1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ từ 1 – 3 tuổi

118 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xôkôlôv trong tác phẩm “Ngôn ngữ bên trong và tư duy” đã cho rằng: chúng ta thiên về việc gán cho hành động tư duy có 1 sự độc lập hoàn toàn đối với ngôn ngữ, nếu như một cá thể thành th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG THỊ KHÁNH HÀ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài này là do tôi thực hiện, là một phần trong đề tài nhóm B mã số QG.12.27 do PGS.TS Trương Thị Khánh Hà làm chủ nhiệm Những kết quả, số liệu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả

Hoàng Thị Quang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại khoa Tâm lý học – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Thị Khánh Hà

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo trong khoa Tâm lý học – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền dạy cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quí báu trong thời gian tôi theo học bậc cao học tại khoa Các thầy cô cũng đã luôn sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp thêm cho tôi những điều còn chưa rõ về mặt chuyên môn, để tôi có được cái nhìn

đa chiều hơn về vấn đề nghiên cứu trong đề tài khoa học này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trương Thị Khánh Hà, người đã hướng dẫn, đã đi cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu:

từ khi hình thành ý tưởng đề tài cho đến khi tôi hoàn thiện toàn bộ luận văn tốt nghiệp này! Tôi đặc biệt ghi nhớ sự nhiệt tình, lòng tận tâm và sự tỉ mỉ của cô dành cho tôi trong suốt quá trình học và trong quá trình hướng dẫn tôi làm công tác nghiên cứu đề tài

Để thực hiện được nghiên cứu khoa học này, tôi còn nhận được sự hợp tác

và hỗ trợ nhiệt tình trong suốt quá trình nghiên cứu từ Ban giám đốc, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em nhỏ ở các trường mẫu giáo Vườn Tài Năng, Đồ

Rê Mí, và Jerry House

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo ở phòng đào tạo, phòng công tác sinh viên đã có những hướng dẫn chi tiết cho tôi về thủ tục hành chính

và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này! Cuối cùng, xin gửi lời tri ân đến gia đình, người thân, thầy cô giáo cũ và bạn bè – những người đã động viên, giúp đỡ để tôi có được ngày hôm nay

Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2014

Tác giả

Trang 4

DANH MỤC BẢNG SÔ LIỆU, HÌNH ẢNH TRONG ĐỀ TÀI

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC BẢNG SÔ LIỆU, HÌNH ẢNH TRONG ĐỀ TÀI 3

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 LÍ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ TƯ DUY Ở TRẺ 1 – 3 TUỔI 9

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài về ngôn ngữ, tư duy và mối quan hệ giữa chúng ở trẻ từ 1 – 3 tuổi 9

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước về ngôn ngữ, tư duy và mối quan hệ giữa chúng ở trẻ từ 1 – 3 tuổi 21

1.1.3 Những quan điểm về việc giáo dục sớm 26

1.2 Một số lý luận cơ bản 28

1.2.1 Lý luận về ngôn ngữ 28

1.2.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 28

1.2.1.2 Các loại ngôn ngữ 28

1.2.1.3 Ngôn ngữ của trẻ em từ 1 – 3 tuổi 29

1.2.2 Tư duy của trẻ em 33

1.2.2.1 Khái niệm tư duy và tư duy trẻ em 33

1.2.2.2 Các loại tư duy 34

1.2.2.3 Tư duy của trẻ em 1 – 3 tuổi 35

1.2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ 1 – 3 tuổi 38

1.2.3.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy 38

1.2.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ 1 – 3 tuổi 39

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của trẻ 41

1.2.4.1 Di truyền 41

1.2.4.2 Môi trường và giáo dục 42

1.2.4.3 Tính tích cực hoạt động của trẻ 45

Trang 6

2.1 Tổ chức nghiên cứu 50

2.1.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 50

2.1.2 Tiến trình tổ chức nghiên cứu 50

2.2 Phương pháp nghiên cứu 51

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 51

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 51

2.2.2.2 Phương pháp quan sát 54

2.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 56

2.2.2.4 Phương pháp phân tích chân dung tâm lý 57

2.2.2.5 Phương pháp thống kê toán học 57

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58

3.1 Thực trạng mức độ phát triển tư duy của trẻ em từ 1 đến 3 tuổi 58

3.2 Thực trạng mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 1 đến 3 tuổi 70

3.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của trẻ từ 1 – 3 tuổi 83

3.4 Phân tích một số chân dung tâm lí 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

1 Kết luận 99

2 Kiến nghị 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 107

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bác Hồ đã từng viết: “Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”

Đúng vậy, trẻ em chính là niềm vui, là mầm non, là tương lai của mỗi đất nước Các em cần được vui chơi, học hành và cần được người lớn quan tâm dạy

dỗ để sau này trở thành những người có ích cho xã hội Vì vậy, trong bất kì chế

độ xã hội nào thì công tác chăm sóc giáo dục trẻ em luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội

Trong quá trình phát triển chung của trẻ em thì giai đoạn từ lúc lọt lòng cho đến 6 tuổi là quãng thời gian có tầm quan trọng đặc biệt Nhịp độ phát triển của trẻ trong thời kì này rất nhanh và nhịp độ phát triển nhanh như vậy không bao giờ còn thấy được trong những năm tháng về sau Đồng thời, thành tựu phát triển mà trẻ đạt được trong những năm đầu đời có ý nghĩa rất lớn cho sự trưởng thành sau này của trẻ Chính vì vậy, các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục đã luôn dành cho giai đoạn này sự quan tâm lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển về mọi mặt của trẻ, trong đó có vấn đề phát triển ngôn ngữ và tư duy

Tuy nhiên, trong thực tiễn chăm sóc và giáo dục trẻ em 1 – 3 tuổi hiện nay, mối quan tâm của các bậc cha mẹ đến sự phát triển ngôn ngữ và tư duy của trẻ là chưa thực sự đầy đủ Đối với trẻ ở độ tuổi này, các bậc cha mẹ và người chăm sóc trẻ chủ yếu là quan tâm về việc phát triển thể chất cho trẻ hơn là phát triển tư duy và ngôn ngữ Và nếu có thì đa phần các phụ huynh cũng phát triển cho con theo kiểu mò mẫm hoặc theo kinh nghiệm của người đi trước mà không theo một nền tảng, cơ sở phát triển nào

Hiện nay ở nước ta, riêng trong ngành tâm lý học phát triển, chúng ta có thể

dễ dàng nhận thấy các công trình nghiên cứu về giai đoạn lứa tuổi này nhiều hơn bất kì giai đoạn nào khác, trong đó vấn đề ngôn ngữ và tư duy cũng được đề cập đến Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu về ngôn ngữ và tư duy trẻ em vẫn tập trung vào lứa tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi) hơn là giai đoạn trước đó (trẻ 1 – 3 tuổi) Bên cạnh đó, các nghiên cứu đó còn mang tính độc lập (nghiên cứu riêng tư duy

Trang 8

hoặc ngôn ngữ) mà chưa có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ

và tư duy của trẻ

Như vậy, cả về mặt lí luận và thực tiễn, có thể nói rằng vấn đề phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ em giai đoạn ba năm đầu đời chưa được quan tâm đúng mực mà vẫn còn những khoảng trống nhất định Vì vậy, tôi quyết định chọn

đề tài "Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ em từ 1 – 3 tuổi" với mục

đích góp phần nghiên cứu về ngôn ngữ và tư duy cũng như mối quan hệ giữa chúng ở trẻ từ 1 - 3 tuổi Với đề tài này, tôi hy vọng phần nào giúp đỡ được các bậc phụ huynh cũng như các nhà giáo dục trẻ hiểu được một cách đúng đắn về đặc điểm ngôn ngữ và tư duy của trẻ cũng như mối quan hệ giữa chúng để có được sự quan tâm, tác động và giáo dục đúng mực đối với trẻ Theo đó, giúp trẻ

có được sự phát triển tốt nhất, tạo cơ sở và nền tảng tốt cho sự phát triển về sau của trẻ

giữa ngôn ngữ và tư duy để có thể bồi dưỡng, phát triển toàn diện đối với trẻ

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng: đặc điểm phát triển ngôn ngữ, tư duy; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy

- Khách thể: 80 trẻ em từ 1 – 3 tuổi, 10 người lớn chăm sóc trẻ

4 Giả thuyết khoa học

- Tư duy của trẻ từ 1 – 3 tuổi chủ yếu là tư duy trực quan – hành động Trẻ

ở cuối giai đoạn này cũng bắt đầu dần hình thành tư duy trực quan – hình tượng Ngôn ngữ của trẻ 1 – 3 tuổi phát triển mạnh mẽ về cả mặt thông hiểu lời nói; cả

sự hình thành và phát triển ngôn ngữ nói

- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ 1 – 3 tuổi là chặt chẽ và theo chiều thuận Ngôn ngữ phát triển tạo điều kiện cho sự phát triển tư duy; và ngược lại thì sự phát triển tư duy sẽ thúc đẩy quá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ

Trang 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu tài liệu về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em từ 1 - 3 tuổi

- Nghiên cứu tài liệu về đặc điểm tư duy của trẻ em từ 1 – 3 tuổi

- Nghiên cứu tài liệu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ 1- 3 tuổi

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ và tư duy của 80 trẻ em từ 1 – 3 tuổi trên địa bàn Tp Hà Nội thông qua các bảng quan sát, các tình huống

- Phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của trẻ

- Đề xuất những kiến nghị giúp phụ huynh phát triển ngôn ngữ và tư duy của trẻ

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm phát triển ngôn ngữ, tư duy ở trẻ em từ 1 – 3 tuổi và mối quan hệ giữa chúng

6.2 Khách thể và địa bàn nghiên cứu

- 80 trẻ em từ 1 – 3 tuổi ở các nhà trẻ trên địa bàn Tp Hà Nội, 10 người lớn chăm sóc trẻ

6.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2012 đến tháng 05/2014

7 Các phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

7.2 Phương pháp sử dụng thang đo

7.3 Phương pháp quan sát

7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

7.5 Phương pháp phân tích chân dung tâm lý

7.6 Phương pháp thống kê toán học

Trang 10

Chương 1

LÍ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ TƯ DUY Ở

TRẺ 1 – 3 TUỔI 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài về ngôn ngữ, tư duy và mối quan

hệ giữa chúng ở trẻ từ 1 – 3 tuổi

Vấn đề về tư duy và ngôn ngữ; cũng như mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ đã được nghiên cứu từ rất sớm Và, vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ không chỉ là mối quan tâm ở trong tâm lí học mà cả trong logic học và ngôn ngữ học Theo đó, có hai quan điểm cơ bản thường được phát biểu và ủng hộ nhiều hơn cả trong lĩnh vực này là:

- Quan điểm thứ nhất, là quan điểm cho rằng tư duy và ngôn ngữ là đồng nhất (tư duy là ngôn ngữ thầm, là “ngôn ngữ trừ đi âm thanh”)

- Quan điểm thứ hai, là quan điểm cho rằng tư duy và ngôn ngữ chỉ gắn bó

bề ngoài với nhau (ngôn ngữ là lớp vỏ bên ngoài của tư duy, là phương tiện biểu hiện các ý nghĩ có sẵn nảy sinh bên ngoài hình thái các từ và các hình tượng cảm tính)

Trong tâm lý học hiện đại, biểu hiện của quan điểm thứ nhất là cách giải thích theo chủ nghĩa hành vi coi tư duy là kĩ xảo ngôn ngữ vận động; còn biểu hiện của quan điểm thứ hai là những lí luận khác nhau về tư duy “thuần túy” do trường phái Vuxbua sản sinh ra

