1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của quần thể loài chim yến tổ trắng aerodramus fuciphagus (thunberg, 1812) trong điều kiện tự nhiên t

156 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT --- VÕ TẤN PHONG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA QUẦN THỂ LOÀI CHIM YẾN TỔ TRẮNG Aerodramus fuciphagus Thunberg, 1812 TRONG Đ

Trang 1

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

-

VÕ TẤN PHONG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

CỦA QUẦN THỂ LOÀI CHIM YẾN TỔ TRẮNG Aerodramus

fuciphagus (Thunberg, 1812) TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TẠI

QUẦN ĐẢO CÙ LAO CHÀM, HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

-

VÕ TẤN PHONG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

CỦA QUẦN THỂ LOÀI CHIM YẾN TỔ TRẮNG Aerodramus

fuciphagus (Thunberg, 1812) TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TẠI

QUẦN ĐẢO CÙ LAO CHÀM, HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 62 42 01 03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Lê Đình Thủy

2 PGS.TS Đinh Thị Phương Anh

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các tài liệu trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn

Hà Nội, năm 2017

Tác giả luận án

Trang 4

Trong quá trình thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu một số đặc điểm

sinh học, sinh thái của quần thể loài chim yến tổ trắng Aerodramus

fuciphagus (Thunberg, 1812) trong điều kiện tự nhiên tại quần đảo Cù Lao

Chàm, Hội An, tỉnh Quảng Nam”, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của tập

thể lãnh đạo, các nhà khoa học, các Thầy giáo Cô giáo, cán bộ Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, trường THPT Trần Quý Cáp, địa phương nơi thực hiện đề tài, gia đình và bạn bè

Để hoàn thành luận án này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Đình Thủy, PGS.TS Đinh Thị Phương Anh đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Đề tài cấp Viện Hàn Lâm KHCNVN (VAST 04.07/15-16), cán bộ Phòng Đào tạo Sau đại học, Phòng Bảo tàng Động vật, Phòng Hệ thống học phân

tử và Di truyền bảo tồn, Phòng Côn trùng học thực nghiệm đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành luận án này

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo của trường THPT Trần Quý Cáp, Đội quản lý và khai thác yến Hội An, UBND và nhân dân

xã đảo Tân Hiệp, UBND TP Hội An đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi về thời gian cũng như cơ sở vật chất cho tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình đã động viên, tận tình giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần trong suốt thời gian thực hiện luận án

Hà Nội, năm 2017

Tác giả luận án

Võ Tấn Phong

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án 4

5 Những đóng góp mới của đề tài luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Chim yến tổ trắng 6

1.1.1 Vị trí phân loại 6

1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 6

1.1.3 Vùng sống và nơi làm tổ 6

1.2 Tình hình nghiên cứu về loài Chim yến tổ trắng trên thế giới và Việt Nam 7

1.2.1 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái 7

1.2.2 Nghiên cứu về phân loại, phân bố 12

1.2.3 Nghiên cứu về thành phần hóa học tổ yến 19

1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu 23

1.3.1 Vị trí địa lý và địa hình 23

1.3.2 Tài nguyên 24

1.3.3 Đặc điểm khí hậu 25

1.3.4 Khu hệ thực vật, động vật 27

1.3.5 Đặc điểm kinh tế, xã hội 29

Chương 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu 35

2.3 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 36

2.4 Phương pháp nghiên cứu 37

Trang 6

2.4.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản 41

2.4.4 Nghiên cứu tập tính kiếm ăn 43

2.4.5 Nghiên cứu hiện trạng và tác động của các nhân tố sinh thái đến quần thể chim yến 44

2.4.6 Xây dựng các giải pháp phát triển bền vững quần thể chim yến 45

2.4.7 Tổng hợp, xử lý số liệu 45

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46

3.1 Vị trí phân loại của quần thể loài Chim yến tổ trắng đảo CLC 46

3.2 Đặc điểm hình thái ngoài của loài Chim yến tổ trắng đảo CLC 50

3.2.1 Chim yến non 50

3.2.2 Chim yến trưởng thành 52

3.2.3 Đặc điểm sai khác giới tính 52

3.2.4 Sai khác về kích thước, khối lượng chim yến một số khu vực 54

3.3 Đặc điểm sinh sản của quần thể loài Chim yến tổ trắng đảo CLC 55

3.3.1 Tập tính ghép đôi, giao hoan và giao phối 55

3.3.2 Hoạt động xây tổ 55

3.3.3 Hoạt động đẻ trứng, ấp trứng và chăm sóc chim non 64

3.3.4 Sức sinh sản của quần thể 73

3.3.5 Tính bảo thủ nơi xây tổ 75

3.4 Tập tính kiếm ăn của quần thể loài Chim yến tổ trắng đảo CLC 76

3.4.1 Hướng rời hang, về hang 76

3.4.2 Thời gian rời hang, về hang 77

3.4.3 Độ cao bắt mồi 78

3.4.4 Khoảng cách bay đi kiếm ăn so với hang làm tổ 80

3.4.5 Số lần rời hang, về hang trong ngày 81

3.4.6 Thành phần thức ăn 81

3.5 Hiện trạng bảo vệ và phát triển hang, khai thác và sử dụng tổ của loài Chim yến tổ trắng đảo CLC 84

Trang 7

3.5.3 Thời điểm khai thác tổ trong mỗi vụ 86

3.5.4 Cách thức khai thác tổ 87

3.5.5 Sản lượng tổ 87

3.5.6 Sử dụng nguồn lợi tổ yến đảo CLC 89

3.6 Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến quần thể loài Chim yến tổ trắng đảo CLC 89

3.6.1 Ảnh hưởng của cấu trúc hang 89

3.6.2 Ảnh hưởng của các nhân tố vô sinh 91

3.6.3 Ảnh hưởng của các nhân tố hữu sinh 94

3.6.4 Ảnh hưởng của con người 97

3.7 Các giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững quần thể loài Chim yến tổ trắng đảo CLC 100

3.7.1 Bảo vệ nguồn lợi 101

3.7.2 Khai thác hợp lí 102

3.7.3 Phát triển nguồn lợi 104

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107

1 Kết luận 107

2 Kiến nghị 108

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LA 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 1.1 Thành phần thức ăn của Chim yến tổ trắng Việt Nam 11

Bảng 1.2 Tổng hợp thời tiết năm 2015 tại khu vực CLC 26

Bảng 1.3 Nghề nghiệp cá nhân của cộng đồng dân cư xã Tân Hiệp, CLC 29

Bảng 2.1 Thời gian các đợt khảo sát, thu thập số liệu của đề tài 32

Bảng 2.2 Thành phần PCR 39

Bảng 2.3 Chu trình PCR 39

Bảng 2.4 Thành phần phản ứng giải trình tự 39

Bảng 2.5 Chu trình phản ứng giải trình tự 40

Bảng 3.1 Sự thay đổi khối lượng của chim yến non theo ngày tuổi 51

Bảng 3.2 Kích thước và khối lượng chim yến trưởng thành đảo CLC 52

Bảng 3.3 Tỉ lệ giới tính chim yến đảo CLC 53

Bảng 3.4 Kích thước và khối lượng Chim yến tổ trắng một số khu vực 54

Bảng 3.5 Thời gian bắt đầu xây tổ của chim yến tại đảo CLC 56

Bảng 3.6 Thời điểm xây tổ trong ngày của chim yến đảo CLC 57

Bảng 3.7 Quỹ thời gian xây tổ của chim yến đảo CLC 58

Bảng 3.8 Thứ tự xây các chiều của tổ của chim yến đảo CLC 59

Bảng 3.9 Mật độ tổ xây theo độ cao vách hang 60

Bảng 3.10 Mật độ tổ xây theo độ nghiêng vách hang 61

Bảng 3.11 Kích thước, khối lượng trung bình tổ chim yến đảo CLC 63

Bảng 3.12 Kích thước và khối lượng trung bình tổ yến đảo một số khu vực (tổ kỳ 1) 63

Bảng 3.13 Thời gian đẻ trứng trong vụ 1 của chim yến đảo CLC 64

Bảng 3.14 Thời gian đẻ trứng của chim yến ở các vùng đảo Việt Nam 64

Bảng 3.15 Ảnh hưởng của gió Lào và mùa mưa bão ở một số địa phương 65

Bảng 3.16 Thời điểm đẻ trứng trong ngày của chim yến đảo CLC 66

Bảng 3.17 Số trứng 1 lứa đẻ của chim yến đảo CLC 66

Bảng 3.18 Thời gian ấp trứng của chim yến đảo CLC 67

Bảng 3.19 Sự sai khác về ngày nở giữa 2 quả trứng trong cùng 1 tổ 68

Bảng 3.20 Nhiệt độ ấp trứng của chim yến đảo CLC 70

Trang 9

Bảng 3.23 Sức sinh sản của quần thể chim yến đảo CLC (không khai thác tổ) 73

Bảng 3.24 Sức sinh sản của quần thể chim yến đảo CLC (có khai thác tổ) 74

Bảng 3.25 Trọng lượng trung bình của chim yến trưởng thành đảo CLC 75

Bảng 3.26 Kết quả đánh dấu và bắt lại chim yến tại hang Khô 76

Bảng 3.27 Thời gian rời hang và về hang của chim yến đảo CLC 78

Bảng 3.28 Tương quan giữa nhiệt độ, độ ẩm và độ cao bắt mồi của chim yến 79

Bảng 3.29 Khoảng cách kiếm ăn của chim yến đảo CLC 80

Bảng 3.30 Thành phần thức ăn của chim yến trưởng thành đảo CLC 82

Bảng 3.31 Sản lượng khai thác tổ chim yến một số năm tại đảo CLC 88

Bảng 3.32 Đặc điểm cấu trúc hang yến tại đảo CLC 90

Bảng 3.33 Nhiệt độ, độ ẩm và số tổ bị rơi, số chim yến non bị rơi khỏi tổ 91

Bảng 3.34 Mối tương quan giữa số lượng tổ và chim yến non bị rơi với tốc độ gió, cường độ ánh sáng và cấu trúc hang tại các hang nghiên cứu 93

