1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ thông qua các tổ chức trung gian để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (nghiên cứu trường hợp ngành y tế)

125 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y tế cũng không thể chuyển giao, gây lãng phí lớn nguồn lực nghiên cứu, nguồn lực tài chính… Nhận thức được tầm quan trọng vừa nêu, Luận văn Kết nối

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ BÁ TOÀN

KẾT NỐI GIỮA BÊN CUNG VÀ BÊN CẦU CÔNG NGHỆ THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TRUNG GIAN ĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH Y TẾ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ BÁ TOÀN

KẾT NỐI GIỮA BÊN CUNG VÀ BÊN CẦU CÔNG NGHỆ THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TRUNG GIAN ĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH Y TẾ)

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Câu hỏi nghiên cứu 8

6 Giả thuyết nghiên cứu 8

7 Mẫu khảo sát 8

8 Phương pháp nghiên cứu 8

9 Kết cấu của Luận văn 9

CHƯƠNG 1 ……… 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 10

1.1 Lý luận về kết quả nghiên cứu khoa học 10

1.1.1 Nghiên cứu khoa học 10

1.1.2 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học 11

1.1.3 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế 13

1.1.4 Chủ sở hữu kết quả nghiên cứu 17

1.2 Chuyển giao công nghệ 19

1.2.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ 19

1.2.2 Hình thức và nội dung chuyển giao công nghệ 21

1.2.3 Phân loại chuyển giao công nghệ 23

1.3 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu 25

1.3.1 Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu 25

1.3.2 Kết quả nghiên cứu không thể thương mại hóa 27

1.3.3 Kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa 28

1.4 Kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ 30

1.4.1 Bên cung công nghệ 30

1.4.2 Bên cầu công nghệ 32

1.4.3 Tổ chức trung gian giữa bên cung và bên cầu công nghệ 33

1.4.4 Các tổ chức trung gian thương mại hóa kết quả nghiên cứu 35

* Kết luận Chương 1 36

CHƯƠNG 2 ……… 37

THỰC TRẠNG KẾT NỐI GIỮA BÊN CUNG VÀ BÊN CẦU 37

CÔNG NGHỆ ĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA 37

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG NGÀNH Y TẾ 37

2.1 Tổng quan về nghiên cứu khoa học trong ngành y tế 37

2.1.1 Khái quát chung về nghiên cứu khoa học trong ngành y tế 37

2.1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học trong ngành y tế 38

2.1.3 Yêu cầu nghiên cứu khoa học trong ngành y tế 40

2.1.4 Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y tế có thể thương mại hóa 41

2.2 Khảo sát kết quả nghiên cứu tại một số cơ sở y tế 42

2.2.1 Kết quả nghiên cứu tại Trường Đại học Y Hà Nội 42

2.2.2 Kết quả nghiên cứu tại Trường Đại học Y Thái Bình 44

2.2.3 Kết quả nghiên cứu tại Học viện Quân Y 48

2.2.4 Kết quả nghiên cứu tại Viện Dược liệu 53

Trang 4

2

2.3 Thực trạng kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ - nghiên cứu trường hợp

thiết bị y tế 56

2.3.1 Kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ - nghiên cứu trường hợp nhu cầu của các bệnh viện 56

2.3.2 Kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ - nghiên cứu trường hợp doanh nghiệp y tế 60

Kết luận chương 2 63

CHƯƠNG 3 ……… 64

CẤU TRÚC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TRUNG GIAN 64

KẾT NỐI GIỮA BÊN CUNG VÀ BÊN CẦU CÔNG NGHỆ 64

ĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64

TRONG NGÀNH Y TẾ 64

3.1 Mô hình kết nối các khâu R&D – sản xuất – thị trường để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dược 64

3.1.1 Những khó khăn của việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong ngành y tế 64

3.1.2 Mô hình lý thuyết kết nối các khâu R&D – sản xuất – thị trường để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dược 66

3.1.3 Mô hình thực tiễn kết nối các khâu R&D – sản xuất – thị trường để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dược 69

3.1.4 Đánh giá mô hình kết nối các khâu R&D – sản xuất – thị trường để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dược 73

3.2 Mô hình TLO để thương mại hóa kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực dược và thiết bị y tế 76

3.2.1 Khái quát về mô hình TLO 76

3.2.2 Phương thức hoạt động của TLO 78

3.2.3 Áp dụng mô hình TLO trong thực tiễn 80

3.2.4 Đánh giá mô hình TLO thông qua hoạt động thực tiễn 86

3.3 Một số mô hình tổ chức trung gian trong việc kết nối giữa bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ 88

3.3.1 Các hình thức tổ chức trung gian 88

3.3.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm chuyển giao công nghệ và phát triển dược liệu 89

3.4 Mô hình chợ công nghệ và sàn giao dịch thiết bị y tế 91

3.4.1 Mô hình chợ công nghệ 91

3.4.2 Mô hình sàn giao dịch công nghệ thiết bị y tế 93

3.4.3 Đánh giá mô hình chợ công nghệ và sàn giao dịch thiết bị y tế 94

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN ……… 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 1 101

PHỤ LỤC 2 115

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Văn phòng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ

Văn phòng chuyển giao công nghệ

Trung tâm chuyển giao công nghệ

Trang 6

Tuy nhiên, ở nước ta đóng góp của các kết quả nghiên cứu đối với khám và điều trị bệnh hơn 20 năm qua còn rất hạn chế nhất là các tuyến huyện, xã đã làm cho sự quá tải về bệnh nhân tại các bệnh viện tuyến trên Nguyên nhân chủ yếu là do sự gắn kết giữa bên cung và bên cầu với hoạt động thực tiễn còn hết sức lỏng lẻo Để khắc phục tình trạng này, một trong những giải pháp có hiệu quả nhất là phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam thông qua các tổ chức trung gian để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực Y tế

Những thành tựu khoa học mà các nhà nghiên cứu của nước ta cũng đã thành công trong lĩnh vực y tế hoặc đã tiếp thu được công nghệ của nước ngoài phát triển ở một số bệnh viện TW, bệnh viện khu vực… Hiện tại một

số cơ sở y tế công lập tại tuyến tỉnh, huyện nhất là các cơ sở y tế tuyến đầu đang còn thiếu thốn trầm trọng hay nói một cách khác là chưa có Câu hỏi đặt

ra là Nhà nước chưa quan tâm đến công tác dự phòng, khám và điều trị ở tuyến đầu hay thiếu về nguồn nhân lực để tiếp thu công nghệ mới hoặc các đơn vị là trung gian như sở y tế các tỉnh, phòng y tế các huyện thị, thành phố chưa thực sự chú ý

Các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y tế có thể chia thành hai mảng chính: kết quả nghiên cứu thể hiện qua công nghệ quy trình/phương pháp phục vụ (ví dụ phương pháp phòng, chẩn đoán, chữa bệnh trong y học, thuốc chữa bệnh trong dược học) và kết quả nghiên cứu thể hiện qua công nghệ vật thể (ví dụ trang, thiết bị y tế) Trong thực tế cho thấy, bên cầu công nghệ y tế

có nhu cầu nhưng không biết nhận ở đâu, ngược lại trong nhiều trường hợp

Trang 7

các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y tế cũng không thể chuyển giao, gây lãng phí lớn nguồn lực nghiên cứu, nguồn lực tài chính…

Nhận thức được tầm quan trọng vừa nêu, Luận văn Kết nối giữa bên

cung và bên cầu công nghệ thông qua các tổ chức trung gian để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (Nghiên cứu trường hợp ngành Y tế) nhằm đề ra

các giải pháp để giải quyết thực trạng đã nêu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Về các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ thông qua các tổ chức trung gian để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong ngành Y tế, có thể điểm:

- Nghiên cứu của Magnus Karlsson (2004), Commercialization of

Research Results in the United States đã mô tả về thương mại hóa các kết quả

nghiên cứu tại Hoa Kỳ, được xem là quốc gia có số lượng các đơn vị chuyển giao công nghệ và thương mại hóa thành công đối với các kết quả nghiên cứu Trong số tổ chức có vai trò trung gian trong chuyển giao công nghệ tại Hoa

Kỳ, tác phẩm này nêu Stanford University Technology Transfer Center là

trường hợp điển hình và một số tổ chức khác với vai trò trung gian trong việc

chuyển giao công nghệ nói chung, đồng thời National Business Incubation

Association như một mô hình thành công trong việc chuyển giao các kết quả

nghiên cứu trong lĩnh vực y học [28];

