có đến 12 dân tộc anh em cùngsinh sống, chiếm gần 80% tổng số dân Riêng ở Huyện Vân

Hồ, tỉnh Sơn La có 6 dân tộc anh em: Thái, Kinh, Mông,Mường, Dao, Tày Cộng đồng dân tộc thiểu số nơi đây có một

số đặc điểm cơ bản như sau:

Đồng bào nơi đây sống chủ yếu sống bằng nghề nươngrẫy nên đời sống kinh tế của đồng bào còn gặp nhiều khókhăn, thường xuyên thiếu đói về lương thực Cây trồng chính

là ngô, lúa, dong giềng và một số loại rau quả Sản xuất mangtính tự cung tự cấp trong môi trường sinh hoạt gần như khépkín Vì thế đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây ít có cơ hội giaolưu với các cộng đồng bên ngoài Ít có cơ hội để mở mangkiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giao lưu văn hóa lẫn nhau và

vì thế tiếng phổ thông (tiếng Kinh) của đại đa số đồng bào nơiđây còn hạn chế, không thành thạo thậm chí nhiều ngườikhông biết nói tiếng phổ thông

Đặc điểm tiếp theo là đồng bào dân tộc thiểu số thường

cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, sống phân tán, thưathớt Giao thông đi lại khó khăn Nhiều gia đình con cáikhông được tới trường vì nhà ở quá xa, địa hình hiểm trở,phương tiện đi lại không có…Những hệ lụy từ điều này là rất

Trang 21

lớn, nhiều trẻ em thất học, tỷ lệ mù chữ cao, nghèo đói, tảohôn…

Nhiều vùng, nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vẫncòn chưa có đường lưới điện, do đó họ ít có cơ hội tiếp cậnthông tin, ít được tiếp cận các phương tiện thông tin đạichúng Mặt khác, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ vẫncòn tồn tại làm ảnh hưởng nặng nề tới đời sống sinh hoạt củađồng bào Điều này ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, nhận thức

và sự phát triển toàn diện của người dân nơi đây

Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầmnhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến.Đặc biệt, người ta thường kết hợp gầm sàn nhà làm chuồngtrại chăn nuôi trâu, bò, gà, lợn…gây ô nhiễm không khí và ônhiễm nguồn nước Thường chỉ có người phụ nữ mới đảmnhiệm những công việc này Do đó, đối tượng chịu ảnh hưởngtrực tiếp và đầu tiên từ hệ quả đó chính là phụ nữ và trẻ em.Bên cạnh những đặc điểm nêu trên thì đồng bào dân tộc thiểu

số có những đặc trưng riêng biệt khác như có một nền văn hóalâu đời, đa dạng, phong phú, mang đậm bản sắc riêng vùngmiền, họ có tính cố kết cộng đồng rất cao, sống rất đoàn kết,

Trang 22

chân thật và luôn sẵn sàng bảo vệ, giúp đỡ nhau khi khókhăn…

Các cộng đồng ở Việt Nam rất đa dạng và khác nhau vềvăn hóa, phong tục tập quán và các điều kiện kinh tế xã hội và

cả mối quan hệ giới Trong mỗi cộng đồng, cách thức phâncông trách nhiệm giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình và

xã hội, các giá trị và mong đợi đối với phụ nữ và nam giới,…tất cả đều có căn nguyên sâu xa từ văn hóa và là một phần củavăn hóa Để đảm bảo công bằng và bình đẳng giới cần phảihiểu rõ mối quan hệ giới và các vai trò giới truyền thống ởmỗi tộc người và để chính cộng đồng đó xác định thế nào làbình đẳng giới đối với họ và làm gì để đạt được điều đó chứkhông thể áp dụng các hiểu biết về mối quan hệ giới của cộngđồng đa số người Kinh cho các nhóm dân tộc thiểu số Cácchính sách và chương trình thúc đẩy bình đẳng giới đối vớingười dân tộc thiểu số vì thế cũng cần tính đến sự đa dạnggiữa các dân tộc

Một số nội dung về bình đẳng giới của cộng đồng người dân tộc thiểu số

Trang 23

Khái niệm bình đẳng giới của cộng đồng người dân tộc thiểu số

Giới là một khái niệm mới xuất hiện, mãi đến nửa đầuthế kỷ XX mới được sử dụng rộng rãi ở trong phong tràophụ nữ ở các nước phương Tây và vào nước ta những năm

