1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Làng Vạn Phúc (Hà Đông) nửa đầu thế kỷ XX - tiếp cận từ phương diện kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội

115 76 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 631,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời cận đại, làng Vạn Phúc được nhắc đến trong các tác phẩm của Hoàng Trọng Phu như: Những công nghệ gia đình ở Hà Đông, Các nghề thủ công truyền thống ở Hà Đông.. Mục đích nghiên cứu N

Trang 1

đạI HọC QUốC GIA Hà NộI

ĐạI HọC KHOA HọC X HộI Và NHÂN VĂN

nguyễn Thị ngọc hoà

làng Vạn Phúc (Hà Đông) nửa đầu thế kỷ XX- tiếp cận từ phương diện kinh tế – chính trị – văn hoá x- hội

Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Hà NộI- 2005

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tâm của thầy giáo PGS TS Phạm Xanh, tôi xin gửi tới thầy lời cảm ơn trân trọng nhất

Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới UBND phường Vạn Phúc, Thư viện Quốc gia, Thư viện Hà Tây và các cá nhân đã giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tầm tài liệu

Xin gửi lời cảm ơn, lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đồng nghiệp

đang công tác tại Bảo tàng Hà Tây đã giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá trình làm luận văn này

Hà Nội, tháng 11 năm 2005

Học viên

Nguyễn Thị Ngọc Hoà

Trang 3

Lêi cam ®oan - T«i xin cam ®oan c«ng tr×nh nghiªn cøu nµy lµ cña riªng t«i Mäi cø liÖu tr×nh bµy trong luËn v¨n lµ trung thùc NÕu cã sai ph¹m g× t«i xin hoµn toµn chÞu tr¸ch nhiÖm

Trang 4

B¶ng ch÷ viÕt t¾t -

Trang 5

Mục lục

Trang Lời mở đầu

Chương 1: Kinh tế làng Vạn Phúc từ đâu thế kỷ XX đến năm 1945 5

Trang 6

2.4 Vai trò của giới trong làng dệt Vạn Phúc 47 2.5 Một số hoạt động đặc trưng trong đời sống văn hoá

Chương 3 Các hoạt động chính trị của làng Vạn Phúc

3.1 Phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Vạn Phúc

từ đầu thế kỷ XX đến hết thời kỳ đấu tranh dân chủ 57 3.1.1 Phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Vạn Phúc

từ đầu thế kỷ XX đến khi chi bộ đảng Vạn Phúc ra đời 57 3.1.2 Chi bộ đảng Vạn Phúc ra đời (1938) và các phong trào

3.3 Phong trào đấu tranh giành chính quyền ở Vạn Phúc

Trang 8

Lời mở đầu

1 ý nghĩa khoa học và tính cấp thiết của đề tài

Xưa nay, người Hà Tây rất đỗi tự hào bởi quê hương mình có làng dệt lụa Vạn Phúc được cả nước biết tiếng Lụa tơ tằm là loại hàng dệt cao cấp chủ yếu dành cho người khá giả Triều đình nhà Nguyễn đã từng coi lụa, gấm, vóc của Vạn Phúc là thứ hàng cao sang dùng nơi cung thất Thời Pháp thuộc, lụa Vạn Phúc đã

được đưa đi dự triển lãm của các nước thuộc địa tại Mác-xây (1928), Pari (1931, 1938), Lào, Campuchia, Inđônêxia… đoạt nhiều huy chương và bằng khen Nhiều nghệ nhân được tặng thưởng Nhà bảo tàng Hà Đông xây dựng từ năm 1925 dành nhiều dãy nhà để trưng bày tơ lụa và khung dệt mẫu hàng của Vạn Phúc Từ năm

1930 đến năm 1941, khung dệt của làng phát triển từ 320 khung lên 1500 khung, sản xuất tới hơn một triệu mét lụa Lụa Vạn Phúc có mặt trên thị trường nhiều nước

từ Châu á đến Châu Âu, ở đâu cũng được ưa chuộng

Với phương thức sản xuất thủ công nghiệp tương đối tập trung, lại có ý thức

tổ chức và tinh thần đấu tranh, Vạn Phúc đã sớm có phong trào cách mạng Từ cao trào đấu tranh dân chủ, Vạn Phúc đã có nhiều cuộc đấu tranh lớn nổ ra như cuộc

đấu tranh chống “quản thủ điền thổ”, đưa yêu sách cho Gôđa, chống sưu thuế, đòi quyền dân sinh dân chủ…Với sự phát triển của phong trào cách mạng lớn mạnh, Vạn Phúc được Trung ương, Xứ uỷ Bắc kỳ chọn làm an toàn khu (ATK) Bất chấp

sự khủng bố và rình mò ngày đêm của địch, Vạn Phúc đã bảo vệ an toàn cho các cơ quan Đảng Các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ và nhiều đồng chí Trung ương đã về đây hoạt động trong thời gian dài Trong cách mạng tháng Tám, Vạn Phúc khởi nghĩa thành công sớm nhất tỉnh

và trở thành một bàn đạp cho cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh Hơn một năm sau, Vạn Phúc có thêm một vinh dự được đón Bác Hồ về ở và làm việc, cũng chính tại nơi

đây, Người đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 Từ đấy làng dệt lụa Vạn Phúc luôn cố gắng đóng góp phần mình trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc

Trang 9

Vạn Phúc, làng lụa, làng cách mạng Tìm hiểu về làng Vạn Phúc sẽ cho chúng ta thấy diện mạo của một làng nghề truyền thống ở Bắc bộ trong thời kỳ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 Nghiên cứu về kinh tế, văn hoá xã hội, chính trị của một làng nghề nổi tiếng còn cho ta những hiểu biết thêm về những di sản của ông cha để lại Không chỉ vậy, các kết quả nghiên cứu thu được sẽ góp phần vào việc tìm hiểu làng văn hoá và làng nghề cổ truyền Việt Nam – một đề tài được nhiều giới, nhiều ngành quan tâm

Trên cơ sở đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài : “ Làng Vạn Phúc (Hà Đông) nửa

đầu thế kỷ XX – tiếp cận từ phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá x hội” làm

đề tài luận văn cao học của mình Luận văn nghiên cứu về làng nghề Vạn Phúc – một an toàn khu của Đảng hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 60 năm ngày cách mạng tháng Tám đã góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu lịch sử cách mạng Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, các tác phẩm nghiên cứu, ghi chép về làng Vạn Phúc còn rất ít

ỏi Ngoài hai cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Vạn Phúc (tập 1 và 2), địa phương còn sưu tầm và xuất bản cuốn Vạn Phúc xưa và nay

in tại nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2001 Còn lại đa số các tác giả, tác phẩm viết

về làng Vạn Phúc chỉ đi sâu tìm hiểu nghề dệt Thời cận đại, làng Vạn Phúc được nhắc đến trong các tác phẩm của Hoàng Trọng Phu như: Những công nghệ gia đình

ở Hà Đông, Các nghề thủ công truyền thống ở Hà Đông Sau cách mạng tháng Tám

có cuốn Hà Tây làng nghề làng văn do Sở văn hoá thông tin thể thao Hà Tây xuất bản năm 1992, và gần đây nhất là luận văn Thạc sỹ Văn hoá học của tác giả Lê Thị Hoài Linh viết về Nghề dệt ở làng Vạn Phúc thị x1 Hà Đông, tỉnh Hà Tây hoàn thành năm 2003… là những tác phẩm nghiên cứu về nghề dệt Các công trình nghiên cứu về văn hoá xã hội làng Vạn Phúc rất ít ỏi Cho đến nay chưa có một công trình nào về đề cập một cách có hệ thống, toàn diện về các mặt của làng nghề

Trang 10

Vạn Phúc Đây cũng là một lý do để chúng tôi chọn làng nghề Vạn Phúc làm đề tài luận văn của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Ngoài việc hệ thống hoá các tư liệu và kết quả nghiên cứu về nghề dệt làng Vạn Phúc của những người đi trước, mục đích nghiên cứu của luận văn còn tiếp tục sưu tầm những tư liệu chưa ai đề cập đến Luận văn giới thiệu về làng nghề Vạn Phúc trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội Về kinh tế đó là những nét tổng quát về nghề dệt, cơ cấu kinh tế, kỹ thuật đặc trưng, các loại sản phẩm, cách tổ chức sản xuất, trao đổi sản phẩm, buôn bán… Về văn hoá xã hội đó là cơ cấu tầng lớp dân cư, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, tâm lý - tính cách của người Vạn Phúc Về chính trị là quá trình phát triển của phong trào cách mạng từ những buổi đầu đến khởi nghĩa tháng Tám thành công Qua những mặt trên làm nổi lên những đặc trưng riêng, những đóng góp của làng dệt Vạn Phúc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu ở đây chính là làng dệt lụa cổ truyền Vạn Phúc nổi tiếng khắp cả nước Không chỉ là một làng nghề, Vạn Phúc còn là làng văn hoá, làng cách mạng Chúng tôi khảo sát mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên và xã hội tham gia vào quá trình hình thành và phát triển nghề dệt, sự tác động của nghề dệt đối với đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá làng Vạn Phúc Từ điều kiện là một làng dệt, Vạn Phúc nhanh chóng trở thành một làng cách mạng, là một an toàn khu của Đảng

Do nguồn tư liệu ít ỏi, trên cơ sở khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chủ yếu đề cập đến các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của làng nghề Vạn Phúc nửa đầu thế kỷ XX Qua đó thấy được những nét đặc trưng, sự biến chuyển và phát triển của làng Vạn Phúc qua các giai đoạn

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã tiếp cận nhiều nguồn tư liệu khác nhau Tại địa phương, chúng tôi khai thác tư liệu của UBND phường Vạn Phúc, tư

Trang 11

liệu điền dã và tư liệu của hai cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Vạn Phúc Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tư liệu của những nhà nghiên cứu đi trước, các tư liệu lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Thư viện Hà Tây, Thư viện Khoa học xã hội Bên cạnh đó, còn hàng loạt các bài báo, bài viết về Vạn Phúc

đăng trên các báo Trung ương và địa phương

Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các phương pháp: điều tra, điền dã, khảo sát thực địa, thu thập tư liệu

về các mặt của làng dệt Vạn Phúc trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, kết hợp với nhiều phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp để tìm hiểu các vấn đề đã nêu ra trên cơ sở nguồn tư liệu đã tập hợp được

sử Bên cạnh đó nêu bật những hoạt động chính trị cũng như đóng góp của làng Vạn Phúc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, góp phần vào tìm hiểu lịch sử và bảo tồn những giá trị văn hoá của địa phương

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Trang 12

ChƯơng 1: Kinh tế làng Vạn Phúc từ đầu

thế kỷ xx đến năm 1945

1.1 Giới thiệu chung về làng Vạn Phúc

1.1.1 Các điều kiện tự nhiên và xã hội

Hà Tây là mảnh đất “địa linh” hội tụ khí thiêng của núi Tản sông Đà để sinh

ra những “nhân kiệt” như: Phùng Hưng, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú, Nguyễn Thượng Hiền… Và nơi đây cũng nổi danh với nhiều danh lam thắng cảnh như: Chùa Hương, chùa Thầy, Chùa Tây Phương, Chùa Đậu… Hà Tây còn là một vùng đất giàu truyền thống yêu nước và kiên cường cách mạng Đặc biệt, Hà Tây còn được mệnh danh là mảnh đất “trăm nghề”, nổi bật nhất trong đó là nghề tằm tang canh cửi

Nghề dâu tằm vốn là nghề cổ truyền của nhân dân trong tỉnh Những bãi đất phù sa màu mỡ bên các con sông cổ như sông Đà, sông Hồng, sông Đáy… rất thích hợp cho việc trồng dâu chăn tằm Trước cách mạng tháng Tám, diện tích trồng dâu trong toàn tỉnh là trên 800ha [37- 17] Vì thế, trước đây cũng như hiện nay, Hà Tây vẫn nổi tiếng là “Hà Tây quê lụa” Những làng dệt nằm dọc theo các triền sông như: làng Hoà Xá (ứng Hoà), Phùng Xá (Thạch Thất), Tân Lập (Đan Phượng), và “bảy làng La – ba làng Mỗ”1… Trong đó Vạn Phúc là một làng dệt lụa cổ truyền điển hình ở ven đô Mặt hàng tơ lụa đòi hỏi kỹ thuật tinh xảo, bàn tay khéo léo, đầu óc nhanh nhạy, tập trung, đức tính kiên trì, cẩn thận – lụa Vạn Phúc đã đáp ứng được

đòi hỏi đó và đạt đến độ hoàn mỹ cả về chất lượng lẫn hình thức Sự phát triển của làng lụa Vạn Phúc là nhờ có vị trí địa lý gần vùng cung cấp tơ để dệt lụa

Làng Vạn Phúc có vị trí đẹp có dáng như một dải đất hình thoi trải dài giữa

đường giao thông thuỷ bộ Phía Đông giáp sông Nhuệ, phía Tây giáp đường quốc lộ

1 bảy làng La gồm: La Cả, La Khê, La Dương, La Phù, La Tinh, La Nội, Ba La

ba làng Mỗ gồm: Tây Mỗ, Đại Mỗ, Thượng Mỗ

Trang 13

70, cung đường 70 bao quanh phía Tây Hà Nội, nơi tập trung rất nhiều làng nghề thủ công lâu đời quanh đất kinh kỳ lịch sử Phía Nam giáp hai làng Ngọc Trục, Đại

Về Thuỷ văn, làng giáp sông Nhuệ và sông đào La Khê nên việc tới nước cho

đồng ruộng do hai con sông này cung cấp Và đây cũng là đường giao thông quan trọng để vận chuyển hàng hoá đến và đi từ làng Vạn Phúc

Toàn xã có diện tích đất tự nhiên là : 1.240.000m2 trong đó đất ở là: 185.000m2, và đất trồng trọt là: 1.055.000m2 Số dân của Vạn Phúc trước cách mạng Tháng Tám 1945 có 678 hộ và 3.000 nhân khẩu Một độ dân đông đúc gần như thành phố: 1620 người/km2 [ 9 -11]

Vạn Phúc nằm trên địa bàn trọng yếu chiến lược ở cửa ngõ phía Tây của thủ

đô Hà Nội, giáp tỉnh lỵ Hà Đông, nơi mà theo Hoàng Trọng Phu là: “một trong những tỉnh ở Bắc Kì mà những biến cố về chính trị gây được ảnh hưởng và tiếng vang nhiều nhất”[18-8] Vạn Phúc nằm tiếp giáp với các đường giao thông quan trọng nên có thể giao lưu rộng rãi với các tỉnh lân cận như Hà Nội, Sơn Tây, Hoà Bình… và xa hơn nữa là các miền trong nước Đó cũng là một lợi thế để Vạn Phúc

có điều kiện phát triển nghề dệt thủ công truyền thống Đặc biệt Vạn Phúc chịu ảnh hưởng sâu sắc về chính trị, văn hoá của Hà Đông, Hà Nội và trở thành nơi có vị trí quan trọng trong nhiều mặt chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng…của tỉnh Hà

Đông

Trang 14

Vạn Phúc nằm ở trung tâm châu thổ Bắc Bộ, không có tài nguyên biển, tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản nên khó có điều kiện phát triển đồng bộ các ngành Nhưng Vạn Phúc lại có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, làng lại có nghề dệt lụa lâu đời “vua biết mặt, nước biết tên”, người dân tháo vát, thông minh, nhạy cảm với các vấn đề kinh tế, chính trị xã hội, đặc biệt là tính kiên trì, tỉ mỉ, chịu khó làm

ăn nên đời sống nhân dân làng Vạn Phúc có phần ổn định và có thể coi là khá so với nhiều làng nghề khác của Hà Tây Người Vạn Phúc có đặc tính nổi bật là “ đoàn kết, cương trực và tự trọng” Khi có ánh sáng của cách mạng soi đường, nơi đây đã trở thành cái nôi của cách mạng, nơi hoạt động và nuôi dưỡng các vị lãnh tụ cao cấp của Đảng và Nhà nước Cũng tại đây, ngày 19/12/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị trung ương Đảng và ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” chống thực dân Pháp xâm lược Từ đây cả nước biết đến Vạn Phúc, quê hương dệt lụa, cái nôi của phong trào cách mạng nước ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược

Cũng như bao làngViệt cổ khác ở đồng bằng Bắc Bộ, làng Vạn Phúc được phân thành 5 xóm với những cái tên mộc mạc thân quen như xóm Ngoài, xóm Trong, xóm Giữa, xóm Lẻ và xóm Quán Các xóm là những cộng đồng dân cư tập hợp với nhau thành một khối và được cách biệt nhau bằng những con đường ngoằn ngoèo Đặc biệt xã Vạn Phúc cũng là làng Vạn Phúc, thuộc mô hình “nhất xã nhất thôn”

Trước 1945, làng có 3 cổng là cổng phía Nam, phía Tây và phía Đông Trong

đó hai cổng chính là cổng phía Đông và cổng phía Tây, trấn hai con đường chính đi vào đình làng và chợ làng Cổng phía Đông còn vế đối “ Khuyển phệ kê minh cơ thanh viễn cận” (tạm dịch là: ngay từ lúc chó sủa, gà gáy đã nghe tiếng máy dệt lúc

xa lúc gần) Vế câu đối này đã thể hiện rất rõ cái thần của làng Vạn Phúc Trên nóc cổng có bức đại tự với 4 chữ Hán đắp nổi: “Vạn Phúc lai cầu” có nghĩa là: “ đến

đây với muôn vàn hạnh phúc” ý nói làng Vạn Phúc đây có nghề dệt nên cuộc sống

Trang 15

ấm no vui tươi Hiện nay cổng phía Tây được xây thành cổng mới dẫn vào đình làng

và cổng phía Nam dẫn vào nhà lưu niệm Bác Hồ

Ngoài ra, làng Vạn Phúc còn một hệ thống các công trình tín ngưỡng tôn giáo như bao làng Việt cổ khác

Đình làng Vạn Phúc nằm ở trung tâm làng có giá trị về mặt kiến trúc, vừa là một di tích cách mạng Theo sử sách, đình Vạn Phúc được xây từ thời nhà Lê, nhưng kiến trúc và điêu khắc của đình hiện thấy thì có niên đại thời Nguyễn Đình nằm trên một doi đất cao giữa làng, được xây theo hình chữ “Quốc” trông bề thế và hoành tráng Nơi đây thờ Thành hoàng làng là bà ả Lã Đê Nương Đình là nơi hội họp của các chức sắc trong làng và của dân làng từ xưa cho đến nay, đặc biệt là trong những ngày lễ hội Đình cũng là nơi quần chúng nhân dân làng Vạn Phúc tập chung biểu tình chống thuế khoá nặng nề, chống âm mưu chiếm đoạt ruộng đất công của thực dân phong kiến, phản đối bọn hào lý thủ cựu, xoá bỏ tệ cỗ bàn chè chén khi hội hè đình đám…

Nằm cạnh đền Vạn Phúc là đền Phường Cửi, nơi đây thờ bà cụ giỏi nghề dệt gấm vóc, lụa , được bà ả Lã mời về cùng dạy nghề cho dân Sau khi bà ả Lã mất,

bà cụ về quê mình Đến khi bà cụ mất, dân làng Vạn Phúc nhớ ơn bà lập đền thờ Theo ông Nguyễn Hữu Chỉnh (Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc) thì đền có từ

300 năm trước Hiện nay đền đã được xây dựng lại khang trang, đẹp đẽ

Làng Vạn Phúc có một ngôi miếu nằm bên bờ Nhuệ Giang, thờ Thành hoàng làng Tương truyền đây là nơi Thành hoàng làng hoá vào ngày 25 tháng Chạp

Chùa Vạn Phúc nằm ở đầu làng, bên ngoài khu dân cư ở đây đã diễn ra cuộc biểu tình đưa dân nguyện cho Gô đa- đại diện Mặt trận dân chủ bình dân Pháp khi tổng đốc Hà Đông đưa Gô đa về thăm Vạn Phúc (7- 1937) Đây là cuộc đấu tranh lớn, sôi nổi và rộng lớn của tỉnh Hà Đông, có tới gần 1000 quần chúng ở vùng Nam Hoài Đức tham gia Ngoài ra làng còn có đền Phường Rèn, Văn Chỉ, Tảo Vũ để thờ cúng, biểu thị lòng biết ơn đối với người sáng tạo ra nghề nghiệp, nuôi dân

Trang 16

1.1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của làng Vạn Phúc đến đầu thế kỷ XX

Làng Vạn Phúc xưa có tên gọi là Vạn Bảo, vốn là trang Vạn Bảo, xã Thượng Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, trấn Sơn Nam Hiện trên tấm bia đá ở Văn chỉ của làng được xây dựng từ thời Tây Sơn cũng ghi thôn Vạn Bảo xã Thượng Thanh Oai Sang thời Nguyễn xã Thượng Thanh Oai có bốn thôn là Cầu Đơ, Kiều Trì, Văn Quán, Vạn Bảo, riêng làng Vạn Bảo nằm biệt lập ở bên kia sông Cầu Am nên khi chia lại địa giới hành chính đổi sang thuộc tổng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Đến đầu thế kỉ XX do kiêng huý tên vua Thành Thái (1889- 1906) là Bảo Lân nên mới đổi thành Vạn Phúc Sau cách mạng tháng Tám

1945, Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây

Theo lời kể của các cụ cao tuổi làng Vạn Phúc thì từ xa xưa, người Mỗ Lao ở bên kia sông Nhuệ đã chuyển sang bên này sông lập trại sinh sống Khi mới định cư, người Vạn Phúc chỉ sống bằng nghề trồng cây lương thực và chăn nuôi Hoàn cảnh kinh tế tự cấp, tự túc đã đưa người dân làng Vạn Phúc đến với nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa Trong quá trình phát triển, bên cạnh nghề nông, nghề dệt dần dần trở thành nguồn sống chính của làng

Hiện ở đình làng Vạn Phúc còn lưu giữ được 11 đạo sắc phong, phân bố như sau: đời Lê 3 đạo, đời Tây Sơn 2 đạo, đời Nguyễn 6 đạo Trong điều kiện tư liệu còn

ít ỏi về sự phát triển của làng Vạn Phúc trong thời kỳ phong kiến thì 11 đạo sắc phong này cũng đưa lại cho chúng ta một số nét về sự phát triển của làng Đạo sắc phong năm Bảo Hưng thứ nhất (1801) đời Tây Sơn thấy ghi duệ hiệu Đức thánh có

đến hơn hai mươi mỹ tự mà theo quy định xưa thì mỗi đợt gia phong thường chỉ là hai đến ba mỹ tự Đến triều Nguyễn, mặc dù đã có tiền lệ ban cấp sắc phong từ đời

Lê, Tây Sơn nhưng các vua đầu triều Nguyễn như Gia Long (1802- 1820), Minh Mạng (1821- 1840), Thiệu Trị (1841- 1847) đều không ban sắc phong cho thành hoàng làng Vạn Phúc Mãi đến năm Tự Đức thứ 6 (1853) đình làng Vạn Phúc mới tiếp tục nhận được sắc phong Theo quy chế ban cấp sắc phong thời xưa, một địa phương không được cấp sắc phong chỉ có hai lí do Một là vị thần mà dân làng tôn

Trang 17

thờ không phải là chính thần mà thuộc loại tà thần, dâm thần không được phép thờ Hai là dân làng không chịu tuân theo giáo hoá của triều đình Theo các cụ cao tuổi làng Vạn Phúc thì nghiêng về lí do thứ hai Thời Tây Sơn, dân làng Vạn Phúc dốc sức ủng hộ phong trào Nghĩa cử ủng hộ phong trào Tây Sơn ấy đã gây mối phản cảm đối với các vua đầu triều Nguyễn vì thế nên không có sắc phong

Khi thực dân Pháp đem quân sang xâm lược nước ta, hai lần đánh chiếm Bắc

Kỳ, lần thứ nhất (1873) và lần thứ hai (1883), nhân dân Vạn Phúc đã cùng với nhân dân trong huyện Hoài Đức hết lòng, hết sức giúp đỡ và sát cánh chiến đấu cùng với lực lượng kháng chiến đánh bại nhiều cuộc hành quân của thực dân Pháp, lập lên chiến công lừng lẫy ở khu vực Cầu Giấy

Tóm lại, làng Vạn Phúc cũng giống như nhiều làng Việt cổ khác ở châu thổ sông Hồng, nông tang là nghề cơ bản đáp ứng nhu cầu ăn ở mặc của dân làng Do

đất chật người đông, làng lại không có tài nguyên khoáng sản và để giải quyết vấn

đề nông nhàn, xuất phát từ nhu cầu tự cấp tự túc nghề dệt ra đời Nhờ vị trí giao thông thuận tiện nằm ở vùng sông ngòi bờ bãi nên nghề tằm tang phát triển và kéo theo nó là sự phát triển của nghề tơ lụa Chính sự phát triển đó cộng với các điều kiện khác như tài khéo léo, chăm chỉ chịu khó đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các làng dệt, trong đó có Vạn Phúc Làng dệt Vạn Phúc ra đời và phát triển với ý nghĩa

đặc trưng của một làng nghề truyền thống rất nổi tiếng Lụa Vạn Phúc cùng với các làng dệt có tiếng suốt một dải sông Hồng, sông Đáy từng góp mặt sản phẩm của mình trên mọi miền đất nước Vạn Phúc còn là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước kiên cường cách mạng, rất đỗi tự hào

1.2 Kinh tế làng Vạn Phúc từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954

1.2.1 Cơ cấu kinh tế làng Vạn Phúc

Ngành nông nghiệp dưới thời phong kiến, trong sử sách và các văn kiện khác thường gọi là nông tang Cách gọi đó là rất đúng, bởi vì nền sản xuất nông nghiệp trước đây mang tính chất tự cung tự cấp gồm có hai bộ phận gắn bó với nhau: trồng lúa để lấy cái ăn và trồng dâu, chăn tằm, dệt lụa để lấy cái mặc Ăn mặc từ bao đời

Trang 18

nay vẫn là hai vấn đề kinh tế chủ chốt Làng Vạn Phúc cũng như bao làng Việt cổ khác lấy nghề nông làm gốc Nhưng Vạn Phúc không trồng dâu chăn tằm mà chỉ dệt lụa Nghề nông và nghề dệt là hai nghề tồn tại lâu đời, bổ sung và hỗ trợ cho nhau về kinh tế để đảm bảo cho người dân một cuộc sống no đủ Nhưng ở đây, mỗi nghề có một vị trí khác nhau, đưa lại lợi ích kinh tế khác nhau mà trong quá trình phát triển, làng Vạn Phúc không loại bỏ một hình thức nào, ngược lại phát triển cả hai nghề: Nghề nông và nghề dệt

1.2.1.1 Nghề nông

Nghề nông giữ vị trí quan trọng, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế tiểu nông, tự cấp tự túc Đối với làng nghề nông, ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu được ở làng Vạn Phúc, không có địa chủ vì ruộng đất ít Tổng diện tích đất gieo trồng của làng có 285 mẫu Bắc bộ ở 18 xứ đồng, bao gồm các hình thức sở hữu sau:

Bảng phân bố sở hữu ruộng đất làng Vạn Phúc trước 1945

Hình thức sở hữu Diện tích Chiếm tỷ lệ

Trang 19

Ruộng chùa rất ít, chỉ có khoảng 7 sào, chiếm tỷ lệ 0,2%, bao gồm cả ruộng cúng hậu Ruộng chùa do nhà chùa cày cấy, hoa mầu thu được dùng vào việc thờ tự

Đặc biệt, làng Vạn Phúc không có ruộng đình, tiền hương khói do nhân dân quyên góp và có thủ quỹ quản lý chi dùng

Ruộng phe giáp có khoảng 4,3 mẫu của 14 giáp Mỗi giáp có khoảng 3 sào ruộng Ruộng này các giáp lại giao cho các gia đình trong giáp luôn phiên nhau cày cấy, hoa màu thu hoạch được dùng vào công việc chung của phe giáp

Ruộng tư của cả làng có 255 mẫu, chiếm tỷ lệ 89,5% trong tổng quỹ đất của làng Vì ruộng đất ít nên Vạn Phúc không có địa chủ, những hộ có nhiều ruộng đất nhất trong làng cũng chỉ có từ 4 đến 5 mẫu Số hộ có nhiều ruộng, đồng thời cũng là

số hộ có nhiều khung dệt, đó là 16 hộ tiểu chủ của làng Số hộ tiểu chủ này sở hữu một số lượng ruộng khá lớn khoảng 72 mẫu, chiếm tỷ lệ 28% trong tổng số ruộng

đất tư của làng

Một số ít hộ có từ 0,3 – 0,5 mẫu trở xuống đều bán đi để sắm khung dệt và mua nguyên liệu Một số hộ còn lại có từ 0,7 – 0,8 mẫu trở lên thì “kiêm doanh” nghĩa là vẫn còn làm ruộng nhưng giành phần lớn thời gian và sức lao động cho nghề dệt Mức độ sở hữu ruộng tư của làng Vạn Phúc có thể phân thành hai nhóm khác biệt nhau, đó là hộ tiểu chủ và những hộ còn lại

Bảng phân bố sở hữu ruộng tư làng Vạn Phúc

Hộ tiểu chủ Những hộ còn lại

(Nguồn : UBND Phường Vạn Phúc)

Trang 20

Như vậy, ngoài 16 hộ tiểu chủ có nhiều ruộng đất thì đa số các hộ còn lại là rất ít ruộng đất, trung bình mỗi hộ khoảng 0,28 mẫu, tương đương với 2,8 sào Nếu tính trung bình mỗi hộ ở làng Vạn Phúc có 5 người thì bình quân mỗi nhân khẩu chỉ còn được nửa sào

Ruộng đất ít, năng suất lúa lại thấp Sản lượng lúa thu được hàng năm của làng Vạn Phúc bình quân 2,5 tấn/ha Theo số liệu của UBND phường Vạn Phúc, lương thực của cả làng thu hoạch được là 262 tấn/năm, trong đó nhu cầu lương thực thực tế cần có là 900 tấn/năm Số lương thực sản xuất ra chỉ đủ cho gần 1/3 dân số Người dân Vạn Phúc cho rằng số thóc gạo do nông dân địa phương làm ra chỉ đủ để

hồ lụa, còn thóc gạo để nuôi sống con người thì phải nhờ vào tiền công dệt Vì thế, phần lớn các gia đình sống hoàn toàn bằng nghề dệt và nghề dệt chiếm ưu thế trong tổng thu nhập Hiện tượng này không chỉ thấy ở riêng Vạn Phúc mà thấy ở một số các làng dệt truyền thống khác của tỉnh Hà Đông (cũ) Để tiện theo dõi, dưới đây là bảng so sánh hoạt động nông nghiệp và thủ công nghiệp (dệt) ở các làng làm nghề dệt của tỉnh Hà Đông trước năm 1945

có phần ổn định hơn

1.2.1.2 Nghề dệt

Trang 21

 Sự ra đời nghề dệt ở làng Vạn Phúc

Nghề dệt ở làng Vạn Phúc có từ rất lâu đời: hiện nay không còn tài liệu nào nói đến sự ra đời của nghề dệt ở Vạn Phúc Trong dân gian chỉ còn lưu truyền lại những truyền thuyết phản ánh về vấn đề này

Dân làng còn lưu lại câu vè:

“Gặp cô quê ở La Khê (1)

Nhân vui nói chuyện về nghề làm the Nghề này khởi tận triều Lê Tướng quân mười vị dạy nghề mới sang”

Căn cứ vào câu vè trên, một số người cho rằng nghề dệt do mười vị tướng quân người Tứ Xuyên, Trung Quốc sang dạy cho làng La Khê rồi sau đó mới truyền sang làng Vạn Phúc Còn thời gian truyền nghề, câu vè chỉ nói “khởi tận triều Lê”, còn thời Lê hay Lê Sơ thì không nói rõ.Một truyền thuyết khác được lưu truyền rộng rãi trong dân làng Vạn Phúc, được nhiều người chấp nhận hơn là truyền thuyết

về bà tổ nghề Lã Thị Nga Hiện dân làng vẫn còn giữ được bản thần tích do lễ Bộ Thượng Thư Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm 1739 nói về bà Lã Thị Nga truyền nghề cho dân chúng như thế nào

Có thể tóm tắt truyền thuyết về bà như sau:

Thời con gái bà nổi tiếng xinh đẹp và là cô thợ may khéo ở đất Kinh Kỳ Khi Cao Biền nhà Đường (Trung Quốc) được cử sang nước ta làm tiết độ sứ, xây thành

Đại La (Hà Nội ngày nay) đã lấy bà làm vợ để trông nom khu vực phường cửi trong thành Sau khi Cao Biền về nước Bà rời đến làng Vạn Phúc ở Bà Lã Thị Nga còn mời thêm một bà cụ giỏi nghề dệt lụa về dạy cho dân làng Sau khi bà hoá, dân làng nhớ ơn xây miếu thờ tại chỗ hoá và tôn bà làm Thành Hoàng làng Tại đình làng Vạn Phúc nơi thờ Bà, trong hậu cung còn đặt một cái kéo, một cái vạch và một cái thước sơn son thiếp vàng đặt trước bài vị Sau khi bà Lã Thị Nga hoá, bà cụ thợ già

(1) Làng La Khê, một làng chuyên làm nghề dệt, trớc cách mạng Tháng Tám năm 1945 làng thuộc Tổng La Nội, huyện Từ Liêm, Phủ Hoài Đức Nay là xã La Khê, huyện Hoài Đức, Hà Tây

Trang 22

cũng trở về quê và mất tại quê Dân làng nhớ ơn lập đền thờ bà gọi là Đền Phường cửi

Hiện nay trong Đình làng, nơi thờ bà còn lưu giữ được 11 sắc phong tuy không nói rõ quá trình bà dạy nghề cho dân làng như thế nào nhưng đều ca ngợi công đức, phẩm hạnh của bà và tôn bà là Thành Hoàng của làng “Lã Thị Nương nương Nga Hoàng Đại Vương” Đây là một cơ sở để chúng ta xác định rõ hơn về vị

tổ nghề dệt làng Vạn Phúc và sự ra đời của nghề dệt ở làng Ngoài ra ở đình làng còn có đôi câu đối nói về hành trạng của Bà, dịch nghĩa như sau:

Theo lòng trời thần ban đất, gia ân cho dân, một ấp sống chung duy phép thần mới bảo vệ được

Đức lớn như lòng đất, trừ tai cản hoạ cho tứ dân (1) mới an cư lạc nghiệp chỉ có lòng người mẹ mới giúp được dân như vậy (2)

Từ những cứ liệu trình bày ở trên, cho phép ta đoán định rằng nghề dệt ở làng Vạn Phúc đã ra đời từ rất sớm, có thể từ thế kỷ VIII vào lúc nhà Đường đô hộ nước

ta Trong sử cũ còn chép lại lúc bấy giờ nước ta gọi là “An Nam đô hộ phủ”, dân ta phải cống nộp cho vương triều phương Bắc những cống phẩm quý giá như: tơ, lụa, the, đồ mây… Nhưng nếu muộn hơn thì nghề dệt ở đây cũng đã có từ thời Lê sơ (thế

kỷ XV) và bề dày thời gian là khoảng 500 năm cách ngày nay

Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến sự ra đời của nghề dệt?

Từ xa xưa khi mới đến lập cư, người Vạn Phúc mới chỉ sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, dân số ngày càng đông, ruộng đất ít, năng suất lúa thấp… Điều kiện trên buộc người nông dân nơi đây không chỉ sống dựa vào nghề nông mà phải có thêm nghề phụ Do gần nguồn tơ tằm từ sông Đáy, gần trung tâm kinh tế chính trị sầm uất của tỉnh Hà Đông, lại có giao thông thuỷ bộ đều thuận tiện nên từ lâu nghề dệt ở làng Vạn Phúc đã sớm ra

đời Nhờ bàn tay tài hoa, khéo léo, nhờ trí thông minh và tài năng sáng tạo, người dân Vạn Phúc tự hào về nghề dệt nổi tiếng ở quê hương Lụa Vạn Phúc có mặt trên

(1) : Tứ dân: Sĩ, Nông Công, Thương

(2) : Lời dịch do cụ Nguyễn Văn Bút, sinh năm 1928, xóm Chiến Thắng cung cấp

Trang 23

khắp mọi miền đất nước ta và thị trường quốc tế: Pháp, Inđônêxia, Thái Lan, Campuchia…

 Quy trình sản xuất của nghề dệt cổ truyền ở làng Vạn Phúc

Để có được một tấm lụa, người thợ dệt phải trải qua một quy trình kỹ thuật phúc tạp, tốn nhiều công sức với rất nhiều công đoạn Có thể chia thành các khâu chính như: Khâu tơ, khâu hồ, khâu dệt, khâu chuội và nhuộm

4 ống: sợi mành, sợi mắc, mốt son, mốt cục Một khung cửi cần có 2 – 3 người quay tơ phục vụ

Sợi mành là sợi nhỏ nhất (màu vàng nhạt) dùng làm sợi ngang Sợi mắc là sợi tơ trung bình dùng để làm sợi dọc To hơn nữa là mốt son ( màu vàng đậm) có ít ghẻ (1) Mốt cục là loại sợi to nhất có nhiều cục Sau khi phân tơ, mỗi loại tơ được dùng vào một công việc khác nhau Sợi mành dùng làm sợi ngang nhưng không phải cứ thế là dùng được ngay mà tuỳ theo từng loại mặt hàng dệt mà người thợ phải chập 2- 4 sợi mành hay nhiều hơn nữa làm một hột Khâu chập sợi này người

ta gọi là khâu “đẽo tơ ” Mốt son dùng để dệt ở đầu hoặc cuối tấm vải Mốt cục dùng để dệt hàng: đũi, sồi, nái hoặc làm go ngang Vì thế ở Vạn Phúc có câu ca dao

“…Quay tơ ra mắc, ra mành, Mắc thì mắc dọc, mành thì dệt ngang Mốt son thì dệt đầu hàng

(1) Ghẻ: Là những mấu nhỏ trên sợi tơ, mấu to gọi là cục

Trang 24

Mốt cục thì đánh go ngang cho bền”

Cách làm hàng tơ như vừa mô tả ở trên phải rất cẩn thận Sợi loại nào chỉ dùng vào đúng việc nấy, có như vậy hàng mới đảm bảo phẩm chất Những người ham lời cứ ken vào ba sợi mắc, một sợi mốt hoặc khổ vải đáng 3000 sợi chỉ làm

2800 sợi thì hàng vừa thưa lại vừa gặp mấu, sờ rát tay, không được mịn, lại mau xổ lông

Khâu hồ

Sợi ngang sau khi suốt là xong, chỉ việc gài vào thoi đem dệt Riêng đối với sợi dọc, sau khi chập đôi xong phải hồ rồi mới dệt Hồ nhằm làm cho sợi dệt khi dệt không bị xơ xước, có độ bền và độ bóng cao Hồ sợi là một nghệ thuật, không có làng nào ở Hà Đông có kĩ thuật hồ tốt như ở Vạn Phúc Người thợ hồ ở đây nấu hồ hết sức công phu, từ khâu chọn gạo đến khâu quấy hồ đều làm rất cẩn thận khi nấu

hồ người ta thường thêm một ít sáp ong, đồng thời sử dụng bí quyết riêng làm cho sợi hồ vừa dẻo dai lại vừa bóng Khi hồ sợi, làng Vạn Phúc chỉ hồ sợi trong nhà nên sợi khô rất chậm lại mất nhiều công để quạt cho khô, mỗi ngày chỉ làm được 4- 5 nước hồ ( nếu làm hồ ngoài trời thì được 10 nước hồ một ngày) Sau khi hồ xong, sợi khô, cuộn sợi đã hồ vào trục bên kia, tiếp tục hồ quãng sau Kĩ thuật hồ sợi ở Vạn Phúc, nhất là của các nghệ nhân bậc thầy ở đây không bao giờ tiết lộ bí quyết

ra ngoài Chính vì thế sợi hồ của Vạn Phúc bao đời nay vẫn đẹp hơn sợi hồ của các nơi khác

Để tạo nên được nhiều mặt hàng khác nhau, người thợ dệt phải luôn thay đổi những yếu tố: số lượng sợi dọc nhiều hay ít, độ to của sợi ngang ( chập đôi, chập ba

Trang 25

hay bốn sợi) ; cách thăm go: thăm thuận, thăm nghịch, thăm một miệng go hay hai miệng go; cách dận chân đòn, chân nào trước chân nào sau; dùng go võng hay go thẳng… Cùng một khung cửi, chỉ cần thay đổi những yếu tố kĩ thuật trên, người thợ dệt có thể tạo ra nên nhiều mặt hàng khác nhau

Dệt hàng hoa các thao tác dệt giống như mặt hàng trơn, nhưng trước khi dệt hoa gì phải có kiểu hoa đó vẽ lên giấy, đặt lên một miếng vải sa thưa, sau đó mới

đặt lên bàn khâu hoa (như khung thêu) để khâu Dùng kim khâu đếm từng sợi dọc, sợi ngang - tính xem số lượng (hoa) bao nhiêu sợi Khâu xong người ta vỗ nước, rút hết sợi dọc và sợi ngang của miếng vải ra Như thế ta được một “vốn hoa” (1) Khi đã

có vốn hoa bước tiếp theo là “vào hoa” để dệt

Thao tác dệt hàng hoa phức tạp hơn dệt hàng trơn Dệt hàng hoa đòi hỏi phải

có hai người: một người dệt, một người kéo hoa Các động tác khi dệt của hai người phải nhịp nhàng ăn khớp với nhau Người dệt là người đóng vai trò điều khiển chính Đối với người kéo hoa, do có sẵn “vốn hoa” nên chỉ việc kéo lần lượt từng sợi go ngang, đến khi hết một lượt lại đẩy nó lên vị trí cũ Và lặp lại từ đầu cho đến khi hết đoạn dệt hoa, người kéo hoa có thể đi làm việc khác Để tiết kiệm thời gian hai khung dệt hoa chỉ cần một người kéo hoa là đủ Nhưng khi dệt những hàng dày như lụa vân thì một khung cửi cần một người kéo hoa liên tục

Trong tất cả các sản phẩm hàng hoa ở Vạn Phúc thì gấm là mặt hàng quý nhất, đắt nhất Gấm là bà chúa của mọi mặt hàng Hàng gấm thời phong kiến chỉ có vua quan và tầng lớp thượng lưu mới được dùng Nghề dệt gấm đòi hỏi người thợ không những phải có kỹ thuật tinh xảo mà còn phải có cả óc thẩm mỹ tuyệt vời trong cách bố trí hoa văn và màu Vì thế không phải bất cứ ai học là biết dệt Đã có không ít người sau bao nhiêu năm theo học mà vẫn không thành công lại phải quay

về với công việc quay tơ, hồ sợi Dệt gấm cũng cần phải có hai người, một người dệt, một người kéo hoa Người thợ dệt phải nhớ thứ tự các màu khi lao thoi, có khi dệt tới 7 màu Cách dận chân đòn cũng rất khó Một khung cửi dệt gấm có 16 chân

(1) Vốn hoa: Một kiểu hoa khi dệt xong ngời ta lại đem cất đi, lần sau muốn dệt loại hoa đó thì đem ra dệt tiếp

Trang 26

đòn (8 chân đòn ngang và 8 chân đòn dọc): 8 chân đòn ngang ăn với 8 bàn go lân, 8 chân đòn dọc cứ một chân đòn buộc với hai bàn go đè Khi dận một chân đòn dọc thì một chân đòn ngang kéo xuống, một bàn go lên kéo lên và một bàn go đè, đè xuống Người dệt phải luôn luôn theo dõi xem hàng có bị sai màu và hoa của người kéo có đúng màu không Nghề dệt gấm tinh xảo là vậy và dệt gấm cũng là nghề cao quý nhất trong các mặt hàng dệt ở làng Vạn Phúc

Khâu chuội

Các mặt hàng tơ lụa sau khi dệt xong phải đem chuội cho mềm mại và bóng Chuội có nhiều phương pháp khác nhau nhưng phương pháp cổ truyền phổ biến rộng rãi trong dân làng Vạn Phúc là chuội bằng gio rơm nếp Cách thức chuội như sau: gio rơm nếp cho vào rá vo gạo, bên dưới để cái xoong, dội nước lã vào rá (không được xát), lấy lượng nước vừa đủ với số lượng vải cần chuội Vải lụa ngâm vào nước lã cho ngấm ướt đều, sau đó cho vào nồi nước gio đã lọc đun sôi 15 phút, lấy đũa lật nhẹ rồi lại đun sôi 15 phút nữa là được Sau đó đem lụa giặt sạch bằng nước lã Tấm vải có màu mỡ gà và bóng mịn, trông rất đẹp mắt

Nhuộm thâm

Lụa dệt xong có mầu mỡ gà, nếu không thích vải màu mỡ gà thì đem vải nhuộm thâm Cách thức làm đơn giản như sau: vải lụa nấu sạch hồ bằng nước bồ hòn, sau đó nhúng vào nước lá băng, lá sồi, đun sôi nhiều lần trong một ngày Tiếp

đó đem dấm bùn nhuyễn, cứ làm thế trong 3 ngày thì được Sau cùng đem tấm hàng giặt sạch rồi nhúng vào nước thóc nếp rang cháy đem đun sôi cho bóng vải, ta sẽ có

được tấm hàng thâm bền màu và bóng

 Các sản phẩm chính:

Mặt hàng dệt Vạn Phúc đa dạng, phong phú với nhiều chủng loại, lụa, là, gấm vóc vân, the, lĩnh, băng quế, đoạn sa, kỳ cầu, tít so, đũi… nhưng lụa và gấm là hai mặt hàng nổi tiếng nhất Lụa Vạn Phúc mịn màng với đủ các màu và nhiều loại hoa văn, kỹ thuật dệt lại rất tinh xảo, hoa có cái chìm, cái nổi, có cái nhìn thấy ngay

Trang 27

nhưng cũng có cái phải soi lên ánh sáng mới thấy hết cái hay cái đẹp (Xem thêm phần phụ lục)

Các sản phẩm truyền thống của làng Vạn Phúc

Gấm là mặt hàng có nền dày bóng như satanh Nền gấm thường là các màu: lam, hồng cánh chấu, huyền Hoa có sắc màu tươi, sặc sỡ, được dệt như thêu trên nền sa tanh Một tấm gấm thường có nhiều màu, phổ biến là 5 màu hay 7 màu, còn

được gọi là gấm ngũ thể hay thất thể Do sợi ngang và sợi dọc mỗi góc nhìn khác nhau, thấy có những sắc màu khác nhau Đứng ở góc này thấy gấm màu hồng rực

rỡ, đứng ở góc khác lại thấy gấm màu xanh lơ hay xanh lam Gấm có vẻ đẹp rực rỡ

và lộng lẫy, được coi là bà hoàng của các sản phẩm dệt

Vân là mặt hàng nền lụa mỏng hơn satanh Mặt hàng này bao giờ cũng có hai kiểu hoa dệt trên một tấm lụa: hoa nổi và hoa chìm Hoa nổi bóng mịn trông rất

đẹp, còn hoa chìm phải soi lên ánh sáng mới thấy được Nét độc đáo của hàng vân

là ở chỗ hoa chìm (dệt thưng) nhưng khi dệt không bị xô, bị dạt bởi vì khi dệt được dệt bằng go võng, các sợi của cánh hoa được bện chặt với nhau thành từng đố Vân

là mặt hàng xếp thứ hai sau gấm

Lụa có hai loại: lụa trơn và lụa dệt bằng hoa tơ nõn Đây là mặt hàng dệt theo kiểu đan “lóng mốt” cho sợi dọc và sợi ngang khít vào nhau tạo nên vẻ mịn màng óng ả, có độ dày vừa phải

The, lương, sa, xuyến, băng, quế là những mặt hàng dệt thưng Sợi dệt the bóng và mảnh Sợi dọc ít từ 3000 – 3500 sợi nên the thưa Dệt the là bố trí các sợi dọc, ngang không khít nhau, tạo nên hình thưng theo hàng ngang Có loại the trơn

và the hoa Sa tựa như the nhưng dệt rất mỏng Dệt xuyến thì cứ dệt sợi ngang mấy sợi mau lại đến mấy sợi thưa, trông mỏng và thoáng tựa như mành mành, mỏng hơn the trơn, có khi đắt hơn cả the hoa Băng, quế cũng là mặt hàng thưng nhưng lại mỏng hơn the, sa, trông tựa như mắt dần, trong suốt, có cài hoa lác đác Băng sử dụng 3000 – 3500 sợi dọc, nhẹ chỉ bằng 0,7 lần the Mỗi mặt hàng một vẻ, không loại nào giống nhau nhưng đều có đặc tính chung là bền và khi giặt không bị xô sợi

Trang 28

Lĩnh, đoạn, vóc, satanh là những mặt hàng dày, có số lượng sợi dọc nhiều hơn lụa, nhưng mỗi loại có những nét khác nhau Lĩnh có số lượng sợi dọc tới 8000 sợi, khi dệt sợi dọc đưa lên nhiều tạo nên sự bóng nhoáng cho mặt hàng Đoạn, vóc, satanh cũng dệt theo nguyên tắc như dệt lĩnh nhưng dày hơn, sợi dọc nhiều hơn cả gấm, đặc biệt là sợi dọc và sợi ngang nổi đều nhau, mịn màng, óng ả, trông rất đẹp Lượt là mặt hàng dệt thưa, mỏng, mịn, rất mềm Là dệt bằng tơ nõn, có những

đường dọc nhỏ đều Nhiễu là thứ lụa dệt bằng sợi đã se nên mặt nổi cát trông tựa như kếp Cấp mỏng gần như the, lượt và thường hay cài hoa Sồi dệt bằng tơ gốc Nái được dệt từ sợi kéo từ vỏ kén bên ngoài nên sợi to, thô có nhiều lông và ghẻ, thường có màu vàng đậm, cứng nhưng bền Đũi được dệt từ tơ trong cùng của kén tằm, dày và bền như nái nhưng mềm và mịn hơn

Trên đây là một số mô tả về sản phẩm cổ truyền của nghề dệt làng Vạn Phúc trước 1945, và còn tồn tại đến ngày nay Hiện nay ở Vạn Phúc với kỹ thuật dệt mới

đã tạo ra khoảng 79 chủng loại sản phẩm mà trong luận văn này không có điều kiện mô tả hết

 Tổ chức sản xuất

Trước cách mạng tháng tám 1945, dân cư Vạn Phúc chủ yếu sống bằng nghề dệt Hoạt động sản xuất diễn ra trong phạm vi gia đình Phần lớn các gia đình ở đây chỉ làm nghề dệt, một số khác kiêm thêm nghề nông, các gia đình chỉ làm thuần nông hầu như không có

Đối với những gia đình làm nghề dệt, lực lượng sản xuất chính trong gia đình

là bố mẹ, con cái… ngoài ra còn thuê thêm thợ dệt Trong gia đình sự phân công lao

động như sau:

Ông chủ nhà (hoặc bà chủ nhà nếu chồng chết) là người cai quản, quán xuyến mọi công việc trong nhà, đồng thời là người đi bán hàng, mua tơ và chi tiêu trong gia đình Bà vợ lúc còn khoẻ tay, tinh mắt thì dệt vải, khi về già sức yếu thì hồ sợi, mắc sợi, công việc dệt cửi thì do thợ hoặc con cháu đảm nhận Trẻ nhỏ thường làm công việc quay tơ, suốt, đẽo

Trang 29

Thợ học việc có thể là con cháu họ hàng trong gia đình hoặc là những người

ở nơi khác đến Vào mùa dệt hàng năm, người chủ gia đình đi đón thợ về giúp việc Khi mới đến, nếu chưa biết dệt, thợ học việc phải làm các việc phụ như quay tơ, suốt, đẽo, gánh nước, thổi cơm… họ có tên gọi chung là thợ tơ Thời gian đầu, thợ tơ không được công xá gì ngoài cơm nuôi ngày ba bữa Nhà chủ nào giàu thì một năm cho một bộ quần áo hoặc vài đồng bạc để tiêu Ngoài những công việc phải làm, thợ tơ còn phải luôn để ý xem các thợ hồ, thợ cửi dệt như thế nào Vào lúc buổi trưa, khi thợ cửi nghỉ ngơi cơm nước, thợ tơ tranh thủ tập dệt, lao thoi không có tơ cho thuần thục Khi đã lao thoi thành thạo, thợ tơ xin chủ nhà cho dệt thử, lúc đầu thợ học việc chỉ được dệt ở hàng đầu, về sau nếu dệt đẹp thì mới được dệt cả tấm hàng Thời gian học việc thường từ một đến vài năm Khi đã biết dệt, thợ tơ được gọi là thợ cửi, chuyển sang dệt hàng tấm (tính tiền công theo mét sản phẩm) cho chủ nhà hoặc đi dệt cho gia đình khác tuỳ theo ý của mình

Đối với những gia đình vừa làm nghề dệt, vừa làm nghề nông thì thời gian chính tập trung cho nghề dệt Khi mùa màng đến (tháng 5 và tháng 10) toàn bộ công việc đều thuê thợ nông làm, cử một người trông nom cai quản Chỉ có một số rất ít gia đình cho cấy rẽ chia hai hoặc chia ba Tức là sau khi gặt xong, người chủ

ra tận ruộng lấy thóc thì được 1/2 số lúa thu được, còn muốn thợ gánh về tận nhà thì chỉ được 1/3 số thóc

Như vậy, trong tổ chức sản xuất đã có sự phân công cụ thể trong nội bộ gia

đình, theo từng công đoạn của một quy trình sản xuất ra một tấm lụa thành phẩm,

kể cả khâu đem bán Việc tổ chức sản xuất đã mở rộng vượt ra khỏi phạm vi gia

đình và công việc dệt không còn là chức trách riêng của người phụ nữ Người đàn

ông thực sự đóng vai trò trụ cột trong sản xuất, nhất là trong chế tạo, sửa chữa công

cụ, tạo dáng hoa văn, buôn bán… Các gia đình chính là những đơn vị tổ chức sản xuất Hình thức tổ chức sản xuất này không chỉ thấy riêng ở làng Vạn Phúc mà còn phổ biến trong các làng thủ công truyền thống khác

 Tác động của nghề dệt tới đời sống nhân dân làng Vạn Phúc

Trang 30

Trong một năm ở làng Vạn Phúc có một số tháng hàng bán rất “chạy” với giá cao (thường từ tháng 6 trở đi) lại có một số tháng tơ cao hàng ế, nghề dệt bị ngưng trệ Vì vậy thời gian “chạy” hàng thì cả chủ lẫn thợ của các khâu: quay tơ, hồ, dệt chuội, nhuộm phải lao vào làm việc không kể ngày đêm để làm ra được nhiều hàng

bù vào lúc hàng ế Lúc đó khung cửi dệt hết công suất, liên tục cả ngày lẫn đêm Những lúc thợ dệt nghỉ trưa và tối thì gia đình chủ nhà thay nhau dệt suốt đêm Vì vậy giữa chủ nhà và người làm công không cách biệt, cùng ăn, cùng làm, cùng hưởng Ví dụ như trường hợp của ông Đa Đốp lúc đầu là người đến làm thuê cho

ông Đỗ Văn ái Sau này, nhờ khéo tay, chịu khó học hỏi, lại được tổng đốc Hà

Đông là Hoàng Trọng Phu và người kế nhiệm là Vi Văn Định mời đến dệt gấm cho các bà các cô đầm Pháp xem Họ rất thích thú, khâm phục và ca ngợi sự khéo tay của người An Nam: dệt mà như vẽ tranh Từ đó ông bắt đầu nổi tiếng và được mời

đi nhiều nơi cùng với các quan lại nhằm giới thiệu và quảng bá cho làng nghề Vạn Phúc Ông cưới vợ người làng và ở lại sinh cơ lập nghiệp tại Vạn Phúc(1)

Tơ tằm là thứ nguyên liệu quý đắt tiền, sợi vừa nhỏ vừa mềm hay bị rối, gây lãng phí cho nên những người làm nghề dệt, từ chủ đến thợ, từ già đến trẻ đều phải làm việc một cách cẩn thận, kiên nhẫn, chịu khó, không được nóng vội, để xảy ra sơ xuất một chút là hỏng việc

Do thu nhập của nghề dệt cao, người già và trẻ em trong làng đều có việc làm

và kiếm được tiền nên đã tác động nhiều đến mọi mặt sinh hoạt của nhân dân Vạn Phúc Người bình thường cũng ăn uống no đủ ngày ba bữa Năm ngày một lần lại có phiên chợ Đơ, đa số các gia đình mua thức ăn về “ăn tươi” cả chủ lẫn thợ cùng

“đánh chén” ra trò Các ngày tết 3/3, 5/5 nhất là tết Nguyên Đán mọi người ăn uống vui chơi thoải mái, kể cả người nghèo cũng dễ được vay mượn để sắm tết Cỗ bàn của làng Vạn Phúc bao giờ cũng nhiều thịt cá hơn các làng khác

Trang phục của người Vạn Phúc tươm tất Tết đến đàn ông mặc áo the thâm, quần chúc bâu mới, đàn bà quần chéo go, áo the, khăn nhung Trong dân gian đã

(1) Theo lời kể của cụ Nguyễn Văn Bút – 77 tuổi, xóm Chiến Thắng – Vạn Phúc

Trang 31

truyền tụng về vẻ đẹp của người con gái quay tơ dệt lụa Vì họ chủ yếu làm việc trong nhà nên trông họ trắng trẻo, dịu dàng hơn những người nông dân “một nắng hai sương”, nhưng họ cũng không phải là những người “ngồi mát ăn bát vàng” mà

họ cũng có lúc phải lao động cật lực, phải thức khuya, dậy sớm mới có ăn

1.2.1.3 Các ngành nghề khác

Nghề dệt làng Vạn Phúc phát triển, gần như cả làng làm dệt nên số lượng các hộ làm nghề khác rất ít `

Cả làng có 40 hộ làm các nghề khác, chiếm tỉ lệ là 5,9% trong tổng số 678 hộ của làng

1.2.2 Sự phát triển kinh tế làng Vạn Phúc từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 1.2.2.1 Chính sách của chính quyền phong kiến và thực dân Pháp đối với nghề dệt

Chính sách của chính quyền phong kiến về nghề dệt nói chung có từ rất lâu

đời Trong những ghi chép của các sử gia phong kiến cho thấy từ sau kỷ nguyên độc lập (thế kỷ X) nghề tằm tang đã rất phát triển Đến giữa thế kỷ XI, tơ lụa đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng cho thu nhập của nhà nước Thời nhà Lý đã lập

ra Quyết Khố ti để trông coi việc sản xuất và thu thuế tơ lụa như là một biểu hiện

Trang 32

của sự phát triển mạnh mẽ của nghề dệt lụa Cho đến thời Trần- Hồ cây dâu và nghề dệt lụa đã gắn chặt với mỗi gia đình người Việt như một bộ phận hợp thành của nền kinh tế tiểu nông Thư tịch cũ cho biết “dâu trồng hàng năm để nuôi tằm, mỗi nhà

có năm ba mẫu” Vua Lê đã ba lần ra chiếu khuyến khích sản xuất nông nghiệp và trồng dâu dệt lụa vào các năm 1461, 1485, và 1498 Một hệ thống quan lại trông coi việc nông tang được tổ chức tới tận cấp xã để đôn đốc về việc làm ruộng, trồng dâu, dệt lụa Trồng dâu, chăn tằm dệt lụa lại còn được nhà Nguyễn khuyến khích mạnh

mẽ hơn Năm 1834, vua ra dụ “khuyên dân chuyên cần nghề nông để có thể đủ ăn, chăm lo việc tơ tằm để có đủ mặc”[5-14] Như vậy, các triều đại phong kiến đều rất coi trọng nghề tằm tang, nhờ đó nghề dệt có điều kiện phát triển dẫn đến sự ra đời của những trung tâm dệt nổi tiếng trên khắp nước ta, trong đó có Vạn Phúc

Trước khi thực dân Pháp xâm lược ngành tơ lụa ở nước ta đã phát triển mạnh Năm 1642, cố đạo Alexandre de Rhodes đã tỏ ý ngạc nhiên về mức sản xuất tơ và các sản phẩm tơ lụa ở nước ta Chính vì vậy ngay sau khi bình định nước ta thực dân Pháp nghĩ ngay đến việc khai thác tơ tằm vì theo chúng đó là “một vấn đề trọng yếu

đứng về mặt nguồn lợi công nghệ và thương mại phong phú ở Bắc Kỳ, vì sản xuất

được tơ tốt sẽ mang lại một gia tài to lớn, và các phòng thương mại sẽ tăng giá ngay cao hơn giá hiện nay từ 20 đến 30%”(trích lời tuyên bố của Paul Bert, Thống sứ Trung- Bắc kỳ trong phiên họp ngày 31/8/1886 của Ban nghiên cứu nông nghiệp, công nghiệp và thương mại Trung kì và Bắc kỳ)1 Để phục vụ tốt cho việc khai thác tơ lụa, Pháp đã thành lập một Tiểu ban tơ lụa Trong bản báo cáo ngày 2/12/1886 của Tiểu ban tơ lụa có nói: “Vấn đề tơ lụa ở Bắc Kỳ giữ vai trò quan trọng thứ hai sau thóc gạo, nói như vậy để các ngài thấy rằng ít có thứ sản vật nào đáng cho chúng ta quan tâm và suy nghĩ đến hơn là tơ lụa”1

Trong thời gian Pháp thuộc nghề tơ lụa được khuyến khích giúp đỡ Nghề

ươm tơ trong thập kỷ đầu của thế kỷ XX được “khuyến khích giúp đỡ rất mạnh” Năm 1894, toàn quyền Delanessan ra nghị định phụ cấp cho những nhà sản xuất tơ

1 Dẫn theo Phan Gia Bền, Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, NXB Văn Sử Địa, H, 1957, trang 11

1 Dẫn theo Phan Gia Bền, Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, NXB Văn Sử Địa, H, 1957, trang 12

Trang 33

Từ năm 1905 đến năm 1909, bọn cầm quyền Pháp miễn thuế trồng dâu, rồi đặt các

sở chăn tằm kiểu mẫu, đặt trại sản xuất giống tằm tốt để cung cấp cho những nhà sản xuất tơ… Tại sao lại có sự tích cực giúp đỡ như vậy? Đó chẳng qua là vì trong thời gian này, nghề chăn tằm ươm tơ của Pháp bị nguy ngập lớn, không cung cấp đủ tơ cho các nhà máy dệt lụa nên chúng phải thúc đẩy việc chăn tằm ươm tơ ở Việt Nam để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy ở chính quốc

Còn về nghề dệt lụa, sau chiến tranh thế giới thứ nhất lại được thúc đẩy mạnh hơn Thực dân Pháp ở Đông Dương đã tổ chức hội chợ, triển lãm, chấm thi… và cấp bằng khen, mề đay… đồng thời tuyên truyền rầm rộ cho việc “chấn hưng công nghệ” của chúng Sở dĩ nghề dệt được thúc đẩy vì nghề này chỉ phải bỏ vốn ít, nhân công rẻ mạt lại tận dụng được tài khéo léo của người thợ nên thu được lợi nhuận rất cao Một nguyên nhân sâu sa để Pháp ủng hộ việc phát triển các làng nghề truyền thống là sao cho các làng xã được “bình yên”, không đứng lên chống lại ách thống trị của Pháp, không có những người vô công rồi nghề dễ bị kích động làm loạn, chính Hoàng Trọng Thu đã từng nhận xét rằng “trong thời kỳ lộn xộn 1930(2 tất cả các làng công nghệ đều nổi bật lên tính cách bình yên của chúng… [27-180] Chính với mục tiêu như vậy, Hoàng Trọng Phu đã mở trường mỹ nghệ bản xứ ở Hà Đông

và khuyến khích hầu hết các nơi trong tỉnh đẩy mạnh các nghề tiểu thủ công nghiệp, nhất là nghề cổ truyền Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu sau đó là Vi Văn Định (làm tổng đốc từ 1938 – 1941) và con rể Hoàng Trọng Phu là Hồ Đắc

Điềm lên thay (1941 – tháng 8/1945) chọn một số làng xã hàng đầu lập thành

“làng kiểu mẫu” và áp dụng chính sách “chấn hưng công nghệ” Làng Vạn Phúc có nghề dệt lụa cổ truyền, có vị trí địa lý gần tỉnh lỵ nên mau chóng được lựa chọn và xây dựng thành làng kiểu mẫu

1.2.2.2 Thăng trầm kinh tế làng Vạn Phúc từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 Nghề dệt làng Vạn Phúc có từ lâu đời, được các vua quan và nhân dân ưa chuộng Các vua triều Nguyễn từ Khải Định đến Bảo Đại đều sai người về tận Vạn

2 ý nói cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931 do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo

Trang 34

Phúc mua sa gấm đem về triều cho vua quan dùng Giới sành ăn mặc ở thành thị và giới thượng lưu giàu có ưa chuộng lụa Vạn Phúc, đặc biệt là gấm Vạn Phúc Ông tổ nghề dệt gấm ở Vạn Phúc là ông Đỗ Văn Sửu Ông đã dệt bức trướng rất đẹp thêu bốn chữ “ Hoàng Vương Thọ Khảo” để dân lên vua Tự Đức Đến năm 1906, thực dân Pháp mở hội chợ đấu xảo ở Mác xây giới thiệu nghề thủ công của các nước thuộc địa nhằm thu hút vốn đầu tư của tư bản Pháp thì nghề gấm ở Vạn Phúc mới

được phục hồi và phát triển “Người ta tìm gặp được ông Đỗ Văn ái là cháu nội của

ông Đỗ Văn Sửu Ông ái chỉ là một thợ thủ công bình thường ở làng Vạn Phúc Nghèo khổ, không gia sản, ông ái chỉ vỏn vẹn mấy cái đồ nghề dùng để dệt gấm của người ông để lại tận đáy một chiếc hòm bị mọt, mối đục Ông ái được sự giúp

đỡ cần thiết để khôi phục lại công nghệ quý giá này” [25 – 7] Năm 1921 có thể coi là năm chấn hưng nghề dệt gấm ở làng Vạn Phúc Làng đã có hai xưởng dệt gấm đi vào sản xuất Một do ông Đỗ Văn ái điều khiển, một do ông Nguyễn Mạnh Khang cũng người làng Vạn Phúc phụ trách

Có được thành tựu trên cần phải nhắc đến vai trò của tổng đốc Hoàng Trọng Phu trong việc “chấn hưng công nghệ” ở Hà Đông, đặc biệt trong đó nghề dệt ở Vạn Phúc được ông chú ý nhất Trong cuốn Nhận xét về tỉnh Hà Đông của Toà công sứ Hà Đông đã nhận định về công việc của Hoàng Trọng Phu như sau: “Nhờ

sự phát triển các nghề thủ công do ông đem lại, tạo điều kiện dễ dàng cho các sáng kiến, giúp đỡ bằng tiền mặt, thường xuyên tăng tiền lời cá nhân cho cái vốn bé nhỏ

mà người thợ thủ công cần có để hành nghề của mình, ông đã thắt chặt mối quan hệ trong gia đình bằng lợi ích, khiến cho người ta bận rộn làm ăn chống lại cảnh ăn không ngồi rồi Sự thịnh vượng về kinh tế của tỉnh đã giúp cho người đứng đầu(1) dân bản xứ ở địa phương này rất nhiều trong hoạt động chính trị của mình”[18– 24]

Hoàng Trọng Phu là người tích cực khuyến khích tuyên truyền giới thiệu nghề dệt lụa ở Vạn Phúc với bọn cai trị Pháp, với Toàn quyền Đông Dương, Thống

(1) ý nói là Hoàng Trọng Phu

Trang 35

Sứ Bắc Kỳ và khách nước ngoài ông đưa họ về thăm quan nghề dệt cổ truyền của Vạn Phúc Ông đề nghị với Chính phủ Pháp và triều đình cấp bằng khen và phẩm hàm cho những người thợ giỏi Dưới đây là danh sách khá đông những thợ giỏi làng Vạn Phúc được cấp bằng khen trong kì thi Thủ công nghiệp Đông Dương tổ chức ở

Hà Nội ngày 1/12/1942

- Phần thưởng lớn thứ 2 tặng cho ông Nguyễn Văn Hiên về mặt hàng dệt sợi gai

- Những người được bằng khen trong cuộc thi này và đã được tặng thưởng,

được phong hàm trong các cuộc thi trước gồm:

1 Nguyễn Mạnh Khang – được thưởng kim khánh hạng 3, Bá hộ

2 Nguyễn Văn Bính – được thưởng Bá hộ, kim khánh Cao Miên (Campuchia)

3 Nguyễn Văn Hiền (the hoa) – được thưởng ngân tiền, bằng khen trong cuộc thi tơ lụa tổ chức ở Hà Đông năm 1935 (hạng ưu)

4 Nguyễn Văn Huân (gấm) được thưởng Bá hộ, ngân tiền

5 Đỗ Đình Lương (gấm) được thưởng Nam Long bội tinh, bằng khen và kim khánh bằng vàng ở “Triển lãm giữa các thuộc địa của Pháp tổ chức ở Pari năm 1931

và cuộc thi triển lãm ở Batavia (Inđônêxia) năm 1939

6 Đỗ Văn Nhỡ – được thưởng Kim khánh danh dự bằng bạc, ngân tiền, Bá

hộ

- Những người được tặng bằng khen trong kỳ thi này:

1 Nguyễn Mạnh Ninh (dệt túi xách bằng sợi đay và gai)

2 Nguyễn Chấp Chung

3 Nguyễn Hoàng Sáng (sa và sa lồng)

4 Nguyễn Hữu Văn (Tussor)

5 Nguyễn Mậu Hoè

6 Nguyễn Quang Oánh

Trang 36

ở Campuchia, Viên Chăn ở Lào, Batavia ở Inđônêxia (1939), triển lãm Marseille (1928) ở Pháp, triển lãm hàng thủ công các nước thuộc địa của Pháp ở Pari lần I (1931), Pari lần II (1938)

Trong lần đi dự triển lãm giữa các nước thuộc địa của Pháp ở Pari có các ông Hiền, Huy, Khang, Lương, Chính, được mang theo 2 khung cửi, một khung để dệt gấm, một khung để dệt vân cùng các dụng cụ của nghề dệt để trình diễn ngay tại hội chợ Tất cả chi phí vận chuyển số dụng cụ, tiền tàu biển, tiền ăn ở của đoàn

được Chính phủ Pháp đài thọ Đoàn còn tranh thủ lợi dụng dịp này mang nhiều hàng hoá sang Pháp bán lấy tiền mua máy móc về dệt Ông Chính được ở lại học 2 năm về nghề nhuộm, ông Lương và ông Huy ở lại học nghề dệt công nghiệp 2 năm, cả ba ông đều được cấp bằng kỹ thuật viên

Hoàng Trọng Phu còn cho xây “Nhà bảo tàng Hà Đông” (nay là Tỉnh uỷ Hà Tây) gồm: một nhà bán hàng xây kiểu cổ thật đẹp để trưng bày hàng thủ công của

Hà Đông trong đó có the, lụa, gấm của Vạn Phúc bày bán, hai dãy nhà chia thành nhiều gian để các đồ thủ công tinh xảo, ở đó sản xuất luôn và đặt hàng theo yêu cầu Chỉ riêng Vạn Phúc được lắp khung dệt gấm để dệt cho khách xem Nhà bảo tàng khánh thành vào năm 1925 Các ngày trong tuần, đặc biệt ngày chủ nhật khách nước ngoài vào xem công nghệ sản xuất và mua hàng rất đông Khung dệt cổ truyền

Trang 37

của Vạn Phúc rất được chú ý (ảnh) Lụa Vạn Phúc được mang tên “Lụa Hà Đông” – trung tâm tơ lụa nổi tiếng, nơi có nghề dệt lừng danh nhất vào lúc này

Để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của thị trường nghề dệt ở làng Vạn Phúc

được mở mang hơn trước khung dệt được cải tiến từ khung thô sơ, dậm chân, năng suất thấp lên thành khung cửi, giật dây; từ dệt lụa vuông khổ 40 – 60cm tiến lên dệt lụa tấm khổ 80cm Từ chiếc khung cửi dùng người kéo hoa được thay thế bằng khung cửi dùng đầu máy Zatka Hồng Kông Nhờ đó mà năng suất và chất lượng hàng tăng lên Năng suất tăng từ 3 thước khổ nhỡ lên 8 thước khổ rộng trong một ngày của một khung dệt Từ những năm 30 đến trước chiến tranh thế giới thứ II, số lượng khung dệt của làng tăng lên nhanh chóng

Làng Vạn Phúc lúc đầu chuyên dệt the, lụa, về sau dệt cả vân, sa tanh và dệt lụa hoa, the Vạn Phúc còn dùng để may quần áo ngủ xuất sang Pari Từ năm 1935 – 1936 Vạn Phúc dệt thêm đũi Mặt hàng ngày càng thêm phong phú đa dạng Trai

Trang 38

gái trong làng từ 16 tuổi trở lên đều biết nghề dệt Người tinh ý thì 13 tuổi đã có thể dệt được tấm lụa đầu tiên Mặc dù vậy hàng năm vẫn có tới 3000 người từ các địa phương khác đến học nghề và làm thợ cùng với 3000 dân Vạn Phúc

Lụa Vạn Phúc bắt đầu cạnh tranh với thị trường thế giới, mở ra một khả năng mới cho nghề dệt của làng Thời phong kiến, hàng dệt của Vạn Phúc phần lớn được

đem bán hay trao đổi tại chợ Đình của làng Khi nghề dệt phát triển hơn thì lụa

được đem bán ở chợ Đơ (Hà Đông) – chợ mang tính chất khu vực Đến thời Pháp thuộc, những yếu tố thương mại tư bản đã thâm nhập vào từng bước phá vỡ những phạm vi trao đổi hẹp có tính chất khu vực Lúc đó hàng hoá được đem bán tại Hàng Ngang, Hàng Đào (Hà Nội) Cũng từ đó, chợ Đình và chợ Hà Đông không còn là nơi buôn bán tơ lụa nhộn nhịp như trước kia, hàng dệt của Vạn Phúc chủ yếu đem bán ở Hà Nội Hình thức trao đổi được tiến hành theo đơn vị gia đình Lịch trình các phiên chợ như sau:

Phiên chợ Ngày họp (theo Âm lịch) Hàng Ngang, Hàng Đào (Hà Nội) 1,6

Bên cạnh hình thức đi bán từng gia đình là phổ biến còn có hình thức một vài gia đình liên kết với nhau đi bán hàng Hình thức này xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX do những yếu tố hàng hoá tư bản phát triển mạnh tạo cho một số tiểu chủ ở Vạn Phúc có vốn nhiều, khối lượng hàng dệt lớn, họ cùng nhau bán hàng, bước đầu đặt cơ sở cho sự ra đời của “Cửa hiệu Phúc Hợp” và sau đó là “Công ty Long Vân”

Cửa hiệu Phúc Hợp ra đời năm 1930 – 1931, trên cơ sở mười hộ gia đình (1)

ở làng Vạn Phúc có nhiều khung dệt (5-7 khung) liên kết với nhau đi bán hàng ở Hà

(1) Gồm gia đình các ông: Quỹ Văn, Hai Tẻo, Cả Ngữ, Hai Cẩn, Toản, Oánh, Ba Hng, Xã Cao và bà Ba Đình…

Trang 39

Nội Với số lượng hàng nhiều, mặt hàng đa dạng phong phú: vân, băng, quế, lụa sa… nên hàng của họ dễ bán và đắt hơn những người đi bán lẻ Đến tối khi trở về họ mới chia nhau tiền bán được Uy tín của nhóm gia đình này càng tăng, đã có nhiều chủ buôn đặt mua hàng Lúc này họ không ra Hà Nội nữa mà khách hàng ở khắp nơi (Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn…) đã về tận Vạn Phúc mua Để tiện cho việc giao dịch mua bán, họ mở cửa hiệu ngay tại làng có tên là cửa hiệu Phúc Hợp Nguồn hàng để bán lúc đầu do các gia đình này dệt ra Về sau, do khối lượng hàng cần nhiều họ mua thêm ở chợ Hà Đông và ở trong làng Đã có những khách hàng ở tận Sài Gòn yêu cầu “Phúc Hợp” đưa hàng vào trong đó Một đại lý giao dịch mới có tên là Công ty Long Vân của cửa hiệu Phúc Hợp đã ra đời tại số nhà 229 phố Lagrange (sau chùa Bà Đen) Sài Gòn

Khi Nhật đảo chính Pháp (1945) toàn bộ nhân viên của Công ty Long Vân rút

ra Bắc Trong tình hình đó, cửa hiệu Phúc Hợp chuyển từ Vạn Phúc ra trung tâm thị xã Hà Đông (số nhà 88 – 90 Phố Lê Lợi ngày nay) Tại đây cửa hàng vẫn tiếp tục kinh doanh các mặt hàng tơ lụa và nhuộm Đến tháng 8/1945, cùng với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, cửa hiệu Phúc Hợp chấm dứt hoạt động của mình

Sau một thời kỳ phát triển mạnh (1930 – 1939), đến khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, việc xuất nhập cảng hàng hoá của Pháp bị hạn chế, nghề dệt lụa ở Vạn Phúc bắt đầu gặp khó khăn Nguồn nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm bị hạn chế Nghề dệt có xu hướng đi xuống Đến năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho nghề dệt

1.3 Làng Vạn Phúc trong mối quan hệ kinh tế với các làng nghề phụ cận

Quy trình sản phẩm của một làng dệt là nhập nguyên liệu, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và thuê nhân công phục vụ Trong quá trình sản xuất đó Vạn Phúc có mối quan hệ với các làng xung quanh trong vùng thậm trí với các làng xa hơn

Trang 40

Các nơi cung cấp nguyên liệu cho làng Vạn Phúc rất nhiều Như phần trên đã trình bày, làng Vạn Phúc có hàng trăm khung dệt, mỗi năm tiêu thụ hàng chục tấn tơ nhưng lại không trồng dâu nuôi tằm mà hoàn toàn phải mua của các nơi về để sản xuất Trước cách mạng tháng tám 1945, làng Vạn Phúc thường mua tơ của các làng ở hai huyện ứng Hoà và Mỹ Đức là: Trinh Tiết, Đông Hưng, Thượng Kinh, Thượng Tiết… Ngoài ra còn mua tơ của các nhà bán buôn ở Hà Nội Những năm

1930 còn có nguồn tơ từ nước ngoài như: Pháp, Trung Quốc, Nhật… Việc trồng dâu nuôi tằm hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên nên rất bấp bênh Tình hình sản xuất không ổn định đó làm cho giá tơ hay lên cao Hơn nữa những nhà buôn tơ thường thừa lúc thị trường tơ khan hiếm nâng giá tơ lên cao, gây nhiều khó khăn cho người dệt lụa Với mong muốn ổn định nguồn nguyên liệu, đã có lúc làng Vạn Phúc tổ chức trồng dâu nuôi tằm lấy tơ nhưng không thành công Trong mối quan hệ với các nơi cung cấp tơ, làng Vạn Phúc có phần nào đó bị lệ thuộc dù với tư cách là người mua

Lụa Vạn Phúc sản xuất ra được mang bán và trao đổi ở chợ Hà Đông, ở Hàng Ngang, Hàng Đào (Hà Nội) Những ông chủ trong gia đình thường đi tàu điện ra bán hàng ở Hà Nội Những hôm chạy hàng, các nhà buôn lụa đón họ sẵn ở bến tàu, còn thường thì đem hàng đến bán cho các chủ hiệu quen ở phố Hàng Ngang, Hàng

Đào như: Chí Lợi, Vĩnh Bảo, Phán Chí… Những hôm hàng ế, không bán được thì

đem bán chịu cho các chủ hiệu Sau khi quy đổi số hàng ra tiền, họ mua tơ chịu của chính chủ đó, hoặc lấy giấy tích kê đi mua chịu hàng khác, phiên hàng sau họ ra thanh toán Ngoài Hà Nội thì hai thành phố lớn là Huế, Sài Gòn cũng là khách hàng lớn của Vạn Phúc Lụa Vạn Phúc còn có mặt ở khắp các vùng nông thôn với mặt hàng chính là satanh

Thợ học việc và thợ dệt thuê là lực lượng không thể thiếu trong quy trình sản xuất lụa của làng Vạn Phúc Đại bộ phận thợ làm thuê cho làng Vạn Phúc đến từ làng Vạng, Cống (Hoài Đức), ngoài ra còn có thợ đến từ các tỉnh khác như: Nam

Định, Thái Bình, Hà Nam Vào mùa dệt hàng năm, từ tháng 5 – 6 trở đi, người chủ

Ngày đăng: 06/04/2020, 23:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w