60 3.6.2.1 Các từ đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người khác nhau ở tính cụ thể hay trừu tượng của ý nghĩa được biểu đạt 3.6.2.2 Các từ đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
ĐỖ THỊ THÙY DƯƠNG
ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA - DÂN TỘC CỦA TƯ DUY NGÔN NGỮ QUA HIỆN TƯỢNG TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI (TRÊN TƯ LIỆU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
ĐỖ THỊ THÙY DƯƠNG
ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA - DÂN TỘC CỦA TƯ DUY NGÔN NGỮ QUA HIỆN TƯỢNG TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI (TRÊN TƯ LIỆU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT)
Chuyên ngành : Lí luận ngôn ngữ
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Tồn
Hà Nội – 2010
Trang 3MỤC LỤC
Mục lục 1
Phần mở đầu 7
1 Lí do chọn đề tài: 7
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
2.1 Mục đích 7
2.2 Nhiệm vụ 7
3 Đối tượng và phạm vi tài liệu nghiên cứu 8
3.1 Đối tượng nghiên cứu 8
3.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Bố cục của luận văn 10
Phần nội dung 11
Chương 1: Cơ sở lí luận chung về từ đồng nghĩa 11
1.1 Khái lược về nguồn gốc thuật ngữ “từ đồng nghĩa” 11
1.2 Khái niệm từ đồng nghĩa 11
1.2.1 Phân biệt ba khái niệm cơ bản: hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa 11
1.2.1.1 Hiện tượng đồng nghĩa 11
1.2.1.2 Đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa 12
1.2.2 Quan điểm của các nhà việt ngữ học về từ đồng nghĩa 13
1.2.3 Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về từ đồng nghĩa 16
1.3 Các thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa 18
1.4 Quan niệm của luận văn về từ đồng nghĩa 19
1.5 Phân loại từ đồng nghĩa 20
1.5.1 Các từ đồng nghĩa ý niệm 20
Trang 41.5.2 Các từ đồng nghĩa phong cách 22
1.5.3 Các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách 24
1.6 Từ đồng nghĩa - một trong những nhân tố tạo nên đặc trưng văn hoá - dân tộc của tư duy ngôn ngữ 25
1.7 Tiểu kết 29
Chương 2: Tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 31
2.1 Nguồn gốc, đặc điểm loại hình ngôn ngữ Anh 31
2.1.1 Sơ lược về nguồn gốc ngôn ngữ Anh 31
2.1.2 Đặc điểm loại hình ngôn ngữ Anh 31
2.2 Kết quả thống kê về nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 32
2.3 Đặc điểm từ loại của các từ ngữ đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 32
2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 34
2.5 Kiểu ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 40
2.6 Phân loại tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 42
2.6.1 Tên gọi đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 43 2.6.2 Tên gọi đồng nghĩa phong cách chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 44
2.6.3 Tên gọi đồng nghĩa tuyệt đối chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 2.7 Ý nghĩa biểu trưng của một số tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 48
2.7.1 Heart (tim) 48
2.7.2 Mouth (miệng) 49
2.7.3 Tooth (răng) 50
Trang 52.7.4 Tongue (lưỡi) 50
2.8 Tiểu kết Chương 3: Tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng việt 52
3.1 Nguồn gốc, đặc điểm loại hình tiếng Việt 52
3.1.1 Sơ lược về nguồn gốc tiếng Việt 52
3.1.2 Đặc điểm loại hình tiếng Việt 52
3.2 Kết quả thống kê nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 53
3.3 Đặc điểm cấu tạo tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 53
3.4 Đặc điểm ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 54
3.5 Kiểu ngữ nghĩa của các tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 58
3.6 Phân loại tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 59
3.6.1 Tên gọi đồng nghĩa tuyệt đối chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 59
3.6.2 Tên gọi đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 60
3.6.2.1 Các từ đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người khác nhau ở tính cụ thể hay trừu tượng của ý nghĩa được biểu đạt 3.6.2.2 Các từ đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người khác nhau về mức độ rộng hẹp của ý nghĩa 3.6.3 Tên gọi đồng nghĩa phong cách chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 62
3.7 Tính chất biểu trưng của một số tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 64
3.7.1 Bụng - dạ 64
3.7.2 Gan 65
3.7.3 Máu và tiết 65
Trang 63.7.4 Ruột 66
3.8 Vấn đề sử dụng từ đồng nghĩa trong tiếng Việt hiện nay 66
3.9 Tiểu kết 67
Chương 4: Đối chiếu tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt 69
4.1 So sánh đặc điểm từ loại của nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt 69
4.2 So sánh đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt 70
4.3 So sánh kiểu ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa thứ sinh chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và trong tiếng Việt 71
4.4 So sánh "liều lượng "các tiểu loại tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và trong tiếng Việt 72
4.5 So sánh đối chiếu tính chất biểu trưng tình cảm bằng bộ phận tim trong tiếng Anh và bụng trong tiếng Việt 74
4.6 Nguyên nhân của những sự khác biệt 76
4.6.1 Khác biệt về loại hình ngôn ngữ 76
4.6.2 Khác biệt về đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ngôn ngữ 77
4.6.3 Sự khác biệt về hoàn cảnh xã hội 78
4.7 Ứng dụng thực tiễn của việc nghiên cứu từ đồng nghĩa trong việc dạy/học tiếng Anh và tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ 79
4.7.1 Ứng dụng của việc nghiên cứu từ đồng nghĩa 79
4.7.2 Dạy/ học từ ngữ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt 80
Kết luận 82
Tài liệu tham khảo 87
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình bản sắc văn hoá riêng Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay thì nhu cầu giao tiếp quốc tế càng tăng Trong xu hướng hội nhập văn hoá thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cùng với xu thế toàn cầu hoá ấy, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc học hỏi, tìm hiểu về ngôn ngữ, văn hoá của dân tộc mình mà còn muốn biết muốn hiểu sâu hơn về ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc khác Chính từ việc đối chiếu để tìm hiểu sự giống và khác nhau về cấu trúc, cơ chế tạo nghĩa, sự hoạt động và phát triển giữa các ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta thấy được đặc trưng văn hoá và tư duy của một dân tộc Bởi vì chính ngôn ngữ là nơi tàng trữ và phản ánh khá toàn diện các đặc trưng văn hoá và tư duy của một dân tộc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích:
Giải quyết đề tài này, luận văn nhằm:
- Phân tích cơ chế tạo nghĩa của trường từ vựng “tên gọi đồng nghĩa chỉ
bộ phận cơ thể con người” để tìm ra những đặc điểm về ngôn ngữ - văn hoá
và tư duy của trường từ vựng đó phục vụ cho các ứng dụng thực tiễn
- Chỉ ra những tương đồng và dị biệt của tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ
thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt Dựa trên sựphân tích nguyên nhân của những sự khác biệt sẽcó thể thấy được đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Anh và người Việt
