ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ HÀ NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU RA VÀ ĐẦU VÀO PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU RA VÀ ĐẦU VÀO PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC R&D THUỘC LĨNH VỰC KHXH&NV TRONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU RA VÀ ĐẦU VÀO PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC R&D THUỘC LĨNH VỰC KHXH&NV TRONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Ngọc Luật
Hà Nội, 2014
Trang 32
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do nghiên cứu 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Mẫu khảo sát 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 13
9 Kết cấu của Luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐƯỢC 14
SỬ DỤNG CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁC TỔ CHỨC R&D 14
1.1 Tìm hiểu một số khái niệm 14
1.1.1 Lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn 14
1.1.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê khoa học và công nghệ 16
1.1.3 Chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào 17
1.1.4 Chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu ra 20
1.1.5 Đánh giá tổ chức KH&CN 21
1.2 Đặc trưng cơ bản của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học 23
1.3 Vai trò của các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra đối với việc đánh giá hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học 27
*Kết luận Chương 1 29
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA ĐƯỢC SỬ DỤNG CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC R&D THUỘC LĨNH VỰC KHXH&NV TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 30
2.1 Hiện trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê này được sử dụng trên thế giới 30
Trang 42.1.1 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng tại Hoa Kỳ 31
2.1.2 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng tại CHLB Đức 31
2.1.3 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng tại Nhật Bản 34
2.1.4 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng tại Nam Phi 35
2.1.5 Đánh giá chung về các chỉ tiêu thống kê sử dụng cho công tác đánh giá của các nước trên thế giới 36
2.2 Hiện trạng các chỉ tiêu thống kê này được sử dụng ở Việt Nam 38
2.2.1 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam 38
2.2.2 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng trong các nghiên cứu thực tế ở Việt Nam 45
2.2.2.1 Tổng điều tra R&D trên cả nước năm 2012 45
2.2.2.2 Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Nghiên cứu phương pháp tiếp cận đánh giá tổ chức KH&CN và đề xuất phương án đánh giá phù hợp với Việt Nam“ 47
2.2.2.3 Nhiệm vụ “Thống kê các tổ chức và nhân lực KH&CN trên toàn quốc năm 2008” 50
2.2.2.4 Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN theo Nghị định thư với CHLB Đức “Nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của CHLB Đức để nâng cao năng lực đánh giá các tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam”- viết tắt là EVACAP 51
2.3 Luận giải nhu cầu cần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam 55
*Kết luận Chương 2 57
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁC TỔ CHỨC R&D THUỘC LĨNH VỰC KHXH&NV TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 58
3.1 Những yêu cầu cơ bản về các chỉ tiêu thống kê này 58
3.2 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào được đề xuất 62
3.2.1 Nhóm chỉ tiêu về chiến lược và quản lý chiến lược của tổ chức 62
3.2.2 Nhóm chỉ tiêu về nhân lực 66
3.2.3 Nhóm chỉ tiêu thống kê về tài chính 67
3.2 4 Nhóm chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng 69
3.3 Các chỉ tiêu thống kê đầu ra được đề xuất 70
3.3.1 Nhóm chỉ tiêu về năng lực và kết quả NCKH 70
Trang 54
3.3.2 Nhóm chỉ tiêu về dịch vụ 72
3.3.3 Nhóm chỉ tiêu về hợp tác trong và ngoài nước 73
3.3.4 Nhóm chỉ tiêu về giáo dục và đào tạo 75
3.3.5 Kết quả khác: 75
* Kết luận Chương 3: 75
KẾT LUẬN 77
KHUYẾN NGHỊ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Phụ luc 1: Phiếu điều tra thông tin về hoạt động của các tổ chức KH&CN 83
Phụ lục 2 Danh sách tổ chức R&D gửi phiếu điều tra thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học 89
Phụ lục 3 Phiếu điều tra thông tin sâu về hoạt động của các tổ chức 91
Phụ lục 4 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam 111
Trang 6Tác giả xin cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa, chủ nhiệm Bộ môn Quản lý KH&CN, các thầy cô giáo của Khoa Khoa học quản lý, trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, truyền dạy các kiến thức quý báu và kinh nghiệm nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thành tốt Luận văn cao học của mình
Tác giả xin cảm ơn các tổ chức KH&CN đã tham gia trả lời khảo sát, các tác giả có công trình nghiên cứu được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong Luận văn, các chuyên gia KH&CN đã có những góp ý quý báu cho tác giả trong quá trình hoàn thành Luận văn
Tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn luôn cổ vũ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành Luận văn cao học
Cuối cùng, lời cảm ơn sâu sắc nhất, tác giả xin được gửi tới TS Hồ Ngọc Luật, Vụ trưởng Vụ Phát triển KH&CN Địa phương, Bộ Khoa học và Công nghệ Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn, góp ý tận tình cho tác giả trong quá trình hoàn thiện Luận văn
Trang 76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
OECD Organization for economic
cooperation and development
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
R&D Research and development Nghiên cứu và triển khai
UNESCO United Nations
Educational, Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Do sự phát triển nhanh chóng và năng động của nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia và các tổ chức quốc tế, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đã nhận thức được vai trò quan trọng của KH&CN; đồng thời tăng cường quan tâm hơn đến xây dựng chiến lược và chính sách phát triển KH&CN Những chiến lược và chính sách như vậy cần phải được hình thành và phát triển trên
cơ sở nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các nguồn lực như: nhân lực, tài chính, vốn, thông tin, những vấn đề sử dụng và chuyển giao tri thức, tác động của KH&CN từ các khía cạnh kinh tế, xã hội, văn hóa,… Tất cả những vấn đề trên cần được nghiên cứu, nhận dạng và đánh giá dựa trên nền tảng những số liệu thống kê KH&CN đầy đủ, tin cậy và chính xác
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của hoạt động thống kê đối với quá trình quản lý và phát triển KH&CN lên một tầm cao mới, Chính phủ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu quốc gia, trong đó có nêu rõ các chỉ tiêu thống kê KH&CN Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành cụ thể các chỉ tiêu thống kê đầu vào, đầu ra của các tổ chức KH&CN nói chung Tuy nhiên, các chỉ tiêu này mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa có các chỉ tiêu thống kê cụ thể, tách biệt cho từng lĩnh vực nghiên cứu Trong khi đó, việc thu thập dữ liệu theo các chỉ tiêu thống kê về các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHTN sẽ dễ dàng cụ thể hóa bằng con số hơn là các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV do đặc thù nghiên cứu của từng lĩnh vực khác nhau Chính
vì vậy, cần thiết phải có một hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra cho từng lĩnh vực nghiên cứu để có thể thu thập số liệu được chính xác và đầy đủ nhất Trên cơ sở số liệu thu được từ hoạt động thống kê, chúng ta có thể tiến hành đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D Công tác đánh giá này có thể được tiến hành theo hai cách: tự đánh giá (đánh giá nội bộ, tổ chức tự đánh giá); đánh giá từ bên ngoài (được tiến hành bởi các chuyên gia đánh giá/hội đồng đánh giá) Việc tổ chức tự tiến hành đánh giá cần phải dựa trên các chỉ
Trang 98
tiêu thống kê KH&CN đầu vào và đầu ra Công tác đánh giá này còn được gọi
là “đánh giá trong” Đánh giá này thường được tiến hành định kỳ hàng năm hoặc 2 năm/lần Công tác đánh giá này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
tổ chức, nó giúp cho các nhà lãnh đạo, nhà quản lý biết được kết quả hoạt động của tổ chức mình đã tốt chưa, từ đó kịp thời đưa ra biện pháp khắc phục những hạn chế hoặc điều chỉnh kế hoạch hoạt động cho phù hợp với yêu cầu công việc
Từ ý nghĩa thực tiễn này, tác giả nhận thấy cần thiết phải “Nghiên cứu
hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong trường đại học ở Việt Nam” Khi bắt đầu có ý tưởng nghiên cứu
này, tác giả đề xuất là “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu…”, tuy nhiên, qua quá
trình nghiên cứu tài liệu, tác giả đã nhận thấy các chỉ tiêu này cũng đã được
đề cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật Các chỉ tiêu này còn chưa đầy đủ, hoặc còn rời rạc, hoặc là chung chung, chứ chưa được hệ thống lại đầy đủ thành một hệ thống chỉ tiêu đầu vào và đầu ra của các tổ chức R&D thuộc riêng lĩnh vực KHXH&NV Cho nên, tác giả chỉ đề xuất và thực hiện
nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu…” Ngoài ra, với năng lực và thời
gian nghiên cứu có hạn, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong các trường đại học chứ không nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu này cho toàn bộ các tổ chức R&D nói chung
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, công tác thống kê KH&CN đã được nhiều tổ chức quốc tế
