THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNHTHỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
UNIVERSITY OF ECONOMICS AND LAW - -
MÔN HỌC:
LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
TIỂU LUẬN:
THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN:
VI PHẠM QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT
BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH
Giảng viên hướng dẫn: Ths NGUYỄN THỊ LÂM NGHI.
TP.HỒ CHÍ MINH - 11/2019
Trang 2MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG: 4
1.1 Quyền tác giả: 4
1.2 Quyền liên quan: 4
CHƯƠNG 2: NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH: 5
2.1 Một số khái niệm: 5
2.1.1 Bản ghi âm, ghi hình: 5
2.1.2 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: 5
2.1.2.1 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quốc tịch Việt Nam: 5
2.1.2.2 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quốc tịch nước ngoài: 6
2.2 Quyền và nghĩa vụ của các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: 6
2.2.1 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: 6
2.2.1.1 Tại Việt Nam: 6
2.2.1.2 Tại Thế giới: 7
2.2.2 Nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: 8
2.3 Điều kiện bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: 9
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VIỆC VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN - QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH: 9
3.1 Thực trạng trên Thế Giới về việc vi phạm: 9
3.2 Thực trạng tại Việt Nam về việc vi phạm: 12
3.2.1 Thực trạng: 12
3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng: 18
3.2.3 Thành tựu đạt được trong việc bảo vệ bản quyền ghi âm, ghi hình khỏi các tội phạm xâm phạm qua nhiều năm: 19
3.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm quyền của nhà sản xuất ghi âm, ghi hình: 21
3.3.1 Yếu tố xâm phạm: 21
3.3.2 Hành vi xâm phạm: 21
3.3.2.1 Hành vi xâm phạm quyền nhân thân: 21
3.3.2.2 Hành vi xâm phạm quyền tài sản: 22
3.3.3 Căn cứ xác định hành vi xâm phạm: 22
3.3.4 Biện pháp bảo vệ: 23
3.3.4.1 Biện pháp tự bảo vệ: 23
3.3.4.2 Biện pháp dân sự: 23
3.3.4.3 Biện pháp hành chính, hình sự: 24
3.3.4.4 Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại biên giới: 24
Trang 3CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH TẠI VIỆT NAM: 25
4.1 Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình: 254.2 Đối với hệ thống CQNN có thẩm quyền: 264.3 Nâng cao chất lượng của mạng lưới thông tin: 274.4 Áp dụng các biện pháp công nghệ trong việc bảo vệ quyền của nhà sản xuất bảnghi âm, ghi hình: 284.5 Bản ghi âm, ghi hình trong mối quan hệ giữa quyền của tác giả, người biểu diễnvới nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: 294.6 Nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động các tổ chức quản lý tập thể: 294.7 Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật: 304.8 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền của nhà sản xuất bảnghi âm, ghi hình: 30
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
“Trong môi trường kinh doanh toàn cầu hóa và thị trường ngày càng đông đúc, các doanhnghiệp vừa và nhỏ cần phải tìm ra cách thức làm cho sản phẩm của mình trở nên khác biệt vàthu hút khách hàng tiềm năng Việc giới thiệu sản phẩm mới hoặc được cải tiến và áp dụngphương pháp mới trong sản xuất, bán hàng, tiếp thị sản phẩm và dịch vụ là các chiến lược màcác doanh nghiệp đang sử dụng để duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế Trong khi đổi mới, sáng tạo và tri thức đang trở thành các nhân tố chính của sức mạnh cạnhtranh thì các công ty cũng đang phải đối mặt với nhu cầu tìm ra cách thức quản lý có hiệu quảhoạt động đổi mới, sáng tạo và tri thức của họ một cách hữu hiệu”1 Đó chính là lý do mà Hệthống pháp luật về Sở hữu trí tuệ ra đời và ngày một đổi mới, bổ sung phát triển hơn, nhằmcung cấp cho chủ sở hữu quyền một loạt các phương án quản lý tốt thành quả của họ
Tuy nhiên, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ kỹ thuật số với những ứngdụng to lớn của nó trong mọi mặt của đời sống xã hội thì ngày càng tạo ra nhiều mặt trái songsong tồn tại Mỗi ngày, hầu hết mọi người đều truy cập Internet và nắm bắt nhiều thông tin từ
đó Dần dần, vai trò của Internet trở nên vô cùng quan trọng, Internet giúp quảng bá tác phẩmđến đông đảo người sử dụng một cách thuận tiện và tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so vớitruyền thông cổ điển Chính vì lẽ đó, có lợi cũng đi kèm với có hại, Internet là một công cụthuận lợi khiến cho nhiều người sử dụng để truy cập, sử dụng trái phép các tác phẩm đã đăng
ký bản quyền tác giả, quyền liên quan mà không phải trả tiền sử dụng sự truy cập đó Mỗi ngày
có hàng triệu lượt truy cập Internet, song song đó là hàng chục nghìn lượt sử dụng tác phẩm tráiphép, chính vì sự phổ biến đó mà cơ quan có thẩm quyền cũng khó khăn trong việc quản lý vàgiám sát
Hiện nay, vấn đề bảo về quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam đã bắt đầu được quantâm Bên cạnh những tác phẩm mà công chúng có thể tự tiếp nhận, hưởng thụ, có một bộ phậntác phẩm chỉ có thể được truyền tải đến công chúng thông qua một đội ngũ trung gian, đó lànhững người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát thanh, truyền hình.Quyền của nhóm chủ thể này hiện nay đang bị xâm phạm nghiêm trọng đặc biệt là quyền củanhà sản xuất bản ghi âm
Việc Việt Nam gia nhập Công ước Rome, Công ước Geneva, Hiệp ước WPPT về bảo hộquyền của nhà sản xuất bản ghi âm là một bước đi tất yếu trong tiến trình hội nhập quốc tế.Việc trở thành thành viên của các Điều ước quốc tế này không chỉ nhằm thực hiện các điềukiện để được gia nhập WTO mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để các nhà sản xuất bản ghi
âm nước ta được bảo hộ tại nước ngoài và ngược lại, giúp bảo hộ có hiệu quả các nhà sản xuấtnước ngoài tại Việt Nam, tạo điều kiện để chúng ta hội nhập đầy đủ hơn vào nền kinh tế thếgiới
Pháp luật quy định rất cụ thể và chi tiết, nhưng việc hiểu và áp dụng so với thực tế là mộtvấn đề vô cùng bất cập bởi nhu cầu truy cập Internet để tìm hiểu thông tin vô cùng cao mà nhậnthức về việc đăng ký bản quyền cũng như nhu cầu của người sử dụng còn rất hạn chế Thậmchí, nhiều nhà sản xuất cũng không có ý định đăng ký bản quyền bởi thủ tục rườm rà, phức tạp
1 Nguồn tài liệu:
https://www.wipo.int/export/sites/www/sme/en/documents/guides/translation/secrets_of_ip_vi.pdf?fbclid=IwAR0kyWxm8cbHt-JEuBHF2jeKancGpB0Zo4zkY-6SKpzlW9Ls6MUXG1jX3Fk
Trang 5dẫn đến tình trạng xâm phạm quyền liên quan, đặc biệt là quyền của nhà sản xuất bản ghi âm,ghi hình trên Internet ngày càng khó kiểm soát
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Nói đến quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình thì “Bảo hộ quyền của nhà sản xuất
ghi âm, ghi hình” được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm qua những bài bình luận, luận
văn, Cụ thể có thể kể đến Luận văn Thạc sĩ Luật học của Thạc sĩ Nguyễn Thái Mai: “Pháp
luật quốc tế và bảo hộ quyền của nhà xuất bản ghi âm và sự tương thích với pháp luật Việt Nam” (năm 2015) Nội dung của Luận văn là nói về vấn đề bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam,
quyền của nhà xuất bản ghi âm, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền củanhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam
Năm 2009, Sinh viên Phạm Long Tân (Lớp Tư Pháp - ĐH Cần Thơ), cũng đã lựa chọn đềtài: “Thực trạng bảo hộ và những biện pháp tăng cường bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi
âm tại Việt Nam” làm Luận văn Tốt nghiệp Năm 2012, Sinh viên Thạch Thị Liễu (Lớp Tưpháp - ĐH Cần Thơ), cũng lựa chọn đề tài tương tự: “Bảo hộ quyền của nhà sản xuất ghi âm,ghi hình theo pháp luật Việt Nam”
Có thể thấy, vấn đề về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, là một vấn đề đượckhá nhiều người lưu ý nghiên cứu Tuy các bài có nêu thực trạng và ví dụ về các vi phạm, song,
cụ thể quy định về hành vi vi phạm, quy định về xử lý vi phạm và vụ án thực tế trên thế giớicùng Việt Nam về vi phạm đối với quyền ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất dường như chưađược nêu ra một cách cụ thể
Nhiệm vụ quan trọng của đề tài nghiên cứu này là phải đạt được các mục tiêu sau đây:
Thứ nhất, hệ thống hóa được vấn đề pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan, quyền của
nhà sản xuất đối với bản ghi âm, ghi hình; các hành vi vi phạm quyền ghi âm, ghi hình và quyđịnh về chế tài xử lý
Thứ hai, trình bày thực trạng vi phạm tại một số nước trên Thế giới và phân tích thực
trạng vi phạm tại Việt Nam, nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm tại Việt Nam, đồng thời nêu lênnhững thành tựu đạt được trong việc bảo vệ bản quyền ghi âm, ghi hình khỏi các tội phạm xâmphạm qua nhiều năm
Thứ ba, đưa ra các giải pháp để thúc đẩy việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất; đề xuất các
khuyến nghị cho nhà nước, doanh nghiệp và người dân biết và áp dụng đúng quy định của phápluật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Bản ghi âm, ghi hình
Khách thể nghiên cứu: Vấn đề vi phạm quyền liên quan - quyền của nhà sản xuất theoquy định của pháp luật Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Từ năm 1999 - 2019
Không gian: Việt Nam và một số nước trên Thế Giới
Trang 65 Cấu trúc đề tài:
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG;
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VỀ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI
HÌNH;
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆC VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN - QUYỀN CỦA
NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH;
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.
Trang 7CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG:
1.1 Quyền tác giả:
Tác phẩm là sự kết tinh lao động sáng tạo của tác giả Do đó, quyền của tác giả (viết tắtQTG) đối với tác phẩm cần được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Quyền của tác giả đối với tácphẩm được xem là một loại quyền tài sản nằm trong phạm vi các loại tài sản được quy địnhtrong Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015)
Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối
với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Quyền tác giả được trao cho hai loại chủ thể:tác giả và chủ sở hữu
Như vậy, quyền tác giả là quyền mà pháp luật ban cho người đã sáng tạo ra tác phẩm vănhọc, nghệ thuật, khoa học (như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tácphẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiếntrúc, phần mềm máy tính) Quyền này được hiểu là quyền cho phép và quyền nhận thù lao.Quyền cho phép có nghĩa là quyền tự quyết định cho phép người khác khai thác, sử dụng tácphẩm của mình và quyền nhận thù lao có nghĩa là quyền yêu cầu người khác trả thù lao choviệc khai thác, sử dụng tác phẩm2
Theo quy định tại Điều 18 Luật SHTT, Quyền tác giả bao gồm Quyền nhân thân và Quyền tài sản Quyền nhân thân được quy định tại Điều 19 Luật SHTT và Điều 22 Nghị định 119/2010/NĐ-CP Quyền tài sản được quy định tại Điều 20 Luật SHTT và Điều 23 Nghị định 119/2010/NĐ-CP
1.2 Quyền liên quan:
Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) còn được gọi là quyền