Bảng 3.35 Số chim yến trưởng thành chết do bị dính nước bọt 95

Bảng 3.36 Số trứng và chim non bị bỏ đi khi khai thác tổ năm 2014 tại đảo CLC 99

Trang 10

Hình 1.1 Chu kỳ sống của Chim yến tổ trắng 8

Hình 1.2 Sơ đồ môi trường vĩ mô và hoạt động trong ngày của Chim yến tổ trắng 9

Hình 1.3 Bản đồ phân bố của Chim yến tổ trắng (khu vực tô đen) và giới hạn các phân loài của chúng 13

Hình 1.4 Xung động âm thanh của Chim yến hàng và 1 số loài khác 15

Hình 1.5 Bản đồ phân vùng khu bảo tồn biển CLC 23

Hình 2.1 Bản đồ phân bố các hang yến tại quần đảo CLC 35

Hình 2.2 Sơ đồ đo kích thước cơ thể chim yến 37

Hình 2.3 Sơ đồ đo kích thước trứng chim yến 41

Hình 2.4 Sơ đồ đo kích thước tổ chim yến 42

Hình 2.5 Sơ đồ vị trí các trạm quan sát hoạt động kiếm ăn của chim yến tại CLC 42

Hình 3.1 Kết quả điện di sản phẩm PCR 46

Hình 3.2 Một phần của kết quả đối chiếu 49

Hình 3.3 Cây phát sinh chủng loại ML 50

Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện khối lượng và tăng trưởng khối lượng chim yến non 51

Hình 3.5 Tư thế xây tổ của Chim yến tổ trắng 60

Hình 3.6 Biểu đồ về tỉ lệ số trứng 1 lứa đẻ của chim yến đảo CLC 67

Hình 3.7 Biểu đồ về thời gian ấp trứng của chim yến đảo CLC 68

Hình 3.8 Biểu đồ về sự lệch ngày nở giữa 2 trứng trong cùng 1 tổ 69

Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện sự thay đổi nhiệt độ ấp trứng của chim yến đảo CLC 70

Hình 3.10 Chim yến đang ấp trứng tại hang Khô, CLC 71

Hình 3.11 Biểu đồ thể hiện sự thay đổi số lần mớm mồi trong ngày cho chim yến non 72

Hình 3.12 Sơ đồ hướng rời hang và về hang của chim yến đảo CLC 77

Hình 3.13 Biểu đồ thể hiện sự tương quan giữa điều kiện nhiệt độ, độ ẩm với độ cao bắt mồi của chim yến 79

Hình 3.14 Biểu đồ thể hiện số lần rời và về hang của chim yến đảo CLC 81

Hình 3.15 Hang Mũi Dứa, đảo CLC 85

Trang 11

chim non bị rơi khỏi tổ 92 Hình 3.18 Biểu đồ thể hiện sự tương quan giữa cường độ ánh sáng, tốc độ gió với số

tổ bị rơi và số chim non bị rơi khỏi tổ 93

Trang 12

Kí hiệu Diễn giải

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Loài chim yến cho tổ ăn được hay còn gọi là Chim yến tổ trắng có giá trị kinh tế rất cao vì tổ của chúng được làm bằng nước bọt, được con người sử dụng như một thực phẩm bổ sung có giá trị dinh dưỡng cao Tổ chim yến, trong dân gian được gọi là “yến sào”, là loại thực phẩm cao cấp đã được sử dụng từ triều đại nhà Đường ở Trung Quốc (năm 618), ở Indonesia từ thế kỷ 14, ở Thái Lan từ thế kỷ 17, Malaisia từ thế kỷ 19 và từ những năm 1301 ở Việt Nam [2,38]

Một số nước ven biển khu vực Nam và Đông Nam Á có sự phân bố của chim yến và nghề thu hoạch yến sào, tuy nhiên do giá trị cao của yến sào đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi từ các quần thể chim yến Điều này

đã phá hủy ngành công nghiệp khai thác yến sào ở một số nước như Ấn Độ và Srilanca Một số nước khác thì ngành công nghiệp khai thác yến sào và quần thể chim yến bị suy thoái mạnh như Malaysia, Myanmar và Thái Lan [2,36,81] Năm

2010, doanh thu từ thị trường tổ yến thế giới vào khoảng 6 tỉ USD, trong đó khu vực tiêu thụ tổ yến lớn nhất là Hồng Kông và các cộng đồng người Hoa ở khắp nơi trên thế giới (chiếm > 80%) [25,36]

Tại Việt Nam, Chim yến tổ trắng tập trung nhiều nhất tại các hang đảo vùng biển các tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Quảng Nam (Cù Lao Chàm - CLC) , tỉnh Bình Định, tỉnh Phú Yên và một số khu vực ven biển phía Nam Tổng sản lượng

tổ yến thô năm 2014 là hơn 10 tấn, cho doanh thu khoảng 50 triệu USD, trong đó

tổ yến thu được tại các hang đảo tự nhiên khoảng 5 tấn, còn lại là tổ yến trong nhà [35,36] So với các nước trong khu vực thì sản lượng tổ yến Việt Nam còn rất thấp trong khi tiềm năng phát triển nguồn lợi yến sào còn rất lớn Ngoài ra, tổ yến khi được chế biến thành các thực phẩm dinh dưỡng bổ sung khác như nước giải khát, bánh kẹo…vv, thì doanh thu đem lại từ tổ yến còn lớn hơn nhiều Chính vì vậy, vấn đề phát triển nguồn lợi yến sào ở Việt Nam một cách nhanh và bền vững đang là mối quan tâm rất lớn của các địa phương có chim yến hiện nay

Để làm được điều đó thì công tác nghiên cứu khoa học về các quần thể chim yến

Trang 14

nhằm bảo tồn và phát triển bền vững quần thể là vấn đề quan trọng hàng đầu mà những nhà quản lí nguồn lợi yến sào cần quan tâm

Chim yến tổ trắng tại Việt Nam có số lượng khoảng hơn 1 triệu cá thể, sống và làm tổ trong 237 hang đảo và hàng nghìn nhà nuôi yến trên cả nước [7,8] Địa phương dẫn đầu về nguồn lợi tổ yến đảo Việt Nam là tỉnh Khánh Hòa,

do Công ty Yến sào Khánh Hòa quản lý và khai thác tổ Nhờ sớm triển khai các nghiên cứu khoa học về chim yến, áp dụng các cải tiến kỹ thuật như làm mái che, đập chắn sóng, di đàn đến những hang mới…vv, mà từ 40 hang yến đảo năm

1995 cho sản lượng khoảng 1 tấn tổ yến/năm, đến năm 2014 tỉnh Khánh Hòa đã

có đến 169 hang yến đảo với sản lượng khoảng 3,5 tấn tổ yến/năm [6,7,8] Tại các địa phương có chim yến đảo khác của Việt Nam, công tác bảo tồn và phát triển quần thể chưa được chú trọng nên sản lượng tổ yến thu được không ổn định như tại CLC (tỉnh Quảng Nam) hay Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) Ở một số địa phương sản lượng tổ yến đã giảm mạnh như tỉnh Bình Định, tỉnh Phú Yên, thậm chí có địa phương Chim yến tổ trắng đã bỏ đi khỏi các hang đảo như ở tỉnh Quảng Bình [25,36,81]

Mặc dù giá trị dinh dưỡng của tổ yến được biết đến từ rất sớm, nhưng các nghiên cứu khoa học về chim yến và yến sào trên thế giới chưa nhiều Ở Việt Nam, các nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, sinh thái của các quần thể chim yến tổ trắng còn rất ít, chỉ có một số nghiên cứu của Nguyễn Quang Phách tập trung trên quần thể chim yến ở một số đảo tỉnh Khánh Hòa [15,16,17,18,19,20,

21, 22, 23, 24, 25, 26, 27]

Tại quần đảo CLC, tỉnh Quảng Nam có sự phân bố của quần thể Chim yến

tổ trắng từ rất lâu đời với số lượng hàng trăm nghìn cá thể, cho sản lượng khoảng

1 tấn tổ yến/năm, đứng thứ 2 toàn quốc về sản lượng tổ yến sau tỉnh Khánh Hòa [8, 36] Chim yến tổ trắng tại CLC sống và làm tổ tập trung trong 9 hang thuộc 3 đảo Tại đảo hòn Khô có: hang Khô, hang Mỏ Đùng Đảo hòn Lao có: hang Tò

Vò, hang Trăn, hang Cả Đảo hòn Tai có: hang Cạn, hang Bắt Cầu, hang Xanh Rêu, hang Kỳ Trâu Từ sau năm 1975, nguồn lợi tổ yến tại CLC được Đội quản

lý và khai thác yến Hội An trực thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Hội An (nay là

Trang 15

thành phố Hội An) quản lý và khai thác tổ Doanh thu từ tổ yến trong những năm gần đây tại CLC luôn đạt trên 80 tỉ đồng, đây quả thật là nguồn lợi lớn và đáng được quan tâm của địa phương [36,38]

