Tựu chung lại những công trình nghiên cứu nêu trên đềutập chung vào việc phát triển du lịch cộng đồng nhằm mụcđích thỏa mãn một số nhu cầu củ khách du lịch như: thay đổimôi trường sống,
Trang 1CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CHO NGƯỜI DÂN TRONG TỔ CHỨC
HÌNH THỨC DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Trang 2Cơ sở lý luận
Nghiên cứu ở nước ngoài
Bước sang thế kỷ 21, dân số trên thế giới đạt gần 7 tỷngười Cùng với sự gia tăng dân số là quá trình đô thị hóa.Cuộc sống đô thị với bao sức ép đã làm tăng nhu cầu về dulịch Các điểm du lịch cũ trở nên nhàm chán Một trong nhữngđặc trưng của du lịch trong giai đoạn hiện nay là mở rộng địabàn du lịch Vùng núi đã trở thành ưu tiên thứ hai sau vùngbiển của khách du lịch Theo báo cáo của UNWTO, du lịchnúi chiếm 15-20% thị phần khách du lịch quốc tế và mang vềmột khoản thu nhập lớn (100 đến 140 tỷ đô la Mỹ/năm) Từnhững năm 60 của thế kỷ trước, người Pháp gọi vùng núituyết phủ là kho “vàng” trắng (l’or blanc) của du lịch Nhữngcông trình nghiên cứu của các học giả Pháp (Babbier 1967,
1989, Balseinte R 1977, Knafou R 1978, 1987…) tập trungxem xét các điều kiện phát triển loại hình du lịch trượt tuyết,
du lịch mùa đông ở Alpe, Pirénée, Haute Maurienne v.v…Các học giả Liên Xô trước đây và Nga, Ucraine hiện nay nhưKroft 1966, Kriajev 1969, Vatrevskie M.V, Svintxop OM,Kyznetxop 2001, Korobop, 2001, Kravxiv V.S, Vatevski M.V,
Trang 3Epdikimenko V.K, Gabriel M.M cũng rất quan tâm đến dulịch vùng núi
Trước hiệu ứng nhà kính, tình trạng biến đổi khí hậu,nhiều nhà khoa học trên thế giới dự báo tương lai các hoạtđộng du lịch ở một số điểm du lịch núi ngày càng phát triển
Năm 2003, tại Chitral, Pakistan, được sự hỗ trợ củaUNESSCO, các nhà khoa học đến từ Kazakhstan (TienShan/Alatau), Kyrgyzstan (Issyk-Kul), Tajikistan (Murghab),Nepal (Humla), Pakistan (Chitral), India (Ladakh), Iran(Masouleh) and Bhutan (Phobjikha) đã tổ chức Hội thảo
Development of Cultural And Ecotourism in the Mountainous Regions Of Central and South Asia Hội thảo này trao đổi
kinh nghiệm xung quanh các vấn đề phát triển du lịch sinhthái và văn hóa tại các vùng núi
Nhiều tổ chức quốc tế đã hỗ trợ cho các dự án phát triển
du lịch miền núi Tiêu biểu là dự án phát triển du lịch văn hóa
và sinh thái ở vùng núi Trung Á và Himalaya Dự án của
UNESCO này nghiên cứu một khu vực rộng lớn thuộc lãnhthổ của 7 quốc gia là Ấn Độ, Iran, Kazakhstan, Kyrgyzstan,Nepal, Pakistan và Tajikistan Dự án chỉ ra những bài học
Trang 4kinh nghiệm trong xây dựng các loại hình du lịch, trong việcnâng cao nhận thức cộng đồng trong phát triển du lịch và bảo
vệ di sản văn hóa cũng như bảo vệ môi trường
Tựu chung lại những công trình nghiên cứu nêu trên đềutập chung vào việc phát triển du lịch cộng đồng nhằm mụcđích thỏa mãn một số nhu cầu củ khách du lịch như: thay đổimôi trường sống, trải nghiệm cuộc sống vốn đã nhàm chán Bên cạnh đó những nghiên cơus trên còn giáo dục người dânphát triển du lịch cộng đồng nhưng phải quan tâm đến bảo vệsinh thái; di sản văn hóa; bảo tồn tài nguyên
Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ trước, một sốnhà địa lý, nhà sinh học đã quan tâm nghiên cứu phát triển
du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Một số tác giả: PhạmTrung Lương, Trần Đức Thanh, Nguyễn Thị Hải, Lê VănLanh, Lê Huy Bá … đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn vềphát triển du lịch sinh thái và du lịch dựa vào cộng đồng.Các nghiên cứu này đều có một điểm chung là xác địnhđược hệ thống lý luận liên quan đến du lịch cộng đồng (Mụctiêu, nguyên tắc, sự hình thành và phát triển du lịch cộng
Trang 5đồng), và đưa ra một số mô hình điển hình về du lịch cộngđồng của thế giới và Việt nam.
