Mặt khác, trước thời kỳ hai nước Việt-Trung chưa thực hiện chính sách “cải cách mở cửa” thì người Việt Nam ít có cơ hội biết đến văn hóa Phật giáo Tây Tạng và chỉ sau khi chính phủ hai
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ của Khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã giúp đỡ, trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Đỗ Quang Hưng - thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - nơi tôi đang công tác, cùng nhiều đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Để có được thành quả này, tôi cũng xin dành tặng lời tri ân sâu sắc nhất tới những người thân yêu trong gia đình đã luôn khuyến khích và động viên tôi
Luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, do vậy tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp
và những độc giả quan tâm
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lã Thị Thanh Thủy
Trang 4Chương 3: PHẬT GIÁO TÂY TẠNG - VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 67
3.1 Những “sắc thái” của vấn đề Phật giáo Tây Tạng hiện nay với Trung
3.2 Giải quyết vấn đề Phật giáo Tây Tạng: một trong những điểm then chốt
Trang 5ma tham gia dịch vụ tôn giáo, cách thức người dân tổ chức lễ hội hay cách thức quản
lý tài chính công (tiền bán vé vào chùa tham quan, tiền công đức) ở các di tích là những bài học kinh nghiệm mà nhà nước Việt Nam cũng cần tham khảo
Những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, lễ hội ở khu tự trị Tây Tạng; cuộc sống của người dân ngày càng phồn vinh và người Tạng được hưởng nhiều chế độ ưu đãi riêng, nhưng tình hình an ninh, chính trị bất ổn vẫn thường xuyên xảy ra ở khu tự trị dân tộc Tây Tạng, với nhiều cuộc bạo động, biểu tình của người dân địa phương đã xảy ra nhằm chống đối nhà nước, đòi ly khai Trung Hoa,…; tất cả đã nói lên những bất cập trong lĩnh vực quản lý dân tộc, tôn giáo của nhà nước Trung Quốc hiện nay
Mặt khác, trước thời kỳ hai nước Việt-Trung chưa thực hiện chính sách “cải
cách mở cửa” thì người Việt Nam ít có cơ hội biết đến văn hóa Phật giáo Tây Tạng
và chỉ sau khi chính phủ hai nước Việt-Trung chính thức ký kết Hiệp định “một hành lang hai đông tây” vào ngày 20 tháng 5 năm 2004 nhằm phát triển kinh tế, du lịch, thương mại, giao lưu văn hóa thông qua các cửa khẩu quốc tế ở phía đông (Móng Cái- Đông Hưng; Hữu Nghị- Tân Thanh) và phía tây (Lào Cai- Hà Khẩu) của hai nước thì người dân, nhà nghiên cứu, quý sư thầy,… mới có điều kiện đến Trung Quốc
du lịch, trải nghiệm, khám phá tâm linh Tuy nhiên, số lượng người trong diện may
Trang 6mắn để đến Tây Tạng không có nhiều, bởi kinh phí đi lại rất tốn kém, sức khỏe không cho phép và đặc biệt thủ tục làm visa (vòng 2) tại Trung Quốc để được nhập cảnh vào Tây Tạng là vô cùng khó khăn và phức tạp; cả đối với người Trung Quốc chứ không chỉ quy định riêng với người nước ngoài Bởi vậy, đa phần người Việt Nam biết đến văn hóa Phật giáo Tây Tạng chủ yếu là qua phim tài liệu dưới dạng ký sự hay các bài viết được dịch từ tiếng Anh, Trung sang tiếng Việt mang tính giới thiệu về vùng đất, con người, khí hậu, phong cảnh và kiến trúc chùa tháp,… đăng tải trên các trang mạng điện tử, facebook,… Hiện nay, ở Việt Nam chưa có luận văn nào nghiên cứu mang tính chuyên sâu và có hệ thống về Phật giáo Tây Tạng
Xuất phát từ nhu cầu công tác chuyên môn của tác giả tại cơ quan để phục vụ cho phần trưng bày văn hóa các dân tộc Đông Nam Á tại tòa nhà Bảo tàng Đông Nam
Á nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Năm 2006, chúng tôi
đã hợp tác với Bảo tàng các dân tộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) triển khai nghiên cứu trưng bày, giới thiệu về đồ vải của dân tộc Thái ở tiểu vùng sông Mê kông và cùng nhau thảo luận tiến hành nghiên cứu sưu tầm văn hóa các dân tộc tỉnh Vân Nam phục vụ cho trưng bày tại tòa nhà Bảo tàng Đông Nam Á Qua một vài lần tới tham quan tại Bảo tàng bạn, tác giả đã có cơ hội tiếp cận nghiên cứu nhiều hiện vật liên quan đến Phật giáo Tây Tạng đang trưng bày và bảo quản tại kho của Bảo tàng các dân tộc thiểu số tỉnh Vân Nam và nảy sinh ý tưởng muốn viết luận văn về Phật giáo Tây Tạng thông qua các nguồn tư liệu thứ cấp đã được công bố bằng tiếng Việt, Trung, Anh và nguồn tư liệu gắn liền với hiện vật của hai Bảo tàng (Bảo tàng các dân tộc tỉnh Vân Nam và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam)
Hiện nay, nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới góc độ quản lý của nhà nước về văn hóa du lịch, tôn giáo, lịch sử, dân tộc học, Phật học , nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính ứng dựng vào thực tiễn của công tác chuyên môn tại Bảo tàng và áp dụng vào việc quản lý văn hóa, tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam Bài học quản lý văn hóa, tôn giáo, dân tộc ở Tây Tạng trong thời gian qua của nhà nước Trung Quốc còn nhiều điều bất cập, chúng ta cũng cần phải tìm hiểu về căn nguyên của nó và rút ra những bài học kinh nghiệm để tránh
Trang 7mắc phải sai lầm giống như ở Tây Tạng, từ đó đưa ra các quyết sách phù hợp với lòng dân, tiến tới hoàn thiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Như vậy, nội dung nghiên cứu luận văn của chúng tôi không bị trùng lặp với các
đề tài trước và nó lại vừa có giá trị thực tiễn để tác giả áp dụng vào công tác chuyên môn tại Bảo tàng lại vừa cung cấp thêm các nguồn tư liệu mới cho các cơ quan hoạch định chính sách dân tộc, văn hóa, tôn giáo ở Việt Nam tham khảo Với lý do và ý
nghĩa như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn đề tài: "Phật giáo Tây Tạng - Lịch sử
và những vấn đề đặt ra hiện nay" cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp một cách có hệ thống những tư liệu liên quan đến quá trình Phật giáo
Ấn Độ truyền vào Tây Tạng và sự tương thích của Phật giáo Ấn Độ với tín ngưỡng bản địa là Bôn giáo để tạo nên nét văn hóa đặc trưng riêng của Phật giáo Tây Tạng
- Tìm hiểu những nét đặc trưng văn hóa Phật giáo Tây Tạng và chính sách quản
lý tôn giáo của nhà nước Trung Hoa với khu tự trị dân tộc Tây Tạng từ năm 1949 đến nay
- Bước đầu nghiên cứu so sánh với một số ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội với văn hóa Phật giáo Tây Tạng và đưa ra một số khuyến nghị về bài học kinh nghiệm quản
lý tôn giáo của nhà nước Trung Hoa để áp dụng vào trong công tác quản lý tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là "Phật giáo Tây Tạng - Lịch sử và những vấn đề đặt ra hiện nay", bao gồm các vấn đề: quá trình Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Tây Tạng và sự tương thích với tín ngưỡng Bôn giáo để tạo thành nét riêng của Phật giáo Tây Tạng; chính sách tôn giáo của nhà nước Trung Hoa với Phật giáo Tây Tạng từ năm 1949 đến nay và những vấn đề đặt ra hiện nay đối với Phật giáo Tây Tạng
Trang 8- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các ngôi chùa Mật tông ở thành phố La-sa thuộc khu tự trị Tây Tạng và so sánh với một số ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học, chúng tôi
đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
4.1 Phương pháp tiếp cận về tôn giáo học: trong phương pháp nghiên cứu này,
chúng tôi vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu nhân học tôn giáo theo góc độ văn hóa học Vai trò của nhân học tôn giáo mà trước hết là vận dụng những kết quả nghiên cứu về tôn giáo học của các học giả phương Tây, Trung Quốc và Việt Nam để làm
luận cứ khoa học chứng minh cho luận điểm của mình đưa ra
4.2 Phương pháp chuyên gia: ngoài tìm kiếm các nguồn tài liệu thứ cấp nêu
trên, chúng tôi còn tiến hành phương pháp phỏng vấn các chuyên gia ở Việt Nam và Trung Quốc chuyên nghiên cứu hay dịch thuật về Phật giáo Tây Tạng trong những năm gần đây Tại Việt Nam, chúng tôi phỏng vấn Thượng tọa Thích Minh Hiền (chùa Hương), Thích Thanh Quyết (chùa Phúc Khánh), Thích Gia Quang (chùa Quán Sứ), Đại Đức Thích Minh Thanh (chùa Khúc Thủy), Thượng tọa Thích Đức Thiện (chùa Phật Tích), đã đến Tây Tạng tham quan, tu tập; ông Vũ Hồng Thuật (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) nghiên cứu sinh tại Viện Dân tộc học trường Đại học Vân Nam, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) để phỏng vấn, chia sẻ tư liệu, ảnh, liên quan đến luận
văn
Với các chuyên gia Trung Quốc, do có mối quan hệ Hợp tác từ trước giữa Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với Bảo tàng các dân tộc tỉnh Vân Nam (năm 2006), chúng tôi sang thành phố Côn Minh triển khai dự án Hợp tác nghiên cứu trưng bày về
đồ vải Thái ở tiểu vùng sông Mê Kông đã phỏng vấn Giáo sư Tạ Mộc Hoa (Giám đốc Bảo tàng) và tham quan, nghiên cứu hiện vật Phật giáo Tây Tạng tại Bảo tàng này Tháng 12/2009, Bảo tàng Vân Nam cử 6 chuyên gia sang Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tư vấn cho phần trưng bày văn hóa các dân tộc tỉnh Vân Nam tại tòa nhà trưng bày Bảo tàng Đông Nam Á, trong đoàn có Giáo sư Tùng Thanh Hoa là người Tạng ở thành phố La-sa chuyên nghiên cứu về Lịch sử Phật giáo Tây Tạng đã cung cấp cho
Trang 9chúng tôi nhiều tư liệu quý báu liên quan đến chính sách của nhà nước Trung Quốc với Phật giáo Tây Tạng và xu hướng phát triển của Phật giáo Tây Tạng trong tương lai Đầu năm 2012, chúng tôi đón tiếp Giáo sư Phạm Hùng Quý và Giáo sư Hoàng Khả Hưng (Học Viện Nghiên cứu Dân tộc tỉnh Quảng Tây - Trường Đại học Dân tộc Quảng Tây); Giáo sư Hà Minh (Viện trưởng Viện Dân tộc học, Trường Đại học Vân Nam) đến tham quan trao đổi học thuật với cán bộ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam; Giáo sư Trịnh Hiểu Vân (Học viện Khoa học xã hội Vân Nam) tham gia Hội thảo quốc tế về “Bảo tàng với di sản văn hóa lưu vực sông Mê Kông và sông Hằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu” do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Huế, từ ngày 11-12/6/2012, chúng tôi
đã đến phỏng vấn sâu các học giả nêu trên để lấy tư liệu và xin ý kiến đóng góp cho luận văn
4.3 Phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu và phân tích: sau khi có tư liệu,
chúng tôi tiến hành tổng hợp nội dung, phân tích, so sánh, đối chiếu rồi tự rút ra kết
luận và nhận xét
4.4 Phương pháp điều tra điền dã: chủ yếu được triển khai nghiên cứu ở một số
ngôi chùa ở Hà Nội để tìm hiểu về Phật giáo Mật tông ở Việt Nam trong mối quan hệ với Phật giáo Mật tông Tây Tạng
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, có một số bài tạp chí và sách viết về khu tự trị Tây Tạng nói chung và Phật giáo Tây Tạng nói riêng được công bố bằng tiếng Trung, Anh, Việt Trong nhiều nguồn tài liệu dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt, chúng tôi quan tâm đến một số công trình dịch thuật của các tác giả sau:
Công trình dịch thuật của tác giả Nguyễn Duy Chiếm, nhan đề "Cách mạng văn hóa liệt truyện" (thực lục), gồm 3 tập [8] Tập I của cuốn sách, ngoài giới thiệu khái quát bối cảnh Đảng cộng sản Trung Quốc đã giành chính quyền từ Quốc Dân Đảng
và lập nên nhà nước Trung Hoa vào ngày 10 tháng 10 năm 1949; thực hiện chính sách cải cách ruộng đất; cuộc cách mạng "đại nhảy vọt" của Đảng Cộng sản và những câu truyện mâu thuẫn về nội bộ chính trị của Đảng và nhà nước Trung Quốc giữa phe
Trang 10ôn hòa (cánh “tả”) là Lưu Thiết Kỳ và phe cấp tiến (cánh “hữu”) là chủ tịch Mao Trạch Đông Tập II cuốn sách nói về câu truyện 10 năm thực hiện cuộc “cách mạng văn hóa” (1966-1976) và những mâu thuẫn nội bộ trong Đảng Cộng sản; việc tranh chấp quyền lực chính trị giữa phe cánh “tả” và phe cánh “hữu” ngày càng diễn ra quyết liệt Tập III cuốn sách chủ yếu đề cấp đến cuộc chiến tranh giữa Mao Trạch Đông với Đặng Tiểu Bình và ngẫm suy của tác giả sau kiếp nạn trên bàn cờ chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc trong thời kỳ từ năm 1950 đến năm 1980 Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý cho chúng tôi tìm hiểu về bối cảnh thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và nhà nước Trung Quốc với người Tạng từ sau 1949 đến năm 1982
Công trình nghiên cứu của tác giả Trịnh Tây (Đặng Thúy Thúy dịch) với tiêu đề
"Dân tộc và tôn giáo Trung Quốc"[24] Tác giả công trình, ngoài xác định lại khái niệm "dân tộc-quốc gia", "đa nguyên nhất thể" của dân tộc Trung Hoa; bối cảnh văn hóa các dân tộc thiểu số; chế độ tự trị khu vực dân tộc của Trung Quốc; phương hướng bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số,… còn dành 4 trang (tr.133-136) giới thiệu khái quát về Phật giáo Tây Tạng trong bối cảnh văn hóa tín ngưỡng tôn giáo của người Trung Quốc
Về "Lịch sử Phật giáo Tây Tạng" của pháp sư Thánh Nghiêm, nội dung chủ yếu của cuốn sách đề cập đến các vấn đề về nguồn gốc lịch sử Phật giáo Tây Tạng; những bước thăng trầm của Phật giáo Tây Tạng gắn liền với lịch sử văn hóa dân tộc; các đồ thờ, pháp khí, tu viện và mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo; giữa Phật giáo Tây Tạng với Phật giáo Mông Cổ trong những năm gần đây [17] Nguồn tài liệu này rất hữu ích cho chúng tôi tham khảo
Cuốn “Bách khoa thư về Mật tông Tây Tạng: 1000 vấn đề Mật tông Tây Tạng” của nhóm tác giả Vũ Thỏa - Nguyên Ninh Đây là một công trình nghiên cứu mang tính hỏi-đáp về các vấn đề liên quan đến Mật tông Tây Tạng, nó có giá trị tham khảo với chúng tôi khi tìm hiểu về các thuật ngữ và nội dung tư tưởng liên quan đến Phật giáo Tây Tạng [19]
Trang 11Công trình nghiên cứu “Từ điển Phật học” của nhóm dịch giả Đạo Uyển giúp chúng tôi dùng tra cứu các thuật ngữ và ý nghĩa về tên gọi các giáo phái, tên các vị chức sắc tôn giáo, các vấn đề liên quan đến Phật giáo Tây Tạng [34]
Công trình nghiên cứu của pháp sư Thánh Nghiêm - Tịnh Hải “Lịch sử Phật giáo thế giới”, nội dung cuốn sách đề cập đến lịch sử phát triển của các tôn giáo trên thế giới; trong đó có Phật giáo Tây Tạng [18] Liên quan đến nội dung, nhóm tác giả dành 4 chương (tr.270- 436) viết về Phật giáo Tây Tạng thời kỳ truyền bá trước; Phật giáo Tây Tạng thời kỳ truyền bá sau; Tông Khánh Ba và tư tưởng; văn vật của Phật giáo Tây Tạng và đặc sắc của Phật giáo Tây Tạng Đây là nguồn tài liệu tham khảo rất bổ ích cho luận văn
Tác giả Hoàng Tâm Xuyên với công trình “10 tôn giáo lớn trên thế giới” 291) viết về Đạo Phật; trong đó có giới thiệu vài thông tin về Phật giáo Tây Tạng như một nét chấm phá riêng của “bức tranh văn hóa” Phật giáo Tây Tạng trong khung cảnh văn hóa Phật giáo nói chung [43]
(tr.214-Cuốn sách mang tính cẩm nang về tôn giáo Trung Quốc của tác giả Lữ Vân
"Tôn giáo ở Trung Quốc: 100 câu hỏi và trả lời", nội dung chủ yếu giải đáp các câu hỏi mang tính phổ thông cho những ai muốn tìm hiểu về tôn giáo Trung Quốc (Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo) và mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, nhà nước [37] Tuy công trình này không mang tính học thuật cao nhưng lại mang đến cho người đọc cảm nhận được khái quát về các tôn giáo ở Trung Quốc qua các thời kỳ Học giả C.Alexander Simkins và Annellen Simkins cho ra mắt tác phẩm "Ánh sáng mật tông - Con đường tâm linh Tây Tạng" [44], nội dung đề cập khái lược về Phật giáo Tây Tạng; Phật giáo Tây Tạng và nếp sống Phật giáo, Đây là cuốn sách giới thiệu mang tính chuyên biệt về Phật giáo Mật tông Tây Tạng; trong đó có đề cập nhiều đến phương pháp tu Mật tông và những cảm nhận của người tu theo môn pháp này
Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu dân tộc và chính sách dân tộc của Trung Quốc, tác giả Hách Thời Viễn với công trình “Dân tộc và vấn đề dân tộc ở Trung Quốc” được Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam dịch để làm
Trang 12tư liệu nghiên cứu nội bộ [35] Nội dung chủ yếu bàn về lý luận và thực tiễn giải quyết các vấn đề về dân tộc của Đảng và nhà nước Trung Quốc Đây là nguồn tài liệu quý để chúng tôi nghiên cứu tham khảo trong luận văn viết về mối quan hệ dân tộc Tạng với Đảng và nhà nước Trung Quốc từ năm 1950-1982
Năm 2004, tác giả Võ Kim Quyên (chủ biên) với công trình “Tôn giáo và đời sống hiện đại” tập hợp các bài viết của các tác giả Trung Quốc dịch sang tiếng Việt [23] Nội dung của cuốn sách, ngoài tổng quan về tôn giáo Trung Quốc (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Thiên chúa giáo, Đạo tin lành), còn đề cập đến chính sách tôn giáo và các hiện tượng của các tôn giáo hỗn tạp tại Trung Quốc Cuốn sách này, tùy không đề cập riêng về Phật giáo Tây Tạng giống như một số các cuốn sách khác nhưng nó lại mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể về tôn giáo Trung Quốc
và phương thức quản lý tôn giáo của nhà nước này
Công trình nghiên cứu của tập thể Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo “Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam” [41] Cuốn sách tập hợp các bài viết nghiên cứu về tôn giáo của tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu tôn giáo và các bài viết của tác giả trong và ngoài nước đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo từ năm 1999 đến năm 2003 Nội dung cuốn sách có thể khái quát thành hai phần chính, đó là: Tôn giáo - Vấn đề lý luận và các tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả Đỗ Quang Hưng “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam: lý luận
và thực tiễn” [11], nội dung cuốn sách nêu rõ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh đối với quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về tôn giáo và vấn đề tôn giáo; con đường xây dựng và hoàn thiện chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta từ năm 1945 đến nay, cùng việc thực thi chính ấy trong đời sống các tôn giáo Nội dung cuốn sách chia làm bốn phần: Bối cảnh quốc tế của vấn đề tôn giáo ở Việt Nam thế kỷ 20; Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bước đầu nhận thức tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn 1924-1945; Sự phát triển quan điểm và đường lối tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và từng bước hoàn thiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Trang 13Năm 2007, tác giả Nguyễn Thanh Xuân cho ra mắt công trình nghiên cứu “Một
số tôn giáo ở Việt Nam” [42] nội dung tổng thuật một cách khái quát về nguồn gốc
du nhập, triết lý, tư tưởng và thực hành của Đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Tin lành, đạo Hồi, đạo Cao đài ở Việt Nam; trong đó phần viết về Phật giáo, tác giả viết 99 trang (tr.11-109) Tuy chuyên đề này không đề cập đến Phật giáo Tây Tạng nhưng lại
có giá trị tham khảo cho chúng tôi tìm hiểu về nguồn gốc và lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ và sự du nhập của nó vào Việt Nam để làm tư liệu tham khảo
Năm 2009, nhà xuất bản Tôn giáo cho ra mắt ấn phẩm “Mật tông Tây Tạng - Tôn giáo huyền bí trên thế giới” của tác giả Sangye Gyatso - Thiện Nhân, nội dung của cuốn sách nói về nguồn gốc của Mật tông Tây Tạng; những điều cần biết về Mật tông; nội dung chính của phương pháp tu Mật tông; các giáo phái chủ yếu của Mật tông Tây Tạng [45] Đây là một cuốn sách đề cập đến nhiều phương diện của Phật giáo Mật tông Tây Tạng; trong đó có phần lịch sử và các giáo phái được chúng tôi quan tâm hơn cả
Năm 2010, nhà xuất bản Tôn giáo cho ra đời ấn phẩm “Mật tông Phật giáo” của tác giả Nguyễn Tuệ Chân [3].Nội dung cuốn sách, ngoài giới thiệu sự hình thành và phát triển của Mật tông Ấn Độ; các giai đoạn phát triển của Mật tông, Mật chú trong Mật giáo Ấn Độ; sự quan hệ giữa Mật tông với Du già; hệ thống kinh sách, pháp khí (ý nghĩa của “kim cương” trong Mật tông); các ngôi chùa Mật tông nổi tiếng; nguyên nhân sự biến mất của Mật tông ở Ấn Độ và sự truyền nhập Mật tông vào vùng Tây Tạng Đây là cuốn sách quan trọng để chúng tôi tham khảo viết trong luận văn
Tác giả Nhiếp Chính Vương với “Nghệ thuật Mật giáo là cách cửa dẫn tới giác ngộ” [39], nội dung đề cập truyền thừa dòng Drukpa, Đức Phật kim cương, nghệ thuật Mật giáo, giải thích cách bài trí và biểu tượng Man-da-la, Ngũ Trí Phật, pháp khí trong Phật giáo, nhạc khí nghi lễ,…
Ngoài các nguồn tài liệu sách tiếng Việt nêu trên, chúng tôi còn sử dụng “Tài liệu tham khảo đặc biệt” của hãng Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) ra hàng ngày có viết về: Nguy cơ xung đột tiểm ẩn ở Tây Tạng [29]; Bắc Kinh cuộc khủng khoảng ở Tây Tạng [30]; Trung Quốc cần thay đổi quan điểm về Tây Tạng [31]; Các nhóm lợi
Trang 14ích cản trở sự hòa giải ở Tây Tạng [32] và nhiều bài viết liên quan đến tình hình an ninh, chính trị, quân sự ở Tây Tạng đăng ở tài liệu Tham khảo đặc biệt
Gần đây, một số các bài viết của các tác giả Trung Quốc đăng bằng tiếng Trung trên các tạp chí chuyên ngành ở trong nước, được dịch sang tiếng Việt in trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo [9], [13], [25] có nội dung liên quan đến vấn đề dân tộc và tôn giáo Trung Quốc Các nguồn tài liệu này, cũng được chúng tôi sử dụng trích dẫn trong luận văn
Nguồn tài liệu tiếng Trung: Theo quy định của Cục xuất bản Trung Quốc, từ
năm 2000 trở lại đây, các tác giả có công trình xuất bản, đăng tạp chí nghiên cứu đều
phải đăng tải tại: http://www.baidu.com; http://www.cnki.com.cn để mọi độc giả có
thể tham khảo tài liệu Trong các nguồn tài liệu tiếng Trung, chúng tôi quan tâm đến bài viết của tác giả Đỗ Vĩnh Bân “Luận bàn con đường phát triển của Phật giáo Tây Tạng đương đại” [49], nội dung bàn về vấn đề nhận thức, hiện trạng và xu thế phát triển của Phật giáo Tây Tạng trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, tác giả còn phân tích về vai trò của Phật giáo Tây Tạng đối với ý nghĩa chiến lược quốc gia và khu tự trị dân tộc Tây Tạng trong bối cảnh tình hình hiện nay; dự đoán xu thế phát triển của Phật giáo Tây Tạng trong khu vực và đưa ra một số đề xuất với chính phủ Trung Quốc về đối sách chiến lược thích ứng với Phật giáo Tây Tạng hiện nay
Một công trình nghiên cứu dưới góc độ triết học Phật giáo của Giáo sư Kiều Căn Tỏa “Luận bàn về đặc điểm chủ yếu và nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Phật giáo Tây Tạng” với luận điểm, Phật giáo Tây Tạng là sự kết hợp và phát triển dựa trên nền tảng tư tưởng Phật giáo Bôn giáo nguyên thủy của dân tộc Tạng trộn lẫn với triết học Phật giáo Ấn Độ Đồng thời, triết học Phật giáo Tây Tạng lấy phương thức
lý luận hóa và hệ thống hóa đối với vũ trụ, nhân sinh, xã hội có tính nhận thức căn bản Ngoài ra, phương pháp luận thế giới quan Phật giáo Tây Tạng là lấy hệ thống tổng hợp phương thức tư duy và lý luận thâm sâu của tư tưởng triết lý nhà Phật để tạo thành nền tảng cho hệ thống triết học Phật giáo Tây Tạng [62]
Tạp chí Khoa học xã hội Cam Túc, tác giả Đào Kha với bài viết “Luận bàn ảnh hưởng của dân tộc Hán đối với Phật giáo Tây Tạng” [57], nội dung chủ yếu đề cập
Trang 15đến các vấn đề ảnh hưởng của người Hán đối với Phật giáo Tây Tạng trên mọi phương diện; trong đó ảnh hưởng nổi bật là đời sống xã hội và tín ngưỡng tôn giáo Bài viết cũng cho biết thêm về thời gian Phật giáo Ấn Độ truyền nhập vào Tây Tạng
là thế kỷ V công nguyên, bằng hai hướng Đông và Tây Nam
Một công trình nghiên cứu về sự lan tỏa của Phật giáo Tây Tạng ở Đài Loan, tác giả Tố Nam Tài Nhượng trong “Nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng ở Đài Loan” đã cho biết, Phật giáo Tây Tạng du nhập vào địa khu Đài Loan khoảng những năm 40 của thế kỷ 20 và mãi đến những năm 70 thì mọi hoạt động liên quan đến giáo hội và công tác nghiên cứu phật giáo Tây Tạng ở địa khu Đài Loan mới chính thức đi vào hoạt động [59] Kể từ sau năm 1980 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về Phật giáo Tây Tạng ở Đài Loan đạt được rất nhiều thành quả về khoa học
Tiếp tục các chuỗi sự kiện liên quan đến quan hệ chính trị giữa nhà nước với lãnh đạo Lạt-ma trên các trang mạng của Trung Quốc (QQ, baidu.com, Newbaidu.com), nó không chỉ cho người đọc nhìn thấy các khu vực hành chính của người Tạng định cư trên cao nguyên và định cư ở nước ngoài mà còn phân tích, đánh giá cả về tình hình kinh tế, chính trị, an ninh ở Tây Tạng trong những năm tới Đặc biệt, nguồn tài liệu này cũng phân tích một số vấn đề nhược điểm của Phật giáo Tây Tạng trong bối cảnh tình hình chính trị do nhà nước Trung Hoa điều hành mà bộ máy chính quyền là người Hán lãnh đạo
Công trình nghiên cứu dành riêng cho phân tích khái niệm về Phật giáo Tây Tạng của tác giả Lưu Dũng [54], nội dung đưa ra một số các thuật ngữ tên gọi về Phật giáo Tây Tạng qua các thời kỳ và bối cảnh sử dụng các thuật ngữ này Đồng thời, tác giả cũng đưa ra quan điểm riêng của mình về khái niệm “Phật giáo Tây Tạng” là phải dựa trên sự cấu thành của lịch sử và đáp ứng được nhu cầu thực tại của người dân trên phương diện lý luận, thực tiễn tu tập; chế độ tổ chức và phương diện tôn giáo dân tục để lý giải một cách toàn diện của khái niệm nêu trên thì mới giảm thiểu được sự tranh luận học thuật không đáng có trong nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng
Một công trình tổng thuật nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng trong 10 năm trở lại đây của tác giả Triệu Lợi Văn, nội dung chính của bài tổng thuật nghiên cứu nêu
Trang 16ra những công trình nghiên cứu của các tác giả viết về những hiện tượng mới xuất hiện ở Phật giáo Ngũ Đài Sơn là một trong những tiêu điểm chú ý của các nhà học thuật thế giới [64] Ngoài ra, bài viết cũng tổng thuật một số vấn đề liên quan đến nội dung về văn hóa Ngũ Đài Sơn, các giáo phái, các cao tăng, kiến trúc chùa tháp, nghệ thuật tạc tượng, đồ thờ và cách tiếp cận lý thuyết và lý luận đánh giá về giá trị văn hóa của Phật giáo Tây Tạng ở Ngũ Đài Sơn trong mười năm trở lại đây
Tháng 2 năm 2009, một cuộc Hội thảo quốc tế về chủ đề “50 năm cải cách dân chủ Tây Tạng", tác giả Đạt Bảo Thứ Nhân với bài phát biểu “Lý tính và tín ngưỡng - thảo luận về sự biến đổi 50 năm tín ngưỡng Phật giáo người Tạng” [60] đưa ra quan điểm: người Tạng theo Phật giáo đã có hơn 1000 năm, trước khi thực hiện cuộc cải cách dân chủ và đề xuất đưa “Hiến pháp vào trong quản lý chùa chiền”; Nhà nước cần phải chỉ đạo về phương châm, hành động cụ thể để tránh những ảnh hưởng gây tác động xấu đến Phật giáo Tây Tạng, đến các hoạt động tôn giáo của các vị Lạt-ma
và dân chúng
Một lĩnh vực nghiên cứu về “Công năng xã hội Phật giáo Tây Tạng” của tác giả Quách Mẫn Lệ đã chỉ ra nguồn gốc Phật giáo Tây Tạng là từ Ấn Độ truyền vào Tây Tạng và nó dung hòa với Phật giáo bản địa là Bôn giáo Do đặc thù hoàn cảnh tự nhiên ở vùng cao nguyên và bối cảnh văn hóa đã tạo nên hệ thống giá trị độc đáo trong việc kế tục truyền ngôi kế vị các vị Lạt-ma [58]
Tại học viện Triết học tôn giáo (Trường Đại học dân tộc Trung ương), nghiên cứu sinh Vương Á Hân với đề tài “Nghiên cứu du lịch văn hóa Phật giáo Tây Tạng đương đại”, nội dung đề cập đến định hướng khu tự trị Tây Tạng phát triển du lịch văn hóa Phật giáo và những thách thức đặt ra sau khi con đường sắt từ Thanh Hải lên Tây Tạng sẽ làm phá vỡ cảnh quan môi trường sinh thái nơi đây và an ninh chính trị
sẽ không ổn định; với nguyên nhân chính là mức độ chênh lệch về giàu-nghèo giữa người Hán và người Tạng, ngày càng một gia tăng Đồng thời, luận án cũng đưa ta những giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa Phật giáo Tây Tạng trong bối cảnh toàn cầu hóa [56]
Trang 17Nguồn tài liệu tiếng Anh: Có một số tài liệu bằng tiếng Anh viết về Tôn giáo
Trung Quốc nói chung và Phật giáo Tây Tạng nói riêng Trong các công trình nghiên cứu đã được xuất bản, cuốn “The Third Eye” (Tây Tạng huyền bí) của tác giả Lobsang Rampa, xuất bản năm 1956 dưới dạng tự truyện của một vị Lạt-ma người Tạng Tác giả viết lại những trải nghiệm huyền bí ling thiêng của Phật giáo Tây Tạng
mà bản thân ông đã tích lũy được trong suốt quảng đời tu tập theo phái Lạt-ma giáo [70] Nguồn tài liệu này rất quý bởi do chính chủ thể văn hóa viết ra dưới dạng trải nghiệm nên có giá trị tham khảo rất tốt, hầu hết những người nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng đều không bỏ qua cuốn sách này
Về lĩnh vực nghiên cứu chính sách đối với tôn giáo của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tác giả Kuznecov.Politikavot cho độc giả hiểu được bối cảnh những năm 1960-1970, tôn giáo Trung Quốc không được phép tồn tại bởi do cuộc "cách mạng văn hóa" đã biến quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo mà Hiến pháp đã công nhận làm vật thí mạng cho nhiệm vụ tiêu diệt “bốn lỗi thời”và các phương châm của chính sách đối với tôn giáo cũng được đề ra với nhiều hình thức khác nhau [74]
Tác giả Pitman.B.Potter với bài viết “Kiểm soát tín ngưỡng: điều tiết tôn giáo ở Trung Quốc” đã xem xét việc điều tiết tôn giáo ở Trung Quốc, trong bối cảnh kỳ vọng nhiều ở một sự thay đổi của nhà nước [76] Chủ tịch Mao Trạch Đông sau khi thực hiện cuộc "cách mạng văn hóa" đã nhận ra sai lầm về đường lối chỉ đạo chiến lược, sau đó đưa ra một số quyết sách tạo điều kiện cho người dân được tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng phải chịu dưới sự quản lý và điều tiết đối với các hành vi tôn giáo của nhà nước Ngoài ra, nội dung bài viết còn chỉ ra một số thách thức của việc kiểm soát tín ngưỡng và điều tiết tôn giáo của Trung Quốc dẫn đến nguy cơ chiến tranh tôn giáo có thể xảy ra ở một số vùng dân tộc thiểu số; trong đó có người Tạng theo Phật giáo và người Hồi, người Mông Cổ theo Hồi giáo
Công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Tạng lưu vong ở nước ngoài của đức Đạt Lại Lạt Ma “Freedom in Exile” (Tự do ở vùng lưu vong) đã cho người đọc thấy tính chính trị và sắc tộc trong văn hóa Phật giáo Tây Tạng rất nổi trội [69]
Trang 18Với những công trình tổng thuật nghiên cứu nêu trên cho thấy chủ đề về Phật giáo Tây Tạng được rất nhiều các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu trên cả ba nguồn tư liệu tiếng Việt, Trung, Anh, nhưng do khuôn khổ của luận văn Thạc sĩ chúng tôi không thể tổng thuật nghiên cứu được hết
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn được xem như một công trình chuyên khảo Đông phương học đầu tiên về Phật giáo Mật tông Tây Tạng ở Trung Quốc so sánh với một số ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội (Việt Nam)
- Luận văn trực tiếp cung cấp một cách có hệ thống các tư liệu liên quan đến quá trình du nhập Phật giáo Ấn Độ vào Tây Tạng và sự tương thích của nó với tín ngưỡng Bôn giáo để tạo nên nét đặc trưng riêng của Phật giáo Mật tông Tây Tạng; tập quán của người Tạng với Phật giáo; chính sách của nhà nước Trung Hoa với Phật giáo Tây Tạng từ năm 1949 đến nay; chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc người Tạng bạo động chống đối nhà nước, đòi ly khai Trung Hoa và những bài học kinh nghiệm về quản lý tôn giáo của nhà nước này đối với Việt Nam
- Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của luận văn còn là cơ sở khoa học cho việc bổ sung tư liệu hiện vật văn hóa của người Tạng hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mà trước đây các đoàn nghiên cứu của Bảo tàng đi sưu tầm tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chưa có điều kiện nghiên cứu kỹ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Tây Tạng
Chương 2: Nhà nước Trung Quốc với Phật giáo Tây Tạng từ năm 1949 đến nay Chương 3: Phật giáo Tây Tạng - Vấn đề đặt ra hiện nay với Trung Quốc và
những bài học kinh nghiệm
Trang 19Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
1.1 Khu tự trị Tây Tạng
Nước Thổ Phồn xưa và Khu tự trị dân tộc Tây Tạng ngày nay, trải qua nhiều tên gọi khác nhau: “Ô Ti Tạng” (Wu sizang), “Tây Phiên” (Xifan), “Đường Cổ Đặc” (Tang gute), “Đồ Bác Đặc”(Tu baite),… với ý nghĩa là “cõi Tây phương tịnh độ” Vị trí Khu tự trị Tây Tạng từ 260o50' đến 36o53' Vĩ bắc và từ 78o25' đến 99o06' Kinh đông, nằm ở giữa trên cao nguyên Thanh-Tạng, với độ cao trung bình là 4800 mét; trong đó có 11 ngọn núi có độ cao trên 8000 mét so với mặt nước biển Toàn bộ Tây Tạng núi non trùng điệp, tuyết phủ quanh năm nên nó được mệnh danh là “nóc nhà thế giới” hay “vùng đất của tuyết” [92] Phía Bắc Tây Tạng tiếp giáp với cao nguyên Pamia tỉnh Tân Cương và nối liền với dãy núi Côn Luân; phía Đông liền kề với tỉnh Thanh Hải và Tây An; phía Nam giáp với dãy núi Hymalaya, Ấn Độ, Xích Kim, Nepan; phía Tây giáp với Ca-sơ-mia, Pa-ki-xtan, Áp-ga-ni-xtan
Khu tự trị dân tộc Tây Tạng là một đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc
Từ năm 1912 đến năm 1950, khu vực Khu tự trị Tây Tạng do chính phủ Tây Tạng quản lý và đứng đầu là đức Đạt Lại Lạt Ma Ngày nay, khu vực Tây Tạng được phân thuộc các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam Năm 1950, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cho quân đội lên cắm chốt khu vực Chamdo của Tây Tạng
Dưới sức ép của quân đội Trung Quốc, năm 1951, đức Đạt Lại Lạt Ma đã ký một “Hiệp ước 17 điểm” với chính quyền Trung ương Trung Quốc nhằm xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng thuộc về lãnh thổ Trung Hoa [107] Mặc dù bản “Hiệp ước 17 điểm” có ghi chép là đảm bảo duy trì một chính quyền tự trị tự do
do đức Đạt Lại Lạt Ma đứng đầu lãnh đạo, nhưng đến năm 1955, một “Ủy ban soạn thảo về khu tự trị Tây Tạng” được soạn ra để xúc tiến thành lập hệ thống song song
về hành chính theo đường lối cộng sản Trung Quốc Trước sức ép của quân đội, cảnh
Trang 20sát, cuối năm 1959, đức Đạt Lại Lạt Ma phải từ bỏ “Hiệp ước 17 điểm” và chạy sang
Ấn Độ lưu trú Năm 1965, khu tự trị các dân tộc Tây Tạng được thành lập và từ thời gian này trở đi, Tây Tạng trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh
Khu tự trị dân tộc Tây Tạng lấy thành phố La-sa làm trung tâm hoạt động tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị của người dân địa phương Khu tự trị này, bao gồm nhiều hệ thống cấp “châu tự trị” nhỏ Do vị trí của Tây Tạng nằm giữa trung tâm Châu Á, nên nhà nước Trung Quốc coi Tây Tạng là vùng phên dậu bảo vệ biên cương phía Tây Nam và nó có vị trí cực kỳ quan trọng về mặt quân sự, quốc phòng, an ninh, chính trị của nhà nước và khu vực [18:265] Diện tích tự nhiên của Tây Tạng là 120 vạn km2 [52:18] Dân số là 3002166 người; trong đó dân tộc Tạng có 2716389 người, chiếm 90.48% dân số toàn khu; người Hán chiếm 8,17% và tỷ lệ còn lại là các dân tộc thiểu số khác [93] Người Tạng thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, ngữ hệ Hán-Tạng Các nhà nghiên cứu dân tộc học Trung Quốc, phân chia người Tạng thành ba nhóm địa phương, gồm: nhóm Tạng Ba, Khang Ba và nhóm An Đa Với nhóm Tạng
Ba là nhóm người Tạng bản địa của nhà nước “Thổ Phồn” xưa, họ là những người nông dân ở lưu vực sông Nhã Lỗ Tạng Bố và những người dân du mục ở phía Bắc; nhóm người Khang Ba địa bàn sinh sống chủ yếu là vùng núi Tây Khang và ở lưu vực sông Nhã Lỗ Tạng Bố; nhóm người An Đa cư trú chủ yếu ở các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên và Vân Nam [47:27] Theo GS.TS Trịnh Hiểu Vân chia sẻ: Xét
về mặt nhân chủng học, nhóm người An Đa có hình thể gần giống như người Mông
Cổ, nên các nhà dân tộc học Trung Quốc còn xếp nhóm người này vào nhóm Mông1 Song, các nhóm địa phương nêu trên lại đồng nhất về chữ viết Từ năm 1949 đến nay, mọi giao dịch trong quản lý hành chính nhà nước đều dùng tiếng Trung, tiếng Tạng chỉ dùng trong giao tiếp, giáo dục ở trường học và kinh sách nhà Phật
Tạng-1.2 Phật giáo Tây Tạng
Vài nét về lịch sử Phật giáo và mối quan hệ với Phật giáo Tây Tạng
Quốc), nhân tham dự Hội nghị quốc tế “Bảo tàng với di sản văn hóa lưu vực sông Mê Kông và sông Hằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu” do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Huế), ngày 11-12/6/2012
Trang 21Theo nhiều nguồn tài liệu ghi chép, tên gọi Phật giáo mang tên người sáng lập là Phật Đà Đạo Phật chính là giáo lý mà Phật Đà thuyết giảng Từ Phật, viết tắt của chữ Phật Đà, dịch âm của chữ “Buddha” từ tiếng Phạn sang tiếng Hán và ở Việt Nam cũng gọi là “Bụt” hay “ông Bụt”, dịch nguyên nghĩa là “bậc giác ngộ” hoặc “giác giả” [34:479]
Theo Tiến sĩ Thích Đức Thiện, đạo Phật chia làm ba thời: thời quá khứ do Phật
A Di Đà làm giáo chủ, thời hiện tại là do Phật Thích Ca Mầu Ni và thời tương lai do Phật Di Lặc sáng thế Như vậy, Phật giáo ngày nay thuộc thời hiện tại, do Phật Thích
Ca làm giáo chủ Tên Thích Ca Mầu Ni được gọi sau khi Ngài tu “khổ hạnh” dưới gốc cây bồ đề và đã “giác ngộ” nên gọi là Phật, nghĩa là “Người giác ngộ chân lý”2
Theo truyền thuyết, Phật Thích Ca Mầu Ni sinh vào ngày 15 tháng 4 âm lịch năm 624 trước Công nguyên tại vườn Lâm tì ni, thành Kapilavastu Tên thế danh của Ngài trước khi xuất gia là Thái tử Cù Đàm Tất Đạt Đa, cha tên là Suddedana (Tịnh Phạm Vương), mẹ là Ma Da (huyễn hóa) thuộc tầng lớp quý tộc Hiện nay, về năm sinh và năm mất của Phật vẫn chưa có sự thống nhất, với nhiều số liệu về thời gian đưa ra khác nhau Dựa theo cách giải thích của “Chúng thánh điển kỳ” do sư đồ cuối cùng truyền lại trong “Thiện kiến Tì Bà Sa Luật” dịch ra từ thời Nam Tề (Trung Quốc), Phật mất vào năm 485 trước Công nguyên và sinh vào năm 565 trước Công nguyên Các quốc gia theo Đạo Phật ở Đông Nam Á thì căn cứ vào “Miến Điện Phật truyền” để tính thì Phật sinh năm 624 trước Công nguyên và mất 544 trước Công nguyên Cách giải thích này hiện nay đã được đại bộ phận các tín đồ Đạo Phật trên thế giới chấp thuận [43: 222]
Sau khi tu thành Phật vào năm 520 trước Công nguyên, Ngài đã từng giảng thuyết “Tứ đế”3 cho các vị Tỳ khưu và sau khi Ngài mất, các đệ tử của Ngài đã đem đạo Phật truyền bá tới vùng phía đông của hạ lưu sông Hằng, phía nam tới bờ sông Caođaveri; phía tây tới bờ biển A rập, phía bắc tới khu vực Thaiysiro Ở thời kỳ
25/10/2013
Phật, gồm: Khổ đế (chân lý về sự khổ), Tập khổ đế (chân lý về sự phát sinh của khổ), Diệt khổ đế (chân lý về diệt khổ), Đạo đế (chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ)
Trang 22thống trị vua Asoka thuộc vương triều Maurya, đạo Phật bắt đầu phát triển tới các vùng biên, bao gồm: phía đông tới Mianma, nam tới Xri Lanca, tây tới Xyri, Ai Cập…, nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới Sau khi vương triều Cusan (Kushan) hưng khởi thì lại truyền đến Iran, các nơi ở trung tâm Châu Á, rồi qua con đường tơ lụa truyền vào Trung Quốc, rồi từ Trung Quốc truyền vào các nước Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản [43: 236-237]
Khi hệ phái Đại thừa phát triển, các nhà tu hành của hệ phái này muốn phân biệt
sự cao thấp về mặt tư tưởng giáo lý nên đã gộp “Phật giáo Bộ phái” và “Phật giáo nguyên thủy” thành Phật giáo Tiểu thừa Do ảnh hưởng của sự phát triển Phật giáo Đại thừa mà Phật giáo Tiểu thừa đã cải biến tư tưởng giáo lý của mình, được thể hiện trong Hữu bộ, Kinh thượng bộ Ban đầu, giáo nghĩa của Hữu bộ dựa trên cơ sở của bộ
“A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận” do ngài Ca Đa Diên Ni Tử soạn làm cơ sở tu tập và về sau từ bộ kinh này soạn ra bộ “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận” nên giáo nghĩa của Hữu bộ trở nên cố định và không phát triển thêm về mặt tư tưởng
Vào giữa thế kỷ IV tây lịch, ngài Harivarman người Trung-Ấn, thuộc dòng Bà la môn là người kết hợp nghiên cứu giáo nghĩa của “Đại chúng bộ” và giáo lý của “Đại thừa Phật giáo”, với mục đích thống nhất giáo nghĩa của các bộ phái; từ đó ông soạn
ra bộ “Thành- Thực- Luận” Nội dung của bộ này là căn cứ vào giáo lý “Tứ Thánh đế” để chỉnh đốn lại giáo lý của Phật giáo [12: 136]
Phật giáo Đại thừa khởi nguyên tư tưởng từ khi Phật đang còn tại thế và sau 100 khi Phật mất, trong hệ thống giáo đoàn mới chia Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ Tới thời vua Asoka (A Dục Vương) thì tư tưởng của Phật giáo Đại thừa mới hình thành rõ nét Khởi nguyên của Phật giáo Đại thừa là vùng phía Nam Ấn Độ và được thành lập vào sau kỷ nguyên Tây lịch Phật giáo Đại thừa tuy thành lập trước thời đại Thánh tăng Long Thọ, nhưng để tổ chức thành một hệ thống kinh điển mang tính tư tưởng triết lý đạo Phật thì phải tận đến khi Thánh tăng Long Thọ Bồ tát khởi nghiệp, thông qua việc chú giải kinh điển của phái Đại thừa, như các bộ “Đại Thừa Trí Độ Luận”,
“Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận” Trong thời điểm này, nhiều vị cao tăng Ấn Độ đã đến Trung Quốc tham gia dịch thuật kinh tạng của phái Đại thừa, như: năm 167 Tây lịch
Trang 23có nhà sư Chi Lâu Ca Sấm; năm 220 có thánh tăng Ngô Chí Khiêm; năm 252 có Khang Tăng Khải; năm 265 có Trúc Pháp Hộ tham gia dịch rất nhiều kinh điển Đại thừa từ chữ Ấn Độ sang chữ Hán hoặc chú thích kinh tạng Các vị thánh tăng nêu trên đều sinh ra cùng thời với thánh tăng Long Thọ và đã phiên dịch rất nhiều kinh điển Đại thừa sang chữ Hán [12:158] Thánh tăng Long Thọ là vị tỵ tổ của Phật giáo Đại thừa Ngài sinh ra ở vùng phía Nam Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà la môn Sau khi thánh tăng Long Thọ xuất gia tu hành đã đến nhiều nơi truyền bá Phật giáo Đại thừa tới công chúng và là người có công tổ chức cho các tăng ni học giáo lý Phật giáo Đại thừa nên Ngài được coi như là Phật Thích Ca tái hiện
Theo tiến sĩ Thích Đức Thiện: Các bộ tạng điển được dịch ở thời điểm này là bộ kinh “Bát Nhã”, “Diệu Pháp Liên Hoa”, “Hoa Nghiêm”, “Thủ Lăng Nghiêm”; trong
đó bộ kinh “Bát Nhã” được thịnh hành sớm nhất và lưu truyền rộng rãi nhất Lập trường căn bản của bộ kinh “Bát Nhã là tư tưởng “không”, nhưng “không” ở đây không phải là “chủ nghĩa hư vô” mà là “chân không diệu hữu”, nghĩa là dựa vào mục tiêu “Bát Nhã” (trí tuệ) sẽ chứng được chính quán, vứt bỏ ngã chấp, tâm tưởng được
tự tại an lạc Từ đó, chuyển biến cái giá trị căn bản của nhân sinh và đưa nhân sinh đến với chân-thiện-mỹ, vượt qua được sự đối lập, như: khổ-vui, giàu-nghèo, mê-ngộ, thiện-ác4
Sang đến thể kỷ IV, sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, cao tăng Thế Thâm là người đặt nền móng lý luận của phái tu thiền (Yoga) đến thăm Nepal và truyền bá đạo pháp Năm 405, cao tăng Pháp Hiển (người Trung Quốc) cũng đến Kapilavastu hành hương về miền đất Phật Sau khi đi chiêm ngưỡng Phật tích, tăng sư Pháp Hiển trở về thuật lại cho các vị cao tăng nghe và mọi người lấy rất làm ngưỡng mộ và sùng
ái đạo Phật Theo lời thỉnh cầu của cao tăng Trí Nghiêm (Trung Quốc), năm 408, nhà
sư Giác Hiền (Buddhabhadra) người Ấn Độ tới Trường An hoằng dương Phật Pháp
và dịch kinh Đại thừa sang tiếng Hán Có thể nói, thời điểm này, việc hành trì tu theo phái Đại thừa đã rất thịnh hành ở Nepal Cùng với ngài Long Thọ là hai vị thánh tăng
Đế Bà và Bạt Đà La không ngừng truyền bá đạo pháp Đại thừa tới các nước
ngày 25/10/2013
Trang 24Đạo Phật Ấn Độ trong thời đại hoàng kim ở triều Licchevi phát triển rất rực rỡ, dưới sự ủng hộ mạnh mẽ của vua Angsuphama (?-640) Ông đã đem con gái là Buricơdi (Xích Tôn, tức công chúa Văn Thành) gả cho người Tây Tạng là Tùng Tán Can Bố (Sron-btsan-sgampo, 569-650) Khi công chúa Xích Tôn tới Tây Tạng có mang theo tượng Phật và văn vật; từ đó, khai thông đường giao thông từ Ấn Độ qua Cát Mandu, Laxa tới Trường An (Trung Quốc) Năm 633, ngài Huyền Trang của Trung Quốc hành hương tới Nepal Theo tác giả Hoàng Tâm Xuyên, căn cứ vào hai tấm bia dựng năm 725 và 749 (dưới thời vua Thấp Bà Đề Bà) đã cho xây chùa Man Nạp Đề Bà và chùa Diên Ma Hai ngôi chùa này đều là trung tâm hoạt động của Phật giáo Ấn Độ lúc bấy giờ và đã có liên hệ về mặt tôn giáo với Tây Tạng và nội địa Trung Quốc Và trong thời kỳ này, hàng loạt các tăng nhân Trung Quốc và Triều Tiên tới thăm và tu tập tại hai ngôi chùa này [43:264-265]
Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ IX, Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ bị yếm thế, nhường vị trí cho đạo Bà la môn lên ngôi nắm quyền về mặt tinh thần; nhưng ở những vùng núi cao phía Bắc Nepal thì không bị ảnh hưởng nhiều Về sau, đạo Phật và đạo Bà la môn kết hợp lại với nhau tạo thành Mật giáo Một số tín ngưỡng trong các phải chính của Mật giáo là Kim Cương thừa, Dị Hành thừa, Thời Luận thừa, biểu hiện trong Phật giáo mới ở Ấn Độ
Vào giữa thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV, sau khi hình thành nhiều nhiều tông phái của đạo Lạt-ma Tây Tạng đã có một số phái truyền đến Nepal, như: phái Tát Ca truyền vào Nepal giữa thế kỷ XIII; phái Ninh Mã do Long Khâm Nhiễu Giáng Ba (1308-1364) đã xây chùa tháp Nhĩ Ba Lâm tại Butan, rồi từ đây truyền vào Nepal; phái Cát Cử truyền vào Nepal vào giữa thế kỷ XV [43:265-266]
Với những tư liệu dẫn chứng nêu trên cho ta thấy, Phật giáo Ấn Độ đã truyền vào Trung Quốc từ rất sớm và các tông phái Phật giáo Trung Quốc cũng đã giao thoa với Phật giáo Nepal Điều này minh chứng cho văn hóa nói chung và tôn giáo nói riêng luôn luôn có tính “mở” và rất dễ “tương thích”với mọi nền văn hóa, tộc người
để tồn tại và phát triển, tạo thành nét văn hóa Phật giáo đặc sắc riêng cho mỗi khu vực, quốc gia
Trang 25Quá trình ra đời và phát triển của Phật giáo Tây Tạng
Phật giáo Ấn Độ truyền vào Tây Tạng lấy Đại thừa Mật giáo của thời kỳ Văn kỳ làm nền tảng tư tưởng chủ yếu cho việc truyền bá đạo pháp Song Đại thừa Mật giáo cũng có sự giao thoa với Đại thừa Hiển giáo, tích lọc các tinh hoa của đạo Phật để phổ cập tới dân chúng Người có công truyền thừa vào thời kỳ đầu của Phật giáo Ấn
Độ vào Tây Tạng là thánh tăng An Huệ, Trần Na, Đức Quang, Giải Thoát Quân; trong đó An Huệ là người truyền thừa Tỳ Đàm học; Trần Na truyền thừa Duy thức và Nhân Minh học; Đức Quang truyền thừa Luật học; Giải Thoát Quân truyền thừa Bát Nhã học [17: 42-44]
Trong Phật giáo Tây Tạng, phái Trung Quán của thánh tăng Long Thọ được các
vị Lạt-ma rất tôn sùng Cùng với ngài Long Thọ là ngài Liên Hoa Sinh cũng là người
có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đối với các vị Lạt-ma Tây Tạng ở các đời sau này về cả
tư tưởng triết lý đạo Phật đến việc chú giải kinh tạng và thực hành tu tập Từ đó, sức ảnh hưởng của Phật giáo Mật tông Ấn Độ đã phát triển rất mạnh ở Tây Tạng, khiến cho 18 bộ phái Tiểu thừa ở vùng đất này đã dần dần yếm thế và chỉ còn một vài hệ phái tồn tại với sức ảnh hưởng của nó tới xã hội không lớn nên đang tiến dần tới sự suy vong Trái lại, phái Du Già Mật và Vô Thượng Du Già Mật của ngài Long Thọ lại phát triển rất mạnh, được người Tạng hoan nghênh đón nhận, vì thế mà hệ thống Phật giáo Tây Tạng thuộc về Phật giáo Đại thừa thời Văn kỳ Ấn Độ
Phật giáo Đại thừa Mật tông Ấn Độ có nhiều nét tương đồng với văn hóa Bôn giáo, với tín ngưỡng chủ đạo là sùng bái thần quỷ và phù chú “vu thuật” Do vậy, Phật giáo Ấn Độ đã nhanh chóng hòa đồng và tương thích với nền văn hóa bản địa để tồn tại và phát triển, tạo nên một nét văn hóa riêng của Phật giáo Tây Tạng khác với Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa và một số nước
Tương truyền Phật giáo bắt đầu truyền vào Tây Tạng ở vào giữa khoảng thế kỷ thứ III, nhưng Phật giáo chính thức được truyền vào vùng đất này là dưới thời vua Tùng Tán Can Bồ (Sron-btsan-sgampo, 569-650), tức thế kỷ VII [12:201], nhưng định hình thành một tông phái chỉnh thể thì phải đến gần cuối thể kỷ VIII
Trang 26Phật giáo Ấn Độ truyền vào Tây Tạng gồm hai hướng Một hướng đi từ Tây Bắc
Ấn Độ vượt qua dãy núi Hindu Cusơ và sông Amua ở miền trung nước Apsganixtan rồi vượt qua cao nguyên Pamia vào vùng Tân Cương và Thanh Hải (Trung Quốc) Một hướng khác đi từ Ấn Độ truyền vào Nepal rồi vượt qua chân núi Hylamaya vào Tây Tạng Từ đây, Phật giáo truyền vào nội địa Trung Quốc và một số vùng ở Mông
Cổ và Xiberi [43:248]
Thời kỳ đầu có hai dòng Phật giáo truyền vào Tây Tạng là Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì dòng truyền thừa của Phật giáo Trung Hoa phải rút lui để nhường đất cho các vị cao tăng Phật giáo Ấn Độ tu tập, truyền bá Truyền thuyết sớm nhất nói về Phật giáo Ấn Độ truyền vào Tây Tạng là năm 313 trước Công nguyên có một vị vương tử ở miền Trung Ấn Độ, tên là Khất sĩ
“phu địa” bị nước láng giềng đánh bại phải chạy về ẩn náu ở một dãy núi phía Đông thuộc biên giới Tây Tạng Người Tạng bèn hỏi người này từ đâu tới, ông liền chỉ tay lên trời, mọi người cho rằng, ông là người “thiên thần giáng hạ”, liền rước Ngài lên kiệu đưa về nước tôn làm Tạng vương (vua nước Tạng), với tên gọi là Nhiếp Xích Tán Thổ Liền sau đó, vua Tạng cho xây chùa dưới chân núi Kailasa (Khả Y Lan) và truyền bá giáo lý nhà Phật tới dân chúng và đây cũng là sự đánh dấu mở đầu của Phật giáo Ấn Độ du nhập vào nước Thổ Phồn [51:47]
Sau khi Phật giáo Ấn Độ truyền vào Tây Tạng đã nhanh chóng “tương thích” với tôn giáo tín ngưỡng bản địa rồi hình thành nên một nền văn hóa Phật giáo Tây Tạng vừa có nét tương đồng và khác biệt với Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc Theo các nguồn tài liệu lịch sử của Trung Quốc ghi chép, trước khi Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Tây Tạng thì ở vùng đất này tín ngưỡng “Bôn giáo” (còn gọi là Hoàng giáo) đã rất thịnh hành và phát triển Đây là tôn giáo tín ngưỡng bản địa của người Tạng, nó có nguồn gốc từ nhóm cư dân du mục vùng thảo nguyên Tây Á và Đông Bắc Á, bản chất thực hành nghi lễ mang đậm tính “vu thuật”, tức “shaman giáo” mà các nhà nghiên cứu Dân tục học Trung Quốc xếp vào hệ tín ngưỡng “Tát mãn giáo” [48:50] Đồng quan điểm với các nhà dân tục học Trung Quốc, tác giả Thánh Nghiêm nhận định: “Tín ngưỡng này lấy vùng Xê-bi-ri làm trung tâm, rồi lan tỏa ra các vùng
Trang 27Mông Cổ, Mãn Châu, Tân Cương, Tây Tạng Những dân tộc có cùng một phương thức sinh hoạt giống nhau, đều tiếp thu loại tín ngưỡng này [18:269]
Theo từ điển Trung-Việt, từ “vu thuật”(巫师/wushi) có nghĩa là thầy cúng, thầy phủ thủy, thầy mo, pháp sư [40: 1483] Bản chất của “vu thuật” trong văn hóa của người Tạng mà những người thực hành tôn giáo chủ yếu thỉnh cầu các lực lượng thần
bí của tự nhiên cùng với sự trợ giúp của phương thuật (bắt ấn quyết, niệm chú) để người thực hành nghi lễ đạt được mục đích; trong đó nghi thức giáng thần và niệm chú là nội dung chủ yếu cấu thành nên “vu thuật” Mục đích của thực hành “vu thuật”
là chữa bệnh, cầu đảo, tiên đoán lành-dữ, trị tà đuổi quỷ, cầu bình an, may mắn[26:6]
Theo công trình nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Anh về “Lịch sử Tây Tạng” (phần lịch sử thời kỳ phân tranh hỗn tạp), thì Bôn giáo có chia thành ba thời kỳ, đó là: Thời kỳ Bôn giáo nguyên thủy chưa có hệ thống thần linh và giáo lý cố định Thời kỳ Bôn giáo hỗn tạp (còn gọi là Hắc giáo) đã có ba vị tăng lữ là người Ấn Độ vào Tây Tạng cử hành nghi thức tang lễ cho nhà vua nên còn gọi là Bôn giáo phần mộ Thời
kỳ Bôn giáo cải cách là thời kỳ sau khi đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Tây Tạng thì Bôn giáo đã có những cải cách về nội dung và có những bước phát triển mới [46]
Trước thời nhà Đường, Tây Tạng tuy có thành lập vương quốc nhưng vẫn còn mang tính sơ khai và mãi đến thời vua Tùng Tán Can Bồ (Sron-btsan-sgampo, 569-650) lên ngôi vua thì Tây Tạng mới trở thành một quốc gia cường thịnh về mọi mặt
và đã thần phục được người Mông Cổ Sự kiện Phát Tư Ba đến Mông Cổ, được Hốt Tất Liệt phong làm quốc sư và ban tước hàm Đại Bảo Pháp Vương và là vị tổ thứ 5 của Lạt-ma thuộc phái Tát Già
Kế tiếp là dưới thời vua Xích Tùng Đức Tán(Khri-lde-bstsan, 755-781) lên nắm quyền Trong thời kỳ nhà vua trị vì quốc gia thì dòng sơn môn Mật giáo của Ấn Độ cũng được truyền vào Tây Tạng và nó được coi là khởi nguyên tư tưởng của Mật giáo nguyên thủy là coi trọng vu thuật và phù chú Điều này được thể hiện trong mật chú
và trong kinh điển thời kỳ sơ khai cũng đều có chép các câu thần chú thủ hộ trong các
bộ luật và trong kinh Khổng Tước Song, đây mới chỉ là “manh nha” của tư tưởng
Trang 28Mật giáo chứ chưa có sự hình thành rõ nét giống như tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ hay Phật giáo Thiền Tông của nhà Đường Mãi đến thế kỷ thứ VII thì chính thức Mật giáo ở Tây Tạng mới hình thành rõ nét, sau khi bộ kinh “Đại nhật” của Phật giáo Ấn
Độ được dịch sang tiếng Tạng và lưu hành rộng rãi trong các tu viện Bộ kinh này có tên đầy đủ dịch ra tiếng Hán -Việt là “Đại Tỳ Lư Giá Na Thành Phật thần biến gia trì kinh”, gồm 7 quyển, 63 phẩm Tư tưởng cốt yếu của bộ kinh này là “Tức sự nhi chân” được đúc kết ra từ tư tưởng của bộ kinh Hoa Nghiêm Sau này, Mật giáo Tây Tạng và Mật giáo Ấn Độ lấy tư tưởng của bộ kinh “Đại Tỳ Lư Giá Na Thành Phật thần biến gia trì kinh” làm căn cứ để đặt tên gọi cho phái “Chân ngôn thừa” và nó trở thành đại biểu cho tư tưởng triết lý của Phật giáo dòng sơn môn Mật giáo nói chung
và dòng Phật giáo Tây Tạng nói riêng
Dưới thời vua Tây Tạng Ngật Lật Song Đề Tán (755-797) đã thỉnh mời Đại sư Liên Hoa Sinh (Padma Sambhava) từ xứ Udyà na, miền bắc Ấn Độ đem Mật giáo truyền bá sang Tây Tạng và sáng lập ra Lạt-ma giáo ở Tây Tạng [12:197-198] Như vậy, có thể nhận định rằng, Phật giáo Mật tông Tây Tạng được hình thành vào cuối thể kỷ VIII
Kể từ thế kỷ thứ VII trở về sau, có nhiều vị thánh tăng của Mật giáo xuất hiện
và sang thế kỷ XI, có ngài Dipankarasrijnà na (tức Atisa) cũng đến Tây Tạng truyền
tư tưởng Mật giáo và kiêm dịch thuật kinh tạng từ chữ Phạn sang chữ Tạng Do ngài Liên Hoa Sinh và ngài Atisa cùng các đệ tử của hai ông có tài thần thông biến hóa, hàng phục ma quỷ và nghi thức hành lễ rất gần với đạo Bôn giáo nên cư dân Tây Tạng tiếp nhận rất cuồng nhiệt Nhân dân Tây Tạng xem ngài Liên Hoa Sinh là Đức Phật Thích Ca tái thế Sự dung hợp và tiếp thu các luồng tư tưởng theo khuynh hướng đặc thù của người Tạng đã biến Phật giáo Tây Tạng mang màu sắc của những huyền thuật và phép mầu Đồng thời, ngài Liên Hoa Sinh cũng là người sáng lập ra tông phái Ninh Mã (Nyingma) ở Tây Tạng và tông phái này vẫn tồn tại hoạt động cho đến ngày nay Ngài được người Tạng coi là tổ sư của Phật giáo Tây Tạng Chính do nhà vua tín tâm như vậy nên việc dịch kinh tạng cũng như tu sửa, xây dựng chùa chiền bước vào một giai đoạn mới: Phật giáo Tây Tạng trở thành quốc giáo Vì thế, Phật giáo Tây Tạng không còn ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa Trung Hoa nữa mà được
Trang 29xem như là Phật giáo Mật tông đậm màu sắc thần linh, lễ nghi, bùa chú, ấn quyết, xuất quỷ nhập thần rất phức tạp
Sang đến thời vua Đường Thái Tông (599-699), thế lực nước Thổ Phồn rất mạnh Lúc bấy giờ, nhà vua sai sứ giả đến nhà Đường cầu hôn công chúa, vua Đường Thái Tông đã dùng phương thức “liên hôn” Năm 710, vua Đường Duệ Tông gả công chúa Văn Thành (Wencheng) cho vua Tây Tạng đời thứ 35 là Tùng Tán Can Bố (Songtsen Gampo) nhằm tranh thủ hòa bình cho bờ cõi biên thùy Công chúa Văn Thành là một Phật tử mộ đạo nên khi đính hôn trở về sống Tây Tạng, nàng đã mang theo nhiều vị sa môn Trung Quốc và kinh Phật vào Tây Tạng
Sau khi Tùng Tán Can Bố (Songtsen Gampo) băng hà Trong giai đoạn 640-672, vua Xích Đức Tổ Tán (Me Agtson) lại được vua Đường là Đường Trung Tông (656-710) lại gả công chúa Kim Thành (Jincheng) cho vua Tạng là Xích Đức Tổ Tán Công chúa Kim Thành cũng là một Phật tử, bà đã mang vào Tây Tạng rất nhiều kinh sách, dược học, số học của Trung Quốc Từ đây, các sách quý này dần dần được dịch
ra chữ Tạng và lưu truyền rộng rãi trong dân gian
Đặc biệt, dưới thời vua Tạng là Xích Đức Tổ Tán (Trisong Detsen) (755-780) là người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo để thoát khỏi vòng suy vong do sự bài xích phe phái cũng như áp lực của Bôn giáo cũ Ông ủng hộ sự nghiệp phiên dịch kinh điển từ chữ Ấn Độ, chữ Hán sang chữ Tạng và những cuốn kinh đã dịch trước đây thì cũng được dịch lại và đính chính [12:203]
Cũng vào thời nhà Đường, thánh tăng Long Thọ (Nagarjuna, Klu-grub) đã đưa giáo lý Phật giáo Mật tông truyền vào vùng Tây Tạng và sau đó thì sáng lập ra sơn môn mới ở Tây Tạng, lấy tên là phái Lạt-ma giáo [12:198] Từ thế kỷ thứ VIII trở về sau, vua Tùng Tán Can Bồ đã xuất ngân khố của hoàng gia cho xây dựng một ngôi chùa mới, đặt tên là Bsam-yus để làm trụ sở phiên dịch các kinh điển của Ấn Độ sang tiếng Tạng Kiến trúc của ngôi chùa này mô phỏng theo kiến trúc của ngôi chùa Vikra-masila ở Ấn Độ và bố cục toàn cảnh của ngôi chùa theo đồ hình Man đà la Đồ hình này, nguyên nghĩa là “vòng tròn” hay “vòng cung”, là một khái niệm quan trọng của Phật giáo Tây Tạng và Kim Cương thừa Đó là biểu tượng của vũ trụ và lực
Trang 30lượng trong vũ trụ diễn tả bằng những tranh vẽ Ngoài ra, người ta sử dụng Man đà la
để tập trung thiền định, nó là điểm xuất phát của nhiều phương pháp “quán đỉnh” Ở Tây Tạng, người ta hiểu Man đà la là “trung tâm và ngoại vi” là cơ sở để hiện tượng hợp nhất với bản thể Trong Kim Cương thừa, Man đà la không chỉ là đối tượng thiền quán mà còn là bàn thờ để các vị thực hành tôn giáo bày biện các lễ vật hay pháp khí [34:357]
Sau khi khánh thành ngôi chùa Bsam-yus, nó trở thành điểm sinh hoạt tu tập của các vị tăng ni Tây Tạng và Ấn Độ Đồng thời, ngôi chùa này cũng trở thành sơn môn chính của dòng truyền giáo Mật tông Tây Tạng tới các nơi khác trong và ngoài vùng Càng về sau, tư tưởng của dòng phái sơn môn Mật giáo càng phát triển mạnh và truyền bá sang các nước thuộc Đông Nam Á và Tế Á, như nước Tích Lan, Miến Điện, Campuchia Trong thời kỳ này, Phật giáo tuy đã phát triển mạnh với hệ thống giáo lý, giáo luật, dịch kinh sách đã đi vào nề nếp, nhưng Bôn giáo nguyên thủy vẫn còn ảnh hưởng rất mạnh trong đời sống nhân dân Các phe phái trong nội triều thì tranh chấp nhau kịch liệt, người nắm giữ chính quyền lại là người bài xích Phật giáo, nên mỗi khi pháp luật đưa ra đều trái ngược với nội dung tư tưởng của nhà Phật; thậm chí kinh sách bị tịch thu rồi hóa (đốt), chùa chiền phong tỏa hay những ngôi chùa cổ kính dùng làm nơi mổ thịt súc vật, Về sau, phái Mật giáo nêu trên kết hợp với phái Sàkta của Ấn Độ lập thành một chi phái riêng Hoạt động truyền bá đạo pháp được một thời gian thì chi phái này rơi vào tình cảnh xa rời giáo lý, tư tưởng của Phật giáo nên các
sử gia nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng gọi là “Tà đạo Mật giáo” [46:98]
Dưới thời vua Lai Ba Thiệm (Laibashan, 815-838), tăng đoàn đã bắt đầu được chỉnh đốn và xác định được thứ bậc từ cao tới thấp của tăng ni, đó là Lạt-ma, Thiền tu
và đệ tử Đồng thời, nhà vua cũng thực hiện chính sách bắt kêu gọi người dân cúng tiền và lương thực để nuôi dưỡng tăng chúng nên số lượng nhà sư xuất gia cũng dần dần tăng lên theo hằng năm Ngược lại, dân chúng thì lại cực khổ vô cùng, vì sưu cao thuế nặng, do đóng góp kinh phí nuôi nhà sư Theo quy định của nhà vua, bình quân 7
hộ dân phải nuôi một vị tăng hoặc ni Điều này đã gây nên sự bất bình trong xã hội nông thôn, dẫn đến oán giận nhà vua, thù ghét nhà sư Nhà vua buồn phiền, sinh bệnh rồi qua đời
Trang 31Người kế nghiệp ngôi vua là Lãng Đạt Ma (Lang darma, 838-842) là một tín đồ tôn sùng Bôn giáo Sau khi lên ngôi vua thì bối cảnh ở Tây Tạng lại gặp phải cảnh khốn khó, dân chúng đói kém, dịch bệnh tràn lan, trộm cướp nhiều, Nhân cơ hội ấy, Lãng Đạt Ma đổ hết tội lỗi cho Phật giáo rồi liền tiến hành thanh trừ các vị tăng ni, cấm việc dịch kinh sách, thiêu đốt kinh tạng, phá hủy chùa chiền, tượng Phật, pháp khí, văn vật, ; thậm chí bắt các sư hoàn tục trở về gia đình hoặc cưỡng bức các sư làm nghề đồ tể hay săn bắt thú rừng,… Chiếu theo giáo lý nhà Phật, vua Lãng Đạt Ma
đã thi hành một việc hết sức bạo ngược Hơn 100 năm dựng xây đất nước và phát triển văn hóa Phật giáo của các bậc minh vương đời trước, nay bỗng một chốc đã bị phá sạch hoàn toàn, khiến cho tình hình xã hội ở Tây Tạng lúc bấy giờ đã phức tạp lại càng phức tạp hơn Năm 877, những cuộc nổi loạn làm cho hoàng tộc ly tán, nước Thổ Phồn bị diệt vong, vì vậy, Phật giáo Tây Tạng rơi vào tình cảnh suy tàn [46:186]
Vào cuối thời nhà Đường, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dân tộc, quốc gia của Tây Tạng có nhiều biến động Lúc này, phương châm hoạt động Phật giáo của các vị Lạt-ma được chú ý trên cả ba phương diện: Giới luật, Hiển giáo và Mật giáo Giới luật là những quy định tự nhiên trong đời sống thường nhật của các bậc tăng-ni cũng như người tu tại gia phải tuân thủ là điều kiện để giác ngộ Theo quy định, Tỳ khưu ni và sa di phải thụ “thập giới; Hiển giáo còn gọi là “Hiển lộ giáo” là giáo lý có thể giảng dạy cho mọi người biết; Mật giáo là những giáo lý không thể giảng dạy cho người ngoài biết [34: 226-239]
Đến thời Hoàng đế nhà Nguyên - Hốt Tất Liệt (1215-1294), người Mông Cổ đem quân đánh chiếm vào vùng Tây Tạng và bắt Lạt-ma Phát Tư Ba thuộc dòng sơn môn Sa-skya-pa đưa về Mông Cổ Sau khi đưa về, vị sư này không ngừng truyền bá đạo Phật tới công chúng Trong cuốn “Lịch sử Tây Tạng”, tác giả Trần Khánh Anh cho biết: “từ năm 1215, Lạt-ma giáo chính thức được truyền vào vùng đất Mông Cổ” [46:58] Vua Mông Cổ vốn cũng tin và sùng bái Phật giáo nên Lạt-ma Phát Tư Ba được nhà vua mến phục, sau đó vị Lạt-ma này trở về Tây Tạng tiếp tục hoằng dương Phật pháp, giáo hóa dân chúng Với sự hòa hữu giữa hoàng đế Mông Cổ với nhà vua Tây Tạng đã dẫn đến vương triều Sa-skya-pa được thành lập Vương triều này nắm giữ cả hai quyền hành là chính trị và tôn giáo [12: 204]
Trang 32Sau khi Thành Cát Tư Hãn lập ra nước Mông Cổ thì khu vực Tây Tạng trở thành một bộ phận của lãnh thổ đế quốc này Năm 1253, Hốt Tất Liệt mang quân đi đánh chiếm Đại Lý, không chế miền Đông Tây Tạng Tiếp đến năm 1272, A Lỗ Xích cho quân chiếm đóng vùng Tây Tạng Sau khi chiếm đóng được vùng đất này, Hốt Tất Liệt nắm rõ người Tạng rất dũng mãnh và thiện chiến, không dễ dàng chinh phục được họ bằng vũ lực; vì vậy, ông ta đã đánh vào tâm lý của người dân bằng Phật giáo
mà họ lâu nay sùng tín, bằng cách giả phong cho vị tổ sư thứ 4 của phái Tát Ca là Đạt Lạt Ma Tát-ca Ban-trí-đạ (Sakya Pandita) lên làm vua Tây Tạng để hòa hiếu và cố kết nhân tâm người Tạng Sau khi được phong vương, vị sư tổ đời thứ 4 đã phái Bạc–tư-
ba (sư trưởng đời thứ 5) của phái Lạt-ma giáo đi xứ Mông Cổ Sau sự kiện này, việc hợp nhất chính trị với tôn giáo đã được bắt đầu đặt nền móng ở Tây Tạng, đó là pháp vương kiêm luôn cả Tạng vương [17:257]
Thời nhà Minh vẫn giữ theo thông lệ phong chức như thời nhà Nguyên trước đây Năm 1406, vua Minh phong cho Hiệp Lập Ma (Ha lima) của phái Già Cử làm
“Đại Bảo pháp vương”; năm Vĩnh Lạc thứ 11 (1413) phong cho Côn Trạch Tư Ba làm “Đại Thừa pháp vương”; năm Tuyên Đức thứ 9 (1434) vua Minh Tuyên Tông phong cho đệ tử của Tông Khánh Ba là Thích Ca Dã làm “Đại Từ pháp vương” Sang thời nhà Thanh (Thanh Thế Tổ) là người sùng bái Hoàng giáo, nên có nhiều ưu đãi với đức Đạt Lai Lạt Ma Về sau triều đình nhà Thanh và các vị Lạt-ma có nhiều điều bất ổn, nội bộ lục đục dẫn đến tranh giành quyền lực không chỉ về vương quyền mà còn tranh giành cả về thần quyền
Năm Khang Hy thứ 19 (1720), nhà Thanh cử đại quân tiến vào Tây Tạng để bình định các cuộc nổi loạn, sau đó dùng hai vị cựu thần của Lạp Tạng Hãn là ông Khương Tề Nãi và Phả La Nãi rồi phân quyền cho họ, người coi chính quyền Tiền
Tạng, kẻ quán xuyến Hậu Tạng Năm 1727, giữa Tiền Tạng và Hậu Tạng xảy ra biến
loạn, do Phả La Nãi có công dẹp loạn nên về sau được phong chức quán xuyến cả Tiền lẫn Hậu Tạng Sau khi triều đình nhà Thanh xâm chiếm được toàn bộ lãnh thổ Tây Tạng thì không còn thực hiện chế độ phong tước Hãn và tước Vương cho Tây
Trang 33Tạng như trước đây nữa Lúc này, quyền lực của các vị Đại Lại Lạt Ma5 ngày càng được khuếch trương Theo lịch sử Phật giáo Tây Tạng, thì dòng Hoàng giáo đến nay
đã truyền được 14 vị sư tổ Đạt Lại Lạt Ma6 Thừa cơ nhà Thanh suy yếu ở chiến trường Tây Tạng, năm 1904, quân Anh đã đến xâm lược vùng cao nguyên Thanh-Tạng, vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 là Thổ Đan Gia Mục Thố (1876-1933) phải chạy đến Bắc Kinh cầu cứu nhưng không được nhà Thanh giúp đỡ Năm 1910, triều đình nhà Thanh cử Triệu Nhĩ Phong đem quân đến Tây Tạng để thiết lập quyền cai trị trực tiếp của triều đình và hạ chiếu phế bỏ Đại Lại Lạt Ma đời thứ 13 và sau đó vị sư tổ này phải chạy trốn sang Ấn Độ sống lưu vong
1.3 Đặc điểm của Phật giáo Tây Tạng
Trước khi Phật giáo Đại thừa Ấn Độ truyền vào Tây Tạng thì vùng đất này đã có Bôn giáo, với nhiều tập tục tín ngưỡng rất thịnh hành Phật giáo Tây Tạng tục xưng là Lạt-ma giáo, với hàm ý tự khẳng định bản sắc văn hóa tôn giáo riêng là không giống với Phật giáo ở các quốc gia khác Xét về lịch sử nguồn gốc Phật giáo mà nói, Phật giáo Tây Tạng thuộc Văn kỳ của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ và sau khi du nhập vào Tây Tạng thì nó phát triển độc lập Hình thức phát triển ở đây là sự kết hợp giữa Đại
nhiều sách báo tiếng Việt viết là Đạt Lai Lạt Ma nhưng không trích dẫn nguồn Trong luận văn của chúng tôi
sử dụng theo tài liệu của tác giả Trần Khánh Anh (Trung Quốc) mục tài liệu tham khảo[46] Đồng thời, trong luận văn khi viết đức Đạt Lại Lạt Ma (viết tắt Lạt Ma) có nghĩa là người đứng đầu lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng; khi viết Lạt-ma có nghĩa là những người xuất gia tu hành (tương đương với nhà sư ở Việt Nam)
- Đạt Lại Lạt Ma Căn Đôn Châu Ba (Gendun Drub, 1391-1475);
Đạt Lại Lạt Ma Căn Đôn Gia Mục Thố (Gendun Gyatso, 1543-1542);
- Đạt Lại Lạt Ma Tỏa Lãng Gia Mục Thố (Sonam Gyatso, 1543-1588);
- Đạt Lại Lạt Ma Vinh Đan Gia Mục Thố (Vonten Gyatso, 1589-1617);
- Đạt Lai Lạt Ma La Bốc Tạng Gia Mục Thố (Losang Gyatso, 1617-1682);
- Đạt Lại Lạt Ma Thương Ưng Gia Mục Thố (Jamyang Gyatso, 1683-1706);
- Đạt Lại Lạt Ma Cách Tang Gia Mục Thố (Kelsang Gyatso, 1708-1757);
- Đạt Lại Lạt Ma Khương Bạch Gia Mục Thố (Jampel Gyatso, 1758-1804);
- Đạt Lại Lạt Ma Long Đa Gia Mục Thố (Lungtong Gyatso, 1806-1815);
- Đạt Lại Lạt Ma Sở Xưng Gia Mục Thố (Tsultrim Gyatso, 1816-1837);
- Đạt Lại Lạt Ma Khải Châu Gia Mục Thố (Kedrub Gyatso, 1838-1856);
- Đạt Lại Lạt Ma Xưng Lặc Gia Mục Thố (Trinle Gyatso, 1856-1875);
- Đạt Lại Lạt Ma Thổ Đan Gia Mục Thố (Tubten Gyatso, 1876-1933);
- Đạt Lại Lạt Ma Đăng Châu Gia Mục Thố (Tenzin Gyatso, 1933- nay)
Nguồn: [Tài liệu tham khảo, 108]
Trang 34thừa Phật giáo Ấn Độ với tư tưởng tôn giáo bản địa là Bôn giáo để hình thành nên Phật giáo Tây Tạng ngày nay
Mật giáo được hưng thịnh từ khi thánh tăng Long Thọ vào Tây Tạng và kể từ thời gian này trở đi, Mật giáo Ấn-Tạng đan xen trộn lẫn với nhau Trong thực hành tôn giáo của Phật giáo Tây Tạng vừa có Hiển giáo vừa có Mật giáo Mật giáo là hình thức tu thiền, niệm chú không phát thành lời ra bên ngoài giống như Hiển giáo Phái
tu Mật giáo của người Tây Tạng có sự kết hợp hài hòa giữa Phật giáo Đại thừa với tín ngưỡng dân gian bản địa của cư dân sống trên cao nguyên Thanh- Tạng Đồng thời, Mật giáo Tây Tạng cũng có cách tân, cải biến phương pháp tu Mật tông của Phật giáo Đại thừa và có thêm cả sự giao thoa với với Phật giáo Tiểu thừa vùng Nepal và Đạo giáo Trung Hoa [51:27] Chính vì vậy, Phật giáo Tây Tạng đã kế thừa tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ để phát triển độc lập trở thành một tông phái riêng - Lạt-ma giáo Hiện nay, phép tu trì của các vị sư Lạt-ma Tây Tạng trở thành điểm hành hương của nhiều người trên thế giới muốn đến trải nghiệm về phương pháp tu luyện, hành trì và tham quan các công trình kiến trúc tôn giáo, đồ thờ, pháp khí, kinh Phật với nhiều nét linh thiêng và huyền bí Do tính chất thâm nghiêm, thần bí của phép tu Mật tông của các vị Lạt-ma Tây Tạng nên các nhà nghiên cứu phương Tây đến tìm hiểu Phật giáo Tây Tạng thì thấy các tín đồ rất tôn sùng đức Đạt Lại Lạt Ma nên họ gọi Phật giáo Tây Tạng là Lạt-ma giáo [67]
Lúc mới hình thành, Mật giáo mới chỉ đóng vai trò cơ sở nhưng đã được người Tạng đón nhận Về sau, đại sư A Để Hạp đề xướng Luật nghi và thành lập tăng đoàn, nhưng kết quả không mấy khả quan Đến thời đại sư Tông Khánh Ba với quyết tâm cải cách Phật giáo Tây Tạng nhằm loại bỏ các yếu tố mê tín mang tính “vu thuật” ra khỏi Phật giáo chính thống Sau khi thực hiện cải cách Phật giáo, các vị Lạt-ma của phái Hoàng giáo (phái trang phục màu vàng) tuân thủ Luật nghi của người Tỳ kheo; còn các vị Lạt ma của phái Hồng giáo (phái trang phục màu đỏ) thì vẫn “cố thủ” theo lối thực hành nghi lễ cũ, với quan niệm “vu thuật” là bản sắc văn hóa của “Bôn giáo”
và là đặc hữu của dân tộc Tây Tạng [64]
Trang 35Một đặc điểm khác nói về sự “tương thích” của Phật giáo Tây Tạng là sự “trộn lẫn” giữa giới luật của thuyết "Nhất thiết hữu bộ" với các phép tu của "Kim Cương thừa" và tiếp nhận thêm tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa, tạo thành nét văn hóa Phật giáo Tây Tạng mang tính riêng biệt với Phật giáo thế giới Điều này được thể hiện rõ là các cuốn kinh sách bằng tiếng Phạn của Ấn Độ được dịch sang ngôn ngữ Tạng để tiện cho việc tu tập và truyền giáo Vào thế kỷ VIII, theo lời mời của nhà vua Tùng Tán Can Bố (Songtsen Gampo), các sư ở Thiên Trúc (Tịch Hộ, Long Thọ) và các sư người Hán đến giảng kinh thuyết pháp tại Tây Tạng [43:266]
Đặc điểm Phật giáo Tây Tạng còn thể hiện ở tên gọi của người thực hành tôn giáo khác với Phật giáo các nước Người đứng đầu của Phật giáo Tây Tạng là đức
“Đạt Lại Lạt Ma”(Dalai lama) thuộc trường phái Cách Lỗ Họ xem Đạt Lại Lạt Ma là hiện thân của Quán Thế Âm Bồ tát Mỗi vị Lạt Ma được xem là sự tái sinh của vị Lạt-ma trước Người Tạng rất sùng bái các đức “Đạt Lại Lạt Ma” như “Phật sống”
Từ “Đạt Lại” có nguồn gốc từ tiếng Mông Cổ, nghĩa là “trí tuệ như biển cả”, còn từ
“Lạt Ma” là tư tiếng của Tây Tạng, được dịch từ tiếng Phạn là Gunu, là từ xưng hô dành cho cho các vị đạo sư/sư phụ Đạt Lai Lạt Ma có nghĩa là vị “Đạo sư có trí tuệ như biển cả” Danh hiệu này do nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách Lỗ vào năm 1578 Kể từ năm 1617, Đạt Lai Lạt Ma thứ
5 trở thành người lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng [34:192]
Danh từ tên gọi Lạt-ma là do chữ Hán dịch từ ngữ âm Bla-ma của chữ Tạng mà
ra Đây là một phức hợp từ; nguyên nghĩa của chữ Bla có nghĩa là “thượng” (trên) và chữ ma có nghĩa là “nhân” (người); và cả hai từ này ghép lại (Lạt-ma) có nghĩa là
“thượng nhân” (người trên) Thượng nhân vốn là tiếng dùng để tôn xưng các vị đại đệ
tử cao đức của Phật Danh xưng Lạt-ma có nghĩa là người đứng đầu của một tôn giáo hay tương đương với từ Cổ lỗ (Guru) trong Ấn Độ giáo, tức là “sư tượng”- bậc thầy/đạo sư/sư phụ Phật giáo Tây Tạng gọi Lạt- ma cũng như Phật giáo Trung Quốc, Việt Nam gọi là Hòa thượng Hòa thượng vốn là cách người Ấn Độ tôn xưng cũng có nghĩa là “sư” (thầy) và đây cũng không phải là từ dùng riêng cho Phật giáo Sự khác
Trang 36biệt cơ bản giữa Phật giáo Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc, các vị sư ni (sư nữ) không gọi là Hòa thượng mà chỉ được gọi là ni trưởng hay sư thầy7
Trong kho tàng văn hóa Phật giáo Tây Tạng, ngoài mang nhiều tính biểu tượng (kiến trúc, mỹ thuật trang trí, tượng pháp, pháp khí, nhạc khí, đồ thờ, kinh sách), còn
có tính thâm nguyên của phương thức tu luyện Mật tông kết hợp với việc sử dụng bài trí đàn lễ Man-đà la thông qua nghi lễ “quán đỉnh”8 Mật tông là một loại giáo pháp được các sư thầy truyền cho đệ tử không phải bằng sách vở mà bằng cách hành trì, niệm chú là chủ yếu Với đặc tính tu tập, hành trì như trên nên tông phái Mật tông không được truyền bá rộng rãi tới công chúng giống như các tông phái khác trong đạo Phật Theo Đại đức Thích Minh Thanh (chùa Khúc Thủy) giải thích: Trong thực hành nghi lễ Mật tông, các vị Lạt-ma Tây Tạng rất coi trọng nhạc khí nghi lễ (kèn, trống) và chày Kim cương Với các sư thuộc phái Mật tông ở Việt Nam thì lại coi trọng việc dùng chuông, mõ trong hành trì tụng niệm đọc kinh sách hay khi cử hành nghi lễ9
Về mặt tư tưởng, các vị Lạt-ma Tây Tạng thường dùng luận tạng của A-tỳ-đạt-
ma kết hợp với giáo lý Phật giáo Đại thừa của môn phái Long Thọ và Vô Trước; trong đó lấy phái Long Thọ và Vô Trước làm pháp môn (giáo lý, học thuyết, chính pháp) nhằm đề cao tư tưởng triết lý của “Trung đạo tông” Tư tưởng của pháp môn tông phái này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đạo Phật tại Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản, Việt Nam [34:96] Ngoài ra, các sư Lạt-ma Tây Tạng còn vận dụng cả Nhân Minh học (tức logic học/lý luận học) của tư tưởng Phật giáo Đại thừa
để luận giải các vấn đề có tính căn bản của giáo luận Phật học
Về cách phân chia tông phái và chi phái của Phật giáo Tây Tạng cũng rất khác với Phật giáo các nước Phật giáo Tây Tạng có nhiều tông phái và mỗi tông phái lại
có nhiều chi tông phái nhỏ, ví dụ tông phái Cam Đan chia làm hai phái là Ninh Mã phái và Cam Đan phái; trong đó, phái Ninh Mã lại chia thành 5 phái Với phái Ninh
Liêm, Hà Nội), ngày 10/2/2014
xoa đầu, niệm chú
Trang 37Mã tu theo Mật thừa do Ngài Long Thọ truyền bá và được xếp vào Phật giáo Tiền truyền Về sau, tông phái này chia thành hai tông phái là Hiển thừa và Mật thừa Hiển thừa là ứng thân Phật Thích Ca Mầu Ni và ba vị Bồ tát là Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát; Mật thừa chia thành “ngoại đạo mật” (có báo thân Phật) và “nội đạo mật” (có Pháp thân Phật Phổ hiền sở thuyết), sau đó lại chia ra nhiều tiểu chi phái khác nữa [17:124-128] Đứng đầu của mỗi tông phái hay chi phái là một vị sư trưởng của ban thiền Lạt-ma Ở Tây Tạng có một số tông phái tiêu biểu là phái Cam Đan, Ninh Mãn,
Ca Nhĩ Cư, Hy Giải, Tước Nam, Tát Ca phái,…; trong đó có bốn phái lớn là Hồng giáo, Hoàng giáo, Bạch giáo và Hắc giáo
Phật giáo Tây Tạng có thuật ngữ riêng về tên gọi để phân biệt giữa Phật giáo nguyên thủy với Phật giáo Ấn Độ, cụ thể là người Tạng gọi Bôn giáo là “tôn giáo chính thống” hoặc “tôn giáo một đạo” để phân biệt với tôn giáo du nhập từ Ấn Độ vào Trong đời sống thường nhật, người Tạng luôn coi Phật giáo là sinh mệnh của dân tộc, từ đó nó hình thành nên các sắc tộc tôn giáo riêng [58:17] Về mặt cá nhân, mỗi người tự chọn cho mình một vị Lạt-ma làm thầy để “Quy y Tứ bảo” và tuyệt đối kính trọng suốt đời10 Về phương diện xã hội, đối với tổ chức đoàn thể Lạt-ma, họ luôn giữ thái độ tuyệt đối tôn kính các vị Lạt-ma Trong sinh hoạt thường nhật, từ chuyện sinh con, cưới xin, tang ma, đi xa ; tất cả người Tạng đều nhờ các vị Lạt-ma cầu khấn, xem bói rồi mới bắt tay làm
Quan niệm của các vị Lạt-ma Tây Tạng là không ăn chay mà ăn mặn Điều này khác với một số tông phái Phật giáo Đại thừa của Trung Quốc là có quy định ăn chay Trong kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới của Phật giáo Trung Quốc, ở điều giới luật thứ 3 quy định: Tất cả các thứ thịt đều không được ăn, vì ăn thịt sẽ làm tổn hại chủng tử từ
bi Nếu ăn thịt tất cả các loài chúng sinh sẽ mắc nhiều tội Phật giáo Tây Tạng thì lại quan niệm khác, họ cho rằng người tu hành ăn thịt chúng sinh là kết duyên với chúng sinh; ăn thịt chúng sinh để mà tu trì Phật pháp và ăn thịt chúng sinh thì trí tuệ của chúng mới được siêu thóat [58:29] Vì vậy, ăn thịt không có mắc tội gì cả, miễn là các
của kinh tạng), quy y tăng (y theo lời của tăng ni dạy), quy y thầy (nghe theo lời thầy chỉ bảo và phụng sự thầy suốt đời) Phật giáo Việt Nam có nghi thức “Quy y tam bảo”, gồm: Quy y Phật (y theo lời Phật dạy), quy y pháp (y theo kinh sách) và quy y tăng (y theo lời các sư dạy)
Trang 38vị tăng sư không được trực tiếp giết mổ các loài gia súc, gia cầm Một luận giải khác cho ý niệm ăn mặn của các vị Lạt-ma Tây Tạng là phải ăn thịt loại các con vật to để nhiều người cùng ăn sẽ giảm hạn chế được số lượng sát sinh và đồng thời cũng cấm các vị Lạt-ma ăn thịt các con vật nhỏ, như: tôm, cá, tép…, vì một người có thể ăn nhiều con vật trong một bữa ăn sẽ dẫn đến sát sinh nhiều hơn là ăn thịt các con vật lớn [62:41]
Từ quan niệm đa chiều nêu trên, các vị Lạt-ma Tây Tạng đã chế định ra giới luật
là tất cả các vị sư cũng như dân thường cấm được ăn thịt các con vật nhỏ; nhất là các loài thủy sản [64] Theo nhà nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng Tùng Thanh Hoa giải thích: Ở Tây Tạng tuy có nhiều thực vật nhưng chủng loại không nhiều và khí hậu rất lạnh Do vậy, nếu không ăn thịt không thể giữ được sự khoẻ Trước đây, khi Phật giáo Ấn Độ chưa du nhập vào Tây Tạng thì người dân nơi đây cũng đã có tập quán chăn nuôi và ăn thịt các loại gia súc to lớn và chỉ sau khi Phật giáo Ấn Độ truyền vào thì quan niệm “sát sinh” là một tội ác mới xuất hiện trong văn hóa người Tạng11 Hiện nay, các vị Lạt-ma Tây Tạng có quan niệm riêng của mình là họ vẫn ăn thịt nhưng không thực hiện sát sinh, bằng cách là ra chợ mua thịt và người giết mổ sẽ là người bị coi là “sát sinh” và tự chịu hậu quả [60]
tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), nhân chuyến sang thăm và làm việc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, từ ngày 23-28/12/2012
Trang 39Tiểu kết
Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ, rồi truyền vào Tây Tạng từ giữa thế kỷ VII, nhưng phải mãi đến gần cuối thế kỷ VIII, thời vua Tạng là Ngật Lật Song Đề Tán (755-797) mới hình thành Phật giáo Mật tông Tây Tạng rõ nét với hệ phái Mật giáo Đại thừa của ngài Liên Hoa Sinh truyền nhập Sau khi Mật giáo Ấn Độ truyền vào Tây Tạng
đã nhanh chóng hòa đồng với tín ngưỡng bản địa là Bôn giáo Bản chất của tín ngưỡng Bôn giáo là thờ “đa thần” với yếu tố sùng bái bùa chú và “vu thuật” nổi trội Người có công hoằng dương Phật giáo Đại thừa Ấn Độ để tồn tại và phát triển ở Tây Tạng là ngài Liên Hoa Sinh và thánh tăng Long Thọ cùng các đệ tử hai Ngài đã biết dung hòa giữa Ấn Độ giáo với Bôn giáo để tạo ra một hệ phái Phật giáo mới là Mật tông Tây Tạng, nó đáp ứng được nhu cầu của người dân nên nó được tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay Ngược lại, với hệ phái Tiểu thừa của Ấn Độ và hệ phái Đại thừa của Phật giáo Trung Hòa cũng đã từng truyền bá đến Tây Tạng, nhưng không lâu thì đã bị suy vong, bởi tư tưởng của hai hệ phái này không “dung hòa” được với tín ngưỡng của Bôn giáo
Phật giáo Tây Tạng có nhiều đặc điểm khác biệt với Phật giáo Trung Hoa và các nước, như: cách chia tông phái, trang phục hành lễ, nhạc khí nghi lễ, danh xưng; quan niệm ăn chay, “Quy y tứ bảo” Đặc biệt, trong quá trình cử hành nghi lễ và tu tập, Phật giáo Tây Tạng thường biểu hiện nghi thức Mật tông kết hợp với việc sử dụng bài trí đàn lễ Man-đà la (tu thiền, quán tưởng, quán đỉnh, niệm chú, bắt quyết) để đạt được mục đích, hướng tới sự giải thoát, niết bàn, an lạc
Từ năm 1950 trở về trước, Phật giáo Tây Tạng do đức Đạt Lại Lạt Ma lãnh đạo, điều hành và nắm giữ về mặt chính quyền và tôn giáo Từ sau năm 1950 đến nay, nhà nước Trung Quốc trực tiếp lãnh đạo và quản lý; từ đó nó đã làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo của vùng đất cao nguyên này so với trước đây
Trang 40Đồng thời, Phật giáo Tây Tạng không chỉ góp phần làm tăng thêm sự đa dạng văn hóa trong kho tàng di sản văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc mà còn
là nơi “trung chuyển” văn hóa của Châu Á vào Trung Hoa và ngược lại
Chương 2 NHÀ NƯỚC TRUNG QUỐC VỚI PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
TỪ NĂM 1949 ĐẾN NAY
2.1 Quan hệ giữa Nhà nước Trung Quốc với Phật giáo Tây Tạng từ năm
1949 đến năm 1959
Ở Trung Quốc, Phật giáo Tây Tạng là một lĩnh vực không chỉ thuộc về chính trị
tư tưởng, mà còn trở thành văn hóa tộc người hiện đang rất nhạy cảm ở khu tự trị Tây Tạng Năm 1949, nhà nước Trung Hoa dân quốc được thành lập và ngay sau đó đã tiến hành một loạt các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội; trong đó có chinh sách về dân tộc và tôn giáo Ở giai đoạn này, nhà nước dựa trên nền tảng vận dụng lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với tình hình thực tế của đất nước lúc bấy giờ Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đối với vấn đề mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo Quốc Vụ viện xây dựng một số chủ trương, chính sách để tạo điều kiện cho mỗi công dân có quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng tôn giáo của mình; các tôn giáo đều có quyền bình đẳng và không bài xích chống đối; người theo đạo và người không theo đạo phải tôn trọng lẫn nhau Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân Trung Quốc được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do tín tôn giáo” Tại điều 36 của Hiến pháp ghi: “Không một cơ quan nhà nước, một đoàn thể hay cá nhân nào có thể buộc các công dân tin hoặc không tin bất kỳ tôn giáo nào; hoặc phân biệt đối xử đối với những công dân theo hoặc không theo bất kỳ một tôn giáo nào” [89] Hơn nữa, “nhà nước bảo vệ những hoạt động tôn giáo bình thường”,
và “không ai được lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hoạt động gây rối trật tự công cộng, gây tổn hại đến sức khỏe của công dân hoặc can thiệp vào hệ thống giáo dục