1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

14 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 36,03 KB
File đính kèm Tieu luan Doi moi mo hinh tang truong kinh te o VN.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦULịch sử phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia cho thấy, tuỳ theo quan niệm khác nhau mà lựa chọn những mô hình tăng trưởng kinh tế khác nhau. Mô hình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hay một nền kinh tế là tập hợp những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế của quốc gia hay nền kinh tế đó. Đối với Việt Nam qua hơn 30 năm đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế nền kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn cho phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, việc duy trì mô hình phát triển này quá lâu đã bộc lộ không ít yếu kém. Tăng trưởng GDP tuy vẫn ở mức tương đối cao nhưng đang có xu hướng chậm lại; chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Thực trạng này, trước hết là do mô hình tăng trưởng đã không còn phù hợp, không còn khả năng duy trì tăng trưởng cao và bền vững.Vì vậy, việc lựa chọn mô hình tăng trưởng sao cho vừa thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng nhanh thu nhập, cải thiện đời sống dân cư mà không bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình, vừa giải quyết được vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái là một trong những vấn đề cơ bản của nước ta hiện nay và trong phương hướng tới. Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng xác định định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng trong thời gian tới: “… kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh...”. “Đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước”.Do đó việc lựa chọn và chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần phải hiểu rõ các mô hình tăng trưởng kinh tế, thực trạng mô hình tăng trưởng kinh tế ở nước ta hiện nay, phương hướng và giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới. Vì vậy em xin chọn nội dung “Thực trạng và giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay” để viết bài thu hoạch.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia cho thấy, tuỳ theo quan niệm khác nhau mà lựa chọn những mô hình tăng trưởng kinh tế khác nhau Mô hình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hay một nền kinh tế là tập hợp những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế của quốc gia hay nền kinh tế đó

Đối với Việt Nam qua hơn 30 năm đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế nền kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn cho phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, việc duy trì mô hình phát triển này quá lâu đã bộc lộ không ít yếu kém Tăng trưởng GDP tuy vẫn ở mức tương đối cao nhưng đang có xu hướng chậm lại; chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Thực trạng này, trước hết là do mô hình tăng trưởng đã không còn phù hợp, không còn khả năng duy trì tăng trưởng cao và bền vững

Vì vậy, việc lựa chọn mô hình tăng trưởng sao cho vừa thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng nhanh thu nhập, cải thiện đời sống dân cư mà không bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình, vừa giải quyết được vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái là một trong những vấn đề cơ bản của nước ta hiện nay và trong phương hướng tới Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng xác định định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng trong thời gian tới: “… kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh ” “Đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu

tư, xuất khẩu và thị trường trong nước”

Do đó việc lựa chọn và chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần phải hiểu rõ các mô hình tăng trưởng kinh tế, thực trạng mô hình tăng trưởng kinh tế ở nước ta hiện nay, phương hướng và giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế

trong giai đoạn tới Vì vậy em xin chọn nội dung “Thực trạng và giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay” để viết bài thu hoạch.

Trang 2

NỘI DUNG

1 Bản chất của mô hình tăng trưởng kinh tế

1.1 Khái niệm mô hình tăng trưởng kinh tế

Mô hình tăng trưởng kinh tế là một cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về

sự tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng Mô hình tăng trưởng kinh tế mô tả phương thức vận động của nền kinh tế thông qua mối liên hệ nhân quả giữa các biến số quan trọng trong quá trình tăng trưởng sau khi đã tước bỏ đi sự phức tạp không cần thiết Những diễn đạt này có thể dưới dạng lời văn, sơ đồ hoặc toán học

1.2 Các khía cạnh của mô hình tăng trưởng kinh tế

Việc quyết định tăng trưởng kinh tế của quốc gia hay nền kinh tế có nhiều yếu tố Trong thực tế các nhà kinh tế thường xác định các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế (hay các yếu tố của mô hình tăng trưởng kinh tế) dưới bốn khía cạnh:

- Khía cạnh đầu vào: Theo quan niệm truyền thống, có bốn yếu tố đầu vào

dẫn đến tăng trưởng kinh tế, gồm: lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên và khoa

học công nghệ Nhưng theo quan điểm hiện đại, có 3 yếu tố dẫn đến tăng trưởng

kinh tế, gồm: vốn (bao gồm cả yếu tố tài nguyên thiên nhiên đang được sử dụng, gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất), lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) Những yếu tố này tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và có thể lượng hóa được mức độ đón góp của chúng vào tăng trưởng kinh tế