Nguồn lợi tổ yến tại CLC từ xưa đến nay được khai thác chủ yếu bằng kinh nghiệm của người dân địa phương và được truyền lại từ nhiều đời, chưa có nhiều cải tiến kỹ thuật trong việc quản lý, bảo vệ đàn chim và khai thác tổ Công tác nghiên cứu khoa học về chim yến nhằm bảo tồn và phát triển quần thể chưa được chú trọng đầu tư nên sản lượng tổ yến trong những năm qua tăng rất chậm

và không ổn định Đặc biệt từ năm 2012 trở lại đây, sản lượng và chất lượng tổ yến tại CLC liên tục bị suy giảm, kích thước và khối lượng tổ yến ngày càng giảm, hiện tượng rơi tổ và rơi chim non khỏi tổ trong mùa sinh sản ngày càng nhiều Đây chính là vấn đề thực tiễn đáng lo ngại, một yêu cầu bức xúc hiện nay đang được đặt ra đối với các cấp quản lý tài nguyên thiên nhiên đối với quần thể chim yến tổ trắng tại quần đảo CLC

Nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học, phục vụ công tác quản lý nguồn lợi yến sào mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương Đó là vừa khai thác tổ, vừa bảo tồn và phát triển bền vững quần thể, nâng cao sản lượng và chất lượng tổ yến tại CLC trước những tác động của tự nhiên và sự khai thác của con người Đáp ứng nhu cầu thực tiễn cấp thiết như vừa nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của quần thể loài Chim yến

tổ trắng Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812) trong điều kiện tự nhiên

tại quần đảo Cù Lao Chàm, Hội An, tỉnh Quảng Nam.”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định vị trí phân loại và thu thập dẫn liệu về các đặc điểm hình thái ngoài của quần thể loài Chim yến tổ trắng tại quần đảo CLC

- Thu thập các dẫn liệu về đặc điểm sinh sản, tập tính kiếm ăn của quần thể loài Chim yến tổ trắng tại quần đảo CLC

- Đánh giá về hiện trạng và ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tác động đến quần thể loài Chim yến tổ trắng tại quần đảo CLC

Trang 16

- Xây dựng các giải pháp khoa học nhằm khai thác hợp lý và phát triển bền vững nguồn lợi quần thể loài Chim yến tổ trắng tại quần đảo CLC

3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái ngoài của quần thể loài Chim yến

- Các nhân tố sinh thái tác động đến quần thể, hiện trạng bảo vệ, khai thác

và sử dụng nguồn lợi tổ chim yến tổ trắng ở CLC

- Các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững quần thể

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án

Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án là những dẫn liệu khoa học cơ bản

về một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của quần thể Chim yến tổ trắng tại quần đảo CLC, xây dựng các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển bền vững quần thể Chim yến tổ trắng tại địa phương

Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm hình thái, vị trí phân loại, sinh sản, tập tính kiếm ăn, hiện trạng và các nhân tố sinh thái tác động đến quần thể Chim yến tổ trắng tại quần đảo CLC là nguồn tư liệu đáng tin cậy cung cấp cho các nhà quản lí nguồn lợi yến sào có thêm những kiến thức, hiểu biết sâu hơn

về quần thể chim yến tại CLC Trên cơ sở đó, có sự lựa chọn các giải pháp để bảo vệ đàn chim, khai thác tổ hợp lí nhằm phát triển và sử dụng bền vững quần thể chim yến ở CLC

Các kết quả nghiên cứu của đề tài luận án có thể phục vụ cho nhiều địa phương khác, các tổ chức hay cá nhân có quần thể loài Chim yến tổ trắng phân

Trang 17

bố sử dụng để làm cơ sở xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi yến sào của địa phương

5 Những đóng góp mới của đề tài luận án

- Đã mô tả một số đặc điểm hình thái ngoài của loài Chim yến tổ trắng,

xác định rõ quần thể Chim yến tổ trắng ở quần đảo CLC thuộc loài Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812)

- Cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về một số đặc điểm sinh học và sinh thái của quần thể Chim yến tổ trắng ở vùng nghiên cứu gồm: tập tính sinh sản, tập tính kiếm ăn và ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến hoạt động sống của quần thể loài Chim yến tổ trắng tại CLC

- Xác định được các bất cập trong quản lý, khai thác nguồn lợi tổ yến, đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác và phát triển bền vững nguồn lợi quần thể Chim yến tổ trắng tại CLC trong tương lai

6 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 118 trang đánh máy khổ A4, gồm: 44 bảng, 28 hình, được chia thành các chương mục sau:

- Phần mở đầu: 5 trang (trang 1 đến trang 5)

- Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 26 trang (trang 6 đến trang 31)

- Chương 2: Thời gian, địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu: 14 trang (trang 32 đến trang 45)

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 61 trang (trang 46 đến trang 106)

- Kết luận và kiến nghị: 2 trang (trang 107 đến trang 108)

- Danh mục các bài báo đã công bố có liên quan đến luận án: 2 trang (trang 109 đến trang 110)

- Tài liệu tham khảo: 90 tài liệu với 38 tài liệu tiếng Việt và 52 tài liệu tiếng nước ngoài (trang 111 đến trang 118)

- Phụ lục số liệu và phụ lục ảnh đi kèm

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Chim yến tổ trắng

1.1.1 Vị trí phân loại

Theo Tim Penulis [86], họ yến có 4 giống (genus) gồm: giống

Hyrundapus (có 3 loài), giống Apus (có 3 loài), giống Collocalia (có 14 loài) và giống Aerodramus có 3 loài: Yến tổ trắng A fuciphagus, Yến tổ đen (Yến xiêm)

A maximus và Yến Ấn Độ A unicolor Theo tác giả thì Chim yến tổ trắng thuộc:

Lớp Chim Aves

Bộ Yến Apodiformes

Họ Yến điển hình Apodidae

Giống Yến nhỏ phát ra âm dội Aerodramus Loài Chim yến tổ trắng Aerodramus fuciphagus

1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo

Chiều dài trung bình cơ thể Chim yến tổ trắng khoảng 12cm (10-16cm) Lông chim phân bố trên lưng màu nâu phớt đen, ở dưới bụng màu xám hoặc nâu, hông có vệt xám Lông đuôi chỉ hơi lõm, không chẻ đuôi sâu Màu mắt nâu tối,

mỏ đen, chân đen Tiếng hót ríu rít và cao Có khả năng phát ra âm thanh dò đường trong hang tối (âm dội) Chim có đôi cánh khỏe, dài hẹp và uốn cong, có thể bay liên tục 40 giờ không nghỉ, tốc độ bay đạt tới 80-100 km/giờ Chân yếu không đậu được, chỉ đu bám bằng các móng chân sắc nhọn Trứng màu trắng dễ

vỡ, thường đẻ 2 quả, kích thước trung bình (13x22)mm Tổ làm từ nước bọt [75, 76]

Nhìn chung, rất khó phân biệt loài Yến tổ trắng với Yến tổ đen và Yến Himalaya khi chúng bay trong không trung

Trang 19

cao, nhưng ít khi chúng bay xa đến các vùng có độ cao trên 1500m để kiếm mồi Theo những điều tra ở Việt Nam thì yến tổ trắng tại Khánh Hòa có thể lên đến Lâm Đồng, Phan Rang để kiếm ăn Bình thường chim kiếm ăn ở khoảng cách xa hang động hoặc nhà của chúng đến 50 km Khi tìm kiếm thức ăn ở những nơi khan hiếm, chim thường bay vòng quanh tại một vị trí và là xuống rất thấp Chim cũng kiếm mồi ở những nơi có nhiều cây cao và trong khoảng không có các côn trùng nhỏ nhưng thường bay ở độ cao dưới 30m, do khi lên cao mật độ côn trùng bay trong không khí giảm dần Thỉnh thoảng chim bay là vào trong nước, đó là

để tắm và uống nước, chúng uống nước và bắt mồi trong khi bay [26,75]

Môi trường sống thích hợp để Chim yến tổ trắng kiếm mồi là vùng có đủ thức ăn cho chim yến trong suốt cả năm, vùng mà chim có thể bắt các loại côn trùng bay suốt từ sáng sớm đến chiều tối Đặc điểm của một vùng kiếm ăn lý tưởng là có 50% diện tích cây thấp dưới 1m như ruộng lúa, đồng cỏ vv; 30% diện tích cây cao trên 5m như keo dậu, xà cừ, tràm, cọ, dừa vv; và 20% mặt nước thoáng Chim rời tổ từ lúc 5h sáng và về tổ từ lúc 16h30’ đến 19h30’ (tùy mùa) [36,76]

Nơi chim làm tổ cũng là nơi chim yến trở về để ngủ nghỉ, đu bám, xây tổ,

đẻ trứng và nuôi con Là một nơi chim có thể bay vào bay ra dễ dàng, làm tổ dễ dàng, yên tĩnh, che khuất để chim cảm thấy an toàn và ít sự đe dọa của động vật gây hại (các hang đá cheo leo ngoài đảo) Nơi đó có điều kiện nhiệt độ từ 24-

310C, ẩm độ trong phạm vi 75-95%, ánh sáng từ tối đến mờ tối (0-2lux), có đối lưu không khí, thoáng mát Các điều kiện này là cần và đủ bảo đảm cho chim sinh sản [35,76]

1.2 Tình hình nghiên cứu về loài Chim yến tổ trắng trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái

* Trên thế giới

Trong lĩnh vực này thì có rất ít các nghiên cứu và thiếu hệ thống, một số nghiên cứu về sinh học, sinh thái của chim yến như:

Trang 20

Nghiên cứu về sinh học sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của chim yến ở hang Niah, Sarawak [42] Một số nghiên cứu đi sâu về

cấu trúc tổ và đẻ trứng của các loài yến cho tổ ăn được trong giống Aerodramus

và ứng dụng trong khai thác tổ yến được được sử dụng rộng rãi hiện nay là của Nugroho [75,76,77] trên các quần thể chim yến tại Indonesia Thomassen, 2005 [88] đã đi sâu phân tích đặc điểm tiếng kêu và phân tích sự tiến hóa của hệ thống

âm định vị của các loài yến trong giống Collocallini

Theo Tim Penulis, 1979 [87] thì chu kỳ sống của Chim yến tổ trắng được tóm tắt theo sơ đồ hình 1.1

Hình 1.1 Chu kỳ sống của Chim yến tổ trắng

(Nguồn Tim Penulis, 1979 [87])

Trang 21

Langham (1980) [70] là tác giả có nhiều nghiên cứu tương đối sâu về chim yến tổ trắng Tác giả nghiên cứu sinh học sinh sản và dinh dưỡng của phân

loài yến C fuciphaga amechanus ở Malaysia (tác giả dùng tên khoa học của loài

là Aerodramus fuciphagus mà hiện nay vẫn thường dùng) Tài liệu cho thấy

thành phần thức ăn cơ bản của chim yến là các loài côn trùng, loài yến này đẻ quanh năm, chim non ở tổ 43 ngày, cũng như xác định tỉ lệ trứng nở, số chim đẻ lại, chim non rời tổ…vv Đây là tài liệu khá chi tiết để tham khảo, tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu trong một năm nên có nhiều vấn đề chưa làm sáng tỏ, nhất là

Trang 22

* Ở Việt Nam

Ở Việt Nam thì có một số nghiên cứu về sinh học, sinh thái chim yến như Sallet (1930) [82] có xuất bản cuốn sách chuyên khảo về chim yến, giới thiệu khá đầy đủ về các vấn đề từ chim yến, tổ yến, lịch sử nghề yến Việt Nam cũng như một số món ăn, bài thuốc từ tổ chim yến Tuy nhiên phần sinh học, sinh thái thì tác giả chỉ điểm qua khá sơ lược và không rõ ràng

Từ năm 1980, Nguyễn Quang Phách đã có nhiều công trình nghiên cứu về chim yến ở Việt Nam, chủ yếu tập trung trên đàn chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa

Ngoài luận án Phó tiến sĩ về chim yến năm 1993 [25], sách chuyên khảo “Loài Chim yến tổ trắng và tổ đen” xuất bản năm 2002 [81] đã tập hợp hầu hết các

nghiên cứu về chim yến của tác giả Nguyễn Quang Phách, đây có thể coi là một

ấn phẩm khoa học rất có giá trị về chim yến ở Việt Nam và các vùng phụ cận

Tác giả đã tập trung nghiên cứu các đặc trưng về sinh học sinh thái trên đàn chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa như các đặc điểm sinh trưởng phát triển cá thể, đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản, sự thay lông và tình hình khai thác nguồn lợi

Theo Nguyễn Quang Phách, 1991 [24], phân bố của chim yến tổ trắng ở Việt Nam là từ Quảng Bình trở vào các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, những công trình công bố sau này của tác giả đã xác định chim yến cho tổ ăn được chỉ phân

bố từ tỉnh Quảng Nam (quần đảo CLC) trở vào các tỉnh phía Nam

Đường bay đi kiếm ăn của chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa được Nguyễn Quang Phách mô tả từ các hang đảo vịnh Nha Trang bay xa vào trong đất liền, lên đến các tỉnh như Phú Yên, Đăc Lắc, Lâm Đồng để kiếm ăn

Kết quả phân tích thành phần thức ăn của chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa của Nguyễn Quang Phách cho thấy có sự khác nhau giữa chim trống, chim mái

và chim non (bảng 1.1) Kết quả cho thấy chim yến hàng ăn các loại côn trùng bay trong không gian, trong đó có nhiều loài gây hại cho cây trồng nên chim yến còn là một trong những loài chim có ích cho nông nghiệp

Trang 23

Bảng 1.1 Thành phần thức ăn của Chim yến tổ trắng Việt Nam Loại côn

% tổng

số

Tần số (%)

% tổng

số

Tần số (%)

-

-

-

94,0 25,5 20,0 29,4 58,8 29,4 47,0 5,5

-

-

-

68,8 17,4 0,6 4,8 4,7 2,1 2,1

100,0 20,0 100,0 100,0 81,5 40,7 92,5 32,8 11,1 11,1

- (Nguồn: Phach et al 2002 [81])

Năm 2011, Hồ Thế Ân và nnk [2] đã xuất bản sách chuyên khảo về lịch sử nghề bảo vệ, khai thác và sử dụng tổ yến ở Việt Nam, tập trung chủ yếu trên quần thể chim yến đảo của tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, phần sinh học, sinh thái của chim yến thì được nhắc đến rất ít và thiếu hệ thống

Năm 2007, trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội đã có khảo sát về đa dạng sinh học đảo CLC, trong đó có khảo sát bước đầu về nơi ở của quần thể chim yến đảo CLC, kết quả được đăng trong Kỷ yếu CLC [38] Kết quả cho thấy chim yến tổ trắng tại CLC sống tập trung trong một số hang đá cheo leo phía Đông của các đảo hòn Khô, hòn Lao và hòn Tai

Năm 2011, Đinh Thị Phương Anh và nnk [1] đã có nghiên cứu về một số yếu tố môi trường, sinh thái tại các hang chim yến làm tổ ở đảo CLC Kết quả bước đầu cho thấy những hang chim yến sống và làm tổ có nhiệt độ thấp hơn, ẩm

độ cao hơn và cường độ ánh sáng yếu hơn bên ngoài hang

Trang 24

1.2.2 Nghiên cứu về phân loại, phân bố

* Trên thế giới

Đa số các nghiên cứu sớm nhất về phân loại Chim yến tổ trắng đều xếp

chúng vào giống Collocalia, về sau thường xếp vào giống Aerodramus với nhiều

loài khác nhau Có thể kể một số công trình nghiên cứu có giá trị về phân loại

chim yến tổ trắng như:

Oberhoser (1906) [79] có thể được coi là tác giả đầu tiên có được chuyên

khảo khá đầy đủ về phân loại giống chim yến Collocalia, tác giả đã mô tả về 2 loài chim yến có tổ ăn được ở Đông Nam Á là C fuciphaga và C francica Tác giả sử dụng dấu hiệu bộ lông và độ chẻ đuôi để phân biệt, trong đó loài C fuciphaga có 3 phân loài là: C f fuciphaga, C f vestita và C f alphaga Loài

C francica có 5 phân loài là: C f francica, C f terraeregine, C f apodiopygia,

C f inexpectata và C f germani Hệ thống phân loại này chỉ dựa vào một ít sai

khác về hình thái nên về sau ít được thừa nhận

Stresemann (1914) [83] khi định loại các loài trong giống Collocalia cũng

dựa vào bộ lông và độ chẻ đuôi Đến năm 1931, tác giả bổ sung thêm đặc trưng của tổ và coi đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân loại, tác giả đã xếp tất cả

chim yến có tổ ăn được vào cùng một loài Collocalia francica (Gmelin) với các phân loài là: C f germani, C f inexpectata, C f vestita, C f javensis và C f micans Tác giả xếp loài C fuciphaga Thunberg vào nhóm chim yến có tổ không

ăn được

Mayr (1937) [72] đã chú ý đến sự đồng hình của các loài trong giống

Collocalia, nhất là nhóm chim yến có tổ ăn được Tác giả chú ý đến dấu hiệu có

hay không có lông tơ trắng ở gốc lông lưng để phân biệt chim yến có tổ ăn được với các loài khác Theo tác giả, chim yến có tổ ăn được có lông tơ trắng ở gốc

lông lưng có tên loài là C germani gồm 9 phân loài, còn loài C fuciphaga không

có lông tơ trắng ở gốc lông lưng và cho tổ không ăn được Tác giả xác nhận sự

khó khăn trong việc định loại các loài trong giống Collocalia: “Mỗi tác giả khi

làm việc với giống chim yến nhỏ vùng Ấn Độ - Mã Lai đều công nhận rằng vấn

đề phân loại chúng hiện nay là khó khăn nhất trong hệ thống phân loại lớp chim”

Trang 25

Hình 1.3 Bản đồ phân bố của Chim yến tổ trắng (khu vực tô đen) và giới hạn

các phân loài của chúng (Nguồn: Medway, 1966 [73]) Medway Lond (1966) [73] đã công bố công trình nghiên cứu có hệ thống

về giống Collocalia Tác giả lần đầu tiên tập hợp nhiều dấu hiệu dùng để định

loại giống chim này như: đặc điểm bộ lông, kích thước cơ thể, độ chẻ đuôi, âm thanh khi bay trong hang tối Trên cơ sở đó, Medway Lond đã xếp tất cả các

chim yến cho tổ ăn được vào cùng một loài là Collocalia fuciphaga Thunberg với các phân loài C f fuciphaga, C f vestita, C f amechana, C f inexpectata, C f perplexa, C f dammemani, C f micans và C f germani Hệ thống phân loại các

Trang 26

loài trong giống Collocalia này đã được nhiều người thừa nhận, trong đó có cả

Stresemann và Mayr Đây là công trình nghiên cứu khá chi tiết về sự phân bố của chim yến cho tổ ăn được trên thế giới, trong đó chỉ rõ loài chim yến cho tổ ăn được phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á (hình 1.3)

Trong hệ thống phân loại chim yến của Brooke (1970) [45] đã xác định chim yến hàng thuộc họ chim yến điển hình Apodidae, phân họ yến điển hình Apodini, giống Apus