1980 Cho đến nay, nhất là từ khi xuất hiện Luật Bình đẳnggiới, thuật ngữ giới đã trở nên khá quen thuộc đối với cáclĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có

sự nhầm lẫn cách hiểu về giới, có sự lẫn lộn giữa “giới” và

“giới tính” cũng như đánh đồng những khác biệt giữa nam

và nữ về vai trò giới (do học mà có) với những khác biệt vềmặt sinh học (do di truyền mà có) Sự xuất hiện của kháiniệm giới đã làm rõ sự khác biệt giữa nam và nữ trên haikhía cạnh: sinh học (giới tính) và xã hội (giới) Giới là kháiniệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệtgiữa nam và nữ về mặt xã hội Nói về giới là nói về vai trò,trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy địnhcho nam và nữ

Có rất nhiều khái niệm về giới xuất phát từ những góc độnghiên cứu khác nhau, sau đây là một số khái niệm cơ bản:

Trang 24

“Giới là một phạm trù được sử dụng để nói về các vai trò,thái độ và giá trị của giới tính do kỳ vọng các cộng đồng xã hộigán cho; là sự khác nhau giữa phụ nữ và nam giới về mặt xãhội, mang tính xã hội, không đồng nhất, có thể thay đổi được”[19].

Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ vàtương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong mộtbối cảnh xã hội cụ thể Hay nói cách khác, nói đến giới là nóiđến sự khác biệt của phụ nữ và nam giới về mặt xã hội [48]

Theo Luật bình đẳng giới, giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai tròcủa nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội

Tóm lại, khi nói về giới có thể hiểu là nói về vai trò,

trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện

trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn củacải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam

và nữ trong xã hội

Theo Trần Xuân Kỳ: “Bình đẳng giới là môi trường lýtưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí ngangnhau, có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng

Trang 25

của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và đượchưởng lợi từ các kết quả đó”.[19]

Trong Luật Bình đẳng giới thì: “Bình đẳng giới là việcnam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơhội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộngđồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của

sự phát triển đó” [21]

Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau và có cơ hội như nhau để làm việc và phát triển.

Vai trò và vị trí như nhau không có nghĩa là nam và nữ phải

có trách nhiệm giống nhau trong xã hội mà nhấn mạnh việcthừa nhận và tôn trọng sự khác biệt trong vai trò và tráchnhiệm của nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.Bình đẳng giới cũng có nghĩa là nam và nữ hưởng quyền lợinhư nhau, thừa hưởng những cơ hội và điều kiện để tiếp cậncác nguồn lực một cách bình đẳng và tận hưởng những thànhquả của phát triển xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế Thểhiện cao nhất của bình đẳng giới là qua việc đánh giá ngangnhau tiếng nói của nam giới và nữ giới trong những quyết địnhcủa gia đình và xã hội Nói bình đẳng giới không có nghĩa là chỉđấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bất bình

Trang 26

đẳng của cả hai giới Nhưng trong thời đại ngày nay, nhìnchung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa số nênngười ta nói nhiều đến việc đòi quyền lợi cho phụ nữ Bìnhđẳng giới trong gia đình là các thành viên trong gia đình có sựbình đẳng với nhau Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đềuđược các thành viên, trước hết là vợ và chồng cùng nhau chia

xẻ và cùng nhau hưởng thụ thành quả từ những công việc đómang lại Vợ và chồng cần phải bình đẳng bàn bạc, quyết định

và thực hiện mọi công việc Đặc biệt, việc nội trợ là hết sức vất

vả, tiêu hao nhiều thời gian và sức lực, đo đó không chỉ ngườiphụ nữ làm mà đòi hỏi phải có sự tham gia, chia sẻ của chồng

và của các thành viên khác

Muốn đạt được bình đẳng giới thì một trong những điềukiện quan trọng là nam và nữ được bình đẳng với nhau trongtất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Ý nghĩa của bình đẳng giới trong cộng đồng người dân tộc thiểu số

Bình đẳng giới được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá

sự phát triển của một xã hội, một đất nước, nó vừa là mục tiêucủa sự phát triển vừa là yếu tố nâng cao khả năng tham gia

Trang 27

đóng góp của phụ nữ vào sự phát triển ổn định và bền vữngcủa quốc gia Quyền phụ nữ, quyền bình đẳng giới là một nộidung cơ bản của quyền con người, thể hiện giá trị nhân văncao cả, đồng thời là những giá trị chính trị, pháp quyền đángtrân trọng Từ Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) đến cácHiến pháp 1959, 1980 và 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001,bình đẳng nam, nữ luôn là một nguyên tắc xuyên suốt trongvăn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất của Việt Nam Bìnhđẳng giới được tất cả các nước trên thế giới quan tâm Bìnhđẳng giới được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của địnhhướng phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những chỉ sốđược sử dụng để đánh giá mức độ phát triển của mỗi quốc gia.

Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ khẳng định:Bất bình đẳng giới vừa là một trong các nguyên nhân của tìnhtrạng đói nghèo, vừa là rào cản lớn đối với sự phát triển bềnvững Các vấn đề bất bình đẳng giới cản trở tiến trình pháttriển và cuối cùng gây tác động có hại tới tất cả các thành viên

xã hội Xã hội nào có hiện tượng bất bình đẳng giới phổ biến,kéo dài sẽ phải trả giá qua tình trạng gia tăng nghèo đói, suydinh dưỡng, bệnh tật và nhiều khó khăn khác Xã hội nào cómức độ bình đẳng giới càng cao thì tăng trưởng kinh tế càng

Trang 28

phục vụ hiệu quả cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo Do vậy,mục tiêu bình đẳng giới vừa là một yếu tố đảm bảo quyền conngười, vừa là điều kiện thiết yếu cho mục tiêu phát triển côngbằng, hiệu quả và bền vững

Bất bình đẳng giới làm cản trở quá trình xóa đói giảmnghèo và sự phát triển chung của xã hội Bất bình đẳng giới

về những quyền cơ bản như: Được đến trường, được vay vốn,được tham gia các khóa đào tạo nâng cao kiến thức làmăn đã hạn chế sự tham gia và đóng góp hiệu quả của nữ giớivào các hoạt động của đời sống cộng đồng gây thiệt thòi chophụ nữ và trẻ em gái Điều này cũng đồng nghĩa với việc làmgiảm nguồn lực để đầu tư cho công cuộc xóa đói giảm nghèo

và phát triển xã hội Bình đẳng giới luôn là vấn đề hệ trọngđối với tiến bộ xã hội, vì phụ nữ là một nửa xã hội, giữ vai tròquan trọng đảm bảo sự sinh tồn của dân tộc Trong mọi chế

độ xã hội, người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo củavăn học, nghệ thuật, nền tảng của đời sống tinh thần gia đình,chủ thể hàng đầu trong xây dựng hạnh phúc, chăm sóc chồngcon, giúp đỡ cha mẹ khi tuổi già sức yếu Vì vậy, trong cuộcđấu tranh giải phóng phụ nữ, vấn đề thực hiện bình đẳng giới

Trang 29

giữa nam và nữ trên tất cả các mặt được xem là nội dung cốtlõi để phát triển xã hội

Bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ là một yêu cầukhách quan của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.Trong thời kỳ đổi mới đất nước, chủ trương của Đảng về bìnhđẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ nhằm tạo điều kiện để phụ

nữ phát triển và phát huy năng lực đóng góp cho đất nước.Theo đó, vị thế của người phụ nữ trong xã hội cũng như tronggia đình được nâng cao Bình đẳng giới được coi là một trongnhững thành tựu nổi bật của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.Việt Nam đã được UNDP - Chương trình Phát triển của Liênhợp quốc tại Việt Nam xếp thứ hạng cao trên thế giới về chỉ

số bình đẳng giới Nước ta đã có những bước tiến vượt bậctrong việc thực hiện bình đẳng giới, tạo cho phụ nữ có nhiềucống hiến to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcthời kỳ mới Khi phụ nữ có học vấn, học vị cao sẽ mở ra các

cơ hội cho họ về nhiều mặt, như việc làm, thu nhập, cơ hộitiếp cận về y tế, kế hoạch hóa gia đình, tham gia lĩnh vựcchính trị và phát triển xã hội

Trang 30

Theo báo cáo Tình hình Trẻ em Thế giới 2007, bìnhđẳng giới đem lại “lợi ích kép” cho phụ nữ và trẻ em, đóngvai trò then chốt đối với sức khỏe và sự phát triển của giađình, cộng đồng và quốc gia “Vấn đề bình đẳng giới và sựphát triển của trẻ em gắn kết mật thiết với nhau”, Giám đốcĐiều hành UNICEF, Bà Ann M Veneman phát biểu “Khi vịthế của người phụ nữ được nâng lên để có một cuộc sống đầy