và các nước có nền kinh tế phát triển quan tâm, nghiên cứu và phát triển các
hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN, biên soạn các tài liệu hướng dẫn phương pháp luận giúp tạo các hệ thống chỉ tiêu thống kê một cách có hệ thống, có khả năng so sánh quốc tế, tổ chức thu thập và xử lý số liệu thống kê KH&CN phục vụ công tác đánh giá tổ chức KH&CN Chẳng hạn như, tại Hoa KTrầnỳ,
Trang 10Chính phủ Liên bang đã ban hành đạo luật về kết quả và thực hiện của Chính phủ (GPRA) để đánh giá các chương trình khoa học cơ bản Trong đó có nêu
cụ thể các chỉ tiêu đầu vào, chỉ tiêu đầu ra, chỉ tiêu về kết quả, các chỉ tiêu đánh giá tác động
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về thống kê KH&CN, trong số đó, có hai tác giả có công trình nghiên cứu nổi bật về chỉ tiêu thống
kê đầu vào và đầu ra được dùng trong đánh giá các tổ chức R&D, đó là tác giả
Vũ Cao Đàm với tác phẩm “Đánh giá nghiên cứu khoa học” và tác giả Trần Chí Đức với tác phẩm “Phương pháp luận đánh giá các tổ chức R&D và
những gợi suy trong điều kiện của Việt Nam” Trong tác phẩm “Đánh giá nghiên cứu khoa học”, tác giả Vũ Cao Đàm đã trình bày tổng quan các nghiên
cứu về đánh giá hoạt động khoa học tại Chương II; đánh giá các yếu tố đầu vào của hoạt động khoa học tại Chương VI; đánh giá các yếu tố đầu ra của
hoạt động khoa học tại chương VII Trong tác phẩm “Phương pháp luận đánh
giá các tổ chức R&D và những gợi suy trong điều kiện của Việt Nam”, tác giả
Trần Chí Đức đã trình bày tổng quan về đánh giá KH&CN; tổng quan về đánh giá các tổ chức R&D; phương pháp đánh giá các tổ chức R&D ở Việt Nam
Trong một số đề tài, dự án ở Việt Nam khi nghiên cứu về đánh giá các tổ chức KH&CN cũng đã có sử dụng các chỉ tiêu thống kê để thu thập dữ liệu, làm cơ sở cho nghiên cứu đánh giá của mình Một số đề tài, dự án như: đề tài
“Nghiên cứu phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh năm 2009”, kết quả đưa ra phương pháp
luận để xây dựng và phát triển hệ thống các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt
Nam; đề tài “Xây dựng quy chế đánh giá phòng thí nghiệm trọng điểm”; đề tài “Nghiên cứu phương pháp tiếp cận đánh giá tổ chức KH&CN và đề xuất
các phương án đánh giá phù hợp với Việt Nam năm 2011”, kết quả đưa ra
được phương pháp luận đánh giá hoạt động của các tổ chức KH&CN; đề tài
“Nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức để nâng cao
Trang 1110
năng lực đánh giá các tổ chức và hoạt động KH&CN ở Việt Nam”, kết quả ra
sách hướng dẫn đánh giá tổ chức KH&CN; đề tài “Nghiên cứu phương pháp
đánh giá năng lực đổi mới trong các viện nghiên cứu và phát triển đa ngành
ở lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật – công nghệ”, kết quả sẽ là phương
pháp luận đánh giá năng lực đổi mới trong các viện đa ngành
Mặc dù các nghiên cứu trên có đưa ra một số chỉ tiêu thống kê đầu vào
và đầu ra sử dụng trong công tác đánh giá các tổ chức KH&CN, nhưng các chỉ tiêu này còn mang tính khái quát hoặc sơ sài, không phản ánh hết được kết quả hoạt động của tổ chức Hơn nữa, các chỉ tiêu này mới chỉ là chỉ tiêu chung chứ chưa có chỉ tiêu thống kê cụ thể phục vụ công tác đánh giá riêng cho các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chính
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích hiện trạng các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra nhằm phục
vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong các trường đại học: thực tế ở Việt Nam và kinh nghiệm trên thế giới;
- Luận giải nhu cầu cần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam;
- Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục
vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam
Trang 124 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục
vụ đánh giá hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học;
- Phạm vi không gian: Tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam;
- Phạm vi thời gian: 2006 - 2012
5 Mẫu khảo sát
Các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong các trường đại học: Đại học An Giang, Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN, Đại học KHXH&NV, ĐHQGTPHCM, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Đại học nông nghiệp Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
6 Câu hỏi nghiên cứu
Hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra nhằm phục vụ công tác đánh giá hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học được hoàn thiện như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống chỉ tiêu thống kê này được hoàn thiện thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để bổ sung thêm các chỉ tiêu thống kê cần thiết, phản ánh được chính xác kết quả hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam Các chỉ tiêu được bổ sung để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê này gồm có:
7.1 Chỉ tiêu thống kê đầu vào gồm những chỉ tiêu:
Trang 1312
- Nhóm chỉ tiêu về chiến lược và quản lý chiến lược của tổ chức Nhóm
chỉ tiêu này nhằm đánh giá năng lực nhận biết chức năng, nhiệm vụ của tổ chức R&D, khả năng lập kế hoạch, nhận biết các nhiệm vụ ưu tiên, dự kiến các nguồn lực để hoàn thành nhiệm vụ và xác định được sản phẩm cần đạt được của tổ chức
- Nhóm chỉ tiêu về nhân lực Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá chất
lượng của đội ngũ cán bộ bao gồm kinh nghiệm, trình độ và năng lực chuyên môn về NCKH, năng lực cần thiết để chuyển giao kỹ năng quản lý và giảng dạy
- Nhóm các chỉ tiêu thống kê về tài chính Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh
giá năng lực tài chính của tổ chức
- Nhóm các chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá
các điều kiện cơ sở hạ tầng cần thiết hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động NCKH
7.2 Chỉ tiêu thống kê đầu ra gồm những chỉ tiêu:
- Nhóm chỉ tiêu về năng lực và kết quả NCKH Nhóm chỉ tiêu này nhằm
đánh giá sự thành công trong hoạt động NCKH của tổ chức, thể hiện ở số lượng các công bố khoa học trong và ngoài nước, các kết quả NCKH được sử dụng để hoạch định đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước
- Nhóm chỉ tiêu về dịch vụ Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá năng lực
tạo ra giá trị cho xã hội từ các hoạt động KH&CN của tổ chức
- Nhóm chỉ tiêu về hợp tác trong và ngoài nước Nhóm chỉ tiêu này
nhằm đánh giá năng lực hợp tác KH&CN của tổ chức với các chuyên gia và các tổ chức nghiên cứu hàng đầu trong nước và quốc tế
- Nhóm chỉ tiêu về giáo dục và đào tạo Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh
giá kết quả giáo dục và đào tạo của tổ chức
- Kết quả khác
Trang 148 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: tác giả đã nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: tác giả gửi các phiếu điều tra, khảo sát tới các đối tượng khảo sát để lấy thông tin, dữ liệu phân tích cho đề tài
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Ngoài các phương pháp trên, tác giả còn tiến hành xin ý kiến các chuyên gia trong và ngoài nước có nhiều nghiên cứu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
9 Kết cấu của Luận văn
Luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐƯỢC
SỬ DỤNG CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁC TỔ CHỨC R&D
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA ĐƯỢC SỬ DỤNG CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC R&D THUỘC LĨNH VỰC KHXH&NV TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC R&D THUỘC LĨNH VỰC KHXH&NV TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Trang 1514
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐƯỢC
SỬ DỤNG CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁC TỔ CHỨC R&D 1.1 Tìm hiểu một số khái niệm
1.1.1 Lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Khoa học xã hội và nhân văn đặt trọng tâm nghiên cứu vào tổng kết thực tiễn, đi sâu vào những vấn đề lớn của đất nước, khu vực và toàn cầu, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát huy nhân tố con người và văn hoá quốc gia Trong lời mở đầu Báo cáo về khoa học xã hội thế giới năm 2010, bà Irina Bokova, Tổng thư ký UNESCO đã nhận định rằng KHXH&NV là một công cụ vô giá
để thúc đẩy sự đồng thuận quốc tế về những mục tiêu phát triển, nhằm đáp ứng những thách thức có tính chất toàn cầu và nâng cao chất lượng sống của con người Những thông tin và tri thức mà KHXH&NV tạo ra - con người tương tác với nhau và với môi trường như thế nào - có vai trò to lớn trong việc xây dựng chính sách và những chính sách có hiệu quả chắc chắn sẽ định hình một thế giới tốt hơn cho tất cả chúng ta1
Bản chất của nghiên cứu KHXH&NV là hoạt động tìm kiếm sự thật, nhằm đóng góp cho tri thức sẵn có, tìm ra tri thức mới, hoặc ứng dụng vào một vấn đề cụ thể liên quan tới hoạt động và tương tác với con người Việc tìm kiếm sự thật là sự tìm kiếm hoặc nghiên cứu một nhóm sự vật, sự kiện hoặc thông tin Trong KHXH&NV, việc tìm kiếm sự thật thường có nghĩa là quá trình áp dụng một phương pháp khoa học vào các câu hỏi xã hội Phương pháp khoa học là một bộ những nguyên tắc và quy trình mà các nhà khoa học
xã hội dùng để nghiên cứu các hiện tượng, tạo ra tri thức mới, hoặc chỉnh sửa
và bổ sung tri thức đã có2
1 http://lypham.net/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=245&Itemid=2, Phạm Thị Ly
(2011), Đánh giá khoa học qua định lượng ấn phẩm: những xu hướng mới trên thế giới trong đánh giá khoa học
xã hội, nghệ thuật và nhân văn
2 http://www.wmich.edu/evalphd/wp-content/uploads/2010/05/Chapter_One2.pdf, What is Social Science Research and Why would we want to evaluate it?