Nhiều địa phương trên cả nước đã áp dụng triển khai loạihình du lịch cộng đồng và mang lại nguồn thu cho người dânđịa phương, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống chocộng đồng Có thể kể đến một số địa phương đi đầu trong việcphát triển loại hình du lịch này như: Mai Châu, Mộc Châu,Quảng Bình, Huế, vùng đồng bằng sông Cửu Long
Các hình thức du lịch sinh thái cộng đồng thường thấy ởnước ta như: du lịch homestay, tham gia các hoạt động vănhoá, văn nghệ cùng người dân bản địa, tham quan các bảnlàng dân tộc, tìm hiểu lối sống, văn hoá của người dân bảnđịa, tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học,… diễn ra một sốnơi như bản Lác - Mai Châu, Chiềng Yên - Sơn La, vườnquốc gia Cát Bà, khu bảo tồn Cù Lao Chàm - Hội An, v.v.Trong những năm gần đây, số du khách đến thăm các điểm dulịch tự nhiên, tìm hiểu cuộc sống của cộng đồng dân cư ở ViệtNam ngày càng tăng, nhưng vẫn thường mang tính tự phát,chưa được tổ chức bài bản Các hình thức hoạt động của loạihình du lịch này mới chỉ mang ý nghĩa tham quan, hưởng thụmôi trường, ít đạt được mục đích nâng cao nhận thức, giáo
Trang 6dục bảo vệ môi trường và cảm nhận nét đặc sắc, cái hay, cáiđẹp trong văn hoá của cộng đồng bản địa.
Bên cạnh đó, một vài địa phương lại quan niệm pháttriển du lịch cộng đồng gắn với phát triển kinh tế địa phươngdựa trên lợi thế vùng miền, địa phương của mình Chẳng hạnnhư Đồng Tháp tận dụng cảnh quan nguyên sơ với nhữngcánh đồng sen bạt ngàn tại Huyện Tháp Mười để phát triển
mô hình du lịch sinh thái gắn với Sen: như chụp ảnh với đồngsen, tham gia thu hoạch chế biến sản phẩm từ sen, dệt lụa tơsen, Hay như tại làng rau Trà Quế, Hội An, Quảng Nam tổchức cho du khách trải nghiệm nông nghiệp bằng cách thamgia trồng rau, làm đồng, thu hoạch sản phẩm nông nghiệp Qua đó, du khách có điều kiện tìm hiểu nếp sống, tập quán vàcác hoạt động phát triển kinh tế đặc thù của địa phương
Võ Quế (2008) [12, tr 57] cho rằng các nguyên tắc đểphát triển du lịch dựa vào cộng đồng bao gồm:
Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch,quy hoạch, thực hiện và quản lý, đầu tư và có thể trao quyềnlàm chủ cho cộng đồng
Phù hợp với khả năng của cộng đồng
Trang 7Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng
Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối vớitài nguyên và văn hoá
Nhìn chung các tác giả trên đều đi sâu vào việc nghiêncứu về sự ra đời, mục tiêu, nội dung, cách thức để tổ chứchình thức du lịch cộng đồng,… Song chưa có tác giả nào đisâu phân tích về tính chuyên nghiệp trong tổ chức hình thức
du lịch này và đặc biệt là không có ai quan tâm nghiên cứu vềviệc bồi dưỡng cho người dân tính chuyên nghiệp trong việc
và cùng sinh sống trong một khu vực xác định
“Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung
Trang 8một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẽ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy” [1].