kề cận, là một quyền liên quan mật thiết đến quyền tác giả Tác giả sáng tạo ra tác phẩm và tácgiả là người độc quyền công bố, sử dụng, khai thác tác phẩm cũng như trình diễn tác phẩmnhưng để tác phẩm đến gần hơn với công chúng, được công chúng biết đến nhiều hơn, yêuthích hơn thì không thể không kể đến những đóng góp rất lớn từ phía những chủ thể trung gian
có năng lực chuyên nghiệp khác trợ giúp Đó chính là những người biểu diễn, nhà sản xuất bản
ghi âm, ghi hình, các tổ chức phát sóng (Quy định tại Khoản 3, Điều 4 Luật SHTT)3
Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm của tác giả, trong khi quyền liên quan là quyền được traocho một vài nhóm người vì vai trò quan trọng của họ đối với việc truyền bá và phổ biến một sốloại hình tác phẩm đến với công chúng
Ví dụ: Đối với một bài hát, quyền tác giả bảo hộ phần nhạc của nhạc sĩ và phần ca từ của
người viết lời, và quyền liên quan sẽ được áp dụng đối với:
- Phần biểu diễn của nhạc công và ca sĩ trình bày bài hát đó;
- Bản ghi âm/ghi hình chứa bài hát đó của nhà sản xuất;
- Chương trình phát sóng của tổ chức sản xuất chương trình chứa bài hát đó
CHƯƠNG 2: NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH:
2.1 Một số khái niệm:
2.1.1 Bản ghi âm, ghi hình:
2 nam.htm?fbclid=IwAR2mlCYH1AwfzEwV6rKdoK95tND7AhQNEht_DiQnV24GTUwC-YIULqp3Jic
https://text.123doc.org/document/4847703-luan-van-luat-tu-phap-bao-ho-quyen-cua-nha-xuat-ban-ghi-am-ghi-hinh-theo-phap-luat-viet-3 luat-viet-nam.htm?fbclid=IwAR3ac3nB3wlAdiQfe-bnub1qsT_XOxrEEC8sXVFQwWsz38XeXhEHPkyHmzk
Trang 8https://123doc.org/document/4827079-phap-luat-quoc-te-ve-bao-ho-quyen-cua-nha-san-xuat-ban-ghi-am-va-su-tuong-thich-cua-phap-Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam “Ghi âm là ghi lại tín hiệu âm thanh trên các vật liệuchuyên dùng để phát lại Kỹ thuật ghi âm bắt đầu từ phương pháp cơ khí (đĩa có rãnh) đến cácvật liệu từ tính và hiện nay đã số hoá cả trên bộ nhớ máy vi tính”4.
Theo quy định của Điều 2.2 Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm, thì bản ghi
âm chỉ là bản định hình thuần tuý về âm thanh, không bao gồm âm thanh ghi trong bản địnhhình nghe nhìn Nói rõ hơn, bản ghi âm chỉ nhằm vào định âm một bản nhạc, có thể cùng vớilời đã được tác giả phổ nhạc, mà không bao gồm việc ghi âm những tác phẩm văn học và càngkhông bao gồm việc ghi hình (video) những tác phẩm điện ảnh hay truyền hình
Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Nghị định 22/2018/NĐ-CP (Có hiệu lực từ 10/04/2018)
thì nội dung này được quy định như sau:
“Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các
âm thanh, hình ảnh khác hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phảidưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm được tạo ra theo phươngpháp tương tự.”
2.1.2 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình:
2.1.2.1 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quốc tịch Việt Nam:
Theo Khoản 3 Điều 16 Luật SHTT của Việt Nam: “Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm
thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (sau đây gọi là nhà sảnxuất bản ghi âm, ghi hình)” Có nghĩa là sản phẩm mà nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tạo raphải là bản gốc của tác phẩm, là sự hiện thân nguyên bản âm thanh, hình ảnh của một buổi biểudiễn trực tiếp hoặc bất kỳ một âm thanh, hình ảnh nào khác mà không được lấy lại từ một bảnghi âm, ghi hình có trước Như vậy, các âm thanh, hình ảnh khác trong quy định này có thểđược hiểu là âm thanh, hình ảnh không liên quan đến quyền tác giả, ví dụ một người ghi tiếng
chim kêu, vượn hót, hình hươu, nai nhảy múa trong rừng, tiếng nước chảy… thì theo Khoản 3 Điều 16 được bảo hộ theo quyền liên quan
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là tổ chức thực hiện các hoạt động sáng tạo của nhữngngười liên quan, đồng thời áp dụng những công nghệ phù hợp để chuyển tải tác phẩm thuộcquyền tác giả đến công chúng, thông qua việc sản xuất ra bản ghi âm, ghi hình
Như vậy, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là một lĩnh vực của quyền liên quan,
đó là quyền của cá nhân và tổ chức đối với bản ghi âm, định hình lần đầu tiên âm thanh, hìnhảnh của cuộc biểu diễn, hoặc các âm thanh, hình ảnh khác dưới dạng vật chất nhất định
2.1.2.2 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quốc tịch nước ngoài:
Các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ được Luật SHTT quy định (Khoản 2 Điều 17)
bao gồm có “bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điềuước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”
Như vậy, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch nước ngoài được bảo hộ theo điềuước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, có bản ghi âm, ghi hình vẫnđược Luật SHTT Việt Nam bảo hộ
Đây là quy định nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà sản xuất có quốc tịch nước ngoài, thể hiện
sự tuân thủ của pháp luật Việt Nam với pháp luật, các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
Tuy nhiên, cũng theo Khoản 2 Điều luật vừa trích dẫn, bản ghi âm, ghi hình sản xuất bởi cá
nhân quốc tịch nước ngoài phải đáp ứng điều kiện “không gây phương hại đến quyền tác giả”thì mới được bảo hộ Điều này đồng nghĩa với việc nếu bản ghi âm, ghi hình gây phương hạihoặc có cơ sở chứng minh có nguy cơ gây phương hại đến quyền tác giả thì sẽ không được bảo
4 Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2002.
Trang 9hộ Các tác giả nói chung, tác giả quốc tịch nước ngoài nói riêng cần tìm hiểu và tuân thủnhững quy định của pháp luật khi sản xuất bản ghi âm, ghi hình tại Việt Nam.
2.2 Quyền và nghĩa vụ của các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình:
2.2.1 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình:
2.2.1.1 Tại Việt Nam:
Các quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được quy định tại Điều 30 Luật SHTT.
Theo đó, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có các quyền sau:
Thứ nhất, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người
khác thực hiện sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình; nhập khẩu,phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hìnhthức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thểtiếp nhận được Có nghĩa là chỉ họ mới được quyền nhân bản và phân phối các bản gốc và bảnsao của bản ghi âm, ghi hình, còn mọi hành vi nhân bản và phân phối nếu không được sự đồng
ý của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đều bị coi là xâm phạm quyền Nhà sản xuất có thể tựmình thực hiện độc quyền hoặc cho người khác sử dụng độc quyền thông qua các hợp đồngchuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng Như vậy, việc sao toàn bộ hoặc phần chủ yếu của mộtbản ghi âm, ghi hình bất kể trực tiếp hay gián tiếp từ bản ghi âm, ghi hình gốc mà không đượcnhà sản xuất đồng ý đều bị coi là xâm phạm quyền
Thứ hai, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm,
ghi hình của mình được phân phối đến công chúng Có nghĩa là họ có quyền được hưởng thùlao bản ghi âm, ghi hình hoặc bản sao của họ được sử dụng vào mục đích thương mại Nhà sảnxuất bản ghi âm, ghi hình đã đầu tư không ít công sức, kỹ thuật, tài chính để tạo ra các bản ghi
âm, ghi hình nên đương nhiên họ phải được hưởng thành quả lao động, sáng tạo này Họ cóquyền cho thuê, cho mượn hoặc bán bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm, ghi hình để sử dụngnhằm đạt được mục đích thương mại Thù lao nhận được sẽ là cơ sở kích thích họ tiếp tục đầu
tư sáng tạo để tạo ra các tác phẩm có giá trị và chất lượng cao hơn Pháp luật các nước quy định
cả người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đều được hưởng thù lao từ việc cho sửdụng vào mục đích kinh doanh5
Thời hạn bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ 50 năm tính từnăm tiếp theo công bố hoặc 50 năm kể từ ngày tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định
hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố (Theo Khoản 2 Điều 34 Luật SHTT).
2.2.1.2 Tại thế giới : 6
Ở một số nước, nhà sản xuất có thể cấm việc nhập khẩu hoặc phân phối bản ghi âm, ghi hìnhcủa họ Một số nước, họ lại có quyền nhận một nửa số thù lao khi công chiếu hoặc truyền cácbản ghi âm, ghi hình của họ ra công chúng
Ở nhiều nước, các nhà sản xuất không thể cấm phát sóng các bản ghi âm, ghi hình mà họ chỉ
có quyền nhận thù lao thông qua các tổ chức phát sóng
Ở những nước mà quyền đó được công nhận thì các tổ chức phát sóng phải trả tiền thù laocho không chỉ tác giả để được quyền phát sóng một tác phẩm, trả cho công ty sản xuất bản ghi
âm, ghi hình để mua chúng và còn trả cho công ty ghi âm, ghi hình để được quyền phát sóngbản ghi âm, ghi hình
5 https://123doc.org//document/3505564-bao-ho-quyen-cua-nha-san-xuat-ban-ghi-am-ghi-hinh.htm
6 https://www.wipo.int/export/sites/www/sme/en/documents/guides/translation/creative_expression_vi.pdf
Trang 10Khi một nước tham gia Công ước Rome, gia nhập WTO hay Công ước WIPO về biểu diễn
và ghi âm, nước này có thể bảo lưu một số nghĩa vụ, do vậy, các tổ chức phát sóng ở nước đókhông có nghĩa vụ phải trả bất cứ khoản tiền nào cho nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
2.2.2 Nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình:
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có những nghĩa vụ trong việc thực hiện hoạt động nghềnghiệp của mình Với tư cách người sử dụng đặc biệt tác phẩm hoặc chương trình biểu diễn củangười khác, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định với tácgiả tác phẩm, người biểu diễn hoặc chủ sở hữu hợp pháp quyền tác giả hoặc quyền liên quanđối với cuộc biểu diễn, bao gồm:
Đối với việc sử dụng tác phẩm, nếu là tác phẩm chưa được công bố, nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó thôngqua việc giao kết hợp đồng sử dụng tác phẩm Khi sử dụng tác phẩm chưa được công bố, nhàsản xuất phải nêu tên thật hoặc bút danh của tác giả, trả thù lao hợp lý cho tác giả hoặc chủ sởhữu quyền tác giả, phải đảm bảo sự toàn vẹn nội dung của tác phẩm Khi sử dụng tác phẩm đãđược công bố, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình không phải xin phép tác giả, nhưng phải thựchiện đầy đủ các nghĩa vụ còn lại như trên7
Đối với việc sử dụng chương trình biểu diễn của người biểu diễn để sản xuất bản ghi âm, ghihình, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình phải giao kết hợp đồng với người biểu diễn hoặc chủ sởhữu cuộc biểu diễn và phải trả thù lao cho họ, cách tính thù lao do các bên thỏa thuận Việcgiao kết hợp đồng với người biểu diễn là một hình thức xin phép chương trình diễn để ghi âm,ghi hình và làm bản sao để phổ biến
Nhà sản xuất có nghĩa vụ phải ghi tên thật (hoặc bút danh) của tác giả và tên người biểu diễntrên cả bản gốc và bản sao từ bản gốc Sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ này nếu nhà sản xuấtkhông ghi tên hoặc ghi sai tên tác giả, người biểu diễn Trong trường hợp này, tác giả, ngườibiểu diễn có quyền yêu cầu nhà sản xuất phải cải chính công khai và có thể phải bồi thườngthiệt hại
Bên cạnh đó, nhà sản xuất còn có nghĩa vụ bảo đảm sự toàn vẹn tác phẩm gốc và toàn vẹnhình tượng biểu diễn Đối với tác phẩm gốc, nhà sản xuất không được sửa đổi, cắt xén tácphẩm nếu không được tác giả đồng ý Đối với hình tượng biểu diễn, nhà sản xuất không đượctiến hành các hành vi thay đổi, xuyên tạc làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của ngườibiểu diễn Trong trường hợp nhà xuất bản vi phạm nghĩa vụ này thì tác giả, người biểu diễn cóquyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại8
2.3 Điều kiện bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình:
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 và Khoản 2 Điều 17 Luật SHTT thì quyền của nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình sẽ được bảo hộ nếu “không gây phương hại đến quyền tác giả” vàbản ghi âm, ghi hình phải đáp ứng được một trong các điều kiện sau:
- Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là công dân có quốc tịch ViệtNam hoặc bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà ViệtNam là thành viên
- Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âmthanh, hình ảnh khác
Quyền của nhà sản xuất ghi âm, ghi hình nếu không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thìcác quyền này được xác định trên cơ sở bản gốc bản ghi âm, ghi hình Trong trường hợp bản
7 https://phaply24h.net/bai-viet/quyen-cua-nha-san-xuat-ban-ghi-am-ghi-hinh
8 https://123doc.org//document/3505564-bao-ho-quyen-cua-nha-san-xuat-ban-ghi-am-ghi-hinh.htm
Trang 11gốc bản ghi âm, ghi hình không còn tồn tại, quyền của nhà sản xuất được xem là có thực trên
cơ sở các thông tin về nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và về đối tượng quyền liên quan tương
ứng, được thể hiện thông thường trên các bản sao được công bố hợp pháp (Theo Khoản 3 Điều 6 Nghị định 119/2010/NĐ-CP).
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VIỆC VI PHẠM QUYỀN LIÊN QUAN - QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH:
3.1 Thực trạng trên Thế Giới về việc vi phạm:
Trong lịch sử pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, vấn đềQTG được thừa nhận muộn Vào thời cổ, các quy định luật pháp chỉ dành cho những vật mangtác phẩm trí tuệ, đặc biệt là về sở hữu Hình thức khởi thủy của sự bảo hộ bản quyền xuất hiện
ở Anh khoảng đầu thế kỷ XVI với việc cấp giấy phép cho các chủ xưởng in với mục tiêu bảo
hộ độc quyền in sách cho các chủ xưởng in, làm tăng thêm một khoản tiền đáng kể cho ngânquỹ của nhà cầm quyền, tạo ra sự dễ dàng, thuận tiện cho chính quyền trong việc kiểm soát các
ấn phẩm có tính chất dấy loạn hoặc phản tôn giáo Nước Anh là quốc gia đi tiên phong trongviệc đưa ra quy định pháp luật về QTG với Đạo luật “Statue of Anne” có hiệu lực từ tháng10/1710 Đây là luật Bản quyền đầu tiên trên thế giới, đưa ra hai quyền cơ bản: Tác giả có độcquyền những tác phẩm của mình và độc quyền đó được bảo vệ trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Sau Anh, các quốc gia trên thế giới lần lượt ban hành các đạo luật về QTG: Đan Mạchnăm 1741, Pháp năm 1791, Mỹ năm 1795, Đức năm 1845… Song song với các tác phẩm đượclưu hành ở nước ngoài càng nhiều, các hiệp ước quốc tế được ký kết để bảo hộ QTG: Công ướcBerne, Hiệp định TRIPs…9
Tuy nhiên, không chi tiết như những quy định về quyền tác giả, Công ước Rome, Công ướcGeneve, Hiệp ước WPPT, Hiệp ước TRIPs lại không có quy định cụ thể cũng như nhắc đến chủ
sở hữu tác phẩm ghi âm mà chỉ nói rất sơ lược và mang tính chất đơn giản Thêm nữa, Côngước và Hiệp ước trên chỉ bảo hộ quyền cho “nhà sản xuất bản ghi âm” mà không bảo hộ “nhàsản xuất bản ghi hình” Chính vì thế, vấn nạn bản quyền vẫn thường xuyên xảy ra ở hầu khắpcác quốc gia, từ những vi phạm nhỏ cho đến những hành vi “ăn cắp” bản quyền một cách tinh
vi Họ sử dụng nhiều bản ghi âm, ghi hình một cách thoải mái, tùy tiện mà không hay biết mìnhđang vi phạm, hoặc có biết cũng tìm mọi cách né tránh chế tài pháp luật
Cara Cusumano, giám đốc của Liên hoan phim Tribeca, tuyên bố vào tháng 4 năm 2014: “Viphạm bản quyền ít hơn đối với những người không muốn trả tiền và vi phạm nhiều hơn đối vớinhững người muốn có sản phẩm ngay lập tức - mọi người nói: ‘Tôi muốn xem Người nhệnngay bây giờ’ và tải xuống”10 Liên minh sở hữu trí tuệ quốc tế (IIPA) cùng các hãng phim, thuthanh, phần mềm và trò chơi điện tử của Mỹ vừa thúc giục chính quyền Bush bảo vệ sản phẩmcủa họ khỏi nạn ăn cắp bản quyền ở nước ngoài Họ cho rằng, nền kinh tế Mỹ bị thiệt hại 20 -
22 tỷ USD trong năm 2002 vì tệ nạn này Tổ chức này cũng yêu cầu Mỹ tiếp tục để mắt tớiTrung Quốc, nơi các công ty Mỹ mất gần 1,85 tỷ USD mỗi năm vì nạn sao chép phim, nhạc một cách bất hợp pháp11
- Vụ kiện Hiệp hội thu thanh Mỹ (RIAA) - Napster:
Napster là Vụ án đầu tiên liên quan đến phổ biến tác phẩm âm nhạc trên mạng sử dụng phầnmềm P2P vào năm 1999 Công ty Napster cung cấp một phần mềm cho phép người sử dụng
9 http://nlv.gov.vn/nghiep-vu-thu-vien/thuc-hien-quyen-so-huu-tri-tue-va-quyen-tac-gia-trong-hoat-dong-thong-tin-thu-vien.html
10 https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi_ph%E1%BA%A1m_b%E1%BA%A3n_quy%E1%BB%81n
11 https://vnexpress.net/so-hoa/my-doi-mat-nan-vi-pham-ban-quyen-o-nuoc-ngoai-1506767.html
Trang 12mạng có thể tải các bản nhạc dưới dạng MP3 vào máy tính của họ Thông qua một máy chủtrung tâm, những người sử dụng mạng khác có thể truy cập và tải các bản nhạc này trực tiếp từmáy tính của người khác mà không cần phải qua hệ thống trung tâm Vài tháng sau khi hãngnày mở rộng dịch vụ, Hiệp hội thu thanh Mỹ (RIAA), trong đó có Warner Records do AOLTime Warner sở hữu, đã đệ đơn lên Toà Liên bang kiện Napster Trong đơn kiện, RIAA lên ánNapster đã làm họ thiệt hại hàng tỷ đôla Ngày 12/02/2001, Toà án phúc thẩm ở Hoa Kỳ tại SanFrancisco đã đưa ra phán quyết rằng Napster và những người sử dụng Internet là những ngườiđồng vi phạm đối với các tác phẩm âm nhạc và yêu cầu Napster phải chấm dứt hành vi trao đổi
âm nhạc ghi dưới dạng MP3 Toà cho rằng, Napster vi phạm bản quyền bởi đã phát lại và chophép khách hàng trao đổi âm nhạc của các hãng khác Tòa án cũng lập luận rằng theo “LuậtThu âm tại gia”, máy tính cá nhân không phải là thiết bị thu âm Theo 4 nguyên tắc của mục
107 Luật bản quyền Hoa Kỳ: Mục đích, bản chất, số lượng và mức độ ảnh hưởng, Napsterkhông đáp ứng được bất kỳ nguyên tắc nào
Có thể thấy rõ, Napster copy liên tục các file nhạc nhằm “tiết kiệm chi phí mua nhạc có bảnquyền” mà chưa được sự cho phép của người sở hữu Website mang lại lợi thế kinh tế đáng kểcho người sử dụng Ngoài ra, hãng có thể hưởng lợi từ việc cho thuê quảng cáo Tòa án Tối caoHoa Kỳ từng công nhận cá nhân được phép ghi lại các tiết mục truyền hình để sau đó xem tạinhà Nhưng ở đây, tòa án lập luận rằng Napster đã “sao chép số lượng lớn toàn bộ tác phẩm”,
do đó đi ngược lại với nguyên tắc Sau hơn một năm đối đầu với kiện tụng, hãng dịch vụ âmnhạc trực tuyến Napster phải nộp đơn xin phá sản Website ngừng hoạt động vào năm 2001.Napster là người tiên phong cho một cuộc cách mạng làm thay đổi ngành nhạc số Câu chuyệncủa Napster được xếp vào một trong mười sự kiện Internet làm thay đổi thế giới của thập kỷqua
- Thực trạng vi phạm bản quyền trên Internet tại Nhật Bản 12 :
Ngành công nghiệp sản xuất video ở Nhật Bản khá thịnh hành, tuy nhiên thì doanh thu bánhàng của các nhà sản xuất video đến từ JVA đang bị sụt giảm Ngược lại thì doanh thu bán hàngcủa cộng đồng những người sử dụng và chia sẻ các đường link có chứa các nội dung vi phạmbản quyền đang có xu hướng tăng Theo ông Shun Takagi, Trưởng phòng Pháp chế và Kinhdoanh JVA cho biết, hiện tại ở Nhật có tới hơn 90 nghìn người đang sử dụng và tích cực chia sẻnhững đường link có chứa nội dung vi phạm luật bản quyền trên môi trường Internet Số lượngngười dùng không ngừng gia tăng và ở mọi độ tuổi, mọi thành phần Đặc biệt, có không ítngười tham gia không phải vì mục đích kinh tế (kiếm tiền quảng cáo) mà họ tham gia vì yếu tốtinh thần, thỏa mãn cái tôi cá nhân cũng như sự kỳ vọng của các thành viên khác Nhiều ngườitiêu dùng Nhật Bản sẵn sàng quay (thu) lại một bộ phim được phát sóng trên truyền hình rồichia sẻ lại trên một đường link cho cộng đồng mạng cùng xem, mặc dù họ biết điều này viphạm pháp luật
Trong 10 năm qua tại Nhật Bản có sự thay đổi về tình trạng các vụ vi phạm quyền tác giả,quyền sở hữu trí tuệ Từ năm 2009 đến năm 2015 đều ghi nhận sự gia tăng về số vụ bắt giữ và
số vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Từ 2015 đến 2018, có sự thuyên giảm về số vụ bắt giữcũng như số vụ vi phạm Năm 2018, ghi nhận 514 vụ bắt giữ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (626
số người bị bắt giữ), trong đó có tới 428 vụ liên quan đến internet Trước đó năm 2017 là 515
vụ, 2016 là 594 vụ… Năm 2018 có tất cả 19 vụ án hình sự xử lý về việc vi phạm bản quyềntrên internet, trong đó, có 13 vụ xử lý về việc tải lên bất hợp pháp các nội dung vi phạm quyềntác giả, quyền liên quan
12 http://toquoc.vn/thuc-trang-vi-pham-ban-quyen-tren-internet-tai-nhat-ban-20190812113722218.htm
Trang 13- Vụ việc phát sóng trực tiếp tại concert của nữ ca sĩ IU thuộc Công ty quản lý KakaoM:
Mới đây, tại một buổi concert (buổi hòa nhạc) của nữ ca sĩ IU (Hàn Quốc) vào ngày
02/11/2019 vừa qua, nữ ca sĩ sẽ biểu diễn ca khúc Lullaby, một bài hát nằm trong album còn
chưa được tiết lộ Chính vì vậy, trước khi diễn ra buổi công diễn, công ty quản lý KakaoM đãyêu cầu người hâm mộ không được livestream hay phát tán link audio lên mạng xã hội Tuynhiên, một người hâm mộ đã bỏ qua lời thông báo đó và đã livestream trực tiếp concert của IUdưới dạng audio trong vòng gần 4 tiếng đồng hồ và đã thu hút tới gần 140.000 người nghe Saukhi phát hiện hành vi này của người hâm mộ, công ty chủ quản đã lên tiếng xác nhận vụ việc và
đã liên hệ cảnh sát vì hành vi vi phạm liên quan đến bản quyền này13 Hành động này củaKakaoM đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ công chúng Một bộ phận cư dân mạng ủng
hộ công ty xử lý cứng rắn với những fan chưa nghiêm túc Bên cạnh đó, nhiều người cho rằngcông ty đang làm quá mọi chuyện lên so với hậu quả thực tế
Qua các vụ việc trên, ta có thể thấy được rằng các vụ việc đều liên quan đến việc vi phạmbản quyền đối với ghi âm, ghi hình Đặc biệt các chủ thể vi phạm đều biết được hành vi củamình là trái pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn sở thích, ham muốn hay nhằm mục đíchkinh doanh thu lợi nhuận mà xem nhẹ những quy định của pháp luật Từ đó, sẽ ảnh hưởng đến
uy tín, danh dự của nhà xuất bản ghi âm, ghi hình đó, ảnh hưởng đến hình ảnh của doanhnghiệp Ngoài ra, qua việc sao chép, quay lén sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng của bản ghi âm,ghi hình; ảnh hưởng đến tính chất vốn có của nó
3.2 Thực trạng tại Việt Nam về việc vi phạm:
3.2.1 Thực trạng:
Thuật ngữ “quyền của nhà tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh” được ghi nhậnchính thức ở nước ta từ năm 1995 trong Bộ luật dân sự Vì đây là một lĩnh vực khá mới nên Bộluật dân sự 1995 chỉ dành 2 Điều là Điều 776 và 777 để điều chỉnh quyền này Văn bản tiếptheo là Quyết định số 55/1999/QĐ-BVHTT (5/8/1999) ban hành quy chế sản xuất, xuất khẩu,nhập khẩu, lưu hành, kinh doanh băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình ca nhạc, sânkhấu Ngoài ra, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm còn được quy định trong các văn bản phápluật chuyên ngành khác như Luật hải quan, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính… Bước ngoặtquan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực này được đánh dấu bằng việc chính thức là thành viêncủa Công ước Berne (Công ước về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật) năm 2004 Tuykhông đề cập nhiều tới quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nhưng Công ước chính là nền tảngcho việc bảo hộ bản quyền ở các nước thành viên
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang dành sự quan tâm đặc biệt tới việc bảo hộ quyềnnày Cụ thể, Việt Nam đã tham gia các Công ước như: Công ước Geneva về bảo hộ sản xuất ghi
âm chống việc sao chép không được phép ghi âm của họ; Công ước Rome về bảo hộ ngườibiểu diễn, nhà sản xuất ghi âm ghi hình, tổ chức phát sóng; Hiệp ước WIPO về biểu diễn vàbản ghi âm (WPPT), Hiệp định Trips về khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữutrí tuệ
Kỷ nguyên số mang đến sự tiện lợi nhưng cũng tạo môi trường cho hành vi xâm phạm quyềntác giả, quyền liên quan diễn ra tràn lan, rất khó ngăn chặn và kiểm soát Xâm phạm quyền tácgiả, quyền liên quan đang diễn ra rất phổ biến và công khai Trong một vài thí dụ điển hình gầnđây, một công ty xuất bản cho biết toàn bộ sách điện tử của họ bị một bên khác sao chép lậu.Một thí dụ nữa là ngay sau khi các môn thể thao ASIAD 2018 được VTC phát sóng thì hàng
13 http://baomoi.me/am-nhac/canh-sat-bat-giu-nguoi-phat-tan-audio-trong-concert-cua-iu_tin1987634.html
Trang 14loạt các website đã phát lại mà chưa được VTC cho phép Thêm vào đó, luật pháp cũng chưabắt kịp với các công nghệ sao chép lậu tinh vi trên môi trường Internet Cụ thể, chưa quy định
rõ hành vi một trang web “nhúng” (embed) đường link dẫn đến một bộ phim bị sao chép lậunhưng được lưu tại một trang web khác có phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với bộphim đó hay không Lợi dụng điểm này, rất nhiều các trang web xem phim lậu ở Việt Namthường chỉ “nhúng” đường link vào trang web của mình để người dùng xem, trong khi bộ phimthực chất được lưu tại máy chủ của một bên thứ ba ở nước ngoài
- Vụ việc giữa Ca sĩ Mỹ Tâm và Hiệp hội Công nghiệp ghi âm VN (RIAV):
Tinh vi hơn trong việc vi phạm bản quyền ghi âm, ghi hình, một ví dụ cụ thể được mọingười biết đến nhiều nhất có thể kể đến vụ việc của ca sĩ Mỹ Tâm năm 2009 Đầu năm 2009,Công ty của nữ ca sĩ Mỹ Tâm đã gửi thu đến các nhà mạng như Mobifone, Vinaphone, Viettel
đề nghị họ không sử dụng các bài hát của Mỹ Tâm làm nhạc chuông chờ và yêu cầu trả tiền bảnquyền liên quan Các đơn vị nhận được yêu cầu trên khá lúng túng trước việc này vì những bàihát đó được cung cấp bởi RIAV Cuối cùng, công ty của ca sĩ Mỹ Tâm đã gửi thẳng công vănchính thức đến RIAV vào ngày 20/8/2009 yêu cầu: “Thanh toán thù lao quyền liên quan theo
yêu cầu của pháp luật” Trong công văn có ghi: “Theo quy định tại Điều 33 Luật SHTT, thì tổ
chức cá nhân sử dụng quyền liên quan (nhằm mục đích kinh doanh, thương mại hoặc thu tiềndưới bất cứ hình thức nào) không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao cho tác giả,chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình, tổ chức phátsóng” 14
Pháp luật thừa nhận các hãng băng đĩa là chủ sở hữu các bản ghi âm ghi hình do chính mìnhsản xuất Do đó các hãng băng đĩa được tự do kinh doanh và thu lợi nhuận từ sản phẩm dochính mình làm ra Từ đó các hãng băng đĩa yêu cầu tổ chức cá nhân sử dụng quyền liên quanphải thanh toán thù lao cho mình là phù hợp với pháp luật Tuy nhiên, đó chỉ là quyền liên quancủa các nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình Còn đối với người biểu diễn - chủ thể có quyền đốivới bản ghi âm, ghi hình của chính họ, bản ghi âm ghi hình đó vẫn thuộc về quyền tài sản riêngcủa ca sĩ thể hiện
RIAV cho rằng: “Tất cả các bản ghi âm ghi hình do nhà sản xuất đầu tư toàn bộ, Mỹ Tâm chỉ
là ca sĩ do họ mời về để thực hiện bản ghi âm, ghi hình đó thôi Và chính cô cũng đã được nhậnthù lao công việc Do đó, bản ghi âm, ghi hình này là tài sản thuộc sở hữu của các nhà sản xuất.Các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có đủ quyền để ký ủy thác quyền cho RIAV với các đốitác khác để kinh doanh thu hồi vốn và lợi nhuận”15
Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác ghi âm, ca sĩ Mỹ Tâm chưa bao giờ ký hợp đồng chuyểngiao quyền liên quan cho bất cứ ai khác ngoài hãng đĩa mà cô đã hợp tác sản xuất Vì vậy, việccác hãng đĩa thanh toán thù lao ghi âm để sản xuất nó không đồng nghĩa với việc ca sĩ Mỹ Tâmmất đi quyền liên quan của mình đối với bản ghi âm, ghi hình đó Các hội viên RIAV chỉ cóquyền liên quan đối với sản xuất bản ghi âm, ghi hình và không có quyền tài sản đối với cuộc
biểu diễn của Mỹ Tâm Theo quy định tại Điều 33 Luật SHTT thì các nhà mạng như
Mobifone, Vinaphone, Viettel khi sử dụng các bài hát có giọng hát của Mỹ Tâm phải thông qua
ca sĩ và trả tiền bản quyền liên quan cho cô ấy
Có thể thấy, việc vi phạm bản quyền ghi âm, ghi hình ở Việt Nam, nó không chỉ đơn thuần làviệc sao chép, trích dẫn các bản ghi âm, ghi hình để sử dụng một cách trái phép, mà còn là lợidụng để buôn bán, kinh doanh, thu hồi vốn và tạo lợi nhuận cho các tổ chức
14 http://baohothuonghieu.com/banquyen/tin-chi-tiet/my-tam-tranh-cai-nay-lua-voi-hiep-hoi-ghi-am/374.html
15 http://en.canthostnews.vn/Default.aspx?tabid=82&NDID=3541
Trang 15- Vụ kiện giữa Hiệp hội Công nghiệp ghi âm VN (RIAV) với Nokia và FPT 16 :
Sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ rõ ràng là một con dao hai lưỡi đối với nhà sản xuấtbản ghi âm, ghi hình và đối với cả người nắm giữ bản quyền Bên cạnh nhiều ích lợi cũng tiềmtàng rất nhiều rủi ro cho những ai sử dụng và khai thác quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghihình
Ngày 27/10/2008, RIAV công bố đã thu thập đủ chứng cứ và sẽ khởi kiện Nokia cùng dịch
vụ IPTV của công ty FPT Telecom, vì đã sử dụng các bản ghi âm nhằm mục đích thương mại
mà chưa được sự chấp phép của các hãng băng đĩa là hội viên của RIAV Theo RIAV, hầu hếtsản phẩm phát trên IPTV không trả tiền bản quyền cho các nhà sản xuất Trong khi đó để quảng
bá cho sản phẩm Nokia 5320, Nokia đã tặng kèm cho khách mua hàng một thẻ tải nhạc Thẻnày cho phép khách hàng tải miễn phí 1000 ca khúc trong số 10.446 ca khúc từ một trang webnhacso.net, mà trang web đó thuộc công ty cổ phần trực tuyến FPT - FPT Online Theo RIAV,trong số 10.446 ca khúc này, có rất nhiều ca khúc thuộc quyền sử dụng của các thành viên củahiệp hội và các thành viên này chưa hề bán hay cho phép nhacso.net quyền khai thác, sử dụng Trong khi đó, để cứu “khách hàng lớn” là Nokia, FPT Online đứng ra nhận mọi trách nhiệmpháp lý cũng như các khiếu nại để không liên lụy tới Nokia Ông Nguyễn Ngọc Long, Giámđốc Trung tâm âm nhạc trực tuyến Công ty FPT Online khẳng định: “Tất cả nhạc trênnhacso.net thuộc quyền quản lý của nhacso, không có cơ sở khẳng định trang nhacso là củaNokia” Phía RIAV cho rằng, Nokia bán điện thoại nghe nhạc, nếu không có nhạc thì điện thoạichẳng còn giá trị gì Còn FPT Online không hề phát hành thẻ để bán nhạc cho bất kỳ công dânnào cũng như đối tượng nào khác ngoài Nokia, do đó, không thể nói đây là một hình thức bán
sỉ hay cung cấp thẻ một cách thông thường17
Khi thực hiện chương trình Nokia Music, Nokia đã không tìm đến chủ sở hữu của các tácphẩm âm nhạc ghi âm này là các hãng sản xuất băng đĩa nhạc để thương thảo về bản quyền màtìm đến một đơn vị thứ 3 là FPT Trong khi đơn vị thứ 3 này không hề có tư cách pháp nhân làđại diện cho quyền tác giả của các tác phẩm âm nhạc ghi âm này Nokia là một thương hiệutoàn cầu nhưng đã không quan tâm và tuân thủ những gì mà luật pháp quốc tế cũng như luậtpháp của Nhà nước sở tại đã quy định Có thể nói rằng vì mục đích lợi nhuận, Nokia đã cố tìnhphớt lờ khía cạnh luật pháp Hợp đồng giữa Nokia và FPT online nếu có cũng sẽ là hợp đồng viphạm pháp luật, nên những ràng buộc của Nokia với FPT online đều không có giá trị về mặtpháp lý Một hợp đồng được lập ra để tiêu thụ hàng gian thì hợp đồng ấy đương nhiên vô hiệu.Như vậy, Nokia là người trực tiếp xâm phạm đến lợi ích kinh tế cũng như sự khai thác bìnhthường quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình nên Nokia phải chịu trách nhiệm hoàntoàn về hành vi sử dụng các bản ghi âm, ghi hình bất hợp pháp của mình theo quy định củapháp luậtvề bản quyền
Theo thống kê chưa đầy đủ của Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc VN, hiện cókhoảng 200.000 bài hát đang lưu hành trên các trang web nhạc số chưa xin phép bản quyền tácgiả và các quyền liên quan18 Cách đây không lâu, RIAV cũng từng “có các tranh chấp” với cácweb tìm kiếm nhạc số như Zing, Bamboo, Socbay rồi đi đến dàn xếp ổn thỏa Đến nay, nếuNokia bị kiện sẽ dẫn đến vụ tranh tụng đầu tiên tại VN về bản quyền âm nhạc số liên quan tới
16 https://doanhnhansaigon.vn/cong-nghe-moi/bai-hoc-nhap-mon-1001656.html?
fbclid=IwAR2pTu2exihpX3gDBFuyhKk0dpxrE02xFar1oxud-DU9ZGf_xKKB0wCei-A
17 https://doanhnhansaigon.vn/cong-nghe-moi/bai-hoc-nhap-mon-1001656.html
18 https://baotintuc.vn/tin-tuc/nhuc-nhoi-nan-vi-pham-ban-quyen-tren-internet-20120726091036911.htm