Tác giả A N Xôkôlôv trong tác phẩm “Ngôn ngữ bên trong và tư duy” đã cho rằng: chúng ta thiên về việc gán cho hành động tư duy có 1 sự độc lập hoàn toàn đối với ngôn ngữ, nếu như một cá thể thành thạo được hoặc có khả năng thành thạo được các khái niệm của mình mà không cần sự hướng dẫn bằng lời từ phía hoàn cảnh xung quanh Rất có thể là tình trạng trí tuệ của cá thể như vậy, phát triển trong những điều kiện như vậy sẽ rất là nghèo nàn Như vậy, chúng ta

có thể kết luận rằng, sự phát triển trí tuệ của cá thể và con đường hình thành các khái niệm của cá thể này phụ thuộc rất nhiều vào ngôn ngữ Điều này làm cho chúng ta hiểu được rằng sự phát triển của ngôn ngữ đồng thời cũng là phương

Trang 11

tiện của sự phát triển trí tuệ Hiểu theo nghĩa này thì tư duy và ngôn ngữ là có liên hệ lẫn nhau [26; tr 77 - 78]

Thật vậy, việc phân tích lịch sử - xã hội vấn đề tư duy và ngôn ngữ theo các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã làm bộc lộ ra tính không có căn

cứ khoa học của các quan niệm như trên, đã làm bộc lộ ra đặc tính máy móc và duy tâm của các quan niệm đó và đã xác lập được mối liên hệ lẫn nhau giữa ngôn ngữ và tư duy, xác lập được sự thống nhất không thể tách rời được của ngôn ngữ

và tư duy trong quá trình giao tiếp và hoạt động nhận thức của con người Nảy sinh ra như là phương tiện để giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau, ngôn ngữ đồng thời cũng trở thành phương tiện tư duy Nó khái quát hóa và ghi lại kinh nghiệm xã hội của con người và lời người ở dạng các khái niệm, phán đoán và suy luận Mặt khác, tư duy thể hiện ra như là phương tiện để hình thành và phát triển các ý nghĩ

đó, như là phương tiện để phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa các sự vật hiện tượng của hiện thực

Các nhà tâm lí học Liên Xô cũng đã đề cập đến vấn đề tư duy và mối quan

hệ của nó với ngôn ngữ trong tác phẩm ''Tâm lí học" như sau:

Tư duy nảy sinh trên cơ sở phản xạ định hướng ở lứa tuổi nhỏ mang tính chất thực tiễn (giống như hành động của khỉ) Mức độ sớm nhất về tư duy của trẻ được thể hiện như sau:

- Các em giải được các bài “toán” rất trực quan (các trò chơi, rút dây giày, luồn các dây nhỏ qua lỗ nhỏ…)

- Các bài “toán” bắt đầu xuất hiện như “một cái mồi” Nó lôi cuốn đứa trẻ ngay từ khi các em mới được nửa năm Bài “toán” được người lớn nêu lên thành câu hỏi hoặc thành các mệnh lệnh làm tăng tính mục đích và tính hợp lí trong các hoạt động trước đây không theo trật tự nào của đứa trẻ Điều đó nói lên hoạt động

tư duy điển hình của con người

- Bài “toán” được giả bằng hành động thực tế, bằng con đường phân tích thực tế các đối tượng hoàn chỉnh và kết hợp các bộ phận của chúng lại với nhau

- Trẻ em ngay cả khi giải đúng bằng hành động một bài “toán” thực tế đơn giản, các em cũng không nói nhiều về những cách thức mà các em đã sử dụng

Trang 12

Việc nắm vững ngôn ngữ thể hiện trước hết đứa trẻ phải hiểu được, sau đó nói lên lời, tích lũy nhanh chóng kinh nghiệm đời sống thực tế, đảm bảo cho sự phát triển tư duy sau này của đứa trẻ [12]

Vậy, giữa tư duy và ngôn ngữ có mối liên hệ lẫn nhau Mối quan hệ này cũng được thể hiện ngay cả ở tư duy và ngôn ngữ của trẻ em Và nội dung này vẫn luôn có được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Các tác giả đã và đang tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra những kết luận của mình Trong đó, phải

kể đến các tác giả nổi bật sau:

* Jean Piaget (1896 – 1980), là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy

Sĩ Tên tuổi của ông được biết đến trên toàn thế giới vì những cống hiến to lớn của ông cho nền tâm lý học và giáo dục học thế kỉ XX Suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học miệt mài, J Piaget đã để lại một di sản khổng lồ các công trình nghiên cứu được ghi chép bằng số liệu tỉ mỉ và một kho tàng các tác phẩm nổi tiếng như

“Ngôn ngữ và tư duy của trẻ” (1923), “Tâm lí học trí khôn” (1946), “Tâm lí học trẻ em” (1966)…

Những thành tựu nghiên cứu về sự phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em

mà ông phát hiện ra là một trong những đóng góp lớn nhất cho sự phát triển tâm

lý học thế kỷ XX Mối quan tâm lớn nhất của Piaget là cấu trúc trí tuệ và quá trình phát sinh phát triển trí tuệ của trẻ em như thế nào? Theo ông, trí tuệ của cá nhân phát triển từ thấp đến cao được tuân theo trật tự chặt chẽ Đây không phải là trật tự thời gian mà là trật tự kế tiếp, mọi cá nhân phát triển bình thường đều phải tuân theo trật tự đó Đồng thời quá trình phát triển này theo hai quy luật: tăng trưởng liên tục, từng tí một và phát triển nhảy vọt Chính sự nhảy vọt cho ta khái niệm giai đoạn Piaget cho rằng mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển

Một giai đoạn trí tuệ có những đặc trưng sau:

- Thứ nhất, các thành tựu trí tuệ giai đoạn này là sự kế tiếp giai đoạn trước

- Thứ hai, các thành tựu của gia đoạn này cũng là sự thống hợp các cấu trúc

đã có từ giai đoạn trước

- Thứ ba, mỗi giai đoạn là một cấu trúc tổng thể các sơ đồ chứ không phải

là sự xếp chồng các sơ đồ lên nhau

Trang 13

- Thứ tư, mỗi giai đoạn đều gồm các cấu trúc đã có, đang có và các yếu tố chuẩn bị cho giai đoạn tiếp sau

Dựa vào các tiêu chuẩn trên, sắp xếp các dữ kiện, Piaget chia quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em thành các giai đoạn lớn:

- Giai đoạn cảm giác - vận động, gọi tắt là giai đoạn giác - động(từ 0 đến 1.5 tuổi hay 2 tuổi) J Piaget đã chia sự hình thành và phát triển tư duy trong giai đoạn giác – động làm 6 thời kì nhỏ:

+ Thời kì 1 (0 - 1 tháng): Các phản xạ có tính chất bẩm sinh - phản xạ bú, được phát động do sự kích thích của môi trường và chúng càng được lặp lại càng

có hiệu lực hơn Từ đó hình thành sơ cấu cảm giác và cử động Sự lặp lại các phản xạ bú tạo ra phản ứng vòng tròn sơ cấp

+ Thời kì 2 (1 - 4 tháng): hình thành tri giác và thói quen vận động, qua điều kiện hoá các phản xạ đã có theo các tương tác của môi trường (động tác mút khi nhìn thấy bầu sữa v.v…)

+ Thời kì 3 (4 - 8 tháng): phản ứng vòng tròn thứ cấp được thiết lập do sự lặp lại các cư xử (các phản ứng) phối hợp giữa hệ thống tự giác với các sơ cấu vận động (lặp lại các hành vi kéo sợi dây làm lắc quả chuông để phát ra tiếng kêu.v.v…)

+ Thời kì 4 (8 - 12 tháng): hình thành khả năng phối hợp phương tiện - mục đích (nhấc tay người lớn để lấy đồ chơi v.v…) Xuất hiện dấu hiệu của trí khôn, trên cơ sở sơ đồ mục đích - phương tiện

+ Thời kì 5 (12 - 18 tháng): phát hiện ra các phương tiện mới, khả năng mục đích - phương tiện (kéo chiếu để cho búp bê lại gần Kéo sợi dây để lấy vật v.v…)

+ Thời kì 6 (18 - 24 tháng): phát sinh các “giải pháp sáng tạo” (hiện tượng bừng hiểu) trong ứng xử (tìm cách mở nắp hộp hoặc bao diêm lấy kẹo hay vật hấp dẫn nào đó v.v…) Điều này chứng tỏ trẻ đã có sự nhập tâm các sơ đồ hành động và có sự phôi hợp các sơ đồ đó ở trong đầu Nhiều nhà tâm lý học cho rằng, trẻ 2 tuổi đạt mức trí tuệ hành động, giống như trí tuệ của khỉ hình người trong các thực nghiệm của W Koehler

Trang 14

- Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7 - 8 tuổi đến 11 - 12 tuổi)

- Giai đoạn thao tác hình thức (từ sau 11- 12 tuổi)

Về sự phát triển ngôn ngữ, Piaget cho rằng: ở đứa trẻ bình thường, ngôn ngữ xuất hiện gần như đồng thời với những hình thức khác của tư duy kí hiệu Theo ông, sau một giai đoạn bi bô tự phát (chung ở trẻ e thuộc tất cả các văn hóa

từ 6 đến 10 – 11 tháng tuổi), thứ ngôn ngữ này bắt đầu bằng một giai đoạn sau khi thời kỳ giác động kết thúc, mà người ta thường mô tả như ngôn ngữ bằng những “từ - câu” Những từ đơn nhất ấy có thể lần lượt thể hiện những ham muốn, những xúc cảm hay những nhận xét Từ cuối năm thứ hai, người ta thấy

có những câu gồm hai từ, rồi những câu nhỏ đầy đủ không chia động từ, rồi dần dần đạt tới những cấu trúc ngữ pháp

Piaget đề cập đến vấn đề ngôn ngữ tự kỷ với quan điểm: ngôn ngữ tự kỷ là

sự thể hiện trực tiếp tính tự kỷ của ý nghĩ trẻ em, là sự thỏa hiệp từ ban đầu giữa tính tự kỷ của tư duy trẻ em và sự xã hội hóa từ của nó, là sự thỏa hiệp có tính chất cơ động, trong đó, tùy theo mức độ phát triển của trẻ, các yếu tố tự kỷ giảm

đi và các yêu tố tư duy được xa hội hóa tăng lên, nhờ đó tính tự kỷ trung tâm cả trong tư duy và trong ngôn ngữ dần biến mất Về mặt chức năng, ngôn ngữ tự kỷ không phải là cái gì khác ngoài sự phụ họa đơn giản, kèm theo giai điệu chính của hoạt động của trẻ em và khong làm thay đổi điều gì trong giai điệu đó Có lẽ

đó là hiện tượng kèm theo chứ không thực hiện bất cứ chức năng nào trong hành

vi và tư duy của trẻ Và, ngôn ngữ tự kỷ là biểu hiện trực tiếp mức độ chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ của việc xã hội hóa của ngôn ngữ trẻ em

Khi bàn về ngôn ngữ và tư duy, Piaget cho rằng: những tiến bộ của tư duy biểu tượng, so với hệ thống các dạng thức giác – động, trên thực tế là nhờ chức năng kí hiệu nói chung mà có Chính chức năng này làm cho tư duy tách khỏi hành động và do đó tạo ra biểu tượng Ông cũng thừa nhận rằng, trong quá trình hình thành ấy, ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì trái với những công

cụ ký hiệu khác (những hình ảnh…) được cá nhân tạo ra theo những nhu cầu, ngôn ngữ đã được xây dựng xong xuôi về mặt xã hội và đối với các cá nhân học