Cộng đồng là tập thể người số trong cùng một khu vực,một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem như một khối thốngnhất; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng,chủng tộc, cùng loại hình nghể nghiệp hoặc cùng một mốiquan tâm”; “ Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ hoặc cótài nguyên chung hoặc có tình trạng tương tự nhau về một sốkhía cạnh nào đó”
Có thể phân ra 2 loại cộng đồng:
Cộng đồng địa lý bao gồm những người dân cư trú trong
cùng một địa bàn có thể có chung một đặc điểm văn hóa xãhội và có thể có mối quan hệ ràng buộc với nhau, Họ có cùngchính sách chung
Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú
gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung Họliên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hayhiệp hội có tổ chức
Trang 9Như vậy, công đồng có thể có quy mô các cấp khác nhau
từ lớn đến nhỏ, từ chung chung đến cụ thể Khái niệm cộngđồng xuất hiện vào những năm 1940 tại một số nước thuộcđịa của Anh Năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệmcộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệmnày như một công cụ để thực hiện các chương trình viện trợquy mô lớn về kĩ thuật, phương pháp và tài chính [1]
Trước hết, quan điểm về cộng đồng đề cập đến các yếu
tố con người với phạm vi địa lý, mối quan hệ và mục đíchchung trong phát triển và bảo tồn cộng đồng đó Theo Keith
và Ary (1998) cho rằng “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [12, tr.
34] Như vậy, mặc dù các cộng đồng có thể có nhiều cáichung, nhưng sẽ trở nên phức tạpp̣ nếu cho rằng ho p̣là môtnhóm đồng nhất Các cộng đồng có thể bao gồm nhiều nhómriêng như nông dân và thi p̣dân, người giàu và người nghèo,người định cư lâu và người mới định cư Các nhóm quyềnlợi khác nhau trong một cộng đồng dường như bi p̣các thay đổi
Trang 10liên quan đến du licp̣h tác động đến một cách khác nhau Cácnhóm ấy phản ứng trước những thay đổi đó như thế nào phup̣thuộc vào mối quan họ hàng, tôn giáo, chính tri p̣và các mốiràng buộc đã được phát triển giữa các thành viên qua nhiềuthế hê.p̣ Tùy thuộc vào một vấn đề, một cộng đồng có thể đoànkết hay chia rẽ về tư tưởng hay hành động (United NationFood and Agriculture Organisation, 1990).
Theo tác giả Schmick lại cho rằng: “Cộng đồng là tậphợp nhóm người chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng tàinguyên thiên nhiên ở địa phương” [12, Tr 34]
Khái niệm cộng đồng (community) là một trong nhữngkhái niệm xã hội học Trong đời sống xã hội, khái niệm cộngđồng được sử dụng một cách tương đối rộng rãi để chỉ nhiềuđối tươṇg có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô,đặc tính xã hội Từ những khối tập hợp người, các liên minhrộng lớn như cộng đồng châu Âu, cộng đồng các nước ARâpp̣, đến một hạng/kiểu xã hội, căn cứ vào đặc tính tươngđồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo như cộng đồng người
Do Thái, cộng đồng người da đen tại Chicago Nhỏ hơn nữa,danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vi p̣xã hội cơ bản
là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc
Trang 11tính xã hội chung về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thânphận xã hội như nhóm những người lái xe taxi, nhóm ngườikhiếm thi,p̣
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơcấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặtchẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, được liên kếtbằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hayngắn như phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đámđông, Bên cạnh đó , còn có một cách nhìn nhận khác, coicộng đồng như một đặc thù chỉ có ở nền văn minh con người,
ở đó con người hợp tác với nhau nhờ những lợi ích chung
Cộng đồng là nền tảng phát triển của mọi xã hội Kháiniệm cộng đồng có thể được hiểu ở những mức độ quy môkhác nhau từ làng, bản đến bộ tộc, dân tộc, quốc gia Tuynhiên trong thực tế, cộng đồng thường được hiểu theo nghĩahẹp, hạn chế đối với những nhóm cư dân sinh sống ở nhữngvùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn kém phát triển, cuộcsống của họ phụ thuộc chủ yếu vào việc khai thác trực tiếpcác nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 12Vậy khái niệm cộng đồng thường được hiểu: “Cộng đồng là những nhóm dân cư sinh sống trên cùng một lãnh thổ qua nhiều thế hệ, có những đặc điểm chung về sinh hoạt và văn hoá truyền thống, sử dụng chung các nguồn tài nguyên, môi trường” [11, tr 36]
Du lịch cộng đồng
Ngày nay, du lịch cộng đồng đang nhận được nhiều sựđồng thuận trong chiến lược phát triển du lịch không chỉ ở cácquốc gia phát triển mà còn có ở nhiều quốc gia khác với mụctiêu mang lại lợi ích chung cho cộng đồng địa phương, đặcbiệt cho cộng đồng các làng quê xa xôi ở nông thôn Tại ViệtNam, du lịch cộng đồng cũng đã đem lại nhiều lợi ích thực sự
về mặt kinh tế cho người dân ở các vùng nông thôn Nhân tốchính đóng góp cho sự thành công của loại hình du lịch nàychính là cộng đồng địa phương Họ có mối quan hệ mật thiếttrong vấn đề khai thác tài nguyên du lịch để hình thành nêncác hoạt động, loại hình và sản phẩm du lịch Vì thế, việc pháttriển du lịch có sự tham gia của cộng đồng là quan điểm pháttriển hợp lý ngày càng được xã hội quan tâm và khuyến khích
Trang 13Từ lâu, khái niệm “du lịch cộng đồng” (DLCĐ) đã được
đề cập rộng rãi tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thếgiới, cụ thể: Ở Thái Lan khái niệm Community-BasedTourism - Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa:
“DLCĐ là loại hình du lịch được quản lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Thông qua DLCĐ du khách có
cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương” (REST, 1997) [22]
Khái niệm này cũng được nhắc đến trong chương trìnhnghiên cứu của nhiều tổ chức xã hội trên thế giới Pachamama(Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bảnđịa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về
Community-Based Tourism như sau: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương” [22]
Trang 14Còn Istituto Oikos (Tổ chức hướng đến việc hỗ trợ cácnghiên cứu, huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảotồn về mặt sinh thái tự nhiên và nhân văn cho các quốc gia đangphát triển trên thế giới, ra đời tại Ý, 1996) lại đề cập đến nội
dung của DLCĐ theo hướng: “Du lịch cộng đồng là loại hình
du lịch mà du khách từ bên ngoài đến và có lưu trú qua đêm tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương (thường là các cộng đồng ở nông thôn hoặc các cộng đồng nghèo hoặc sinh sống ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn) Thông qua đó du khách có cơ hội khám phá môi trường thiên nhiên hoang dã hoặc tìm hiểu các giá trị về văn hóa truyền thống, tôn trọng tư duy văn hóa bản địa Cộng đồng địa phương có cơ hội thụ hưởng các lợi ích kinh tế từ việc tham gia vào các hoạt động khám phá dựa trên các giá trị về tự nhiên và văn hóa xã hội tại khu vực cộng đồng địa phương sinh sống” [22]
Trong khi Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người
nghèo đã nêu: “DLCĐ là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm
Trang 15nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên” [22].
Tại Việt Nam, hàng loạt khái niệm về DLCĐ đã được đềcập:
Tác giả Trần Thị Mai (2005) đã xây dựng nội dung cho
khái niệm này như sau: “ DLCĐ là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án.” [11]
Cùng có quan điểm nhấn mạnh vai trò của phương thứcphát triển DLCĐ trong công tác bảo tồn môi trường tự nhiên
và nhân văn, tác giả Võ Quế (2006) đã nhìn nhận: “ Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển
du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về
Trang 16vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên” [12].
Bên cạnh nội dung xem xét phát triển DLCĐ là phươngthức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn,tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia
của cộng đồng địa phương, với cách nhìn về DLCĐ: “DLCĐ
có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động
du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách”
[21, Tr 18]
Có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về du lịchcộng đồng, tuy nhiên có thể thống nhất và hiểu du lịch cộngđồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địaphương Du lịch cộng đồng là một cách tiếp cận nhằm tạo ra
Trang 17lợi nhuận cao nhất cho người dân địa phương, những người sửdụng du lịch như một công cụ tạo nguồn lợi kinh tế Du kháchphải trả tiền khi họ đến tham quan khu vực và khoản tiền nàyđược sử dụng để bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên vàgiúp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó Có thể đưa
ra một khái niệm chung như sau:
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch cho phép du khách có được những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa của cộng đồng”.
Đặc điểm của du lịch cộng đồng
Khái niệm DLCĐ nêu trên chứa đựng các đặc điểm chủyếu như sau:
Du khách là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợiích kinh tế và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việcthụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và nhânvăn khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể
Trang 18Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị vềmặt tài nguyên du lịch để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu
và nâng cao nhận thức của mình khi có cơ hội tiếp cận hệthống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộngđồng địa phương
Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh
tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du kháchcũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ dukhách
Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường vềkhả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xâydựng các sản phẩm du lịch phục vụ cho du khách Từ đó,cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình
Mục tiêu, nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
Theo Viện nghiên cứu phát triển Miền núi để phát triển
du lịch cộng đồng thì mục tiêu phát triển du lịch cộng đồngphải gồm những điểm sau:
Là một công cụ cho hoạt động bảo tồn;
Trang 19Là công cụ cho phát triển chất lượng cuộc sống;
Là công cụ để nâng cao nhận thức, kiến thức và sự hiểubiết của mọi người bên ngoài cộng đồng về những vấn đề nhưrừng trong cộng đồng, con người sống trong khu vực rừng,nông nghiệp hữu cơ, quyền công dân cho người trong bộ lạc
Là công cụ cho cộng đồng cùng tham gia, thảo luận cácvấn đề, cùng làm việc và giải quyết các vấn đề cộng đồng
Mở các cơ hội trao đổi kiến thức và văn hóa giữa khách dulịch và cộng đồng
Cung cấp các khoản thu nhập thêm cho cá nhân cácthành viên trong cộng đồng
Một số mục tiêu chính của du lịch cộng đồng đã đượccoi là kim chỉ nam cho loại hình phát triển du lịch này gồm:
Du lịch cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyênthiên nhiên và văn hóa, bao gồm sự đa dạng về sinh học, tàinguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa,
Du lịch cộng đồng phải đóng góp vào sự phát triển kinh
tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch vànhững lợi ích khác cho cộng đồng địa phương
Trang 20Du lịch cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăngcủa cộng đồng địa phương.