với tư cách là ngoại ngữ
2.2 Nhiệm vụ:
Để đạt được các mục đích nói trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
Trang 8- Xác định đầy đủ các tên gọi đồng nghĩa thuộc về trường từ vựng chỉ bộ
phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt;
- Đặc biệt là tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của các tên gọi đồng nghĩa chỉ
bộ phận cơ thể con người để qua đó thấy được đặc điểm tư duy của người Anh và người Việt
3 Đối tƣợng và phạm vi tài liệu nghiên cứu:
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tên gọi đồng nghĩa chỉ các bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt
3.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu:
Với đối tượng nghiên cứu như vậy, phạm vi thu thập tài liệu khảo sát của luận văn là các cuốn từ điển sau:
- Nhóm tác giả Trầm Quỳnh Dân, Trần Thanh Sơn (1997), Từ điển Anh – Việt , Nxb Thanh Hóa;
- Trần Văn Điền (1998), Từ điển Từ đồng nghĩa, phản nghĩa Anh – Việt, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
- Hoàng Phê (chủ biên) (2001), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng
- Thanh Tâm và nhóm tác giả (2004), Từ điển Việt – Anh, Nxb Thống Kê
- Nguyễn Văn Tu (1985), Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.,
- Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
- Từ điển: Advanced learner's English dictionary (ấnbảnlần7) (2005), Oxford University press
Các trang Web:
- http://www.ngonngu.net
- http://www.dictionary.refence.com/browse/synonym
Trang 9- http://www.dictionary.sensagent.com/dictionary + of + synonyms/en - en/
- http://www.ptthlamson.net/forums/archie/index.php/t-137.html
- http://www.synoym.com
Ngoài các cuốn từ điển nêu trên là tư liệu nghiên cứu chính, trong quá trình triển khai thực hiện đề tài, chúng tôi còn sử dụng một số tài liệu trong lĩnh vực văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ học
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Phương pháp nghiên cứu chung:
Các phương pháp được chúng tôi sử dụng xuyên suốt trong luận văn là phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả
4.2 Phương pháp nghiên cứu chuyên sâu:
Chúng tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu từ đồng nghĩa do
Nguyễn Đức Tồn đề xuất (Nguyễn Đức Tồn, Từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb,
Khoa học xã hội, H., 2006) Đó là:
+ Phương pháp giải thích ý nghĩa các đơn vị trong dãy đồng nghĩa; + Phương pháp tìm sự khu biệt ngữ nghĩa của các đơn vị đồng nghĩa; +Thủ pháp xác định các đơn vị đồng nghĩa bằng kết cấu đồng nhất “A
là B”, đảo lại “B là A”;
+ Phương pháp xác lập dãy đồng nghĩa bằng an két điều tra
5 Đóng góp của luận văn:
Luận văn cung cấp tương đối đầy đủ dữ liệu quan trọng về tên gọi đồng nghĩa của các bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt
Giúp hiểu rõ thêm tâm thức của người Anh và người Việt qua việc sử dụng tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người
Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho việc giảng dạy phần từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ
Trang 10Kinh nghiệm và cách thức nghiên cứu của luận văn sẽ là những gợi ý hữu ích cho những công trình nghiên cứu đối chiếu tương tự sau này
6 Bố cục của Luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn của chúng tôi được triển khai thành bốn chương:
Trang 11PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
1.1 KHÁI LƯỢC VỀ NGUỒN GỐC THUẬT NGỮ “TỪ ĐỒNG NGHĨA”
Theo “Đại từ điển Bách khoa Xô Viết”, tập 23 [114], thuật ngữ chỉ hiện
tượng đồng nghĩa có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp.
* Được viết dưới dạng tiếng Hi Lạp:
Synònymia: có nghĩa là “cùng tên”, chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng
nghĩa nhưng không đồng nhất Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng hoặc là với cùng một biểu vật (denotat) (sự kiện, khách thể, v.v…), hoặc là với cùng một biểu niệm (signifikat) (cái được biểu hiện thuộc ngôn ngữ) (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr.68])
* Được viết dưới dạng tiếng Anh:
Synonymy: có nghĩa là “hiện tượng đồng nghĩa”
1.2 KHÁI NIỆM TỪ ĐỒNG NGHĨA
1.2.1 Phân biệt ba khái niệm cơ bản: hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa
1.2.1.1 Hiện tượng đồng nghĩa
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn thì đồng nghĩa là một trong những khái
niệm có tính nền tảng của ngôn ngữ học, cũng như của Logic học, ngữ nghĩa logic và của kí hiệu học
Như trên [1.1] đã trình bày, tính chất đẳng nghĩa được hiểu theo hai hướng, tính tương ứng hoặc là cùng với một biểu vật:
Ví dụ :
Sân bay và phi trường, nhãn và mắt
Hoặc là tương ứng cùng với một biểu niệm:
Trang 12Ví dụ:
Trong tiếng Việt: bố và cha; nông và cạn.v.v…
Trong tiếng Anh: rich – wealthy ( giàu);
Hiện tượng đồng nghĩa còn có thể xảy ra giữa các cụm từ cố định:
Ví dụ:
Nước đổ lá khoai và nước đổ đầu Vịt; Oản ít bụt nhiều và Mật ít ruồi nhiều.v.v…
Ví dụ: hiện tượng Đồng nghĩa cụm từ tiếng Anh:
Bad news travels fast - No news is good news (Tin dữ lan nhanh )
Trang 131.2.2 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về từ đồng nghĩa
Trong Việt ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đã rất quan tâm đến từ
đồng nghĩa Nhà Việt ngữ học Đỗ Hữu Châu quan niệm rằng:
“Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn ngữ nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau
Do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được
Những từ này là những từ đồng nghĩa” [2, tr 63]
Quan điểm của Đỗ Hữu Châu về từ đồng nghĩa, theo chúng tôi, còn ít nhiều chưa được cụ thể, bởi vì tác giả mới chỉ đề cập tới “hình thức ngữ âm khác nhau; từ nghĩa giống nhau; tiếp đó là các từ đồng nghĩa có thể thay thế
cho nhau trong nhiều hoàn cảnh”, mà chưa đề cập tới “mức độ giống nhau về
ý nghĩa của các từ “đến mức nào thì mới được coi là đồng nghĩa” Sau khi
nghiên cứu sâu hơn về từ đồng nghĩa, năm 1981, ông đưa ra quan niệm khác
về từ đồng nghĩa như sau:
“Từ đồng nghĩa là những từ thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa chung của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản” [3, tr.191] Mặc dù vậy, quan niệm trên về từ đồng nghĩa của ông vẫn chưa giúp giải quyết được các vấn đề sau:
Thứ nhất, đúng là có những từ đồng nghĩa thay thế cho nhau được
trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi Nhưng không phải tất cả các từ đồng nghĩa đều có thể thay thế cho nhau trong cùng một ngữ cảnh (…)
Thứ hai, có những từ thay thế được cho nhau trong một ngữ cảnh mà ý
nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản, song chúng không phải là
những từ đồng nghĩa [44, tr.80 - 81]
Tiếp theo, trên cơ sở nhận thức lại về từ đồng nghĩa như vậy, Đỗ Hữu Châu đưa ra quan niệm mới về từ đồng nghĩa:
Trang 14“Hiện tượng Đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tuỳ theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các
từ ngữ có chung một nét nghĩa chung (nét nghĩa phạm trù) Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó” [3, tr 184].
Theo ý kiến của chúng tôi, quan niệm về từ đồng nghĩa vừa trình bày là quá rộng Hơn thế nữa, tác giả coi cả các từ chỉ có một nét nghĩa chung nhất giống nhau là những từ đồng nghĩa mà không nhận ra rằng, trong thực tế nghiên cứu, các từ cần thiết có ý nghĩa gần nhau đến một "mức độ nhất định" thì mới được coi là những từ đồng nghĩa
Cố phó giáo sư Nguyễn Văn Tu - nhà Việt ngữ học, trong công trình đầu tiên của mình, đó là cuốn "Từ vựng học tiếng Việt hiện đại" xuất bản năm
1968 đã đưa ra quan niệm về từ đồng nghĩa như sau:
"Những từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau Đó là nhiều từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng trong những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh”
Chúng tôi cho rằng, định nghĩa trên của tác giả Nguyễn Văn Tu là hơi hẹp Bởi một lẽ, định nghĩa mới chỉ quan tâm tới từ đồng nghĩa biểu vật, chưa đề cập tới từ đồng nghĩa biểu niệm Định nghĩa trên chỉ là định nghĩa thuần tuý ở phương diện lí thuyết
Năm 1985, trong cuốn “Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1985", ông đã đưa ra một cách hiểu khác về từ đồng nghĩa: “Thực ra những từ đồng nghĩa là những từ của một thứ tiếng có nghĩa biểu đạt (chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất, v.v…) giống nhau hoặc gần nhau, có thể thay thế cho nhau trong một số ngữ cảnh nhất định nhưng có khác nhau về sắc
Trang 15thái tình cảm, về giá trị gợi cảm, về phong cách, phạm vi sử dụng.v.v… Đó là
những từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó
là những tên khác nhau của một hiện tượng Những từ này có điểm chung về chức
năng định danh Nói rộng ra, những từ đồng nghĩa là những từ cùng chỉ một khái
niệm [46, tr.13 - 14]
Với cách hiểu như trên, tác giả Nguyễn Văn Tu đã nêu cụ thể hơn và có
sự mở rộng hơn quan niệm về từ đồng nghĩa Tuy nhiên, tác giả chưa phân biệt
rõ khái niệm “chủng” và khái niệm “loại’ Vì vậy, tác giả đã coi chúng là từ
đồng nghĩa
Ví dụ:
Đầm – Hồ – Chuôm
Nhà Việt ngữ học Nguyễn Thiện Giáp lại tán thành quan điểm của
P.A.Bu - đa - gốp Trên cơ sở đó ông đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng
nghĩa như sau:
“Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sự
giống nhau của các nghĩa sở biểu Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho
rằng “Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh,
biểu thị các sắc thái của một khái niệm” (dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp
[17, tr 191 - 192])
Hạn chế trong quan niệm của tác giả P.A Bu - đa - gốp và Nguyễn
Thiện Giáp là ở chỗ mới chỉ đề cập đến từ đồng nghĩa biểu niệm, còn trường
hợp từ đồng nghĩa biểu vật thì hoàn toàn không nhắc tới
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức Nghiệu trong
cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tr 195" đã đưa ra một quan niệm về
từ đồng nghĩa theo xu hướng:
Thứ nhất, dựa vào đối tượng được gọi tên;
Thứ hai, dựa vào khái niệm do từ biểu thị
Trang 16Thực ra, từ đồng nghĩa không phải là những từ trùng nhau hoàn toàn về nghĩa Chúng nhất định có những dị biệt nào đó bên cạnh sự tương đồng (mặc
dù phát hiện sự dị biệt đó không phải lúc nào cũng dễ dàng) Chính sự dị biệt
đó lại là lí do tồn tại và làm nên những giá trị khác nhau giữa các từ trong một nhóm từ đồng nghĩa Rõ ràng tính đồng nghĩa có những mức độ khác nhau Và theo các tác giả thì từ “đồng nghĩa là những từ tương đối giống với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó, hoặc đồng thời cả hai” [23, tr.195]
Tác giả Nguyễn Trung Thuần trong bài viết “Thử tìm hiểu từ trung tâm trong nhóm từ đồng nghĩa đăng trên tạp chí “Ngôn ngữ” đã viết:
“Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về vỏ ngữ âm nhưng giống nhau về nghĩa (biểu thị hay diễn đạt) và có thể thay thế cho nhau trong những ngữ cảnh tiêu biểu mà nội dung thông báo vốn được giữ nguyên” [45, tr 59]
1.2.3 Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về từ đồng nghĩa
Nhóm tác giả A.D Gri - gô - re- va và V.M Gri - gô- ri – an cho rằng:
“Những từ nào có ý nghĩa hoàn toàn đồng nhất với nhau mới được coi là những từ đồng nghĩa”
Do vậy, A.D Gri - gô - re - va đã tuyên bố: “Theo quan điểm của
chúng tôi, chỉ có sự đồng nhất ý nghĩa, chứ không phải tính gần gũi về ý nghĩa như một số người giả định, mới cho phép các từ là những từ đồng nghĩa Sự tô điểm thêm những cảm xúc khác nhau (thô bỉ, đề cao, hạ thấp.v.v…) cho các từ đồng nhất ý nghĩa, đặc điểm phong cách – chức năng (khẩu ngữ, sách vở, thông tục, v.v…), đặc điểm sử dụng ngữ cảnh của chúng, v.v… những đặc điểm hình thái – ngữ pháp đặc thù cho mỗi từ trong chúng không hề cản trở việc thừa nhận các hiện tượng là đồng nghĩa khi có sự đồng nhất ý nghĩa”(dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr 76])
Trang 17Ngược lại, D’ Alam – bơ phủ nhận tính chất đồng nhất tuyệt đối về ý
nghĩa của các từ đồng nghĩa Tác giả cho rằng: không có hai từ đồng nghĩa
nhau ở ý nghĩa thực sự của từ Nói cách khác, chúng có thể thay thế cho nhau
trong mọi trường hợp Chính vì vậy, nếu định nghĩa từ đồng nghĩa mà chỉ căn
cứ vào tiêu chuẩn “đồng nhất về ý nghĩa của từ” là không đúng (dẫn theo
Nguyễn Đức Tồn [ 44, tr 78])
A.N Grô - zđép và A.B.Sa - pia lại cho rằng: “Các từ đồng nghĩa là
những từ biểu hiện cùng một khái niệm, đồng nhất hoặc gần gũi về ý nghĩa
của mình Chúng chỉ khác nhau về sắc thái nghĩa, hoặc là về sắc thái phong
cách, phạm vi sử dụng hoặc là đồng thời cả hai đặc trưng nêu trên" (dẫn theo
Nguyễn Đức Tồn [ 44, tr 78-79])
A.A Re –pho - mat – xki khi nhận diện từ đồng nghĩa thì chỉ dựa vào
sự vật, hành động, tính chất trong thực tế khách quan mà từ biểu thị Do đó
tác giả định nghĩa: “Hai từ đồng nghĩa gọi tên cùng một sự vật, nhưng lại ứng
với nó những khái niệm khác nhau và do đó thông qua tên gọi làm bộc lộ ra
những thuộc tính khác nhau của sự vật này” (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44,
tr 79])
Tác giả R.A.Bu - đa – gốp, như đã có dịp đề cập ở trên, lại dựa vào khái
niệm mà từ biểu thị nên cho rằng: Từ đồng nghĩa là những từ gần gũi nhau về ý
nghĩa nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm
(dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr 58])
Và cuối cùng, các nhà nghiên cứu B.N.Gô - lô - vin và O.S A – khơ – ma – nô - va dựa vào ý nghĩa nói chung của từ để định nghĩa
từ đồng nghĩa Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ: chưa nói rõ xem “các từ
có nghĩa giống nhau đó là nghĩa nào, ý nghĩa biểu thị hay ý nghĩa diễn đạt
Đồng thời, quan niệm này chủ yếu dựa vào nội dung mà chưa chú ý đến tiêu
chí hình thức để nhận diện từ đồng nghĩa
Trang 181.3 CÁC THỦ PHÁP NHẬN DIỆN TỪ ĐỒNG NGHĨA
Như đã trình bày ở phần trước, từ đồng nghĩa là một khái niệm rất khó xác định Do vậy, để nhận diện chính xác các từ đồng nghĩa đòi hỏi chúng ta phải có những thủ pháp tối ưu Trong thực tế nghiên cứu, các nhà nghiên cứu
đã đưa ra rất nhiều thủ pháp khác nhau để nhận diện từ đồng nghĩa
Các thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa truyền thống gồm:
* Thủ pháp sử dụng ngữ cảnh (chúng tôi đã nói ở trên);
* Thủ pháp dựa vào trường nghĩa;
Các thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa dựa vào trường nghĩa do S.G.Bê – rê – an đề xuất và được tác giả Đỗ Hữu Châu vận dụng vào tiếng Việt như sau:
- Dựa vào các nghĩa vị khái quát, từ đó lập ra các trường ngữ nghĩa;
- Phân trường ngữ nghĩa đó ra thành các trường ngữ nghĩa nhỏ hơn, dựa
vào nghĩa vị cụ thể Tiếp tục phân chia như thế cho đến khi không thể phân chia được nữa;
- Lập bảng liệt kê các đơn vị nghĩa cho các đơn vị đã được phân tíchrồi
so sánh chúng với nhau về số lượng và tính chất nghĩa vị
Hạn chế của thủ pháp này là đã đánh đồng những từ thuộc cùng một chủ
đề với những từ đồng nghĩa chân chính vì các từ đồng nghĩa thì chắc chắn thuộc cùng một chủ đề nhưng các từ thuộc cùng một chủ đề thì chưa hẳn đã là những
từ đồng nghĩa
Trên cơ sở phân tích các thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã đề xuất một thủ pháp mới để nhận diện từ đồng nghĩa Chúng tôi sẽ vận dụng thủ pháp này để làm
việc trong luận văn của mình Đó là: Sử dụng kết cấu đồng nhất “A là B” và đảo lại “B là A”
Theo Nguyễn Đức Tồn thì đây là thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa mang lại hiệu lực tối ưu bởi:
Trang 19“Kết cấu “A là B” và đảo “B là A” chính là ngữ cảnh đồng nhất tổng quát nhất, điển hình nhất cho mọi ngữ cảnh đồng nhất khác”
Hai đơn vị từ vựng nào đó xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất này sẽ
có thể thay thế được trong mọi ngữ cảnh (trừ ngữ cảnh đòi hỏi sắc thái tu từ.v.v… riêng đặc thù) (Nguyễn Đức Tồn [44, tr 96])
Ưu điểm nổi bật của thủ pháp này là ở chỗ: nó dựa trực tiếp vào mẫn cảm ngôn ngữ của người bản ngữ, khiến có thể nhận ra ngay được mối quan
hệ ngữ nghĩa hai đơn vị được so sánh, vừa đơn giản tiện lợi, lại vừa dễ áp dụng Đồng thời, khi sử dụng thủ pháp này để nhận diện từ đồng nghĩa, chúng
ta sẽ khắc phục được nhược điểm của thủ pháp sử dụng ngữ cảnh để nhận
diện từ đồng nghĩa”
Chúng tôi xin đưa ra một ví dụ trong tiếng Anh để chứng minh cho điều vừa nêu:
Trong tiếng Anh, hai tính từ “Dirty” và “unclean” đều có nghĩa là “dơ
bẩn, bẩn thỉu” Chúng ta có thể nói:“A dirty skirt”is “An unclean skirt” hoặc“An unclean skirt” is “A dirty skirt” (“A dirty skirt” và “An unclean skirt” đều có nghĩa là : một chiếc váy bẩn )
Tuy nhiên, sắc thái của hai tính từ này có phần khác biệt nên không
phải lúc nào chúng cũng có thể thay thế cho nhau Trong ngữ cảnh trên cả hai tính từ đều được dùng để mô tả vẻ bề ngoài của đồ vật Trong khi đó, khi nói
về tính cách của con người (mang nghĩa tiêu cực) thì người Anh lại chỉ dùng
tính từ “dirty”, ví như: “A dirty Person: một người bẩn tính, nhỏ nhen; hay trong câu: They spoke the dirty on her: Họ chơi bẩn đối với cô ta
1.4 QUAN NIỆM CỦA LUẬN VĂN VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
Chúng tôi cho rằng một định nghĩa ưu việt về từ đồng nghĩa phải đồng thời chú ý đến quan hệ giống nhau của các sự vật, khái niệm mà chúng biểu thị, phải chú ý đến mức độ giống nhau về nghĩa của chúng Và nếu có thể thì còn có thể nêu được cả cách thức để nhận diện các từ đồng nghĩa Chính vì
Trang 20vậy, chúng tôi tán thành với định nghĩa về từ đồng nghĩa của Nguyễn Đức Tồn được đưa ra trong cuốn “Từ đồng nghĩa tiếng Việt”(2006), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 96”.
Nội dung định nghĩa như sau:
“Hai đơn vị từ vựng/từ được gọi là đồng nghĩa khi chúng có vỏ ngữ
âm khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc/ và biểu niệm giống nhau và: a/ Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại được
“B là A” mà không cần phải chỉnh lí bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/từ cùng nghĩa
b/ Nêú như để chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại được “B là A” cần có sự chỉnh lí, thêm bớt nét nghĩa nào đó vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/từ gần nghĩa”
Thực chất, định nghĩa trên đề cập tới các vấn đề sau:
* Các từ đồng nghĩa phải là những từ thuộc về cùng một từ loại Như vậy,
chúng mới cùng xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất “A là B” và “B là A”
* Trong ý nghĩa của chúng có chứa những yếu tố đồng nhất;
* Các yếu tố khác nhau của các ý nghĩa này bị trung hoà hoá trong
những ngữ cảnh nhất định;
* Một số từ cực kì gần gũi đến mức đồng nhất về ý nghĩa được gọi là
những từ đồng nghĩa tuyệt đối;
* Trường hợp các từ đồng nghĩa khác có mức độ giống nhau về ý
nghĩa kém hơn trường hợp trên thì đó là những từ gần nghĩa
1.5 PHÂN LOẠI TỪ ĐỒNG NGHĨA
Dựa cách phân loại đã được tác giả Nguyễn Đức Tồn đưa ra trong cuốn sách của mình đã nêu trên đây, chúng tôi tán thành và chia các từ đồng nghĩa thành ba tiểu loại sau đây
1.5.1 Các từ đồng nghĩa ý niệm
Trang 21Các từ đồng nghĩa ý niệm là các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách, khác biệt nhau về các sắc thái của ý nghĩa cơ bản, chung cho mỗi từ
Ví dụ: trong tiếng Việt:
Thuốc men – thuốc thang
Cả hai từ đều “chỉ thuốc dùng để phòng hoặc chữa bệnh” Tuy nhiên, sắc thái của ý nghĩa trong các từ đồng nghĩa này có sự khác nhau “Thuốc men” dùng
để nói khái quát về các loại thuốc nói chung “Thuốc thang” dùng nói khái
quát về thuốc đông y
Hoặc trong tiếng Anh: ba tính từ:
Pretty – good looking – beautiful đều được dùng để diễn tả sự ưa nhìn
Tuy nhiên:
* Pretty: Được dùng để chỉ sự duyên dáng, đáng yêu ở nữ giới hay dùng chỉ
bề ngoài, chỉ cái đẹp đạt tới độ “tuyệt mỹ” của đồ vật
Ví dụ:
- She is a pretty girl /(cô ấy là một cô gái kiều diễm).
- She was wearing a pretty dress /(Cô ấy mặc một chiếc váy đẹp tuyệt)
* Beautiful: Chỉ đơn thuần là nói về cái đẹp của sự vật, hiện tượng, con
người, có phần nghiêng về sự nhận xét chủ quan của người phát ngôn
Ví dụ:
- It was a beautiful summer’s day /(Đó là một ngày hè đẹp trời)
- She is s beautiful girl /(Cô ấy là một cô gái xinh đẹp)
* Good – looking: Dùng cho người (không phân biệt giới tính)
Trang 22thể dùng với “Pretty”, “ good – looking” “Good – looking” được dùng cho người (không phân biệt giới tính) Tuy nhiên, Pretty và beautiful lại chỉ dùng
cho nữ giới
Tóm lại, các từ đồng nghĩa ý niệm là phương tiện biểu hiện, chính xác hoá tư tưởng trong từng trường hợp sử dụng ngôn ngữ Những sắc thái ý nghĩa cơ bản này nếu chúng ta biết cách sử dụng đúng chỗ sẽ giúp lời nói trở nên tinh tế, chính xác, rõ ràng, ngắn gọn và biểu cảm
Trăng (ông trăng) – Nguyêt (cũ, vch)
Trong tiếng Anh:
Hai tính từ, "inexpensive" và "cheap" đều có nghĩa là “rẻ” Tuy nhiên, người Anh thường dùng tính từ "cheap" để nói về những đồ không tốt với
hàm ý chê bai, phê phán chất lượng của đồ vật, v.v Còn "inexpensive" chỉ
đơn thuần nói về giá cả không đắt
Như vậy, khác với các từ đồng nghĩa ý niệm, các từ đồng nghĩa phong cách xuất hiện với một số lượng lớn, đặc biệt ở các danh từ có ý nghĩa cụ thể Điều này hoàn toàn là tự nhiên và hợp quy luật Bởi, cùng một đối tượng cụ thể, ở thời đại khác nhau và ở những địa phương khác nhau có thể có những tên gọi khác nhau
Ví dụ:
Má (ph) - mẹ – bầm (ph)
Muỗng (ph) – thìa
Trang 23Hổ – hùm (kng) – khái (đph) - Ông ba mươi (kiêng kị)
Từ đồng nghĩa phong cách được chia thành hai nhóm như sau:
* Nhóm 1: Các từ cổ
Các từ thuộc nhóm này gồm các từ cổ, các từ đã lỗi thời Hiện nay, các
từ này đã bị đẩy lùi khỏi vốn từ và được thay thế bằng các từ khác Do vậy, chúng ít được sử dụng, bởi đặc điểm này mà chúng được coi là vốn từ vựng tiêu cực.Tuy nhiên chúng vẫn được sử dụng vì mục đích “tạo sắc thái phong cách cổ xưa” và chủ yếu được sử dụng trong sáng tác văn học nghệ thuật Chúng hoạt động với tư cách là các từ đồng nghĩa phong cách với các từ tiếng Việt hiện đại Các từ cổ - đó có thể là các từ Hán Việt cổ, các từ ngữ liên quan đến các điển tích, điển cố được vay mượn từ tiếng Hán, vay mượn từ ngôn
ngữ Ấn - Âu
Ví dụ:
Nước mắt và lệ - luỵ – châu Cõi đời và bụi hồng, bụi trần, hồng trần, cõi trần, trần ai, trần tục…
* Nhóm 2: Các từ đồng nghĩa phong cách của tiếng Việt hiện đại
Các từ đồng nghĩa thuộc loại này có nguồn gốc chủ yếu từ các từ địa
phương Chúng là các từ nằm trong vốn từ vựng tích cực Nói cách khác, vốn
từ vựng tích cực là thành phần cơ bản, là trụ cột của từ vựng có phạm vi sử dụng rộng rãi, và thường xuyên được sử dụng Bên cạnh đó, chúng vẫn được dùng chủ yếu trong tác phẩm văn học để nhằm khắc họa sắc thái địa phương hoặc tính cách nhân vật Hoặc đó có thể là các từ thuộc các lĩnh vực khoa học,
Trang 241.5.3 Các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách
Các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách là các từ đồng nghĩa không chỉ khác nhau về màu sắc phong cách mà còn khác nhau cả về sắc thái ý nghĩa chung của mỗi từ
Ví dụ:
Trình – bẩm – trình bày
* Trình: là từ được dùng trong văn hành chính Có nghĩa là “ báo cáo cho cấp
trên để xem xét việc gì v.v…” (Ví dụ: Trình dự án lên Quốc hội)
* Bẩm: là từ cổ Đối tượng sử dụng có địa vị thấp trong xã hội Có nghĩa là:
thưa, trình (Ví dụ: bẩm quan, bẩm bà, v.v…)
* Trình bày: được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống con
người Có nghĩa là: nói ra một cách rõ ràng và đầy đủ về sự việc v.v cho mọi người hiểu rõ
Ví dụ:
Trình bày nguyện vọng, trình bày bản báo cáo, trình bày bài hát, v.v…
Tóm lại, từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ có thể chia ra làm ba loại:
Thứ nhất, từ đồng nghĩa ý niệm;
Thứ hai, từ đồng nghĩa phong cách;
Thứ ba, từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách
Trang 251.6 TỪ ĐỒNG NGHĨA - MỘT TRONG NHỮNG NHÂN TỐ TẠO NÊN ĐẶC TRƢNG VĂN HOÁ - DÂN TỘC CỦA TƢ DUY NGÔN NGỮ
Văn hoá là một chiếc áo đẹp cho một dân tộc Ngôn ngữ là chất liệu tạo nên chiếc áo đẹp đó Có thể nói ngôn ngữ và văn hoá tạo nên đặc trưng của mỗi dân tộc Cũng chính bởi thế, khi chúng ta nhận diện một dân tộc khu biệt với dân tộc khác thì phải thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá của
họ Vậy văn hoá là gì?
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hiện tượng được gọi là “văn hoá” Thuật ngữ “văn hoá” là một từ tiếng Hán do Lưu Hướng (năm 77 – 6 TCN) thời Tây Hán nêu ra đầu tiên Nhưng lúc đó, “văn hoá” có nghĩa là “dùng văn
để hoá”, nói cách khác, “văn hoá” tức là “giáo hoá” – dùng trí tuệ, sự hiểu biết của mình để cảm hoá giáo dục Theo sự phát triển của xã hội loài người, nghĩa của “văn hoá” có phần khác trước Nguyên là từ “văn hoá” trong tiếng
Anh và tiếng Pháp được viết dưới dạng “Cultura” có nguồn gốc từ chữ La tinh “Cultura” có nghĩa là trồng trọt, làm đất.v.v…Đến giữa thế kỉ XIX, do
sự phát triển của các khoa học Nhân loại học, Xã hội học, Dân tộc học khái niệm văn hoá đã thay đổi Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hiện tượng được gọi là “văn hoá” này
E B Taylor - nhà Nhân loại học người Anh, trong tác phẩm “Văn hoá
nguyên thuỷ” đã đưa ra quan điểm về văn hoá như sau: “Văn hoá là một tổng hoà phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, phong tục, pháp luật và cả những năng lực thói quen mà con người đạt được trong xã hội” (dẫn theo Trần Quốc Vượng [52, tr.22]) Phan Ngọc đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá mang tính chất thao tác luận Khác với những định nghĩa
trước đó, theo ông “Không có cái gì gọi là văn hoá cả và ngược lại bất kì vật
gì cũng có cái mặt văn hoá Văn hoá là mối quan hệ Nó là mối quan hệ hữu
cơ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành
Trang 26một kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” (dẫn theo Trần Quốc Vượng [52, tr.22])
Năm 1982, tổ chức Unesco đưa ra một định nghĩa về văn hoá khá đầy
đủ Định nghĩa này thể hiện quan niệm: nói đến văn hoá là phải nói đến hai loại: văn hoá vật chất (hay vật thể) và văn hoá tinh thần (hay phi vật thể) Do
đó các di sản văn hoá cũng bao gồm hai loại: Một là di sản văn hoá vật thể, như đền, chùa, lăng, mộ.v.v…Hai là, những di sản văn hoá phi vật thể, bao gồm các biểu hiện tượng trưng và không sờ thấy được của văn hoá, được lưu truyền và biến đổi qua thời gian Những di sản tạm gọi là phi vật thể (vô hình) này theo UNESCO bao gồm cả âm nhạc, hội họa, văn chương truyền miệng,
ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghề truyền thống, v.v…
Trên cơ sở phân tích các cách hiểu khác nhau về văn hoá, Trần Ngọc
Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá như sau:
“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [38, tr 27])
Định nghĩa này có thể được coi là nền tảng để xem xét các hiện tượng văn hoá bởi nó nêu bật được bốn đặc trưng quan trọng của văn hoá - đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử
Giữa ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ biện chứng: Văn hoá là một
hệ thống được tạo thành bởi nhiều nhân tố khác nhau Mỗi thành tố mang những đặc điểm chung của văn hoá, nhưng cũng lại có những đặc điểm riêng
Ngôn ngữ là một thành tố rất quan trọng bởi nó chi phối các thành tố
khác Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Mặc dù ngôn ngữ là “hiện thực
Trang 27trực tiếp của tư tưởng” (Các Mác) nhưng về mặt hình thành, ngôn ngữ và văn
hoá đều là những thiết chế xã hội mang tính ước định
Chúng ta không thể phủ nhận rằng giữa ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng Ở bất kì thời đại nào, trong một giai đoạn lịch sử nào thì văn hoá cũng là thước đo trình độ phát triển của một dân tộc – đặc biệt trong đó,ngôn ngữ, văn tự đóng vai trò quan trọng trong sự biểu đạt, bảo tồn và lưu giữ văn hoá của tộc người đó
Thật vậy, bản thân ngôn ngữ là “một hệ thống tín hiệu đặc biệt” với chức năng là công cụ hình thành và phát triển tư duy, là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của loài người Không chỉ thế, ngôn ngữ còn là phương tiện kế thừa truyến thống, văn hoá lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Bởi vậy,
ngôn ngữ chính là yếu tố quan trọng nhất lưu giữ thành quả giá trị của các thành tố văn hoá khác Điều này chứng tỏ ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử, văn hoá của một tộc người Rõ ràng, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá là mối quan hệ gắn bó và bổ trợ cho nhau Bởi trong mối quan hệ với văn hoá thì ngôn ngữ được đánh giá là
“phương tiện duy nhất có khả năng giải mã cho tất cả các loại hình nghệ thuật
gắn với phạm trù văn hoá”
Theo quan điểm biện chứng Mác xít, chúng ta thấy văn hoá và ngôn ngữ không chỉ có mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ chặt chẽ mà chúng còn bao hàm, chi phối lẫn nhau Điều này là không thể chối cãi vì ngôn ngữ chính là một trong những thành tố làm nên văn hoá, là một tiểu hệ thống tín hiệu quan trọng nằm trong hệ thống tín hiệu khổng lồ và bao trùm, chứa đựng nhiều tiểu
hệ thống khác là văn hoá Sự liên quan hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn hoá của một nhóm người cụ thể lại có thể được nghiên cứu tách rời khỏi các biểu tượng ngôn ngữ trong hoạt động của chúng Đây chính là tác động trở lại của ngôn ngữ đối với văn hoá Như vậy, văn hoá, trong đó có ngôn ngữ đã góp
Trang 28phần giúp chúng ta phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác Văn hoá được lưu giữ bằng nhiều phương tiện khác nhưng chỉ ngôn ngữ, văn tự mới chính là phương tiện đặc biệt để lưu giữ văn hoá
Vậy, để hiểu biết về văn hoá của một dân tộc, trước hết chúng ta phải
có sự hiểu biết ngôn ngữ, tiếng nói của dân tộc đó Sự gặp nhau giữa ngôn ngữ và văn hoá là ở điểm chung: Ngữ nghĩa học Điều này, có nghĩa là, ngữ nghĩa học chính là cầu nối trung gian để tìm hiểu, khám phá mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá của một dân tộc Như trên đã phân tích, ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó, khăng khít với nhau, để hiểu được cái này phải nắm bắt được cái kia và ngược lại, khi tìm hiểu nguồn gốc, sự phát triển và hình thành của một ngôn ngữ cũng đồng thời phải tìm hiểu nguồn gốc, sự phát triển diện mạo văn hoá của một dân tộc Nói văn hoá được ẩn giấu trong ngôn ngữ cũng chính là vì lẽ đó
Trong bài “Đặc điểm dân tộc của giao tiếp như một vấn đề liên ngành;
đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp của Ngôn ngữ học tâm lí”, A A Lê - ôn
– chép, đã khẳng định đặc trưng văn hoá dân tộc bào gồm các thành tố như:
* Các truyền thống, phong tục, nghi lễ;
* Tập quán, sinh hoạt, đời sống văn hoá;
* Các thái độ, cử chỉ, hành vi – tất cả những biến thể hành vi đã được ấn định như các “ngôn ngữ” nét mặt, cử chỉ được sử dụng trong một nền văn hoá dân tộc nào đó;
* Nghệ thuật – một thành tố chỉ ra đặc trưng của nền văn hoá dân tộc bởi vì nguồn gốc thuật ngữ gắn liền với nguồn gốc của nền văn hoá dân tộc [6, tr
157 – tr 204] Hay, trong công trình “Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt”, Nguyễn Đức Tồn đã nhắc đến quan điểm của B.F.Po – sơ - nhép: “Nhân tố quan trọng hình thành nên đặc trưng dân tộc của văn hoá là các hình thức truyền thống của lao động (dẫn theo
Trang 29Nguyễn Đức Tồn [42, tr 20]) Có thể thấy rằng, đặc trưng văn hoá - dân tộc được thể hiện khá rõ nét trong hoạt động của con người và được nhận thấy trong quá trình trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các đại diện thuộc những nền văn hoá khác nhau “Chỉ có sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, so sánh cái của mình với cái của người khác mới cho phép coi những yếu tố của một nền văn hoá có địa vị đặc trưng khu biệt” (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [42, tr
20])
A.A Lê - ôn – chép cho rằng: đặc trưng văn hoá - dân tộc của giao tiếp ngôn ngữ được tạo thành từ một hệ thống nhân tố quy định những sự khác biệt trong cách tổ chức, trong các chức năng và cách thức tiến hành quá trình giao tiếp tiêu biểu cho cộng đồng văn hoá - dân tộc hoặc cộng đồng ngôn ngữ nào đó Các nhân tố này cụ thể là:
* Những nhân tố gắn với tâm lí học dân tộc;
* Những nhân tố gắn liền với truyền thống văn hoá;
* Những nhân tố gắn với hoàn cảnh xã hội và các chức năng xã hội của sự giao tiếp;
* Các nhân tố liên quan với sự có mặt trong kho tàng của cộng đồng này, những phản ứng, những khái niệm đặc thù nào đó;
* Các nhân tố bị quy định bởi ngôn ngữ của một cộng đồng [6, tr 9 – tr 11] Luận văn của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc xem xét một số nhân tố có liên quan tới nhiệm vụ đề ra, cụ thể là phương tiện giao tiếp, chức năng xã hội của tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt Thông qua đó, chúng ta có thể thấy rõ được đặc trưng văn hoá - dân tộc của tư duy ngôn ngữ của người Anh và người Việt
1.7 TIỂU KẾT
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rõ rằng: từ đồng nghĩa vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết Cho đến nay, vẫn còn tình trạng bất đồng quan điểm về hiện tượng từ vựng này Luận văn đã điểm lại một số quan niệm về từ đồng
Trang 30nghĩa của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước: các từ đồng nghĩa là những từ cùng chỉ một sự vật hoặc/và khái niệm Có quan niệm cho các từ đồng nghĩa phải
có ý nghĩa trùng nhau tuyệt đối Cũng có quan niệm cho rằng nghĩa của các từ đồng nghĩa chỉ gần nhau Một số các thủ pháp khác nhau để nhận diện từ đồng nghĩa đã được đề xuất như dựa vào sự có thể thay thế nhau của các từ vào cùng một ngữ cảnh mà nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi, hoặc dựa vào lí thuyết trường nghĩa do
Bê – rê - an đưa ra
Trong luận văn của mình, chúng tôi đã dựa vào định nghĩa từ đồng nghĩa, cũng như thủ pháp nhận diện, cách phân loại từ đồng nghĩa của tác giả Nguyễn Đức Tồn trong cuốn “Từ đồng nghĩa tiếng Việt”, (2006), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
để làm việc: các từ đồng nghĩa là các từ có nghĩa biểu vật và/hoặc biểu niệm giống nhau, có thể thay vào công thức đồng nhất “A là B” và đảo lại “B là A” Các từ đồng nghĩa có thể giống nhau tuyệt đối hoặc chỉ tương đối (gần nghĩa nhau) Có ba loại từ đồng nghĩa: Từ đồng nghĩa ý niệm, từ đồng nghĩa phong cách, từ đồng nghĩa
ý niệm – phong cách
Trang 31Chương 2
TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH
2.1 NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH NGÔN NGỮ ANH
2.1.1 Sơ lược về nguồn gốc ngôn ngữ Anh
Tiếng Anh là một thứ tiếng thuộc nhánh miền Tây của nhóm ngôn ngữ German trong hệ ngôn ngữ Ấn Âu, đã du nhập vào Anh qua các thứ tiếng của thực dân xâm lược vào thế kỉ VI; là hậu thân của một ngôn ngữ chung của
các giống người Ăng - lơ - sác - xông và Ju - te
Không phải là một trường hợp ngoại lệ, Vương quốc Anh có một lịch
sử hình thành dân tộc lâu dài và là sự hoà nhập của nhiều dân bản xứ khác nhau Chính vì vậy tiếng Anh là một thứ ngôn ngữ khá pha tạp, có nguồn gốc
từ nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới: Thổ dân Bắc Mỹ, Hà Lan, Thuỵ Điển, Pháp, I- ta- li - a, Hung - ga - ri, Đức; v.v
Đặc biệt, ngôn ngữ Anh có những cái tên có nguồn gốc riêng, “nguồn gốc khác lạ” và thường rất khó hiểu như:
Home land: có nghĩa là quê hương tên gọi này được tạo bởi hai danh từ Home: nhà; Land: đất Dịch theo nghĩa gốc là “đất nhà” Hay News paper:
có nghĩa là tin tức Danh từ này được tạo bởi hai thành tố sau: News có nghĩa
là tin tức; Paper có nghĩa là giấy Các loại hình tin tức khác nhau được viết lên giấy, sản phẩm cúa nó được gọi là Báo
2.1.2 Đặc điểm loại hình ngôn ngữ Anh
Tiếng Anh là một ngôn ngữ biến hình và đa âm tiết Có sự biến đổi dạng thức từ Mỗi sự biến đổi này sẽ cho từ một dạng thức mới; một ý nghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa từ vựng mới Một đặc điểm rất quan trọng của ngôn ngữ Anh mà người Việt khi học tiếng Anh thường không chú ý tới đó và vấn
đề từ loại Như trên đã nêu, tiếng Anh là một ngôn ngữ biến hình Vì vậy,
Trang 32trong mỗi một kết hợp thì từ sẽ có một dạng thức khác Điều này cũng có nghĩa là từ sẽ được cung cấp một nghĩa khác, khiến cho người học, đặc biệt là
người Việt vốn nói thứ tiếng không biến hình, cảm thấy rất khó
Ví dụ:
Happy là một tính từ, có nghĩa là “hạnh phúc” Nhưng khi nói/ nhắc về “sự hạnh phúc; niềm hạnh phúc” thì happy này có dạng thức “happiness” Đây là
phương thức dùng phụ tố để tạo từ mới
2.2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ VỀ NHÓM TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH
Tiếng Anh đã sử dụng 457 đơn vị để gọi tên 305 bộ phận khác nhau của cơ thể con người Trong đó, 212 bộ phận không có tên gọi đồng nghĩa Tỉ
lệ này chiếm 69,5% (212/305) Số lượng bộ phận cơ thể con người có biến thể đồng nghĩa về tên gọi là 93 bộ phận Tỉ lệ này chiếm 31% (93/305) Số lượng biến thể tên gọi của 93 bộ phận là 245 đơn vị, chiếm 53,6% (245/457)
Số lượng tên gọi được sử dụng với tư cách là thuật ngữ trong khoa học chiếm 23,26% (57/245) Số lượng tên gọi trung tính về phong cách chiếm 76,73% (188/245) Tên gọi thông tục chiếm một tỉ lệ rất nhỏ 2,44%
2.3 ĐẶC ĐIỂM TỪ LOẠI CỦA CÁC TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH
Kết quả nghiên cứu cho thấy các từ ngữ đồng nghĩa tuyệt đối chỉ bộ phận
cơ thể con người trong tiếng Anh xuất hiện dưới dạng danh từ/ danh ngữ Cụ thể như sau:
* Số lượng từ ngữ đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người xuất hiện
dưới dạng danh từ chiếm 71,8% (176/245), như: Cheek1 (má) trong dãy đồng nghĩa: cheek 1 – jowl 2 ; Front 1 (trán) trong dãy đồng nghĩa Forehead – front 1 – brow2 v.v…
Trang 33* Số lượng tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh
xuất hiện dưới dạng danh ngữ chiếm 28,1% (69/245) tên gọi như:; Side burns (Râu quay nón ) trong dãy đồng nghĩa: Side burns – Side whiskers – side boards v.v…
* Điều đặc biệt là có một số íttên gọi bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh được sử dụng để định danh hai bộ phận khác nhau trên cơ thể con người Do
đó chúng có thể xuất hiện trong các dãy đồng nghĩa khác nhau Kiểu tên gọi này được chia thành nhóm cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhóm tên gọi đa nghĩa: Một từ đa nghĩa, trong đó mỗi một
nghĩa được dùng để chỉ một bộ phận Như vậy, những danh từ này sẽ tham
gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau như: Danh từ “Fang 1”: ở nghĩa thứ
nhất, nó được sử dụng để định danh "răng nanh – chiếc răng nhọn, sắc ở giữa răng hàm và răng cửa, dùng để xé thức ăn” Với nghĩa này thì
“Fang1” là tên gọi trung tính về phong cách, phạm vi kết hợp rộng, tham gia vào dãy đồng nghĩa “Canine tooth, Fang, Tusk, Stomach tooth: răng nanh”
Fang3: ở nghĩa thứ ba, được sử dụng để chỉ bộ phận "chân răng” của cơ thể con người Và ở nghĩa này thì “Fang 3” là một thuật ngữ khoa học, dùng trong
Giải phẫu học Và lúc này “Fang3” là một tên gọi đồng nghĩa phong cách, tham gia vào dãy đồng nghĩa “Stump, Fang” có nghĩa là chân răng
Thứ hai, nhóm tên gọi biến đổi hình thái của từ: Một từ đa nghĩa khi
chuyển đổi dạng thức thì lại được cung cấp một nghĩa mới như: Danh từ
“Bone” ở dạng nguyên sinh có nghĩa là: Xương Khi chuyển sang số nhiều, tức “Bone” có thêm phụ tố “s” theo sau, lúc này "Bone" xuất hiện ở dạng thức “Bones”; nghĩa là Hài cốt Lúc này, “Bones” tham gia vào dãy đồng nghĩa “Bones, Remain, Corpse, Cadaver” có nghĩa là “hài cốt, thi hài”
Trang 342.4 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA BỘ PHẬN
CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH
Để thấy được các đặc trưng cụ thể của hiện tượng được từ biểu thị, chúng tôi tiến hành phân tích các thành phần ý nghĩa từ vựng của từ; các nghĩa vị tồn tại trong nghĩa từ Phương pháp chúng tôi sử dụng là phương pháp phân tích thành tố các định nghĩa của các tên gọi có biến thể đồng nghĩa
được tường giải trong cuốn từ điển giải thích tiếng Anh “Oxford advanced learner’s dictionary” do Oxford University press ấn bản năm 2005 và Từ điển đối chiếu Anh – Việt, của nhóm tác giả Trầm Quỳnh Dân, Trầm Thanh
Sơn, Nxb Thanh Hoá, Thanh Hóa, 1997 (đối với trường hợp không có từ tương đương, các soạn giả phải đối chiếu bằng cách giải thích nghĩa của từ trong ngôn ngữ nguồn) Kết quả đối chiếu cho thấy, trong 245 tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể con người, có 137 tên gọi được định nghĩa, chiếm 55,9% (137/245) Qua quá trình thống kê, phân tích các định nghĩa, chúng tôi nhận thấy các soạn giả áp dụng hai cách giải thích nghĩa như sau:
*Thứ nhất, cách định nghĩa theo lối nêu từ đồng nghĩa, gần nghĩa:
số lượng các tên gọi được giải nghĩa theo lối này chiếm 3,6% (5/137) chẳng hạn như:
Định nghĩa: “A woman’s chest or breast” [57, pg 169]
Dịch nghĩa: “Ngực của người phụ nữ hoặc ngực nói chung”
*Thứ hai, cách định nghĩa theo lối miêu tả: số lượng tên gọi được
tường giải theo lối miêu tả chiếm 96,4% (132/137)
Ví dụ:
*Humerus: Xương cánh tay trên [50, tr 441]
Định nghĩa: "The large bone in the top part of the arm between the shoulder and the elbow” [57, pg 764]
Trang 35Dịch nghĩa: “Xương lớn ở đỉnh của cánh tay giữa vai và khuỷu tay”
Chúng tôi đã tiến hành phân tích các thông tin có chứa đựng trong 132 định nghĩa được định nghĩa theo lối miêu tả tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận
cơ thể con người trong tiếng Anh, kết quả đã thu được 11 nghĩa vị như sau:
Đó là những tên gọi có nét nghĩa chỉ người và/ hoặc động thực vật
“mang” bộ phận cơ thể nào đó Số lượng định nghĩa chứa thông tin này chiếm
14,4% (19/132) Chẳng hạn:
* Shank – bone: Xương ống chân [50, tr 844]
Định nghĩa: “The part of an animal’s or a person’s leg (…)” [57, pg 1395]
Dịch nghĩa: “Chân người hay chân của động vật”
* Uterus: Tử cung, dạ con [50, tr.1063]
Định nghĩa: “The organ in women and femle animals” [57, pg 1690]
Dịch nghĩa: "Cơ quan ở cơ thể người phụ nữ và động vật cái”
Trang 36Định nghĩa: “The part the body that you sit on!” [57, pg 171]
Dịch nghĩa: “Bộ phận trên cơ thể để ngồi”
*Chức năng giả: mang nghĩa biểu trưng
Chẳng hạn, người Anh sử dụng “Heart” “Tim” để biểu lộ tình cảm, suy nghĩ,
tâm trạng, v.v…
4 Hình thức/ hình dạng
Số lượng định nghĩa chứa nét nghĩa này chiếm 9,85% (13/132)
Ví dụ:
* Pelvis: Xương chậu [50, tr 668]
Định nghĩa: “The wide curved set of bones at the bottom of the body” [57, pg
1118]
Dịch nghĩa: “Bộ xương hình cong, ở phần cuối cơ thể”
* Rib1 Xương sườn [50, tr 790]
Định nghĩa: “The curved bones that are connected to the spine and surround the chest” [57, pg 1308]
Dịch nghĩa: “Là những chiếc xương hình cong được kết nối với sống lưng và
vòng quanh ngực”
5 Cấu trúc/cấu tạo
Số lượng định nghĩa xuất hiện nét nghĩa cấu trúc/cấu tạo chiếm 8,3% ( 11/132)
Trang 37Ví dụ:
* Pattella: Xương bánh chè ở đầu gối [50, tr 661]
Định nghĩa: “The small bone that covers the front of the knee” [57, pg 850] Dịch nghĩa: “Xương nhỏ bao trùm trước đầu gối”
Hoặc:
* Wrist bone: Xương cổ tay [50, tr 1115]
Định nghĩa: “The any of the eight small bones that form the wrist” [57, pg
1768]
Dịch nghĩa: “Một trong 18 chiếc xương nhỏ cấu tạo thành cổ tay”
6 Thuộc tính Vật lí
Số lượng định nghĩa xuất hiện nét nghĩa này chiếm 7,6% (10/132) Các
yếu tố cụ thể hoá nét nghĩa này: mềm, mỏng, chắc, rắn, v.v…
Định nghĩa: “The soft part in the mouth” [57, pg 1617]
Dịch nghĩa: “Phần mềm trong miệng”
7 Tên gọi chỉ loại – bộ phận chỉnh thể trực tiếp
Số lượng định nghĩa có xuất hiện nét nghĩa này chiếm 5,3% (7/132) Chẳng hạn:
* Coccyx: Xương cụt [50, tr 151]
Định nghĩa: “The small bone at the bottom of the spine” [57, pg 285]
Dịch nghĩa: “Xương nhỏ ở cuối xương sống”
* Finger tip: Đầu ngón tay [50, tr 330]
Định nghĩa: “The end of the finger that is furthest from the hand” [57, pg 576]
Trang 38Dịch nghĩa: “Phần cuối của ngón tay”
8 Kích thước
Số lượng định nghĩa xuất hiện nét nghĩa này chiếm 3,8% (5/132) Chẳng hạn:
* Trunk1 Thân người [50, tr 1003]
Định nghĩa: “The main part of the human body a part from the head, arms
and legs” [57, pg 1645]
Dịch nghĩa: “Phần chính của cơ thể con người: đầu, cánh tay và chân”
9 Thời gian
Số lượng định nghĩa xuất hiện nét nghĩa thời gian chiếm 2,8% (3/132)
* Milk – tooth: răng sữa [50, tr 573]
Định nghĩa: “Any of the first set of the teeth in young childen that drop cut and are replaced by others” [57, pg 969]
Dịch nghĩa: “Bộ răng đầu tiên mọc ở trẻ con sẽ bị rụng và được thay thế bằng những chiếc răng khác”
* Wisdom tooth: răng cấm [50, tr 131]
Định nghĩa: “Any of the four large teeth at the back of the mouth that do not grow until you are an adult” [57, pg 1752]
Dịch nghĩa: “Một trong bốn chiếc răng bên trong miệng, mọc ở người đã
trưởng thành”
10 Màu sắc
Số lượng định nghĩa xuất hiện nét nghĩa màu sắc chiếm 1,5% (2/132) Chẳng hạn như:
*Blood1 Máu, huyết [50, tr 80]
Định nghĩa:“The red liquid flows through the bodies of humans and animals” [57, pg 153]
Dịch nghĩa: “Chất lỏng màu đỏ, chảy trong cơ thể con người và động vật”
Trang 39* Nipple 1 Núm vú [50, tr 608]
Định nghĩa: “The two small round dark part on a person’s chest (… )” [57, pg 1029]
Dịch nghĩa: “Hai bộ phận màu tối, tròn nhỏ trên ngực con người”
11 Thuộc tính sinh học
Số lượng định nghĩa xuất hiện nét nghĩa này chiếm 0,75 % (1/132)
* Cell 7 Tế bào [50, tr 123]
Định nghĩa: “The smallest unit of living matter that can exist on its own” [57, pg 236]
Dịch nghĩa: “Khối nhỏ nhất có thể tồn tại được một cách độc lập”
Vậy, trong 11 nét nghĩa đã được phân tách ra ở trên, nét nghĩa nào là nét nghĩa hạt nhân, hay trung tâm, nét nghĩa nào là ngoại vi trong cấu trúc ngữ nghĩa của toàn trường tên gọi này?
Theo quan điểm của I.A ste – rơ - nhin:
1- Nét nghĩa hạt nhân biểu thị các đặc điểm thường trực, bất biến của đối tượng 2- Nét nghĩa hạt nhân biểu thị đặc điểm bắt buộc, không tước bỏ được của đối tượng Các nét nghĩa hạt nhân là những nét nghĩa nào thoả mãn cả hai tiêu chí trên Còn các nét nghĩa ngoại vi là những nét nghĩa thiếu cả hai dấu hiệu đó Nghĩa là chúng biểu thị những đặc điểm không thường trực, không bắt buộc của đối tượng (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr 307]) Các nghĩa vị nằm ở phần trung gian thiếu một trong hai tiêu chí nói trên
Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy rằng “Các nét nghĩa thuộc về hạt nhân cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận
cơ thể con người trong tiếng Anh gồm: thứ nhất, siêu nghĩa vị: nghĩa vị “vị trí.” Thứ hai, các nét nghĩa hạt nhân gồm: Chức năng; hình thức; sở thuộc Thứ ba, các nét nghĩa ngoại vi: Cấu trúc/cấu tạo; đặc trưng vật lí; nét nghĩa chỉ loại; v.v…
Có thể mô hình hoá cấu trúc ngữ nghĩa nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh chiếu theo sơ đồ ngữ nghĩa về trường
Trang 40từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể con người do Nguyễn Đức Tồn đưa ra như sau:
T
I Siêu nghĩa vị vị trí
II Các nghĩa vị
2 – 4
III Các nghĩa vị
Vị trí III: chỉ ra nghĩa vị ngoại vi của trường tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận
cơ thể con người trong tiếng Anh
Kết quả thống kê cho thấy các tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh về cơ bản là được sử dụng với phong cách trung hòa, khẩu ngữ và một phần trong phong cách khoa học
2.5 KIỂU NGỮ NGHĨA TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH
Quá trình thống kê, nghiên cứu và phân tích cho thấy, trong tổng số
245 tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh có 27 tên gọi thứ sinh Tỉ lệ này chiếm 11% (27/245) Chúng tôi hiểu tên gọi thứ