để sử dụng nó trước khi góp phần làm phong phú nó, ngôn ngữ chứa đựng sẵn

Trang 15

một tập hợp với những công cụ nhận thức (những liên hệ, những phân loại…) phục vụ cho tư duy [7]

Tuy nhiên, đối với trẻ em thì ông vẫn quan điểm rằng ngôn ngữ không quan trọng lắm đối với sự phát triển của tư duy Theo ông, tư duy phát triển là nhờ có việc trẻ hành động tực tiếp với các vật thể vật chất, phát hiện ra những thiếu sót trong tư duy hiện có, luyện tập để sáng tạo ra phương thức tư duy phù hợp với hiện thực (Piaget nhân mạnh tầm quan trọng của hoạt động trực quan của trẻ với

đồ vật) Theo đó, hạn chế của Piaget là không đánh giá hết được vai trò to lớn của ngôn ngữ trong việc thúc đẩy sự phát triển của tư duy

Quan điểm của Piaget có ảnh hưởng to lớn đến giáo dục mẫu giáo và tiểu học thông qua ba điểm sau:

+ Chú trọng cho trẻ hoạt động tìm tòi: trẻ em được động viên tự tìm tòi phát hiện qua sự tác động ngẫu nhiên Thay vì cung cấp cho trẻ kiến thức sẵn có bằng lời, người ta đưa ra một loạt các hoạt động thiết kế nhằm kích thích cho trẻ khám phá, phát hiện, tìm tòi và cho phép trẻ tự do lựa chọn các hoạt động này + Nhận thức rõ sự sẵn sàng học tập của trẻ Người ta không cố gắng thúc đẩy sự phát triển của trẻ em Nội dung học tập được xác định trên mức độ phát triển của trẻ Giáo viên quan sát và lắng nghe học sinh của mình, giới thiệu những kinh nghiệm cho phép trẻ thực hành những mô hình mới sửa đổi cách nhìn nhận thế giới còn sai lạc Những kĩ năng mới không thể được áp đặt trước khi trẻ hoàn toàn thích thú hay sẵn sàng

+ Công nhận sự khác biệt cá thể Lí thuyết của Piaget cho rằng tất cả trẻ em đều trải qua trình tự phát triển như nhau nhưng trẻ em phát triển với những tốc độ khác nhau Vì thế, giáo viên phải nỗ lực tổ chức hoạt động cho từng trẻ, hoặc nhóm không phải theo cả lớp

Lí thuyết của Piaget chú ý nhiều đến hành vi như một cách thức học tập mà coi nhẹ giao tiếp ngôn ngữ Ảnh hưởng của Piaget đến giáo dục rất lớn; cung cấp cho giáo viên cách thức để quan sát, nhận định và tăng cường sự phát triển của trẻ em Ông còn trang bị những cơ sở lí luận cho cách tiếp cận theo hướng lấy trẻ

em làm trung tâm hoạt động và giảng dạy

Trang 16

*L X.Vưgôtxki (1896- 1934), là nhà Tâm lý học Xô Viết vĩ đại Chỉ sau

gần 10 năm hoạt động với tư cách là nhà tâm lý học chuyên nghiệp ông đã để lại hàng trăm công trình nghiên cứu tâm lí học Và ngày nay, tư tưởng của ông vẫn mang tính thời sự, những số liệu, nghiên cứu và giả thuyết của ông vẫn đang được chứng minh Quan điểm của ông được đánh giá cao không chỉ bởi các nhà tâm lí học hoạt động mà cả những nhà tâm lí học Âu – Mỹ Cùng với J Piaget, ông được coi là người sáng lập ra tâm lí học phát triển

Vấn đề tư duy và ngôn ngữ chiếm vị trí trung tâm trong các công trình nghiên cứu của L X Vugotxki cũng như tâm lý học Xô viết đã giải quyết được rất nhiều vấn đề trong lĩnh vực này theo quan điểm mới và khoa học triệt để: nguồn gốc của tư duy, trí tuệ và của ngôn ngữ, bản chất xã hội của tư duy ngôn ngữ, vai trò của ngôn ngữ trong tư duy và trí tuệ trẻ em, bản chất của khái niệm khoa học và vai trò của phương tiện kí hiệu (ngôn ngữ) trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự hình thành và phát triển của ý và nghĩa trong quá trình hình thành phát triển từ, tức là mối quan hệ phát sinh giữa ý, nghĩa và từ ngữ… Toàn bộ những vẫn đề nêu trên được L X Vugotxki giải quyết theo tư tưởng phát triển, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc gián tiếp, lịch sử, tiếp cận theo phương pháp lịch sử - phát sinh, phương pháp phân tích đơn vị, phương pháp công cụ và phương pháp kích thích kép… Nói cách khác, ở đây hội tụ đầy đủ các nguyên lý, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể của L.X.Vugotxki và cộng sự Trong quá trình giải quyết những vấn đề trên L.X.Vưgotxki cũng thường xuyên đề cập và tranh luận với nhiều nhà tâm lý học đương thời có quan điểm khác, đặc biệt là với W.Sterner, J.Piaget, Keler, J.Watson Các kết quả nghiên cứu vấn đề này được L.X.Vưgotxki phân tích trong tác phẩm “Công cụ và kí hiệu trong sự phát triển của trẻ em” (1930) và sau này được tổng kết trong tác phẩm tâm lý học lớn nhất của ông “Tư duy và ngôn ngữ” (1934) Sau đây là một số luận điểm chính của L.X.Vưgotxki về vấn đề tư duy và ngôn ngữ

- Nguồn gốc phát sinh của tư duy, ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ

Theo L.X.Vưgotxki, tư duy và ngôn ngữ có nguồn gốc khác nhau và đều bắt nguồn từ hành động Sự phát triển của tư duy và của ngôn ngữ đến một thời

Trang 17

điểm nhất định sẽ diễn ra sự kết hợp, trong đó tư duy có ngôn ngữ còn ngôn ngữ

là ngôn ngữ trí tuệ

Sử dụng phương pháp phân tích đơn vị và phương pháp luận lịch sử phát sinh để phân tích kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học lớn đương thời như Keler, J.Watson, J.Piaget, Sterner v.v… L.X.Vưgotxki đã đi đến những kết luận: + Trong quá trình phát sinh cá thể của tư duy và ngôn ngữ, chúng ta tìm thấy nguồn gốc khác nhau của hai quá trình này

+ Trong quá trình phát triển ngôn ngữ trẻ em, chúng ta có thể thừa nhận có

“giai đoạn tiền trí tuệ” cũng như trong quá trình phát triển tư duy có “giai đoạn tiền ngôn ngữ”

+ Trước thời điểm nào đó, sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ theo hai đường khác nhau, độc lập với nhau

+ Tại một thời điểm nào đó, cả hai tuyến cắt nhau, sau đó tư duy trở thành

tư duy ngôn ngữ, còn ngôn ngữ trở thành ngôn ngữ trí tuệ [15; tr 536 - 537]

- Sự phát triển tư duy, ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ ở trẻ em

L.X.Vưgotxki không tán thành các quan niệm cực đoan, hoặc cho rằng trí tuệ cấp cao của người có nguồn gốc từ trí tuệ của khỉ và nó chính là sự tiếp tục trực tiếp của các nguồn gốc đó, mà không có bước nhảy vọt sang hình thức tồn tại mang tính chất xã hội; hoặc cho rằng trí tuệ cấp cao là phát kiến vĩ đại của chính đứa trẻ, qua việc tự nó tìm ra được quan hệ giữa kí hiệu và ý nghĩa của nó, nghĩa là tư duy, trí tuệ như là hành động tinh thần thuần tuý

Theo L.X.Vưgotxki, trẻ em chỉ sử dụng công cụ giống như khỉ (trong các thực nghiệm của Keler) cho đến khi chúng vẫn còn ở giai đoạn phát triển tiền ngôn ngữ Nhưng ngay sau khi ngôn ngữ của trẻ được xuất hiện và được đưa vào

sử dụng thì việc sử dụng công cụ của trẻ được đổi mới hoàn toàn, khắc phục được các qui luật tự nhiên sẵn có và lần đầu tiên tạo ra hình thức sử dụng công cụ đặc trưng cho loài người Từ thời điểm này, trẻ nhỏ với sự giúp đỡ của ngôn ngữ, bắt đầu làm chủ tình huống, làm chủ hành vi bản thân, xuất hiện hình thức tổ chức hành vi hoàn toàn mới cũng như quan hệ mới với môi trường Đứa trẻ ở trong điều kiện nảy sinh các dạng hành vi đặc trưng cho loài người, tách rời khỏi

Trang 18

các dạng hành vi động vật, phát triển trí tuệ và sau đó mang tính chất cơ bản đối với lao động - hình thức sử dụng công cụ của loài người [15; tr 537]

L.X Vưgotxki cũng cho rằng quá trình phát triển nêu trên không phải là kết quả của chính hành động trí tuệ (như quan điểm của trường phái Vuxbua), cũng không phải là sản phẩm của quá trình tự động hoá, xuất hiện như là sự bừng hiểu

ở thời điểm của cuối quá trình hành động (như lí luận của trường phái Gestalt) Ông cho rằng: “ngay từ những ngày đầu tiên, sự thích ứng của nó với môi trường được thực hiện bằng các phương tiện xã hội thông qua những người xung quanh Con đường từ đồ vật đều trẻ em và từ trẻ em đến đồ vật đều đi qua người khác Chuyển từ con đường phát triển sinh học sang con đường phát triển xã hội, tạo thành mắt xích trung tâm trong quá trình phát triển, là bước ngoặt cơ bản trong lịch sử hành vi của trẻ em Con đường đi qua người khác là con đường trung tâm của sự phát triển trí tuệ” [15; tr 539]

Con đường đi từ đồ vật đến trẻ em và từ trẻ em đến đồ vật đều đi qua người khác Nếu chúng ta chỉ đặt trẻ vào môi trường có toàn đồ vật mà không có hướng dẫn, không có ngôn ngữ trong quá trình hướng dẫn trẻ chơi thì nó cũng chỉ là đống đồ chơi chết cứng, trẻ có thể thích một hai loại đồ chơi do màu sắc,

âm thanh hay kích cỡ, nhưng trẻ cũng chỉ biết cầm nó như một vật vô tri Vậy nên vai trò của người hướng dẫn trong giai đoạn đầu đời của trẻ là hết sức quan trọng

L.X.Vưgotxki trong ''Tư duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng: hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội Theo ông, khi trẻ

em gặp một số khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với người lớn và của bạn bè có năng lực cao hơn, những người này đã giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này, những quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được truyền giao sang trẻ, mà ở đó ngôn ngữ là phương thức đầu tiên trao đổi các giá trị xã hội Vưgotxky coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tư duy

Cũng bàn về vấn đề ngôn ngữ tự kỷ nhưng theo quan điểm đối lập với Piaget, Vưgotxki cho rằng: ngôn ngữ tự kỷ của trẻ em là một trong những hiện tượng chuyển từ các chức năng tâm lý bên ngoài vào các chức năng tâm lý bên

Trang 19

trong Sự chuyển tiếp này là quy luật chung tương đối với sự phát triển tất cả các chức năng tâm lý cấp cao Các chức năng này, ngay từ đầu, xuất hiện như là các hình thực hoạt động hợp tác và chỉ sau đó mới được trẻ em chuyển vào lĩnh vực các hình thức hoạt động tâm lý Ngôn ngữ cho bản thân xuất hiện bằng con đường phân hóa chức năng ngôn ngữ có tính chất xã hội có sẵn từ đầu cho người khác Theo ông, ngôn ngữ tự kỷ có chức năng gần gũi với chức năng của ngôn ngữ bên trong Đó không phải là giai điệu phụ họa mà là giai điệu chính, là chức năng độc lập, phục vụ cho mục tiêu của hoạt động trí tuệ, cho ý thức khắc phục khó khăn và trở ngại, cho tưởng tượng và tư duy Đó là ngôn ngữ cho mình, phục

vụ cho tư duy trẻ em [34]

Như vậy, Vưgotxki cho rằng ngôn ngữ giúp trẻ tư duy và lựa chọn các hành động phù hợp Ông đánh giá ngôn ngữ như nền tảng cho tất cả các quá trình tư duy bậc cao như điều khiển, chú ý, ghi nhớ có chủ định và nhớ lại, phân loại kế hoạch hóa hoạt động và giải quyết vấn đề Trẻ càng lớn càng thấy các hoạt động

dễ dần, ngôn ngữ tự điều chỉnh sẽ chuyển vào bên trong thành lời nói thầm L.X.Vưgotxki cũng đã có những kết luận quan trọng về mặt giáo dục đối với trẻ Theo ông, giáo dục không đi cùng hoặc đi sau sự phát triển, mà giáo dục phải đi trước sự phát triển, và ông đưa ra khái niệm “vùng phát triển gần nhất” Khái niệm “vùng phát triển gần nhất” dựa trên quan điểm rằng: nếu có người định hướng và hỗ trợ giải quyết một phần khó khăn của nhiệm vụ, thì người học có thể tư duy theo cách tiến bộ hơn so với khi phải thực hiện toàn bộ nhiệm vụ đó một mình Đối với mỗi trẻ nhất định, vùng phát triển gần nhất được xác định là khoảng cách giữa những gì trẻ có thể hoàn thành khi giải quyết vấn

đề một mình và những gì trẻ có thể làm được khi nhận được sự giúp đỡ hữu ích Mặc dù hai đứa trẻ có khả năng như nhau để làm bài tập một mình, một trẻ có khả năng hoàn thành nhiều hơn khi được giúp đỡ, trong khi trẻ kia không nhận được sự giúp đỡ đáng kể thì hoàn thành ít hơn Việc trẻ làm tốt đến mức độ nào khi được giúp đỡ thì nói lên nhiều điều về tư duy của trẻ hơn là việc trẻ không làm tốt khi không được trợ giúp

Trong lý thuyết về “vùng phát triển gần nhất” có khái niệm “thời kì giảng

Trang 20

cơ thể nhạy bén nhất đối với một loại tác động nào đó, mà ở thời kì khác tác động đó có thể chỉ là trung tính, hay tác động kém L.X.Vưgotxki viết: “Vì vậy việc giảng dạy chỉ có kết quả nhất khi nó được tiến hành trong một thời kỳ nhất định, thời kỳ này được xác lập bởi vùng phát triển gần – có khi còn gọi là thời kỳ

có ngưỡng thấp (nhạy cảm cao) của giảng dạy; thời kỳ ngược lại gọi là thời kỳ có ngưỡng cao (kém nhạy cảm)”

Tiếp thu quan điểm của Vưgotxki, người ta chỉ ra hai đặc điểm quan trọng của quá trình trẻ hoạt động với người lớn Đó là:

+ Tính liên chủ thể: hai người tham gia vào cùng một nhiệm vụ từ khác biệt đến thống nhất Liên chủ thể tạp ra cơ sở chung cho giao tiếp khi từng cá thể tự điều chỉnh để phù hợp với quan điểm của bạn giao tiếp Người lớn cố gắng thúc đẩy tính liên chủ thể khi diễn đạt hiểu biết của mình trong cách thức để hiểu vấn

đề của trẻ Khi trẻ cố gắng lĩnh họi sự giảng giải tức là nó đã bước thêm một bước về nhận thức

+ Phương pháp bắc giàn hay còn gọi là phương pháp thích ứng: người lớn thay đổi sự hỗ trợ của mình đẻ phù hợp với mức độ phát triển hiện có của trẻ

Lí thuyết của Vưgotxki đưa đến một cách nhìn mới trong dạy học, ở đó nhấn mạnh ngữ cảnh giao tiếp Về sự hợp tác cùng nhau, cũng như Piaget, ông coi trọng sự tham gia tích cực và sự khác biệt của các cá thể Khác với Piaget, ông coi giáo dục không chỉ hoàn thiện những cái đã hình thành mà còn thúc đẩy

sự phát triển khi trẻ tiếp thu sự chỉ dẫn, hỗ trợ của người lớnđể giải quyết những nhiệm vụ ở “vùng phát triển gần nhất”

Ngoài quan điểm của các tác giả trên, chúng ta còn có thể kể đến các tác giả nổi tiếng khác nghiên cứu về tư duy và ngôn ngữ của trẻ em như: Henri Wallon, J.S.Bruner, Alfred Binet, Howard Gardne, A.M.Leusina, E.I Chikhiêva, Ph.A.Sokhin, K-Hainơ Dich,

* Alfred Binet, năm 1904, cùng một nhóm các nhà tâm lý học người Pháp

chuyên nghiên cứu tâm lý trẻ đã nghiên cứu thành công phương pháp nhận diện

và đánh giá trí tuệ của học sinh Công trình được được giới chức giáo dục Pháp đánh giá rất cao Sau đó, bài kiểm tra của Binet trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ và bùng phát mạnh vào năm 1917 – chính phủ Mỹ sử dụng bài kiểm tra

Trang 21

này để phân loại, đánh giá và phân bổ tân binh vào các vị trí trong quân đội, trong Thế chiến thứ I Các bài kiểm tra của Binet nhằm kiểm tra trí thông minh đối với học sinh, qua đó ông sẽ đánh giá được năng lực tư duy và suy luận của trẻ trong nhiều lĩnh vực khác nhau Bài kiểm tra đòi hỏi trẻ phải làm một số trắc nghiệm về khả năng làm theo hướng dẫn, bắt chước hình mẫu, gọi tên đồ vật hoặc sắp xếp món đồ theo thứ tự và chủng loại

* J.S.Bruner, nhà tâm lý học Mỹ chuyên nghiên cứu về tâm lý học trẻ em

và các quá trình nhận thức đã phân tích các mức độ khác nhau của hoạt động nhận thức, từ tri giác đến tư duy khái niệm Ở trẻ nhỏ, sản phẩm của quá trình tư duy chính là các biểu tượng, hình ảnh nhưng ở các mức độ khác nhau Sự phát triển của các biểu tượng là một trong những chỉ số của sự phát triển trí tuệ nói chung và sự phát triển tư duy nói riêng

* Tác giả E.I Chikhiêva, nhà sư phạm Nga – Xô viết là một tác giả có uy

tín nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Cuốn sách "Phát triển

ngôn ngữ trẻ em dưới tuổi đến trường phổ thông" của bà đã đề ra các phương

pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống Trong đó, bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu về thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ thông qua các hoạt động chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe để hình thành

và phát triển kỹ năng kể chuyện cho trẻ Bà cũng lưu ý các nhà giáo đến vai trò to lớn của tự nhiên trong việc giáo dục trẻ em nói chung và ngôn ngữ nói riêng Có điều làm sao khi chung đụng với thiên nhiên, các em được quan sát nhiều, hoạt động nhiều và thể hiện tình cảm nhiều thì mới có lợi cho ngôn ngữ Những tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với khoa học giáo dục mầm non [22]

* Tác giả K-Hainơ Dich trong các tác phẩm của mình, trong đó có cuốn

"Dạy trẻ học nói như thế nào?" đã dựa trên cơ sở các đặc điểm phát triển ngôn

ngữ của trẻ để xây dựng nội dung phương pháp, biện pháp và các bài tập phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi học Trong đó, có chú ý tới hoàn chỉnh bộ máy phát âm, tạo môi trường ngôn ngữ nhất là ngôn ngữ của người lớn xung quanh

Trang 22

Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi kế thừa quan niệm của L.X.Vưgôtxki trong việc tìm hiểu, đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, tư duy của trẻ

và mối quan hệ giữa chúng; cũng như trong việc tìm hiểu những tác động ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ và tư duy của trẻ

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước về ngôn ngữ, tư duy và mối quan hệ giữa chúng ở trẻ từ 1 – 3 tuổi

Ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em ngày càng được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục học đặc biệt quan tâm qua các công trình nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề tư duy trẻ em thì vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt Và có chăng thì vấn đề về ngôn ngữ và tư duy của trẻ em vẫn mới chỉ được quan tâm nghiên cứu một cách riêng lẻ (nghiên cứu

về tư duy, hoặc nghiên cứu về ngôn ngữ); còn mối quan hệ lẫn nhau giữa ngôn ngữ và tư duy thì chưa được quan tâm nghiên cứu và chưa có những công trình

chuyên biệt

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ

cho trẻ mẫu giáo” đã chỉ ra rằng: Từ 1 năm đến 1 năm 5 tháng, trẻ em bắt chước

người lớn, lặp lại những từ nghe được: bà, bố, mẹ, ủ (ngủ)… Số lượng từ có thể đạt từ 30 – 40 từ Từ tháng thứ 6 của năm thứ 2, vốn từ tăng vụt lên và đến cuối năm thứ 2 các em có thể nói đến 5, 6 trăm từ Đến năm thứ 3, các em đã sử dụng được từ 1300 từ, trong đó phần lớn là danh từ, động từ còn tính từ và những từ loại khác thì chiếm tỉ lệ rất ít, không đáng kể Những từ được các cháu sử dụng thường là những từ chỉ tên gọi, đồ chơi, đồ dùng, con vật… mà các cháu thường xuyên được tiếp xúc, là những từ chỉ những việc làm của các cháu và của mọi người xung quanh (như: ăn, ngủ, tắm, rửa, quét, đi, bế, cõng…) hoặc là những từ chỉ hành động của những con vật (như: gà mổ thóc, cá bơi…) Vật thể xung quanh thu hút sự chú ý của trẻ và nhận được tên gọi chỉ trong trường hợp người

ta cho trẻ “giao tiếp” với chúng: đụng đến, sờ mó đến vật, mâm mê trong tay, vuốt ve, sờ mó, nghe, ngửi, ăn… Ngay khoảng 2 tuổi, trẻ nhớ tên gọi đối tượng khó khăn nếu chỉ nhìn nó Bên cạnh đó, trong tác phẩm này, tác giả cũng đã đề cập đến nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ khác nhau cho trẻ Theo đó, góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ em [11]

Trang 23

Tác giả Tạ Ngọc Thanh trong tác phẩm “Đánh giá và kích thích sự phát

triển của trẻ 0 – 3 tuổi”, đã cho rằng: Sự phát cảm ngôn ngữ của trẻ diễn ra mạnh

từ 1 – 3 tuổi: trẻ nhớ được các từ, rồi câu nói, các sự việc mới xảy ra, lặp lại các hành động đã làm trước đó Đến cuối 2 tuổi, các âm bập bẹ của trẻ dường như mất đi nhường chỗ cho sự phát triển các từ chỉ động Trẻ 2 – 3 tuổi có số lượng

từ tăng rất nhanh và các từ loại không chỉ là động từ, danh từ như trước hai tuổi

mà dần dần các từ loại khác (tính từ, trạng từ ) cũng xuất hiện Đến 3 tuổi, trẻ đã hiểu được các câu nói, hiểu được nghĩa khái quát của từ (ví dụ: từ “áo” là để chỉ tất cả các áo có hình dáng, kích thước, màu sắc khác nhau) Trẻ 3 tuổi có thể phát

âm rõ ràng để người khác hiểu ý của mình (tuy việc phát âm cũng chưa thật chính xác), có thể kể chuyện đơn giản và có thể thuộc những bài thơ, bài hát ngắn Tác giả cũng cho rằng ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh và có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển tư duy Bên cạnh đó, trong tác phẩm của mình, tác giả đã đưa ra các phương pháp, các chỉ số đánh giá về sự phát triển tâm lí của trẻ từ 0 –

3 tuổi (trong đó có nhận thức và ngôn ngữ); và đưa ra một số biện pháp kích thích sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ cho trẻ giai đoạn này Điều này có ý nghĩa to lớn đối với cả nhà giáo dục và phụ huynh trong việc hiểu rõ hơn và biết cách tác động tốt hơn để kích thích sự phát triển ngôn ngữ và tư duy của trẻ [24] Tác giả Đinh Hồng Thái cũng đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ của trẻ trong

giáo trình "Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non" Trong tác phẩm, tác giả đã trình

bày khá đầy đủ những vấn đề chung về ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ trẻ

em tuổi mầm non; cũng như trình bày những đặc điểm phát triển ngôn ngữ và những nhiệm vụ, nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Đây được xem

là cuốn giáo trình khá đầy đủ về phát triển ngôn ngữ của trẻ [20]

Tác giả Bùi Kim Tuyến và các công sự của mình cũng đã đề cập đến vấn đề

trong tác phẩm "Các hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non" Các tác

giả đã dựa trên đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ để đề ra các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ Theo đó, cuốn sách đã cung cấp cho các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh những hiểu biết khái quát

về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ cũng như có được những hoạt động có thể kích

Trang 24

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Huy Cẩn "Các quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trẻ em" và luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Thị Lan "Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ mẫu giáo" đã khái quát các bước phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 1 - 6 tuổi Tác giả đã tập trung mô tả khá tỉ mỉ các hiện tượng xuất hiện ngôn ngữ tự nhiên của trẻ về mặt ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng Các công trình này cung cấp tài liệu về những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em Việt Nam, đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em trước tuổi học đưa ra những

cơ sở khoa học định hướng cho việc nghiên cứu tiếp công trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non và đào tạo giáo viên mầm non

Về tư duy trẻ em thì có thể nói là ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em của Hồ Ngọc Đại, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Khắc Viện…đã đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng

Thành tựu nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ trẻ em đầu tuổi học của Hồ Ngọc Đại đã chỉ ra chiến lược về giáo dục trí tuệ Cùng với đồng nghiệp của mình là Nguyễn Kế Hào và các cộng sự ở Trung tâm Công nghệ giáo dục, ông đã thực hiện một số công trình thực nghiệm dài hạn về chiến lược giáo dục mới với

tư tưởng cơ bản là: người lớn tổ chức trẻ em hoạt động để chiếm lĩnh nền văn

hóa loài người

Công trình nghiên cứu về trí thông minh của Phạm Hoàng Gia cho rằng trí thông minh ở trẻ em, một sản phẩm tư duy được đặc trưng bởi tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong nhận thức và hành vi Vậy cốt lõi của trí thông minh chính là tư duy Quá trình phát triển tư duy cũng chính là con đường lĩnh hội khái niệm, là tiền tố tạo nên trí thông minh Việc hình thành trí thông minh ở trẻ em là con đường vững chắc nhất để chiếm lĩnh khái niệm khoa học Ở trẻ mẫu giáo, trí thông minh thể hiện trong thao tác với đồ vật Đó là kỹ năng, kỹ xảo thuần thục,

óc quan sát, trí nhớ logic, sự thể hiện ngôn ngữ Ở trẻ em, trí thông minh và năng khiếu phải được bộc lộ và phát triển trong hoạt động của chính bản thân đứa trẻ

Trang 25

Các công trình nghiên cứu của bác sỹ Nguyễn Khắc Viện về tâm lý học trẻ

em có một ý nghĩa đặc biệt sâu sắc Qua nhiều năm làm việc, tiếp xúc với trẻ em, ông cho rằng trí khôn của trẻ biểu hiện ở chỗ biết định hướng trong không gian, thời gian và các mối quan hệ xã hội Các bài viết của ông thể hiện một tình yêu tha thiết đối với con trẻ, một mong muốn mãnh liệt là làm sao nền giáo dục nước nhà không làm thui chột mà ngược lại phát triển hết mọi khả năng có thể có của trẻ em

Cũng xuất phát từ quan điểm cơ bản của lý thuyết hoạt động, trong lĩnh vực

tư duy của trẻ mẫu giáo, Nguyễn Ánh Tuyết đã có công trình nghiên cứu về tính linh hoạt trong tư duy bằng thực nghiệm cho trẻ hành động trên các đồ vật có nhiều hình dạng khác nhau gồm nhiều biến thể của các hình học Kết quả, trẻ giải quyết nhiệm vụ thực tiễn một cách linh hoạt với nhiều phương án khác nhau, chứ không rập khuôn theo một mẫu cứng nhắc nào Từ đó tác giả cho rằng, nếu trẻ

em mẫu giáo hành động với các đồ vật phong phú đa dạng sẽ tránh được sự cứng nhắc, gò bó trong hành động vật chất, dẫn tới kiểu tư duy giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa sau này

Trong luận án “Xây dựng trắc nghiệm đánh giá sự phát triển tâm lí của trẻ cuối độ tuổi nhà trẻ” (2002), tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh dựa trên cơ sở lí luận về việc xây dựng và đánh giá trắc nghiệm, và đã xây dựng thành công trắc nghiệm TBT đánh giá sự phát triển tâm lí của trẻ cuối độ tuổi nhà trẻ Phương pháp thiết

kế và kiểm nghiệm trắc nghiệm của tác giả được thực hiện qua 3 bước: Xây dựng các tiêu chí và thiết kế trắc nghiệm → Thử nghiệm trắc nghiệm trên 44 trẻ thuộc các trường mầm non của quận Ba Đình và Thanh Trì (mẫu đại diện cho trẻ nông thôn và thành thị) → Kiểm nghiệm trắc nghiệm trên 405 trẻ trên địa bàn nội và ngoại thành thành phố Hà Nội Sau khi thử nghiệm và kiểm nghiệm, Test TBT được chỉnh sửa và hoàn chỉnh bao gồm 3 lĩnh vực: tâm vận động, trí tuệ và cá nhân – xã hội; mỗi lĩnh vực có từ 3 đến 7 chỉ báo; mỗi chỉ báo đều gồm 4 item được sắp xếp theo mức độ khó tăng dần Kết quả kiểm định độ tin cậy và độ hiệu lực đã chứng tỏ rằng test TBT là công cụ đáng tin cậy để đo sự phát triển tâm lý

Trang 26

cho những nhận xét có ý nghĩa thống kê và phù hợp với thực tiễn như: trẻ vùng nội thành đạt kết quả cao hơn trẻ vùng ngoại thành chỉ ở lĩnh vực cá nhân – xã hội, trẻ gái đạt kết quả cao hơn trẻ trai ở hai lĩnh vực trí tuệ và cá nhân – xã hội, trẻ sức khỏe bình thường đạt kết quả cao hơn trẻ suy dinh dưỡng độ 1 chỉ ở lĩnh vực tâm vận động … [23]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn với luận án “Nghiên cứu mức độ trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại Tp Hồ Chí Minh” (2003): Khách thể nghiên cứu của luận

án là 1120 trẻ em mẫu giáo ở một số trường mầm non tại Tp.HCM, 60 giáo viên,

30 hiệu trưởng, hiệu phó chuyên môn và 120 phụ huynh của trẻ Luận án đã sử dụng các phương pháp quan sát, phỏng vấn, bảng hỏi, trắc nghiệm (Trắc nghiệm Raven màu và trắc nghiệm A.Rey) và thực nghiệm Kết quả nghiên cứu cho phép tác giả rút ra các kết luận sau:

+ Đa số trẻ em mẫu giáo có mức độ trí tuệ trung bình trở lên và trẻ có mức

độ trí tuệ thấp chiếm hơn 25%

+ Không có sự khác biệt về mức độ trí tuệ giữa trẻ nam và nữ; sự khác biệt

về mức độ trí tuệ của trẻ nội thành và trẻ ngoại thành thể hiện khá rõ trong đó trí tuệ của trẻ nội thành cao hơn so với trí tuệ của trẻ ngoại thành trong cùng độ tuổi; thành phần gia đình có ảnh hưởng nhất định đến mức độ trí tuệ của trẻ

+ Về những biểu hiện trong sự phát triển khả năng nhận thức: Khả năng tri giác trực tiếp của trẻ chỉ mở mức trên trung bình, tính linh hoạt của tri giác còn hạn chế; khả năng phân tích tổng hợp đã phát triển tương đối nhưng chưa đạt mức phát triển như khả năng so sánh, khái quát hóa; việc sử dụng hợp lí các thao tác tư duy vẫn còn hạn chế…

+ Trí tuệ của trẻ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có môi trường giáo dục, phụ huynh, bầu không khí tâm lí gia đình, công tác tổ chức quản lí trường lớp mầm non Tuy nhiên ảnh hưởng nổi bật nhất là của thực trạng việc tổ chức môi trường giáo dục và tổ chức hoạt động vui chơi, học tập cho trẻ

+ Thực nghiệm cho thấy trí tuệ của trẻ phát triển mạnh dưới ảnh hưởng của biện pháp “tăng cường các trò chơi học tập có chú trọng thực sự đến các hành động trí tuệ nhằm chuẩn bị tốt nhất cho sự phát triển trí tuệ” và biện pháp “kích thích tính tích cực của trẻ ở góc khoa học, tập cho trẻ làm quen khoa học và tiến

Trang 27

hành thử nghiệm một số thí nghiệm khoa học ở góc khoa học để phát triển năng lực trí tuệ của trẻ” [18]

Nhìn chung, các tác giả đã có sự quan tâm và nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ, trí tuệ, tư duy của trẻ Theo đó, các tác giả cũng đã dựa vào sự phát triển tâm lý trẻ em và đặc điểm của sự phát triển ngôn ngữ, trí tuệ, tư duy của trẻ em

để bước đầu đã đưa ra những phương pháp, biện pháp cụ thể, phù hợp nhằm phát triển ngôn ngữ cũng như trí tuệ, tư duy cho trẻ Đó là những đóng góp quan trọng

về lý luận thúc đẩy sự phát triển của trẻ Đồng thời, tạo cơ sở lí luận cho những nghiên cứu về sau

1.1.3 Những quan điểm về việc giáo dục sớm

Bên cạnh những quan điểm về giáo dục trẻ theo các quan điểm truyền thống, ngày nay, trên thế giới và ở Việt Nam đang phát triển những quan điểm mới về giáo dục trẻ Đó là những quan điểm về giáo dục sớm đối với trẻ Có thể thấy nổi bật nhất hiện nay là “Phương án 0 tuổi” (của tác giả Phùng Đức Toàn)

và “Phương pháp Glenn Doman”

Là một người nổi tiếng trong lĩnh vực giáo dục sớm, năm 2009, GS Phùng Đức Tàn đã xuất bản ở Việt Nam với bộ ba cuốn sách theo “Phương án 0 tuổi”

(phương án giáo dục sớm cho trẻ từ 0 – 6 tuổi), trong đó có cuốn “Phát triển

ngôn ngữ từ trong nôi” Quan điểm căn bản của ông là cần phải phát hiện và bồi

dưỡng sớm cho trẻ khả năng học tập, tiếp thu kiến thức trong đó có nhận thức và ngôn ngữ Ông và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu, cả lí thuyết và thực nghiệm trong vòng hơn 20 năm, đã dấy lên phong trào học tập sớm trong xã hội

Trung Quốc và đạt được những thành tựu đáng khích lệ Trong cuốn sách “Phát

triển ngôn ngữ từ trong nôi”, GS Phùng Đức Toàn đã đề xuất những cách thức

dạy chữ cho trẻ từ rất sớm Trẻ tiếp xúc với chữ viết cũng như tiếp xúc với người

và các loại đồ vật, một sự tiếp nhận thị giác (ngôn ngữ thị giác) Như vậy, trẻ có thể biết chữ ngay cả khi chưa biết nói, nghĩa là từ rất sớm Tuổi sơ sinh được coi

là lí tưởng để dạy chữ theo quan điểm của Phùng Đức Toàn Và, những kết quả

mà ông đạt được là hết sức khả quan

Glenn Doman – nhà vật lí trị liệu, người đi tiên phong trong lĩnh vực phát

Trang 28

lĩnh vực giáo dục sớm Ông cùng cộng sự đã có những công trình đặc biệt đáng chú ý khảo sát tại sao trẻ em từ 0 – 6 tuổi lại học tốt và nhanh hơn những trẻ ở độ tuổi lớn hơn Glenn Doman đã chứng minh rằng trẻ nhỏ có khả năng học hỏi nhiều hơn cả những gì chúng ta tưởng tượng Với tư cách là sáng lập viên của Viện nghiên cứu Thành tựu Tiềm năng Con người, ông đã lập nên những chương trình giáo dục tại nhà mà bất cứ bậc cha mẹ nào cũng có thể áp dụng cho con cái của mình Theo đó, “Phương pháp Glenn Doman” (phương pháp giáo dục trẻ sớm từ 0 – 6 tuổi theo quan điểm của Glenn Doman) hình thành và phát triển rộng rãi ở các nước trên thế giới Trong phương pháp của mình, tác giả đã đề cập đến những nội dung phát triển toàn diện cho trẻ như sau: dạy bé vận động, dạy bé học toán, dạy bé đọc, cung cấp cho bé kiến thức bách khoa/thế giới xung quanh

và cho bé cảm thụ âm nhạc, hội họa, học ngoại ngữ Những nội dung này được

đề cập đến trong những cuốn sách nổi tiếng của ông như: How smart is your

baby (Dạy trẻ thông minh sớm), How to teach your baby math (Dạy trẻ học

toán), Năm 2011, ở Việt Nam, những cuốn sách về giáo dục trẻ sớm của Glenn Doman đã được xuất bản và được các phụ huynh đón nhận tích cực trong việc

giáo dục trẻ Trong đó, cuốn “Dạy trẻ biết đọc sớm” đưa ra những kĩ năng cơ

bản giúp trẻ có khả năng đọc thông thạo Cuốn sách giải thích cách bắt đầu và

mở rộng chương trình học đọc, cách tạo ra và sắp xếp các “nguyên liệu” cần thiết

và và cách phát triển đầy đủ hơn tiềm năng học đọc của trẻ Cũng giống quan điểm của Phùng Đức Toàn, ông đã đề cập đến việc trẻ tiếp xúc với chữ viết cũng như tiếp xúc với người và các loại đồ vật, một sự tiếp nhận thị giác (ngôn ngữ thị giác) Theo đó, trẻ có thể biết chữ ngay cả khi chưa biết nói

Mặc dù những quan điểm về giáo dục sớm trên còn mới lạ và có những điểm trái ngược với quan điểm dạy ngôn ngữ cho trẻ tuổi mầm non hiện nay nhưng kết quả nghiên cứu của các tác giả đã cho chúng ta những suy nghĩ mới, những bài học trong giáo dục ngôn ngữ cho trẻ cũng như giáo dục những lĩnh vực khác như nhận thức, tư duy, vận động

Trang 29

1.2 Một số lý luận cơ bản

1.2.1 Lý luận về ngôn ngữ

1.2.1.1 Khái niệm ngôn ngữ

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Con người giao tiếp bằng ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ, con người có thể nhắc lại quá khứ, có thể dùng trong hiện tại, hoạch định kế hoạch cho tương lai và có thể tạo

ra sự khác biệt về không gian và thời gian khác nhau

Trên Thế giới có những từ biểu thị khái niệm ngôn ngữ như: Tiếng Anh: Language, tiếng Pháp: Langue, tiếng Đức: Strache, tiếng Arập: Loga, một số nước Đông Nam Á: bahasa Có nhiều cách phát âm khác nhau về ngôn ngữ nhưng đều có nghĩa là "ngôn ngữ" Với cách hiểu đơn giản nhất, ngôn ngữ được xem là tiếng nói của con người Ngôn ngữ là hệ thống các âm thanh, từ ngữ và các quy tắc kết hợp chúng, làm phương tiện giao tiếp chung cho cả cộng đồng

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn - Tâm lý học đại cương thì: ngôn ngữ là

quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng (tiếng nói) nào đó để giao tiếp Nói cách khác, ngôn ngữ là sự giao tiếp bằng tiếng nói

1.2.1.2 Các loại ngôn ngữ

Một cách khái quát, người ta chia ngôn ngữ thành hai loại: ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong

- Ngôn ngữ bên ngoài là thứ ngôn ngữ hướng vào người khác, được dùng

để truyền đạt và tiếp thu tư tưởng, ý nghĩ Ngôn ngữ bên ngoài bao gồm hai loại sau:

+ Ngôn ngữ nói: là ngôn ngữ được hướng vào người khác, được biểu hiện bằng âm thanh và được tiếp thu bằng cơ quan phân tích thính giác Ngôn ngữ nói

là hình thức ngôn ngữ cổ xưa nhất của lịch sử loài người trong sự phát sinh các thể, ngôn ngữ nói cũng có trước Ngôn ngữ nói lại gồm hai loại: đối thoại và độc thoại

Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ diễn ra giữa hai hay một số người khác nhau Còn ngôn ngữ độc thoại là loại ngôn ngữ mà trong đó một người nói và những người khác nghe (ví dụ : đọc diễn văn, báo cáo )

Trang 30

+ Ngôn ngữ viết: là thứ ngôn ngữ hướng vào người khác được biểu hiện bằng các ký hiệu chữ viết và được tiếp thu bằng cơ quan phân tích thị giác Ngôn ngữ viết cho phép con người tiếp xúc với nhau một cách gián tiếp trong những khoảng cách không gian và thời gian lớn

Ngôn ngữ viết cũng có hai loại: đối thoại (gián tiếp) như: thư từ, điện tín; độc thoại như: sách, báo, tạp chí

- Ngôn ngữ bên trong: là ngôn ngữ cho mình, hướng vào chính mình giúp con người suy nghĩ được, tự điều chỉnh, tự giáo dục Ngôn ngữ bên trong không phải là phương tiện của giao tiếp Nó là cái vỏ từ ngữ của tư duy Khác với từ ngữ bên ngoài, giao tiếp bên trong có một số đặc điểm độc đáo sau đây:

+ Không phát ra âm thanh Đặc điểm này cũng có ở ngôn ngữ thầm Ngôn ngữ thầm chưa phải là ngôn ngữ bên trong thật sự

+ Bao giờ cũng được rút gọn, cô đọng, thường chỉ là một câu hoàn chỉnh được rút ngắn, đôi khi chỉ là một từ (chủ ngữ hoặc vị ngữ)

+ Tồn tại dưới cảm giác vận động, do cơ chế đặc biệt của nó quy định Ngôn ngữ bên trong có mối quan hệ mật thiết với ngôn ngữ bên ngoài: Ngôn ngữ bên ngoài là nguồn gốc của ngôn ngữ bên trong, ngôn ngữ bên trong

là kết quả nội tâm hóa của ngôn ngữ bên ngoài

Ngôn ngữ bên trong có hai mức độ: ngôn ngữ nói bên trong và ngôn ngữ bên trong thật sự Ở mức độ ngôn ngữ nói bên trong thì ngôn ngữ bên trong vẫn giữ nguyên cấu trúc của ngôn ngữ bên ngoài nhưng chỉ không phát ra tiếng nói

mà thôi Ở mức độ ngôn ngữ bên trong thật sự thì ngôn ngữ bên trong mới có đầy

đủ các đặc điểm nêu trên

1.2.1.3 Ngôn ngữ của trẻ em từ 1 – 3 tuổi

* Các giai đoạn phát triển của ngôn ngữ trẻ em

Các nhà ngôn ngữ cũng như các nhà nghiên cứu thống nhất chia sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em thành hai giai đoạn: giai đoạn tiền ngôn ngôn ngữ và giai đoạn ngôn ngữ chính thức

- Giai đoạn tiền ngôn ngữ: đây là thời kỳ đầu tiên trong quá trình học nói của trẻ Là khi trẻ bước đầu bước vào hoạt động giao tiếp Đây là thời kỳ các âm

Trang 31

bập bẹ của trẻ em toàn thế giới là giống nhau Đây là phương thức cơ bản mà trẻ

sử dụng để giao tiếp với người lớn

- Giai đoạn ngôn ngữ:

Từ khi trẻ xuất hiện các đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa ngay lập tức chúng được huy động để đưa vào giao tiếp Đó là từ đến xuất hiện các câu đơn giản được sử dụng trong giao tiếp, dần dần trẻ hình thành được kỹ năng giao tiếp Thời kỳ này thường bắt đầu từ trẻ 12 tháng tuổi đến 8 tuổi

* Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 1 - 3 tuổi

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 1 - 3 tuổi diễn ra theo hai hướng chính là: hoàn thiện sự thông hiểu lời nói của người lớn và hình thành ngôn ngữ tích cực (lời nói) của đứa trẻ

- Nghe hiểu lời nói:

Trong khi hoạt động với đồ vật, trẻ em thường gặp tình huống cụ thể, trong

đó, các đồ vật và các hành động với đồ vật chưa thể tách rời khỏi nhau Trong nhận thức của trẻ dường như chúng liên kết với nhau thành một tình huống trọn vẹn khiến cho trẻ không thể lĩnh hội các từ biểu đạt đồ vật riêng, hành động riêng

mà trẻ chỉ có thể lĩnh hội ngôn ngữ biêu đạt cả tình huống trọn vẹn ấy Chẳng hạn, trẻ hiểu lời nói: “đánh trống” khi trẻ trông thấy một người đang đánh trống hay chính trẻ đang cầm dùi đánh vào trống Lời nói “đánh trống” là biểu đạt cho toàn bộ tình huống này Đứa trẻ lên hai chưa hiểu được các từ riêng lẻ: từ “trống”

là để chỉ cái trống, từ “đánh” là để chỉ hành động gõ vào cái trống và càng lại không thể hiểu nổi lời nói “đánh trống” khi tách rời tình huống cụ thể Cũng như vậy, đứa trẻ chỉ có thể hiểu lời nói “bắt tay nào!” khi trông thấy một người lớn chìa tay ra bắt tay nó Bởi vậy, để trẻ nhanh chóng hiểu được lời nói, chúng ta cần phải kết hợp lời nói với 1 tình huống cụ thể, trong đó các hành động với đồ vật được thực hiện vì lúc này trẻ chưa phản ứng trực tiếp với lời nói mà phản ứng với toàn bộ tình huống Lời nói kết hợp với tình huống cụ thể mới tạo thành tín hiệu hành động đối với trẻ lên hai tuổi Sự kết hợp giữa lời nói với tình huống cụ thể được lặp đi lặp lại nhiều lần, dần dần đưa trẻ hiểu được lời nói mà không phụ thuộc vào tình huống cụ thể nữa

Trang 32

Sau 1 tuổi rưỡi hoặc sớm hơn, việc hiểu lời nói tách khỏi tình huống cụ thể được tiến bộ rõ rệt Nhờ đó, người lớn có thể dùng lời nói để chỉ dẫn hành động của trẻ và sự phục tùng của trẻ đối với lời chỉ dẫn của người lớn trở lên vững chắc hơn Chẳng hạn, người lớn có thể yêu cầu trẻ cầm lấy 1 đồ vật nào đó được được cất vào một chỗ quen thuộc hay để gần với một đồ vật khác ở trước mặt Tuy nhiên, việc thông hiểu ngôn ngữ vẫn chưa tách khỏi tình huống cụ thể ngay Đối với trẻ hai tuổi, lời nói có tác dụng khởi động sớm hơn nhiều so với lời nói có tác động kìm hãm Điều đó có nghĩa là đứa trẻ bắt đầu thực hiện hành động theo lời chỉ dẫn dễ dàng hơn nhiếu so với việc ngưng lại hành động mà người lớn buộc thôi làm hay cấm đoán Chẳng hạn người lớn bảo trẻ “đánh trống đi!“ thì đứa trẻ hành động ngay lập tức nhưng khi nó đang đánh trống mà người lớn bảo: “thôi không đánh trống nữa! ” thì nó không dừng ngay được, mà phải lúc sau mới thôi

Chỉ khi việc hiểu lời nói tách rời tình huống cụ thể thì việc chỉ dẫn của người lớn mới bắt đầu điều chỉnh hành vi của trẻ trong những điều kiện khác nhau Khả năng này thường có ở đứa trẻ lên ba Trong thời kì này, sự thông hiểu lời nói của người lớn được biến đổi về chất Đứa trẻ không chỉ hiểu những từ riêng biệt mà còn có thể thực hiện những hành động với đồ vật theo sự chỉ dẫn của người lớn Lúc này, trẻ rất thích nghe kể chuyện, nghe đọc thơ

Việc nghe và hiểu lời nói vượt ra khỏi tình huống cụ thể là một thành tựu rất quan trọng của trẻ 1 – 3 tuổi Nó giúp trẻ biết sử dụng ngôn ngữ như là phương tiện cơ bản để nhận thức thế giới

- Hình thành ngôn ngữ tích cực (nói)

Trẻ lên hai hoạt động với đồ vật ngày càng phong phú thì giao tiếp với người xung quanh ngày càng được mở rộng, đặc biệt từ 20 tháng trở đi đứa trẻ trở lên mạnh dạn hơn, có nhiều sáng kiến hơn, điều đó không chỉ thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, thông hiểu lời nói của người xung quanh mà còn kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ tích cực Đây là thời kì phát cảm ngôn ngữ Trẻ không chỉ luôn luôn đòi hỏi biết được tên các đồ vật mà còn cố gắng phát ra các âm để gọi tên các đồ vật đó Chẳng hạn, trẻ nêu những câu hỏi như “Cái gì đây?”,“Cái gì kia?”, đòi hỏi người lớn phải giải đáp cho nó và trẻ rất thích thú khi gọi được

Trang 33

đúng tên các đồ vật và hiện tượng xung quanh Việc đó lại thường được người lớn khuyến khích và tán thưởng làm cho nhịp độ phát triển ngôn ngữ của trẻ tăng lên rõ rệt, đặc biệt là vốn từ được mở rộng nhanh chóng và phát âm cũng được chính xác hơn

Trong cuộc sống và hoạt động, trẻ thường bắt gặp những sự vật và hiện tượng lạ lùng, đầy hấp dẫn khiến trẻ muốn nói lại những điều đầy thích thú và ngạc nhiên ấy cho những người xung quanh Để mong có sự đồng cảm với mình, trẻ phải tìm cách diễn đạt ý nghĩ của mình sao cho người khác hiểu được, điều đó đòi hỏi trẻ phải nắm được mặt ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ Lúc đầu trẻ thường dùng câu 1 tiếng Chẳng hạn khi trẻ nói “măm” có nghĩa là muốn nói “mẹ cho con ăn cơm” Sau đó trẻ dùng câu hai tiếng theo hai mô hình chủ yếu: chủ ngữ cộng với vị ngữ (như: mẹ xúc, con chơi ) và vị ngữ cộng với bổ ngữ (như; lấy kẹo, đánh mèo ) Đây là hai kiểu câu hạt nhân mà trẻ thường dùng để biểu thị các hành động của đồ vật Vì trẻ em chưa nắm vững ngữ pháp nên thường hay nói ngược như “mẹ bế” thì nói là “bế mẹ”

“Trẻ lên hai ba tuổi cả nhà học nói” Đúng vậy, lên ba ngôn ngữ tích cực của trẻ phát triển mạnh mẽ, trẻ rất thích nói và hỏi luôn mồm suốt ngày Nhờ đó việc sử dụng các hình thực ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ đạt tới một bước tiến bộ đáng kế Trẻ nói thạo các câu đơn giản như: “Con ngồi vào lòng mẹ”,“Các bạn đi tung tăng ra đường”,“Sắp mất điện rồi!” Đến cuối tuổi thứ ba, trẻ nói được những câu khá phức tạp như: “Tại anh đánh con nên con khóc”,“Ai mà bẩn thì không được đi chơi ngoài phố” Lời nói của trẻ thường gắn liền với quá trình tri giác và như là tạo cho mình một cú pháp riêng khác với người lớn Có thể coi đây là loại cú pháp chuyển tiếp đến loại cú pháp chuẩn mực với hai đặc điểm: thứ nhất là cấu trúc cú pháp tương đương với trình tự trẻ tri giác được (cái gì nhìn thấy trước thì nói trước), như câu “khóc, Hồng Thúy” (nghe tiếng khóc trước mới nhìn thấy Hồng Thúy) Thứ hai là trẻ thường đặt lên đầu cái gì trẻ thấy thật cần thiết hay mong muốn tức thời như: “Kẹo, lấy kẹo”…Nói đúng ngữ pháp tiếng mẹ

đẻ là thể hiện trẻ đã đạt tới một trình độ cao trong sự phát triển ngôn ngữ

Trong suốt thời kỳ phát triển ngôn ngữ, trẻ có nhu cầu cao về giao tiếp ngôn

Trang 34

người lớn Vì vậy, nếu được người lớn tích cực dạy cho nghe hiểu lời nói của người xung quanh và nói cho người khác hiểu lời nói của mình thì tốc độ phát triển lời nói của trẻ sẽ được nhanh chóng và đó là cơ sở để phát triển toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ

1.2.2 Tư duy của trẻ em

1.2.2.1 Khái niệm tư duy và tư duy trẻ em

Tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: triết học, logic học, tâm lý học… Mỗi khoa học nghiên cứu tư duy ở những góc độ khác nhau Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của toàn bộ nhận thức của loài người trong đó tư duy là đỉnh cao của nhận thức Logic học nghiên cứu những quy luật logic trong việc định nghĩa, phân loại khái niệm, các quy luật phán đoán

và suy lý với tư cách là những hình thức logic của tư duy Tâm lý học đi sâu nghiên cứu quá trình tư duy của con người diễn ra như thế nào, các quy luật hình thành và phát triển tư duy con người từ tuổi ấu thơ đến người lớn, nghĩa là tâm lý học nghiên cứu quy luật và cơ chế hình thành, phát triển và thể hiện tư duy ở con người

Vậy tư duy là gì? Trong tâm lý học, tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ

có tính quy luật của sự vật, hiện tượng Tư duy cho phép con người nhận biết rõ thế giới bên ngoài và bên trong: một bên là thế giới bên ngoài với những vật cụ thể mắt thấy, tai nghe, tay sờ mó được; một bên là thế giới bên trong với những hình ảnh, những biểu tượng của sự vật, những ý muốn chủ quan của con người Trong đề tài này, chúng tôi chọn định nghĩa tư duy của tác giả Nguyễn

Quang Uẩn để làm cơ sở nghiên: “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh

những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết”

Vậy tư duy của trẻ em là gì? Trong nghiên cứu này, chúng tôi hiểu tư duy

của trẻ em từ 1 đến 3 tuổi là quá trình trẻ khám phá ra các mối quan hệ mới giữa

Trang 35

các sự vật hiện tượng bằng hành động để giải quyết tình huống có vấn đề mà trẻ gặp phải

Quá trình tư duy của trẻ bắt đầu khi trẻ gặp tình huống có vấn đề (ví dụ như muốn lấy được đồ vật), trẻ sẽ quan sát, sử dụng kinh nghiệm đã có, hành động với đồ vật trong trường tri giác để tìm ra cách thức hành động mới hoặc tìm kiếm người trợ giúp khi cần thiết nhằm đạt được mục đích của mình

1.2.2.2 Các loại tư duy

Có thể phân loại tư duy theo nhiều phương diện khác nhau: lịch sử hình thành và phát triển tư duy (chủng loại và cá thể), phương thức giải quyết vấn đề Theo lịch sử hình thành và phát triển tư duy (chủng loại và cá thể) thì tư duy được chia thành ba loại như sau:

- Tư duy trực quan - hành động

Đây là tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện nhờ sự cải tổ thực tế các tình huống và nhờ các hành động được diễn ra bởi các thao tác tay chân cụ thể, nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, trực quan Loại tư duy này

có ở cả người và một số động vất cao cấp Ví dụ, trẻ em làm toán bằng dùng tay

di chuyển các vật thật (những cái bút chẳng hạn) hay các vật thay thế (que tính) tương ứng với các dữ kiện của bài toán

- Tư duy trực quan - hình ảnh

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải

tổ tình huống chỉ trên bình diện hình ảnh Loại tư duy này chỉ có ở con người, đặc biệt là ở trẻ nhỏ Ví dụ, trẻ em làm toán bằng cách dùng mắt quan sát các sự vật hay vật thay thế tương ứng với các dữ kiện của bài toán

- Tư duy trừu tượng (tư duy từ ngữ - logic)

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên sự sử dụng khái niệm, các kết cấu logic, tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ Ví dụ, học sinh làm toán bằng cách sử dụng các công thức toán học, thiết lập quan hệ logic những kiến thức đã biết giải quyết nhiệm vụ (bài toán), tất thảy đều sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện đắc lực

Trang 36

Các loại tư duy nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và chi phối lẫn nhau Trong đó, tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình ảnh là hai loại tư duy có trước làm cơ sở cho tư duy trừu tượng

1.2.2.3 Tư duy của trẻ em 1 – 3 tuổi

Tư duy của trẻ em từ 1 – 3 tuổi chủ yếu là tư duy trực quan – hành động Trẻ ở giai đoạn này giải quyết các vấn đề tư duy bằng hành động Các vấn đề tư duy của trẻ 1 – 3 tuổi chủ yếu là lấy được đồ vật mà trẻ yêu thích

Vậy tư duy của trẻ em 1 – 3 tuổi có thể hiểu là cách trẻ hành động nhằm giải quyết tình huống mới để đạt ý muốn của mình

* Sự phát triển tư duy của trẻ em từ 1 - 3 tuổi (Đặc điểm của tư duy trẻ em

bé cầm cái gậy tình cờ đụng vào quả bóng làm cho quả bóng lăn ra ngoài

Điều quan trọng ở lứa tuổi này là trẻ học được những hành động xác lập mối quan hệ giữa các đồ vật để giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn nào đó Việc

đó chỉ có thể thực hiện được trong khi hoạt động với đồ vật nhờ sự giúp đỡ của người lớn Người lớn đưa ra những mẫu hành động cho trẻ bắt chước Quá trình

Trang 37

thực hiện những hành động công cụ và hành động xác lập những mối tương quan chính là cơ sở để hình thành những hành động tư duy ở trẻ Khi đã học được cách thực hiện những hành động này đứa trẻ bắt đầu hướng vào mối liên hệ giữa các đối tượng, đặc biệt là mối liên hệ giữa công cụ và đối tượng Sau đó nó chuyển sang thiết lập những mối quan hệ như thế trong điều kiện mới, khi giải bài toán mới Chẳng hạn người lớn bày cho trẻ lấy gậy khều một đồ chơi nào đó để ở xa tới gần mình Sau đó trẻ có thể dùng gậy chọc một vật nào đó ở trên cao xuống hoặc không dùng gậy mà dùng cái chổi dài để khều các đồ vật ở xa tới gần mình Việc chuyển từ biết sử dụng những mối liên hệ có sẵn hay những mối liên

hệ do người lớn chỉ ra sang biết xác lập những mối liên hệ mới giữa các đối tượng là một bước rất quan trọng đối với sự phát triển tư duy của trẻ em Trong thời kỳ đầu việc xác lập những mối liên hệ mới này được thực hiện bằng các phép thử thực tế, trong đó nhiều khi ngẫu nhiên trẻ tìm ra cách làm Đó là dấu hiệu của khả năng "bỗng nhiên hiểu ra" (insight) và cũng là dấu hiệu đã làm theo biểu tượng

Có thể nói tư duy ở giai đoạn này của trẻ ngang tầm với trí khôn của khỉ trưởng thành Tư duy của trẻ được thực hiện nhờ những hành động định hướng bên ngoài gọi là tư duy trực quan – hành động Trẻ ở tuổi này thực hiện hành động tư duy bằng những phương thức như: thử sai với kết quả đạt được là ngẫu nhiên; hoặc làm theo mẫu (ở những tình huống mới) Theo đó, người lớn cần tổ chức giáo dục cho trẻ 1 đến 3 tuổi hành động với đồ vật, giúp trẻ xác lập mối quan hệ giữa chúng để giải quyết các nhiệm vụ thực tế, tránh rập khuôn máy móc

Cuối 2 tuổi (cuối tuổi ấu nhi), trên cơ sở tư duy trực quan – hành động đang phát triển mạnh, bắt đầu xuất hiện một số hành động tư duy được thực hiện trong

óc, phép thử được thực hiện với hình ảnh của đồ vật và phương thức sử dụng chúng Đó là tư duy trực quan - hình ảnh (là kiểu tư duy mà trong đó việc giải quyết bài toán được thực hiện nhờ các hành động bên trong với các hình ảnh) Ví

dụ, sau nhiều lần dùng que khều quả bóng trong gầm giường, trong một tình huống mới trẻ sẽ dự đoán trong đầu là có thể dùng que là khều được quả bóng

Trang 38

Mặc dù mới chỉ dừng lại ở hành động trực quan - hành động nhưng tư duy của trẻ 1 – 3 tuổi cũng đã đạt tới những khái quát ban đầu mang tính độc đáo, đó

là khả năng hợp nhất những sự vật hiện tượng có dấu hiệu bên ngoài giống nhau (trẻ gọi chim, gà, vịt đều là chim; thỏ, chó đều là mèo) Trẻ cũng có thể nắm được từ chỉ đồ vật mang ý nghĩa khái quát theo chức năng (thìa ngắn, thìa dài, thìa sứ, thìa nhựa …đều để xúc) hoặc từ chỉ hành động mang ý nghĩa khái quát theo mục đích (gậy, que đều dùng để khều)

Trong sự hình thành những khái quát ban đầu tức là sự hợp nhất trong óc những đồ vật, những hành động có dấu hiệu bề ngoài giống nhau, thì việc lĩnh hội các từ ngữ giữ vai trò hết sức quan trọng; bởi vì ý ngĩa củ từ mà người lớn dạy cho trẻ luôn luôn được dùng với ý nghĩa khái quát Chẳng hạn: trẻ học từ

“đồng hồ” lúc thì để chỉ đồng hồ đeo tay, lúc để chỉ đồng hồ treo tường, mặc dù trẻ hiểu nghĩa của từ còn mơ hồ và còn khác xa với ý nghĩa mà người lớn hiểu Việc hướng dẫn và làm mẫu của người lớn giúp trẻ dần dần nhận ra là có một tên gọi chung cho nhiều đồ vật có cùng công dụng Tuy vậy, đối với những

đồ vật có cùng công dụng nhưng lại có thuộc tính bên ngoài hết sức khác nhau (chẳng hạn như: các loại bình hoa với những hình dáng, màu sắc, chất liệu khác nhau) thì trẻ rất khó nhận thấy chúng có cái gì đó chung để gọi bằng một từ giống nhau Nếu trẻ tích cực hoạt động với đồ vật với sự giúp đỡ của người lớn, khi nắm được phương thức sử dụng các đồ vật thì lúc đó trẻ mới khái quát hóa được

đồ vật theo chức năng của chúng Nếu người lớn dạy cho trẻ xúc cơm bằng các loại thìa khác nhau (thìa dài, thìa ngắn, thìa nhôm, thìa sứ…) thì trẻ sẽ nhanh chóng nắm được chức năng chung của thìa

Bên cạnh đó, hoạt động với đồ vật, đặc biệt là khi thực hiện những hành động công cụ, còn giúp trẻ nhận ra rằng có nhiều hành động với các công cụ khác nhau nhưng lại có cùng một mục đích Ví dụ: trẻ có thể lấy cái chổi thay thế cho cái gậy để khều một vật nào đó ở xa đến gần Và, trẻ cũng biết được rằng hành động dù bằng gậy hay bằng chổi nhưng nếu có mục đích là lấy được một vật từ

xa lại gần thì đều giống nhau và đều gọi chung bằng từ “khều”

Như vậy, có thể nói rằng trẻ em nắm được từ chỉ đồ vật mang ý nghĩa khái quát theo chức năng hoặc từ chỉ hành động mang ý nghĩa khái quát theo mục

Trang 39

đích chủ yếu là thông qua hoạt động với đồ vật Ví dụ, trong trường hợp cho trẻ nhìn và nhắc đi nhắc lại từ “lọ hoa”: trẻ sẽ không nói “lọ hoa” nếu đưa lọ khác Nếu cho trẻ tự cắm hoa và lặp đi lặp lại từ “lọ hoa” thì lần khác trẻ vẫn gọi đúng những lọ hoa mới bằng từ “lọ hoa”

Tóm lại, có thể nói rằng kiểu tư duy chủ yếu của trẻ 1 – 3 tuổi là trực quan

- hành động Sự phát triển tư duy của trẻ gắn liền với hoạt động với đồ vật, trong

đó đặc biệt quan trọng là việc thực hiện những hành động công cụ Nhờ đó trẻ 1 -

3 tuổi đã bước tới một trình độ khái quát đồ vật theo những dấu hiệu bên ngoài đập vào mắt và theo chức năng của chúng Đó là những hình thức khái quát rất sơ đẳng nhưng lại có vai tò cực kì quan trọng trong sự phát triển trí tuệ của trẻ Và, cuối tuổi ấu nhi, bên cạnh tư duy trực quan – hành động, ở trẻ có sự xuất hiện kiểu tư duy trực quan – hình tượng, tức là giải các bài toán trong óc dựa vào các biểu tượng đã tích lũy được Tuy nhiên, kiểu tư duy này còn hết sức đơn sơ và xuất hiện trong những bài toán đơn giản

1.2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ 1 – 3 tuổi

1.2.3.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy có thể được ví như hai mặt của một

tờ giấy, đã có mặt này thì phải có mặt kia Chính ở trong ngôn ngữ và nhờ có ngôn ngữ mà tư duy mà tư duy được hiện thực hóa Ngôn ngữ là phương tiện vật chất để thể hiện tư duy Mặt khác nhờ có quan hệ với tư duy mà ngôn ngữ không phải là cái xác không hồn Không phải là hiện tượng vật chất thuần túy, nó đã trở thành hiện tượng vật chất tư tưởng Tư duy phát triển có thể làm ngôn ngữ phát triển theo

Đề cập đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy trong “Tâm lý học đại

cương”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng:

+ Ngôn ngữ là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để biểu đạt tư duy + Ngôn ngữ là công cụ của hoạt động tư duy Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành và phát triển tư duy

+ Giữa tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không

có ngôn ngữ thì quá trình tư duy ở con người không thể diễn ra được, đồng thời

Trang 40

các sản phẩm của tư duy (những khái niệm, phán đoán ) cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận

+ Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy, là vỏ vật chất của tư duy và

là phương tiện viểu đạt kết quả tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại, không có tư duy (với những sản phẩm của nó) thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa, trống rỗng

Tuy nhiên, ngôn ngữ và tư duy thống nhất chứ không đồng nhất Ngôn ngữ không phải là tư duy, ngôn ngữ chỉ là phương tiện của tư duy Ngôn ngữ là một thể thống nhất vật chất - tinh thần; còn tư duy là yếu tố tinh thần thuần túy Nói đến tư duy là nói đến tính nhân loại; còn ngôn ngữ thuộc về dân tộc, mang tính dân tộc

1.2.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ 1 – 3 tuổi

Như đã trình bày ở trên, giữa ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Và, mối quan hệ này cũng được thể hiện ở trẻ em Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ có mục đích tự thân Có ngôn ngữ, tư duy của trẻ được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có tác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau (Galperin: ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lí của trẻ) Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy phát triển Ngược lại, tư duy phát triển càng đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ Cụ thể, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy ở trẻ 1 – 3 tuổi biểu hiện như sau:

Ở giai đoạn tiền ngôn ngữ, trẻ chưa xuất hiện tư duy Lúc này, trẻ không chỉ chưa nói được mà khả năng thông hiểu các từ cũng chưa hoàn toàn đúng và đầy đủ Do đó, trẻ chưa thể hiểu được các yêu cầu cũng như gợi ý, hướng dẫn của người lớn; đồng thời, trẻ cũng chưa thể hiểu biết được các đặc điểm, chức năng của đồ vật để hành động, thao tác phù hợp Theo đó, ở trẻ mới chỉ đơn giản

là tham gia hành động, cầm nắm đồ vật và thao tác với đồ vật một cách ngẫu nhiên, không kiểm soát như: cầm, đập, ném

Sau khi xuất hiện ngôn ngữ, trẻ nhỏ với sự giúp đỡ về ngôn ngữ, bắt đầu làm chủ tình huống, làm chủ hành vi bản thân, xuất hiện hình thức tổ chức hành

Ngày đăng: 07/04/2020, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w