Sự nghiệp đổi mới nền kinh tế,công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra cho công tác đo lường những yêu cầu mới rất cấp bách, đặc biệt là trước xu thếhội nhập và toàn cầu hoá thương
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đo lường là một lĩnh vực hoạt động khoa học- kỹ thuật hết sức gần gũi vàgắn bó mật thiết với đời sống con người.Nó gần gũi và quen thuộc đến mức nhưtrở thành tự nhiên Cũng vì vậy thường người ta không để ý đến nó, không dễdàng cảm nhận được vai trò và tầm quan trọng của nó.Chúng ta hình như chỉ tình
cờ phát hiện ra nó và cảm thấy nó quan trọng khi gặp một trục trặc nào đó trongcuộc sống Hầu như những gì con người cần cho cuộc sống đều phải đo Cáithước giúp ta biết tấm vải, khúc gỗ dài bao nhiêu mét,cái cân giúp ta biết congà,con lợn, bì gạo nặng bao nhiêu kilôgam Đo lường tạo ra cơ sở định lượngtin cậy để thuận mua vừa bán, để đảm bảo công bằng và tin cậy lẫn nhau trongthương mại, trong giao lưu kinh tế giữa mọi người và giữa các nước với nhau,đồng thời đo lường tạo ra cơ sở định lượng để chúng ta có được các quyết địnhđúng đắn liên quan đến an toàn và tính mạng của mọi người
Khoa học-kỹ thuật ngày càng phát triển, trình độ đời sống và sản xuất củacon người ngày càng nâng cao,đo lường càng trở nên gần gũi và quan trọng.Ngàynay, chúng ta không thể hình dung một đời sống xã hội văn minh, phát triển màlại thiếu đo lường Đo lường đã trở thành như một yếu tố, một nhu cầu văn hoátrong đời sống của tất cả mọi người,của toàn xã hội
Sự nghiệp đổi mới nền kinh tế,công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt
ra cho công tác đo lường những yêu cầu mới rất cấp bách, đặc biệt là trước xu thếhội nhập và toàn cầu hoá thương mại hiện nay Trong những năm qua,cơ chếquản lý nhà nước về đo lường đã đổi mới khá nhiều, một mặt phù hợp với hoàncảnh điều kiện của ta,mặt khác tiếp cận thích ứng với tập quán,xu thế và các quyđịnh của quốc tế và khu vực.Có thể nhận thấy những đổi mới về nhận thức vàcách làm này khi so sánh các nội dung của pháp lệnh đo lường ban hành năm
1990 với pháp lệnh đo lường năm 1999.Bên cạnh đó hoạt động quản lý nhà nước
về đo lường gắn bó chặt chẽ với các hoạt động quản lý nhà nước khác đã gópphần trực tiếp vào việc đấu tranh chống gian lận thương mại,chống thất thu thuế,chóng hàng giả và các hàng kém chất lượng, bảo vệ lợi ích chính đáng của cácdoanh nghiệp,đặc biệt là các doanh nghiệp có áp dụng hệ thống quản lý chấtlượng, đồng thời bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng góp phần tạo ra môi trườngpháp lý để đảm bảo sự pháp triển lành mạnh của sản xuất và tiêu dùng
Qua quá trình học tập, được thầy cô giáo giảng dạy, trang bị cho lý luận
Trang 2và những kiến thức cơ bản về đo lường.Em đã đi vào nghiên cứu đề tài: " Bàn về vai trò của đo lường trong một số hệ thống quản lý chất lượng ở các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam"
Nội dung của đề án gồm:
Phần I: Những lý luận chung về đo lường
Phần II: Thực trạng đo lường trong hệ thống quản lý chất lượng ở các
doanh nghiệp công nghiệp Việt nam
Trang 3Phần III: Một số giải pháp nhằm làm tốt công tác đo lường trong các
doanh nghiệp công nghiệp có áp dụng hệ thống quản lý chất lượng.PHẦN
I: NHŨNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐO LƯỜNG
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐO LƯỜNG.
1 Sự hình thành và phát triển của đo lường trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Sự hình thành và phát triển của đo lường gắn liền với lịch sử phát triển củanhân loại, từ xa xưa con người đã biết sử dụng đo lường để phục vụ đời sống sinhhoạt như việc định lượng, cân đong,đo đếm các loại vật chất Đỉnh cao của sựphát triển đo lường với điểm mốc đáng chú ý là sự ra đời của “Hệ mét”
Năm 1789 đại cách mạng tư sản dân quyền đã nổ ra ở Pháp và giành đượcthắng lợi, sự thắng lợi này gắn liền với một giai đoạn phát triển đặc của đo lường
và quản lý đo lường ở Pháp cũng như trên toàn thế giới.Trong không khí thắnglợi về chính trị, Quốc hội lập hiến Pháp muốn làm một việc gì đó về khoa học kỹthuật.Năm 1790, họ quyết định xây dựng một hệ đo lường hợp pháp thống nhấtcho toàn nước Pháp trên một vật chuẩn tự nhiên nào đó có thể tái tạo lại chínhxác mỗi khi cần.Họ cũng mong muốn hệ đo lường này sẽ là một hệ đo lường vănminh, làm mẫu mực cho toàn thế giới, một hệ đo lường cho “tất cả các dân tộc,tất cả các thời đại” Theo quyết định đó Pháp đã tập hợp được những nhà khoahọc nổi tiếng lúc đó nghiên cứu để thực hiện dự án xây dựng hệ đo lường nóitrên Họ đề nghị lấy đơn vị độ dài với tên gọi là “mét” làm đơn vị gốc,do đó cótên “ Hệ mét” và định nghĩa mét là độ dài bằng 1/10 triệu của 1/4 kinh tuyến quảđất.Từ kết quả đó, hai thước chuẩn giống nhau bằng platin đã được chế tạo để thểhiện đơn vị mét theo định nghĩa trên