- Nghiên cứu của Anna S Nilsson, Henrik Fridén, Sylvia Schwaag

Serger (2006), Commercialization of Life-Science Research at Universities in

the United States, Japan and China đã nghiên cứu về các mô hình thương mại

hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học về sự sống, trong đó có lĩnh vực y, dược của các trường đại học y, dược tại các Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc đã thành lập các trung tâm chuyển giao kết quả nghiên cứu như

là những mô hình trung gian trong việc kết nối nhu cầu công nghệ của các công ty dược, bệnh viện với các viện/trung tâm nghiên cứu thuộc các trường đại học [26];

Các nghiên cứu trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của

Trang 8

6

Luận văn bao gồm:

- Đề tài Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công

nghệ tuổi trẻ Học viện Quân y trong lĩnh vực y - sinh học”, tác giả là ThS

Nguyễn Văn Dự, thực hiện năm 2001; nội dung chủ yếu nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và các bác sĩ trẻ mới ra trường, các sản phẩm là các sáng kiến, sáng chế mang tính mới áp dụng vào ngành Y – sinh học

- Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN của Nguyễn Thái

Ngọc: Đề xuất các giải pháp trong quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác

nghiên cứu khoa học Y - Dược học (Nghiên cứu trường hợp Học viện Quân y)

đã đánh giá thực trạng quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và công tác quản

lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xây dựng, tổ chức thực hiện và công tác quản lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học tại Học viện Quân y;

- Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN của Nguyễn Thị Thu Hà Tạo môi trường làm việc thân thiện nhằm thu hút nguồn nhân lực KH&CN về công nghệ sinh học trong y học (nghiên cứu trường hợp Học viện Quân y) đã khảo sát thực trạng thu hút nguồn nhân lực KH&CN về công nghệ

sinh học tại Học viện Quân y và đưa ra một số giải pháp tạo môi trường làm việc thân thiện;

- Nghiên cứu của Trần Khánh Đức (2003) đã xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nghiên cứu khoa học theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể và

đề xuất hệ tiêu chí đánh giá các đề tài, đánh giá hiệu quả hoạt động, đồng thời

đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN ở các trường đại học, đổi mới tổ chức quản lý, phát triển tiềm lực, từng bước thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hướng tới thị trường công nghệ

Có thể nhận định:

Trang 9

- Đã có những nghiên cứu của nước ngoài về việc kết nối giữa bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ nói chung và trong lĩnh vực khoa học

về sự sống (trong đó có lĩnh vực y, dược) như phần đầu mục này đã chỉ ra;

- Các nghiên cứu trong nước mới chỉ ra các giải pháp nâng cao năng lực, chất lượng quản lý nghiên cứu khoa học trong ngành y tế, các yếu tố tác động đến chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học nhưng chưa đề cập cụ thể các công cụ hỗ trợ cho để nâng cao chất lượng công tác quản lý nghiên cứu khoa học và nhất là chưa đề cập đến việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu như là một chỉ số đánh giá hiệu quả nghiên cứu Chưa có nghiên cứu ở trong nước đề cập đến việc kết nối giữa bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ trong lĩnh vực y tế

Bởi vậy, nội dung đề tài Luận văn là khác biệt với các nghiên cứu đã công bố, Luận văn sẽ lấp một phần “khoảng trống” trong các nghiên cứu đã nêu, đây là tính mới của Luận văn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Chứng minh các tổ chức trung gian có thể kết nối giữa bên cung và bên

cầu công nghệ nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu chung đã nêu, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phân tích cơ sở lý luận về cung và cầu công nghệ, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, vai trò của các tổ chức trung gian trong việc kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ;

- Khảo sát thực trạng kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ y tế trong quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu;

- Đề xuất giải pháp kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ y tế trong quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: trong diện mẫu khảo sát

Trang 10

8

- Phạm vi thời gian: 2009-2013

5 Câu hỏi nghiên cứu

Bên cung và bên cầu công nghệ cần kết nối với các tổ chức trung gian

như thế nào nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong ngành y tế?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Cấu trúc và hoạt động của tổ chức trung gian kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong ngành y tế bao gồm:

- Mô hình kết nối các khâu R&D – sản xuất – thị trường để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dược;

- Mô hình tổ chức TLO trong lĩnh vực dược và thiết bị y tế;

- Mô hình chợ công nghệ và sàn giao dịch thiết bị y tế

Xin lưu ý: một phần giả thuyết nghiên cứu bị bác bỏ, thể hiện tại 1.1.3.,

mục 2.2 và mục Kết luận chương 2 đã chỉ rõ

7 Mẫu khảo sát

Luận văn khảo sát các mẫu như sau:

- Nhóm 1: Đại học Y Hà Nội; Đại học Y Thái Bình; Học viện Quân y; Viện Y học cổ truyền Quân đội Đây là các tổ chức đại diện cho bên cung công nghệ

- Nhóm 2: Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn; Trung tâm Y

tế huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Đây là các tổ chức đại diện cho bên cầu công nghệ

- Nhóm 3: Công ty cổ phần thiết bị vật tư y tế Thanh Hóa – THEMCO Đây là tổ chức trung gian kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ y tế

8 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu: kế thừa kết quả nghiên cứu đã công bố;

- Điều tra, khảo sát thực tiễn: tác giả Luận văn đã trực tiếp khảo sát Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Y tế huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, Công ty cổ phần thiết bị vật tư y tế Thanh Hóa – THEMCO để lấy số liệu, phân tích số liệu để phục vụ việc hoàn thiện Luận văn;

Trang 11

- Xử lý thông tin định lượng: bằng biểu đồ so sánh, rút ra các kết luận cần thiết;

- Phương pháp chuyên gia: tác giả Luận văn đã phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia bằng cách gửi trước câu hỏi, trực tiếp gặp để nghe trả lời và trao đổi xung quanh chủ đề nghiên cứu của Luận văn (các câu hỏi và trả lời được thể hiện cụ thể trong Luận văn)

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về chủ đề nghiên cứu của Luận văn

- Chương 2 Thực trạng kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong ngành y tế

- Chương 3 Cấu trúc và hoạt động của tổ chức trung gian kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ để thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong ngành y tế

Trang 12

10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1.1 Lý luận về kết quả nghiên cứu khoa học

1.1.1 Nghiên cứu khoa học

Để phân tích khái niệm nghiên cứu khoa học, trước hết Luận văn xin phân tích khái niệm khoa học

Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy Tri thức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm, trong đó:

- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích luỹ một cách rời rạc, thường là ngẫu nhiên từ trong đời sống hàng ngày Con người cảm nhận thế giới khách quan từ khi chào đời, chịu sự tác động của thế giưói khách quan, buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động và trong ứng xử Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống của con người, những hiểu biết kinh nghiệm được tích luỹ chuyển dần từ những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ thống [11;18]

- Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động Nghiên cứu khoa học , là hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học Tri thức khoa học được phát triển từ tri thức kinh nghiệm, nhưng nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm [12;21]

Về nghiên cứu khoa học, đã có những cách hiểu khác nhau:

Điều 2.4 Luật KH&CN (2000) quy định: “Nghiên cứu khoa học là

hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã

hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên

cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”

Trang 13

Cách định nghĩa nghiên cứu khoa học trên đây là chưa đầy đủ, theo quan niệm của UNESCO, thì nghiên cứu khoa học bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (toàn bộ chuỗi R&D) [12;33]

Điều 3.4 Luật KH&CN (2013) định nghĩa Nghiên cứu khoa học là

hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn

Quan niệm của tác giả Luận văn:

- Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, chưa nói tới để củng cố phát triển tri thức, phục vụ cho việc phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế Bao gồm: hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ (nghiên cứu

cơ bản và nghiên cứu ứng dụng), hoạt động thử nghiệm (sản xuất thử nghiệm)

- Nghiên cứu khoa học có mục đích: hoàn thiện nhận thức về thế giới khách quan, góp phần làm giàu tri thức của nhân loại và để cải tạo thế giới, khám phá, tìm kiếm, sáng tạo các giá trị nhận thức mới, phương pháp mới, công nghệ mới để tăng năng suất lao động, cải tạo xã hội, hoàn thiện nhân cách, phát triển nền văn minh nhân loại, góp phần nâng cao dân trí, tăng cường nhận thức, phát huy các năng lực sáng tạo để xây dựng, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của cộng đồng

1.1.2 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học

Để phân tích khái niệm kết quả nghiên cứu, trước hết cần phân loại kết quả nghiên cứu Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học, nhưng thông thường phân theo ba loại sau:

- Nghiên cứu cơ bản (Fundamental Research): là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật

và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác Sản phẩm có thể là khám phá, phát hiện, phát minh, hình thành một hệ thống lý thuyết ;

- Nghiên cứu ứng dụng (Applied Research): là sự vận dụng quy luật từ

Trang 14

Khi tiếp cận dưới góc độ sở hữu trí tuệ, có thể phân loại kết quả nghiên cứu thành:

- Kết quả nghiên cứu là tác phẩm khoa học – kết quả nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: nội dung của kết quả nghiên cứu cơ bản không được bảo hộ theo pháp luật quyền tác giả, theo quy định tại điều 14.1.a Luật Sở hữu trí tuệ và điều 2.1 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật [16;34]

- Kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực tự nhiên, kỹ thuật được bảo hộ theo pháp luật về sáng chế, là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới

về các giải pháp

Nếu kết quả nghiên cứu ứng dụng và triển khai thuộc lĩnh vực khoa học

xã hội và nhân văn thì nó chỉ tồn tại như một tác phẩm khoa học và được bảo

hộ theo pháp luật quyền tác giả

Nhưng nếu kết quả nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm thuộc lĩnh vực công nghệ thì ngoài việc bản viết về chúng là tác phẩm khoa học thì nội dung của chúng còn được bảo hộ theo pháp luật sở hữu công nghiệp Nếu kết quả nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm hội tụ đủ

3 tiêu chí: tính mới, trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp thì

nó được bảo hộ là sáng chế, còn nếu chúng không hội tụ đủ 3 tiêu chí vừa nêu thì chúng được bảo hộ theo cơ chế thông tin bí mật

Trang 15

Về phân loại lĩnh vực nghiên cứu KH&CN, Bộ KH&CN đã ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN ngày 4/9/2008 của Bộ KH&CN và Quyết định số 37/QĐ-BKHCN ngày 14/01/2011 của Bộ KH&CN đính chính Quyết định 12/2008/QĐ-BKHCN, theo đó lĩnh vực nghiên cứu khoa học được phân chia thành 6 lĩnh vực: [3]

1.1.3 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế

Trong Luận văn này, thuật ngữ các cơ quan/tổ chức trong ngành y tế

a Kết quả nghiên cứu y tế dạng vật thể [2;35]

Công nghệ dạng vật thể được định hình dưới một dạng vật chất cụ thể,

mà con người có thể nhận biết bằng cảm giác, thị giác Kết quả nghiên cứu y

tế dạng vật thể có những đặc điểm sau đây:

Trang 16

b Kết quả nghiên cứu y tế dạng chất thể [2;37]

Chất là tập hợp các phần tử, các nguyên tố tương hỗ đáp ứng một nhu cầu cụ thể Chất có thể là dung dịch, hợp kim, huyền phù, chất kết tủa, hợp chất hóa học Ví dụ:

Kết quả nghiên cứu y tế dạng chất thể

(Hoạt chất paracetamol)

Chất có thể thuộc một trong các dạng sau:

- Các chất thu được không bằng phương pháp hóa học, ví dụ Hóa chất thử của máy phân tích huyết học HC Diluent

- Các chất thu được bằng cách biến đổi hóa lý;

Trang 17

- Các chất thu được bằng phương pháp hóa học, ví dụ hoạt chất paracetamol;

- Các chất thu được bằng phương pháp sinh hóa, ví dụ thuốc chữa bệnh, sản phẩm vi sinh khác (ví dụ vaccine), thuốc miễn dịch Thuốc chữa bệnh có thể bao gồm các loại thuốc nam, hoặc thuốc bắc, các loại thuốc tây (thuốc tiêm, thuốc uống )

b Kết quả nghiên cứu y tế dạng quy trình/phương pháp [2;41]

Phương pháp là trình tự tiến hành các công đoạn hoặc một loạt công đoạn diễn ra đồng thời hoặc diễn ra theo trình tự thời gian, trong các điều kiện kỹ thuật xác định có sử dụng các phương tiện vật chất

Quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý ) được thể hiện bằng một tập hợp thông tin xác định cách thức tiến hành một công đoạn, một công việc cụ thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được một mục đích nhất định

Các dấu hiệu đặc trưng cho phương pháp này có thể là:

Phương pháp có thể thuộc các loại sau:

- Các phương pháp trong đó trạng thái của các đối tượng vật chất được xác định hoặc thay đổi mà không tạo ra một sản phẩm cụ thể, đó là các phương pháp đo đạc, thử nghiệm, kiểm tra chất lượng, kiểm tra độ vững chắc, tính phù hợp với các thông số cần thiết cho các sản phẩm hay phù hợp với các quy luật, hiện tượng tự nhiên;

Trang 18

16

- Các quá trình làm thay đổi trạng thái của các đối tượng vật chất (ví dụ: phương pháp chẩn đoán bệnh, quy trình chữa bệnh, quy trình chống sock kháng sinh…);

- Các phương pháp thu các chất hóa học mới, ví dụ phương pháp bào chế để thu được bài thuốc đông y chữa đau thắt động mạch vành chứa các

thành phần đan sâm, tam thất, huyết kiệt, băng phiến tổng hợp (boméon) và

polyetylen glycol

- Các phương pháp vi sinh dựa trên cơ sở biến đổi sinh học, ví dụ

phương pháp bào chế chế phẩm sinh học (biological product) như vaccine,

máu hoặc thành phần máu, dị ứng, tế bào soma (somatic cell), liệu pháp gen,

mô, protein tái tổ hợp hoặc tế bào sống được sử dụng như liệu pháp để điều trị bệnh [27]

Quan niệm của tác giả Luận văn:

Như vậy, căn cứ vào việc phân loại kết quả nghiên cứu như trên, Luận văn phân loại kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y tế, bao gồm:

a Không thể thương mại hóa:

- Kết quả nghiên cứu thể hiện qua công nghệ quy trình/phương pháp, ví

dụ phương pháp phòng, chẩn đoán, chữa bệnh trong y học;

- Ví dụ cụ thể về kết quả nghiên cứu không thể thương mại hóa, đề tài

Nghiên cứu giá trị một số kháng thể trong chẩn đoán phân thể và tiên lượng một số bệnh da bọng nước, Nghiên cứu phát hiện đột biến gen ATP7B gây bệnh Wilson…

b Có thể thương mại hóa:

- Chất thể, ví dụ thuốc chữa bệnh trong dược học, hóa chất thử của máy phân tích huyết học HC Diluent

- Kết quả nghiên cứu thể hiện qua công nghệ vật thể (ví dụ trang, thiết

bị y tế, ví dụ cụ thể Máy đo nồng độ oxy bão hòa, Máy đo nồng độ oxy bão hòa…

- Ví dụ cụ thể về kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa, kết quả đề

tài khoa học Nghiên cứu bào chế, tính an toàn và tác dụng trong điều trị viêm

khớp dạng thấp của viên nang cứng từ cây "Hoàng Kinh", Nghiên cứu bào

Trang 19

chế, đánh giá tác dụng của cốm "Tiền liệt HC" trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt trên thực nghiệm và lâm sàng…

1.1.4 Chủ sở hữu kết quả nghiên cứu

Để có thể xác định chủ thể có quyền chuyển giao kết quả nghiên cứu, người ta phân loại chủ thể chuyển giao:

- Chuyển giao từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất: người có quyền chuyển giao là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu, xin lưu ý tác giả nghiên cứu không có quyền chuyển giao (trừ trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu);

- Chuyển giao trong nội bộ khu vực sản xuất: người có quyền chuyển giao là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu hoặc người có quyền sử dụng nhưng đồng thời có quyền chuyển giao

Trước hết, Luận văn xin khảo sát chủ sở hữu kết quả nghiên cứu

a Kết quả nghiên cứu là tác phẩm khoa học

Tác giả của tác phẩm khoa học có các quyền nhân thân, đó là quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên đối với tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả Các quyền nhân thân này vĩnh viễn thuộc về tác giả, kể cả trường hợp tác giả không là chủ sở hữu tác phẩm khoa học

Nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm khoa học thì tác giả là chủ sở hữu tác phẩm này Trong thực tế nghiên cứu khoa học, người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật phần lớn là tổ chức (có thể dùng ngân sách Nhà nước) hoặc cá nhân khác, bởi vậy những người này mới là chủ sở hữu tác phẩm khoa học Chủ sở hữu có quyền công bố tác phẩm khoa học, đồng thời có toàn bộ nhóm quyền tài sản được quy định tại điều 20 của Luật SHTT

Chúng ta có thể đã gặp trường hợp, tác giả kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước (hoặc do người khác đầu tư tài chính) đã ký hợp đồng cho phép một nhà xuất bản phát hành tác phẩm khoa học do mình sáng tạo

Trang 20

18

nên, cho phép người nào đó dịch tác phẩm khoa học ra tiếng nước ngoài… các hành vi vừa nêu của tác giả thực chất là đã cho phép người khác công bố tác phẩm, làm bản sao tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh, như vậy tác giả đã

vi phạm các quyền mà chỉ chủ sở hữu kết quả nghiên cứu mới có

Nếu nhiều người cùng đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nghiên cứu thì họ đồng sở hữu kết quả nghiên cứu, có thể chia ra 2 trường hợp:

- Trường hợp 1: đồng sở hữu chung duy nhất, kết quả nghiên cứu không thể phân chia, dẫn đến bất kỳ một người nào trong số đồng sở hữu cũng không có quyền thực hiện một quyền tài sản nào đối với kết quả nghiên cứu nếu không có sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu còn lại

- Trường hợp 2: đồng sở hữu theo phần, kết quả nghiên cứu có thể phân chia, dẫn đến mỗi người là chủ sở hữu một phần kết quả nghiên cứu căn

cứ theo phần đóng góp tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình cho nghiên cứu

b Kết quả nghiên cứu là sáng chế

Tác giả sáng chế có các quyền nhân thân, đó là được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công

bố, giới thiệu về sáng chế Như vậy, khác với tác giả của tác phẩm khoa học, tác giả sáng chế không có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của sáng chế, hay nói cách khác, tác giả sáng chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữu sáng chế hoặc người sử dụng sáng chế cải tiến sáng chế

Nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để nghiên cứu tạo nên giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì tác giả là chủ sở hữu sáng chế Trong thực tế thì người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật phần lớn là tổ chức hoặc cá nhân khác, do đó chính những người này mới là chủ sở hữu sáng chế Một trong những quyền quan trọng của chủ sở hữu sáng chế là được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (license sáng chế) cho người khác, vì sáng chế là một dạng tài sản vô hình, bởi vậy

Trang 21

chủ sở hữu có thể đồng thời license (không độc quyền) sáng chế cho nhiều người khác nhau

Việc phân định quyền lợi vật chất đối với sáng chế giữa tác giả sáng chế và chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp vừa nêu không khó, nó căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên hoặc theo luật định Mức thù lao tối thiểu mà chủ

sở hữu phải trả cho tác giả là 10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu được do

sử dụng sáng chế, 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do license sáng chế

Trong lĩnh vực quản lý SHTT, có một thuật ngữ chuyên môn, đó là

thuật ngữ “sáng chế công vụ” (Employee Invention) dùng để chỉ trường hợp

sáng chế được tạo ra trong quá trình tác giả của nó thực hiện công vụ

Nếu nhiệm vụ chính của tác giả trong quá trình thực hiện công vụ là phải nghiên cứu để tạo ra sáng chế thì tác giả (người lao động) không là chủ

sở hữu sáng chế, mà chủ sở hữu sáng chế là người sử dụng lao động Việc phân định quyền lợi vật chất đối với sáng chế giữa tác giả sáng chế và chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp này như đã nói ở trên

1.2 Chuyển giao công nghệ

1.2.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ

Khái niệm chuyển giao công nghệ phụ thuộc vào khái niệm công nghệ nên cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau

Chuyển giao công nghệ là việc có được công nghệ nước ngoài và là một quá trình vật chất (trí tuệ), là một quá trình về cơ bản một mặt đi liền với việc đào tạo toàn diện và mặt khác là sự hiểu biết và học hỏi

Theo UNCTAD [30]“chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao kiến

thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ” Theo định nghĩa này bản chất chuyển giao công nghệ là

quá trình chuyển giao kiến thức để sản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ…

Nawaz Shaif (1983) [32] cho rằng, “chuyển giao công nghệ thường là

cách gọi việc mua công nghệ mới nó thường xảy ra do có sự tồn tại của người mua và người bán Người bán thường được gọi là người giao và người

Trang 22

20

mua thường được gọi là người nhận của quá trình công nghệ“ Chuyển giao

công nghệ có thể diễn ra:

- Từ một ngành này sang một ngành khác

- Từ một tổ chức này sang tổ chức khác

- Ở quy mô quốc tế: giữa các quốc gia phát triển; giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển hoặc giữa hai quốc gia đang phát triển.”

- Định nghĩa “chuyển giao công nghệ liên quan đến phương thức một

nước tiếp nhận công nghệ (thu nhận) hoặc khả năng công nghệ từ nước khác

Nó cũng bao gồm bất kỳ hình thức chuyển giao một công nghệ giữa các hình thái tổ chức hoặc trong nội bộ một tổ chức” Theo định nghĩa này bản chất

của chuyển giao công nghệ là phương thức thu nhận công nghệ hoặc khả năng công nghệ giữa các địa điểm hoặc chủ thể khác nhau

Các định nghĩa trên đưa ra khái niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ, cách hiểu bản chất và phạm vi của từng định nghĩa có khác nhau nhưng trong đó nổi lên hai nhóm thuật ngữ về đối tượng chuyển giao và mục đích của chuyển giao:

- Đối tượng của chuyển giao: có thể là kiến thức (hoặc các hoạt động

liên quan đến kiến thức như đào tạo, bồi dưỡng …); thông tin; thiết bị

- Mục đích của chuyển giao: để sản xuất, áp dụng các quy trình và thực hiện dịch vụ; giải quyết các vấn đề xã hội và thương mại… Nhấn mạnh đến việc thay đổi môi trường công nghệ: sang một địa điểm khác, một môi trường khác

Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra:

- Từ một ngành công nghiệp sang ngành khác

- Từ một tổ chức này sang tổ chức khác

Bên cạnh bản chất của chuyển giao, trong các định nghĩa còn thấy xuất

hiện hai loại nhóm thuật ngữ đối tượng của chuyển giao và mục đích của

chuyển giao

- Đối tượng của chuyển giao (chuyển giao cái gì) có thể thấy:

Trang 23

+ Kiến thức (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo, học hỏi )

+ Thông tin

+ Thiết bị

Thực ra việc nêu ra các đối tượng chuyển giao trong các định nghĩa là không cần thiết vì có thể nêu thẳng thuật ngữ "công nghệ" và đương nhiên hiểu nó ứng với các khái niệm về công nghệ đã được thống nhất từ trước Đến đây, chúng ta thấy rõ ràng là khái niệm "chuyển giao công nghệ" sẽ có nội dung tùy thuộc vào cách hiểu thuật ngữ "công nghệ" đã được quy ước trước

- Mục đích của chuyển giao (chuyển giao để làm gì) chúng ta thấy:

+ Để sản xuất, áp dụng quy trình và thực hiện dịch vụ

+ Giải quyết vấn đề xã hội và thương mại

Qua ba loại vấn đề được xem xét trên, trong một định nghĩa hợp lý về chuyển giao công nghệ có thể sẽ chỉ cần nhấn mạnh đến hai ý: bản chất của chuyển giao và mục đích của chuyển giao

Trên khía cạnh pháp luật, Luật Chuyển giao công nghệ (2006) quy

định: “chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử

dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”

Quan niệm của tác giả Luận văn:

* Chuyển giao công nghệ là quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ và cho các mục đích khác

Cách hiểu này sẽ rộng hơn cách hiểu cho rằng chuyển giao công nghệ thực chất chỉ là việc mua bán công nghệ

1.2.2 Hình thức và nội dung chuyển giao công nghệ

Các hình thức chuyển giao công nghệ:

- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ;

- Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ (còn gọi là license công nghệ);

Trang 24

22

- Chìa khóa trao tay (Turn-Key, Clé en main): chủ sở hữu công nghệ

chỉ cam kết chuyển giao công nghệ vận hành được cho doanh nghiệp sử dụng

- Sản phẩm trao tay (Produit en main) : chủ sở hữu công nghệ cam kết

chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có loạt sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó

- Thị trường trao tay (Marché en main): chủ sở hữu công nghệ cam kết

chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó, đồng thời chia sẻ thị phần tiêu thụ chính sản phẩm đó

Các hình thức độc quyền trong license công nghệ:

- License độc quyền (Exclusive License) : Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền được độc quyền sử dụng công nghệ, bên chuyển quyền không được ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được sử dụng công nghệ đó nếu được phép của bên được chuyển quyền

- License không độc quyền (Non Exclusive License) : Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng không độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền vẫn

có quyền sử dụng công nghệ, quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác

Cần phải xác định rõ những trường hợp sau đây:

- Trường hợp 1: trong phạm vi lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, cần phải làm rõ thuật ngữ sử dụng trong định nghĩa trên, mặc dù bên chuyển giao không sử dụng công nghệ trong lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, nhưng bên chuyển giao có được quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực không? Nếu không trả lời được câu hỏi này thì quyền lợi của bên nhận chuyển giao có thể bị ảnh hưởng

- Trường hợp 2: quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác vẫn thuộc về bên chuyển giao, nhưng cần làm rõ phạm

Trang 25

vi hoạt động của người khác đó là trên lãnh thổ nào? Nếu người khác đó không sử dụng đối tượng được chuyển giao trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực thì có quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực không?

- License sơ cấp (Primary License): Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng giữa bên chuyển quyền sử dụng là chủ sở hữu đối tượng được chuyển giao và bên nhận chuyển giao quyền sử dụng công nghệ

Trong hợp đồng này, nếu có quy định bên nhận chuyển giao được quyền tiếp tục ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với chủ thể/các chủ thể khác thì hợp đồng tiếp theo này được gọi là hợp đồng License thứ cấp

- License thứ cấp (Sublicense): Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ giữa bên chuyển giao (không là chủ sở hữu công nghệ mà chỉ là bên nhận chuyển giao) với bên nhận chuyển giao khác quyền sử dụng công nghệ

Cần lưu ý rằng phạm vi quyền sử dụng công nghệ trong hợp đồng License thứ cấp không được phép vượt phạm vi quyền sử dụng công nghệ trong hợp đồng License sơ cấp tương ứng [17;57]

1.2.3 Phân loại chuyển giao công nghệ

Do hoạt động chuyển giao có nhiều đặc tính, đặc thù và hết sức đa dạng phức tạp, nên có nhiều quan điểm, nhiều cách phân loại CGCN Sau đây là một số cách phân loại thường gặp trong giao dịch công nghệ

a Theo hình thái công nghệ được chuyển giao

- Chuyển giao theo chiều dọc: là quá trình di chuyển công nghệ từ

nghiên cứu trong phòng thí nghiệm qua các giai đoạn triển khai và cuối cùng

là công nghệ hoàn thiện (có nghĩa là công nghệ chưa được đưa vào sản xuất đại trà)

- Chuyển giao theo chiều ngang: là quá trình di chuyển công nghệ đã

được hoàn thành chế tạo, từ một môi trường hoạt động này tới một môi trường hoạt động khác (có nghĩa là công nghệ đã được sản xuất đại trà)

b Theo chủ thể CGCN

Trang 26

24

- CGCN nội bộ ộ: Là sự chuyển giao các kết quả nghiên cứu của bộ phận

nghiên cứu phát triển cho bộ phận sản xuất trong nội bộ nhà máy, xí nghiệp hoặc cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

- CGCN trong nước c: Là sự chuyển giao các thành tựu công nghệ giữa

tổ chức, cá nhân có đủ quyền CGCN đến tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp

nhận CGCN trong phạm vi một quốc gia (giữa nhà máy và nhà máy, giữa xí

nghiệp và xí nghiệp, giữa cơ sở nghiên cứu khoa học và nhà máy, giữa trường đại học với nhà máy, xí nghiệp )

- CGCN từ trong nước ra nước ngoài i: Là sự CGCN các thành tựu công

nghệ giữa các tổ chức, cá nhân trong nước có đủ thẩm quyền CGCN với các

tổ chức cá nhân nước ngoài có nhu cầu tiếp nhận công nghệ trong phạm vi giữa các quốc gia

- CGCN từ nước ngoài vào trong nước: : Là chuyển giao các thành tựu

công nghệ giữa các tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền CGCN với các tổ chức, cá nhân trong nước có nhu cầu tiếp nhận công nghệ trong phạm vi giữa các quốc gia

c Theo nội dung công nghệ

- Công nghệ chế tạo o: Chỉ sự CGCN về các phương diện như thiết bị,

vật liệu sản xuất mục đích là chế tạo sản phẩm

- Công nghệ thiết kế ế: Chỉ sự CGCN về các phương diện như đồ án thiết

kế khai thác phát triển sản xuất, ứng dụng công nghệ, tài liệu thuyết minh công nghệ, số liệu tính toán và tư liệu ban đầu

- Công nghệ quản lý ý: Chỉ sự chuyển giao quản lý về các phương diện

như quản lý đặc biệt mà xí nghiệp hoặc cơ quan nghiên cứu khoa học triển khai thành công, hoặc công nghệ quản lý về tài vụ, vật tư, nhân sự, tư vấn, buôn bán

d Theo dòng công nghệ được lưu chuyển

- CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển: chủ yếu là mua bán

thiết bị, công nghệ, các bí quyết kỹ thuật, các sáng chế, phát minh, các sản phẩm KH&CN

Trang 27

- CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển: phần lớn là CGCN đã tương đối lạc hậu

- CGCN giữa các nước đang phát triển với các nước kém phát triển:

chủ yếu khai thác nguyên liệu thô, tận dụng nhân công lao động rẻ, thu hồi vốn nhanh

e Theo loại hình công nghệ chuyển giao

- CGCN sản phẩm: Bao gồm các công nghệ thiết kế sản phẩm (chủ yếu

là các phần mềm thiết kế, các kỹ thuật mô phỏng, các số liệu để thiết kế sản phẩm), công nghệ sử dụng sản phẩm (chủ yếu là các phần mềm sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa khi có sự cố, các thông tin liên quan đến vận hành tối ưu)

- CGCN quá trình: bao gồm các quy trình công nghệ để chế tạo, sản

xuất sản phẩm đã được thiết kế (công nghệ sản xuất) và công nghệ dịch vụ

f Theo các vật mang công nghệ được chuyển giao

- Chuyển giao thông qua tài liệu kỹ thuật (các kiến thức công nghệ

dưới dạng giải pháp kỹ thuật, bí quyết, phần mềm máy tính, công thức, bản

vẽ, sơ đồ kỹ thuật)

- Chuyển giao thông qua con người (các chuyên gia, các nhà khoa học,

công nghệ; công nhân kỹ thuật lành nghề)

- Chuyển giao thông qua công cụ, phương tiện kỹ thuật (máy móc, thiết

bị, dây chuyền sản xuất đồng bộ, nhà máy dạng chìa khóa trao tay)

1.3 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu

1.3.1 Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Thương mại hóa các kết quả nghiên cứu hay là đưa các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn được coi là khâu cuối cùng trong chuỗi hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) Nếu khâu cuối cùng này không được thực hiện thì hoạt động R&D không có ý nghĩa thực tiễn

Nhận thực được tầm quan trọng vừa nêu, để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, trong những năm qua Quốc hội đã ban hành Luật SHTT

2005, Luật chuyển giao công nghệ 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ

Trang 28

26

chức KH&CN công lập, Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN, đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển thị trường công nghệ Những văn bản quy phạm pháp luật trên đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển thị trường công nghệ

Nhưng trên thực tế việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu còn gặp không ít khó khăn, các kết quả nghiên cứu chưa thực sự phục vụ thiết thực cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp hay nói cách khác thị trường công nghệ chưa chấp nhận hoàn toàn các kết quả nghiên cứu

Nguyên nhân của vấn đề này có nhiều, nhưng chủ yếu vẫn thuộc về các doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà quản lý Về phía các doanh nghiệp, do thiếu thông tin về khả năng chế tạo của các nhà khoa học trong nước, thiếu sự tin cậy đối với các kết quả nghiên cứu chưa được thử nghiệm nên chưa mạnh dạn tìm mua những thiết bị, công nghệ được sản xuất trong nước, mà thường chọn phương án nhập khẩu thiết bị, công nghệ nước ngoài, tuy giá cao nhưng

ít rủi ro Về phía nhà khoa học, do thiếu điều kiện để triển khai các ý tưởng khoa học, triển khai thực nghiệm, hoàn thiện công nghệ từ các đề tài nghiên cứu và thiếu kinh phí để triển khai, thiếu thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp, nên hoạt động nghiên cứu chưa sát với nhu cầu của thực tế sản xuất, chưa tạo được lòng tin đối với các doanh nghiệp Vì vậy, những kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa [18;33]

Trong các nghiên cứu đi trước, các tác giả chưa bàn về nội hàm của thuật ngữ “thương mại hóa” trong cụm từ “thương mại hóa các kết quả nghiên cứu”, nên có thể gây hiểu lầm dẫn đến đối xử không công bằng trong hoạt động quản lý KH&CN đối với các kết quả nghiên cứu mà không thể thương mại hóa

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học có thể có nhiều dạng sản phẩm nghiên cứu, trong đó có sản phẩm có giá trị thương mại và cũng có sản phẩm

nghiên cứu không có/không thể có giá trị thương mại

Trang 29

Nội hàm của thuật ngữ “thương mại hóa” vừa nêu nằm trong phần trả

lời cho câu hỏi: Có thể thương mại hóa tất cả các kết quả nghiên cứu không?