Du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách du lịch mộtsản phẩm có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội
Các nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
Theo tổ chức WTO (2004), các nguyên tắc để phát triển
du lịch cộng đồng cần phải dựa trên các nguyên tắc của dulịch bền vững:
Sử dụng tối ưu nguồn môi trường, duy trì các tiến trìnhsinh thái học chủ yếu và giúp bảo tồn nguồn tự nhiên và hệsinh thái được thừa hưởng
Khía cạnh xác thực nền văn hoá - xã hội của cộng đồngđịa phương, đảm bảo họ đã xây dựng, kế thừa văn hoá và giá trítruyền thống, đồng thời góp phần vào sự hiểu biết và thông cảmđối với các nền văn hoá khác nhau
Đảm bảo sự vận hành nền kinh tế lâu dài ổn định, cungcấp các lợi ích kinh tế - xã hội đến tất cả những người có liênquan nhằm phân bổ công bằng
Trang 21Đề tài sử dụng nguyên tắc để phát triển du lịch dựa vàocộng đồng theo Võ Quế (2008) bao gồm [12]:
Cộng đồng được tham gia và thảo luận các kế hoạch,quy hoạch, thực hiện và quản lý, đầu tư để phát triển du lịch,trong một số trường hợp có thể trao quyền làm chủ cho cộngđồng
Phù hợp với khả năng của cộng đồng
Chia sẻ lợi ích từ du lịch cộng đồng
Xác lập quyền sở hữu và tham dự của cộng đồng đối vớitài nguyên thiên nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bềnvững
Các điều kiền kiện tổ chức hình thức du lịch cộng đồng
Điều kiện tiềm năng về tài nguyên môi trường tự nhiên
và nhân văn
Điều kiện về yếu tố cộng đồng dân cư (đó là: Số lượngcác thành viên; bản sắc dân tộc; phong tục tập quán, trình độhọc vấn và văn hóa, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên vàphát triển du lịch) Xác định phạm vi cộng đồng là những dân
Trang 22cư sống, sinh hoạt và lao động cố định, lâu dài hoặc liền kềvùng có tài nguyên thiên nhiên.
Điều kiện có thị trường khách trong nước và quốc tế đếntham quan du lịch, nghiên cứu, tương lai sẽ thu hút đượcnhiều khách
Điều kiện về cơ chế, chính sách hợp lý tạo môi trườngthuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộngđồng
Sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủtrong và ngoài nước về nhân lực, tài chính và kinh nghiệmphát triển du lịch cộng đồng và các công ty lữ hành trong vấn
đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch đến thamquan
Tính chuyên nghiệp cho người dân trong tổ chức du lịch cộng đồng
Khái niệm về tính chuyên nghiệp
Xét trên khía cạnh ngôn ngữ thì chuyên nghiệp là mộtcụm từ có ý nghĩa rất rộng, để cụ thể hoá sự chuyên nghiệp rathành những hành động cụ thể tương ứng với mỗi vị trí công
Trang 23việc là cả một công trình nghiên cứu và ứng dụng Đối vớimỗi ngành nghề sẽ có những cách hiểu khác nhau, chẳng hạn
sự chuyên nghiệp đối với những công việc của người bánhàng sẽ khác với sự chuyên nghiệp của những người kế toán,
sự chuyên nghiệp của đội lễ tân sẽ khác so với sự chuyênnghiệp của đội ngũ bảo vệ Do vậy để đạt đến sự chuyênnghiệp của cả một tập thể, một tập đoàn thì mỗi một vị trícông việc cần phải định rõ những hành động nào được coi làchuyên nghiệp và truyền đạt những hành động đó đến từng cánhân để giúp họ hiểu được thế nào là sự chuyên nghiệp
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tính chuyên nghiệptrong công việc, nhưng tựu trung lại đều thống nhất rằng “tínhchuyên nghiệp được khẳng định bằng hiệu quả” Chuyênnghiệp, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là chuyên tâm vàongành nghề của mình Ai chuyên tâm làm việc đều đã có thể