Trang 16Các nhà KHXH&NV mong muốn nghiên cứu hành động và tương tác của con người một cách có hệ thống, chặt chẽ, dựa vào bằng chứng, có tính khái quát hóa, có thể áp dụng rộng rãi và có tính tích lũy Các loại nghiên cứu KHXH&NV được thực hiện trong một phạm vi ngành rộng lớn, bao gồm nhân chủng học, kinh tế học, sức khỏe, khoa học chính trị, tâm lý học và xã
hội học Theo Nutron và Schuh (1981) “Sợi chỉ xuyên suốt trong hầu hết các
loại hình NCKH xã hội đó là đầu ra của chúng là thông tin hơn là các sản phẩm mới hoặc được cải tiến” [21;249]
Các dạng kết quả chính của những công trình nghiên cứu KHXH&NV là:
- Tạo ra tri thức: thông qua các ấn phẩm khoa học, thể hiện ở số bài báo
đã đăng hoặc được chấp nhận đăng ở tạp chí trong nước, tạp chí nước ngoài;
các báo cáo; chương sách, sách, phần mềm, bản quyền
- Xây dựng năng lực nghiên cứu: thông qua việc đào tạo sau đại học và
phát triển nghề nghiệp, thể hiện ở số cán bộ tham gia thực hiện đề tài; số cán
bộ được đào tạo trong khuôn khổ đề tài
- Phát triển sản phẩm hoặc chính sách: cung cấp đầu vào để xây dựng
các văn bản chính sách, thể hiện ở số lượng văn bản về luật, chính sách, quy định, nguyên tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn,… mới được xây dựng từ kết quả của
đề tài; số lượng trích dẫn kết quả nghiên cứu vào các văn bản luật, chính sách,… và phục vụ cho các cuộc thảo luận ở các ủy ban, hội đồng cấp địa
phương/hoặc cấp quốc gia
- Lợi ích cho các tổ chức: tác động đối với các nhóm khách hàng cụ thể,
thể hiện ở việc cung cấp hành hóa công (các mô hình, phương pháp mới; cơ
sở dữ liệu; các chương trình đào tạo mới được xây dựng từ đề tài,…) các dịch
vụ, tư vấn cho các tổ chức, cá nhân
- Các lợi ích xã hội rộng lớn: thể hiện ở các tác động từ kết quả của
NCKH xã hội đem lại, nâng cao tri thức và hiểu biết xã hội, tạo việc làm, cải
Trang 1716
thiện điều kiện làm viêc, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống, khuyến
khích cách tiếp cận mới đối với những vấn đề xã hội,…
1.1.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê khoa học và công nghệ
Theo Luật thống kê, “chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số
của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể” [24;
điều 3] Chỉ tiêu thống kê được thực hiện bằng những trị số cụ thể khác nhau tùy theo điều kiện thời gian và không gian, đơn vị đo lường và phương pháp tính Theo nội dung phản ánh, chỉ tiêu thống kê có thể chia thành:
- Chỉ tiêu khối lượng: phản ánh qui mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu (trong một số tài liệu có thể gọi đó là chỉ tiêu định lượng)
- Chỉ tiêu chất lượng: phản ánh đặc điểm về mặt chất của hiện tượng nghiên cứu (trong một số tài liệu có thể gọi đó là chỉ tiêu định tính)
Ngoài ra, người ta có thể chia chỉ tiêu thống kê thành: chỉ tiêu thống kê đầu vào; chỉ tiêu thống kê đầu ra; chỉ tiêu thống kê kết quả; chỉ tiêu thống kê tác động
Trong hoạt động KH&CN, để xác định được những loại chỉ tiêu thống
kê KH&CN, cần hiểu được cấu trúc cơ bản của hoạt động KH&CN Nói chung, có thể thấy, trước hết hoạt động KH&CN đòi hỏi phải có kinh phí (tiền), như vậy chắc chắn có cơ quan cấp kinh phí (cấp nguồn lực hoạt động) Tiếp đó chắc chắn có tổ chức, đơn vị thực hiện hoạt động KH&CN Từ đây có thể thấy cần phải có thông tin để biết ai cấp kinh phí, cấp bao nhiêu, ai thực hiện, chi tiêu thế nào
Người ta cho rằng có hai tập hợp số liệu được tập trung nghiên cứu để đo lường hoạt động KH&CN Hai tập hợp các chỉ tiêu đó là: Những chỉ tiêu thống kê đầu vào; Những chỉ tiêu thống kê đầu ra Những chỉ tiêu thống kê kết quả và tác động còn chưa nhiều
Các chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu được sử dụng trong việc:
Trang 18- Ra Quyết định/chính sách: Chính phủ và các doanh nghiệp phải theo dõi các nguồn lực và hoạt động KH&CN của họ, đánh giá xem các hoạt động này đáp ứng được các mục tiêu của họ đến mức nào, và dự đoán xu thế và nhu cầu trong tương lai cho phát triển nguồn nhân lực và tài chính (tức là lập danh sách ưu tiên)
- Nghiên cứu và phân tích: Những chỉ tiêu thống kê KH&CN có thể cho phép các nhà nghiên cứu kiểm tra các giả thiết kinh tế, so sánh, mô tả những khác biệt quốc gia trong các hệ thống KH&CN
- Thông tin: Các chỉ tiêu KH&CN có thể sử dụng cho các cuộc thảo luận công khai về các vấn đề phân bổ nguồn lực KH&CN
1.1.3 Chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào
Các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào bao gồm các chỉ tiêu về các nguồn lực của tổ chức R&D, năng lực thực hiện các hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động R&D nói riêng Các chỉ tiêu này bao gồm những nét cơ bản sau3:
- Sức mạnh của tiềm lực xét trên các thành tố cơ bản là: nhân lực (xét trên các mặt cơ cấu như lứa tuổi, nam nữ, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác nghiên cứu KH&CN, phân theo các lĩnh vực hoạt động KH&CN, cơ cấu chức vụ, v.v); tài chính; thông tin KH&CN; trang thiết bị nghiên cứu; năng lực tổ chức công tác nghiên cứu KH&CN;
- Mức độ tổng hợp của các chương trình, đề tài nghiên cứu mà cơ quan thực hiện trong những năm gần đây: tính hệ thống của các đề tài nghiên cứu,
dự trữ các ý đồ nghiên cứu, khả năng tập trung nguồn lực để phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu;
- Mức độ trang thiết bị các cơ sở thí nghiệm thử nghiệm, các pilot, quy
mô của cơ sở thí nghiệm, khả năng giải quyết các nhiệm vụ đặt ra đối với các
dự án quốc gia;
Trang 19
18
- Năng lực bồi dưỡng cán bộ, đào tạo cán bộ có trình độ cao: thành phần
và tình trạng của các cơ sở đào tạo (thực tập, thí nghiệm, thử nghiệm, trình diễn); cán bộ và khả năng tổ chức trong quá trình đào tạo (hướng dẫn viên khoa học, giảng viên, giáo sư, cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh, v.v); các bộ phận trợ giúp khác (phòng hội thảo, hội trường, các phương tiện trang bị cho trình diễn, các phương tiện thông tin liên lạc, v.v)
Các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào cụ thể gồm có:
- Thông tin: Thông tin, với tư cách là đầu vào của NCKH bao gồm một
số loại như: thông tin làm “nguyên liệu” cho nghiên cứu do người nghiên cứu
thu thập được qua nghiên cứu tài liệu, khảo sát, điều tra hoặc thực nghiệm;
thông tin về phương pháp nghiên cứu để người nghiên cứu có những thông tin
đầy đủ về các phương pháp để có thể lựa chọn một số phương pháp thích hợp
và có hiệu quả; thông tin đầy đủ về các phương pháp xử lý dữ liệu để người
nghiên cứu có thể lựa chọn một số phương pháp thích hợp và có hiệu quả;
thông tin về các nguồn lực
- Vật tư: Vật tư được sử dụng như một nguồn lực quan trọng trong
NCKH Khái niệm “vật tư khoa học” thường được hiểu bao gồm cả các vật liệu và các thiết bị khoa học Đối với vật tư thông dụng thì không có đặc điểm