Năm 1977, Medway và Pye [73] đã sử dụng tiếng kêu định vị để xây dựng

hệ thống phân loại chim yến Theo Medway và Pye, âm dội của chim yến hàng bao gồm 2 xung động liên tiếp, mỗi xung là 1 – 2 ms Xung thứ 2 luôn có biên độ cao hơn xung thứ nhất Khoảng cách giữa các xung xấp xỉ 15 – 16 ms và năng lượng trong tất các các xung vào khoảng 2 – 10 kHz Mỗi cá thể chim yến có phân bố đỉnh tần số âm thanh khác nhau Điều này giúp cho chúng có thể nhận ra

âm dội của chính mình Kiểu âm thanh này gần giống với kiểu siêu âm của dơi: siêu âm của dơi gồm các cặp xung có biên độ bằng nhau nhưng tần số cao hơn nhiều, được tách biệt ở các khoảng cách giống nhau Kiểu âm thanh của chim yến hàng hay yến tổ trắng lại khác với yến tổ đen (yến xiêm): yến tổ đen phát ra

âm dội chỉ gồm có một xung đơn với các xung tách biệt nhau khoảng 4 – 8 xung trong khoảng cách 20 – 25 ms, tương tự như ở chim dầu (hình 1.4)

Sibley và Ahiquist (1990) [84] thì xác định yến hàng thuộc phân họ yến

nhỏ Collocalini, giống Collocalia Nghiên cứu phân loại chim yến bằng kỹ thuật

sinh học phân tử cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như Kenneth Er (1996) [66], Thommassen, 2005 [88] Các tác giả này đều thống nhất rằng chim yến cho tổ hoàn toàn bằng nước bọt ăn được trên thế giới có tên loài là

Aerodramus fuciphagus với nhiều phân loài khác nhau và cách gọi tên khoa học

vẫn chưa được thống nhất cao

Trang 27

Hình 1.4 Xung động âm thanh của Chim yến hàng và một số loài khác

a - yến hàng C.fuciphaga; b - yến đồng dạng C vanikorensis;

c - yến tổ đen C maxima; d - âm đôi của dơi ăn quả

(Nguồn: Medway và Pye, 1977 [73])

* Ở Việt Nam

Phân loại giống chim yến tổ trắng cũng đã được một số tác giả trong và

ngoài nước nghiên cứu như:

Delacour & P Jabouille (1931) [52] trong sách “Chim Đông Dương, tập II” đã xác định có tất cả 3 phân loài chim yến được mô tả và có khu phân bố ở Việt Nam cũng như các vùng phụ cận, cụ thể: C francica germani Oustalet

1878, C fuciphaga innominata Hume (1873) và C brvirostris inopina Thayer et

Bangs 1909

Trang 28

Võ Quý (1975) [28] trong sách Chim Việt Nam – Tập I: hình thái và phân loại, xác định có 3 loài được mô tả có vùng phân bố ở Việt Nam là yến hông xám

C germani Oustalet, 1878, yến núi C brevirostris innominata Hume 1873 và yến núi đuôi rộng C brevirostris innopina Thayer và Bangs 1909

King et al (1975) [67] đã mô tả 5 loài yến có tổ ăn được, trong đó chỉ có 2

loài có phân bố ở Việt Nam và vùng phụ cận là C fuciphaga và C brevirostris

Đáng chú ý là yến tổ đen không được mô tả có vùng phân bố ở Việt Nam

Windash (1968) [90] trong sách “Chim miền Nam Việt Nam” đã xác định

3 loài chim yến có tổ ăn được ở Việt Nam là Collocalia fuciphaga, Collocali inexpectata và Collocalia francica

Richard Howard and Alick Moore (1984) [85] trong “Danh lục chim thế giới” thì họ yến Apodidae, giống Collocalia có 21 loài và 73 phân loài, phần lớn đều phân bố ở khu vực Đông Nam Á, trong đó phân loài C.maxima maxima và loài C.fuciphaga đều không có vùng phân bố ở Việt Nam

Charles Sibley and Burt L Monroe (1990) [84] trong sách “Phân bố và phân loại chim thế giới, tập I” thì giống Collocalia có 31 loài, có 2 loài được

mô tả ở Việt Nam là: C fuciphaga (Gmelin) 1789 và C brevirostris (Horsfield)

1840 Đáng chú ý là loài C germani Oustalet 1878 phân bố ở các vùng địa hình

thấp ven biển Đông Nam Á, bán đảo Malay, bắc Borneo, Tây Nam Philippines

và loài C maxima Hume 1878 phân bố lên tới độ cao 3.900m ở Nam châu Á và

quần đảo Malay, Đông Bắc Ấn Độ, Đông Nam Tây Tạng, Sumatra, Tây và Đông

Nam Borneo, Java và Philippines Cả 2 loài C germani và C.maxima đều không

được mô tả có vùng phân bố ở Việt Nam

Nguyễn Quang Phách (1991) [24] có công trình nghiên cứu về giống chim yến ở Việt Nam và đã định loại chim yến làm tổ trong các hang đảo ở Việt Nam

là phân loài Collocalia phuciphaga germani Oustalet

Kenneth Er.(1996) [66] xác định ở Việt Nam có cả loài C fuciphagus và loài C germani

Võ Quý, Nguyễn Cử (1999) [29] trong “Danh lục chim Việt Nam” đã mô

tả 9 loài thuộc họ yến (Apodidae) có vùng phân bố ở Việt Nam, đáng chú ý là 2

Trang 29

loài: yến hông xám Aerodramus fuciphagus phân bố từ Đông Bắc đến Nam Bộ

và yến núi Aerodramus brewvirostris phân bố ở Bắc Bộ và Nam Trung Bộ

Phach et al (2002) [81] trong sách chuyên khảo “Loài yến tổ đen và tổ trắng” đã xác định có 2 loài yến có vùng phân bố ở Việt Nam và các nước trong khu vực là loài yến tổ trắng Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812) và loài yến tổ đen Aerodramus maximus (Hume, 1878) Công trình nghiên cứu này khá

đầy đủ và chi tiết về phân loại chim yến có tổ ăn được tại Việt Nam và các vùng phụ cận, được nhiều nhà khoa học trong cũng như ngoài nước thừa nhận và đánh giá cao Công trình đã mô tả sự phân bố chim yến tổ trắng tại Việt Nam là từ Quảng Bình trở vào phía Nam, trong đó tập trung nghiên cứu trên quần thể chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam có hai phân loài chim yến tổ trắng Một phân loài chim yến sinh sống và làm tổ ở các đảo ven biển miền Trung và miền Nam (Yến đảo) Một phân loài chim yến sinh sống và làm tổ trong các nhà yến xây dựng ven biển (Yến nhà) Yến đảo có màu lông ở hông sáng rõ tách biệt với với lưng Yến nhà có màu lông ở hông gần đồng màu hoặc hơi sáng hơn màu lông ở lưng Theo hệ thống phân loại mới hiện nay của

Phach N.Q et al (2002) [81] thì phân loài làm tổ ở đảo có tên khoa học là A f germani, phân loài làm tổ ở các nhà yến trên đất liền là A f amechanus Vào mùa đông, loài Yến himalaya - Aerodramus brevirostris thường di cư đến vùng sống của phân loài A f germani, tuy nhiên chúng phân biệt với loài Yến tổ trắng

ở đặc điểm kích thước lớn hơn và lông ở hông có màu xám hơn Trong bối cảnh nghề nuôi chim yến ở Việt Nam đang phát triển mạnh, mở rộng ra nhiều tỉnh trên

cả nước, quần đàn chim yến ngày một gia tăng thì việc xác định chính xác về mặt phân loại học các chủng quần chim yến ở các vùng khác nhau trên cả nước có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý, định hướng phát triển bền vững nghề nuôi chim yến Bởi lẽ, nếu không nắm rõ vị trí phân loại, vùng phân bố của các phân loài, rất có thể dẫn tới hiện tượng lai ghép khác taxon dẫn tới thoái hóa hoặc trôi gen, về tương lai khiến suy giảm quần đàn Do khó khăn về mặt phân loại hình thái ngoài, nên cần đẩy mạnh các nghiên cứu về sinh học phân tử để góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề này

Trang 30

Craig Robson (2005) [50] trong sách “Chim Đông Nam Á” xác định có 5 loài chim yến trong giống Collocalia, trong đó có 2 loài được mô tả cho Việt Nam là Collocalia brewvirostris gồm 4 phân loài và Collocalia germani gồm 2

phân loài

Clements (2007) [47] trong “Danh lục chim thế giới” (tái bản lần thứ 6)

thì họ yến Apodidae có nhiều giống được mô tả với 100 loài Trong giống

Aerodramus có 28 loài và 57 phân loài (tác giả dùng tên giống là Aerodramus), trong đó có 3 loài được mô tả có vùng phân bố ở Việt Nam là A brevirostris, A rogersi và A maximus Đáng chú ý là loài yến có tổ ăn được là A fuciphaga có 6

phân loài nhưng không có phân loài nào được mô tả cho Việt Nam

Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân (2011) [32] trong “Danh lục chim Việt Nam” thì họ Yến Apodidae ở Việt Nam có 2 giống: Collocalia và Aerodramus Giống Collocalia có 1 loài là yến tổ trắng C germani Oustalet,

1876 với 2 phân loài là C g germani (Oustalet 1876) và C g amechanus (Oberholser,1912) Giống Aerodramus Oberholser, 1906 có 3 loài là yến núi A brevirostris (Hrsfield, 1840), yến rêu A salangana (Streubel, 1848) và yến tổ đen A maximus (Hume, 1878)