đủ và hữu ích, trẻ em và gia đình họ sẽ trở nên thịnh vượng”

Sự tham gia của phụ nữ vào những quyết định quan trọng sẽcải thiện cuộc sống của chính họ và tạo ra những ảnh hưởngtích cực đến sự tồn tại và phát triển của trẻ em Lợi ích củavấn đề bình đẳng giới vượt xa hơn nhiều những tác động trựctiếp của chúng tới trẻ em Báo cáo Tình hình Trẻ em Thế giới

2007 chỉ ra việc khuyến khích bình đẳng giới và nâng cao vịthế phụ nữ - Mục tiêu thiên niên kỷ thứ 3 - sẽ thúc đẩy nhữngmục tiêu khác từ giảm đói nghèo đến cứu vớt sự sống còn củatrẻ em, tăng cường sức khỏe sinh sản, bảo đảm giáo dục phổcập, phòng chống HIV/AIDS, bệnh sốt rét và các căn bệnhkhác, và bảo đảm sự bền vững về môi trường

Phụ nữ bình đẳng với nam giới không chỉ góp sức cho

xã hội giàu mạnh, văn minh mà trong gia đình là ngọn nguồn

Trang 31

của hạnh phúc, đã sản sinh và nuôi dưỡng thế hệ trẻ tốt đẹp.Bình đẳng nam nữ là nền tảng văn hoá của con người, của giađình và hạnh phúc Vai trò của phụ nữ được phát huy bìnhđẳng trong xã hội và trong gia đình, mang một ý nghĩa lớn đốivới sự giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đìnhViệt Nam và truyền thống văn hoá của dân tộc Văn hoá giađình là nền tảng của văn hoá xã hội, ở đó vai trò của ngườiphụ nữ với chức năng sàng lọc và giữ gìn văn hoá dân tộcmang ý nghĩa đặc biệt Để phụ nữ làm được chức năng quantrọng này với gia đình và dân tộc, trước hết họ phải được bìnhđẳng để tiến bộ và theo kịp thời đại Trong cuộc sống đổi mới

và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng

và Nhà nước ta lấy dân làm gốc, lấy việc trồng người để mưucầu lợi ích trăm năm Trồng người là sự nghiệp tạo dựng thế hệcông dân mới có đức, có tài, thể lực tốt mà gia đình là cái nôiban đầu và người mẹ đồng thời cũng là người thầy dạy conngay từ thời mới còn chập chững Người mẹ Việt Nam thời đạihôm nay đứng trước sứ mệnh sàng lọc và truyền nối để bảo vệnền văn hoá dân tộc, trước tiên gia đình mình phải là người cóđức, có trí, có lực Họ phải được bình đẳng thì mới đạt đượcnhững chuẩn mực mang nội dung thời đại để từ đó xây dựng

Trang 32

hạnh phúc gia đình, nuôi dưỡng con cái trở thành con ngườimới, công dân mới xã hội chủ nghĩa Trong gia đình, vợ chồngthương yêu, tôn trọng lẫn nhau thì con cái mới được chăm sócđầy đủ và cảm nhận được sự ấm êm, hạnh phúc, luôn luôn làđiểm tựa cho con người vượt qua mọi thử thách.

Bình đẳng giới cũng góp phần giảm tình trạng bạo lựcgia đình bởi vì một phần nguyên nhân gây nên tình trạng bạolực gia đình chính là do sự mất bình đẳng và nhận thức kém

về bình đẳng giới Nhận diện đúng, đủ về tệ nạn bạo lực giađình để mọi người ý thức chấp hành tốt Luật bình đẳng giớiluôn là việc cần thiết cho từng mái ấm gia đình

Lịch sử phát triển xã hội cho thấy không thể có tiến bộ

xã hội thật sự nếu vẫn còn một bộ phận nào đó của xã hội bịđối xử bất công hoặc bị loại trừ Do vậy, nâng cao bình đẳnggiới đã trở thành một phần của chiến lược quốc gia về pháttriển bền vững Vì thế, có thể khẳng định bình đẳng giới có ýnghĩa to lớn đối với sự phát triển của xã hội

Các lĩnh vực của bình đẳng giới trong cộng đồng người dân tộc thiểu số

Ngày đăng: 08/04/2020, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w