Có mét người ta định nghĩa luôn đơn vị khối lượng là khối lượng của mộtđêximét khối nước tinh khiết ở nhiệt độ 4 độ c và gọi là “kilôgam”.Hai quả cânhình trụ bằng platin cũng được chế tạo để thể hiện đơn vị kilôgam theo địnhnghĩa trên, về đại lượng dung tích rất cần cho giao lưu kinh tế lúc ấy,thì người talấy thể tích của một kilôgam nước tinh khiết làm đơn vị và gọi là “lít”
Trang 4Ngoài mét,kilôgam và lít ra,người ta còn dựa vào đơn vị mét để định nghĩamột số đơn vị thông dụng nhất như mét vuông, mét khối,hécta và lập ra nhiềuđơn vị ước, bội theo nguyên tắc thập phân.Như vậy là đã xây dựng được một hệđơn vị đo lường với quả đất và nước tinh khiết làm vật chuẩn thiên nhiên, việcxuât hiện vật chuẩn thiên nhiên và ước bội thập phân là những tư tưởng vĩ đạicủa những người sáng tạo ra “Hệ mét”,để lại dấu ấn không thể phai mờ trong quátrình lịch sử phát triển của đo lường và quản lý đo lường trên toàn thế giới.Đến năm 1960 tại đại hội cân đo quốc tế lần thứ XI ở Paris đã thông qua “
Hệ đơn vị đo lường quốc tế”,viết tắt là SI làm cơ sở để thống nhất đo lường trêntoàn thế giới.Các đại hội cân đo quốc tế sau đó đã tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ
SI nhằm đáp ứng các yêu cầu về đo lường ngày càng cao của sản xuất và khoahọc kỹ thuật Hệ SI là một thành tựu xuất sắc của đo lường học, nó là một hệ hiệnđại,thực dụng,cỡ đơn vị nói chung phù hợp với yêu cầu thông thường của sảnxuất,vì vậy hệ SI đã được hầu hết các nước trên thế giới,trong đó có nước ta lấylàm cơ sở để quy định đơn vị đo lường hợp pháp của nước mình
Như vậy sự xuất hiện của “Hệ mét” và hệ SI là những sáng tạo xuất sắccủa nhân loại, để lại dấu ấn không bao giời phai mờ cấu thành trong quá trìnhlịch sử phát triển của đo lường và quản lý đo lường
2 Lịch sử hình thành và phát triển của đo lường Việt nam.
Lịch sử hình thành và phát triển của đo lường Việt nam trải qua một thờigian dài với những giai đoạn thăng trầm khác nhau gắn liền với chiều dài lịch sửcủa đất nước.Bước ngoặt sự hình thành và phát triển của đo lường Việt nam đượcđánh dấu bằng sự kiện rất đáng ghi nhớ là ngày 20/1/1950, giữa lúc cuộc khángchiến chống Pháp của nhân dân ta đang trong giai đoạn gay go,ác liệt,Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đích thân ký sắc lệnh số 8/SL quy định hệ thống đo lường ápdụng ở nước ta là Hệ mét.sắc lệnh 8/SL đã nêu lên và giải quyết đúng đắn (ởphạm vi và trình độ phát triển của xã hội lúc bấy giờ ) nhiều nội dung quan trọngcủa quản lý nhà nước về đo lường như đơn vị đo lường hợp pháp,việc sử dụng vàsản xuất dụng cụ đo,việc sử phạt về đo lường.Có thể nói sắc lệnh 8/SL được Bác
Hồ trực tiếp ban hành cách đây 50 năm chính là nền tảng,là điểm xuất phát tạonên sự trưởng thành của đo lường và quản lý đo lường ở nước ta như ngày nay.Sau năm 1954,trong điều kiện hoà bình xây dựng XHCN ở miền Bắc,Nhànước ta có điều kiện dể nghiên cứu ban hành những văn bản pháp luật đầy đủ vàsâu rộng hơn về đo lường Ngày 26/12/1964 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký
Trang 5Nghị định số 186/CP ban hành.Bảng đơn vị đo lường hợp pháp của nước Việtnam dân chủ cộng hoà.Đây là sự kế thừa và nâng lên ở một tầm cao mới săc lệnh8/SL.Bảng đơn vị hợp pháp của nước ta ban hành theo nghị định trên đã đượcxây dựng hoàn toàn trên cơ sở Hệ đơn vị quốc tế (SI), tiếp nối sự phát triển tựnhiên từ Hệ mét sang Hệ SI của thế giới.
Đầu những năm 70, nhất là sau khi hiệp định Paris(1972) dược ký kết,công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở miền Bắc nước ta và cùng với nó làphong trào cải tiến quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật được triển khai mạnhmẽ.Trong bối cảnh đó,việc đưa các hoạt động đo lường vào nề nếp thông quaviệc ban hành những văn bản,luật pháp gốc toàn diện và hoàn chỉnh hơn về quản
lý đo lường trở thànhmột yêu cầu cấp thiết Ngày 25/9/1974,Hội đồng chính phủ
đã ký đồng thời hai Nghị định 216 và 217/CP ban hành Điều lệ quản lý đo lường
và Điều lệ quản lý đo lường trong các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Côngtác quản lý nhà nước về đo lường ở nước ta từ năm 1974 đến 1990 chủ yếu đượctiến hành trên cơ sở hai điều lệ này.Vào những năm 70 Thủ tướng chính phủ lạiliên tiếp ra hai chỉ thị về cân lớn và về tăng cường quản lý đo lường mà trước hết
là tăng cường,thúc đẩy việc tổ chức sản xuất,sửa chữa dụng cụ đo lường trongnước.Để đáp ứng những yêu cầu cấp bách về đo lường của thời kỳ đổi mới kinh
tế nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh đo lường năm 1990,từ đó cho đến nay Pháplệnh đo lường năm 1990 đã bộc lộ nhữnh mặt thiếu xót không phù hợp với tìnhhình mới với yêu cầu hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và thế giớingày càng cấp bách, nên đến năm 1999, nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh đolường mới phù hợp hơn
II- NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN THƯỜNG DÙNG CỦA ĐO LƯỜNG TRONG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG.
1 Đo lường là gì ?
Để giải đáp câu hỏi này,ta lần lượt làm sáng tỏ một số khái niệm sau đây
1.1 Đại lượng (đo được).
Đại lượng đo được,hay vắn tắt là đại lượng, là thuộc tính của một hiệntượng,một vật thể hoặc một chất có thể phân biệt được về mặt chất lượng và xácđịnh được về mặt số lượng.Có thể xem đại lượng duới hai khía cạnh chất lượng
và số lượng, về mặt chất lượng,có thể chia đại lượng thành từng loại đại lượng
Trang 6như độ dài,khối lượng,thời gian,thể tích,nhiệt độ,áp xuất Về mặt số lượng mỗiloại đại lượng này có thể biểu diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ riêng biệtkhác nhau.
1.2 Đơn vị.
Đơn vị đo (đơn vị) là một đại lượng cụ thể được chọn theo quy ước thốngnhất dùng để biểu thị các đại lượng cùng loại với nó về mặt định lượng.Ví dụ ta
có một độ dài cụ thể theo định nghĩa thống nhất của quốc tế được lấy làm đơn vị
để đo đaị lượng “độ dài” mang tên “mét”
1.3 Giá trị của đại lượng.
Giá trị của đại lượng (giá trị) là sự biểu thị đại lượng bằng số và đơn vịtương ứng.Ví dụ: 15 mét (15m) ; 125 kilôgam (125kg); 25 lít (251) Phần sốtrong giá trị của đại lượng thường gọi là trị số.Trong các ví dụ trên là 15; 125;25
1.4 Phép đo.
Phép đo là tập hợp các thao tác nhằm mục đích xác định giá trị của địalượng.Như vậy, bản chất của phép đo chính là việc so sánh đại lượng cần đo vớimột đại lượng cùng loại đã được chọn làm đơn vị
7.5 Đo lường là gì ?
Đến đây ta có thể làm rõ một vài khía cạnh xung quanh thuật ngữ “đolường” đang được dùng phổ biến trong đời sống,sản xuất,tài liệu khoa học- kỹthuật cũng như trong nhiều văn bản của nhà nước
Có thể hiểu đo lường là phép đo hoặc là lĩnh vực khoa học về phép đo tuỳtheo ngữ cảnh khi nó được dùng như một danh từ Có thể hiểu đo lường là đo,làmột thao tác cụ thể nhằm xác định giá trị của đại lượng khi nó được dùng nhưmột động từ.Cũng có thể dùng thuật ngữ này như một tính từ để chỉ một vấn đề,một nội dung nào đó có liên quan đến việc xác định giá trị của đại lượng,ví dụnhư hoạt động đo lường,quản lý đo lường
2 Các thuật ngữ chung và cơ bản của đo lường trong hệ thống quản lý chất lượng.
2.1 Đơn vị và hệ đơn vị.
Đơn vị bao gồm các đơn vị cơ bản,đơn vị dẫn xuất, đơn vị hợp pháp Trong
Trang 7các đơn vị đo có một số đơn vị mà độ lớn được chọn độc lập với những đơn vịkhác đó là những đơn vị cơ bản, ví dụ như mét,kilôgam, giây Độ lớn của nhữngđơn vị này thường được chọn vừa phải,phù hợp với yêu cầu đo lường thôngthường trong đời sống, sản xuất.Dựa vào những đơn vị cơ bản đó người ta xâydựng các đơn vị dẫn xuất.Như vậy độ lớn của đơn vị dẫn xuất phụ thuộc vào độlớn của đơn vị cơ bản.Tập hợp những đơn vị cơ bản và các đơn vị dẫn xuất theomột nguyên tắc nhất định lập thành hệ đơn vị.Và để đảm bảo tính thống nhất của
đo lường, mỗi nước thường quy định bằng luật pháp những đơn vị đo lường đượcphép sử dụng tại nước mình và gọi là đơn vị đo lường hợp pháp
2.2 Chuẩn đơn vị đo lường và sai số của phép đo.
Những trang thiết bị kỹ thuật để thể hiện và truyền đơn vị được gọi là chuẩnđơn vị đo lường.về bản chất,chuẩn cũng là phương tiện đo nhưng không dùngcho các phép đo hàng ngày mà chỉ dùng để thể hiện và truyền kích cỡ của cácđơn vị đến các dơn vị đo có độ chính xác thấp hơn.Hệ thống chuẩn đơn vị đolường là cơ sở kỹ thuật quan trọng nhất để đảm bảo tính thống nhất và độ chínhxác cần thiết của phép đo trong phạm vi doanh nghiệp,quốc gia và quốc tế.Sai số của phép đo là hiệu số giữa kết quả đo và giá trị thực của đại lượng.Trong đó giá tậ thực của đại lượng là giá tậ phản ánh thuộc tính của đối tượng đãcho bằng bằng một phương pháp lý tưởng phù hợp với nó cả về số lượng và chấtlượng
2.3 Một số thuật ngữ mang tính chuyên môn của đo lường trong hệ thống
quản lý chất lượng.
Phương tiện đo là thiết bị được dùng độc lập hoặc cùng với các thiết bị phụ để thực hiện phép đo.Vật đo là thiết bị được dùng theo một cách cố định
trong khi sử dụng nó để tái tạo hoặc cung cấp một hoặc nhiều giá trị đã biết của
một đại lượng đã cho.Bộ chuyển đổi đo là thiết bị cung cấp đại lượng ở đầu ra
có mối liên hệ xác định với đại lượng ở đầu vào Chuỗi đo là dãy các phần tử của
một phương tiện đo hoặc hệ thống đo tạo thành đường đi của tín hiệu đo từ đầu
vào đến đầu ra.Hệ thống đo là tập hợp đầy đủ các phương tiện đo và thiết bị khác được liên kết lại để thực hiện những phép đo nhất định Phương tiện đo hiển thị là phương tiện đo biểu thị ra số chỉ Phương tiện đo tự ghi là phương tiện đo có ghi lại số chỉ.Phương tiện đo tổng là phương tiện đo xác định giá tậ
của đại lượng đo bằng cách cộng các giá trị thành phần của đại lượng đo nhận
được đồng thời hoặc kế tiếp nhau từ một nguồn hoặc nhiều nguồn.Phương tiện
Trang 8đo tích phân là phương tiện đo xác định giá tậ của đại lượng bằng cách tích phân một đại lượng đối với đại lượng khác.Phương tiện đo tương tự là phương tiện
đo trong đó tín hiệu ra hoặc hiển thị là một hàm liên tục của đại lượng đo hoặc tín
hiệu vào Phương tiện đo hiện số là phương tiện đo có đầu ra hoặc chỉ thị hiện
số
Cơ cấu hiển thị là bộ phận của phương tiện đo để biểu thị ra số chỉ Cơ cấu ghi là bộ phận của phương tiện đo để thực hiện việc ghi số chỉ.Bộ cảm biến
là phần tử của phương tiện đo hoặc chuỗi đo chịu tác động trực tiếp của đại
lượng đo.Bộ dò là cơ cấu hoặc chất để phát hiện sự có mặt của một hiện tượng
mà không cần cung cấp giá tậ của đại lượng liên quan Bộ phận chỉ là phân tử cố
định hoặc di động của cơ cấu mà vị trí của nó so với dấu hiệu của thang đo cho
phép xác định giá tậ được chỉ Thang đo là tập hợp các dấu hiệu được sắp xếp
thứ tự với cách đánh số nào đó tạo thành bộ phận thuộc cơ cấu chỉ thị của
phương tiện đo.Phạm vi chỉ là tập hợp các giá trị giới hạn bởi các số chỉ cực trị Mặt số là phần cố định hoặc di động của cơ cấu chỉ thị có mang thang đo hoặc các thang đo.Hiệu chỉnh là thao tác để đưa phương tiện đo về tình trạng hoạt động phù hợp với việc sử dụng nó.Hiệu chỉnh của người sử dụng là việc hiệu
chỉnh chỉ dành cho người sử dụng phương tiện đo
III VAI TRÒ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐO LƯỜNG TRONG CÁC
Trang 9công nghệ hiện đại đang diễn ra đã làm thay đổi hẳn vai trò của đo lường trongsản xuất.Từ trình độ thủ công,sản xuất chuyển dần lên trình độ cơ khí hoá, tựđộng hoá với sự áp dụng ngày càng rộng rãi kỹ thuật điện tử và tin học,với nhữngyêu cầu rất cao về tính lắp lẫn,tính hiệp tác trong sản xuất Những vấn đề này chỉ
có thể giải quyết được với một trình độ và khả năng về đo lường tương ứng
ở giai đoạn hiện nay,đo lường đã thâm nhập và trở thành yếu tố không thểthiếu được của mọi quá trình công nghệ trong đó, công nghệ hệ thống quản lýchất lượng là một yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo chất lượng và hiệu quảcao trong sản xuất Trong hệ thống quản lý chất lượng nói riêng và trong sản xuấtnói chung, đo lường hầu như đã tham dự vào toàn bộ chu trình hình thành nênmột sản phẩm,từ khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thử, đến việc kiểm tra nguyênvật liệu trước khi đưa vào sản xuất: điều khiển,điều chỉnh quá trình công nghệ;kiểm tra chất lượng ở từng công đoạn cuối cùng, cho đến cả khâu lắp đặt, đưa sảnphẩm vào sử dụng và bảo hành sản phẩm
Việc đo lường đầu vào, đầu ra và bản thân quy trình là một bộ phận thiếtyếu của hệ thống quản lý chất lượng Đo lường theo dõi quản lý chất lượng và cóthể được sử dụng để xác định mức độ cải tiến và xuống cấp trong chất lượng Đolường có thể thực hiện dưới hình thức đếm đơn giản để có những dữ liệu thuộctính hoặc theo những phương pháp tinh vi hơn sản sinh ra những dữ liệu biếnthiên xuất hiện trên một thang liên tục như là chiều cao, dòng điện tốc độ chiềudài, độ cô đặc và thời gian
Quy trình hoạt động không có đo lường là những quy trình mà người tahiểu biết rất ít về nó Trái lại, nếu đầu vào và đầu ra có thể đo được biểu hiệnbằng con số, thì có thể biết được ít nhiều về quy trình và có thể kiểm soát được.Giai đoạn đầu sử dụng đo lường làm một bộ phận của việc kiểm soát quy trình làxác định một cách chính xác những hoạt động, vật liệu, trang thiết bị sẽ phải đo.Điều này làm cho ai quan tâm đến quy trình có thể liên hệ đến các giá tộ mục tiêu
và tiêu điểm đạt được sẽ động viên có thêm nhiều cải tiến
Đứng trên tầm vĩ mô đo lường là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý
về chất lượng trong các tổ chức, các doanh nghiệp.Còn đối với các hoạt động vàquá trình diễn ra trong tổ chức, doanh nghiệp hầu như đều cần đến các hoạt động
đo lường để đánh giá hiệu quả của công việc, cũng như việc tuân thủ các quyđịnh trong các hoạt động Đo lường giúp cho việc đánh giá được chính xác vàthống nhất mọi hoạt động trong tổ chức, doanh nghiệp thông qua việc đảm bảo
Trang 10các yêu cầu về phương tiện đo, phương pháp đo, đơn vị đo và người thực hiện.Điều đó làm cho các kết quả đo có sức thuyết phục cao, thể hiện được đầy đủ cácyêu cầu và là cơ sở cho các đánh giá sau này Đo lường giúp cho doanh nghiệptriển khai nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn đặc biệt là các tiêu liên quan đếnchất lượng, giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm tra đăng ký chất lượng và xử lýcác vi phạm về chất lượng cũng như các tranh chấp về chất lượng, đồng thời đolường giúp cho việc nghiên cứu thử nghiệm đánh giá và xác định chất lượng mộtcách chính xác, nhanh chóng và đầy đủ.