Nguyễn Khoa Diệu Thu (2007, 2013) [35,36] trong sách “Chim yến và kỹ thuật nuôi lấy tổ” thống kê chim yến cho tổ ăn được trên thế giới có 3 loài là yến

tổ trắng Aerodramus fuciphagus, Yến tổ đen Aerodramus maximus và yến Ấn

Độ Aerodramus unicolor, trong đó loài yến tổ trắng và yến tổ đen có vùng phân

bố ở Việt Nam (chủ yếu là yến tổ trắng) Theo tác giả, sự phân loại này dựa trên những phân tích về sinh học phân tử của các phòng sinh học hiện đại ở Mỹ, nên rất đáng tin cậy và được dùng phổ biến hiện nay

Đặng Tất Thế và nnk (2007) [33], Nguyễn Giang Sơn, 2010 [30], Hồ Thị Loan và nnk năm 2015 [13] đã tiến hành nghiên cứu phân tích ADN ty thể và xác định mối quan hệ di truyền của một số quần thể chim yến sống ngoài đảo và trong đất liền ở Việt Nam Kết quả cho thấy chim yến cho tổ ăn được sống ở đảo

và trong đất liền ở Việt Nam là 2 phân loài của loài Chim yến tổ trắng

Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812)

Trang 31

1.2.3 Nghiên cứu về thành phần hóa học tổ yến

* Trên thế giới

Nghiên cứu về thành phần hóa học của tổ yến đã thu hút được nhiều tác giả quan tâm như:

Kathan et al (1969) [65] đã nghiên cứu bước đầu về cấu trúc hóa học của

tổ yến Kết quả cho thấy tổ yến là một loại Glucoprotein có chứa Protein, Hexoza, Hesamin, Fucosa, acid Sialic và các chất vô cơ khác Các acid có hàm lượng cao trong tổ yến là Serin, Glutamic, Prolin, Asparatyl, Glyxin, Threonin và Arginin Tác giả cho thấy acid Sialic là dẫn xuất của Diacetyl của acid Neuraminic và có cấu trúc là N-Acetyl-4-O-Acetylneuuraminic

Về giá trị dinh dưỡng của tổ yến theo Adrian, 2002 [39] thì trong 100g tổ yến khô có chứa 49,9g protein với 18 amin cần thiết như: Aspartic, Serine, Tyrosine, Phenylalanine, Valine, Arginine, Leucine, Histidine,, Lysine, Cystine, Tryptophan, Proline, Threonine, Glutamic acid…vv, trong đó có nhiều loại không thay thế mà cơ thể người không tổng hợp được Đặc biệt acid Sialic với hàm lượng 8,6% và Tyrosine là những chất có khả năng phục hồi nhanh chóng các tổn thương khi bị nhiễm phóng xạ hay những chất độc hại, có tác dụng kích thích sinh trưởng hồng cầu Trong tổ yến còn có 30,6g cacbonhydrat trong đó có nhiều loại cơ thể dễ hấp thụ như Galactose, Hexose, Hexosamine, Glucosamine, Galactosamine, Sialic acid, 4,9g sắt, 2,5g muối vô cơ (bao gồm potassium, sodium, calcium, magnesium, sulfur, phosphorus, silics) và các nguyên tố vết khác

Motomu (1983) [74] khi phân tích thành phần hóa học của tổ yến lại cho thấy hàm lượng acid amin trong tổ yến gấp 10 lần so với các tác giả trên, như Asparatic – 11,7%, Serin – 10,7%, Valin – 10,2%, Threonin – 10% trong khi các tác giả trên xác định từ khoảng 1% trở xuống Tác giả cũng xác định hàm lượng Protein trong tổ yến là 45%, Saccarit là 18,5%

Nhiều tác giả khác đã đi sâu tìm hiểu các hoạt tính sinh học trong tổ yến nhưng kết quả thu được chưa nhiều Theo Houdret et al (1960) [61] thì cho thấy trong tổ yến không có chất hoạt tính sinh học, không có bất kỳ hoạt tính nhóm

Trang 32

máu A,B,M và N nào Nhưng Chan et al (1986) [48] lại cho thấy dịch chiết tổ yến có chứa một Glucoprotein có thể tăng cường hiệu lực phân bào của tế bào bạch cầu Monocyt ở máu người với kích thích của Co.A và Phytohemaglutinin A trong tế bào Hoạt tính tăng cường hiệu lực phân bào không thể thẩm tách được nhưng nó ổn định với việc tiêu hóa có giới hạn với Trypsin trong môi trường kiềm và chiết với Este

Theo Norhayati et al, 2010 [78] thì hàm lượng Protein trong tổ yến của Malaysia biến động theo vùng và theo mùa Hàm lượng protein tổ yến khu vực phía Nam cao hơn các vùng khác và cao nhất là vào tháng 8 đến tháng 11, bởi vì vùng này gần vườn quốc gia Malaysia và là mùa có nhiều côn trùng Mùa khô ở Malaysia là tháng 6,7, mùa mưa là tháng 10, 11, 12 Chất lượng tổ yến khu vực

bờ biển phía Đông Malaysia thấp có thể liên quan với yếu tố khí hậu Các số liệu cho thấy hàm lượng canxi, sắt và phospho trong tổ yến tại đây rất cao

* Ở Việt Nam

Số liệu phân tích sinh hoá tổ yến hang đảo của Nguyễn Quang Phách (1991, 1993) [23,25] cho thấy hàm lượng các nguyên tố có khác nhau theo loại tổ

và kỳ khai thác

Kết quả phân tích hàm lượng các chất hữu cơ cho thấy tổ yến khai thác kỳ

1 có sai khác với tổ kỳ 2: hàm lượng protein trong tổ kỳ 1 là 47,16%, kỳ 2 là 36,9%; lipit trong tổ kỳ 1 là 0%, kỳ 2 là 0,56%

Năm 2008, Đội quản lý và khai thác yến Hội An đã tiến hành phân tích thành phần hóa học trong tổ yến đảo CLC, kết quả: Về acid amin được phân tích tại Viện Công nghệ sinh học cho thấy hàm lượng các acid amin tổng số, tính trung bình của 2 mẫu tổ yến trắng thu hoạch đợt 1 và 2 có giá trị trị là 36,49% trong khi đó mẫu tổ yến đỏ là 38,68% (gam trên 100g mẫu) Đã phát hiện thấy 17 acid amin trong tổ yến, trong đó hàm lượng Glutamic acid, Serine, Histidine, Glycine, Arginine, Cystein Cystine, Phenylalanine, Leucine, Lysine trong mẫu tổ yến đỏ cao hơn mẫu tổ yến trắng không nhiều

Về các nguyên tố khoáng, Viện công nghệ xạ hiếm đã phát hiện được 39 nguyên tố kim loại trong tổ yến, trong đó có một số nguyên tố như P, Ca, K chứa

Trang 33

trong tổ đỏ có phần cao hơn tổ trắng Các nguyên tố khác như Fe, Zn, Si, Cu, Zn,

Mg, Co…vv, của 3 mẫu yến không có chênh lệch đáng kể, tổ đỏ có hàm lượng thấp hơn so với tổ trắng thu hoạch lần 2

Qua một số chỉ tiêu phân tích trên tổ yến đảo tỉnh Khánh Hòa và đảo CLC, chưa thấy sự chênh lệch đáng kể có ý nghĩa thống kê sinh học về mặt chất lượng giữa tổ yến trắng và tổ đỏ, tuy nhiên tổ đỏ ở đảo có hàm lượng đường tổng

số, đường dễ tiêu hóa như Galactose và một vài nguyên tố vi lượng cao hơn Như vậy, về chất lượng thì yến tổ trắng và yến tổ đỏ không có sự khác biệt lớn về dinh dưỡng, nhưng trên thực tế hiện nay tổ yến đỏ rất hiếm và giá thành rất cao so với

tổ yến trắng, đây có thể là do cách nhìn nhận của người sử dụng tổ yến Sự hình thành tổ yến đỏ theo nhiều tài liệu nghiên cứu mới nhất hiện nay [78,81] là do điều kiện vi khí hậu nơi làm tổ đã làm cho tổ ngả sang màu đỏ, không phải do huyết của chim yến mẹ trong quá trình xây tổ như nhiều người vẫn giải thích

Về tác dụng của tổ yến, năm 1998 Ngô Thị Kim và cộng sự [9] ở Viện Công nghệ sinh học đã làm thí nghiệm thăm dò tác dụng của tổ yến trên chuột nhắt trắng và thu được các kết quả:

+ Tổ yến làm tăng nhanh trọng lượng chuột lên khoảng 16,4% sau 30 ngày nuôi so với đối chứng không cho ăn dịch chiết tổ yến

+ Tổ yến có tác dụng giải độc: chuột ăn thức ăn có thuốc trừ sâu với liều 3mg/kg kèm dịch chiết tổ yến thì sau 30 ngày nuôi vẫn tăng trọng lượng cơ thể

so với đối chứng giảm trọng lượng 13%

+ Tổ yến có tác dụng tăng lực rõ rệt, làm tăng rõ rệt lượng hồng cầu trong máu chuột thí nghiệm, giảm lượng bạch cầu

+ Dịch chiết tổ yến có tác dụng tăng cường khả năng chống phóng xạ: chuột cho uống dịch chiết tổ yến sống được 65% so với 45% không uống dịch chiết tổ yến sau khi dùng Coban 60 chiếu xạ trên cơ thể chuột với liều 8 Gy

Các thí nghiệm trên của Ngô Thị Kim mới chỉ là bước đầu, chưa có các kiểm chứng thật đầy đủ, tuy nhiên có thể thấy tổ yến thực sự có tác dụng quý giá đối với con người

Trang 34

Kết quả thống kê của Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2013 [36] cho thấy có sự khác nhau về hàm lượng các chất hữu cơ trong tổ yến đảo ở Việt Nam và một số nước trong khu vực như Malaisia, Indonesia, Trung Quốc Trong đó, protein thô trong tổ yến Việt Nam và Malaysia rất cao, đạt trên 50%, lipit rất thấp, chỉ 0,1- 0,5% Các thành phần khoáng khác như Photpho, Mg, Kali, Sắt, Na, Mn vv, đều đạt chuẩn cao Tuy nhiên, tài liệu cũng cho thấy chất lượng của tổ yến phụ thuộc khá rõ vào vùng sản xuất tổ yến, mùa vụ, đồng thời các kết quả đo đạc ở một mức nào đó còn bị phụ vào phương pháp thu mẫu, xử lý mẫu và phương pháp phân tích nên các kết quả đưa ra so sánh chỉ có tính chất tương đối

Năm 2011, Ngô Đăng Nghĩa [14] đã nghiên cứu về tính chất hoá học và ứng dụng y học của tổ chim yến tổ trắng Kết quả cho thấy các chất trong tổ yến

có tác dụng kích thích các hormon phân bào, tăng trưởng biểu bì, sửa chữa tế bào

và kích thích hệ miễn dịch, có thể ức chế mạnh virut gây bệnh cúm qua việc bao bọc virut cúm, ức chế việc kết dính virut lên trên tế bào hồng cầu

* Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu chim yến tổ trắng

Trên thế giới

Các nghiên cứu về loài chim yến tổ tắng đã được tiến hành từ rất sớm, trong đó các tác giả tập trung vào nghiên cứu phân loại chim yến với nhiều hệ thống phân loại khác nhau, các nghiên cứu về các đặc điểm sinh học sinh thái của chim yến tổ trắng chưa nhiều và còn chưa được hệ thống

Ở Việt Nam

Nhìn chung, có một số công trình nghiên cứu về loài Chim yến tổ trắng và tập trung chủ yếu vào các nghiên cứu phân loại, phân bố và thành phần hóa học của tổ chim yến Về phân bố cho thấy chim yến tổ trắng chỉ sống tập trung tại một số hang đảo các tỉnh Quảng Nam (CLC), Bình Định, Khánh Hòa Vì thế, có thể nói các nghiên cứu về chim yến tổ trắng tại Việt Nam chỉ tập trung trên các quần thể chim yến tại khu vực miền Trung Trong khi đó các nghiên cứu về sinh học, sinh thái Chim yến tổ trắng còn rất hạn chế, chỉ có một số nghiên cứu của Nguyễn Quang Phách trên quần thể chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa

Trang 35

Tại tỉnh Quảng Nam (CLC) mới chỉ có một số nghiên cứu bước đầu về nghề khai thác và thành phần hóa học của tổ yến, một vài khảo sát bước đầu về

sự phân bố và một số yếu tố môi trường, sinh thái nơi chim yến làm tổ, chưa có

các nghiên cứu về sinh học, sinh thái chim yến

1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý và địa hình

CLC là quần đảo gồm 8 đảo là hòn Lao, hòn Tai, hòn Dài, hòn Mồ, hòn

Lá, hòn Khô Mẹ, hòn Khô Con và hòn Ông (hòn Ông nằm cách xa về phía Nam nên các tài liệu thường không đề cập đến), tổng diện tích tự nhiên là 1549,15ha, cách thành phố Hội An 20 km và thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Đông, có tọa

độ nằm trong khoảng 15052’ đến 16000’ vĩ độ Bắc và 108022’ đến 108044’ kinh

độ Đông Quần đảo chủ yếu là đồi núi thấp, hầu hết các đảo đều có hình chóp cụt, cao độ so với mực nước biển từ 70m đến 200m [38]

Hình 1.5 Bản đồ phân vùng khu bảo tồn biển CLC

(Nguồn: Khu bảo tồn biển CLC, 2015)

Trang 36

Đảo lớn nhất là Hòn Lao, là đảo duy nhất có người dân sinh sống, hình thành 01 xã đảo có tên là xã Tân Hiệp trực thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Hòn Lao có một dãy núi chính xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao dao động từ 187m đến 517m (đỉnh Tục Cả) chia hòn Lao thành 2 sườn có độ dốc khác nhau Sườn Đông có độ dốc lớn, đá tảng bao quanh chân núi hiểm trở, không có bãi bồi ven biển nhưng có nhiều khe nứt đổ lớn tạo thành nhiều hang đá lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho chim yến trú ngụ và làm tổ Sườn Tây dốc thoải ít đá tảng, có các bãi bồi ven biển như Bãi Bấc, Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Xếp, Bãi Chồng, Bãi Bìm và Bãi Hương

Do có các thềm cát bên cạnh bãi biển đã mở rộng tạo thành các bãi cát từ

40 - 50m Các bãi cát được giới hạn bởi các mũi nhô đá gốc, đó là các khối đá có thành phần đa dạng, tạo nên sự phong phú của hình thái Trên các Bãi Bấc, Bãi Chồng gặp nhiều khối đá lớn được mài tròn hoặc nằm chồng lên nhau, một số nơi

đá mài mòn còn xuất hiện nhiều hang tự nhiên

Đặc điểm nổi bậc của địa hình CLC là tính bất đối xứng, đảo định hướng Tây Bắc - Đông Nam với sườn Đông Bắc hẹp và dốc đứng, sườn Tây Nam rộng

và thoải hơn Bờ biển sườn Đông Bắc tạo bởi các đoạn bờ thẳng hoặc hơi cong, trùng với đứt gãy và khe nứt, là các vách đứng, trơ đá gốc, cao đến hàng 100m, đang chịu sự công phá mãnh liệt của biển với quá trình đổ lở khối tảng lớn [38]

ha, trong đó được phân chia thành 3 loại đất chính như sau:

- Đất nông nghiệp là 540,32 ha, bao gồm: đất trồng cây hàng năm 0,65 ha, đất trồng lúa 4,49 ha, đất trồng cây lâu năm 0,28 ha và đất rừng đặc dụng là 534,90 ha

Trang 37

- Đất phi nông nghiệp là 583,14 ha, bao gồm: đất ở tại nông thôn 9,35 ha, đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 0,47 ha, đất quốc phòng 288,21 ha, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 265,92 ha, đất có mục đích công cộng 7,66

ha, đất tôn giáo, tín ngưỡng 1,2 ha, đất nghĩa trang, nghĩa địa 7,2 ha, đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng 3,13 ha

- Đất chưa sử dụng là 425,35 ha, bao gồm: đất bằng chưa sử dụng 8,85 ha, đất đồi núi chưa sử dụng 94,17 ha, núi đá không có rừng cây 322,65 ha

Trên địa bàn xã Tân Hiệp hiện nay có 04 loại thổ nhưỡng đó là: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá Mácma và đất Feralit vàng nâu phát triển trên

đá biến chất, hai loại đất này có khả năng sử dụng trồng cây lâm nghiệp Đất dốc

tụ hiện đang sử dụng trồng cây nông nghiệp Đất cát bãi bồi ven biển thích hợp cho việc xây dựng nhà ở Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế của địa phương, cũng như đáp ứng tốt các nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ dân sinh Diện tích mặt nước là 152km2 (bao gồm hồ, ao, sông

suối, mặt nước biển) Nguồn nước ngầm thay đổi theo điều kiện địa hình và mùa, dao động bình quân từ 4 - 10m với chất lượng nguồn nước tương đối tốt Diện

tích sử dụng để nuôi trồng thuỷ hải sản là không có Tài nguyên khoáng sản tại CLC chưa được khảo sát

Trang 38

- Nhiệt độ trung bình cao nhất: 29,20C

- Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 21,4 0C

* Số giờ nắng

- Tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm: 2243 giờ

- Tổng số giờ nắng trung bình mỗi ngày: 6,15 giờ

* Độ ẩm không khí

Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất là tháng 12, có năm lên đến 92% còn tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất là tháng 7, có năm xuống dưới 75% Trong mùa khô, khi có sự hoạt động của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh, độ ẩm không khí thấp nhất có thể xuống đến 50%

- Độ ẩm trung bình nhiều năm: 82%

(Nguồn: Đài Khí tượng Thủy Văn TP Đà Nẵng, 2015)

Trang 39

(tháng 3), tháng mưa nhiều nhất có 20 ngày mưa (tháng 10), lượng mưa ngày lớn nhất 332mm Từ tháng 2 đến tháng 7 thường có mưa giông

* Bão

CLC chịu ảnh hưởng của khí hậu Trung Trung Bộ, bão thường xuất hiện

từ tháng 8 đến tháng 10, cá biệt có lúc xảy ra từ tháng 4 Bão xảy ra thường kéo theo những trận mưa và sóng biển lớn Theo thống kê nhiều năm, số cơn bão đổ

bộ vào CLC, Hội An chiếm tỉ lệ 24,4% tổng số cơn bão đổ bộ vào đất liền từ vĩ tuyến 17 trở vào

* Thủy triều

Chế độ triều vùng CLC, Quảng Nam chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều

và bán nhật triều không đều Mỗi tháng có trung bình 3 ngày chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều, tháng nhiều nhất có 8 ngày, tháng ít nhất có 1 ngày, thời gian còn lại chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều Triều ở vùng biển CLC, Quảng Nam thuộc loại triều yếu, biên độ triều trung bình khoảng 80cm, lớn nhất 150cm

Do bị ảnh hưởng của chế độ triều phức tạp bao gồm chế độ bán nhật triều

và nhật triều, xen giữa có thời gian chuyển chế độ triều cho nên thời gian triều lên và thời gian triều xuống cũng thay đổi rất phức tạp Trong những ngày nhật triều, thời gian triều lên dài nhất là 18 giờ, trung bình 13,3 giờ, ngắn nhất là 12 giờ Thời gian triều xuống dài nhất là 15 giờ, trung bình 11,5 giờ, ngắn nhất là 9 giờ

1.3.4 Khu hệ thực vật, động vật

Rừng CLC là rừng đặc dụng, rừng khoanh nuôi, tái sinh, có hệ thống nước ngầm với chất lượng tương đối tốt, có hệ động, thực vật phong phú và đa dạng CLC là một trong số ít đảo của Việt Nam còn giữ được thảm thực vật có độ che phủ tương đối lớn, khoảng 60 - 70% Kiểu thảm chiếm diện tích lớn nhất là rừng thường xanh, cây lá rộng nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 50 - 500m Đây

là kiểu thảm rừng có nhiều cây gỗ quý như gõ biển, huỳnh, lim xẹt vv Ngoài

gỗ, đây cũng là nơi có nhiều loại lâm sản phụ như song, mây, cây làm thuốc, làm vật liệu xây dựng Nhờ sự quản lý chặt chẻ của chính quyền địa phương, rừng

Trang 40

CLC cho đến nay vẫn được đánh giá là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm, là nơi đảm bảo cho nguồn cung cấp nước cho cư dân và lực lượng

vũ trang trên đảo Thảm thực vật tại CLC không chỉ là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý mà còn góp phần đáng kể vào nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc phòng trên vùng biển miền Trung Việt Nam [38]

Ngoài kiểu rừng thường xanh, tại sườn Đông của đảo, nơi địa hình rất dốc, lớp đất phủ trên bề mặt hầu như không có và ở đây vẫn tồn tại một kiểu thảm thực vật cây bụi và trảng cỏ với những loài đặc trưng như sến đất, huyết giác và

cỏ cứng Tại sườn Tây Bắc đặc trưng nhất là thảm phong lan với loài huyết nhung tía gần như thuần loại Tại các bãi biển, thảm thực vật được đặc trưng bởi một số loài cây chịu được thủy triều lên xuống như rau muống biển, tra làm chiếu, dứa dại và đặc biệt là cây hếp, là một trong các loài cây tiên phong ở các bãi cát tại vùng nhiệt đới Kết quả nghiên cứu ở độ cao dưới 100m đã thống kê được hệ thực vật ở đây có đến 499 loài thuộc 352 chi, 115 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Nhóm cây làm thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất với 116 loài (22,8%) tổng số các loài thống kê được như hoàng nan, cỏ xước, bách lộ, lạc tiên,

mã đề và một số loài trong họ gừng [38]

Nhờ có lớp phủ thực vật tương đối tốt nên mặc dù bị săn bắn nhiều, CLC hiện là nơi cư trú của nhiều loài động vật Nơi đây đã điều tra và thống kê được

12 loài thú, 52 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài ếch nhái Trong đó, loài khỉ

vàng Macaca mulatta có tên trong Sách đỏ Việt Nam, 2007 và loài yến tổ trắng Aerodramus fuciphagus có tên trong Nghị định 32/2006 của chính phủ Đối với

hệ sinh thái vùng triều, bao gồm bãi triều đá và bãi triều cát là nơi phân bố nhiều loài sinh vật như ốc vú nàng, ốc vú sao, ốc nhảy, ốc mắt, ốc hương và các loài thuộc họ cua bơi, tôm he, tôm gõ mõ hay thân mềm như ngao, gọ, hến vv [38]

Hệ sinh thái rạn san hô phân bố khắp các đảo vùng CLC với nhiều loài san

hô cứng, san hô mềm và các sinh vật sống kèm vùng rạn san hô cũng khá phong phú như các loài thuộc nhóm rong biển, trai, ốc, cầu gai, tôm hùm vv [38]

Ngày đăng: 08/04/2020, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[13]. Hồ Thị Loan, Nguyễn Giang Sơn, Đặng Tất Thế, Nguyễn Lân Hùng Sơn, 2015. Mối quan hệ di truyền của một số quần thể chim yến sống ngoài đảo và trong đất liền ở Việt Nam. Tạp chí Sinh học, tập 37(2), tr.228-235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Sinh học
[14]. Ngô Đăng Nghĩa, 2011. Tính chất hóa học và ứng dụng của yến sào. Kỷ yếu Hội thảo khoa học về phát triển quần thể chim yến hàng và tài nguyên yến đảo thiên nhiên tại các tỉnh duyên hải toàn quốc, Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học về phát triển quần thể chim yến hàng và tài nguyên yến đảo thiên nhiên tại các tỉnh duyên hải toàn quốc
[15]. Nguyễn Quang Phách (1980). “Dẫn liệu bước đầu về thức ăn của chim yến hông xám Collocalia fuciphaga germani Oust”, Thông báo khoa học (1), tr. 63-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu bước đầu về thức ăn của chim yến hông xám "Collocalia fuciphaga germani" Oust”, "Thông báo khoa học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1980
[16]. Nguyễn Quang Phách (1982). “Thức ăn của chim yến hàng Collocalia fuciphaga germani Oust”, Tạp chí sinh học IV (3), tr. 24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn của chim yến hàng "Collocalia fuciphaga germani" Oust”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1982
[17]. Nguyễn Quang Phách (1983). “Sinh sản của chim yến hàng Collocalia fuciphaga germani Oust”, Tạp chí sinh học V (3), tr. 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản của chim yến hàng "Collocalia fuciphaga germani" Oust”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1983
[18]. Nguyễn Quang Phách (1985). “Sự sinh trưởng và phát triển của chim non của chim yến hàng Collocalia fuciphaga germani Oustalet”, Tạp chí sinh học VII (2), tr. 12 -15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự sinh trưởng và phát triển của chim non của chim yến hàng "Collocalia fuciphaga germani "Oustalet”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1985
[19]. Nguyễn Quang Phách (1985). Tìm hiểu yến sào, Nxb Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu yến sào
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1985
[20]. Nguyễn Quang Phách (1985). “Kết quả nghiên cứu chim yến hàng Collocalia fuciphaga germani Oustalet bằng phương pháp đeo vòng và đánh dấu”, Thông báo khoa học V: tr. 30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chim yến hàng "Collocalia fuciphaga germani" Oustalet bằng phương pháp đeo vòng và đánh dấu”, "Thông báo khoa học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1985
[21]. Nguyễn Quang Phách (1988). “Sự thay lông của chim yến hàng Collocalia fuciphaga germani Oustalet”, Tạp chí sinh học X (1), tr. 26-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thay lông của chim yến hàng "Collocalia fuciphaga germani" Oustalet”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1988
[22]. Nguyễn Quang Phách (1990). “Hiệu quả sinh sản của chim yến hàng Collocalia fuciphaga germani Oustalet”, Tạp chí sinh học XII (3), tr. 16 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sinh sản của chim yến hàng "Collocalia fuciphaga germani" Oustalet”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1990
[23]. Nguyễn Quang Phách (1991). “Một số vấn đề về nguồn lợi Yến sào Việt Nam” Tạp chí thuỷ sản VI, tr. 30-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nguồn lợi Yến sào Việt Nam” "Tạp chí thuỷ sản
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1991
[24]. Nguyễn Quang Phách (1991). “Về giống Colllocalia fuciphaga germani Oustalet ở Việt Nam”, Phụ trương tạp chí sinh học (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giống "Colllocalia fuciphaga germani" Oustalet ở Việt Nam”, "Phụ trương tạp chí sinh học
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1991
[25]. Nguyễn Quang Phách (1993). Cơ sở sinh học của việc khai thác hợp lý bảo vệ và phát triển nguồn lợi chim yến hàng (Collocalia fuciphaga germani Oustalet) ở Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ. Đại học tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Collocalia fuciphaga germani "Oustalet) ở Việt Nam, "Luận án phó tiến sĩ
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Năm: 1993
[26]. Nguyễn Quang Phách (1999). Yến sào và đời sống chim yến hàng, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yến sào và đời sống chim yến hàng
Tác giả: Nguyễn Quang Phách
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
[27]. Nguyễn Quang Phách, Hồ Thế Ân và cộng sự (1999). Tuyển tập tóm tắt các kết quả đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Khánh Hoà 10 năm (1989-1999), Sở KHCN & MT Khánh Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tóm tắt các kết quả đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Khánh Hoà 10 năm (1989-1999)
Tác giả: Nguyễn Quang Phách, Hồ Thế Ân và cộng sự
Năm: 1999
[28]. Võ Quý, 1975. Chim Việt Nam, hình thái phân loại, tập 1. Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chim Việt Nam, hình thái phân loại, tập 1
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
[29]. Võ Quý, Nguyễn Cử (1999). Danh lục chim Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục chim Việt Nam
Tác giả: Võ Quý, Nguyễn Cử
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
[30]. Nguyễn Giang Sơn, 2010. Mối quan hệ di truyền của một số quần thể chim yến sào (giống Aerodramus) ở Việt Nam. Luận văn Thạc sỹ sinh học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 79 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aerodramus") ở Việt Nam. "Luận văn Thạc sỹ sinh học
[31]. Nguyễn Lân Hùng Sơn, 2013. Tổng quan một số nghiên cứu về phân loại học chim yến trên thế giới và ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phát triển nghề nuôi chim yến ở Việt Nam, Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phát triển nghề nuôi chim yến ở Việt Nam
[32]. Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân, 2011. Danh lục Chim Việt Nam. Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục Chim Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm