1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

117 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài nhiệm vụ được quy định tại Quyết định 1395/QĐ-TTg ngày 13/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của BHTGVN như: Chi trả BHTG khi TCTD bị

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

LƯU MẠNH HÙNG

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA

BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LƯU MẠNH HÙNG

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA

BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị các tổ chức tài chính

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN

Hà Nội – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân

tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình

Học viên thực hiện luận văn

Lưu Mạnh Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản trị các tổ chức tài chính với đề tài

“Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” là kết quả của

quá trình cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Văn Định đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, khoa Tài chính Ngân hàng đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

Hà Nội, tháng 12 năm 2019

Học viên

Lưu Mạnh Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở lý thuyết về hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 8

1.2.1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi 8

1.2.2 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi 9

1.2.3 Hoạt động nghiệp vụ của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi 10

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động nghiệp vụ của tổ chức BHTG 15

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế 15

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Mô hình quy trình nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu 26

2.2.1 Dữ liệu thứ cấp 26

2.2.2 Dữ liệu sơ cấp 27

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 29

3.1 Tổng quan về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 29

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29

3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 30

3.1.3 Cơ cấu tổ chức, bộ máy hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 32

3.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 34

3.2 Thực trạng hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 36

3.2.1 Nghiệp vụ Cấp, Thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi 36

3.2.2 Nghiệp vụ Giám sát từ xa 36

3.2.3 Nghiệp vụ Kiểm tra tại chỗ 41

Trang 6

3.2.4 Nghiệp vụ Thu phí và Chi trả bảo hiểm tiền gửi 44

3.2.5 Nghiệp vụ Tham gia kiểm soát đặc biệt 49

3.2.6 Nghiệp vụ Thông tin tuyên truyền 50

3.2.7 Nghiệp vụ Đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi 53

3.2.8 Nghiệp vụ Tham gia đánh giá, thực hiện các phương án phục hồi tổ chức tín dụng yếu kém 56

3.2.9 Nghiệp vụ Thực hiện cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt 57

3.2.10 Nghiệp vụ Tham gia quản lý, thanh lý tài sản và thu hồi nợ tại tổ chức tín dụng 59

3.2.11 Nghiệp vụ Mua trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng hỗ trợ tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt 60

3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 61

3.3.1 Những kết quả đạt được 61

3.3.2 Những hạn chế 72

3.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế 80

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 85

4.1 Định hướng phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đến năm 2030 85

4.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 86

4.2.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý 87

4.2.2 Tăng cường năng lực tài chính cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 88

4.2.3 Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 90

4.2.4 Phát triển nguồn nhân lực 91

4.2.5 Hoàn thiện cơ sở vật chất, hệ thống công nghệ thông tin 93

4.2.6 Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế 94

4.2.7 Cơ chế chia sẻ thông tin giữa các nghiệp vụ 95

4.3 Đề xuất, kiến nghị 96

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

17 Ban chỉ đạo Ban chỉ đạo giám sát, kiểm tra và xử lý đối

với quỹ tín dụng nhân dân có vấn đề

18 Tổ chỉ đạo Tổ chỉ đạo giám sát, kiểm tra và xử lý đối với

quỹ tín dụng nhân dân có vấn đề

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 1.1 Số lượng các cuộc kiểm tra của DICJ từ 2013 -

2 Bảng 1.2 Số liệu về tài sản và nguồn vốn của PIDM 22

4 Bảng 3.1 Tình hình cấp, thu hồi Chứng nhận BHTG 61

5 Bảng 3.2

Số lượng các quỹ tín dụng nhân dân được phân loại và thông báo cảnh báo tới Ngân hàng Nhà nước

10 Bảng 3.7 Số liệu tổng hợp đầu tư vốn của BHTGVN 71

11 Bảng 3.8 Số tiền thu hồi trong quá trình thanh lý QTDND

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của Bảo hiểm tiền gửi Việt

2 Hình 3.2 Số lƣợng tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 62

4 Hình 3.4 Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động đầu tƣ so

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) ra đời đến nay, hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) có nhiều nét mới, đặc biệt là sau khi Quốc hội thông qua Luật số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) Ngoài nhiệm vụ được quy định tại Quyết định 1395/QĐ-TTg ngày 13/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của BHTGVN như: Chi trả BHTG khi TCTD

bị phá sản; thu phí BHTG; hoạt động kiểm tra các TCTD; hoạt động giám sát các TCTD; tham gia quá trình kiểm soát đặc biệt (KSĐB); tham gia quản lý, thanh lý tài sản tại TCTD theo quy định của pháp luật; tuyên truyền chính sách pháp luật về BHTG… thì những quy định cụ thể tại Luật này cho phép BHTGVN: Tham gia đánh giá, thực hiện các phương án phục hồi TCTD yếu kém; Thực hiện cho vay đặc biệt đối với TCTD được KSĐB; Mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ TCTD được KSĐB, đã tạo hành lang pháp lý góp phần nâng cao vai trò, vị thế của BHTGVN nói chung và trong việc tham gia vào quá trình cơ cấu lại các TCTD yếu kém nói riêng Đây cũng là các hoạt động nghiệp vụ quan trọng của BHTGVN trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình

Sau gần 20 năm hoạt động và phát triển, BHTGVN đã để lại những dấu ấn

và thành tựu quan trọng, đóng góp vào việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong hoạt động làm cho BHTGVN chưa tương xứng với vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc góp phần duy trì sự ổn định của các TCTD, đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của

hoạt động ngân hàng Xuất phát từ thực tế này tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt

động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của luận

văn nhằm đề xuất các giải pháp làm cho BHTGVN hoạt động hiệu quả thực hiện đúng vai trò của một tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền

Trang 11

Câu hỏi nghiên cứu

Một số câu hỏi nghiên cứu đối với quá trình thực hiện luận văn được đặt ra như sau:

- Thế nào là bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi?

- Nghiệp vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và của BHTGVN bao gồm những hoạt động nào? Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

- Hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN hiện nay được thực hiện như thế nào? Những khó khăn, hạn chế khi triển khai các nghiệp vụ?

- Cần có giải pháp gì để hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu

Mục đích chung của đề tài này là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động của BHTGVN trong giai đoạn hiện nay

b Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hoạt động của BHTGVN

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN hiện nay Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và nội dung nghiên cứu chính là hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu các hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN trong giai đoạn 2013 - 2018 và các giải pháp đề xuất

4 Những đóng góp của luận văn

Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ của BHTGVN

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

4 chương, cụ thể như sau:

Trang 12

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về hoạt động

của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

Chương 4 Giải pháp hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu, đến thời điểm hiện tại có khá nhiều đề tài cả luận văn cũng như đề tài khoa học viết về các vấn đề liên quan đến BHTGVN, có thể kể đến:

Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt

Nam đối với tổ chức tham gia bảo hiểm: Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế

TP Hồ Chí Minh/ Chuyên ngành: Kinh tế tài chính ngân hàng – Học viên Nguyễn Minh Phương/ TS Trần Đắc Sinh hướng dẫn năm 2008 Luân văn nêu sự cần thiết của bảo hiểm tiền gửi và giới thiệu cũng như phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát từ xa của BHTGVN từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện nghiệp

vụ giám sát từ xa của BHTGVN

Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam:

Luận văn thạc sĩ Trường Đại học ngoại thương/ Khoa kinh tế và kinh doanh quốc

tế/ Chuyên ngành kinh tế đối ngoại – Học viên Nguyễn Thùy Dung/ PGS.TS Nguyễn Thị Quy hướng dẫn năm 2008 Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp về cơ chế chính sách, năng lực tài chính, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các hoạt động nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động BHTGVN trong trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế

Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam: Luận văn thạc sĩ

kinh tế Trường Học viện Ngân hàng/ Chuyên ngành kế toán – Học viên Lê Thị Vân Anh/ TS Bùi Khắc Sơn hướng dẫn năm 2010 Luận văn tìm hiểu kinh nghiệm quốc

tế và nghiên cứu tổng quan về bảo hiểm tiền gửi; đánh giá các kết quả đạt được cũng như hạn chế từ phân tích thực trạng hoạt động BHTG ở Việt Nam Qua đó, luận văn đã phân tích nguyên nhân của những hạn chế để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế BHTG ở Việt Nam

Giải pháp phát triển hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam: Luận văn

tạc sỹ Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh/ Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính

Trang 14

Ngân hàng – Học viên Phan Thị Xuân Nga / TS Phan Mỹ Hạnh hướng dẫn năm

2010 Luận văn nghiên cứu sự phát triển hoạt động của BHTGVN thông qua việc kết hợp giữa lý thuyết chuẩn về bảo hiểm tiền gửi với phân tích thực trạng hoạt động của BHTGVN trong mười năm (2000 – 2009) và định hướng phát triển trong giai đoạn mới, đặc biệt chú trọng đánh giá khách quan những mặt mạnh cần phát huy, những tồn tại, yếu kém cần khắc phục từ đó đề ra các giải pháp và kiến nghị sát hợp với thực tiển

Giải pháp hoàn thiện cơ chế tính phí bảo hiểm tiền gửi đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam: Đề tài nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại

Thương – Nhóm sinh viên Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế: Đinh Thị Phương Linh/ Ngành học: Thương mại quốc tế; Trần Thị Trâm Anh/ Ngành học: Kinh tế quốc tế; Trần Ngọc Lan Ngành học: Kinh tế đối ngoại do Thạc sĩ Nguyễn Thị Hiền hướng dẫn năm 2010 Đề tài nghiên cứu làm rõ các khái niệm về tổng quan BHTG, các phương pháp tính phí BHTG và bài học kinh nghiệm của các quốc gia đại diện cho các mô hình BHTG tiêu biểu trên thế giới Đề tài đã trình bày thực tiễn áp dụng phương pháp tính phí BHTG ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đánh giá một cách hiệu quả và cũng đã chỉ ra được những nguyên nhân của các vấn đề còn tồn tại Chỉ

ra định hướng và đưa ra những giải pháp giúp BHTGVN hoàn thiện cách tính phí BHTG đối với các ngân hang thương mại Việt Nam trong thời gian tới

Hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi: Luận văn thạc sĩ Trường Học viện

hành chính/ Chuyên ngành: Quản lý hành chính công – Học viên Vũ Thị Mỹ Hương/ PGS.TS Trần Đình Ty hướng dẫn năm 2011 Luận văn đã hệ thống và có

bổ sung, hoàn thiện những vấn đề về chính sách BHTG, đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng chính sách của BHTG hiện nay qua những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân làm ảnh ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách BHTG Trên cơ sở quan điểm đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về chính sách tài chính quốc gia, tác giả đã đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách BHTG và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách BHTG tại Việt Nam

Trang 15

Pháp luật về hoạt động của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện: Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

/Khoa Luật/ Chuyên ngành Luật kinh tế – Học viên Nguyễn Cửu Lan Phương/ PGS.TS Lê Thị Thu Thủy hướng dẫn năm 2012 Luận văn nghiên cứu một số vấn

đề mang tính lý luận cơ bản về BHTG và đi sâu nghiên cứu về các hoạt động của tổ chức BHTG, đồng thời phân tích để đánh giá thực trạng pháp luật quy định về hoạt động của tổ chức BHTG ở Việt Nam hiện nay để qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của tổ chức này sao cho phù hợp với điều kiện phát triển và yêu cầu thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc

tế - Thực trạng và một số khuyến nghị: Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Quốc gia

Hà Nội/ Trường Đại học Kinh tế/ Chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế - Học viên Hoàng Thị Hồng Quyên/ TS Vũ Đức Thanh hướng dẫn năm

2013 Luân văn đã vận dụng lý luận về BHTG và kinh nghiệm của các nước trên thế giới về hoạt động BHTG vào việc phân tích và đánh giá những kết quả tích cực và hạn chế, chỉ ra những cơ hội và thách thức đặt ra đối với hệ thống BHTG tại Việt Nam từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị hợp lý nhằm giải quyết những mặt hạn chế của hoạt động BHTGVN trong điều kiện hội nhập

Giải pháp đẩy mạnh giám sát từ xa của BHTGVN đối với QTDND cơ sở:

Luận văn thạc sĩ kinh tế Trường Học viện tài chính/ Chuyên ngành: Tài chính Ngân

hàng – Học viên Phan Thị Hiến/ PGS.TS.Hoàng Mạnh Cừ hướng dẫn năm 2013 Luận văn đã làm rõ sự cần thiết và vai trò của hoạt động giám sát từ xa của BHTGVN đối với tổ chức tham gia BHTG là QTDNDCS Phân tích thực trạng hoạt động giám sát từ xa đối với QTDNDCS, chỉ rõ những kết quả và hạn chế, đánh giá nguyên nhân tồn tại từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần đẩy mạnh hoạt động giám sát từ xa của BHTGVN đối với QTDNDCS có chất lượng và phát huy hiệu quả

Quyền và nghĩa vụ của cơ quan Bảo hiểm tiền gửi theo pháp luật Việt Nam:

Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Quốc gia Hà Nội/Khoa luật/Chuyên ngành Luật

Trang 16

kinh tế - Học viên Trần Thị Nguyệt/ PGS TS Lê Thị Thu Thủy hướng dẫn năm

2014 Luận văn đã nghiên cứu, làm rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG theo quy định của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành có

sự so sánh với các quy định trước đây cũng như những thông lệ quốc tế và pháp luật của một số nước trên thế giới về quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức BHTG, từ

đó tác giả đã đưa ra những nhận xét đánh giá và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức BHTGVN

Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam: Luận văn

thạc sĩ Trường Học viện chính sách và phát triển/ Chuyên ngành tài chính công – Nguyễn Thị Thu Hiền/ TS Nguyễn Thạc Hoát hướng dẫn năm 2014 Luân văn đã trình bày tổng quan về BHTG và kinh nghiệm của các nước trên thế giới về tổ chức

và hoạt động của tổ chức BHTG; chỉ ra các kết quả đạt được và những hạn chế qua việc nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của tổ chức BHTG ở Việt Nam Từ

đó đánh giá nguyên nhân để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách BHTG ở Việt Nam

Hoàn thiện hoạt động trả tiền bảo hiểm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam:

Luận văn thạc sĩ / Trường Đại học kinh tế Quốc dân/ Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng – Học viên Nguyễn Thị Thanh Huyền/ TS Nguyễn Đình Lưu hướng dẫn năm 2014 Luận văn đã lựa chọn và vận dụng cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế phân tích thực trạng, để đánh giá kết quả thực hiện và hạn chế, nguyên nhân hạn chế của hoạt động trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động trả tiền bảo hiểm của BHTGVN

Hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam: Luận văn thạc sĩ / Trường Đại học

Quốc gia Hà Nội/ Trường Đại học Kinh tế/ Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng – Học viên Nguyễn Thị Lệ/ TS Nguyễn Thị Như hướng dẫn năm 2015 Luận văn đã nghiên cứu về các hoạt động của BHTGVN, mô hình tổ chức của BHTG, trên cơ sở đánh giá khách quan đó và những kinh nghiệm của các nước như Mỹ, CHLB Đức,

Trang 17

để đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của BHTG đối với sự phát triển lành mạnh của hệ thống TCTD ở Việt Nam

Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát từ xa của BHTGVN: Chuyên đề tốt

nghiệp Trường Học viện ngân hàng/ Khoa Tài chính ngân hang – Học viên Vũ Hoàng Thanh Hải năm 2015 Chuyên đề đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng hoạt động giám sát từ xa của tổ chức BHTG để tìm ra các nhân tố tác động đến chất lượng hoạt động giám sát từ xa đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm giám sát từ xa của các tổ chức BHTG quốc tề Phân tích thực trạng chất lượng giám sát từ xa tại BHTGVN để thấy được những mặt tích cực và hạn chế cũng như nguyên nhân từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát từ xa của BHTGVN

Tổng quan các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghiên cứu về BHTG nói chung và BHTGVN nói riêng không phải là mới Tuy nhiên, tác giả nhận thấy còn

có một số khoảng trống như sau:

- Trong giai đoạn 2013-2018, từ khi Luật BHTG có hiệu lực năm 2013 đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách tổng thể các hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

- Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD năm 2017 ra đời, BHTGVN có một số nhiệm vụ mới mà trước kia chưa có

Do đó, tác giả cho rằng có một khoảng trống trong nghiên cứu về hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN Đây chính là căn cứ quan trọng để tác giả lựa chọn đề tài

của luận văn là: “Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam”

Nghiên cứu này là của cá nhân và không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó

1.2 Cơ sở lý thuyết về hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

1.2.1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Bảo hiểm tiền gửi: Theo Điều 4 của Luật BHTG “Bảo hiểm tiền gửi là sự

bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”

Trang 18

Tổ chức tham gia BHTG: Theo Luật BHTG: “Tổ chức tham gia bảo hiểm

tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân.”

Các tổ chức khi được tham gia BHTG ngoài việc phải có trách nhiệm đóng phí BHTG cho tổ chức BHTG theo quy định của pháp luật thì được quyền yêu cầu

tổ chức BHTG chi trả tiền BH cho người gửi tiền trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán hoặc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hoạt động

Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm được hiểu là những khách

hàng có tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG thuộc đối tượng được bảo hiểm Những người gửi tiền này mặc dù không phải đóng góp bất kỳ khoản tiền nào cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi (bao gồm cả tiền gốc và lãi), trong hạn mức chi trả tiền BHTG (nếu chi trả tiền BHTG có xác định hạn mức), hoặc thanh toán toàn bộ tiền gửi (nếu chỉ trả tiền BHTG không xác định giới hạn)

1.2.2 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi

- Khái niệm: Theo quy định tại Luật BHTG “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ

chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.”

- Chức năng: Tổ chức BHTG có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền

BH tới người gửi tiền thuộc đối tượng được BH tại tổ chức tham gia BHTG, khi tổ chức đó mất thanh khoản và chấm dứt hoạt động; đảm bảo quyền lợi số đông người gửi tiền góp phần duy trì sự lành mạnh và ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng Ngoài ra, tổ chức BHTG còn thực hiện một số nhiệm vụ, chức năng hoạt động về BHTG và một số nhiệm vụ khác có liên quan theo quy định pháp luật tại quốc gia

đó góp phần bảo vệ hệ thống các TCTD và đảm bảo an ninh trật tự xã hội

- Nhiệm vụ: Nhìn chung các hệ thống BHTG trên thế giới hiện nay đều triển

khai các nhiệm vụ theo thông lệ chung, bao gồm các vấn đề như: Công tác kiểm tra, giám sát; sự phối hợp giữa các cơ quan trong mạng an toàn tài chính; xử lý đổ vỡ

Trang 19

ngân hàng; các vấn đề về đối tượng tham gia BHTG và đối tượng được BH; về hạn mức chi trả; về phí BHTG và công tác chi trả BHTG theo thông lệ chung Cũng do

đó, mức độ về quyền hạn của tổ chức BHTG cũng bị ảnh hưởng bởi mức độ nhiệm

vụ thực hiện thông lệ chung này bởi luật về BHTG

- Vai trò: BHTG là sản phẩm chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, nên

vai trò của tổ chức BHTG được xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính luôn gắn liền với yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm, có tính lan truyền cao và được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh:

+ Tổ chức BHTG sẽ thực hiện chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi (bao

gồm cả gốc và lãi) cho người gửi tiền nếu tổ chức tham gia BHTG bị lâm vào tình trạng phá sản và mất khả năng chi trả;

+ Tổ chức BHTG thay mặt Chính phủ đảm bảo sự phát triển an toàn lành

mạnh hoạt động ngân hàng từ khi cấp phép cho đến khi chấm dứt hoạt động;

+ Thông qua vai trò bảo vệ người gửi tiền, xây dựng và củng cố niềm tin của

công chúng đối với hệ thống ngân hàng, BHTG có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình huy động vốn phục vụ phát triển và duy trì an ninh xã hội;

+ Tổ chức BHTG có vai trò quan trọng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng

tài chính - ngân hàng Việc các quốc gia nâng hạn mức chi trả BHTG hoặc tuyên bố

BH toàn bộ tiền gửi của người dân đã góp phần nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng và ngăn ngừa được tình trạng rút tiền ồ ạt

1.2.3 Hoạt động nghiệp vụ của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi

Theo Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả (Bộ nguyên tắc cơ bản) của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI), hoạt động nghiệp vụ của tổ chức BHTG bao gồm những nghiệp vụ sau:

- Tính và thu phí Bảo hiểm tiền gửi

Theo “Nguyên tắc 2 – Nhiệm vụ và quyền hạn: Nhiệm vụ và quyền hạn của

tổ chức BHTG phải được hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu chính sách công và phải được xác định rõ và quy định chính thức trong luật” Theo đó, “Quyền hạn của

tổ chức BHTG bao gồm, nhưng không giới hạn ở các quyền sau:

Trang 20

(a) Tính và thu phí bảo hiểm hay các loại phí khác; …”

Hiện nay, trên thế giới có 02 cách tính phí BHTG thông dụng: Một là Tính phí BHTG theo tỷ lệ phí BHTG cố định (tính phí đồng hạng); Hai là Tính phí theo mức độ rủi ro

Hình thức đóng phí BH được thực hiện theo phương thức: i) Phân bổ tổn thất cho các tổ chức tham gia hệ thống BHTG sau khi đã xảy ra đổ vỡ ngân hàng; ii) Thiết lập quỹ BH và quy định các tổ chức tham gia BHTG phải nộp phí BH vào quỹ theo định kỳ

- Cấp, thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG:

Theo “Nguyên tắc 7 – Cơ chế thành viên: Cần áp dụng cơ chế BHTG bắt buộc đối với tất cả các ngân hàng” Theo đó, các TCTD bắt buộc phải tham gia BHTG và tổ chức BHTG cấp phép cho TCTD đó trở thành thành viên trong hệ thống BHTG thông qua giấy chứng nhận tham gia BHTG

Việc cấp chứng nhận tham gia BHTG cho các tổ chức đủ điều kiện tham gia BHTG là cách tổ chức BHTG thông tin tới người gửi tiền tại TCTD đó, rằng TCTD

mà họ gửi tiền hoạt động bình thường và khoản tiền gửi của họ tại TCTD đó sẽ được bảo hiểm theo quy định, khi TCTD rơi vào tình trạng đổ vỡ Chứng nhận BHTG này sẽ được cấp cho TCTD khi tổ chức đó thỏa mãn điều kiện về nộp hồ sơ tham gia hợp đồng BHTG theo quy định và được áp dụng cho cả hai hình thức tham gia BHTG bắt buộc và tự nguyện Với việc bắt buộc tham gia BHTG đối với các TCTD tại hầu hết các quốc gia hiện nay, thì việc không thỏa mãn yêu cầu về tham gia BHTG đồng nghĩa với việc TCTD đó sẽ buộc phải thay thế người phụ trách hoặc buộc bị thu hồi giấy phép hoạt động

- Đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi

Theo “Nguyên tắc 9 – Nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn” của Bộ nguyên tắc

cơ bản, tổ chức BHTG được cấp khoản vốn ban đầu, khoản vốn này khi chưa sử dụng vì mục đích chi trả thì nó là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi và tổ chức BHTG có trách nhiệm đầu tư và quản lý an toàn

Trang 21

Kinh nghiệm của các tổ chức BHTG trên thế giới, nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi này có thể được sử dụng để: gửi tiền hoặc mua tín phiếu của NHTW; gửi tiền hoặc mua trái phiếu của ngân hàng thương mại; mua trái phiếu chính phủ và các hình thức đầu tư an toàn khác

- Thông tin tuyên truyền

Theo “Nguyên tắc 10 – Nhận thức công chúng: Nhằm bảo vệ người gửi tiền

và góp phần vào sự ổn định tài chính, cần đảm bảo công chúng nhất thiết phải được thông tin thường xuyên về lợi ích và hạn chế của hệ thống bảo hiểm tiền gửi” Theo

đó, Tổ chức BHTG là cơ quan chịu trách nhiệm nâng cao nhận thức công chúng về

hệ thống bảo hiểm tiền gửi, thường xuyên sử dụng nhiều công cụ truyền thông đa dạng trong một chương trình truyền thông toàn diện

Hoạt động Thông tin tuyên truyền truyền tải những thông tin về: (i) Phạm vi (loại hình công cụ tài chính và người gửi tiền được bảo hiểm cũng như không được bảo hiểm); (ii) Danh sách các ngân hàng thành viên và cách thức xác định được các ngân hàng đó; (iii) Hạn mức BHTG; và (iv) Thông tin khác, như nghĩa vụ của tổ chức BHTG

- Giám sát từ xa và Kiểm tra tại chỗ

Theo “Nguyên tắc 13 – Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời: Tổ chức BHTG cần phải là một phần cấu thành một khuôn khổ nằm trong mạng an toàn tài chính có chức năng phát hiện sớm, can thiệp kịp thời các ngân hàng có vấn đề Khuôn khổ này cần cho phép can thiệp trước thời điểm một ngân hàng phá sản Hành động đó phải bảo vệ được người gửi tiền và đóng phần ổn định tài chính”

Để thực hiện nguyên tắc này, các tổ chức BHTG triển khai các hoạt động nghiệp vụ giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ Tùy pháp luật về BHTG của từng nước

mà tổ chức BHTG của nước đó có cách thức triển khai cho phù hợp Tuy nhiên, về

cơ bản, hoạt động giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ triển khai thực hiện những nội dung như sau:

+ Hoạt động giám sát từ xa:

Trang 22

Hoạt động giám sát rủi ro là hoạt động bản chất nhất và cốt lõi nhất trong lĩnh vực BHTG Giám sát để ngăn ngừa và cảnh báo rủi ro đối với hoạt động ngân hàng Đây là nghiệp vụ quan trọng trong quá trình quản lý rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG nhằm đánh giá chính xác, khách quan mức độ rủi ro cũng như tính tuân thủ pháp luật của tổ chức tham gia BHTG

Điển hình, theo kinh nghiệm tại các hệ thống BHTG hiệu quả theo mô hình giảm thiểu rủi ro, hoạt động giám sát của tổ chức BHTG nhằm các mục tiêu: (i) Giảm thiểu tổn thất đối với quỹ BHTG và ngân sách nhà nước thông qua cơ chế phát hiện sớm, can thiệp kịp thời; (ii) Hỗ trợ các nghiệp vụ khác của tổ chức BHTG như thu phí theo rủi ro, hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia BHTG, bảo vệ người gửi tiền tốt hơn và góp phần ổn định hệ thống tài chính hiệu quả hơn Ngoài ra, tùy từng đặc thù mỗi hệ thống BHTG, nghiệp vụ giám sát từ xa được quy định chi tiết các nội dung khác nhau

+ Hoạt động kiểm tra tại chỗ

Hoạt động kiểm tra tại chỗ được tiến hành bám sát kết quả giám sát từ xa và được tiến hành định kỳ hoặc khi phát hiện sai phạm tại tổ chức tham gia BHTG, qua

đó xác định mức độ vi phạm và yêu cầu tổ chức tham gia BHTG có biện pháp khắc phục để trở lại hoạt động bình thường

Cũng giống như nghiệp vụ giám sát từ xa, tùy đặc thù của mỗi hệ thống BHTG khác nhau sẽ có quy định về nội dung kiểm tra khác nhau theo quy định của pháp luật Tuy nhiên hầu hết đều tập trung vào các nội dung như: kiểm tra đảm bảo

là thành viên tham gia BHTG, kiểm tra an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động ngân hàng, xác định tài sản có, thẩm định điều hành ngân hàng, phát hiện các sai phạm trong tính phí, xác định số tiền gửi được bảo hiểm trong xử lý đổ vỡ, các hoạt động khác không bình thường có dấu hiệu vi phạm pháp luật

- Tiếp nhận và tham gia xử lý các tổ chức tham gia BHTG yếu kém

Theo “Nguyên tắc 14 – Xử lý đổ vỡ: Cơ chế xử lý đổ vỡ hiệu quả cho phép

tổ chức BHTG thực hiện chức năng bảo vệ người gửi tiền và đóng góp vào sự ổn định tài chính Khuôn khổ luật pháp cần quy định cơ chế xử lý đặc biệt.”

Trang 23

Theo đó, “Quy trình xử lý và bảo vệ người gửi tiền không hạn chế ở việc chi trả cho người gửi tiền (Các) Cơ quan xử lý có các công cụ xử lý hiệu quả để duy trì các nghiệp vụ ngân hàng cơ bản, và xử lý ngân hàng Các công cụ đó bao gồm nhưng không hạn chế ở quyền thay thế hoặc sa thải lãnh đạo cao cấp, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi và bán tài sản và nợ, cắt giảm hoặc chuyển đổi nợ thành vốn chủ

sở hữu hoặc thành lập tổ chức bắc cầu tạm thời.”

Theo thông lệ quốc tế, quá trình tiếp nhận xử lý các tổ chức tham gia BHTG yếu kém hoặc đổ vỡ tuân thủ theo các nguyên tắc sau: (i) Tối thiểu hóa chi phí tài chính và kinh tế trực tiếp; (ii) Tối thiểu rui ro lây lan; (iii) Đảm bảo mức độ bảo vệ tối thiểu cho người gửi tiền nhỏ lẻ; (iv) Minh bạch; (v) Phản ứng và xử lý kịp thời; (vi) Năng lực và nguồn lực có sẵn phải được cân nhắc cụ thể Tùy theo mô hình tổ chức hệ thống BHTG, các biện pháp tiếp nhận và tham gia xử lý các tổ chức tham gia BHTG được quy định riêng theo pháp luật của mỗi quốc gia

- Chi trả cho người gửi tiền

Theo “Nguyên tắc 15 – Chi trả cho người gửi tiền: Hệ thống BHTG cần thực hiện việc chi trả kịp thời cho người gửi tiền để góp phần ổn định tài chính Thời điểm bắt đầu chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm phải được xác định một cách

rõ ràng và chắc chắn.”

Chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền được thực hiện khi tổ chức tham gia BHTG rơi vào tình trạng đổ vỡ buộc phải giải thể, phá sản; khi đó tổ chức BHTG sẽ thực hiện cam kết thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được BH một khoản tiền ở mức độ nhất định theo hạn mức BHTG đã được quy định Việc TCTD đổ vỡ gây ảnh hướng lớn tới niềm tin của người gửi tiền tới hoạt động ngân hàng của quốc gia, do đó mục đích của việc chi trả là nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền, tạo tâm lý an toàn, ngăn chặn việc rút tiền hàng loạt tại các TCTD khác, góp phần đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động được ổn định

- Tham gia quản lý, thanh lý tài sản và thu hồi nợ tại TCTD

Theo “Nguyên tắc 16 – Thu hồi tài sản: Theo quy định tại luật, tổ chức

BHTG có quyền được thu hồi phần tiền đã bỏ ra trong quá trình chi trả hoặc xử lý ngân hàng theo thứ tự ưu tiên luật định dành cho chủ nợ.”

Trang 24

Theo đó, tổ chức BHTG được công nhận là chủ nợ của TCTD bị phá sản trong quá trình thanh lý TCTD đó Tổ chức BHTG có quyền, trách nhiệm tham gia quản lý, thanh lý tài sản của TCTD bị phá sản Hoạt động nghiệp vụ Thanh lý có ý nghĩa quan trọng nhằm thu hồi lại số tiền đã chi trả BHTG, góp phần củng cố quỹ BHTG cho tổ chức BHTG

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động nghiệp vụ của tổ chức BHTG

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế

1.3.1.1 Nghiệp vụ Giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC)

Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC), được thành lập từ năm 1996, là một ví

dụ điển hình về hoạt động giám sát từ xa của hệ thống bảo hiểm tiền gửi khi thực hiện công tác giám sát từ xa để đưa ra các cảnh báo sớm cho hệ thống tài chính cũng như hỗ trợ việc bảo vệ người gửi tiền

KDIC có Hội đồng giám sát rủi ro liên tục tại chỗ, chịu trách nhiệm giám sát, điều phối và đánh giá các hoạt động giám sát rủi ro Để theo dõi đầy đủ hồ sơ rủi ro của các tổ chức tài chính được bảo hiểm, KDIC đã chỉ định nhân viên cho các lĩnh vực tài chính khác nhau hoặc các tổ chức được bảo hiểm khác nhau để thực hiện giám sát rủi ro trên cơ sở liên tục Từ thông tin thu thập được từ các hoạt động này, các chỉ số rủi ro cho từng ngành hoặc các tổ chức đã được xây dựng và phát triển lên Các cuộc họp đánh giá thường xuyên được tổ chức để xác định các yếu tố rủi ro trong thị trường tài chính và các ảnh hưởng của những rủi ro

Để tăng cường hợp tác giữa các cơ quan liên quan và giảm gánh nặng hành chính đối với các tổ chức tài chính, Biên bản ghi nhớ sửa đổi (MOU) về việc chia sẻ thông tin tài chính đã được ký kết bởi năm cơ quan nhà nước - Bộ chiến lược và tài chính, Ủy ban dịch vụ tài chính, Ngân hàng Hàn Quốc, Sở Giám sát Tài chính và KDIC - vào ngày 15/9/2009 Theo Biên bản ghi nhớ đã sửa đổi, phạm vi thông tin được chia sẻ với Ngân hàng Hàn Quốc và Dịch vụ Giám sát Tài chính được mở rộng hơn nữa Thông tin thu được theo MOU là nguồn dữ liệu chính cho rủi ro cho

mô hình giám sát của KDIC Hợp tác với các cơ quan liên quan, nó liên tục cải tiến tính kịp thời và chính xác của thông tin đó

Trang 25

Trong năm 2016, KDIC đã phát triển một mô hình kiểm tra “sự căng thẳng” (stress test) mà theo đó nó có thể nhanh chóng phát hiện và quản lý các tổ chức tài chính được bảo hiểm có nguy cơ bị phá sản trong điều kiện “căng thẳng” đặc biệt có thể xảy ra KDIC cũng xây dựng một hệ thống lược tả rủi ro cho phép phát hiện sớm và phản ứng kịp thời các lỗ hổng rủi ro của các tổ chức tài chính được bảo hiểm bằng cách quản lý thông tin tài chính quan trọng của họ một cách có tổ chức Dựa trên nền tảng vững chắc để phân tích rủi ro, KDIC thường xuyên theo dõi các rủi ro cho việc đổ vỡ của các tổ chức tài xuất phát từ những thay đổi trong các biến kinh tế vĩ mô và làm giảm khả năng đưa Quỹ bảo hiểm tiền gửi (DIF) vào nỗ lực giải quyết khủng hoảng tài chính toàn diện

KDIC đang cải thiện khả năng giám sát rủi ro và chất lượng của các báo cáo phân tích ở một số khía cạnh KDIC đã mời các chuyên gia từ các tổ chức trong nước và các cơ quan xếp hạng tín dụng phù hợp để đào tạo nhằm tăng cường khả năng phân tích môi trường kinh tế vĩ mô của nhân viên và đánh giá rủi ro, như một phần của các chương trình xây dựng năng lực chung Với mục đích phân tích các yếu tố rủi ro đối với từng khu vực tài chính và rủi ro phá sản của các tổ chức tài chính được bảo hiểm riêng lẻ, KDIC tuyển dụng các chuyên gia bên ngoài đã làm việc cho các tổ chức đó và có chuyên môn cần thiết Hơn nữa, KDIC trao đổi nhân

sự với các cơ quan thông tin tín dụng tư nhân để chia sẻ khả năng phân tích rủi ro

và chuyên môn

Trong năm 2014, khả năng quản lý rủi ro của KDIC liên quan đến các ngân hàng tiết kiệm hỗ trợ đã được đánh giá Trong năm 2015, phạm vi đánh giá như vậy

đã được mở rộng đến tất cả các lĩnh vực tài chính được bảo hiểm Và trong năm

2016, 8 người có nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong các lĩnh vực khác nhau đã được bổ nhiệm làm người đánh giá bên ngoài để đảm bảo cho việc đánh giá được khách quan hơn KDIC sẽ nâng cao năng lực quản lý rủi ro dựa trên những phát hiện khách quan và đầu vào của họ để cải thiện thể chế

Trang 26

1.3.1.2 Nghiệp vụ Kiểm tra tại chỗ của Tổng công ty BHTG Nhật Bản (DICJ)

Luật BHTG quy định Chủ tịch Cơ quan dịch vụ tài chính (FSA) có thể giao quyền cho DICJ thực hiện kiểm tra tại chỗ tổ chức tài chính khi thấy việc kiểm tra

là cần thiết, điều này để đảm bảo việc thi hành hiệu quả Luật

Hiện tại, DICJ thực hiện kiểm tra theo khoản i) chi trả phí BH và kiểm tra theo khoản ii) tổng hợp người gửi tiền theo tên, v.v Khi kiểm tra theo khoản i),

DICJ tiến hành kiểm tra từ quan điểm đảm bảo chi trả phí BH hợp lý, cần thiết cho hoạt động ổn định của hệ thống BHTG Khi kiểm tra theo khoản ii), DICJ tiến hành kiểm tra điều khoản duy trì dữ liệu người gửi tiền cần thiết làm cơ sở dữ liệu tổng hợp dựa trên tên người gửi tiền nhưng cũng dựa trên điều khoản “chia tách quản lý tiền gửi được bảo hiểm và không được BH; phát triển các hệ thống chuẩn bị dữ liệu

về những thay đổi tiền gửi, v.v (các hồ sơ báo cáo chi tiết về tiền gửi và việc rút tiền); chuẩn bị bù trừ giữa tiền gửi và các khoản vay, mua tiền gửi và các yêu cầu bồi thường khác (khoản tiền chi trả dự kiến)” (triển khai thực hiện quy trình thủ tục

và sổ tay, v.v) để đáp ứng thời gian có hiệu lực của Luật BHTG sửa đổi vào tháng 5/2012, từ quan điểm đảm bảo chi trả thuận lợi cho các khoản tiền gửi được bảo hiểm

Bảng 1.1: Số lượng các cuộc kiểm tra của DICJ từ 2013 - 2017 Năm

Số lượng các tổ chức được kiểm

tra

Số lượng ngân hàng

Số lượng ngân hàng Shinkin

Số lượng HTX tín dụng

Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2017 của DICJ

Về việc phối hợp giữa các bên thực hiện kiểm tra tại chỗ, xác nhận cơ sở dữ liệu, đào tạo và tư vấn: Các tổ chức tài chính được yêu cầu cập nhật thường xuyên

Trang 27

cơ sở dữ liệu tổng hợp theo tên người gửi tiền, hệ thống, các thủ tục và sổ tay, v.v Do: i) vì các tài khoản mới được mở và dữ liệu liên quan đến người gửi tiền thay đổi hàng ngày và ii) do sáp nhập giữa các tổ chức tài chính và chỉnh sửa và cập nhật

hệ thống thực hiện thường xuyên Để thúc đẩy có hiệu quả việc duy trì cơ sở dự liệu tổng hợp theo tên người gửi tiền, v.v., kiểm tra tại chỗ, xác nhận cơ sở dữ liệu, đào tạo và tư vấn được triển khai DICJ thúc đẩy thêm các hoạt động hợp tác nhằm phối hợp một cách cơ hữu các biện pháp trên và triển khai một cách hiệu quả:

a Liên quan đến việc triển khai kiểm tra tại chỗ, xác nhận cơ sở dữ liệu; đào tạo và tư vấn, đội ngũ nhân viên DICJ cố gắng chia sẻ thông tin mọi lúc

b Kiểm tra tại chỗ được tiến hành dựa trên việc xem xét các kết quả của việc xác nhận cơ sở dữ liệu, đào tạo và tư vấn Những kết quả này cũng như những kết quả kiểm tra tại chỗ trước đó được phản ánh trong phạm vi và độ sâu của việc kiểm tra các tổ chức tài chính để có thể sử dụng được

c Để hỗ trợ xác nhận kết quả của xác nhận cơ sở dữ liệu, chỉnh sửa dữ liệu, cũng như phát triển các hệ thống, chuẩn bị thủ tục và sổ tay, đội ngũ nhận viên của DICJ đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau từ các tổ chức tài chính và tư vấn các tổ chức tài chính có liên quan cũng như các kết quả của việc xác định và duy trì dữ liệu tổng hợp dựa theo tên người gửi tiền

d Hành động sau kiểm tra tại chỗ: Sau khi DICJ thực hiện kiểm tra tại chỗ, DICJ báo cáo cho FSA kết quả kiểm tra Liên quan đến các vấn đề DICJ đã phát hiện ra, FSA hoặc Cục tài chính địa phương yêu cầu tổ chức tài chính báo cáo về kế hoạch để cải thiện như: kiểm tra lại các vấn đề, phân tích nguyên nhân của các vấn

đề, giải pháp để xử lý các vấn đề… theo quy định tại Điều 24 Luật Ngân hàng Sau

đó, các tổ chức tài chính phải thực hiện một buổi báo cáo trực tiếp về các vấn đề trong quá trình DICJ thực hiện kiểm tra với FSA hoặc Cục tài chính địa phương DICJ tham gia buổi báo cáo này và tư vấn cho các tổ chức tài chính để khuyến khích họ cải thiện các vấn đề hiệu quả

Trang 28

1.3.1.3 Nghiệp vụ Thu phí BHTG của Tổng công ty BHTG Trung ương Đài

Loan (CDIC)

Ngày 27/9/1985 Tổng công ty BHTG Trung ương Đài Loan (CDIC) khai trương hoạt động CDIC là một trong những tổ chức BHTG đầu tiên tại Châu Á áp dụng tính phí BHTG theo rủi ro (hệ thống phí phân biệt) với số lượng thành viên khoảng 400

Phí BHTG của CDIC được tính theo phương thức kết hợp: phí theo rủi ro tính trên cơ sở số dư tiền gửi trong hạn mức BHTG và phí đồng hạng được tính trên phần tiền gửi vượt quá hạn mức BHTG Bắt đầu từ năm 1999 CDIC thu phí theo mức độ rủi ro và từ năm 2007 áp dụng đồng thời mức phí rủi ro và mức phí đồng hạng

Để phục vụ cho việc áp dụng các mức phí rủi ro, CDIC tiến hành đánh giá phân loại các tổ chức trên cơ sở 2 chỉ tiêu là: i) Tỷ lệ an toàn vốn tổi thiểu (CAR) và ii) Điểm tổng hợp của hệ thống xếp loại dữ liệu kiểm tra (CSEDRS) Dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp CAR và CSEDRS, các tổ chức sẽ được phân thành 5 loại A,

B, C, D, E Từ kết quả xếp hạng này CDIC áp dụng các mức phí theo rủi ro khác nhau cho từng nhóm đối tượng

1.3.1.4 Nghiệp vụ Chi trả tiền gửi của Tổng công ty BHTG liên bang Mỹ (FDIC)

Công ty Bảo hiểm Ký thác Liên bang Hoa Kỳ (FDIC) được thành lập năm

1933 sau khủng hoảng tài chính đầu thế kỷ XX để phục hồi uy tín cho nền tài chính Hoa Kỳ sau cuộc khủng hoảng kinh tế FDIC hoạt động như một cơ quan độc lập để giám sát và bảo chứng lượng tiền ký thác ở các ngân hàng Hoa Kỳ, mạng lưới FDIC gồm Trụ sở chính đặt tại Washington DC, 08 chi nhánh khu vực đặt tại các tiểu bang và các chi nhánh địa phương là cơ quan trực tiếp thực hiện việc kiểm tra tại chỗ các tổ chức tham gia BHTG

Năm 1980 Tổng thống Hoa Kỳ ký ban hành Luật quy định bắt buộc các tổ chức nhận tiền gửi phải tham gia BHTG; Năm 1990 ban hành luật quy định FDIC

có toàn quyền tiếp nhận, thanh lý tài sản của tổ chức bị phá sản mà không bị chi

Trang 29

phối bởi cơ quan giám sát, tòa án, Quy định áp dụng tính phí BHTG căn cứ vào mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG

Nguồn vốn chính của FDIC là từ phí BHTG do các ngân hàng thành viên đóng góp vào quỹ BHTG Bên cạnh đó, FDIC có thể được cấp tín dụng từ Bộ Tài chính Mỹ hoặc vay từ Ngân hàng tài trợ liên bang và các tổ chức được bảo hiểm Trước khi ngân hàng bị đóng cửa, cán bộ của FDIC sẽ tìm hiểu kỹ về ngân hàng đó thông qua việc rà soát các tài khoản tiền gửi và ước tính ban đầu về số tiền bảo hiểm cần chi trả Nếu tất cả số tiền gửi không được bán cho một tổ chức mua lại, FDIC sẽ tiến hành xác định những tài khoản tiền gửi nào sẽ được bảo hiểm toàn bộ Việc chi trả và xử lý những tài khoản vượt mức BHTG sẽ được tiền hành vào ngày làm việc tiếp theo sau khi đóng cửa, thông thường, phần lớn ngân hàng sẽ đóng cửa vào thứ Sáu và người gửi tiền sẽ được tiếp cận tiền của họ và ngày thứ Hai

Là cơ quan tiếp nhận của ngân hàng đổ vỡ, FDIC cũng có trách nhiệm thông báo và chi trả toàn bộ hoặc một phần cho các chủ nợ thông thường của ngân hàng sau khi đã trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền

Quá trình chi trả của FDIC diễn ra rất nhanh chóng và chính xác nhờ hoạt động giám sát, can thiệp sớm của FDIC đối với các ngân hàng Việc trao đổi thông tin giữa các thành viên mạng an toàn tài chính quốc gia được quy định cụ thể nên việc giám sát rủi ro, xây dựng các phương án xử lý mang lại hiệu quả cao, qua đó duy trì và nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính quốc gia

1.3.1.5 Nghiệp vụ Thông tin tuyên truyền của Tổng công ty BHTG Canada (CDIC)

Tổng Công ty BHTG Canada (CDIC) sử dụng một số công cụ mang tính giáo dục để tuyên truyền chính sách BHTG như các trò chơi về tài chính ngân hàng, các video tương tác cho phép người dùng theo dõi trực quan những tình huống tài chính khác nhau và vai trò của CDIC trong cả vòng đời của một sản phẩm tài chính, hay quảng cáo trên ứng dụng âm nhạc trực tuyến Spotify nhằm thu hút sự quan tâm của giới trẻ Sau mỗi chương trình truyền thông, CDIC thu thập góp ý từ những người tham gia nhằm đánh giá lại hiệu quả thực hiện của mỗi chương trình đó

Trang 30

Theo đó, CDIC đã lập một kế hoạch sẵn sàng cho trường hợp truyền thông khi có đổ vỡ ngân hàng Cụ thể là cơ quan này đã ký các thỏa thuận hợp tác dự phòng với đối tác như công ty quảng cáo, công ty truyền thông, các tổng đài điện thoại nêu rõ các điều khoản thực hiện khi xảy ra đổ vỡ Ngoài ra, CDIC còn thông qua các blogger nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng lớn để cung cấp những thông tin về BHTG nhằm tăng niềm tin của công chúng Đồng thời, sử dụng kế hoạch truyền thông dự phòng qua các kênh như truyền hình, phát thanh, mạng xã hội nhằm công

bố thông tin chính thức, tránh gây hoang mang dư luận

1.3.1.6 Nghiệp vụ Đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của Tổng công ty

BHTG Malaysia (PIDM)

Tổng công ty BHTG Malaysia (PIDM) được thành lập năm 2005 với nhiệm

vụ quản lý hai hệ thống BHTG từ 21/12/2010 gồm hệ thống BHTG thông thường (DIS) và hệ thống BHTG hồi giáo (Takaful); bảo vệ một phần hoặc toàn bộ tiền gửi hai hệ thống; khuyến khích quản lý rủi ro an toàn và thúc đẩy ổn định tài chính PIDM hoạt động theo Luật PIDM 2011, với chức năng đánh giá rủi ro, kiểm tra, can thiệp và xử lý đổ vỡ

Hoạt động đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi của PIDM và quản trị rủi ro: Luật PIDM là cơ sở pháp lý cơ bản nhất cho các hoạt động nói chung và hoạt động về nguồn vốn và đầu tư nói riêng của PIDM được ban hành năm 2010 và sửa đổi năm

2011 và 2016 Về quyền hạn, trách nhiệm đầu tư vốn, PIDM được phép:

i) Mua trái phiếu đồng ringgit do Chính phủ hoặc NHTW phát hành hoặc bảo lãnh (Đây là hình thức TPCP và tín phiếu kho bạc), mua cổ phiếu được khuyến nghị đầu tư cao đã được tổ chức xếp hạng có uy tín đánh giá; Gửi tiền tại NHTW hoặc bất kỳ TCTC nào; Hình thức đầu tư khác được Bộ trưởng Tài chính phê duyệt theo khuyến nghị của HĐQT;

ii) Vì mục đích bảo đảm không cho bất kỳ rủi ro phát sinh từ hoạt động đầu

tư ở khoản i) nên PIDM có thể được phép thực hiện giao dịch phái sinh trong và ngoài Sở giao dịch (hợp đồng hoán đổi, tương lai, quyền chọn và đặt mua trước); và

Trang 31

iii) Đầu tư danh mục tài sản tại khoản i) từ quỹ BHTG hồi giáo, quỹ bảo vệ gia đình hồi giáo hoặc quỹ bảo vệ hồi giáo nói chung theo quy định hồi giáo

Bảng 1.2 Số liệu về tài sản và nguồn vốn của PIDM (Triệu Ringgit)

Nguồn: Tổng hợp báo cáo của PIDM

Chính sách đầu tư của PIDM phải nhằm bảo toàn vốn và đáp ứng nghĩa vụ tương lai Chính sách đầu tư ưu tiên cho TPCP ngắn hạn đồng Ringgit và trái phiếu

đa kỳ hạn do NHTW phát hành Hằng năm, HĐQT phê duyệt chính sách đầu tư và

áp chỉ tiêu đầu tư vốn thặng dư Danh mục đầu tư gồm các công cụ an toàn, thanh khoản cao, dễ thu hồi vốn khi cần PIDM sử dụng vốn Quỹ cơ chế bảo đảm tiền gửi

do NHTW bàn giao để mua TPCP dài hạn, giấy tờ có giá

Chính sách quản lý đầu tư liệt kê: i) rủi ro thị trường có thể làm giảm giá trị danh mục đầu tư; ii) rủi ro thanh khoản gắn với việc không có sẵn vốn để đáp ứng nghĩa vụ BHTG; và iii) rủi ro gia tăng do can thiệp và xử lý đổ vỡ PIDM định kỳ giám sát tại chỗ và đánh giá rủi ro, so sánh vị thế thị trường với giá trị sổ sách, đảm bảo đủ thông tin phân tích chuyên sâu từ tổ chức chuyên đầu tư trái phiếu và NHTW Hằng quý, báo cáo đầu tư được gửi Ủy ban kiểm toán, HĐQT và Ban điều

Trang 32

hành Chính sách đầu tư được Ủy ban quản lý tài sản (ALCO) định hướng và rà soát hằng năm để khuyến nghị điều chỉnh PIDM ký thỏa thuận với NHTW về dịch vụ quản trị đầu tư (Front-Office) Bộ phận nghiên cứu thị trường và kiểm soát rủi ro là Middle & Back-Office

Bảng 1.3 Thu nhập của PIDM (Triệu Ringgit)

Nguồn: Tổng hợp báo cáo của PIDM

Thách thức đối với PIDM trong đầu tư là khá lớn khi quản lý tới 06 quỹ Đối với các quỹ hồi giáo, việc sử dụng vốn đầu tư phải đảm bảo tuân thủ nguyên tắc hồi giáo, trong đó đảm bảo nguồn vốn không có bất kỳ yếu tố liên quan đến cờ bạc và khoản vay mượn phải dựa trên hợp đồng hồi giáo Quản lý chung các quỹ BHTG phải tuân thủ luật pháp và quy tắc hồi giáo nên việc hài hòa là nhiệm vụ khó khăn

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Lựa chọn mô hình tổ chức và cơ chế quản lý đối với hệ thống BHTG phù

hợp: Không có một mô hình tổ chức và cơ chế quản lý duy nhất phù hợp áp dụng

cho tất cả các quốc gia Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, để có một tổ chức BHTG hiệu quả thì tổ chức đó cần phải được hoạt động một cách độc lập, có trách nhiệm giải trình, minh bạch đồng thời không bị tác động bởi hệ thống chính trị

và khu vực tài chính ngân hàng

Đa số các tổ chức BHTG trên thế giới được cấu trúc là thể chế độc lập thuộc chính phủ hoặc doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (như: Mỹ, Canada, Nhật Bản, Malaysia…) Nhiệm vụ của những hệ thống này thường được quy định rất rõ ràng trong luật Mặc dù mô hình tổ chức này đòi hỏi được đầu tư nhiều hơn so với các

Trang 33

mô hình khác nhưng nó cho phép tổ chức BHTG thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền

Qua đó thấy rằng, để có được một tổ chức BHTG hoạt động hiệu quả nhất, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền thì tổ chức đó phải có nhiệm vụ được quy định rõ ràng đồng thời được trao đầy đủ quyền hạn để thực thi nhiệm vụ được giao và được tạo điều kiện độc lập trong hoạt động

- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý: Khuôn khổ pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động BHTG Vì vậy, Việt nam khi xây dựng kế hoạch và ban hành các văn bản liên quan đến các hoạt động nghiệp vụ BHTG phải được đầy đủ, quy định một cách chi tiết, rõ ràng có thể bao quát được các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện, đồng thời có tính đồng bộ và tính thực thi cao

- Cơ chế phối hợp giữa tổ chức BHTG và các cơ quan có liên quan: Theo kinh nghiệm quốc tế, việc giám sát các TCTD tham gia BHTG không phải chỉ do một cơ quan chịu trách nhiệm Tại các quốc gia, chính phủ các nước xây dựng một mạng an toàn tài chính quốc gia trong đó, các cơ quan sẽ phối hợp với nhau trong việc giám sát các hoạt động của các TCTD tham gia BHTG để đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng nói chung Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các thành viên được quy định rõ trong các Luật liên quan để đảm bảo các thành viên

có được sự phối hợp chặt chẽ với nhau tránh xảy ra sự chồng chéo trong quá trình thực thi nhiệm vụ

Bên cạnh luật, các công cụ khác cũng có thể được sử dụng để điều chỉnh cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan trong mạng an toàn tài chính như: các thỏa thuận, biên bản ghi nhớ chính thức, cử nhân sự tham gia hội đồng quản trị hoặc các ủy ban hỗn hợp

- Chia sẻ thông tin: Việc chia sẻ thông tin đóng vai trò quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạt động của từng cơ quan cũng như của cả mạng an toàn tài chính quốc gia Do chức năng, nhiệm vụ được phân công, cơ quan giám sát là nguồn thông tin quan trọng nhất về hệ thống ngân hàng, do đó cần phải có quy định rõ ràng về việc chia sẻ thông tin giữa cơ quan này với các thành viên khác trong mạng

Trang 34

an toàn tài chính Đối với tổ chức BHTG, thông tin có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm đánh giá và dự báo mức độ rủi ro của các ngân hàng để có phương án đối phó kịp thời với các vấn đề phát triển Do đó, để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao,

tổ chức BHTG cần phải được cung cấp thông tin đầy đủ, cập nhật và chính xác

- Nguồn nhân lực: Để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ, các tổ chức BHTG của một số nước trên thế giới đã mời các chuyên gia từ các tổ chức trong nước và những đơn vị được xếp hạng tín dụng cao phù hợp để đào tạo nhằm tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, ví dụ như KDIC Thậm chí, họ còn tuyển các chuyên gia đã làm cho các tổ chức tài chính để chọn được người có chuyên môn cần thiết Ngoài tuyển dụng thì việc thực hiện trao đổi nhân sự giữa các cơ quan thông tin tín dụng tư nhân để chia sẻ khả năng phân tích rủi ro và chuyên môn cũng mang lại hiệu quả cao Điều này đã giúp sẽ giúp cho tổ chức BHTG có một nguồn lực dồi dào, chất lượng cao để phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ

Trang 35

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mô hình quy trình nghiên cứu

Trong đề tài “Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” tôi thực hiện quy trình nghiên cứu như sau:

Bước 1: Tìm hiểu tổng quan về bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi,

hoạt động nghiệp vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

- Các khái niệm về bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi, hoạt động nghiệp vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

- Nêu một số kinh nghiệm hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên thế giới

Bước 2: Tìm hiểu thực trạng hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN

Để tìm hiểu được thực trạng thực trạng hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN tôi dựa vào phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

Bước 3: Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết ở bước 1 và nghiên cứu thực tế ở

bước 2 sẽ tiến hành kết luận và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nghiệp

vụ của BHTGVN trong thời gian tới

2.2 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

2.2.1 Dữ liệu thứ cấp

- Mục đích: Dữ liệu thứ cấp được sử dụng để nghiên cứu cơ sở thực tiễn nhằm phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của BHTGVN bao gồm các số liệu liên quan đến hoạt động nghiệp vụ, yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ, nguyên nhân

- Phương pháp tiến hành:

+ Bước 1: Thu thập các văn bản, tài liệu, báo cáo kết quả công tác năm, bảng cân

đối kế toán, của đơn vị trong 5 năm (2013 – 2018)

+ Bước 2: Nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn những dữ liệu cần thiết phục vụ

cho đề tài

Trang 36

2.2.2 Dữ liệu sơ cấp

- Mục đích: Thông qua cuộc phỏng vấn các cán bộ trực tiếp làm nghiệp vụ

để thu thập các thông tin, từ đó có thể chọn lọc các thông tin cần thiết để thực hiện viết bài

- Phương pháp tiến hành:

+ Bước 1: Xác định rõ mục tiêu và các câu hỏi cần nghiên cứu

Mục tiêu thông qua cuộc phỏng vấn có thể phác họa thực trạng hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN, những khó khăn và vướng mắc cũng như các hạn chế khi triển khai thực hiện nghiệp vụ

Một số câu hỏi nghiên cứu dự định sẽ xoay quanh các vấn đề về thực trạng, kết quả của hoạt động nghiệp vụ, thuận lợi, khó khăn và giải pháp hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ

+ Bước 2: Chọn đúng đối tượng khảo sát và mẫu khảo sát

Đối tượng khảo sát chính là các cán bộ đang thực hiện các nghiệp vụ của BHTGVN

Cỡ mẫu phỏng vấn: lựa chọn ngẫu nhiên 25 cán bộ tại các phòng nghiệp vụ của BHTGVN

+ Bước 3: Xác định các cách thức thu thập dữ liệu

Để thu thập dữ liệu chính xác phục vụ cho việc phân tích đưa ra giải pháp hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN, tôi sử dụng phương pháp gọi điện thoại và gặp mặt trực tiếp để phỏng vấn các đối tượng khảo sát

+ Bước 4: Đặt các câu hỏi trong bảng hỏi

Tiến hành xác định những câu hỏi cần thiết cho cuộc phỏng vấn để thu thập được dữ liệu cần thiết phục vụ thống kê, phân tích nhằm mục đích trả lời được câu hỏi nghiên cứu

+ Bước 5: Sắp xếp thứ tự các câu hỏi trong bảng hỏi

+ Bước 6: Thực hiện phỏng vấn

+ Bước 7: Tổng hợp kết quả phỏng vấn phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

Trang 37

• Sắp xếp và chuẩn bị dữ liệu bằng bút ký phỏng vấn dựa trên bảng hỏi Các

dữ liệu này sẽ được chuyển vào máy tính để giúp cho quá trình phân tích ở các bước sau

• Đọc toàn bộ dữ liệu để có cái nhìn chung về thông tin Sau đó đọc lại một lần nữa, lần này đọc từng đoạn và gán cho từng đoạn dữ liệu đó một từ hoặc cụm từ khóa Từ khóa này là từ mô tả sát nhất nội dung của đoạn phỏng vấn

• Liệt kê danh mục các từ/cụm từ khóa mình ghi lại Những từ/cụm từ có ý nghĩa gần như hoàn toàn giống nhau thì có thể ghép lại Kết quả của bước này là một danh mục các từ khóa thể hiện ý tưởng chính từ mỗi đoạn dữ liệu

• Viết báo cáo dựa trên những dữ liệu phân tích

Trang 38

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA

BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

3.1 Tổng quan về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Vào giai đoạn đầu những năm 90 của thế kỷ XX, hàng loạt Hợp tác xã tín dụng (HTXTD) hoạt động yếu kém, mất khả năng thanh toán, bị đỗ vỡ Người gửi tiền tại những HTXTD này không được chi trả tiền gửi đúng hạn, đầy đủ, kịp thời, thậm chí mất trắng cả gốc và lãi mà không có tổ chức nào đứng ra bảo vệ, tạo ra tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong công chúng vào hệ thống HTXTD và ngân hàng, dẫn đến tình trạng người gửi tiền đổ xô rút tiền gửi tại các HTXTD và các ngân hàng vượt quá tầm kiểm soát của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế-xã hội Một số ngân hàng quy mô nhỏ cũng lâm vào tình trạng khó khăn về thanh khoản, nhưng chưa có cơ chế xử lý, nguồn vốn ngân sách hạn hẹp không thể giải quyết được triệt để, nên đã tạo ra cuộc khủng hoảng tài chính đầu tiên ở Việt Nam

Trước tình hình đó, Nhà nước cũng như ngành ngân hàng đã có ý tưởng về việc thiết lập một mô hình BHTG, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng và các TCTD Việc nghiên cứu tìm ra một mô hình BHTG ở Việt nam chỉ thực sự được nghiên cứu một cách ráo riết từ giữa những năm 90, khi NHNNVN được giao nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng đề

án về BHTG, đặc biệt là từ khi Quốc hội thông qua hai đạo luật quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng vào tháng 12 năm 1997, đó là Luật NHNNVN và Luật Các TCTD Tại Điều 17 Luật các TCTD đã quy định trách nhiệm của các TCTD là phải bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, thông qua việc TCTD phải tham gia tổ chức bảo toàn hoặc BHTG

Sau một thời gian nghiên cứu, mô hình BHTG đã được hình thành theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 (sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi

NĐ 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005); đến ngày 9/11/1999 Thủ tướng CP đã ký

Trang 39

Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 về việc thành lập TCBHTG với tên gọi “Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” Ngày 07/7/2000 BHTGVN chính thức đi vào hoạt động BHTGVN là tổ chức tài chính Nhà nước, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, có tài khoản và con dấu riêng; hoạt động theo Điều lệ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận

Thời gian đầu, BHTGVN đã phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức Nhiều QTDND được thí điểm thành lập trên các địa bàn khác nhau hoạt động yếu kém, một số quỹ còn có nguy cơ đổ vỡ Trong khi đó, bộ máy tổ chức của BHTGVN chưa ổn định, cơ chế hoạt động chưa được cụ thể hóa Tuy nhiên, được

sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, của Ban lãnh đạo NHNNVN, sự hỗ trợ hiệu quả của các cơ quan chức năng, Bộ, Ban, Ngành và các đơn vị thuộc NHNN, BHTGVN

đã từng bước đi vào hoạt động ổn định Bên cạnh đó, tập thể lãnh đạo và cán bộ, viên chức trong toàn hệ thống BHTGVN đã luôn đoàn kết, nỗ lực vì mục tiêu chung Đến nay, hệ thống BHTGVN gồm có Trụ sở chính và 8 Chi nhánh khu vực

Bộ máy Trụ sở chính bao gồm HĐQT, Ban điều hành cùng các Phòng chuyên môn nghiệp vụ Các Chi nhánh cũng hình thành các phòng chức năng về BHTG

Sự ra đời của BHTGVN là một bước tiến có ý nghĩa quyết định trong nỗ lực của Chính Phủ, của ngành ngân hàng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thể chế

để đảm bảo cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam có một môi trường minh bạch,

an toàn, hiệu quả, theo gần những nguyên tắc và thông lệ quốc tế

3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Là tổ chức tài chính nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, thực hiện chính sách BHTG góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng, BHTGVN thực hiện các nhiệm vụ chính sau:

- BHTGVN thực hiện cấp chứng nhận BHTG cho các TCTGBHTG; cấp bổ sung đủ số lượng cần thiết và kịp thời theo yêu cầu của các tổ chức để niêm yết công khai trước công chúng; thu hồi chứng nhận BHTG đối với các tổ chức bị giải thể, sáp nhập

Trang 40

- Tính và thu phí BHTG theo quy định của pháp luật

- Nghiệp vụ Giám sát từ xa, bao gồm các hoạt động: Kiểm soát các hồ sơ pháp lý tham gia BHTG; thu nhận và kiểm tra thông tin báo cáo trực tiếp từ TCTGBHTG; đánh giá tình hình hoạt động các TCTGBHTG theo định kỳ tháng, quý Đồng thời giám sát việc chấp hành các quy định về BHTG; tuân thủ quy định

về đảm bảo các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động ngân hàng; cảnh báo các rủi ro tiềm tàng và những sai phạm, yếu kém cần khắc phục

- Kiểm tra trực tiếp định kỳ hàng năm trên diện rộng theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất theo kết quả cảnh báo của giám sát từ xa

- Hoạt động đầu tư và quản lý nguồn vốn: Theo quy định hiện tại, BHTGVN được sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để mua trái phiếu Chính phủ, tín phiếu NHNNVN và gửi tiền tại NHNNVN

- Hỗ trợ các TCTGBHTG khi cần thiết: Từ tháng 8/2005, BHTGVN đã triển khai thí điểm nghiệp vụ hỗ trợ tài chính cho các QTDND cơ sở có nguy cơ mất khả năng chi trả Đặc biệt theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Luật các TCTD vừa được Quốc hội thông qua năm 2017 thì BHTGVN có thêm nhiệm vụ là cho vay đặc biệt đối với TCTD được KSĐB

- Mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ TCTD được KSĐB

- Tham gia vào quá trình KSĐB đối TCTGBHTG theo quy định của NHNN; tham gia quản lý, thanh lý tài sản và thu hồi số tiền bảo hiểm phải trả của TCTGBHTG theo quy định của pháp luật

- Chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền khi TCTGBHTG bị phá sản trong phạm vi hạn mức bảo hiểm tối đa theo quy định

- Tổ chức tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHTG; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về BHTG, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ và phương thức quản lý phù hợp với yêu cầu phát triển của TCBHTG

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác khi được Thủ tướng Chính phủ hoặc Thống đốc NHNN giao

Ngày đăng: 06/04/2020, 23:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w