2 Nội dung quản lý nhà nước về đo lường ở Việt Nam hiện nay.
Thực chất quản lý Nhà nước về đo lường là quản lý đo lường ở tầm vĩ mô,
là sự kiểm soát, sự định hướng, sự điều tiết của Nhà nước đối với các hoạt động
đo lường nhằm đạt được lợi ích chung của toàn xã hội và của toàn bộ nền kinh tếquốc dân, trong đó chủ thể quản lý Nhà nước về đo lường là chính phủ - cơ quanhành chính cao nhất Quản lý nhà nước về đo lường được thực hiện trên nguyêntắc: Đối tượng quản lý Nhà nước về đo lường là hoạt động đo lường ở tất cả các
tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.Quản lý Nhà nước về đo lườngquan tâm trước hết đến hoạt động đo lường có liên quan đến quyền lợi, sức khoẻ,
sự an toàn của mọi người dân đồng thời phân biệt và giải quyết hợp lý giữa phạm
vi quản lý Nhà nước về đo lường và tính tự chủ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Phải đảm bảo được hệ thống hành pháp về đo lường giữvai trò then chốt trong việc kiểm tra thực hiện pháp luật về đo lường Quản lýNhà nước về đo lường phải được tổ chức và triển khai phù hợp với các quy địnhchung mà quốc tế đã thống nhất
Với những nguyên tắc đó, quản lý Nhà nước về đo lường bao gồm một sốnội dung cơ bản sau:
*) Quản lý Nhà nước về hệ thống chuẩn đơn vị đo lường và mẫu chuẩn:Mỗi một đơn vị đo lường đo lường đều được xác định bải một hệ thống chuẩn,trong đó chuẩn quốc gia do chính phủ kí quyết định công nhận, chuẩn cao nhất
do bộ trưởng bộ khoa học - công nghệ - môi trường kí quyết định công nhận,chuẩn của các cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường hoặc các cơ sở được uỷquyền kiểm định Nhà nước cùng với những chuẩn chính của các ngành, đâychính là những mắt xích nối liền mối quan hệ giữa chuẩn quốc gia với tất cả cácphương tiện đo được sử dụng Tất cả các chuẩn này đều phải được kiểm địnhNhà nước
Trang 11Quản lý Nhà nước chứng nhận về mẫu chuẩn của ngành do các cơ quanquản lý của ngành thực hiện, các mẫu chuẩn phải qua chứng nhận của Nhà nướcbao gồm mẫu sử dụng để khắc vạch phương tiện đo, mẫu chuẩn liên quan đếnviệc xác định lượng hàng hoá trao đổi và giao nhận, mẫu chuẩn liên quan đếnviệc bảo đảm an toàn lao động, môi trường, sức khoẻ, liên quan đến giám định tưpháp và các hoạt động công vụ khác của Nhà nước.
*) Hoạt động kiểm định phương tiện đo: Nhà nước tiến hành kiểm định cácloại phương tiện đo dùng làm chuẩn để kiểm định hay được dùng làm chuẩnchính, các phương tiện đo sử dụng và phục vụ cho mục đích định lượng hàng hoátrong mua bán trao đổi, các phương tiện đo liên quan đến việc bảo đảm an toànlao động, an toàn về sức khoẻ, vệ sinh môi trường và các phương tiện đo giámđịnh tư pháp
Nhà nước tiến hành kiểm định theo ba chế độ kiểm định đó là kiểm địnhban đầu, kiểm định định kỳ, kiểm định bất thường Các cơ sở, cá nhân sản xuất,sửa chữa và nhập khẩu phương tiện đo phải đăng ký kiểm định ban đầu, các cơ
sở hay cá nhân sử dụng phương tiện đo thì bắt buộc phải đăng ký kiểm định định
kỳ Những thủ tục đăng ký kiểm định đã được quy định thống nhất do cơ quanquản lý Nhà nước về đo lường quy định thống nhất trên toàn quốc
*) Quản lý hoạt động sửa chữa, xuất nhập khẩu và buôn bán phương tiệnđo: Các tổ chức, cá nhân thực hiện sản xuất, sửa chữa phương tiện đo thì phảiđăng ký tại cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường có thẩm quyền Hoạt độngxuất nhập khẩu buôn bán phương tiện đo thì phải được sự đồng ý, phê duyệt của
cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường
*) Quản lý sử dụng phương tiện đo, hàng đóng gói sẵn theo định lượng:Các tổ chức cơ sở chỉ được sử dụng các phương tiện đo đã qua kiểm định và thựchiện các phương pháp đo lường theo quy định của Nhà nước Quản lý hàng đónggói theo định lượng là cách quản lý gián tiếp các phép đo, các phương tiện đoliên quan đến hoạt động thương mại để bảo vệ lợi ích chính đáng của người mua
và người bán
*) Thực hiện thanh tra chuyên ngành về đo lường gồm có thanh tra định kỳ
và thanh tra bất thường do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện
3 Công tác quản lý đo lường tại doanh nghiệp.
Đối với công tác đo lường ở doanh nghiệp thì chủ thể quản lý chính là giám
Trang 12đốc chất lượng, đối tượng quản lý là tất cả các hoạt động đo lường trong doanhnghiệp đặc biệt là quá trình điều chỉnh công nghệ, kiểm tra chất lượng giữa cáccông đoạn sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi bán và kiểm trachất lượng dịch vụ sau khi bán Quản lý đo lường tại doanh nghiệp dựa trên các
cơ sở có căn cứ như: Cơ sở khoa học đó là việc áp dụng những thành tựu đolường tại doanh nghiệp, cơ sở kỹ thuật là hệ thống chuẩn đo lường tại doanhnghiệp để kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, cơ sởpháp lý bao gồm toàn bộ các văn bản nội quy, quy định của Nhà nước
Nhiệm vụ đặt ra cho quản lý đo lường tại doanh nghiệp là phải tổng hợp vàphân tích tình hình và yêu cầu về đo lường tại doanh nghiệp, xây dụng nhữngchương trình đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Xâydựng những đề án biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đo lường tại doanhnghiệp Xây dựng, đề nghị ban hành những quy định, định mức về đo lường tạidoanh nghiệp, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện những quy định, địnhmức này Tổ chức và quản lý trang bị bảo quản và sử dụng các phương tiện đođồng thời thực hiện kiểm định và hiệu chuẩn, sửa chữa các phương tiện đo Tổchức thực hiện công tác nghiên cứu, những thử nghiệm, cải tiến kỹ thuật đolường mặt khác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác đo lường, cán bộ làmthông tin về đo lường
4 Mối quan hệ giữa đo lường và chất lượng với quản lý chất lượng trong doanh nghiệp.
Trước hết ta thấy rằng quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp là doanhnghiệp tự vận dụng các tiêu chuẩn có trong các hệ thống quản lý chất lượng vàohoạt động sản xuất kinh doanh Xét ở tầm vĩ mô thì giữa tiêu chuẩn, hoạt động đolường và hoạt động quản lý Nhà nước về chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, chúng thúc đẩy nhau cùng phát triển và nếu thiếu một trong các yếu tố đóthì không thể thực hiện được quản lý Nhà nước về chất lượng Đo lường có tácđộng tích cực đối với tiêu chuẩn hoá, đo lường là công cụ để tiến hành nghiêncứu thử nghiệm lựa chọn các yêu cầu, định mức hợp lý đối với các chỉ tiêu củatiêu chuẩn, nó là công cụ để điều khiển các quá trình sản xuất theo tiêu chuẩn Đolường là công cụ để tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu, thuộc tính của sản phẩm xem
có đạt các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn đã lựa chọn hay không Tiêu chuẩnthể hiện rõ những điểm trọng yếu của từng hoạt động trong công việc, xác địnhcác công việc trên cơ sở các phương pháp thao tác và kết quả nhờ đó mà làm cho
Trang 13sản phẩm hay chi tiết được sản xuất ra có chất lượng đồng đều và ổn định Đánhgiá chất lượng bao giờ cũng căn cứ vào các tiêu chuẩn, không dựa vào tiêu chuẩnthì không thể khẳng định đuợc sản phẩm này hay sản phẩm kia có chất luợng,trong khi đó đo luờng tạo điều kiện mô tả chính xác tình trạng của sản phẩm vàcòn gián tiếp là cơ sở khoa học cho việc xây dựng những tiêu chuẩn mới sau này.Tiêu chuẩn hoá chỉ có thể phát huy đuợc tác dụng của mình khi có một hệ thống
đo luờng chính xác, nguợc lại đo luờng lại sử dụng tiêu chuẩn hoá nhu một công
cụ để phát triển thông qua việc quy định các phuơng pháp đo và phuơng tiện đothống nhất Tiêu chuẩn hoá là biện pháp quan trọng để đo luờng có hiệu quả caogóp phần đảm bảo độ chính xác cần thiết của các phép đo, phuơng tiện đo
5)Yêu cầu và vị trí của đo lường trong hệ thống quản lý chất lượng ISO:9000
Nhận thức rõ tầm quan trọng của đo lường trong sản xuất, trong quản lýchất lượng nên đo lường đã trở thành yếu tố không thể thiếu được trong bất kỳmột hệ thống quản lý chất lượng nào trong đó có hệ thống quản lý chất lượngISO:9000 Mục đích là đảm bảo sử dụng đúng thiết bị để tra công việc, chứng tỏ
sự phù hợp của sản phẩm, đảm bảo sự phù hợp của hệ thống quản lý chất lượng
và thường xuyên nâng cao tính hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng Sự xuấthiện đo lường trong hệ thống này được áp dụng trong ngành công nghiệp có sửdụng thiết bị kiểm tra và đo lường để kiểm chứng sản phẩm sản xuất có đúng cácthông số kỹ thuật không.Nếu việc kiểm tra chỉ là thị sát thì chúng ta không cầnthiết bị đo lường Tuy nhiên, nếu sử dụng thiết bị đo lường và thử nghiệm thìphải kiểm soát, bảo quản và sử dụng chúng hoàn hảo, duy tri độ chính xác ở mứccần thiết
Theo hệ thống quản lý chất lượng ISO: 9000 thì tổ chức phải xác định việctheo dõi và đo lường cần thực hiện và các phương tiện theo dõi và đo lường cầnthiết để cung cấp bằng chứng về sự phù hợp của sản phẩm với các yêu cầu xácđịnh Tổ chức phải thiết lập các quá trình để đảm bảo rằng việc theo dõi và đolường cần tiến hành và được tiến hành một cách nhất quán với các yêu cầu theodõi và đo lường
Ngoài ra, tổ chức phải đánh giá và lưu hồ sơ về giá tậ hiệu lực của các kếtquả đo lường trước đó khi thiết bị được phát hiện không phù hợp với các yêu cầu
Tổ chức phải tiến hành các hành động thích hợp đối với thiết bị và bất kỳ sảnphẩm nào bị ảnh hưởng Phải duy tri hồ sơ các kết quả hiệu chuẩn và kiểm tra
Trang 14xác nhận Khi sử dụng phần nềm máy tính để theo dõi và đo lường các yêu cầu
đã quy định, phải xác nhận khả năng thoả mãn việc áp dụng dự kiến Việc nàyphải được tiến hành trước lần sử dụng đầu tiên và được xác nhận lại khi cần thiết.Trong phiên bản mới ISO 9000:2000 đã đưa ra các yêu cầu cho hệ thốngquản lý chất lượng nhằm tiến tới sự thoả mãn khách hàng thông qua việc đáp ứngcác yêu cầu của họ và của luật định Cũng như phiên bản ISO 9000 trước đây,phiên bản mới này khuyến khích việc quản lý chất lượng theo phương pháp quátrình Đó chính là việc nhận biết và quản lý có hệ thống các quá trình hoạt động
và sự tương tác giữa các quá trình họat động này Vậy đo lường được hiện diện
và được quy định trong ISO 9000:2000 như thế nào ? Có thể nói, cũng như trongISO 9000 cũ đo lường chiếm một vị trí nổi bật trong ISO 9000:2000 Tất cả cácyêu cầu có liên quan đến đo lường đã được quy định trước đây đều được giữ lạivới sự bổ sung và hệ thống hoá cao hơn Các yêu cầu về đo lường trong ISO9000:2000 đều cho ta thấy rõ vai trò xuyên suốt của đo lường trong tất cả các quátrình hình thành nên một sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng thấyđược cụ thể những công việc về đo lường cần thực hiện để đáp ứng yêu cầu này.Những yêu cầu này được thể hiện trong ISO 9000:2000 như sau:
+Mục 4 Các yêu cầu của hệ thống chất lượng: phần các yêu cầu chung quyđịnh tổ chức phải đo lường, kiểm soát và phân tích các quá trình cần thiết chomột hệ thống quản lý chất lượng
+Mục 5 Trách nhiệm của lãnh đạo, phần lập kế hoạch quy định các mụctiêu chất lượng phải là các mục tiêu đo lường được
+Mục 6 Quản lý nguồn lực, tổ chức phải xác định cung cấp và duy trì cơ
sở vật chất cần thiết để đạt được sự phù hợp của sản phẩm, trong đó có trang thiết
bị, phần cứng và phần mềm
+Mục 7 Việc thực hiện sản phẩm, phần lập kế hoạch thực hiện các sảnphẩm được quy định phải xác định các hoạt động kiểm tra và xác nhận giá trị vàcác tiêu chuẩn chấp nhận Phần các hoạt động sản xuất và dịch vụ theo quy địnhthì tổ chức phải sẵn có và sử dụng các thiêts bị đo lường giám sát.Đặc biệt phần7.6 Kiểm soát các thiết bị đo lường và giám sát đã đưa ra yêu cầu: Tổ chức phảixác định các phép đo và các thiết bị giám sát và đo lường cần thiết để đảm bảo sựphù hợp của sản phẩm theo yêu cầu quy định Các thiết bị đo lường và giám sátphải được sử dụng và kiểm soát để đảm bảo rằng năng lực của phép đo đồng nhấtvới các yêu cầu của phép đo Để chắc chắn thiết bị đo lường hoạt động có hiệu
Trang 15quả và cho kết quả đáng tin cậy thì thiết bị đo lường phải:
- Được hiệu chuẩn hoặc kiểm tra xác nhận định kỳ, hoặc trước khi sử dụng,dựa trên các chuẩn đo lường có liên kết với chuẩn đo lường quốc gia hay quốc tế,khi không có các chuẩn này thì căn cứ được sử dụng để hiệu chuẩn hoặc xácnhận phải được lưu hồ sơ
-Được hiệu chỉnh hay hiệu chỉnh lại khi cần thiết
-Được nhận biết để giúp xác định trạng thái hiệu chuẩn
-Được gìn giữ tránh bị hiệu chỉnh làm mất tính đúng đắn của các kết quảđo
-Được bảo vệ để tránh hư hỏng hoặc suy giảm chất lượng trong di chuyển,bảo dưỡng và lưu giữ
+Mục 8.Đo lường, phân tích và cải tiến, phần lập kế hoạch quy định: Tổphải xác định, lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động đo lường và giám sát cầnthiết để đảm bảo sự phù hợp và đạt được các kết quả cải tiến Đồng thời tổ chứcphải giám sát các thông tin về sự thoả mãn hoặc sự không thoả mãn của kháchhàng như là một phép đo về hoạt động của hệ thống chất lượng Mặt khác đolường và giám sát các quá trình quy định: Tổ chức phải áp dụng các phương phápthích hợp để đo lường và giám sát các quá trình sản xuất để đáp ứng các yêu cầucủa khách hàng.Các phương pháp này chứng tỏ khả năng của mỗi quá trình nhằmthoả mãn các mục đích đã định Hơn nữa đo lường và giám sát sản phẩm quyđịnh tổ chức phải đo lường và giám sát các đặc tính của sản phẩm để xác nhậnrằng sản phẩm đã thoả mãn các yêu cầu quy định
Như vậy, trong ISO 9000:2000 đo lường đã hiện diện trực tiếp hoặc giántiếp hầu như ở tất cả các yếu tố tạo thành hệ thốn quản lý chất lượng Tổ chứcphải tiến hành các phương pháp thích hợp để đo lường các quá trình của hệ thốngquản lý chất lượng.Các phương pháp này phải chứng tỏ khả năng của các quátrình đạt được các kết quả đã hoạch định Khi không đạt được kết quả dự kiến,phải tiến hành khắc phục và hành động phòng ngừa một các thích hợp để đảmbảo sự phù hợp của sản phẩm.Các thiết bị đo lường đo các đặc tính của sản phẩm
để kiểm tra xác nhận rằng các yêu cầu về sản phẩm đã được đáp ứng.Việc nàyphải được tiến hành tại những giai đoạn thích hợp của quá trình tạo sản phẩmtheo các bố trí đã lập kế hoạch
Trang 166 Yêu cầu và vị trí của đo lường trong hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM
Bất kỳ một hệ thống kiểm tra nào dựa vào việc thanh tra sản xuất để pháthiện chất lượng tồi đều không đáng tin cậy, tôn kém, lãng phí và không kinh tế
Hệ thống đó phải được thay thế bằng chiến lược phòng ngừa và phải sử dụngthanh tra để xem xét lại hệ thống chuyển đổi chứ không phải xem lại sảnphẩm.Với nhận thức đó hệ thống quản lý chất lượng toàn diện đã coi đo lường làmột bộ phận quan trọng của quá trình kiểm tra TQM, nó được sử dụng để vạch
kế hoạch, đánh giá và sửa sai, tuy nhiên nó chỉ là một bộ phận và không được trởthành một mục đích tự nó Bản thân việc thực hiện sự đo lường sai sót với độchính xác vô hạn không giúp gì để tránh được sai sót đó, do đó trong quản lý chấtlượng toàn diện nhiều khi cần phải kiềm chế sự hăng hái của những nhà hoá họcphân tích, những kỹ sư thí nghiệm chính xác và thậm chí cả những kỹ sư côngnghiệp nữa
Thông thường người ta tiến hành đo lường kiểm tra sự phù hợp theo tiêuchuẩn vào cuối quá trình sản xuất, ngay trước khi giao thành phẩm cho các đại lýhoặc người tiêu dùng Nhưng trong tiếp cận TQM việc đo lường kiểm tra đượctiến hành trong suốt quá trình sản xuất Tiến hành đo lường kiểm tra ở đầu vàoquá trình sản xuất bao gồm việc kiểm tra nguyên vật liệu hoặc các bộ phận từ cácnhà cung cấp, qua đó để thấy được các yếu tố đầu vào có đạt sự phù hợp theo quyđịnh hay không Đo lường kiểm tra được tiến hành ngay trong quá trình sản xuấtkhi sản phẩm đi qua từng công đoạn một trong quá trình Một mục tiêu của kiểmtra tại nơi làm việc là để xác định coi quá trình có hoạt động thích đáng không,nằm trong tầm kiểm soát hay vượt ra ngoài Trong TQM việc sửa chữa những saisót về chất lượng trong quá trình sản xuất là mục tiêu hàng đầu và đó là cách lýtưởng để giảm khả năng có phế phẩm
Trong môi trường TQM lý tưởng thì người sản xuất trực tiếp phải đồngthời là người đo lường kiểm tra các chi tiết đi qua chỗ làm việc của mình và tìmngay biện pháp khắc phục, tuy nhiên không phải lúc nào cũng làm được điều đó
vì việc tiến hành kiểm tra đo lường chi tiết tốn mất nhiều thời gian và khiến tốc
độ sản xuất bị tri trệ.Đo lường kiểm tra lý tưởng là tiến hành kiểm tra trước tất cảcác nguyên công, tuy nhiên điều này rất gây tốn kém nên theo TQM thì các trạm
đo lường kiểm tra thường được đặt ở những chỗ mang lại hiệu quả nhất.Vấn đềquan trọng đặt ra là khi nào, ở giai đoạn nào trong quá trình sản xuất cần được
Trang 17kiểm tra thông qua đo lường.Phát hiện ra sai sót càng sớm trong quá trình sảnxuất thì càng ít lãng phí tài nguyên trong các nguyên công tiếp theo, nhờ đó phếphẩm được loại ra ngay từ đầu.
IV MỘT VÀI KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ ĐO LƯỜNG Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN TRÊN THẾ GIỚI.
Với nền tảng cơ sở hạ tầng phát triển ở trình độ cao, nên các nước phát triển
có hệ thống đo lường và quản lý đo lường hiện đại và hiệu quả, qua đó đã cónhững đóng góp to lớn trong công tác đo lường trên toàn thế giới mà biểu hiệnđỉnh cao là hình thành những khu vực liên kết hợp tác trong lĩnh vực đo lườngtiêu chuẩn hoá ở cộng đồng châu Âu, hoạt động đo lường tiêu chuẩn hoá mangtính khu vực bắt đầu được đẩy mạnh từ những năm 1985 kể từ khi cộng đồng nàyđưa vào áp dụng khái niệm “phương pháp tiếp cận mới”trong lĩnh vực đo lườngtiêu chuẩn hoá Cộng đồng châu Âu theo đuổi “phương pháp tiếp cận mới” gần
30 năm nay và tiếp tục khẳng định sự kiên trì đường lối này trong thiên niên kỷmới “Phương pháp tiếp cận mới” của cộng đồng châu Âu nhằm mục tiêu giảmbớt càng nhiều càng tốt các trở ngại do các quy định của mỗi nước trong cộngđồng gây ra, làm ảnh hưởng tới tự do hoá thương mại trong cộng đồng Và vìvậy, cho phép giảm sự tập trung hoá và tăng mức độ linh hoạt trong hoạt độngthương mại Nội dung của phương pháp tiếp cận mới này là chỉ có các yêu cầu cơbản về an toàn và công dụng của sản phẩm mới được đưa vào trong các nghịquyết của cộng đồng và đòi hỏi sự tuân thủ của các nhà sản xuất, kinh doanh sảnphẩm đó ở các nước thành viên Còn các tiêu chuẩn chi tiết khác không liên quanđến an toàn và công dụng cơ bản nói trên sẽ được các công ty đưa ra và áp dụng
tự nguyện Các tiêu chuẩn này là tự nguyện song bản thân chúng đã tạo ra tiền đềcho sự phù hợp với các yêu cầu cơ bản quy định trong các nghị quyết của cộngđồng châu Âu
Ngày nay nhu cầu về một “phuơng pháp tiếp cận mới” là tất yếu khi liênkết chính trị, kinh tế và xã hội ngày càng trở nên chặt chẽ trong phạm vi cộngđồng và cũng không phải là ngẫu nhiên cộng đồng châu Âu đua ra “phuơng pháptiếp cận mới” này “Phuơng pháp tiếp cận mới” đuợc dựa trên cái gọi là phuơngpháp tiếp cận toàn cầu về thử nghiệm và chứng nhận Sản phẩm của thế giới màtheo đó việc toàn cầu hoá và hội nhập của các thị truờng khác nhau đã trở thành
xu thế tất yếu
Trang 18Phuơng pháp tiếp cận toàn cầu về thử nghiệm và chứng nhận cho phépdoanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc đảm bảo sự phù hợp với yêucầu quy định Nói cụ thể hơn là doanh nghiệp có thể dùng bên thứ ba thực hiệnviệc thử nghiệm hoặc tự mình thử nghiệm hoặc chứng nhận cho sản phẩm củachính mình, tuỳ thuộc vào khả năng đảm bảo chất lượng trong thực tiễn sản xuấtkinh doanh của mình Cả “ phương pháp tiếp cận mới” của cộng đồng châu Âu
và phương pháp tiếp cận toàn cầu về thử nghiệm và chứng nhận đều hướng tới sựgiảm bớt sự can thiệp của pháp luật và nhà nước vào hoạt động sản xuât kinhdoanh của doanh nghiệp, tạo nên chỗ đứng cho cái gọi là sự tự điều chỉnh của thịtrường, qua đó thúc đẩy tự do hoá thương mại trong phạm vi khu vực và toàncầu
ở châu Á hoạt động đo lường tiêu chuẩn hoá cũng mang tính khu vực
nhưng kém phát triển hơn ở cộng đồng châu Âu do mối liên kết về chính tậ và về
kinh tế lỏng lẻo hơn Trong khuôn khổ tổ chức hợp tác kinh tế châu Á - thái bình
dương (APEC) các hoạt động về đo lường, tiêu chuẩn và chứng nhận bao gồm:-Hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế
-Thừa nhận lẫn nhau về kết quả thử nghiệm và chứng nhận