gì quá riêng biệt nhưng đối với các thiết bị và vật tư chuyên dụng và đặc chủng thì có những đặc điểm cần phải quan tâm như: không phải lúc nào cũng
có sẵn trên thị trường, vì vậy giá mua trên thị trường rất đắt; tần suất sử dụng hầu như rất thấp; hao mòn vô hình rất cao
- Nhân lực: Cơ cấu nhân lực được phân tích và xem xét về mặt số lượng,
tính đồng bộ và chất lượng theo yêu cầu của hoạt động R&D Có nhiều loại
cơ cấu cần được phân tích và xem xét, trên đại thể các loại cơ cấu như:
Cơ cấu biên chế: gồm có biên chế chính nhiệm là biên chế nằm trong sổ
lương của đơn vị; biên chế kiêm nhiệm là biên chế tham gia một phần thời gian vào công việc của đơn vị, có một quyết định kiêm chức, nhận một khoản
Trang 20lương kiêm nhiệm; biên chế chính nhiệm quy đổi tương đương, là biên chế khoán việc, họ nhận hoàn thành những đầu tên công việc và nhận một khoản thù lao theo số lượng và chất lượng hoàn thành các công việc đó
Cơ cấu chuyên môn: phải có cơ cấu chuyên môn phù hợp với yêu cầu
nghiên cứu Tuy nhiên, trong thực tiễn tổ chức nghiên cứu, những người chủ trì luôn phải xét đến cơ cấu chuyên môn được đào tạo chính quy và các nhà chuyên môn tuy không được đào tạo chính quy nhưng có năng lực hoạt động
và đóng góp thực tế cho nghiên cứu
Cơ cấu chức năng: gồm có chủ nhiệm đề tài, dự án, chương trình; điều
phối viên, thư ký đề tài, dự án, chương trình; kế toán, thủ quỹ của đề tài, dự
án, chương trình; chuyên viên nghiên cứu; kỹ sư, kỹ thuật viên; nhân viên dịch vụ nghiên cứu
Cơ cấu cấp đào tạo: dựa trên cơ sở bằng cấp và học vị phù hợp với chế
độ bằng cấp và học vị của nước ta đã được quy định trong Luật Giáo dục, gồm có: đại học (cử nhân, kỹ sư, bác sỹ), thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học
Cơ cấu giới: tập trung mối quan tâm vào vai trò của giới nữ và chính
sách của Nhà nước đối với giới nữ
Cơ cấu lứa tuổi: để cho thấy tập thể nghiên cứu có “trẻ” không, có bị
hẫng hụt giữa các thế hệ không Phân tích nhân lực theo cơ cấu lứa tuổi giúp cho nhận dạng thực trạng của nhân lực và có kế hoạch bổ sung
- Tài chính: Năng lực của các tổ chức khoa học được thể hiện ở tính
năng động của tập thể nghiên cứu Một tổ chức nghiên cứu có nhiều nguồn tài chính đa dạng rõ ràng có điều kiện phát triển năng lực nghiên cứu mạnh hơn những tổ chức chỉ biết có trông chờ vào một nguồn cấp phát duy nhất của Nhà nước
Trang 2120
1.1.4 Chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu ra
“Đầu ra” của NCKH có thể có nghĩa rộng hơn khái niệm kết quả nghiên cứu Đầu ra có thể bao gồm4:
- Kết quả nghiên cứu theo đúng đề cương đã vạch ra;
- Kết quả ngoại biên, là những kết quả không dự kiến trước, có thể dẫn tới hiệu quả dương tính, hiệu quả âm tính;
- Kết quả tăng cường năng lực nghiên cứu
Các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu ra của một tổ chức R&D không chỉ bao gồm những kết quả nghiên cứu đã dự kiến trong kế hoạch nghiên cứu ban đầu mà luôn rất đa dạng
Qua thực tiễn hoạt động của các tổ chức R&D và các hoạt động R&D trong trường đại học, chúng ta có thể liệt kê các kết quả ở đầu ra của hoạt động nghiên cứu nói chung và của các tổ chức R&D nói riêng bao gồm: kết quả nghiên cứu dự kiến; kết quả nghiên cứu ngoại biên và kết quả nâng cao năng lực nghiên cứu của đơn vị Hiện nay, hầu như không có tài liệu nào đưa
ra những chỉ tiêu cụ thể để đánh giá đầu ra Nhóm các chỉ tiêu thống kê đầu ra
có thể bao gồm các chỉ tiêu sau5:
- Nhóm chỉ tiêu về thành tích khoa học, gồm có: Kết quả nghiên cứu
được nghiệm thu; Số bài báo đã công bố; Số ấn phẩm đã xuất bản; Số patent được cấp trong nước hoặc quốc tế; Số giải thưởng khoa học các loại được nhận trong nước hoặc quốc tế; Số hội thảo khoa học do bản than tổ chức R&D chủ trì tổ chức
- Thành tích đóng góp cho xã hội: Thành tích này được thể hiện không
chỉ qua những công trình nghiên cứu được áp dụng trong sản xuất và đời sống, mà còn phải kể đến sự phát triển ảnh hưởng của tổ chức nghiên cứu này đối với xã hội, thể hiện thông qua thống kê số lượng các hoạt động mà cơ quan này tham gia trong cộng đồng
4 Theo Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr122
5 Theo Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr131-137
Trang 22- Thành tích chuyển giao công nghệ: Thành tích này thể hiện vai trò và
ảnh hưởng của tổ chức R&D trước cộng đồng
- Thành tích đào tạo, gồm một số chỉ tiêu như: Số luận văn thạc sĩ, luận
án tiến sĩ đã bảo vệ về những vấn đề rút ra từ các đề tài nghiên cứu hoặc hướng nghiên cứu có liên quan đến những nghiên cứu của tổ chức R&D mà bản than có tham gia; Số người được học tập các lớp nâng cao nghiệp vụ trong khuôn khổ hoạt động của các dự án hoặc các chương trình, đề tài do tổ chức R&D chủ trì hoặc tham gia
- Thành tích ngoại biên: Sản phẩm ngoại biên có thể xem là một loại
thành tích đặc biệt trong hoạt động NCKH của các tổ chức R&D Các dạng sản phẩm ngoại biên gồm có: một phát hiện về bản chất sự vật ngoài kế hoạch nghiên cứu đã dự kiến từ trước; một công thức, một nguyên lý công nghệ, một sản phẩm được sáng tạo ngoài dự kiến; một giải pháp tổ chức, quản lý, một phương pháp được sáng tạo khi tiến hành các nghiên cứu khác
- Năng lực được bổ sung của cơ sở hạ tầng nghiên cứu: là những năng
lực đáp ứng nhu cầu phục vụ nghiên cứu của tổ chức R&D Năng lực đó có
thể bao gồm: Năng lực thông tin (đây là năng lực quan trọng nhất trong nghiên cứu); Năng lực thiết bị thông dụng (đây là sức thỏa mãn nhu cầu R&D
của tổ chức R&D về thực nghiệm của đơn vị Các thiết bị này có ý nghĩa chung cho nhiều công việc, kể cả NCKH và các hoạt động khác trong công
nghiệp, nông nghiệp,v.v); Năng lực thiết bị chuyên dụng (là loại thiết bị sử
dụng cho những mục đích riêng biệt trong khoa học, như kính hiển vi điện tử, quang phổ kế, v.v)
- Giải thưởng khoa học được nhận: Đây là các loại giải thưởng về thành
tích khoa học mà cá nhân và/hoặc đơn vị được tặng hoặc thưởng
1.1.5 Đánh giá tổ chức KH&CN
Trong nghiên cứu về đánh giá, người ta đã đưa ra khá nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, điều mà chúng ta cần ở đây là một định nghĩa về đánh giá có nhiều tính chất xây dựng hơn nghĩa là nó có thể nêu được tương đối rõ
Trang 2322
ràng quá trình tiến hành đánh giá và lý giải về kết quả đánh giá Định nghĩa
sau được các nhà nghiên cứu cho là đáp ứng được yêu cầu đó: “đánh giá là
phương thức thu thập, sáng tạo, phân tích và giải thích thông tin nhằm làm cho mọi đối tác tham gia có thể đưa ra được ý kiến của mình về đối tượng bị đánh giá, nhằm mục đích cuối cùng là tìm kiếm một thỏa hiệp chính trị”
[12;12]
Tổ chức KH&CN được định nghĩa trong Luật KH&CN sửa đổi năm
2013 là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật
Việc triển khai đánh giá các tổ chức KH&CN được thực hiện theo logic phụ thuộc Việc xác định rõ ràng mục đích và đối tượng đánh giá sẽ là cơ sở quyết định việc lựa chọn những tiêu chí và nội dung đánh giá Dựa trên hệ thống tiêu chí và nội dung đánh giá mà có sự lựa chọn phương pháp và quy trình đánh giá cụ thể cho phù hợp Từ đó, kết quả đánh giá tương ứng được đưa ra phải thỏa mãn câu hỏi đánh giá và hóa giải mục đích đánh giá Chẳng hạn, nếu đánh giá hoạt động của tổ chức KH&CN với mục đích hoàn thiện hệ thống các tổ chức, đưa các tổ chức này vào hoạt động hiệu quả theo chức năng, nhiệm vụ được giao thì quy trình và các tiêu chí, nội dung đánh giá cơ bản được minh hoạt trong hình sau:
này vào hoạt động hiệu quả hơn
theo chức năng, nhiệm vụ được
TỰ ĐÁNH GIÁ
ĐÁNH GIÁ
TỪ BÊN NGOÀI
KẾ HOẠCH CẢI TIẾN
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CẢI TIẾN
Trang 24Về phương pháp đánh giá, ở cả 3 giai đoạn (tự đánh giá, đánh giá từ bên ngoài và lên kế hoạch cải tiến hoạt động của tổ chức) đều cần ít nhát một phương pháp chung, đó là đánh giá bởi chuyên gia cùng ngành (peer-review) Đây là phương pháp đặc biệt hữu hiệu trong đánh giá hệ thống KH&CN nói chung và đánh giá các tổ chức nói riêng Bên cạnh đó, tùy từng giai đoạn đánh giá mà có thể sử dụng một số phương pháp đánh giá khác nữa, như là: phương pháp điều tra, phân tích thư mục trắc lượng, phương pháp miêu tả, phân tích mạng lưới xã hội, so sánh đối chuẩn
1.2 Đặc trưng cơ bản của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học
Khái niệm R&D được định nghĩa theo UNESCO và OECD là “những
công việc có tính sáng tạo và hệ thống được tiến hành nhằm tăng cường khối lượng kiến thức, bao gồm cả kiến thức về con người, văn hóa và xã hội và sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những áp dụng mới” [23;30]&[30;17]
Từ định nghĩa trên, rõ ràng là yếu tố then chốt trong việc nhận dạng R&D là sự có mặt của yếu tố sáng tạo và đổi mới, đặc tính chung này chứa trong cả khái niệm “nghiên cứu khoa học” và “triển khai thực nghiệm” Để xác định rõ hai hoạt động này, cần chỉ ra những yếu tố cơ bản đặc trưng: Yếu
tố sáng tạo; Tính mới hoặc đổi mới; Sự sử dụng phương pháp khoa học; Sự sản sinh ra kiến thức mới
Để nhận biết được tổ chức R&D, trước hết cần phải hiểu được hoạt động R&D là gì Hoạt động này bao gồm ba loại hình chính: nghiên cứu cơ bản; nghiên cứu ứng dụng; triển khai thực nghiệm
Nghiên cứu cơ bản, theo OECD, là một công trình thực nghiệm hoặc lý
thuyết được tiến hành chủ yếu để nhận được tri thức mới về những nền tảng
ẩn chứa dưới các hiện tượng và sự việc quan sát được mà không có ý định nhằm vào một ứng dụng cụ thể nào Các kết quả của nghiên cứu cơ bản nói
Trang 2524
chung không được thương mại hóa, nhưng thường được công bố ở các tạp chí khoa học hoặc trao đổi với các đồng nghiệp có quan tâm
Nghiên cứu ứng dụng, theo OECD, cũng là loại nghiên cứu khởi đầu
được thực hiện để nhận được tri thức mới Tuy nhiên, loại nghiên cứu này chủ yếu nhằm phục vụ cho một mục đích hoặc mục tiêu cụ thể có tính thực tế Nghiên cứu ứng dụng được thực hiện hoặc để tạo ra những ứng dụng cho những phát minh của nghiên cứu cơ bản, hoặc để xây dựng những phương pháp hoặc cách thức mới để đạt được những mục đích cụ thể đã định Những kết quả của nghiên cứu ứng dụng chủ yếu nhằm đem lại giá trị cho một hoặc một số lượng hạn chế các sản phẩm, các phương pháp hoặc hệ thống Các tri thức và thông tin do nghiên cứu ứng dụng đưa lại thường được cấp bằng sáng chế hoặc có thể được giữ bí mật
Triển khai thực nghiệm, theo OECD, là hoạt động mang tính hệ thống,
dựa vào kiến thức nhận được từ nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn, hướng tới việc sản xuất ra các vật liệu, sản phẩm hoặc thiết bị mới; lập ra các quy trình, hệ thống và dịch vụ mới; hoặc hoàn thiện đáng kể những sản phẩm đã được sản xuất hoặc lắp đặt Tiêu chuẩn này ít hoặc không có ý nghĩa đối với các lĩnh vực KHXH&NV
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống các tổ chức R&D đang chịu những biến động mạnh mẽ từ cơ chế thị trường của nền kinh tế Do đó, nhiều tổ chức, dù
có quy mô nhỏ được hình thành với nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, nhưng trên thực tế hoạt động của họ lại bao trùm cả nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, thậm chí là cả sản xuất và kinh doanh Theo khái niệm của UNESCO, các sản phẩm chính tương ứng của các loại hình nghiên cứu này là: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là các xuất bản phầm; nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm là pa-tăng
Ngoài đặc trưng trên, các tổ chức R&D thuộc trường đại học có sự khác biệt đáng kể với các tổ chức khác về tình trạng cơ sở vật chất do phụ thuộc nhiều vào mô hình quản lý Tại một số trường đại học, các tổ chức R&D được
Trang 26thành lập từ tiền thân là các khoa, bộ môn Đặc trưng của mô hình này là các
tổ chức R&D đều trực thuộc thẳng trường, tổ chức không được nhận kinh phí chi thường xuyên, lương cán bộ do nhà trường chi trả chung, tổ chức chỉ được
ủy quyền ký các hợp đồng giá trị nhỏ Với mô hình này, các tổ chức có chức năng như một khoa của trường Do vậy, cơ sở vật chất của các tổ chức này cũng tương đối tốt, nằm ở các dãy nhà khác nhau trong trường Ngoài trường hợp này, đa phần các tổ chức R&D thuộc trường đại học là các đơn vị sự nghiệp, không có biên chế, trụ sở rất khiêm tốn, chủ yếu là 1-2 phòng nhỏ, thậm chí có đơn vị hiện chưa có trụ sở riêng Đối với các tổ chức này, trang thiết bị nghiên cứu hầu như không có, hoặc cũng còn rất hạn chế so với nhu cầu nghiên cứu Phần lớn máy móc cũ và không đáp ứng yêu cầu hiện tại
Để làm rõ hơn đặc trưng của các tổ chức R&D trong trường đại học, dựa
trên kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Nghiên cứu phương
pháp tiếp cận đánh giá tổ chức KH&CN và đề xuất phương án đánh giá phù hợp với Việt Nam” của TS Phạm Xuân Thảo, tác giả đưa ra bảng so sánh về
chức năng, nhiệm vụ; về cơ cấu tổ chức và các điều kiện đảm bảo hoạt động;
về các loại kết quả nghiên cứu chính của tổ chức R&D thuộc trường đại học với các tổ chức R&D thuộc Bộ/ngành/địa phương/2 Viện Hàn Lâm và các tổ chức dịch vụ KH&CN, cụ thể như sau6:
TT Các
khía
cạnh
Tổ chức R&D thuộc Bộ/ngành/
địa phương/2 Viện Hàn Lâm
Tổ chức R&D thuộc trường đại học
Tổ chức dịch vụ KH&CN
- Nghiên cứu R&D;
- Kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, và cung cấp các dịch vụ KH&CN;
liên quan đến sử hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ;
dịch vụ về thông
6 Theo Phạm Xuân Thảo (2012), Báo cáo tổng kết đề án cấp Bộ “Nghiên cứu phương pháp tiếp cận đánh giá
Trang 2726
KH&CN ưu tiên, trọng điểm của nhà nước và NCKH giáo dục
tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ
KH&CN và ứng dụng vào thực tiễn.
2 Cơ cấu tổ chức và các điều kiện đảm bảo hoạt động
- Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu chiếm
ưu thế hơn hẳn so với lượng cán bộ
hỗ trợ kỹ thuật và cán bộ hành chính, dịch vụ
- Đội ngũ cán bộ nghiên cứu linh hoạt, hầu hết cán bộ nghiên cứu đều là kiêm nhiệm từ các khoa và bộ môn chuyên ngành
- Cán bộ nghiên cứu có trình độ cao, chuyên môn sâu và
có năng lực đào tạo
Chủ yếu là các bộ thực hiện các hoạt động liên quan đến dịch vụ và kinh doanh
2.2 Tài
chính
- Nguồn tài chính chủ yếu từ ngân sách nhà nước
- Chi tiêu: chi lương và hoạt động bộ máy, chi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thông qua các
đề tài, dự án,v.v…
- Nguồn tài chính:
một phần nhỏ từ ngân sách nhà nước, phần lớn từ các đề tài/dự án, từ các doanh nghiệp, tài trợ/hợp tác nước ngoài
- Chi tiêu chủ yếu
là thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thông qua các đề tài/dự án,v.v…
- Nguồn tài chính: từ việc cung cấp dịch vụ KH&CN và từ các khoản hỗ trợ của nhà nước
- Chi tiêu: chi lương và hoạt
bộ, tuy nhiên vẫn đang được quan tâm, bổ sung hàng năm
Cơ sở vật chất gặp khó khăn giống như các tổ chức khác, tuy nhiên, việc xin đầu
tư của các tổ chức loại này khó khăn hơn, phụ thuộc vào nguồn kinh phí của trường
Cơ sở vật chất ban đầu được chú trọng đầu tư, trang thiết bị, máy móc hiện đại
3 Kết
quả
chủ yếu
- Công bố công trình khoa học (bài báo, báo cáo
- Công bố công trình khoa học (bài báo, báo cáo hội nghị, hội
Hợp đồng cung cấp các dịch vụ, sản phẩm
Trang 28hội nghị, hội thảo, sách,v.v…);
- Đào tạo sau đại học;
- Công nghệ, sản phẩm cụ thể (chủ yếu là không đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ)
thảo, sách,v.v…);
- Đào tạo đại học và sau đại học;
- Công nghệ, sản phẩm cụ thể (chủ yếu là không đăng
ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ)
1.3 Vai trò của các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra đối với việc đánh giá hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học
Các tổ chức nghiên cứu công đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Họ có nhiệm vụ xác định và giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội và đưa ra các định hướng phát triển Chính phủ cấp kinh phí cho các tổ chức nghiên cứu công để thực hiện các nghiên cứu nhằm tạo ra tri thức khoa học và phát triển các công nghệ mà các cơ quan nghiên cứu thuộc khu vực tư nhân không thể đảm nhiệm Nhưng làm thế nào để các cơ quan cấp kinh phí (ví dụ: các Bộ, ngành) biết liệu kinh phí mà họ cấp cho hoạt động R&D tại các tổ chức được sử dụng hiệu quả không? Các tổ chức nghiên cứu có thực hiện các nghiên cứu mới và tiên phong không? Họ có tạo ra các công nghệ mới và có chuyển giao một cách hiệu quả cho những người sử dụng để tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới hoặc cải thiện các sản phẩm hiện có không? Các tổ chức nghiên cứu có làm việc hiệu quả không? Tổ chức nào cần phải phân bổ kinh phí nhiều hơn, vì họ thực hiện công tác nghiên cứu và phát triển tốt? Tổ chức nào cần phải cải thiện chiến lược và phương thức hoạt động của mình để trở thành những viện nghiên cứu hoạt động tốt hơn? Để trả lời
những câu hỏi này, cần tiến hành đánh giá các tổ chức nghiên cứu
Cơ sở nền tảng để đánh giá được hoạt động của các tổ chức R&D chính
là các số liệu thu thập về hoạt động KH&CN của các tổ chức này dựa trên hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra Đánh giá đầu vào là đánh giá tất cả
Trang 2928
các nguồn lực đầu tư vào hoạt động nghiên cứu của tổ chức R&D Đánh giá này cho thấy một bức tranh tổng thể về năng lực nghiên cứu của tổ chức Đánh giá đầu ra sẽ cho thấy những đóng góp và ảnh hưởng của tổ chức R&D đơi với các mặt của đời sống xã hội Để đánh giá được yếu tố đầu vào hay đầu
ra của tổ chức R&D thì cần phải có các dữ liệu về các yếu tố này Trên cơ sở các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra, các nhà đánh giá sẽ thu thập được các
dữ liệu phục vụ mục đích đánh giá của mình Như vậy, các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra có vai trò quyết định trong việc đánh giá hoạt động của các
tổ chức R&D
Với các chỉ tiêu thống kê đầu vào, đánh giá nhằm vào mục đích sau 7 :
- Quyết định thu nhận hoặc không thu nhận các yếu tố đầu vào để sử dụng trong nghiên cứu;
- Ghi nhận những yếu tố không đạt yêu cầu nhưng bất khả kháng, phải sử dụng trong nghiên cứu và đề xuất những biện pháp hạn chế tác động âm tính;
- Ghi nhận những yêu tố không đạt yêu cầu nhưng bất khả kháng, phải sử dụng trong nghiên cứu, để xem xét đánh giá các rủi ro ở đầu ra do tác động của đầu vào;
- Phân tích và biện luận kết quả nghiên cứu, đối chiếu kết quả với các yếu tố đầu vào
Với các chỉ tiêu thống kê đầu ra, đánh giá nhằm vào mục đích 8 là xác
nhận kết quả nghiên cứu đã đạt yêu cầu đến mức độ nào, xét một cách toàn diện, không chỉ bản thân kết quả nghiên cứu, mà toàn bộ những gì liên quan đến kết quả nghiên cứu
Như vậy, đánh giá đầu ra là một việc làm rất có ý nghĩa Nó chính là sự đánh giá hiệu quả đầu tư vào hoạt động NCKH của bản thân tổ chức khoa học nói chung và tổ chức R&D nói riêng – đây là đánh giá “hiệu quả trong” Đánh
7 Theo Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr110
8 Theo Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr124
Trang 30giá này là cơ sở để phán xét hiệu quả hoạt động của cơ quan NCKH, là cơ sở
để xem xét các chương trình đầu tư để tiếp tục phát triển cơ quan R&D, hơn nữa, còn là cơ sở để xem xét bản thân sự tồn tại của cơ quan NCKH
Khi xem xét kết quả đầu ra của NCKH, tức xem xét hiệu quả trong, chúng ta chưa xét đến hiệu quả của việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống Đó là vì chúng ta chỉ giới hạn việc xem xét ở khâu NCKH một cách thuần túy, chưa xem xét hiệu quả áp dụng
*Kết luận Chương 1
Trong phần Chương 1, tác giả đã trình bày rõ ràng cơ sở lý luận của Luận văn Các khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu như: lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN, chỉ tiêu thống kê đầu vào, chỉ tiêu thống kê đầu ra, đánh giá KH&CN được diễn giải
cụ thể, mạch lạc
Bên cạnh đó, chương 1 của Luận văn cũng làm rõ đặc trưng cơ bản của
tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học và phân tích vai trò của các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra đối với việc đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học
Như vậy, chương 1 của Luận văn đã trình bày đầy đủ cơ sở lý luận của Luận văn
Trang 3130
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA ĐƯỢC SỬ DỤNG CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC R&D THUỘC LĨNH VỰC KHXH&NV
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Qua quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả nhận thấy rằng, hiện nay, chưa
có quy định chính thức nào về các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào và đầu
ra phục vụ riêng cho công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học Các chỉ tiêu thống kê đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chỉ là các chỉ tiêu thống kê KH&CN nói chung, chứ chưa được cụ thể hóa cho từng lĩnh vực nghiên cứu, từng nhóm đối tượng của hoạt động KH&CN
Vì vậy, phần trình bày sau đây sẽ tổng lược về hiện trạng các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng trong công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D nói chung Trong số các chỉ tiêu thống kê chung đó, có một vài chỉ tiêu thống kê cũng được sử dụng cho công tác đánh giá hoạt động của tổ chức R&D trong lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học nói riêng Tác giả sẽ phân tích hiện trạng chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng cho công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học thông qua việc phân tích hiện trạng các chỉ tiêu thống kê phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D nói chung
2.1 Hiện trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê này được sử dụng trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều quốc gia sớm nhận biết được tầm quan trọng của công tác đánh giá nói chung và đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D nói riêng nhằm hỗ trợ, thúc đẩy hiệu quả hoạt động KH&CN của các tổ chức
đó Công tác đánh giá đã trở thành “văn hóa đánh giá” và các cơ quan quản lý
sẽ tiến hành đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D theo định kỳ
Trang 32Phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu
ra được sử dụng cho công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D nói chung tại một số nước trên thế giới, trong đó, bao gồm cả các chỉ tiêu thống
kê phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học
2.1.1 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng tại Hoa
Đạo luật GPRA đưa ra quy định nhiệm vụ phát triển trước hết là một số chỉ tiêu liên quan tới kết quả hoạt động, chẳng hạn về: số lượng, chất lượng, thời gian, chi phí, sản phẩm và kết quả đạt được Các chỉ tiêu này bao gồm:
- Các chỉ tiêu đầu vào (input measure) phản ánh năng lực, mức độ sẵn sàng của cơ quan để thực hiện chương trình hoặc các hoạt động để tạo ra các kết quả và sản phẩm Chúng bao gồm: nhân lực, tài trợ, thiết bị hoặc phương tiện, hàng hóa hay dịch vụ nhận được, các quy trình hay quy tắc làm việc
- Các chỉ tiêu đầu ra (output measure) là những bảng biểu, tính toán, những ghi nhận các hoạt động, những nỗ lực và có thể diễn tả dưới dạng định tính hoặc định lượng
2.1.2 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng tại CHLB Đức
Công tác đánh giá tổ chức tại CHLB Đức tập trung vào các Hiệp hội lớn: Hiệp hội Gottfried Wilhelm Leibniz (Danh sách xanh); Hiệp hội Helmholtz
và Hiệp hội Fraunhofer, Hiệp hội Max Planck Công tác đánh giá của các hiệp hội này đều được chính Hiệp hội tự tổ chức thực hiện Trong nghiên cứu này,
Trang 3332
tác giả sẽ giới thiệu về các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng cho công tác đánh giá của Hiệp hội Gottfried Wilhelm Leibniz (Danh sách xanh) và Hiệp hội Fraunhofer
2.1.2.1 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng cho công tác đánh giá của nhóm Danh sách Xanh
Trong đánh giá các Viện thuộc Danh sách Xanh, các nhà đánh giá đã đề xuất các chỉ tiêu (khoảng 20 chỉ tiêu) để nhận xét năng suất và hiệu quả nghiên cứu, tập trung theo các nhóm sau:
Các chỉ tiêu đầu vào được xem xét gồm có:
- Về chất lượng đội ngũ khoa học: số người được mời giảng dạy tại các
trường đại học; được mời hướng dẫn các nghiên cứu sinh; số người được phong giáo sư; họ có các chương trình tự đào tạo hay không,v.v;
- Về khả năng liên kết và hợp tác: số lượng các nguồn tại trợ huy động
được từ bên ngoài; có sự tư vấn của các Viện khác trong cùng ngành hay không; sự liên kết và hợp tác với các tổ chức bên ngoài của Viện (với các trường đại học, các Viện khác, các cơ sở sản xuất,…); sự năng động của các thành viên trong Viện
Các chỉ tiêu đầu ra được xem xét gồm có:
- Về chương trình nghiên cứu của tổ chức khoa học: sự hợp lý của
chương trình nghiên cứu là tính thuyết phục trong việc xác định các trọng điểm nghiên cứu (các chương trình nghiên cứu có mang tính tổng hợp thành
hệ thống gắn kết với nhau hay chỉ là những đề tài rời rạc); có sức thuyết phục đối với lao động khoa học của Viện trong một tương lai trung hạn hay không
(có phục vụ các mục tiêu ưu tiên,…);
- Về công bố và hội nghị khoa học: sự hưởng ứng khoa học đặc biệt là
dựa trên những công bố cao, các bài viết trên tạp chí khoa học nổi tiếng; số lượng các nhà khoa học của viện được mời tham gia báo cáo tại các hội nghị
Trang 34khoa học quốc gia và quốc tế quan trọng; số lượng các hội nghị ngành quốc gia và quốc tế quan trọng do viện tổ chức;
- Khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu: số người có đăng ký sở hữu
công nghiệp; số người có thể lập công ty; số người có khả năng lôi kéo tài trợ bên ngoài;…;
- Về chất lượng dịch vụ: năng lực và chất lượng phục vụ nhu cầu khách
hàng; dịch vụ có dựa trên công nghệ tiên tiến hay không; chất lượng của các hoạt động tư vấn
2.1.2.2 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng cho công tác đánh giá của hiệp hội Fraunhofer(FhG)
Trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ của hiệp hội FhG, Nghị quyết của hiệp hội FhG ngày 16/9/1997 đã khẳng định các điều khoản tham chiếu (TOR) cho việc đánh giá mang tính hệ thống của hiệp hội FhG dựa trên những đề nghị của Bộ Giáo dục, Khoa học, Nghiên cứu và Công nghệ của CHLB Đức Các chỉ tiêu thống kê được sử dụng phục vụ công tác đánh giá của hiệp hội Fraunhofer gồm có:
Các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào gồm: Độ năng động của đội ngũ
cán bộ nghiên cứu; Số nhà khoa học đến cộng tác; Trình độ khoa học của đội ngũ cán bộ nghiên cứu (TS, PGS, GS); Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn khoa học; Độ tuổi bình quân trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu; Mối quan hệ với các doanh nghiệp; Mức độ đầu tư
Các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu ra gồm:1/Thành tích khoa học: Được
mời giảng dạy tại các trường đại học; Được tham gia tư vấn; Số ấn phẩm công bố; Tổ chức các hội thảo khoa học; Các giải thưởng khoa học; Các luận văn
thạc sĩ và tiến sĩ; 2/Về chuyển giao công nghệ: Các hợp đồng thực hiện cho
công nghiệp (tổng giá trị); Các loại hợp đồng khác; Số lượng các hợp đồng do doanh nghiệp đặt hàng; Số lượng các hợp đồng do ngân sách Nhà nước cấp;
Trang 35- Yêu cầu kiểm soát được tài chính (yếu tố đầu vào): sự cân đối về kinh
phí; các hợp đồng với công nghiệp có chiếm từ 35% tới 55%; quy mô phát triển về tài chính; các loại hình tài trợ
- Các yếu tố tác động đến chất lượng (yếu tố đầu ra): các kết quả nghiên
cứu được công bố và được nhắc đến trên các phương tiện thông tin đại chúng;
sự hình thành các tổ chức thử nghiệm dựa trên hoạt động đổi mới; các loại giải thưởng đã đạt được
- Các ấn phẩm công bố là thước đo năng lực NCKH (yếu tố đầu ra): số
lượng các ấn phẩm công bố trên các tạp chí có bình duyệt có tăng hay không;
số lượng các ấn phẩm công bố tính trên 1 cán bộ nghiên cứu; số lượng các ấn phẩm công bố được trích dẫn; số lượng các ấn phẩm công bố được trích dẫn (không tính số ấn phẩm tự trích dẫn) tính trên tổng số các ấn phẩm công bố (gọi chỉ số này là c1); tỉ số giữa c1 và c2 (là số lượng trích dẫn bình quân trên thế giới tính trên tổng số các ấn phẩm công bố trong một lĩnh vực nghiên cứu)
về trình độ học thuật và đánh giá đại học, v.v) Từ năm 2002, các các cơ quan đánh giá tiến hành điều tra, khảo sát các tổ chức R&D trong công nghiệp (các công ty có vốn điều lệ trên 10 triệu Yên đang tiến hành các hoạt động R&D), các tổ chức nghiên cứu (nhà nước, công cộng, phi lợi nhuận), các trường đại
Trang 36học (các phòng chức năng, tổ chức nghiên cứu trong trường đại học, khoa kỹ thuật) nhằm đánh giá một cách có hiệu quả và toàn diện Với mỗi loại tổ chức lại có mẫu phiếu điều tra thông tin khác nhau
Phiếu điều tra dành cho các phòng chức năng, tổ chức nghiên cứu, khoa
kỹ thuật trong trường cao đẳng và đại học gồm các chỉ tiêu:
Ngoài các thông tin chung về tên, địa chỉ, tình trạng của tổ chức Phiếu điều tra gồm có các chỉ tiêu điều tra về: Loại trường đại học/cao đẳng/kỹ thuật/viện nghiên cứu; Lĩnh vực khoa học đối với những hoạt động R&D (12 loại); Số người tham gia R&D; Số cán bộ nghiên cứu đã gia nhập hoặc bỏ tổ chức; Số cán bộ nghiên cứu thường xuyên theo chuyên ngành (42 chuyên ngành); Tổng chi cho R&D; Chi cho R&D theo loại hoạt động; Chi cho R&D theo mục tiêu lựa chọn; Đầu tư cho R&D thu được; Đầu tư R&D trả cho bên ngoài
2.1.4 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được sử dụng tại Nam Phi
Năm 1996, ở Nam Phi, Bộ Nghệ thuật, Văn hóa, Khoa học và Công nghệ (the Department of Arts, Culture, Science and Technology - DACTS) đã chỉ định một cơ quan Kiểm toán nghiên cứu và công nghệ quốc gia (NRTA) như một phần của quá trình tiếp tục xác định lại và thông tin về chính sách KH&CN mới ở quốc gia này Những lý do chính để bắt đầu cho một cuộc kiểm toán là để “đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống KH&CN Nam Phi” và hướng tới việc đạt được một định hướng phát triển lâu dài cho
hệ thống KH&CN
Công việc đánh giá các tổ chức KH&CN ở Cộng hòa Nam Phi dường như được lồng ghép trong đánh giá hoạt động R&D, và quốc gia này tập trung
vào đánh giá ba nhân tố, đó là: Đánh giá các chỉ số đầu vào, đánh giá các chỉ
số đầu ra và đánh giá những đóng góp thiết thực
Về đánh giá các chỉ số đầu vào: Có 5 loại tiêu chuẩn về đánh giá các chỉ
số đầu vào được phân tách là: Nguồn nhân lực (cán bộ nghiên cứu và phát
Trang 3736
triển); Thời gian dành cho nghiên cứu (chỉ dành cho khu vực giáo dục cao); Kinh phí; Thiết bị; Cơ sở hạ tầng
Về đánh giá các chỉ số đầu ra, gồm có: Các ấn phẩm khoa học (là những
ấn phẩm có phản biện); Các bài báo không phản biện; Các bài trình bày khoa học; Công nghệ; Sáng chế; Văn bằng, chứng chỉ; Số lượng sinh viên tốt nghiệp (chỉ dành cho khu vực giáo dục cao)
Những đóng góp thiết thực được đánh giá ở đây là tính hữu dụng chung đối với xã hội Tính hữu dụng của đầu ra được đánh giá thông qua 4 câu hỏi mở:
- Lợi ích mà người sử dụng sẽ được hưởng trực tiếp từ R&D của họ;
- Làm thế nào để các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến họ;
- Lợi ích mà những cá nhân khác sẽ được lợi gián tiếp từ các hoạt động R&D;
- Làm thế nào để các kết quả nghiên cứu sẽ có liên quan đến họ
2.1.5 Đánh giá chung về các chỉ tiêu thống kê sử dụng cho công tác đánh giá của các nước trên thế giới
Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy, các chỉ tiêu thống kê KH&CN phục vụ công tác đánh giá tổ chức R&D ở mỗi nước có sự tương đồng nhau, tuy rằng vẫn có các tiêu chí riêng của từng nước phụ thuộc vào mục tiêu đánh giá, nhưng nhìn chung, các chỉ tiêu thống kê được các nước sử dụng được tóm tắt thành các nhóm chỉ tiêu chính như sau:
Nhóm các chỉ tiêu đầu vào: bao gồm các chỉ tiêu liên quan tới tiềm lực
của tổ chức R&D Câu hỏi đánh giá tổng quát ở đây là: Tiềm lực R&D của cơ quan có đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực KH&CN được giao nhằm bắt kịp và vượt trình độ tiên tiến của sản xuất trong nước, trình độ KH&CN của khu vực và quốc tế hay không?
Diễn giải cụ thể câu hỏi trên thông qua các nhóm chỉ tiêu thống kê cụ thể sau:
Trang 38- Sức mạnh của tiềm lực xét trên các thành tố cơ bản là: Nhân lực (xét
trên các mặt cơ cấu như lứa tuổi, nam nữ, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác nghiên cứu KH&CN, phân theo các lĩnh vực hoạt động KH&CN, cơ cấu chức vụ, v.v); tài chính; thông tin KH&CN; trang thiết bị nghiên cứu; năng lực tổ chức công tác nghiên cứu KH&CN
- Mức độ tổng hợp của các chương trình, đề tài nghiên cứu mà tổ chức
thực hiện trong những năm gần đây: tính hệ thống của các đề tài nghiên cứu,
dự trữ các ý đồ nghiên cứu, khả năng tập trung nguồn lực để phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu
- Mức độ trang thiết bị các cơ sở thí nghiệm thử nghiệm, các pilot, quy
mô của cơ sở thí nghiệm, khả năng giải quyết các nhiệm vụ đặt ra với các dự
án quốc gia
- Năng lực bồi dưỡng cán bộ, đào tạo cán bộ có trình độ cao: thành phần
và tình trạng của các cơ sở đào tạo (thực tập, thí nghiệm, thử nghiệm, trình diễn); cán bộ và khả năng tổ chức trong quá trình đào tạo (hướng dẫn viên khoa học, giảng viên, giáo sư, cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh, v.v); các bộ phận trợ giúp khác (phòng hội thảo, hội trường, các phương tiện trang bị cho trình diễn, các phương tiện thông tin liên lạc, v.v.)
Nhóm các chỉ tiêu đầu ra: là những chỉ tiêu phản ánh các kết quả của
hoạt động R&D và hoạt động KH&CN nói chung của tổ chức R&D, tác động vào vai trò của tổ chức R&D Các chỉ tiêu này có thể bao gồm:
- Các hướng nghiên cứu chủ yếu của tổ chức R&D;
- Sự tham gia hữu hiệu của tổ chức R&D vào các chương trình quốc gia;
- Tổ chức R&D được tham gia thực hiện các dự án quốc gia (số lượng dự
án, quy mô và chất lượng thực hiện dự án, v.v);
- Các kết quả hoạt động của tổ chức R&D có giá trị thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực R&D và của ngành khoa học và kỹ thuật tương ứng (tổ
Trang 39tế, có chỉ số trích dẫn cao, quy mô áp dụng lớn; số lượng cán bộ tham gia giảng dạy tại các trường đại học có uy tín quốc tế,v.v ;
- Các kết quả R&D trong so sánh quốc tế: số lượng các licence đã bán, quy mô áp dụng; số lượng các patent đã được cấp; số giải thưởng quốc tế tại các hội chợ, hội thảo; sức cạnh tranh của các sản phẩm R&D trên thị trường trong nước và quốc tế, khu vực,v.v
2.2 Hiện trạng các chỉ tiêu thống kê này được sử dụng ở Việt Nam
2.2.1 Các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam
Khung pháp lý đầu tiên cho các hoạt động thống kê KH&CN ở Việt nam được ban hành vào năm 1983 khi Thủ tướng ban hành quyết định số 349/CT ngày 12/12/1983 về việc bổ sung thêm 14 nhóm chỉ tiêu KH&CN cho Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia chính thức
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã ban hành Luật thống kê vào ngày 17 tháng 6 năm 2003 Luật bao gồm 8 chương
và 42 điều nhằm nâng cao hiệu quả công tác thống kê, bảo đảm thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược,
Trang 40chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về công tác thống kê
Việc ban hành Luật thống kê thay cho Pháp lệnh kế toán – thống kê năm
2003 là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng cho công tác báo cáo thống kê ở Việt Nam Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một Luật thống kê toàn diện Theo tinh thần của Luật Thống kê, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2004/NĐ-CP xác định rõ chi tiết hơn cho một số điều trong Luật Thống kê
và ban hành hướng dẫn thực hiện Mặc dù các văn bản pháp lý này có vai trò quan trọng trong việc quy định các hoạt động thống kê nói chung nhưng chúng vẫn chưa bao phủ được các lĩnh vực đặc trưng của hoạt động thống kê KH&CN
Để thực hiện Luật Thống kê, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 về việc phê duyệt và ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được xem là công cụ cung cấp số liệu thống kê cho các tổ chức quản lý các cấp, giúp các
tổ chức quản lý đưa ra quyết định, hoạch định chính sách và xác định, giám sát, quản lý các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia còn là công cụ đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê cho các tổ chức cá nhân nói chung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được dùng làm
cơ sở để xây dựng Chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, thực hiện thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở, thẩm quyền công bố thông tin thống kê Quyết định này đưa
ra 9 chỉ tiêu khoa học công nghệ trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Vấn đề còn tồn tại ở đây chính là việc các chỉ tiêu KH&CN còn quá chung chung Nhằm tăng cường các hoạt động thống kê KH&CN, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/03/2006 về hoạt động thống kê KH&CN Nghị định có 5 chương với 29 điều, trong đó điều 4 nêu cụ thể 06 nhóm chỉ tiêu thống kê KH&CN, gồm: 1/ Nhóm chỉ tiêu về