Khi xem xét mô hình tăng trưởng kinh tế ở khía cạnh đầu vào tức là đề cập đến số lượng, chất lượng và sự kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất

- Khía cạnh đầu ra

Trang 3

Đầu ra hay tổng cầu của nền kinh tế gồm: tiêu dùng của dân cư trong nước (C), đầu tư (I), chỉ tiêu của chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (NX nghĩa là xuất khẩu trừ nhập khẩu)

Khi xem xét mô hình tăng trưởng kinh tế ở khía cạnh đầu ra tức là nói đến

mô hình tăng trưởng kinh tế đó coi trọng yếu tố nào C, NX, I hay G

- Khía cạnh cấu trúc nền kinh tế: được hiểu là tổng thể những hoạt động

của nền kinh tế Cấu trúc nền kinh tế có thể nhìn từ cơ cấu theo ngành, lĩnh vực, cơ cấu thành phần kinh tế (hay khu vực kinh tế) và sự liên kết giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế, các thành phần kinh tế Sự liên kết này có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế

Cấu trúc nền kinh tế theo ngành, lĩnh vực: Trong kinh tế học, khi xem xét

trình độ phát triển của nền kinh tế người ta chia hoạt động của nền kinh tế được chia thành ba khu vực: Nông nghiệp và khai khoáng (còn gọi là khu vực cấp I); công nghiệp chế tạo (còn gọi là khu vực cấp II); dịch vụ (còn gọi là khu vực cấp III) Nếu tăng trưởng kinh tế nhờ vào khu vực I, đó là nền kinh tế đang ở trình độ thấp, còn kinh tế tăng trưởng chủ yếu vào khu vực cấp II và cấp III thì nền kinh tế phát triển ở trình độ cao hơn

Cấu trúc nền kinh tế theo khu vực kinh tế: Theo cách này có thể phân chia

các khu vực kinh tế gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Việc phân chia này giúp ta thấy rõ được từng khu vực kinh

tế đã đóng góp bao nhiêubtrong tổng sản lượng của nền kinh tế

- Khía cạnh thể chế kinh tế

Mô hình tăng trưởng kinh tế xét ở khía cạnh thể chế thể hiện vai trò của Nhà nước và hệ thống các luật chơi trong nền kinh tế, cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô (gồm loại chính sách vĩ mô và cách làm chính sách vĩ mô) Khía cạnh này thể hiện cách thức vận hành nền kinh tế của nhà nước Nói một cách hình

Trang 4

tượng, khía cạnh thể chế được xem như là một phần mềm điều hành nền kinh tế

mà phần cứng của nó có thể được xem là cấu trúc của nền kinh tế

Để có cái nhìn toàn diện, đầy đủ khi phân tích, đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia nào đó, cần phải xem xét cả 4 khía cạnh nói trên của mô hình tăng trưởng kinh tế

1.3 Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và theo chiều sâu

Từ việc khái quát các mô hình tăng trưởng kinh tế, xét trên gốc độ các yếu

tố đầu vào và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào có thể thấy có hai dạng mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu, đó là mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và

mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu

1.3.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng

- Quan niệm về mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng: là tăng trưởng

kinh tế dựa trên cơ sở gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên mà không kèm theo tiến bộ công nghệ Nói đến mô hình tăng trưởng kinh

tế theo chiều rộng là nói đến phương thức tăng trưởng sử dụng nhiều vốn, công nghệ lạc hậu, với đa số lao động tay nghề thấp, chủ yếu làm gia công, lắp ráp, khai thác và bán rẻ tài nguyên thô hoặc sơ chế

Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng có đặc trưng là: (1) Sự gia tăng về lượng các yếu tố đầu vào tạo ra trên 50% thu nhập của nền kinh tế; (2) Không thường xuyên sử dụng các nguồn lực có hiệu quả cao hơn; (3) Chỉ chú trọng phát triển các loại công nghệ và nguồn lực sản xuất truyền thống

- Ưu thế và hạn chế của mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng

Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng có những lợi thế như: giải phóng mọi nguồn lực của đất nước; thu hút được nguồn lực từ nước ngoài; giải phóng sức lao động, phát triển thị trường lao động; đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh trong giai đoạn đầu phát triển của các nước đang phát triển Song, mô hình

Trang 5

tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng có nhiều hạn chế như: các nguồn lực vốn, lao động, tài nguyên là có hạn, vì thế nếu áp dụng mô hình tăng trưởng kinh tế này kéo dài sẽ dẫn đến giới hạn, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, gia tăng chi phí cho một đơn vị sản xuất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh

tế thấp, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát, bội chi ngân sách, gây bất ổn kinh tế vĩ mô

1.3.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu

- Quan niệm về mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu: là tăng trưởng

kinh tế dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu dựa trên cơ sở của khoa học công nghệ hiện đại, với đa số lao động có trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng đi vào lĩnh vực thiết kế, chế tạo thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, làm ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu không chỉ gia tăng khối lượng sản phẩm, mà còn gia tăng cả chất lượng sản phẩm nền kinh tế

Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu có 3 đặc trưng như sau: (1) Hoàn thiện về chất các yếu tố sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng chúng đạt mức chiếm trên 50% thu nhập tăng thêm của nền kinh tế; (2) Thường xuyên, liên tục sử dụng nguồn lực có hiệu quả cao hơn; (3) Sử dụng công nghệ và các nguồn lực tiên tiến

- Ưu thế của mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu: có các lợi thế

như: nhân tố TFP dường như là vô hạn, nên có khả năng khắc phục được tình trạng khan hiếm nguồn lực; tiết kiệm nguồn lực, giảm chi phí, tăng hiệu quả và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế; giảm ô nhiễm, bảo vệ môi trường; ít gây bất ổn kinh tế

vĩ mô và tăng trưởng kinh tế bền vững, dài hạn

- Điều kiện tiên quyết để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu

Trang 6

Điều kiện tiên quyết để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu đó là: phải dựa vào tiến bộ khoa học - công nghệ và dựa vào nguồn nhân lực chất lượng cao

Việc phân định mô hình tăng trưởng kinh tế thành hai loại mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng và theo chiều sâu không bao giờ tồn tại hoàn toàn tách biệt, mà luôn kết hợp với nhau trong một chừng mực nhất định

2 Thực trạng và giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay

2.1 Thực trạng mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam

2.1.1 Giai đoạn 1991-2010

Từ năm 1991 đến năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế liên tục với tốc độ khá cao Giai đoạn 1991-1995 đạt 8,2%/năm; giai đoạn 1996-2000 đạt 7%/năm; Giai đoạn 2001-2005 đạt 7,5; giai đoạn 2006-2010 đạt 7%

%/năm Nếu như năm 1991, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, Indonesia; 1/5 của Thái Lan và 1/10 của Malaysia, thì đến năm 2010, các con số tương ứng lần lượt là: 1/3 , 1/3 và 1/5 Chính sự tăng trưởng liên tục và cao trong nhiều năm nên:

+ Quy mô của nền kinh tế Việt Nam đã lớn lên đáng kể Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá so sánh gấp 2 lần so với năm 2000, theo giá thực tế gấp 3,4 lần Kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 4 lần/năm 2000 Năm 2010, GDP/người đạt 1.200 USD (năm 1990 là gần 100 USD)

+ Đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm, Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển và bước vào nhóm nước đang phát triển có nhu nhập trung bình thấp theo xếp hạng của WB

Trang 7

+ Góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc: Lao động, việc làm, thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh

xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội từng bước được thực hiện

+ Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm và có mặt được cải thiện Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị - xã hội ổn định

+ Kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu, đầy đủ vào nền kinh tế khu vực và thế giới Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao

- Tuy nhiên, tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam chưa thật tương xứng với tiềm năng và cơ hội đã có được Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu, chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả của tăng trưởng hạn chế, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa còn thấp kém Cụ thể:

+ Kinh tế của Việt Nam tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, tăng vốn đầu tư và lao động rẻ; tăng trưởng thuần túy dựa vào khai thác, sử dụng tài nguyên như các ngành nông, lâm, thủy sản, khai thác luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn khoảng 30% GDP trong giai đoạn 1991-2009 Động lực của tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các ngành công nghiệp gia công, lắp ráp có tỷ lệ chi phí trung

gian cao, phụ thuộc vào nhập khẩu tiêu tốn ngoại tệ, thường gây ô nhiễm môi trường

và khu vực dịch vụ chưa có tăng trưởng rõ rệt Kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh, nhưng cơ cấu xuất khẩu thay đổi chậm, chủ yếu là xuất hàng thô, sơ chế, khoáng sản, năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu thấp

+ Hiệu quả và chất lượng đầu tư thấp (chất lượng tăng trưởng thấp) Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, vùng kinh tế ngày càng dựa nhiều và vốn FDI, nhưng nguồn vốn này phân bổ không đều, chất lượng chưa cao và cũng chưa đóng góp nhiều vào chất lượng tăng trưởng

Trang 8

Đầu tư dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư thấp, nhất là nguồn vốn đầu tư của nhà nước Hiệu quả đầu tư thể hiện ở chỉ

số ICOR (tỷ lệ vốn đầu tư/GDP) có xu hướng tăng cao trong thời kỳ 1991-2009 Giai đoạn (1991-1995), bình quân là 3,5; giai đoạn (1996-2000) là 4,8; giai đoạn (2001- 2005): 5,1; trong hai năm 2008, 2009 là 8,0 Chỉ số ICOR cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư thấp và sụt giảm, năng lực cạnh tranh giảm Khu vực đầu tư công, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước hệ số ICOR rất cao, năm 2009 lên đến 12,0, trong khi đó ICOR chung của nền kinh tế là 8,0

+ Những nền tảng cơ bản của tăng trưởng (ổn định kinh tế vĩ mô, thể chế kinh tế - xã hội, giáo dục và y tế cơ bản, cơ sở hạ tầng) còn nhiều bất cập, năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện Các yếu tố đóng góp vào việc gia tăng chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả các thị trường nhân tố sản xuất: lao động, đất đai, công nghệ; năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ) còn thiếu và yếu Năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ 2001 đến 2010 hầu như không được cải thiện, thậm chí Việt Nam còn bị tụt hạng về năng lực cạnh tranh trong năm 2008, 2009 Năm 2009 xếp thứ 75/133 nước tham gia xếp hạng; năm 2008: 70/134 nước Như vậy năm 2009 năng lực cạnh tranh bị tụt 5 hạng so với năm 2008

+ Việc gắn kết giữa tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội còn chưa chặt chẽ Tăng trưởng kinh tế cao, nhưng chưa bền vững, tăng trưởng chưa gắn chặt với giảm nghèo, tăng trưởng cũng làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc: việc làm cho người lao động, phân hóa giàu nghèo gia tăng, sự chênh lệch về trình

độ phát triển, về thu nhập giữa các vùng, miền ngày càng lớn, môi trường bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng, tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng

2.1.2 Giai đoạn 2011-2015

Trang 9

Đánh giá kết quả thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ: “Mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng đã bước đầu có sự chuyển biến sang kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu”; Hiệu quả đầu tư xã hội, đầu tư công từng bước được cải thiện, tình trạng đầu tư dàn trải bước đầu được hạn chế”

Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đã giảm từ 42,7% giai đoạn 2006-2010, xuống 31,7% giai đoạn 2011-2015 Hiệu quả đầu tư (ICOR) được nâng lên, biểu hiện hệ số ICOR của nền kinh tế giảm từ 6,96 lần giai đoạn 2006-2010, xuống 6,91 lần giai đoạn 2011-2015 Tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 30%, cao hơn giai đoạn 2001-2010 Tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ tăng lên, ngành nông nghiệp giảm đi…

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, tăng trưởng kinh tế vẫn theo chiều rộng Tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ, lao động

có kỹ năng Năng suất lao động chậm được cải tiến, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực Đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế còn thấp Chưa phát huy được lợi thế so sánh và chưa tận dụng các cam kết hội nhập quốc tế để nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững

2.2 Quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn 2030

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra giải pháp để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của Việt Nam như sau:

2.2.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu

Đổi mới mô hình tăng trưởng là để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững, toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường

Trang 10

Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trí sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại, mọi tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước

Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn kết chặt chẽ với thực hiện 3 đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế với 5 trọng tâm ưu tiên là: (1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; (2) Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài; (3) Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; (4) Cơ cấu lại ngân sách nhà nước và nợ công; (5) Cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công

Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay

Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Đảng ta xác định 5 mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là: (1) Tiếp tục củng cố vững chắc nền kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm

2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP; (2) Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016-2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài khống quá 50% GDP Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài không quá 45% GDP; (3) Giai đoạn 2016-2020, hằng năm có khoảng 30-35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân

Ngày đăng: 07/04/2020, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w