Nếu tiếp cận từ góc độ quyền SHTT thì có thể trả lời ngay: không phải bất cứ kết quả nghiên cứu nào cũng có thể được thương mại hóa, mặc dù chúng đều được bảo hộ SHTT

Để tiện theo dõi, khi phân loại các kết quả nghiên cứu, tác giả Luận văn không phân loại theo tiêu chí nhóm khoa học tự nhiên, nhóm khoa học xã hội

và nhân văn hoặc tiêu chí nhóm nghiên cứu cơ bản, nhóm nghiên cứu ứng dụng, mà phân loại các kết quả nghiên cứu theo tiêu chí của quyền SHTT

Quyền SHTT trong bài viết này được hiểu theo quy định của Luật SHTT Để phù hợp với nội dung của bài viết này, tác giả Luận văn xin giới hạn nghiên cứu quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học; quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, bí mật kinh doanh

1.3.2 Kết quả nghiên cứu không thể thương mại hóa

Tất cả các kết quả nghiên cứu dù thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn hoặc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đều được coi là tác phẩm khoa học và được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả, quyền nhân thân

có thể chuyển giao và quyền tài sản của chủ sở hữu kết quả nghiên cứu [18;33]

Mặc dù các tác phẩm khoa học được bảo hộ quyền tài sản, nhưng lại không thể thương mại hóa được, ví dụ GS.VS Nguyễn Văn Hiệu có thể xuất

bản luận án tiến sĩ “Những tính chất của biên độ phát xạ của các hạt năng

lượng cao” 1, nhưng không ai lại bỏ tiền để mua sự độc quyền sử dụng những tính chất của biên độ phát xạ của các hạt năng lượng cao Trong trường hợp này, người ta nói kết quả nghiên cứu trên không có giá trị thương mại và tất nhiên không thể thương mại hóa được Cũng tương tự như vậy, kết quả nghiên cứu của Isaac Newton được thể hiện trong Định luận vạn vật hấp dẫn,

1 Xin tham khảo thêm: bài giới thiệu về Giáo sư viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu đăng trên

Trang 30

28

kết quả nghiên cứu của Albert Einstein thể hiện trong Thuyết tương đối, kết quả nghiên cứu của Karl Marx thể hiện qua việc tìm ra quy luật của giá trị thặng dư, kết quả nghiên cứu của Adam Smith thể hiện ở việc tìm ra quy luật

“bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường… đều không có giá trị thương mại, mặc dù không ai có thể phủ nhận được giá trị khoa học của chúng Các kết quả nghiên cứu này là sản phẩm thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản Như vậy

có thể rút ra nhận định 1: các kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực nghiên cứu

cơ bản là không thể thương mại hóa cho dù chúng thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội

Các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội được chia thành nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Nhưng các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội có thể thương mại hóa được hay

không? Chúng ta xét ví dụ, đề tài Áp dụng mô hình của Maslow vào quản lý

nguồn nhân lực được nghiệm thu, chủ sở hữu đề tài có thể xuất bản hàng ngàn

cuốn để bán, nhưng chắc chắn không ai lại bỏ tiền ra để được độc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu từ đề tài này Qua đây có thể rút ra nhận định 2: các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội không thể thương mại hóa được

Nhận định chung: các kết quả nghiên cứu cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và lĩnh vực khoa học xã hội, các kết quả nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội không có giá trị thương mại và bởi vậy không thể thương mại hóa Qua đây, cho thấy quá trình chuyển giao các kết quả nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội vào thực tiễn không phải

là quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu

1.3.3 Kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa

Giải pháp kỹ thuật là kết quả nghiên cứu ứng dụng, nó được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu đạt đủ 3 điều kiện: - tính mới; - trình độ sáng tạo; - khả năng áp dụng công nghiệp Ngược lại, nếu không đạt đủ 3 điều kiện vừa nêu hoặc chủ sở hữu kết quả nghiên cứu không yêu cầu được bảo hộ là sáng chế thì nó được bảo hộ là bí mật kinh doanh Ví dụ quy trình chế tạo ra nước

Trang 31

ngọt Coca Cola đạt đủ 3 điều kiện trên, nhưng chủ sở hữu không yêu cầu được cấp bằng độc quyền sáng chế, bởi vậy nó chỉ được bảo hộ là bí mật kinh doanh

Do đó, trái với quan niệm của một số nhà quản lý, theo tác giả Luận văn thì trong quản lý KH&CN, không nên lấy tiêu chí có bao nhiêu công nghệ được cấp bằng độc quyền sáng chế để đánh giá hiệu quả nghiên cứu về khoa học, về kinh tế… của một chủ thể nào đó Xét trên hiệu quả kinh tế thì phải lấy tiêu chí kết quả nghiên cứu có được thị trường chấp nhận hay không, hay nói cách khác kết quả nghiên cứu có thể được thương mại hóa hay không

Như vậy, giải pháp kỹ thuật là kết quả nghiên cứu được bảo hộ ở dạng sáng chế hay bí mật kinh doanh đều có giá trị thương mại và có thể được thương mại hóa Kể từ đây, cụm từ “thương mại hóa các kết quả nghiên cứu” dùng để chỉ việc thương mại hóa giải pháp kỹ thuật được bảo hộ ở dạng sáng chế hay bí mật kinh doanh

Cũng cần nói thêm rằng bản mô tả sáng chế về một giải pháp kỹ thuật phải được coi là tác phẩm khoa học (kể cả trong trường hợp giải pháp kỹ thuật này không được cấp bằng độc quyền sáng chế) Như vậy, kết quả nghiên cứu dạng này có thể được bảo hộ theo 2 cơ chế của quyền SHTT, đó là quyền tác giả và sáng chế Tác giả Luận văn lưu ý khi dùng chữ “và”, bởi vì có một số người quan niệm chỉ dùng chữ “hoặc” trong trường hợp này Nhưng chỉ khi được bảo hộ là sáng chế thì kết quả nghiên cứu này mới có thể được thương mại hóa

Quan niệm của tác giả Luận văn:

- Kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau đều có thể chuyển giao, ví dụ chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ;

- Kết quả nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học khác nhau là

không thể thương mại hóa Ví dụ không thể thương mại hóa định luật thiết

diện bất biến của quá trình sinh hạt của Nguyễn Văn Hiệu, không thể thương

mại hóa quy luật bàn tay vô hình trong nền kinh tế thị trường

- Kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực y học, khoa học xã hội

Trang 32

30

và nhân văn là không thể thương mại hóa Ví dụ: phương pháp “mổ gan khô”

có thể được chuyển giao, nhưng không thể thương mại hóa; giải pháp quản lý nguồn nhân lực có thể được chuyển giao, nhưng cũng không thể thương mại hóa được;

- Kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, dược, nông nghiệp là có thể thương mại hóa

1.4 Kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ

1.4.1 Bên cung công nghệ

Bên cung công nghệ là một thuật ngữ dùng để chỉ các tổ chức nghiên cứu và triển khai (không bao gồm khâu chuyển giao công nghệ)

Hiện nay ở Việt Nam có 2 nguồn cung công nghệ đó là trong nước và

từ nước ngoài [1;37]

1.4.1.1 Nguồn cung trong nước

Một trong nguồn cung chủ yếu trong nước xuất phát từ các Viện nghiên cứu (Viện) và Trường đại học/cao đẳng (Trường) cùng với sự tham gia của các Trung tâm CGCN, các Trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN của các tỉnh/thành phố (Trung tâm CGCN) và một số nhà sáng chế độc lập

Theo quan điểm chung của một số Viện/Trường2, những khó khăn trong việc CGCN từ các Viện, Trường vì lý do sau:

Thứ nhất, chính sách hiện thời kích thích nghiên cứu đề tài theo chiều rộng (số lượng), mà không khai thác hết chiều sâu của một lĩnh vực nghiên cứu nào đó (chất lượng), chưa tạo điều kiện để cán bộ khoa học theo đuổi đến cùng một vấn đề nghiên cứu Trong thời gian 2- 3 năm chủ nhiệm đề tài và các thành viên tham gia chỉ cần hoàn thành nội dung cam kết, rồi tính đến việc nghiên cứu đề tài khác Sự kế thừa, phát huy những kết quả của các đề tài trước đạt được là rất ít Hay nói một cách khác, đầu tư của nhà nước cho công tác nghiên cứu khoa học thường chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm Có

2 Ý kiến tại hội thảo “Mô hình và cơ chế phát triển doanh nghiệp trong các trường đại học Việt Nam” vào ngày 20 tháng 01 năm 2010 tại Trường đại học Bách khoa Hà Nội

Trang 33

nghĩa rằng các công trình nghiên cứu chỉ đang ở giai đoạn nghiên cứu trình diễn (nghiên cứu, chế tạo thử rồi mang ra thử nghiệm) Từ kết quả nghiên cứu trình diễn để đưa được vào thực tế còn một khoảng cách khá xa

Thứ hai, việc đề xuất các đề tài nghiên cứu phần lớn là do các Viện, trường công lập đề xuất, chưa nhận được sự tham gia đông đảo của các thành phần kinh tế Vì vậy các sản phẩm khoa học thường thiếu tính thực tiễn, chưa tạo được sự gắn kết hữu cơ giữa các cơ quan nghiên cứu với các doanh nghiệp ứng dụng Sự tham gia của các nhà khoa học vào việc tạo ra các sản phẩm mới có giá trị cao còn rất hạn chế

1.4.1.2 Nguồn cung từ nước ngoài

Hiện nay, cung công nghệ từ nước ngoài vào trong nước chủ yếu được thực hiện thông qua các dự án FDI và nhập công nghệ của các doanh nghiệp

có vốn trong nước

- CGCN qua các dự án đầu tư nước ngoài

Thông qua dự án FDI, nhiều công nghệ mới đã thực hiện chuyển giao

và nhiều sản phẩm mới đã được sản xuất tại các doanh nghiệp FDI; nhiều cán

bộ công nhân đã được đào tạo mới và đào tạo lại để cập nhật kiến thức phù hợp với yêu cầu mới Đồng thời hoạt động đầu tư nước ngoài cũng có tác động thúc đẩy phát triển công nghệ trong nước trong bối cảnh có sự cạnh tranh của cơ chế kinh tế Có thể nói rằng CGCN thông qua các dự án FDI là con đường ngắn nhất để đổi mới công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thông qua CGCN của các dự án FDI chúng ta tiết kiệm được nguồn lực (trí tuệ, tiền của), đồng thời nhanh chóng tạo ra sản phẩm mới với chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nâng cao trình độ cán bộ, công nhân trong sản xuất kinh doanh từng bước tiếp cận với tiến bộ KH&CN của các nước trong khu vực và thế giới, tiến tới làm chủ công nghệ, hướng tới đầu tư, CGCN ra nước ngoài

- Nhập công nghệ của doanh nghiệp có vốn trong nước

Có thể nói rằng, nhập công nghệ đang là xu hướng cơ bản của các doanh nghiệp Việt Nam Bên bán là các doanh nghiệp nước ngoài, bên mua

Trang 34

32

(nhập công nghệ) là các doanh nghiệp vốn trong nước của Việt Nam Do thiếu thông tin về công nghệ và ít kinh nghiệm trong thương thảo hợp đồng nên nhiều trường hợp phải chấp nhận giá cao Đồng thời, vì không biết trình độ công nghệ chung trên thế giới ở mức nào mà chỉ so với ta thì thấy tiến bộ hơn rất nhiều, nhưng sau khi nhập về và ứng dụng vào sản xuất mới nhận thấy công nghệ vừa mua về đã lạc hậu so với thế giới

1.4.2 Bên cầu công nghệ

Bên cầu công nghệ là bên nhận công nghệ nhằm biến công nghệ thành sản phẩm thương mại/phi thương mại phục vụ nhu cầu của xã hội

1.4.2.1 Cầu công nghệ của doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp FDI, công nghệ sử dụng là thường là công nghệ

đã qua sử dụng ở bản quốc, dựa chủ yếu vào nguồn công ty mẹ Tuy nhiên một số doanh nghiệp FDI cũng có nhu cầu đổi mới công nghệ cho phù hợp với điều kiện Việt Nam

Theo kết quả đánh giá trình độ công nghệ theo 4 thành phần (thiết bị, nhân lực, thông tin, tổ chức) của 11 ngành công nghiệp Việt Nam của CIEM cho thấy, trình độ chung của hầu hết các ngành (trừ công nghệ sản xuất đạm trong ngành phân bón hoá chất) được đánh giá ở mức trung bình, trung bình thấp và thấp so với các nước khu vực và thế giới

Để nâng cao trình độ công nghệ, qua đó cải thiện chất lượng sản phẩm,

hạ giá thành, tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh, vấn đề đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu Việc đổi mới công nghệ

có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động nghiên cứu và triển

Trang 35

khai (R&D); hoạt động đổi mới quy trình sản xuất (mua mới, cải tiến) và hoạt động đổi mới sản phẩm (thiết kế đưa ra sản phẩm mới hay cải tiến sản phẩm)

Chính sách hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ mang tính tích cực nhưng còn hạn chế nên mức độ tác động thúc đẩy chưa rõ rệt, không đáng kể

Các nhân tố chính cản trở đến quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp là:

- Thiếu vốn: Đây là nhân tố có tác động cản trở nhất đối với quả trình

đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp

- Thiếu thông tin công nghệ: Đây là hai nhân tố có tác động cản trở lớn

tiếp theo

- Sợ rủi ro khi đầu tư: Quá trình đổi mới công nghệ của các doanh

nghiệp có thể gặp rất nhiều rủi ro như thời gian hoàn vốn kéo dài

1.4.3 Tổ chức trung gian giữa bên cung và bên cầu công nghệ

Philip Kotler [79], một chuyên gia nổi tiếng về marketing cho rằng hệ

thống truyền thông (hay là hệ thống khuyến khích – Promotion), gồm 4 phương tiện tác động cơ bản:

- Quảng cáo: Là bất kỳ một hình thức giới thiệu gián tiếp và đề cao

những ý tưởng, hàng hóa hay dịch vụ nhân danh một người bảo trợ nổi tiếng

và phải trả tiền cho họ

- Kích thích tiêu thụ: Những biện pháp kích động tức thời nhằm khuyến

khích mua hay bán hàng hóa, dịch vụ

- Tuyên truyền (Publicity): Là việc kích thích gián tiếp và người bảo trợ

không được trả tiền, nhằm tăng nhu cầu về hàng hóa và DV hay về một đơn vị

tổ chức sản xuất kinh doanh bằng cách phổ biến những tư liệu thương mại quan trọng của những đối tượng đó trên các ấn phẩm thông tin hay qua những màn trình diễn gây thiện cảm trên đài phát thanh truyền hình hoặc sân khấu

- Bán hàng trực tiếp là giới thiệu bằng miệng về hàng hóa trong quá

trình nói chuyện với một hay nhiều người mua tiềm ẩn với mục đích bán được hàng

Trang 36

34

Từ các phân tích và nhận định trên đây, các hoạt động trung gian trong việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu được thể hiện:

a Quảng cáo công nghệ

Quảng cáo công nghệ là hoạt động xúc tiến CGCN của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực KH&CN giới thiệu với khách hàng về hàng hoá công nghệ của mình3

Quảng cáo trình bày một thông điệp mang tính thương mại theo những chuẩn mực nhất định trong cùng một lúc một số lượng lớn những người nhận phân tán khắp nơi thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng Các phương tiện này có thể phát sóng (đài phát thanh, truyền hình), in ấn (báo, tạp chí), và các phương tiện khác (như thư tín, biển quảng cáo hoặc phương tiện quá cảnh )

b Quan hệ công chúng (PR – Public Relations)

Quan hệ công chúng về công nghệ là những hoạt động nhằm tuyên truyền giới thiệu với giới dân chúng khác nhau ở trong và ngoài nước về công nghệ

Các hoạt động công chúng chủ yếu mà các doanh nghiệp thương mại thường dùng như: tổ chức họp báo, hội thảo khách hàng, quan hệ với cộng đồng, hoạt động truyền thông qua tạp chí của doanh nghiệp Các hoạt động khuyếch trương khác như: hoạt động từ thiện, hoạt động tài trợ (tài trợ cho các chương trình thể thao ca nhạc, các cuộc thi tìm hiểu, ) Hoạt quan hệ công chúng giúp cho các tổ chức có khả năng xây dựng hình ảnh đẹp trước khách hàng hoặc dành quyền quảng cáo Đây là hình thức xúc tiến bán hàng được các doanh nghiệp lớn sử dụng

c Trưng bày, giới thiệu công nghệ

Trưng bày, giới thiệu công nghệ là hoạt động xúc tiến thương mại công nghệ của tổ chức và cá nhân dùng công nghệ và tài liệu về công nghệ để giới thiệu với khách hàng về công nghệ đó4

3 Điều 102, Luật Thương mại: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, DV của mình

Trang 37

Các hình thức trưng bày, giới thiệu công nghệ:

- Mở phòng trưng bày, giới thiệu công nghệ

- Trưng bày, giới thiệu công nghệ thông qua các trung tâm giao dịch công nghệ hoặc qua các hoạt động giải trí, thể thao, văn hoá, nghệ thuật

- Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu công nghệ

- Trưng bày giới thiệu công nghệ trên Internet và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

- Hội chợ, triển lãm công nghệ

Hội chợ, triển lãm công nghệ là hoạt động xúc tiến CGCN được thực hiện tập trung trong một thời gian và một địa điểm nhất định để tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu công nghệ trưng bày, giới thiệu công nghệ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng CGCN 5

1.4.4 Các tổ chức trung gian thương mại hóa kết quả nghiên cứu

a Trung tâm chuyển giao công nghệ

Đối với hàng hoá thông thường, quá trình mua bán diễn ra nhanh chóng Việc mua bán trong các giao dịch thường đi đôi với quyền chủ sở hữu hàng hoá Nhưng đối với quá trình mua bán công nghệ lại khác hẳn Sự mua bán có sự khác nhau một trời một vực giữa mua quyền sử dụng hay quyền sở hữu, độc quyền hay không độc quyền hàng hoá công nghệ Để thực hiện được điều này phải nhờ tới các đơn vị hoạt động chuyên nghiệp (các Trung tâm

CGCN) có kinh nghiệm về chuyên môn để thực hiện truyền đạt, chuyển giao

những kiến thức cốt lõi, giúp cho bên nhận dễ dàng tiếp thu và làm chủ công nghệ, hoàn thành 1 chu trình chuyển giao Nếu xét trong quan hệ thương mại, đây cũng chính là hoạt động “bán hàng trực tiếp” đã đề cập ở trên

b Vườn ươm công nghệ (TBI), ươm tạo doanh nghiệp công nghệ:

Do CGCN còn là những hoạt động diễn ra trong nội bộ hay theo hình thái: từ quá trình nghiên cứu tới quy mô phòng thí nghiệm tiến tới một sản

4 Điều 117, Luật Thương mại: “Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, DV là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hóa, DV và tài liệu về hàng hóa, DV để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, DV đó.”

5 Điều 129, Luật Thương mại: “Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng

Trang 38

36

phẩm công nghệ hoàn chỉnh để thương mại hóa rộng rãi Giai đoạn này phải sản xuất công nghiệp thử nhằm ổn định các thông số kỹ thuật và quy trình sản xuất Trong quá trình này nếu thiếu sự hỗ trợ chuyên nghiệp sẽ làm người sáng tạo công nghệ rất vất vả trong việc chuyển giao Còn bên tiếp nhận chuyển giao (bên mua) rất dễ nản lòng, thiếu lòng tin đối với công nghệ vì công nghệ chưa hoàn chỉnh nên thường xuyên báo lỗi

c Tổ chức cung cấp thông tin KH&CN:

Công nghệ thường được coi là các “sản phẩm mới”, nên thông tin về sản phẩm rất ít khiến “cung”, “cầu” khó gặp nhau Các hoạt động cung cấp thông tin KH&CN nhằm góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch từ “cung” sang

“cầu” cũng được coi là hoạt động xúc tiến CGCN

d Tổ chức hỗ trợ tài chính:

Nhằm gia tăng số lượng “bên cầu”, biến các đối tượng từ “có nhu cầu”

đủ điều kiện trở thành “có khả năng mua” tức “bên cầu”; hay quá trình thiết lập các mối liên kết để “cung”, “cầu” xích lại gần nhau, tạo điều kiện thuận lợi diễn ra các giao dịch cũng được coi là hoạt động góp phần “thúc đẩy, tạo

và tìm kiếm cơ hội CGCN”

* Kết luận Chương 1

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhiệm vụ nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học, đòi hỏi phải nắm chắc lý luận về hoạt động KH&CN, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và

lý luận về quản lý nghiên cứu khoa học , quy trình quản lý nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Luận văn đã đi sâu nghiên cứu hoạt động KH&CN, các lĩnh vực nghiên cứu, các khái niệm quan trọng trong lĩnh vực khoa học và nghiên cứu khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; phân tích đặc điểm của hoạt động KH&CN và đặc thù của nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y - dược học

Trang 39

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG KẾT NỐI GIỮA BÊN CUNG VÀ BÊN CẦU

CÔNG NGHỆ ĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG NGÀNH Y TẾ

2.1 Tổng quan về nghiên cứu khoa học trong ngành y tế

2.1.1 Khái quát chung về nghiên cứu khoa học trong ngành y tế

Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y - dược học là công tác nghiên cứu phục vụ chẩn đoán, điều trị, dự phòng bệnh tật, bào chế, sản xuất thuốc, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Như vậy, đối tượng tác động trực tiếp của lĩnh vực y - dược học là con người

Con người chịu tác động của quy luật sinh học như những cơ thể sống khác, đặc trưng nhất là quá trình đồng hóa và dị hóa Khác động vật, con người

có ý thức xã hội, con người phải chịu tác động của các quy luật xã hội như: xã hội học, tâm lý học Vì thế nghiên cứu về y - dược cần phải có sự phối hợp của nhiều chuyên ngành khoa học khác

Những nghiên cứu y - dược học khó có thể thực hiện trực tiếp trên người,

mà chủ yếu được tiến hành trên động vật thực nghiệm Một số loài động vật có chức năng sinh lý gần giống với người được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên động vật áp dụng cho người còn nhiều bất cập Những nghiên cứu phải thực hiện trên người nếu không có phương pháp đúng sẽ rất khó khăn cho việc tiến hành triển khai và đánh giá kết quả nghiên cứu

Lĩnh vực y - dược khác với các lĩnh vực khoa học khác Trong thế giới sinh học có những cá thể, giai đoạn không hoàn toàn tuân theo quy luật chung

mà nó phụ thuộc vào sự biến đổi và sức chịu đựng của từng cá thể sinh học Vì thế: nghiên cứu lĩnh vực này có đặc thù riêng

Hoạt động KH&CN trong lĩnh vực y - dược học là công việc khó khăn, phức tạp Nghiên cứu khoa học trên con người, nếu không có phương pháp

Trang 40

38

đúng, không có say mê khoa học và có những biện pháp, cách thức quản lý phù hợp thì khó có thể thành công

2.1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học trong ngành y tế

Nghiên cứu khoa học trong ngành y tế có những đặc điểm sau:

- Hoạt động nghiên cứu khoa học phải gắn liền với điều trị thử nghiệm lâm sàng Bởi mục tiêu chung và là cao cả nhất của Nghiên cứu khoa học trong

y học cũng như của hoạt động điều trị đều nhằm bảo vệ tốt nhất sinh mạng của con người Kết quả của nghiên cứu khoa học trong y học phải thể hiện ở việc nâng cao trình độ, kết quả và hiệu quả của điều trị, của công tác chăm sóc và bảo

vệ sức khỏe con người Có những nghiên cứu khoa học được tiến hành trong phòng thí nghiệm tạo nên loại vacxin rất tốt, thử nghiệm trên động vật cho kết quả tốt, nhưng khi thử nghiệm trên người đã cơ phản ứng xấu, gây nên những phản ứng phụ không thể chấp nhận Bởi vậy, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực

y - dược không thể bỏ qua giai đoạn thử nghiệm lâm sàng

- Yêu cầu khoa học của nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y - dược học phải kết hợp với yêu cầu xã hội Bởi mục tiêu của mọi hoạt động trong y - dược

học, kể cả việc nghiên cứu khoa học, đều hướng vào phục vụ yêu cầu của con người, phải được xã hội chấp nhận Những nội dung nghiên cứu ở lĩnh vực này chỉ để rút ra kết luận khoa học thuần túy mà trái với yêu cầu xã hội sẽ không thể được tiến hành

- Hệ thống cơ quan tham gia nghiên cứu khoa học liên kết chặt chẽ với các viện - trường - bệnh viện Mỗi cơ quan có mặt mạnh ở từng khâu, và cũng có

sự hạn chế ở khâu khác, liên kết các khâu đó mới tạo nên hệ thống hoạt động nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh trong lĩnh vực y - dược học Liên kết viện - trường - bệnh viện trong hoạt động nghiên cứu khoa học là một đặc thù, và cũng

là một thế mạnh của nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học, thực hiện được mục tiêu nhanh chóng chuyển giao những kết quả trong nghiên cứu khoa học vào ứng dụng có kết quả sớm trong thực tế

Ngoài ra, nghiên cứu khoa học trong ngành Y tế còn có những đặc điểm riêng biệt sau:

Ngày đăng: 07/04/2020, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w