là chuyên nghiệp Khi chuyên tâm và dốc toàn lực vào đó thìthường họ sẽ rất gipor trong phạm vi ngành nghề của họ
Chuyên nghiệp là biết cách điều tiết công việc phù hợpvới tiến độ và môi trường xung quanh để tạo nên hiệu quả tốtnhất Hay chuyên nghiệp thể hiện qua tác phong làm việc
Trang 24nhanh nhạy, khoa học kết hợp với việc nắm vững về kiến thứcchuyên môn
Phong cách chuyên nghiệp không chỉ có trong nhữngcông việc có quy mô lớn mà phải thể hiện ngay trong nhữngcông việc nhỏ Mục đích của sự chuyên nghiệp là nhằm tạo
ra sự hoàn chỉnh và sự hoàn chỉnh chỉ có được khi tất cả cácchi tiết dù là nhỏ nhất phải được xây dựng một cách đồng bộ,nhất quán
Nói tới chuyên nghiệp, người ta dễ tưởng tượng là cái gì
to tát Nhưng ngược lại, chuyên nghiệp có được khi đánh giá
ở những cái bé tẹo đến không ngờ Đó có thể là “điện thoại đổchuông ba tiếng phải nhấc máy”, “không trể hẹn với kháchhàng, nếu trễ vì bất kì lý do gì phải điện thoại báo”, “đi làmđúng giờ”, “biết cười với khách hàng”, “không được phéomang sandal, dép lê, guốn, không mặc áo thun, áo quần lòeloẹt”
Ở một công ty, tính chuyên nghiệp được “đánh giá” quatừng nhân viên Không lạ khi những công ty lớn, lâu đời (đaphần là công ty nước ngoài) đều chủ động xây dựng cho mình
Trang 25một “chuẩn mực chuyên nghiệp” và đòi hỏi nhân viên phảituân thủ:
Đầu tiên là sự chuyên nghiệp về tinh thần công ty Trọngtâm sẽ được xoay quanh vấn đề đoàn kết của nhóm lãnh đạo
và quản lý Nhóm chính sẽ cần có văn hóa chung, mục tiêuchung, nhu cầu chung Mọi người cùng nhìn về một hướng,cùng tiến bước
Cách nhận ra 1 thành viên này là có khả năng tạo nhómlàm việc các thành viên trong nhóm luôn thấy vui khi đượclàm cùng nhau, thấy mất mát, nhớ khi bị chia sẻ, tách rời Họ
là người có tài tập thể, cách làm viêc, sinh sống theo độihình Là tác nhân kết dính, đoàn kết mọi người
Thứ hai là sự chuyên nghiệp về tư duy: các vấn đề chínhphải bắt buộc dùng trí tuệ của nhiều người hiểu biết nhất,thông minh nhất cùng nhau bàn bạc, cùng nhau xây dựng, cùngnhau quyết định Trong nhóm tư duy trí tuệ thì cần chú ý nhấtđến năng lực đặt trọng tâm theo tỉ lệ quan trọng công việc
Thứ ba là chuyên nghiệp về thông tin: Xây dựng toànCông ty có một luồng thông tin nhanh nhạy thông suốt, chính
Trang 26xác và mọi thành viên trong nhóm làm việc luôn nắm được rõràng như nhau.
Thứ tư là chuyên nghiệp về dùng người : tài dùng người…Tìm thấy năng lưc tiềm ẩn để đào tạo phát triên, giao việc đúngngười phân tích con người tìm ra trọng tâm năng lưc cá nhân
để phù hợp khớp với công việc được giao
Thứ năm là chuyên nghiệp về hình ảnh: khách hàng cần
sự nhận diện thương hiệu, công ty khác biệt với các đơn vịkhác Nên công ty cần Logo, màu sắc, trang phục, bảnghiệu……thống nhất và riêng biệt
Cuối cùng là chuyên nghiệp về công viêc : Mọi côngviệc của Cty sẽ được nhìn dưới góc độ tính chất, tính chấtkhác nhau sẽ được coi là 2 viêc khác nhau Phân côngngười của mình theo tính chất công việc được giao Ngườichỉ có 1 năng lực thì chỉ giao theo 1 tính chất phù hợp 1 côngviệc có đúng tính chất đó
Những biểu hiện của tính chuyên nghiệp
Xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp