chỉ đạo các ban ngành liên quan thực hiện nhiều giải pháp cụ thể trong đó, có sử dụng giải pháp huy động sức mạnh tổng lực của hệ thống báo chí truyền thông nhằm thực hiện nhiệm vụ định
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH CÔNG TRÊN BÁO CHÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH CÔNG TRÊN BÁO CHÍ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, cẩn trọng và trung thực
Xin được bày tỏ lòng trân trọng cảm ơn tới PGS.TS Vũ Văn Hà –
Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo, các anh, chị và bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệu viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên và khích lệ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc Xin trân trọng cảm ơn
Hà nội, ngày tháng 12 năm 2014 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn: 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
5.1 Cơ sở lý luận 10
5.2 Phương pháp nghiên cứu: 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 12
7 Cấu trúc của luận văn 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIỆN MẠO CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG TRÊN BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM 14
1.1 Dư luận xã hội và hoạt động định hướng dư luận xã hội của báo chí 14
1.1.1 Khái niệm dư luận xã hội 14
1.1.2 Mối quan hệ tác động giữa báo chí và dư luận xã hội 17
1.1.3 Báo chí định hướng dư luận xã hội 20
1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về định hướng dư luận xã hội ở Việt Nam 23
1.3 Tài chính công và quản lý tài chính công tại Việt Nam hiện nay 25
1.3.1 Tài chính công 25
1.3.2 Quản lý tài chính công 29
1.4 Phương thức định hướng dư luận xã hội của báo chí về quản lý tài chính công 31
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY 36
2.1 Giới thiệu các tờ báo Thanh Niên, Thời báo Tài chính và Tạp chí Nghiên cứu Tài chính và hoạt động thông tin tài chính nói chung 36
2.1.1 Báo Thanh Niên 36
2.1.2 Thời báo Tài chính 37
2.1.3 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán 38
2.2 Hoạt động định hướng dư luận xã hội về vấn đề quản lý tài chính công báo Thanh Niên, Thời báo Tài chính và Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán 39
2.2.1 Diện mạo chung của hoạt động phản ánh thông tin về tài chính trên báo chí Việt Nam hiện nay 39
2.2.2 Hoạt động phản ánh thông tin quản lý tài chính công trên các báo Thanh Niên, Thời báo Tài Chính và Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán 40
Trang 52.3 Hoạt động định hướng dư luận thông qua thông tin lý luận về
quản lý tài chính công trên tạp chí chuyên ngành 55
2.3.1 Về lựa chọn chủ đề-đề tài 58
2.3.2 Lựa chọn ngôn ngữ 59
2.3.3 Nội dung và hình thức 60
2.4 Một số trường hợp điểm hình 60
2.4.1 Loạt bài "Hàng loạt doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá" bao gồm các số báo 105,106,107, 108 đăng ngày 15,16,17 và tháng 4 năm 2014 được phát triển theo hình thức nối tiếp Mỗi bài là một sự phát triển, mở rộng các thông tin có liên quan tới đề tài 60
2.4.2 Loạt bài về "Gói hỗ trợ 30.000 tỷ nhà ở cho đối tượng có thu nhập thấp" của tác giả Thanh Xuân, Lê Quân ở báo Thanh niên được thực hiện thành chuỗi, trải dài từ tháng 12 năm 2012 tới tận tháng 6 năm 2014 Với các bài sau: 63
2.4.3 Nhóm bài phục vụ ngành trên Thời báo Tài chính với 03 nhóm ngành chính 67
2.5 Đánh giá hoạt động định hướng dư luận xã hội về quản lý tài chính công các báo 69
2.5.1 Góc độ tiếp cận khác nhau giữa tạp chí và báo, báo tuần và báo ngày 70
2.5.1 Góc độ tiếp cận khác nhau giữa báo của các ngành 72
2.5.2 Các thể hiện các cấp độ thông tin khác nhau 73
Chương III GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG TRÊN BÁO IN VIỆT NAM 81
3.1 Cải cách quản lý tài chính công 81
3.2 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao tính ĐHDLXH của Báo chí đối với hoạt động thông tin tài chính 83
3.3 Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng hoạt động định hướng dư luận xã hội về vấn đề quản lý tài chính công trên báo chí 86
3.3.1 Ban hành các quy định pháp luật về định hướng dư luận xã hội trên báo chí về quản lý tài chính công Error! Bookmark not defined. 3.3 2 Xây dựng chiến dịch truyền thông 86
3.3.3 Nâng cao chất lượng nội dung và hình thức của tác phẩm báo chí về quản lý tài chính công 86
Hoạt động nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí cần được dựa trên: Error! Bookmark not defined. Thu hút sự quan tâm bằng phản hồi của độc giả: Đây có lẽ là điểm yếu chung của nhiều tờ báo, không riêng gì hai báo được khảo sát Công tác đăng tải các phản hồi của độc giả hầu như không được quan tâm Qan sát tờ báo nói chung, người thực hiện đề tài cảm nhận được tính "một chiều" của thông tin Bởi vì, có rất ít tiếng nói từ "cuộc sống", từ người dân, sẽ dẫn tới nguy cơ thiếu nhận được sự quan tâm thỏa đáng của công chúng Đây chính là nguyên nhân của những khó khăn và bất khả trong gây dựng, định hướng và điều hòa DLXH, một mục tiêu mà báo chí cần hướng tới Error! Bookmark not defined 3.3.4 Liên kết các phương tiện truyền thông đại chúng 87
3.3 5 Đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, phóng viên 88
3.3.6 Gắn kết chặt chẽ các cơ quan quản lý tài chính công và cơ quan báo chí 90
Trang 6Báo chí có vai trò quan trọng trong việc định hướng DLXH, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc cách mạng công nghệ thông tin mang lại những thay đổi quan trọng trong cách thức con người tiếp nhận, xử lý và phản hồi các thông tin Báo chí bênh cạnh chức năng thông tin, chức năng quản lý và giám sát xã hội, chức năng văn hóa giải trí thì còn thể hiện chức năng truyền tải quan trọng để hình thành, định hướng, điều hòa DLXH Muốn làm được điều đó, trước hết báo chí phải xác định nhiệm vụ của mình, một trong những nhiệm
vụ quan trọng là định hướng DLXH Khi xác định nhiệm vụ đó, báo chí sẽ tự ý thức được vai trò của thông tin chính xác, đúng đắn và có chọn lọc Nói cách khác, đó là hoạt động thông tin có trách nhiệm hơn của báo chí 90 KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
FDI
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Số lượng/tỉ lệ các số báo có bài viết về TCC 42
Biểu đồ 1: Tỉ lệ số bài trực tiếp đề cập tới quản lý TCC 42
Biểu đồ 2: Vị trí bài báo về quản lý TCC trên trang 43
Biểu đồ 3a, 3b: Thể loại được sử dụng trên Thời báo Tài chính và Thanh niên 45
Bảng 3: Tổng hợp về cấp độ địa phương của thông tin 45
Bảng 4: Tỷ lệ bài phân chia theo nhóm đề tài 46
Biểu đồ 4: Tỷ lệ bài viết theo đề tài 48
Bảng 5: Tổng hợp về khía cạnh đăng tải 50
Biểu đồ 5: Thời điểm đăng tải 52
Biểu đổ 5: Về tỉ lệ sử dụng chi tiết 53
Bảng 6: Giọng điệu bài viết 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển các chức năng của Nhà nước, quản lý tài chính công ngày càng trở lên cần thiết và quan trọng Bên cạnh những thành tựu to lớn của mình, kinh tế thị trường còn có những khuyết tật, đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước để đảm bảo tính hiệu quả Tài chính công được Nhà nước sử dụng như một trong những công cụ hữu hiệu để đảm bảo công bằng
và ổn định kinh tế vĩ mô: Đánh thuế người có thu nhập cao, chi tiêu tạo thêm công ăn việc làm cho người nghèo, chống lạm phát, thất nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái…Để nhận thức một cách đầy đủ, có hệ thống về tài chính công là đòi hỏi bức thiết trong công tác nghiên cứu, hoc tập cũng như hoạt động thực tiễn cho cán bộ ở mọi ngành, mọi cấp, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay
Mặt khác trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộ chủ nghĩa, cuộc cải cách cơ bản Tài chính nhà nước phải được thực hiện theo hướng “phải nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển, huy đông và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tăng tích lũy để tạo vốn cho đầu tư phát triển, đáp ứng những nhu cầu chi thường xuyên thật sự cần thiết, cấp bách; đảm bảo quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, giảm bội chi ngân sách, góp phần khống chế và kiểm soát lạm phát
Xử lý đúng đắn các mối quan hệ như: Tích lũy và tiêu dùng, tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư, ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, chi đảm bảo quốc phòng an ninh, huy đông vốn trong nước và vốn bên ngoài, vay trả nợ
Vì vậy tài chính công là một lĩnh vực vô cùng quan trọng đối với mỗi Quốc gia
Tài chính công và quản lý tài chính công là vấn đề còn tương đối mới mẻ
cả về lý luận và hoạt động thực tiễn ở nước ta Trong thời gian qua, để thực hiện quản lý tài chính công một cách có hiệu quả nhất, Đảng và Nhà nước đã
Trang 11chỉ đạo các ban ngành liên quan thực hiện nhiều giải pháp cụ thể trong đó, có
sử dụng giải pháp huy động sức mạnh tổng lực của hệ thống báo chí truyền thông nhằm thực hiện nhiệm vụ định hướng dư luận xã hội đối với vấn đề
quản lý tài chính công Trước hết là việc thông tin, tuyên truyền về tài chính
công được thực hiện trên tất cả các loại hình báo chí truyền thông, trong đó có
báo in
Tác giả lựa chọn đề tài “Định hướng dư luận xã hội về vấn đề tài chính
công trên báo chí” mà cụ thể là báo in tại Việt Nam với 3 lý do cơ bản sau
DLXH có các chức năng: (1) Chức năng điều hòa các quan hệ xã hội, (2) chức năng giáo dục, (3) chức năng kiểm soát, (4) chức năng khuyên bảo Đồng nghĩa với các chức năng đó, thì việc nghiên cứu định hướng DLXH sẽ đem lại những ý nghĩa nhất định:
1 DLXH là công cụ để mở rộng quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng nền dân chủ rộng rãi
2 Tăng cường mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân
3 Thực hiên quản lý xã hội trên cơ sở khoa học
Do vậy, định hướng dư luận xã hội (DLXH) về vấn đề quản lý tài chính công (TCC) là nhu cầu tất yếu khách quan của bất kỳ một quốc gia nào Nó là công cụ bảo đảm nguồn lực tài chính cho việc duy trì sự tồn tại và hoạt động
có hiệu quả của bộ máy Nhà nước Đặc biệt, trong bối cảnh từ 2008 đến nay nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam chưa hoàn toàn hồi phục sau cuộc
Trang 12khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, suy giảm kinh tế được coi là tồi tệ nhất kể từ đại suy thoái 1929 -1933, thì việc định hướng DLXH về vấn đề quản lý TCC như: Cơ chế, chích sách thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN);
cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; công tác quản lý nợ công…có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ổn định tâm lý xã hội, định hướng đầu tư sản xuất, sử dụng TCC là một công cụ đắc lực để khai thác động viên và tập trung nguồn lực tài chính góp phần hỗ trợ duy trì hoạt động của Nhà nước trên các mặt kinh tế - chính trị, văn hóa -
xã hội và an sinh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì việc sử dụng lao động
ở tỷ lệ cao, hạn chế tăng giá đột ngột đồng loạt kéo dài, hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra cho nền kinh tế và đời sống xã hội của toàn dân…
Thứ hai, xét từ sự bất cập trong quản lý và sử dụng và định hướng DLXH về tài chính công trong thời gian qua còn nhiều khiếm khuyết
Trong thời gian qua, mặc dù Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện nhiều biện pháp như: cải cách hệ thống pháp luật tài chính công, tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia, quỹ hỗ trợ việc làm, điều chỉnh thuế, điều chỉnh chi tiêu Chính phủ, phát hành trái phiếu trong đó đặc biệt sử dụng biện pháp huy động sức mạnh tổng lực của hệ thống báo chí truyền thông thực hiện nhiệm vụ định hướng DLXH về vấn đề tài chính công nhằm góp phần ổn định cơ cấu thu - chi NSNN, công tác quản lý nợ công, quản lý tài sản công…qua đó phát huy vai trò của tài chính công trong việc hướng tới tăng trưởng bền vững về kinh tế- xã hội
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan thời gian gần đây vấn đề quản lý tài chính công vẫn còn những bất cập như:
1, Pháp luật về quản lý, sử dụng tài chính công quy định còn phân tán, chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về quản lý,
sử dụng tài chính công và hiệu lực pháp lý còn thấp Hiện nay trong hệ thống pháp luật hiện hành ở nước ta có tới 45 văn bản quy phạm pháp luật có các
Trang 13quy định liên quan đến vấn đề này, từ Hiến pháp cho đến các quyết định, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ
2 Các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa thực sự quản lý, theo dõi sát được thực trạng và biến động của tài chính trên thực tế hiện nay Đặc biệt là vấn đề
nợ công
3 Tình trạng thu chi ngân sách nhà nước sai mục đích, sai tiêu chuẩn, định mức, chế độ, lãng phí vẫn còn xảy ra khá phổ biến ở các lĩnh vực, các cơ quan, tổ chức
4 Việc quản lý nhà nước chuyên ngành về vấn đề này trên thực tế còn nhiều hạn chế, bị động và thiếu tính chuyên nghiệp
Song song với những bất cập trong quản lý tài chính công như trên thì việc định hướng DLXH về tài chính công còn có một thực trạng đang tồn tại
là hiện nay hệ thống báo chí kinh tế, tài chính mới phổ biến mang tính chất đơn thuần phản ánh chính sách Hay nói cách khác là còn vĩ mô, chưa gắn sát với đời sống của người dân, trong khi số lượng phóng viên cũng không phải
là ít, song phải thấy rằng chúng ta vẫn còn quá ít những ấn phẩm kinh tế uy tín, vẫn còn thiếu những cây viết có uy lực, vẫn còn chưa có nhiều những bài viết phân tích, đánh giá, dự báo gây tiếng vang, có sức thuyết phục cao trong giới đầu tư… Vẫn còn phổ biến các loại tin bài kiểu “mô tả" báo cáo,
“minh họa” chính sách, copy thông cáo báo chí…đôi khi khiến xã hội băn khoăn, nghi ngờ về tính ổn định, bền vững của Ngân sách Nhà nước, lo lắng
về nợ công vượt ngưỡng an toàn, thất thu thuế đối với khối doanh nghiệp công, dẫn tới những hệ lụy xấu về DLXH, xuất hiện không ít hiện tượng doanh nghiệp, người dân sao nhãng việc đầu tư, phát triển xản suất… dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định của hệ thống tài chính công, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội
Trong khi đó các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm cách tấn công nước ta về mọi mặt, chúng chĩa mũi nhọn vào lĩnh vực kinh tế và đặc biệt là khu vực tài chính công, thông tin thất thiệt về nợ công, gây sức ép về
Trang 14cổ phần hóa, tái cấu trúc doanh nghiệp công…nhằm tạo DLXH nghi ngờ sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô; thậm chí sẵn sàng dùng sức mạnh tài chính mua bán - sáp nhập một số doanh nghiệp, ngân hàng của mình để giật dây, thao túng thị trường tài chính, gây bất ổn hệ thống an ninh tài chính quốc gia, tạo tâm trạng lo âu trong đời sống kinh tế - xã hội của toàn dân
Thứ ba, xét từ chức năng, nhiệm vụ và vai trò của báo chí
Báo chí, với chức năng là giáo dục tư tưởng, tuyên truyền, cổ động, quản
lý gián tiếp và giám sát xã hội…thông qua các phương tiên truyền thông đại chúng đưa thông tin là cơ sở để hình thành và thể hiện DLXH Và chính DLXH, được ví như một “phương tiện cưỡng chế” sẽ đóng góp tích cực vào công cuôc xây dựng và phát triển xã hội Điều này đã được minh chứng rất nhiều trên các trang báo trong thời gian qua Đặc biệt các phương tiện truyền thông đại chúng là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhân dân là
“tai mắt”, là nguồn cung cấp thông tin sống động về mọi mặt cho các kênh thông tin này Điều này cho thấy vai trò hết sức quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc tạo lập và thể hiện cũng như định hướng DLXH Xã hội càng hiện đại thì truyền thông đại chúng càng phát triển mạnh mẽ, vai trò của nó càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, nếu truyền thông không hoạt động thì xã hội cũng sẽ dậm chân tại chỗ
Do vậy, định hướng DLXH về vấn đề tài chính công theo sự chỉ đạo và điều hành của Đảng và Nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, với những kiến thức và kinh nghiệm thu nhận được trong thời gian học tập và làm nghề tác
giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Định hướng dư luận xã hội về quản lý tài
chính công trên báo in Việt Nam hiện nay” với mục đích góp phần tìm
kiếm giải pháp hiệu quả để định hướng DLXH về vấn đề quản lý tài chính công, góp phần ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững
Trang 152 Lịch sử nghiên cứu
Trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn báo chí nói chung, báo chí về tài
chính và quản lý tài chính công nói riêng, việc nghiên cứu về “Định hướng dư
luận xã hội về vấn đề quản lý tài chính công trên báo chí” đã được một số
nhà nghiên cứu đề cập đến trên một số phương diện:
- "Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp truyền thông đại chúng", của
tác giả Mai Quỳnh Nam, tạp chí Xã hội học (số 70), số 2/2000 Bài báo đề cập
về mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội
- "Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng", tác giả Mai
Quỳnh Nam, tạp chí Xã hội học (số 76), số 4/2001 Bài báo đề cập vai trò của truyền thông đại chúng trong việc hình thành và định hướng dư luận xã hội
- "Vai trò của báo chí đối với dư luận xã hội", của PGS.TS Nguyễn
Văn Dững, tạp chí lý luận và truyền thông, số 6/2010 Bài báo đã bàn chuyên sâu về vai trò của báo chí đối với DLXH, như khơi nguồn phản ánh - truyền dẫn, định hướng, điều hòa và phản biện DLXH
- "Báo chí và dư luận xã hội" của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, NXB
Lao động, Hà Nội ( 2011) Cuốn sách 400 trang khổ 15x22, là công trình chuyên khảo đầu tiên về mối quan hệ này Đây là công trình chuyên khảo khá toàn diện về mối quan hệ của báo chí và DLXH Cuốn sách gồm 4 chương: Bản chất của DLXH, Bản chất của hoạt động báo chí, Mối quan hệ giữa báo chí và DLXH, nhà báo với DLXH
- "Vai trò phản biện của báo chí và dư luận xã hội", của PGS.TS
Nguyễn Văn Dững, tạp chí khoa học xã hội, số 10/2010 nhấn mạnh vai trò của báo chí và dư luận xã hội trong phản biện các vấn đề trong xã hội
- "Vai trò của báo chí trong định hướng DLXH", Luận án tiến sỹ truyền
thông đại chúng của tác giả Đỗ Chí Nghĩa (2009) bảo vệ tại Học viện Báo chí
và tuyên truyền Hà Nội Công trình này đã bàn chuyên sâu về vai trò báo chí trong định hướng DLXH, với thực tế khảo sát công chúng và DLXH trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Trang 16- "Báo chí với việc hình thành và định hướng dư luận xã hội cho nhân
dân thủ đô", Luận án thạc sỹ Truyền thông đại chúng của tác giả Lưu Thị
Thanh Hồng (2005) bảo vệ tại Đại học KHXH&NV Hà Nội Đề tài đã nghiên cứu và đưa ra một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn liên quan tới hình thành và định hướng dư luận xã hội cho dân cư trên địa bàn Hà Nội nói chung
Ngoài ra còn một số đề tài nghiên cứu, bài viết chuyên sâu về các khía cạnh liên quan đến báo chí truyền thông, DLXH về vấn đề quản lý TCC như:
-“Báo cáo chuyên đề nghiên cứu đổi mới tài chính công ở Việt Nam:
Thực trạng và định hướng đến năm 2020” của Ủy ban Tài chính, ngân sách
Quốc hội, tháng 11 năm 2011
-“Luận bàn vấn đề nợ công ở Việt nam” của Ths Nguyễn Quốc Nghi,
đăng trên Tạp chí Nghiên Tài chính - Marketing số 6 - 2011, cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn tổng quan hơn về nợ công ở Việt Nam
-“ Chính sách thu chi NSNN và việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng
lạm phát 2012’ của tác giả TS Nguyễn Ngọc Tuyến, đăng trên tạp chí Nghiên
cứu Tài chính kế toán số 7(108)năm 2012
-“Nợ công của Việt nam, những nguy cơ tiền ẩn và giải pháp chính sách” của TS Ngô Văn Hiền, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán
số 8 (109) năm 2012
-“Nâng cao hiệu quả đầu tư công” của TS Dương Xuân Thao, đăng
trên Tạp chí NCTCKT số 8 (109) năm 2012
-“Kinh nghiệm quốc tế trong trong cải cách cơ cấu chi tiêu công để đối
phó với thâm hụt tài khóa và nợ công trong dài hạn” của tác giả Ths Hoàng
Thị Minh Hảo và Ths Lương Ngọc Minh, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán số 8 (109) năm 2012
Từ các ý kiến, quan điểm của các tác giả qua những công trình trên, chúng tôi xin có một số nhận xét sau:
DLXH nói chung, DLXH về vấn đề quản lý TCC trên báo chí nói riêng trong những năm gần đây đã được nghiên cứu và được nhìn nhận một cách
Trang 17nghiêm túc Nó cho thấy được mối quan hệ gữa truyền thông báo chí với vấn
đề định hướng DLXH và quản lý TCC của các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam Tuy nhiên những nghiên cứu trên chưa đi sâu làm rõ được Báo chí,
đã góp phần định hướng DLXH như thế nào về quản lý Tài chính công ở Việt Nam, mà mới chỉ dừng lại ở những “lát cắt” mang tính riêng lẻ, chưa hệ thống Theo chúng tôi vấn đề này cần được nghiên cứu sâu hơn trên cả hai bình diện lý thuyết và thực tiễn
Tiếp tục hướng nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi muốn góp vào một tiếng nói riêng bắt nguồn từ những số liệu thống kê, khảo sát một cách quy mô trên một số tờ báo để bổ sung và đưa ra một số nhận xét mới, trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về định hướng DLXH về vấn đề tài quản lý TCC trên báo chí hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động định hướng DLXH về quản
lý TCC trên báo in Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động định hướng DLXH về tài chính công trên báo in Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định nội hàm các thuật ngữ: DLXH, định hướng DLXH, TCC, quản lý TCC trong khung lý thuyết của đề tài
- Làm rõ bản chất vai trò và mối quan hệ giữa báo chí với định hướng DLXH, cũng như các yêu cầu, nhiệm vụ trong việc định hướng DLXH về vấn
đề quản lý TCC trên một số ấn phẩm báo in được lựa chọn để nghiên cứu, đồng thời chỉ rõ các ưu điểm và những mặt còn tồn tại của hoạt động định hướng dư luận xã hội trên các báo này
Trang 18- Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về định hướng DLXH đối với vấn đề quản lý TCC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả định hướng DLXH về vấn
đề quản lý TCC trên báo in phù hợp với nhu cầu phát triển, xu hướng đổi mới
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động định hướng DLXH trên các ấn phẩm báo in Việt Nam
Đối tượng khảo sát: Đề tài khảo sát 03 tờ báo in tại Việt Nam
Báo Thanh niên là tờ nhật báo nổi tiếng, có lượng phát hành lớn và có mặt rộng rãi trên cả 03 miền Bắc - Trung - Nam
Thời báo Tài chính là báo ngành của Bộ Tài chính, phản ánh toàn bộ thông tin chuyên biệt về tài chính, trong đó có nhóm thông tin về quản lý TCC Đây chính là đối tượng nghiên cứu cần đặc biệt quan tâm, vì tờ báo này
là cơ quan ngôn luận của ngành tài chính
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán: tờ tạp chí lý luận đóng vai trò quan trọng trong việc thẩm định và đăng tải các nghiên cứu về khoa học tài chính và khoa học quản lý tài chính công
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Báo chí thể hiện rất nhiều vai trò tác động quan trọng của mình lên sự hình hành, phát triển, dẫn dắt, dẫn truyền, định hướng và điều hòa dư luận xã hội Tuy nhiên, với giới hạn của một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu khía cạnh định hướng dư luận xã hội của báo in đối với vấn đề
quản lý tài chính công Do vậy, đề tài nghiên cứu 03 ấn phẩm báo in là: Báo
Trang 19Thanh niên, Thời báo Tài chính Việt Nam và Tạp chí Nghiên cứu Tài chính
Kế toán trong giai đoạn từ tháng 6/2013-6/2014
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Phương pháp luận chung được sử dung để nghiên cứu là những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực báo chí
- Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
định hướng DLXH về quản lý TCC trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Phương pháp luận bộ môn của luận văn dựa trên khái niệm, nguyên
tắc, chuẩn mực của báo chí học
- Tham khảo và kế thừa hệ thống các quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước thuộc về lĩnh vực báo chí, xã hội học và nghiên cứu dư luận xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Đề tài sẽ sưu tầm, hệ
thống các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động định hướng DLXH đối với hoạt động TCC và quản lý TCC nói riêng như: Hiến pháp 2013, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 11 năm
2013, đặc biệt là các quy định ở khoản 3, Điều 2 về quyền lực nhà nước; khoản 1 Điều 10 về mô hình tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; khoản 2 Điều 28 quy định về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân Luật Ngân sách nhà nước, thông qua ngày 16/12/2002 và Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi Luật Quản lý Thuế năm 2007 Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12; Nghị định 78/ND-CP về cho vay lại nguồn vốn nước ngoài, Nghị định 79/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công, Nghị định 15/2011/NĐ-
CP về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ, Thông tư 56/TT-BTC về hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát và tổ chức hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia Thông tư số 53/2011/TT-BTC về công
Trang 20bố thông tin về nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia Các chiến lược quốc gia
về Tài chính, Tài chính ngân sách, Nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia
Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tư liệu, tài liệu, luận văn và khóa luận liên quan đến đề tài Các bài báo liên quan tới vấn đề luận văn nghiên cứu trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở trung ương và địa phương Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu các văn bản khác liên quan tới hoạt động khơi nguồn và định hướng DLXH, TCC và quản lý TCC, tài liệu về phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp phân tích văn bản truyền thông: Do đề tài lựa chọn
khía cạnh hoạt động định hướng của báo chí đối với DLXH thông qua các tác phẩm báo chí, nên đây được xác định là một trong những phương pháp nghiên cứu chính, đóng vai trò chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra Các văn bản truyền thông, ở đây là các tác phẩm báo chí được phân tích trên các kía cạnh về thời gian, xu hướng, chi tiết, giọng điệu để đánh giá về quan điểm chủ đạo của cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí và người làm báo về vấn
đề, qua đó thấy được xu hướng mà các cơ quan hay cá nhân này muốn định hướng DLXH tập trung vào
Phương pháp thống kê: Bên cạnh việc kiểm đếm số lượng tác phẩm
báo chí viết về tài chính công và quản lý tài chính công, xác định địa bàn, thể loại, xu hướng lựa chọn thông tin, cách thức tổ chức thông tin, thời điểm công
bố thông tin của các tác phẩm đó, đề tài thống kê để rút ra một số kết luận mang tính đặc điểm của công tác định hướng DLXH của báo chí về quản lý tài chính công
Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Để làm rõ hoạt động định
hướng DLXH trên báo chí đối với vấn đề quản lý TCC, đề tài tập trung nghiên cứu một số trường hợp điểm hình, mà trong đó báo chí đã tổ chức thông tin thành loạt bài (mang tính chất các chiến dịch truyền thông) về một chủ đề nhất định của quản lý TCC) Qua phân tích hình thức, nội dung của
Trang 21các loạt bài này để rút ra các kết luận về hiệu quả cũng như những vấn đề còn tồn tại của định hướng DLXH về quản lý TCC trên báo chí thông qua các
chiến dịch thông tin cụ thể
Phương pháp quan sát trực tiếp: Do người thực hiện đề tài là biên
tập viên tại tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán- Học viện Tài chính, là đơn
vị trực tiếp xuất bản ấn phẩm nghiên cứu tài chính kế toán trực thuộc Học viện tài chính, nên tôi có điều kiện tiếp xúc, quan sát, tìm hiểu, tiếp cận thực
tế sáng tạo tác phẩm và xuất bản tác phẩm báo chí về tài chính kế toán nói chung, quản lý tài chính công nói riêng để phân tích, đánh giá, phát hiện những khó khăn, thuận lợi, thành công và hạn chế của các tác phẩm cụ thể khi
phản ánh các thông tin này
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Người thực hiện đề tài thực
hiện phỏng vấn các phóng viên viết về mảng tài chính kinh doanh tại các tờ báo được chọn lựa nghiên cứu để rút ra các đặc điểm trong tác nghiệp báo chí đối với vấn đề quản lý TCC, biện pháp nghiệp vụ để thực hiện định hướng DLXH về quản lý TCC Đồng thời phỏng vấn lãnh đạo cơ quan báo chí và lãnh đạo cơ quan liên quan của ngành tài chính, đặc biệt là cơ quan quản lý tài chính công để thấy rõ quan điểm, chủ trương đối với hoạt động định hướng DLXH về quản lý TCC Thêm vào đó, người thực hiện cũng phỏng vấn các chuyên gia, các nhà nghiên cứu tại Học viện Tài chính về khía cạnh quản lý tài chính công ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống các lý thuyết về mối quan hệ giữa báo chí và DLXH đối với vấn đề quản lý TCC ở Việt Nam, vận dụng lý thuyết về báo chí định hướng dư luận xã hội để đưa ra khung lý thuyết về phương pháp định hướng dư luận xã hội của báo in ở Việt Nam
Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động định hướng DLXH trên báo
in Việt Nam về quản lý TCC Đề tài chỉ ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan, các khó khăn thuận lợi, ưu điểm và các mặt còn tồn tại nhằm giúp
Trang 22các nhà quản lý có cơ sở để hoạch định các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này trên báo chí Việt Nam
Đề tài kỳ vọng trở thành nguồn thông tin tham khảo hữu ích đối với các
cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý tài chính công, các tòa soạn báo, nhà báo, giảng viên và sinh viên các trường đào tạo báo chí và những người
có quan tâm tới hoạt động định hướng DLXH về quản lý TCC ở Việt Nam trên báo in nói riêng và báo chí nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3 chương, với nội dung sau đây
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và diện mạo của hoạt động định hướng dư luận xã hội về quản lý tài chính công trên báo chí ở Việt Nam
CHƯƠNG II: Thực trạng hoạt động định hướng dư luận xã hội về quản lý tài chính công trên báo in Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG III Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động định hướng dư luận xã hội về quản lý tài chính công trên báo in Việt Nam
Trang 23Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIỆN MẠO CỦA HOẠT ĐỘNG
ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CÔNG TRÊN BÁO CHÍ VIỆT NAM
1.1 Dư luận xã hội và hoạt động định hướng dư luận xã hội của báo chí
1.1.1 Khái niệm dư luận xã hội
DLXH là một hiện tượng xã hội xuất hiên cùng với sự xuất hiện xã hội loài người Ngay từ buổi sơ khai hình thành, DLXH đã có tác dụng định hướng nhận thức, thái độ và hình vi của từng cá nhân, nhóm và cộng đồng người trong xã hội thông qua những giao tiếp nguyên sơ như ký hiệu, tiếng động (tiếng chiêng, trống…), đốt lửa nhằm thông báo cho nhau tin tức về thức
ăn, thú dữ, thiên tai lũ lụt và cả những nhu cầu kết cấu cộng đồng
DLXH là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội, phụ thuộc vào những quy định của các quan hệ giai cấp và các quan hệ xã hội cụ thể Khi những nhân tố chưa đủ điều kiện để xã hội phân chia thành giai cấp, trong xã hội chưa xuất hiện những người tự do và những người nô lệ, những người giàu có áp bức và người nghèo khó bị áp bức, nghĩa là những xung đột lợi ích chưa xuất hiện, tổ chức thị tộc sinh ra trong hoàn cảnh ấy đã không biết đến những mâu thuẫn bên trong và thích nghi với xã hội đó
Heghel đã đưa ra một quan niệm tương đối mở về DLXH Trong công trình “Triết học pháp quyền Heghel xem xét dư luận xã hội trong mối quan hệ
mở với việc phân tích thể thế nhà nước Là người bảo thủ, bám chặt vào nền quân chủ hùng mạnh, Heghel đã thể hiện sự đối lập giữa “tâm tư chính trị của quốc gia” với “dư luân xã hội của nhân dân”, song tư tưởng của Heghel gắn với sự công nhân sức mạnh của trí tuệ tập thể lại có ý nghĩa hết sức to lớn Heghel chỉ ra rằng DLXH có sức mạnh trong mọi thời đại bởi nó mở ra cho con người khả năng thổ lộ và bảo vệ ý kiến chủ quan của mình với cái chung (25, trang 3)
Đến giữa thế kỷ XII, khái niệm, thuật ngữ về DLXH được nhà nghiên cứu xã hội người Anh John Solsbery (1159) đề cập một cách khá chỉnh thể
Trang 24Và đến đầu thế kỷ XX, DLXH trở thành đối tượng quan tâm trong thực tiễn quản lý nhà nước và là vấn đề lý luận của nhiều ngành khoa học như Xã hội học, Tâm lý học, Chính trị học và Báo chí học…
Xét về bản chất, DLXH được coi là trạng thái đặc trưng của ý thức xã hội, tâm trạng xã hội DLXH là sự biểu hiện trạng thái ý thức của một cộng đồng người, là một phương thức tồn tại đặc biệt của ý thức xã hội DLXH tham gia, có mặt trong tất cả các bộ phận, các thành phần của ý thức xã hội Khi có một sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội nào đó có đụng chạm đến lợi ích của cộng đồng xã hội và thu hút được sự quan tâm chú ý của họ, thì khi đó
sẽ nảy sinh DLXH DLXH gắn chặt với thực tiễn cuộc sống, xuất phát từ thực tiễn rồi tác động trở lại thực tiễn đó
Xung quanh thuật ngữ DLXH có nhiều ý kiến và định nghĩa khác nhau,
mà điển hình là: Theo nhà triết học cổ đại Socrat thì DLXH là cái gì đó nằm giữa sự mù quáng và nhận thức; theo Kant: “DLXH nằm ở cấp độ thấp hơn so với kiến thức và niềm tin; theo các nhà nghiên cứu hiện đại thì DLXH là ý kiến được đông đảo công chúng chia sẻ và có thể tìm thấy ở mọi nơi Nhà XHH người Nga A.K Uledov cho rằng DLXH là “sư phán xét thể hiên sự đánh giá và thái độ của mọi người đối với các hiện tượng đời sống xã hội” GS,TS Glen M.Broom (Hoa Kỳ) cho rằng: “DLXH được hình thành từ một nhóm người, họ trao đổi và cùng nhau xác định rõ bản chất của vấn đề là gì, tại sao vấn đề này lại làm xã hội lo lắng hoặc vui mừng và cần phải làm gì để giải quyết vấn đề đó
Xét ở góc độ vai trò của DLXH, TS Phạm Chiến Khu cho rằng: DLXH không phải là lời nói suông của công chúng mà là một sức mạnh to lớn Sự ủng hộ của DLXH đối với một chủ trương nào đó của chính quyền có thể sẽ chuyển hóa thành các phong trào thi đua sôi nổi, thực hiện thắng lợi chủ trương đó Những tâm tư, thắc mắc của quần chúng, thể hiện qua dư luận, nếu không được quan tâm giải quyết có thể chuyển hóa thành các cuộc “phản ứng
tập thể” hoặc dưới các hình thức rất phức tạp khác (14)
Trang 25Trong nghiên cứu đã được công bố của TS Đỗ Chí Nghĩa lại đưa ra quan niệm rằng “DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân nhưng có mối quan hệ hữu cơ, cộng hưởng với nhau trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng
có tính thời sự thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định trong những thời điểm nhất định
Nhìn nhận như một trạng thái tinh thần xã hội ở một thời điểm cụ thể,
có ý kiến cho rằng: DLXH là biểu hiện trang thái ý thức xã hội của một cộng đồng người nào đó, sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu
cầu, lợi ích của họ trong một thời điểm nhất định (16, tr14)
Nhà nghiên cứu XHH Nguyễn Quý Thanh cho rằng: DLXH được coi là những trạng thái đặc trưng của ý thức xã hội Tính đặc trưng của DLXH thể hiện ở chỗ nó không tồn tại như một dạng độc lập với các trạng thái ý thức xã hội như chính trị, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật v.v, mà nó xuyên suốt trong các dạng ý thức xã hội đó DLXH không phải là bản thân chính trị, thế nhưng
nó có mặt và hoạt động tích cực trong ý thức và hành vi chính trị của cá nhân
diễn ra liên quan mật thiết đến lợi ích của họ
Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử, DLXH thuộc lĩnh vực tinh thần của xã hội, nó phản ánh thực tế xã hội Sức mạnh của DLXH được quy định bởi tồn tại xã hội Những biến đổi xã hội là cơ sở để hình thành DLXH phản ánh quá trình đó
Trang 26Theo TS Mai Quỳnh Nam thì DLXH không chỉ thuộc lĩnh vực tinh thần, bản chất của DLXH còn thể hiện trong hoạt động thực tế Hệ thống phân loại những phương pháp nhận thức thế giới của C.Mác cho thấy, người ta có thể nhận thức thế giới bằng phương pháp lý thuyết (khoa học), hoặc các phương pháp nghệ thuật, tôn giáo và phương pháp tinh thần -thực tế Theo cách ấy, DLXH đươc xếp vào phương pháp tinh thần - thực tế Đặc trưng đó tạo nên bản chất của DLXH Sự nhận thức của dư luân xã hội có tính chất đánh giá, từ việc đánh giá, người ta lựa chọn các phương án hành động để
thúc đẩy hoặc hạn chế sự kiện, hiện tượng đang tạo nên mối quan tâm chung
Từ những quan niệm trên có thể rút ra:
+ DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự,
+ DLXH có thể bao gồm các luồng ý kiến khác nhau, thậm trí đối lập, + DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải ý kiến của một tổ chức được hình thành theo con đường tổ chức (hội họp),
+DLXH không phải là phép cộng ý kiến cá nhân, mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội,
+ Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan hệ hiên có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra DLXH,
+DLXH là ý kiến, thái độ của số đông, của nhóm lớn trong xã hội, hoặc của toàn thể xã hội hay các vùng dân cư,
+ DLXH là một yếu tố cấu thành ý thức quần chúng, nhưng là yếu tố biểu hiện trạng thái của ý thức quần chúng ở thời điểm hiện tại
Như vậy, DLXH là một biểu hiện của trạng thái ý thức xã hội; là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự, liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của công chúng
1.1.2 Mối quan hệ tác động giữa báo chí và dư luận xã hội
Trang 27Đối tượng tác động của báo chí là ý thức quần chúng trong xã hội, ý thức quần chúng là một dạng thức biểu hiện của ý thức xã hội, nhưng là dạng thức hàng ngày Nó được cấu thành bởi thế giới quan, nhân sinh quan, tri thức lịch sử, văn hóa và DLXH Trong đó, DLXH là một bộ phận quan trọng Báo chí hiện đại coi DLXH là đối tác của mình Bởi DLXH cung cấp nguồn dữ liệu phong phú, cập nhật cho báo chí và báo chí là kênh truyền dẫn chủ yếu của DLXH Tách khỏi DLXH, báo chí giảm đi tính phong phú, sức hấp dẫn
và khả năng lôi cuốn bạn đọc
Cơ chế tác động của báo chí đến DLXH được thể hiện như sau:
Chủ thể Thông điệp Ý thức xã hội Hành vi xã hội Hiệu quả xã hội Trong đó, chủ thể xây dựng các thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các phương tiện truyền thông chuyển tải đến công chúng xã hội rộng rãi Thông tin qua phương tiện tác động vào ý thức quần chúng, hình thành tri thức và thay đổi nhân thức, hành vi Sự thay đổi về ý thức quần chúng sẽ dẫn đến các hành vi xã hội, sau đó tạo hiệu quả xã hội Khuynh hướng của thông tin quy định khuynh hướng của hành vi xã hội Tuy nhiên hiệu quả xã hội qua tác động của báo chí cũng phụ thuộc vào sự tiếp nhận thông tin của công chúng Ở nước ta, mối quan hệ giữa báo chí và DLXH đã được quy định thành luật Tại điều 6 Chương III, Luật Báo chí nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Báo chí, khoản 3 đã ghi báo chí có nghĩa vụ và quyền hạn “phản ánh và hướng dẫn DLXH; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân” Do chức năng là vũ khí thông tin cực kỳ lợi hại, báo chí quan hệ chặt chẽ, biện chứng với quá trình hình thành DLXH Tính chất, nội dung và cường độ của DLXH phụ thuôc vào tính chất của sự kiện, vấn đề và quá trình chuyển tải thông tin về sự kiện, vấn đề đó
DLXH và báo chí là hai hiện tượng xã hội đặc biệt, có những tính chất đặc thù, có "duyên nợ và mối quan hệ chặt chẽ với nhau như hình với bóng, khó có thể tách rời trong quá trình phát triển (7, tr198) DLXH tác động lên
Trang 28báo chí ở các khía cạnh: DLXH cung cấp nguồn sự kiện và vấn đề vô tận, đề tài, nguồn tin phong phú cho báo chí; Cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ truyền thông, DLXH có thể thay đổi tư duy và phong cách tác nghiệp của nhà báo Những thay đổi này thể hiện cụ thể ở: Thông tin nhanh, trực tuyến- trực tiếp; Giàu thông tin sự kiện; Lối diễn đạt từ ngữ ngắn gọn, tốc
độ nhanh, không dài dòng; Phương tiện và phương thức truyền thông đa dạng trong dạng truyền thông đa phương tiện là đòi hỏi ngày càng gia tăng công chúng xã hội, nhất là nhóm công chúng trẻ tuổi
Trong mối quan hệ với báo chí, DLXH là nội dung, là khởi nguồn, là chất liệu của báo chí, DLXH tác động, gợi ý đề tài cho báo chí thâm nhập, phản ánh Mặt khác DLXH không thể tự hình thành, tự phát tán, mà trước hết nhờ cậy vào hệ thống báo chí truyền thông Nhờ những đặc trưng bản chất của mình, báo chí có thể giúp các cá nhân và các nhóm nhanh chóng xã hội hóa ý kiến của mình Từ một ý kiến, một sự kiện ở một vài cá nhân, một vài nhóm nhỏ, thông qua báo chí được lan tỏa ra cả cộng động xã hội tiếp nhận, chia sẻ, cùng tỏ thái độ và bung ra thành DLXH Từ dư luận của số ít, thông qua báo chí, thành dư luận của số đông, của toàn thể xã hội trên phạm vi quốc gia, thậm trí trở thành dư luân của cả cộng đồng thế giới
Báo chí là kênh giao tiếp đại chúng, của số đông và đến với đám đông, bản chất của hoạt động báo chí là hoạt động thông tin đại chúng, hình thành dòng thông tin chính thống, hướng tác động vào đông đảo công chúng với mục đích lôi kéo, thuyết phục, tập hợp và tổ chức quần chúng nhân dân Cùng một lúc hoặc trong thời gian ngắn nhất, báo chí tác động đến đông đảo quần chúng Do đó báo chí là kênh hình thành, phát tán DLXH nhanh nhất, có hiệu quả nhất Đồng thời, thể coi báo chí chính là nơi biểu hiện của DLXH DLXH không tồn tại chung chung, trừu tượng mà luôn luôn được biểu hiên cụ thể, sinh động và được phản ánh kịp thời trên báo chí
Ngược lại, báo chí cũng thể hiện vai trò của mình thông qua 4 khía cạnh chính: Báo chí khơi nguồn dư luận xã hội; báo chí truyền dẫn và phản
Trang 29ánh dư luận xã hội; báo chí định hướng dư luận xã hội; báo chí điều hòa dư luận xã hội Theo K.Marx: "Sản phẩm của truyền thông là DLXH", như vậy,
cơ sở đánh giá hiệu quả và năng lực của truyền thông- báo chí chính là việc
có tạo ra được DLXH tích cực không, thông qua thông tin báo chí, DLXH hướng tập trung phản ánh vấn đề gì, ở mức độ nào, thời điểm nào, các thức truyền thông ra sao Báo chí không tạo được DLXH có nghĩa là không gây ảnh hưởng lên công chúng ở mức độ nào đó Tất nhiên, khả năng tác động của báo chí lên DLXH cũng thể hiện ở nhiều cung bậc, mức độ khác nhau Ở giới hạn của luận văn này, tác giả chỉ đề cập tới vai trò định hướng của báo chí đối với DLXH (7, tr20-40)
1.1.3 Báo chí định hướng dư luận xã hội
Báo chí vừa lấy DLXH làm nội dung, làm chất liệu phản ánh, vừa thông qua đó để định hướng DLXH Báo chí thông qua việc khơi nguồn, phản ánh và xét cho cùng để đạt được mục đích là định hướng DLXH, nhằm điều hòa tâm lý, tâm trạng xã hội Nội dung định hướng DLXH trước hết là khả năng nhìn nhận và thẩm định đời sống hiện thực một cách có hệ thống Báo chí không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phản ánh mà phải mổ xẻ, tìm ra chiều hướng vận động của hiện thực, qua đó định hướng nhận thức của công chúng
Định hướng là một hoạt động có ý thức của con người trong nhận thức, thái độ và hành vi; và muốn nhận thức, thái độ và hành vi của mình đạt được hiệu quả, nguồn lực trí tuệ, cảm xúc của mỗi con người và cộng đồng cần sự định hướng tập trung, tập trung nỗ lực nhận thức và nguồn lực vào việc giải quyết vấn đề gì đó, cần phải có định hướng huy động, tổ chức nguồn lực thì mới đạt được hiệu quả thực tế (7, tr301)
Báo chí định hướng DLXH chủ yếu và quan trọng nhất là bằng và thông qua việc thông tin, giải thích các sự kiện, vấn đề thời sự đã và đang diễn ra liên quan mật thiết đến vấn đề mà DLXH đang quan tâm Thông qua
đó tạo thành luồng ý kiến chủ lưu có khả năng thuyết phục, chiếm lĩnh và chi
Trang 30phối nhân thức, thái độ và hành vi của công chúng xã hội Mặt khác, thông qua việc cung cấp và phân tích sự kiện, giải thích và giải đáp vấn đề thời sự, báo chí đã giúp nâng cao trình độ hiểu biết, nhận thức của nhân dân, từ đó định hướng DLXH
Như vậy việc báo chí định hướng và điều hòa DLXH đã phát huy vai trò huy động sức mạnh của DLXH vào việc tổ chức và quản lý xã hội, ổn định đời sống chính trị, tinh thần xã hội Đặc biệt với việc báo chí kịp thời định hướng và điều hòa DLXH đã nhanh chóng gạt bỏ được những tin đồn thất thiệt, các tư tưởng phân tán, xóa đi tâm trạng xã hội lo âu, góp phần phát huy sức mạnh nội lực của xã hội, của đất nước
Với sự phát triển của công nghệ số, mạng Internet cùng nhiều thiết bị kết nối đầu cuối thông minh: máy tính, smartphone…vai trò và vị thế của công chúng báo chí - truyền thông đã thay đổi hẳn, từ thụ động và tiếp thụ sản phẩm từ báo chí cung cấp sang chủ động tham gia, cùng sản xuất, chia sẻ, đánh giá và bình luận Thông qua báo chí và truyền thông tạo cơ hội cho mỗi người dân có thể tham gia vào các diễn đàn quốc gia và quốc tế, do vậy chỉ cần 1 sự kiện thông tin trên báo chí cũng đủ sức mạnh để thổi bùng DLXH
Báo chí định hướng DLXH là thể hiện yêu cầu thống nhất giữa yêu cầu
từ bên trên của lãnh đạo quản lý và nhu cầu từ bên dưới của quần chúng nhân dân Bảo đảm được yêu cầu về tính thống nhất đó, báo chí sẽ là phương thức
và công cụ quan trọng nhất trong việc khơi nguồn, tập hợp và phát huy nguồn lực sức mạnh mềm, tài nguyên mềm của quốc gia trong quá trình phát triển và xây dựng đất nước
Các phương thức để định hướng DLXH:
- Tuyên truyền điển hình: Trong thời kỳ tư duy kinh tế tập trung,
quan liêu, bao cấp, phương thức chủ yếu của báo chí trong việc hình thành và định hướng DLXH là tuyên truyền điển hình Tức là trên cơ sở điển hình đã được xác định, báo chí tập trung miêu tả, phân tích kinh nghiệm để giới thiệu
mô hình cho các nơi khác học tập và làm theo, báo chí phát động và nhân
Trang 31rộng mô hình tiên tiến, cổ vũ cho các điển hình đó trở thành phong trào rộng rãi trong quần chúng Những điển hình như vậy dễ được phát huy vì hầu hết các hoạt động tổ chức sản xuất và đời sống xã hội còn thực hiện theo phương thức tập trung, chỉ đạo Tuy nhiên, bước vào thời kỳ kinh tế thị trường, việc
áp dụng chung một điển hình cho các trường hợp sinh động, đa dạng, khác biệt của cuộc sống là hết sức khó khăn, thì phương thức tuyên truyền điển hình ngày càng bị giảm tác dụng
- Thông tin, tuyên truyền tập trung: Đây là hình thức tuyên truyền
vẫn được tập trung khai thác trong thời gian gần đây Các thức chủ yếu của hoạt động này là, trên cơ sở các cơ quan lãnh đạo, cơ quan quản lý, cơ quan báo chí xác định vấn đề trọng tâm trước mắt trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, từ đó báo chí tập trung đưa tin, thu hút sự chú
ý của công chúng và DLXH, lôi cuốn họ vào những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, hoặc những vấn đề cơ bản lâu dài, nhằm định hướng DLXH, thu hút nguồn lực tinh thần và vật chất của cộng đồng, tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội của đất nước hay địa phương Về bản chất, phương thức này thu hút nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân, tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản và cấp bách, huy động hệ thống báo chí và truyền thông đại chúng trở thành dàn đồng ca, thu hút công luận, khơi dậy nguồn lực và góp phần thực hiện các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ kinh tế xã hội đang đặt
ra, tập trung DLXH vào một hoặc một nhóm vấn đề nhất định
Ngày nay, với sự phát triển năng động của nền kinh tế, xu thế hội nhập toàn cầu và cuộc cách mạng công nghệ dẫn tới bùng nổ thông tin, việc tác động vào DLXH được tổ chức một cách quy mô và chuyên nghiệp, chuyển dần sang sử dụng các chiến dịch truyền thông Các chiến dịch đó được lên kế hoạch và tổ chức với sự huy động tham gia của nhiều phương tiện thông tin đại chúng, được tổ chức trong thời gian dài, có mục tiêu, đối tượng và các phương pháp cụ thể, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Trong các chiến dịch này, vai trò của báo chí thể hiện chủ yếu ở hai khía cạnh:
Trang 32- Cấp độ thứ nhất: lựa chọn sự kiện và vấn đề thông tin, xác định mức
độ, liều lượng, tần suất thông tin sự kiện và hoạt động được tổ chức cũng như các sự kiện và vấn đề thời sự đã và đang diễn ra Vị trí và tần suất các sự kiện xuất hiện trên báo trí truyền thông có khả năng thu hút sự chú ý của công luận Đối với báo in và báo mạng điện tử, trang nhất hoặc giao diện luôn được coi là vị trí quan trọng nhất, chỉ cần lướt qua trang này với các đầu đề tin, bài bạn đọc cũng có thể thấy được chủ đề mà tòa soạn quan tâm, phản ánh cho công chúng và DLXH biết được những gì đang diễn ra
- Cấp độ thứ hai: Lựa chọn góc độ thông tin và bình luận cho tác phẩm báo chí Trong báo chí hiện đại, lựa chọn góc độ thông tin sự kiện và vấn đề nhằm định hướng DLXH có ý nghĩa rất quan trọng Bởi mỗi sự kiện và vấn
đề trong chiến dịch truyền thông có chủ đích, cũng như các vấn đề thời sự hằng ngày, thông thường được nhận thức dưới nhiều bình diện khác nhau, tùy theo cách tiếp cận cũng như sự quan tâm của công chúng Nhà báo trên cơ sở bao quát tình hình chung và yêu cầu định hướng thông tin mà chọn lựa góc độ nào có ý nghĩa trực tiếp tác động mạnh mẽ nhất, có khả năng định hướng DLXH hiệu quả nhất đối với nhóm công chúng của mình (7, tr305-328)
1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về định hướng dư luận xã hội ở Việt Nam
Hiện nay, trong thời kỳ bùng nổ thông tin, dư luận xã hội có thể chịu ảnh hưởng của nhiều luồng, nhiều hướng thông tin khác nhau Đặc biệt, rất nhiều các lực lượng bên ngoài sử dụng vũ khí mới là vũ khí thông tin trong trận chiến về công tác tư tưởng Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã thể hiện những quan điểm rõ ràng và sáng suốt trong việc quản lý và định hướng DLXH Nghị quyết TW 5 (khóa X): “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”; Nghị quyết TW 4 (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI; Nguyễn Phú Trọng: “Quyết tâm làm cho Đảng ngày càng trong sạch hơn,
Trang 33vững mạnh hơn; mỗi cán bộ, đảng viên ngày càng tiến bộ hơn; nội bộ đoàn kết hơn; nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc hơn”; tạp chí Cộng sản số 834, 4/2012; Nghị quyết TW 6 (lần 2) (khóa VIII) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; Chỉ thị 08 của Bộ Chính trị khóa VII
về tăng cường công tác quản lý báo chí và xuất bản; Chỉ thị Chỉ thị số CT/TW của Bộ Chính trị tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản; ngày 17-10-1997; Luật báo chí năm 1989; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật báo chí năm 1989; Nghị định của Chính phủ
22-Số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002, quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí Trong đó thể hiện quan điểm về nắm bắt và định hướng DLXH một cách rõ ràng như sau:
Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập đã coi việc nắm bắt lòng dân (tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân) là một trong những công việc quan trọng hàng đầu nhằm đề ra các chủ trương, đường lối cách mạng phù hợp lòng dân Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”
Nhiều văn bản, quyết định của các cơ quan lãnh đạo Đảng đã khẳng định điều này Năm 1982, Ban Bí thư đã quyết định thành lập Viện nghiên cứu dư luận xã hội thuộc Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, nay là Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, trong đó có quy định nhiệm vụ và quyền hạn như: “Viện nghiên cứu dư luận xã hội có nhiệm vụ tổ chức việc nghiên cứu
dư luận nhân dân đối với những vấn đề cơ bản của đất nước và những vấn đề
cơ bản có tính thời sự theo quan điểm Mác – Lênin; tổng hợp, phân tích dư luận xã hội để báo cáo với các cơ quan Đảng và Nhà nước; tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng độ ngũ thông tin viên, cộng tác viên của Viện về lý luận, nghiệp
vụ Viện được trực tiếp quan hệ với các cấp ủy đảng, các ngành, các đoàn thể quần chúng để tổ chức nghiên cứu dư luận xã hội”
Trang 34Những năm đầu đổi mới và đặc biệt là thời gian gần đây, Đảng ta tiếp tục có những sự chỉ đạo nhằm tăng cường công tác điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội Ví dụ, trong văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã nêu ra nhiệm vụ đối với công tác tư tưởng sau đây: “Nâng cao chất lượng thông tin nội bộ và công tác tuyên truyền, coi trọng biện pháp điều tra dư luận xã hội”
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VII tiếp tục yêu cầu: “Tổ chức điều tra dư luận xã hội về những vấn đề cần thiết cho công tác lãnh đạo, quản lý Nhà nước Xây dựng luật về trưng cầu dân ý”
Gần đây nhất, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về công tác tư tưởng,
lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, tiếp tục nhấn mạnh: “Chú trọng công tác nghiên cứu, điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ công tác
tư tưởng” Như vậy, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác tư tưởng nhất là công tác định hướng DLXH đã được hình thành và phát triển từ rất lâu, có nhiều cải tiến, mở rộng thể thích hợp với từng thời kỳ Vấn đề là làm sao để báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo các định hướng này vào hoạt động thực tiễn
1.3 Tài chính công và quản lý tài chính công tại Việt Nam hiện nay
1.3.1 Tài chính công
Nhà nước là cần thiết và mọi quốc gia đều có Nhà nước Nhà nước sẽ cung cấp những thứ mà người dân mong muốn như: Quốc phòng, an ninh, đối ngoại, các dịch vụ công cộng khác…Nhưng người dân chỉ có thể có được những thứ đó khi họ phải trả chi phí dịch vụ Nhà nước không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, Nhà nước phải dùng quyền lực (trước tiên là quyền lực chính trị) để có được một phần của cải xã hội, để duy trì sự tồn tại và vận hành của
bộ máy Nhà nước, thực hiên các chức năng, nhiệm vụ của mình đối với xã hội Trong điều kiện kinh tế - tiền tệ , nhà nước thâu tóm một phần của cải đó dưới các hình thức như thuế, công trái bằng tiền…Từ đó, xuất hiện khái niệm
Trang 35tài chính công (Public Finance) Cùng với sự phát triển các chức năng của Nhà nước, tài chính công ngày càng trở lên cần thiết và quan trọng Tài chính công được Nhà nước sử dụng như một trong những công cụ hữu hiệu để bảo đảm công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô (đánh thuế người có thu nhập cao, chi tiêu tạo thêm công ăn việc làm cho người nghèo, chống lạm phát, thất nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái) Ở Việt Nam trong mấy chục năm nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung mang tính chất chỉ huy, người ta chỉ thấy nói đến tài chính nhà nước, mà không thấy nói đến tài chính công (Public Finance) Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, người
ta thường dùng thuật ngữ “Tài chính công” mà ít dùng thuật ngữ “Tài chính
Nhà nước” Về phương diện lý luận và thực tiễn, tài chính công là một bộ
phân của tài chính nhà nước (18, tr11-30)
Như trên đã đề cập, Nhà nước tất phải dựa vào quyền lực chính trị để chiếm hữu và chi phối một phần của cải xã hội, nhằm duy trì sự hoạt động của
bộ máy của Nhà nước và phát triển xã hội Tuy khách thể của phân phối là toàn bộ giá trị của cải xã hội, nhưng phần của nhà nươc thâu tóm chủ yếu nằm trong giá trị sản phẩm mới được tạo ra Bởi vì, để cho xã hội tồn tại và phát triển, Nhà nước cần phải giải quyết mối quan hệ tồn tại này sao cho vừa bảo đảm lợi ích của cộng đồng (đại diện là Nhà nước), vừa đảm bảo lợi ích của Doanh nghiệp, hộ gia đình giúp cho họ không chỉ thực hiện tái sản xuất giản đơn, mà cả tái sản xuất mở rộng Cùng với sự phát triển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, Nhà nước dùng quyền lực chính trị để phân phối một phần của cải xã hội về tay mình trải qua các hình thức lao dịch, hiện vật, tiền
tệ (19, tr10-34)
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của sản xuất và lưu thông hàng hóa, thuế bằng tiền (khi thiếu hụt thì dùng thêm công trái bằng tiền) dần dần trở thành hình thức thu chủ yếu, tạo lập quỹ tiền tệ để chi tiêu thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước Ngày nay, Nhà nước vẫn còn thực hiện phân phối của cải về tay mình dưới hình thức ngày công lao động và hiện
Trang 36vật, nhưng không phải là phổ biến nữa Chúng đều được quy ra tiền và hạch toán vào quỹ bằng tiền của Nhà nước
Tính chất và hình thức của quan hệ phân phối được quyết định bởi một phương thức sản xuất nhất định Sự khác nhau về phương thức sản xuất quyết định các kiểu Nhà nước khác nhau Việc chiếm hữu một phần của cải sản xuất
để tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của mình đã trải qua các thời kỳ nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ đó của các nhà nước cổ xưa phản ánh quan hệ bóc lột siêu kinh tế của giai cấp bóc lột đối với nhân dân lao động Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước không chỉ mang tính giai cấp mà còn mang tính xã hội (tức là vì lợi ích cộng đồng)
Việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ thông qua quyền lực của Nhà nước (thu thuế, duy trì hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng công trình công cộng…) đụng chạm sâu sắc đến lợi ích kinh tế xã hội giữa nhà nước (đại diện cho cộng đồng) và các chủ thể khác Nhà nước thu chi đúng sẽ khuyến khích kinh tế phát triển, làm cho các vùng, các địa phương, các thành viên đều hưởng lợi, giảm bớt phân hóa giàu nghèo Ngược lại, nhà nước thu chi không đúng có thể sẽ kìm hãm sản xuất, tăng phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, các tầng lớp nhân dân, dẫn tới sẽ khoét sâu mâu thuẫn xã hội
Như vậy có thể đưa ra khái miệm về tài chính công như sau:
TCC là sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước bằng việc sử dụng quyền lực hợp pháp của Nhà nước (trước tiên là quyền lực chính trị) phân phối của cải xã hội (chủ yếu là sản phẩm mới được tạo ra) để thực hiện các chức năng kinh tế và xã hội của Nhà nước
Nói một cách ngắn gọn: Tài chính công là những hoạt động thu chi
bằng tiền của Nhà nước nhằm thực hiện những chức năng vốn có của nó trong việc cung cấp hàng hóa công cộng cho xã hội, không vì mục đích lợi nhuận
Trang 37Theo Cẩm nang thống kê tài chính Chính phủ (GFS) 2001 do Quỹ tiền
tệ Quốc tế (IMF) xây dựng, khái niệm tài chính công không trùng với khái niệm tài chính khu vực công Khu vực công bao gồm khu vực Chính phủ nói chung và khu vực doanh nghiệp công
Khu vực Chính phủ nói chung bao gồm chính quyền Trung ương, chính quyền Bang (nếu có), chính quyền đại phương Thuật ngữ “khu vực chính phủ nói chung” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn thuật ngữ “Chính phủ” trong tiếng Việt Khu vực Chính phủ nói chung có cả quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp Các Doanh nghiệp công bao gồm doanh nghiệp công về tài chính và các doanh nghiệp công phi tài chính Các doanh nghiệp công về tài chính gồm các doanh nghiệp về tiền tệ (Ngân hàng Trung ương cũng là môt doanh nghiệp công về tiền tệ) và các doanh nghiệp công về tài chính phi tiền tệ
Tài chính công là tài chính của khu vực Chính phủ nói chung, không bao gồm tài chính của các Doanh nghiệp công
Nhà nước dùng quyền lực chính trị hợp pháp của mình để phân phối của cải xã hội có thể thông qua việc xây dựng các văn bản về thuế, về chi tiêu
và tổ chức thi hành những văn bản
Theo giáo trình Quản lý tài chính công, Nhà xuất bản Tài chính năm
2007, các bộ phận cấu thành của tài chính công bao gồm:
+ Ngân sách nhà nước: NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa nhà
nước với các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia, theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp
+ Các quỹ ngoài ngân sách nhà nước như: Quỹ Bảo hiểm xã hội,
Quỹ Hỗ trợ tín dụng, Quỹ khuyến khích hỗ trợ xuất khẩu Các quỹ tài chính này được quản lý thông qua các quy trình riêng biệt (khác với quy trình quản
lý NSNN), qua đó tạo được sự linh hoạt trong quyết định chi tiêu của nhà nước, tránh được nguyên tắc quản lý cứng nhắc và khắt khe của NSNN
+ Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước: Các cơ quan hành
chính nhà nước bao gồm ba cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp các cấp từ
Trang 38trung ương tới địa phương Tài chính để duy trì các cơ quan hành chính nhà nước như chi trả lương, mua sắm trang thiết bị văn phòng, chi các nghiệp vụ hành chính Nguồn tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước dược sự dụng tuân thủ theo các quy định của Luật NSNN, các văn bản đặc thù cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương
+ Tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập: Đơn vị sự nghiệp nhà
nước là đơn vị thực hiện việc cung cấp các dịch vụ công Hoạt động của các đơn vị này không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu mang tính chất phục vụ Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt động được lấy từ NSNN, từ một số nguồn thu khác có nguồn gốc từ NSNN, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, các khoản thu từ quyên góp, biếu tặng Nguôn tài chính của các đơn vị này sử dụng tuân theo luật NSNN và những văn bản quy định đối với từng loại hình đơn vị sự nghiệp nhà nước (18, tr 26,27)
1.3.2 Quản lý tài chính công
1.3.2.1 Khái niệm
Quản lý tài chính công là sự tác động của hệ thống các cơ quan của Nhà nước đến những mặt hoạt động của tài chính công nhằm đạt được những mục tiêu nhất định (12, tr15)
1.3.2.2 Các bộ phận cấu thành của quản lý tài chính công
Tác giả PGS.TS Trần Xuân Hải đã nêu rõ các bộ phận cấu thành của Quản lý tài chính công ở Việt Nam trong cuốn Quản lý Tài chính công ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước: Là quá trình Nhà nước trung
ương phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý ngân sách Thực chất, phân cấp quản lý ngân sách là việc giải quyết mối quan hệ tài chính giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương và giữa các cấp chính quyền về nguồn thu, nhiệm vụ thu chi tài chính của các cấp chính quyền
Trang 39Quản lý quá trình thu ngân sách nhà nước: Là quản lý quá trình
thực hiện các khoản thu cho NSNN (thuế, phí, lệ phí, vay nợ trong và ngoài nước, đối với quỹ tài chính ngoài ngân sách có thể là các khoản thu một phần được lấy từ NSNN, một phần do các tổ chức và cá nhân đóng góp)
Quản lý quá trình chi ngân sách nhà nước: Là quản lý quá trình sử
dụng nguồn tài chính huy động được để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Chi ngân sách liên quan tới nhiều lĩnh vực như giáo dục đào tạo, y
tế, khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng
Quản lý bội chi ngân sách nhà nước: Xuất phát từ quan điểm về quản
lý ngân sách giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế luôn có sự khác nhau,
sẽ đưa đến những kết quả khác nhau trong điều hành ngân sách nói riêng và trong quản lý toàn bộ nền kinh tế nói chung Đối với các nước đang phát triển, vấn đề bội chi ngân sách (số chi ra cao hơn số thu vào) khá phổ biến do nhiều nguyên nhân: Hệ thống thuế kém hiệu quả và phụ thuộc nhiều vào thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế TNCN, chưa trở thành nguồn thu quan trọng; áp lực chi lớn cho các vấn đề cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội; thị trường vốn kém phát triển, vay nợ nước ngoài nhiều Ngoài ra bôi chi ngân sách cũng phổ biến với các nước phát triển, khi chính phủ sử dụng chi
tiêu như công cụ vĩ mô để điều tiết nền kinh tế
Quản lý nợ công: Ngân hàng thế giới quy định nợ công là nghĩa vụ nợ
của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của Chính phủ Trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn Theo Ủy ban Châu Âu, nợ công là nợ của chính phủ và các cơ quan, tổ chức trong khu vực chính phủ
Ở Việt Nam, theo Luật quản lý nợ công năm 2009, nợ công bao gồm có
nợ Chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Khái niệm này thu hẹp hơn khái niệm nợ công theo thông lệ quốc tế khi không tính đến các khoản vay nợ của doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn
Trang 40Quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp: Hoạt động quản lý TCC
liên quan đến tất cả hoạt động của các cơ quan nhà nước, tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động mà tất cả các cơ quan nhà nước đều có nhiệm vụ quản lý TCC theo những mức độc khác nhau Do vậy, ở các đơn vị
sự nghiệp công lập, nội dung quản lý tài chính cũng được coi là một trong các nhiệm vụ của quản lý TCC (19, tr7-14)
Kết luận: Có thể thấy các nội dung về TCC mà báo chí tham gia định
hướng DLXH tập trung vào nhằm tạo sự hiểu biết đúng về bản chất tài chính công, về quá trình, cơ chế quản lý và sử dụng tài chính công ở Việt Nam, qua đó để tạo sự đồng thuận trong xã hội, cũng như thúc đẩy và đòi hỏi việc quản lý, sử dụng TCC ngày một hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội
1.4 Phương thức định hướng dư luận xã hội của báo chí về quản lý tài chính công
Như đã nói ở trên, thời kỳ hiện đại, báo chí tham gia tích cực vào các chiến dịch truyền thông có định hướng để góp phần định hướng DLXH Thông qua việc tham gia các chiến dịch truyền thông đó, báo chí thể hiện sức mạnh của mình thông qua một lực lượng đông đảo các phương tiện truyền tải Định hướng DLXH về vấn đề quản lý TCC công không phải là một ngoại lệ
Ở đó, cơ quan báo chí và nhà báo cũng phải thỏa mãn hai yêu cầu của việc
tham gia thông tin ở hai cấp độ như đã trình bày ở mục 1.1.3 Cấp độ thứ
nhất: lựa chọn sự kiện và vấn đề thông tin, xác định mức độ, liều lượng, tần suất thông tin sự kiện và hoạt động được tổ chức cũng như các sự kiện và vấn
đề thời sự đã và đang diễn ra Cấp độ thứ hai: Lựa chọn góc độ thông tin và bình luận cho tác phẩm báo chí Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng tốt tiêu chí này, đối với định hướng DLXH về vấn đề quản lý TCC, đẳng cấp chuyên nghiệp của báo chí có tác động quan trọng và thể hiện vai trò quyết định đối với giai đoạn đầu của hình thành DLXH Đây trở thành các tiêu chí đánh giá mức độ của các hoạt động định hướng mà cơ quan báo chí muốn