Luận văn này sẽ tập trung phân tích các quy định của pháp luật cạnh tranh đối với các hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, cùng với việc phân tích một số thương vụ mu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Hạnh Nguyên, mã số học viên: 7701270754A, là học viên lớp Cao học Luật Khóa 27 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Nguyễn Hạnh Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI NIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ
SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP 10
1.1 Tổng quan về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 10
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 10
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại sáp nhập doanh nghiệp 10
1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại mua lại doanh nghiệp 14
1.1.2 Vai trò và lợi ích của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 17
1.2 Tổng quan pháp luật Việt Nam về khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.20 1.2.1 Quy định của Luật Cạnh tranh 21
1.2.2 Quy định của các ngành luật khác về hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam 24
1.2.2.1 Luật Doanh nghiệp 24
1.2.2.2 Luật Đầu tư 24
1.2.2.3 Luật Chứng khoán 25
1.3 Lịch sử hình thành quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 26
Trang 51.4 Quy định về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp trong pháp luật cạnh tranh một số
quốc gia khác 28
1.4.1 Mỹ 28
1.4.2 Cộng hòa Liên bang Đức 29
1.4.3 Cộng hòa Liên bang Nga 30
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 32
2.1 Một số quy định của Luật Cạnh tranh nhằm kiểm soát hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam 32
2.1.1 Quy định về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của vụ mua bán, sáp nhập 32
2.1.2 Quy định về xác định ngưỡng thông báo đối với vụ mua bán, sáp nhập 37
2.1.3 Quy định về thông báo tập trung kinh tế 41
2.1.4 Quy định về thẩm định hồ sơ việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 42
2.1.5 Chế tài và xử lý vi phạm 45
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật đối với các hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian qua 48
2.2.1 Vụ việc mua lại Công ty PepsiCo 49
2.2.2 Vụ việc Abbott mua lại CFR 52
2.2.3 Vụ việc sáp nhập giữa Banknetvn và Smartlink 54
2.3 Đánh giá hoạt động mua bán và sáp nhập tại Việt Nam 57
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOẠT THIỆN QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH 61
3.1.2 Thách thức 62
3.2 Đề xuất phương án hoàn thiện 63
Trang 6PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Trang 7CQCT Cơ quan Cạnh tranh
CQQLTTKT Cơ quan quản lý Tập trung kinh tế
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong thời đại nền kinh tế hiện nay, các thương vụ mua lại và sáp nhập doanh nghiệp đang gia tăng nhanh chóng về số lượng, đây là kết quả tất yếu của việc toàn cầu hóa nền kinh tế Chính vì sự gia tăng của các giao dịch này, chúng ta cần phải có một cơ chế để kiểm soát và quản lý những hoạt động này một cách có hiệu quả Luận văn này sẽ tập trung phân tích các quy định của pháp luật cạnh tranh đối với các hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, cùng với việc phân tích một số thương vụ mua bán
và sáp nhập nổi bật, người viết sẽ đưa ra một số đề xuất nhằm bổ sung thêm cho Luật Cạnh tranh của Việt Nam
Từ khóa: tập trung kinh tế, mua bán, sáp nhập, hành vi hạn chế cạnh tranh
Trang 9ABSTRACT
In the era of the current economy, mergers and acquisitions are increasing rapidly in number, which is an inevitable result of the globalization of the economy Because of the increase in these transactions, we need a mechanism to effectively control and manage these activities This thesis will focus on analyzing the provisions of competition law for the merger and acquisition activities in Vietnam, along with the analysis of a number of outstanding mergers and acquisitions The author will make suggestions for some provisions of the law
Key words: economic concentration, mergers, acquisitions, anti-competitive agreements
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại nền kinh tế thị trường tự do như hiện nay, tất cả các tổ chức kinh tế tham gia vào thị trường đều phải cạnh tranh nhằm tồn tại và phát triển, đôi khi, các hành vi cạnh tranh này sẽ được thực hiện thông qua những giao dịch hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường, khiến cho thị trường bị mất cân bằng, gây ra hiện tượng độc quyền.1 Việc cạnh tranh khốc liệt, thay đổi công nghệ và thị trường chứng khoán một cách nhanh chóng đã buộc các doanh nghiệp phải gia tăng hiệu quả kinh doanh Trong thời đại nền kinh tế hoạt động theo phương châm “kẻ thắng có tất cả”2, các doanh nghiệp thất bại trong việc đối mặt với những thử thách này sẽ bị thâu tóm bởi những doanh nghiệp khác, hoặc phải đối mặt với tình trạng phá sản Các hoạt động tái cấu trúc đã giúp cho hàng ngàn doanh nghiệp trên thế giới có thể đáp ứng nhu cầu thay đổi nhanh chóng của thị trường, đồng thời hoạt động có hiệu quả hơn khi phải đối mặt với khó khăn, từ đó gia tăng lợi thế cạnh tranh của họ trên thị trường Vào cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, tái cấu trúc doanh nghiệp bao gồm hợp nhất, sáp nhập và mua lại đã trở thành xu thế mới của nền kinh tế và tài chính trên toàn thế giới
Mua lại và sáp nhập (M&A) tái cấu trúc và các hoạt động quản lý doanh nghiệp đại diện cho một nguồn lực mới của nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế, tạo tiền đề cho tính sáng tạo và hiệu quả trong kinh doanh Có rất nhiều cách để các doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng trong quá trình kinh doanh của mình Một là, tăng trưởng hữu
cơ (“organic growth”), là khi doanh nghiệp trích lại một khoản lợi nhuận mà mình kiếm được, khoản lợi nhuận này cùng với các khoản vốn từ các bên cho vay sẽ được đầu tư lại
để mở rộng doanh nghiệp, bằng cách này, một doanh nghiệp có thể mất thời gian nhiều năm để phát triển Hai là, các doanh nghiệp tìm kiếm đến các giải pháp sáp nhập và mua
1 Neeraj Tiwari (2011), “Merger under the Regime of Competition Law: A Comparative Study of Indian Legal Framework with EC and UK”, Bond Law Review, Tập 23, t 117
2 Arneet Kaur (2014), “Mergers and Acquisitions in the Indian Corporate World”, Guru Nanak Dev University, t.1
Trang 11lại (M&A) để mở rộng kinh doanh Trong thời đại kinh tế bùng nổ như hiện nay, nơi mà mỗi phút chậm trễ có thể tương đương với hàng triệu đô la thất thoát, rất ít người có thể dành thời gian để chờ đợi Mua lại và sáp nhập trở thành một trong những phương pháp quan trọng nhất để tăng trưởng nhanh chóng Nói cách khác, để sống sót trong nền kinh
tế toàn cầu phức tạp và đầy cạnh tranh, các hoạt động mua lại và sáp nhập là điều hiển nhiên nhằm gia tăng quy mô doanh nghiệp bằng cách bắt tay với những doanh nghiệp khác Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều ban hành luật cạnh tranh nhằm bảo vệ nền kinh tế thị trường tự do của họ
Mặc dù việc áp dụng luật cạnh tranh vẫn còn khá mới mẻ trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, nhưng ở các nước phương tây như Mỹ và Canada, luật cạnh tranh đã bắt đầu xuất hiện từ những thập kỉ cuối thế kỉ 19 Canada là quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành Luật Cạnh tranh vào năm 1889, theo sau đó là Mỹ ban hành luật chống độc quyền hay còn được biết đến dưới cái tên Bộ luật Sherman 1890.3 Bộ luật Sherman sau đó được
bổ sung bằng Luật Clayton năm 1914 nhằm bổ sung thêm các quy định về việc đối xử phân biệt về giá, hành vi độc quyền và sáp nhập Cũng trong năm này ở Mỹ, Đạo luật Hội đồng Thương mại liên bang nhằm làm rõ các cách thức cạnh tranh trái pháp luật và các hoạt động gây mất cân bằng nền kinh tế cũng được ra đời Ngoài ra, Luật Cellar-Kefauver năm 1915 cũng đưa ra một số quy định bổ sung cho Luật Clayton về các hoạt động mua lại bị cấm vì gây ra độc quyền kinh tế.4
Đồng thời, tại Vương quốc Anh, chính phủ ban hành những Thông lệ thương mại hạn chế vào năm 1956 (“Restrictive Trade Practices Act 1956”), và sau đó ban hành Luật cạnh tranh năm 1998 và Luật doanh nghiệp năm 2002 quy định về các vấn đề cạnh tranh của các công ty hoạt động trên thị trường5
Riêng ở Việt Nam, nước ta đã ban hành luật cạnh tranh quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc
3 Stephen Calkins (2007) “Competition Law in the United States of America”, in Vinod Dhall (ed.),
Competition Law Today(Concepts, Issues and the Law in Practice), Oxford University Press, New Delhi, t 401-425
4 nt
5 Christopher Bellamy (2007), “The Competition Regime in the UK”, in Vinod Dhall (ed.), Competition Law Today(Concepts, Issues and the Law in Practice), Oxford University Press, New Delhi, t 386-400
Trang 12cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh lần đầu tiên vào năm 2004, sau đó được thay thế bởi Luật Cạnh tranh 2018
Hoạt động mua bán và sáp nhập là nghĩa của cụm từ M&A, hay còn được gọi là Mergers and Acquisitions, đây là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua hình thức mua lại hoặc sáp nhập hai hay nhiều doanh nghiệp để sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó Mặc dù đem lại nhiều lợi ích trong việc giúp cho doanh nghiệp phát triển, các hoạt động mua bán và sáp nhập cũng có thể sẽ dẫn tới những tác động không mong muốn đối với thị trường, gây ra các hoạt động hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh Cùng với việc có hiệu lực của Luật Cạnh tranh năm 2018, hoạt động sáp nhập ở Việt Nam trong thời gian sắp tới cũng sẽ nằm dưới sự điều chỉnh của luật này Trong luận văn này, người viết sẽ chỉ phân tích các hoạt động Mua bán và Sáp nhập trong giới hạn phạm vi của Luật Cạnh tranh năm 2018
Luật Cạnh tranh tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra và quản lý các
hồ sơ thông báo tập trung kinh tế (nói chung) và mua bán và sáp nhập (nói riêng) Quy trình này nhằm đảm bảo các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động mua bán và sáp nhập
có thể chứng minh được các hoạt động của mình không gây ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thị trường Ngoài ra, Việt Nam đang gia nhập ngày càng sâu và rộng với nền kinh tế thế giới Thông qua các cam kết quốc tế, đặc biệt là các cam kết với WTO, Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số Hiệp định song phương với các quốc gia khác, Việt Nam thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới được thực hiện theo hai kênh cơ bản là đầu tư mới (Greenfield Investment)
và mua lại và sáp nhập (Mergers and acquisitions - M&A) Sáp nhập và mua lại là hình thức đầu tư rất quan trọng của FDI Trong 10 năm trở lại đây, số lượng FDI được thực hiện theo hình thức này chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động FDI ở Việt Nam (56,4% vào năm 2019)6 Vì vậy, các quy định này cũng nhằm đảm bảo các doanh nghiệp có vốn
6 Nguyễn Mai (2020), “Đầu tư trưc tiếp nước ngoài 2019, dự báo 2020 và dài hạn”, Báo Đầu tư, truy cập ngày 15/01/2020 tại <https://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-2019-du-bao-2020-va-dai-han- 309569.html>
Trang 13nước ngoài sẽ không sử dụng lợi thế về vốn của mình để thực hiện như hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại thị trường Việt Nam, bảo đảm cho các doanh nghiệp trong nước phát triển ổn định và bền vững
Luật Cạnh tranh 2018 đã quy định một số những yếu tố cốt lõi trong hành vi hạn chế cạnh tranh Các hành vi hạn chế cạnh tranh đều bị cấm theo như quy định của luật, tất cả những hoạt động tập trung kinh tế đều phải tuân thủ theo quy định của Luật cạnh tranh Việc này thể hiện mục đích của nhà làm luật, các hoạt động tập trung kinh tế tạo ra những
cơ hội lớn để doanh nghiệp phát triển Ngược lại, tập trung kinh tế nhằm mục đính hạn chế cạnh tranh lại gây tác động xấu đến thị trường Vì vậy, trong luận văn này, người viết muốn phân tích về các quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể ở đây là Luật Cạnh tranh
2018, đối với các hoạt động tập trung kinh tế nói chung, mua bán và sáp nhập nói riêng, ảnh hưởng của các hoạt động này đến các thị trường liên quan, cũng như hiệu quả của những quy định này đối với Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Thông qua luận văn này, người viết mong muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống
và đầy đủ những quy định pháp luật cạnh của Việt Nam đối với các hoạt động mua bán
và sáp nhập
Mặc dù các hoạt động mua bán và sáp nhập đã không còn xa lạ với các doanh nghiệp trong nhiều năm trở lại đây, nhất là khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đúng mức đến các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh, do các quy định này còn khá mới mẻ, nhất là đối với các doanh nghiệp Việt Nam Trong khi đó, các hậu quả pháp lý đối với việc vi phạm quy định về kiểm soát tập trung kinh tế là khá nghiêm trọng Do thời hiệu xử lý các vụ việc cạnh tranh là 2 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện, các thương vụ mua lại và sáp nhập, dù đã thực hiện xong, nhưng không tuân thủ các quy định về thông báo, hoặc miễn trừ theo quy định của Luật Cạnh
Trang 14tranh, vẫn tiềm ẩn những rủi ro về mặt pháp lý Trong một số trường hợp, bên cạnh việc phạt tiền, cơ quan quản lý cạnh tranh vẫn có thể áp dụng các biện pháp phạt bổ sung hoặc khắc phục hậu quả, buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua
Với xu hướng phát triển của hoạt động này trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới, thì vấn đề cần phải quan tâm là hệ thống pháp luật của Việt Nam đã thích ứng được với những đòi hỏi khách quan của các hoạt động này hay chưa? Những gì mà pháp luật Việt Nam đã có để điều chỉnh hoạt động này? Những vấn đề lưu ý khi áp dụng các quy định này cho các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước Thông qua việc nghiên cứu các quy định về mua bán và sáp nhập, thực tiễn áp dụng ở Việt Nam và so sánh với quy định của các quốc gia khác sẽ giúp đưa ra những nhận xét và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh lĩnh vực này để tạo ra một môi trường pháp lý tương đối thuận lợi để cho hoạt động này phát triển, đồng thời giới thiệu các vấn
đề pháp lý liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế mà các doanh nghiệp cần chú ý thực hiện, để đảm bảo việc tuân thủ quy định của Luật Cạnh tranh và tránh các rủi ro nêu trên
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn này trả lời các câu hỏi sau:
Hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp là gì? Pháp luật Việt Nam có những quy định gì để điều chỉnh các hoạt động này?
Phân biệt các hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp và tác động của chúng đến thị trường kinh tế
Một số phương án đề xuất để việc thực hiện các hoạt động mua lại và sáp nhập không gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường
Trang 15Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích, so sánh các quy định pháp luật của một số quốc gia, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trong việc điều chỉnh hoạt động mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp để tìm câu trả lời cho vấn đề cần nghiên cứu Đồng thời, xem xét tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam để hướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh hoạt động mua bán và sáp nhập trong các doanh nghiệp nhằm tạo một môi trường pháp lý hoàn thiện cho hoạt động này phát triển một cách đồng bộ, có định hướng
Bên cạnh phương pháp so sánh, tác giả đồng thời cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống, phân tích các tình huống mua bán và sáp nhập cụ thể của các doanh nghiệp
để trả lời cho các câu hỏi được đặt ra
4 Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu
Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo đề cập hoặc nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề mua bán và sáp nhập nói chung, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về các quy định của pháp luật Việt Nam về mua lại và sáp nhập của các doanh nghiệp Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách
có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đề tài mang ý nghĩa
lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với luật pháp quốc
tế Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích đảm bảo một môi trường pháp
lý cho hoạt động này được phát triển một cách có định hướng
Phùng Ngọc Việt Nga trong Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam” đã phân tích về hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập trên thế giới Tác giả cũng đã nghiên cứu các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có liên quan đến các hoạt động đầu tư này của các nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam Đồng thời, phân tích các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, xu hướng của các giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp qua các
Trang 16giai đoạn, từ đó tìm hiểu các yếu tố tác động đến xu hướng này Tác giả cũng đưa ra một
số phương hướng và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
Nguyễn Mạnh Thái trong Luận văn Thạc sĩ “Phát triển thị trường mua bán sáp nhập – Hướng đi mới cho Việt Nam” đã phân tích các xu hướng phát triển của hoạt động mua bán – sáp nhập trên thế giới, nghiên cứu những thương vụ mua lại và sáp nhập thành công và thất bại điển hình, từ đó dẫn chiếu đến trường hợp ở Việt Nam, nhằm đưa ra những đề xuất để phát triển lành mạnh thị trường mua bán và sáp nhập của Việt Nam – một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế Ngoài ra, tác giả cũng xác định tiềm năng thực hiện các hoạt động mua bán – sáp nhập của Doanh nghiệp tại Việt Nam, nhằm dự báo xu hướng phát triển trong tương lai của thị trường, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thị trường mua lại và sáp nhập Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là tác giả không đi sâu vào phân tích tác động của các quy định pháp luật đối với hoạt động mua lại
và sáp nhập tại Việt Nam, chính vì vậy các đề xuất cải thiện của tác giả cũng chỉ tập trung vào các doanh nghiệp tham gia hoạt động mua lại và sáp nhập, chứ không đưa ra được những đề xuất đối với hệ thống pháp luật Việt Nam
Hà Ngọc Anh trong Luận án Tiến sĩ luật học “Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam” đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm soát tập trung kinh tế và pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế, từ đó phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế và thực tiễn áp dụng về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm, phục vụ cho các luận cứ đề xuất hoàn thiện pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam
Vũ Thị Ngọc Hà trong Luận văn Thạc sỹ luật học “Pháp luật về kiểm soát tập trung kinh
tế ở Việt Nam hiện nay” Luận văn trình bày những vấn đề lý luận chung về TTKT và pháp luật về TTKT và pháp luật về kiểm soát TTKT; thực trạng quy định của pháp luật
Trang 17và thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện nay; đưa ra phương án
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát TTKT ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh cần nâng cao vai trò của cơ quan QLCT, của các cơ quan hữu quan, năng lực, tính chuyên nghiệp của các thể chế hỗ trợ hoạt động TTKT Xem xét TTKT là một hoạt động nhằm tăng cường sức mạnh thị trường và khả năng gây HCCT của vụ việc TTKT cần phải được xem xét và đánh giá bằng sự tiếp cận kinh tế học kết hợp với tư duy kinh tế
Sách chuyên khảo “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của các tác giả Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn xuất bản năm 2006 Sách này đã giới thiệu một cách tổng quan về cạnh tranh, chính sách cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh nhằm mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản cho các doanh nghiệp, các nhà quản lý kinh tế và các nhà nghiên cứu về cạnh tranh Trong sách có bước đầu phân tích bản chất của TTKT và nguyên nhân cũng như tác động của hoạt động này đối với thị trường cạnh tranh
Các nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập tại Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng về cơ sở lý luận và thực tiễn đối với hoạt động mua lại và sáp nhập và sự phát triển của hoạt động này trong tương lai Những nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập của các tác giả là nguồn tư liệu quan trọng để người viết học hỏi, tham khảo trong quá trình hoàn thiện luận văn Những tài liệu này là những cơ sở vô cùng quan trọng để học viên nghiên cứu kỹ hơn các vấn đề lý luận, đi sâu và phân tích thực tiễn để từ đó đưa
ra những giải pháp, khuyến nghị đối với hoạt động mua bán và sáp nhập ở Việt Nam
5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được trình bày gồm phần mở đầu, phần kết luận và 03 chương, cụ thể:
Chương I: Cơ sở lý luận về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp Chương I tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về mua lại và sáp nhập, bao gồm: khái niệm, đặc điểm và phân loại; phân tích các cơ sở lý luận của pháp luật; nghiên cứu tổng quan về pháp luật quản lý tập trung kinh tế Trong quá trình phân tích, luận văn có lồng ghép phân tích, so sánh với quy định pháp luật một số nước về nội dung liên quan
Trang 18Chương II: Quy định pháp luật về hình thức tập trung kinh tế, phạm vi và ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Đây là những vấn đề cơ bản của pháp luật về kiểm soát các hoạt động mua lại và sáp nhập Trong chương hai, các phân tích dựa theo các chủ đề chính bao gồm: hình thức, phạm vi, ngưỡng kiểm soát và quy trình thực hiện việc kiểm soát TTKT bao gồm thẩm định hồ sơ và đánh giá tác động Ở mỗi phần, luận văn phân tích quy định của pháp luật cụ thể và phân tích một số thương vụ mua lại và sáp nhập nổi bật, từ đó đánh giá thực tiễn áp dụng những quy định này và vai trò của Luật Cạnh tranh đối với việc điều chỉnh thị trường
Chương III: Qua việc nghiên cứu và phân tích trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt nam Chương này đi sâu vào phân tích một số vấn đề còn hạn chế, trên cơ sở những bất cập đã được chỉ ra khi phân tích, đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về việc quản lý các hoạt động mua lại và sáp nhập tại Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI NIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
Tái cấu trúc doanh nghiệp gồm các hoạt động tái cấu trúc hoặc tổ chức lại từng bộ phận trong doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động nhằm thay đổi cấu trúc tổ chức hiện tại hoặc thay đổi vốn của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu và định hướng phát triển của
tổ chức Hoạt động này liên quan đến việc mở rộng hoặc thu nhỏ quy mô của tổ chức, thay đổi cấu trúc tài chính hoặc thay đổi bộ máy quản lý bên trong tổ chức đó Tái cấu trúc doanh nghiệp là một quy trình toàn diện nhằm củng cố hoạt động kinh doanh và làm vững chắc hơn địa vị của doanh nghiệp trên thị trường Tái cấu trúc doanh nghiệp có thể được thực hiện bằng bất cứ hoạt động nào nhằm thay đổi quy mô hoặc lĩnh vực của doanh nghiệp bằng cách tái cấu trúc nguồn vốn, thay đổi chủ sở hữu, thay đổi ban quản trị hoặc kết hợp các phương pháp trên Hoạt động này được thực hiện bằng nhiều phương pháp như sáp nhập, mua lại, chia tách, mua lại và sáp nhập doanh nghiệp bằng nguồn tài chính cho vay (“leveraged buy-outs”), bán lại doanh nghiệp, liên doanh, chia cắt cổ phần, v.v
Tuy nhiên, trong các hình thức tái cấu trúc doanh nghiệp, mua lại và sáp nhập (M&A) là những hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp phổ biến nhất, đồng thời, chúng cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp trên toàn thế giới Chính vì vậy, bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào các hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp bằng phương pháp mua lại và sáp nhập
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập xảy ra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng kết hợp với nhau, có thể là một hay nhiều doanh nghiệp kết hợp với một doanh nghiệp đã tồn tại từ trước hoặc chúng có
Trang 20thể cùng kết hợp để tạo ra một doanh nghiệp mới.7 Hầu hết các hoạt động sáp nhập nói chung đều được thực hiện bằng cách tạo ra một doanh nghiệp từ hai hay nhiều doanh nghiệp Theo Weinberg và Blank, sáp nhập doanh nghiệp được định nghĩa như sau:
“Sáp nhập có thể được xem như một sự sắp xếp lại tài sản của hai doanh nghiệp, chúng
có thể được chuyển giao cho một doanh nghiệp (có thể là một trong hai doanh nghiệp được giữ nguyên sau khi sáp nhập, hoặc là một doanh nghiệp mới) Doanh nghiệp này sẽ
có những cổ đông mới, cũng chính là cổ đông của hai doanh nghiệp cũ Hoạt động sáp nhập bị ảnh hưởng bởi các cổ đông của một hoặc cả hai doanh nghiệp hợp nhất, cùng chia sẻ lợi tức (tự nguyên hoặc bị bắt buộc) với nhau hoặc bán lại lợi tức đó cho một bên thứ ba”.8
Hoạt động sáp nhập có thể được thực hiện theo hai hình thức:
(i) Sáp nhập mua doanh nghiệp: Sáp nhập mua doanh nghiệp là sự kết hợp của hai hoặc nhiều doanh nghiệp vào một doanh nghiệp đang hoạt động.9 Ngoại trừ doanh nghiệp được giữ lại, tất cả các doanh nghiệp còn lại sẽ chấm dứt sự tồn tại của chúng Một ví dụ cho hình thức sáp nhập này là Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank) sáp nhập với ngân hàng TMCP phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) vào năm 2013, DaiABank sau
đó phải chấm dứt toàn bộ hoạt động trên thị trường và chuyển giao toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích cho HD Bank
(ii) Sáp nhập hợp nhất: Hợp nhất là khi hai hay nhiều doanh nghiệp cùng kết hợp tạo thành một doanh nghiệp mới.10 Ở loại hình này, tất cả các doanh nghiệp đều chấm dứt hoạt động và một doanh nghiệp mới được tạo ra, tất cả các doanh nghiệp hợp nhất sẽ chuyển giao toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích cho doanh nghiệp mới, quy đổi bằng tiền mặt hoặc cổ phần Một ví dụ của hình thức này là Tổng công ty Tài chính CP Dầu
7
I.M Pandey (2007), “Financial Management”, Vikas Publishing House (P.) Ltd., New Delhi, t 672
8 M.A Weinberg và cs (1979) “Weinberg and Blank on Take-overs and Mergers”, Sweet và Maxwell, London, t 4
Trang 21khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (Western Bank) hợp nhất thành ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PvcomBank) vào năm 2013
Ngoài ra, sáp nhập còn có thể được phân loại như sau:11
(i) Sáp nhập theo chiều ngang: Sáp nhập theo chiều ngang là hoạt động diễn ra đối
với hai doanh nghiệp cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường.12
Ví dụ, khi hai doanh nghiệp bán lẻ thực phẩm hoặc hai doanh nghiệp xuất bản sách cùng sáp nhập với nhau nhằm tạo ra lợi thế trên thị trường thì được gọi là sáp nhập theo chiều ngang Mục tiêu của việc sáp nhập này là để gia tăng khả năng cạnh tranh trên trị trường bằng việc tạo ra một doanh nghiệp lớn hơn Quy mô kinh tế được mở rộng bằng cách giảm thiểu chi phí cơ sở vật chất và vận hành, mở rộng dòng sản phẩm, loại trừ cạnh tranh, giảm chi phí quảng cáo, mở rộng phân khúc thị trường từ đó kiểm soát thị trường tốt hơn Tuy nhiên, sáp nhập theo chiều ngang cũng có thể đem lại tác động tiêu cực đến với thị trường, số lượng các doanh nghiệp trên thị trường bị giảm đi, khiến cho các doanh nghiệp còn lại có thể tạo ra hiện tượng độc quyền, gây hạn chế cạnh tranh Chính vì vậy, cơ quan nhà nước cần phải đưa ra các quy định nhằm kiểm soát các hoạt động sáp nhập theo chiều ngang, nhằm ngăn chặn các tác động xấu đến với thị trường (ii) Sáp nhập theo chiều dọc: Là hoạt động sáp nhập diễn ra đối với các doanh nghiệp
hoạt động cùng một ngành nhưng ở những vị trí khác nhau trong chuỗi cung ứng Ví dụ, trong ngành dược phẩm, sáp nhập theo chiều dọc có thể diễn ra giữa doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển dược phẩm, sản xuất dược phẩm hoặc phân phối sản phẩm thông qua các cửa hàng bán lẻ.13 Sáp nhập theo chiều dọc có thể diễn ra giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, hoặc doanh nghiệp với khách hàng Hoạt động sáp nhập này được thực hiện nhằm giảm thiểu chi phí ở các giai đoạn trong chuỗi cung ứng Các doanh nghiệp có thể giảm thiểu các chi phí như tìm kiếm nhà cung cấp, hợp đồng, quảng cáo và thậm chí là giảm thiểu chi phí trong việc truyền thông và hợp tác sản xuất Hiệu suất các hoạt động
11 Arneet Kaur, 2014, t.59
12 Tlđd 7
13 Tlđd 9
Trang 22sản xuất cũng được gia tăng vì được vận hành trơn tru khi chịu sự quản lý bởi một tổ chức duy nhất Ngoài ra, khi tài sản của một danh nghiệp được chuyển cho một doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhận chuyển nhượng có thể thu được những lợi ích phát sinh
từ những tài sản đó
(iii) Sáp nhập cùng loại (“Congeneric Merger”): Sáp nhập cùng loại là hoạt động
diễn ra giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực nhưng không cùng sản phẩm hoặc dịch vụ (chiều ngang), cũng không có mối quan hệ nhà cung cấp – nhà sản xuất.14 Hoạt động này có thể diễn ra giữa một doanh nghiệp sản xuất máy móc với doanh nghiệp sản xuất hệ thống dây chuyển, sáp nhập giữa ngân hàng với công ty tài chính hoặc giữa các doanh nghiệp bảo hiểm khi sáp nhập các quỹ ngân sách của doanh nghiệp với nhau Lợi ích của hoạt động sáp nhập này là gia tăng khả năng kinh doanh bằng cách sử dụng các kênh bán hàng hoặc phân phối của tất cả các doanh nghiệp sáp nhập.15
(iv) Sáp nhập hỗn hợp (“Conglomerate Merger”): Sáp nhập hỗn hợp là hoạt động diễn
ra giữa các doanh nghiệp hoạt động ở những lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.16
Mục đích của hoạt động sáp nhập này là nhằm để giảm thiểu rủi ro khi một doanh nghiệp muốn thâm nhập vào một lĩnh vực mới.17 Hoạt động này gia tăng khả năng ổn định khi doanh nghiệp tiến hành quá trình đa dạng hóa sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp Khi hai doanh nghiệp thuộc hai lĩnh vực khác biệt sáp nhập cùng với nhau, doanh thu và lợi nhuận ổn định hơn vì các lĩnh vực khác biệt này sẽ hiếm khi phải chịu những rủi ro từ thị trường cùng một lúc Sáp nhập hỗn hợp còn giúp cho các doanh nghiệp có thể đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ mà không phải tốn nhiều chi phí vào việc xây dựng hệ thống vận hành mới.18
Trang 231.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại mua lại doanh nghiệp
Hoạt động mua lại doanh nghiệp là hoạt động diễn ra giữa các doanh nghiệp đang muốn tìm kiếm kinh tế quy mô của doanh nghiệp doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh và khả năng chiếm lĩnh trên thị trường, tất cả các thương vụ mua lại doanh nghiệp đều được tiến hành bằng việc một doanh nghiệp thực hiện giao dịch mua lại một doanh nghiệp khác – không có các hoạt động thành lập nên một doanh nghiệp mới Hoạt động mua lại thông qua hình thức mua lại cổ phần có thể được thực hiện bằng các cách sau:19
(i) Hợp đồng mua lại với các cổ đông nắm giữ quyền lực lớn trong bộ máy quản trị như thành viên ban giám đốc và các cổ đông lớn nắm giữ quyền biểu quyết
(ii) Mua lại cổ phần của doanh nghiệp trên thị trường tự do
(iii) Nhận chuyển giao cổ phần từ các cổ đông
(iv) Mua lại cổ phiếu mới phát hành của doanh nghiệp
(v) Mua lại vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bằng tiền mặt, hoặc bằng các phương pháp huy động vốn
Hoạt động mua lại đôi khi cũng được thực hiện bằng cách mua lại tài sản của doanh nghiệp Bên mua lại có thể mua lại toàn bộ tài sản hoặc một phần tài sản và nghĩa vụ của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp này có thể là tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, quyền sử dụng đất đai… hoặc vô hình như thương hiệu, bản quyền, đội ngũ nhân sự, kênh phân phối… Phần bán đi sẽ bị tách ra khỏi công ty bán, doanh nghiệp đi thâu tóm chỉ mua phần tài sản mà không tham gia sở hữu doanh nghiệp bán Trong trường hợp bán lại toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp mục tiêu
sẽ chấm dứt mọi hoạt động sau khi đã nhận được tiền của bên mua Bên bán không còn tài sản để hoạt động và tự giải thể.20 Tuy nhiên mua lại tài sản liên quan đến thủ tục pháp
lí khi chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản khiến chi phí của mua lại tài sản có thể lớn hơn chi phí mua lại bằng cổ phiếu Ví dụ: Công ty X mua lại tất cả tài sản của Công ty Y
19 Arneet Kaur, 2014, t.10
20 nt
Trang 24bằng tiền mặt, điều đó có nghĩa là Công ty Y lúc này sẽ chỉ có tiền mặt và các khoản nợ (nếu có) Lúc này, Công ty Y sẽ chỉ còn là một cái vỏ và cuối cùng sẽ đi đến việc phá sản hoặc chuyển sang kinh doanh ở một lĩnh vực khác
Mua lại là một hình thức kiểm soát doanh nghiệp thông qua việc kiểm soát tài sản hoặc
bộ máy quản trị mà không cần phải sáp nhập các doanh nghiệp với nhau Vì vậy, trong một vụ mua lại, hai hay nhiều doanh nghiệp vẫn giữ nguyên tính độc lập, pháp nhân của
cả hai, nhưng sẽ có sự thay đổi trong việc kiểm soát các doanh nghiệp.21 Trong một số trường hợp khác, mua lại có thể chỉ nhằm mục tiêu hợp nhất nguồn vốn hoặc quyền bỏ phiếu của một doanh nghiệp mà không cần phải kiểm soát và quản lý nó
Khác với hoạt động sáp nhập, sau khi mua lại doanh nghiệp mục tiêu vẫn tiếp tục hoạt động trên thị trường Tuy nhiên, khác biệt ở đây là quyền kiểm soát, ban hành các quyết định của doanh nghiệp và hoạt động của hội đồng thành viên Các hoạt động kiểm soát này có thể được thực hiện bằng các cách sau:22
(i) Kiểm soát bằng cách mua lại một phần cổ phiếu biểu quyết của doanh nghiệp mục tiêu
(ii) Kiểm soát quyền biểu quyết của doanh nghiệp mục tiêu thông qua đại diện hoặc
ủy quyền
(iii) Kiểm soát công ty đang nắm giữ cổ phần hoặc phần vốn góp của công ty mục tiêu (iv) Kiểm soát thông qua hợp đồng với cá nhân đang kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu Trong thời đại kinh doanh hiện này, các hoạt động mua lại đã trở thành một trong những chiến lược phát triển chính yếu của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung Tin tức về việc một doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp khác hoặc bị doanh nghiệp khác mua lại xuất hiện trên khắp các báo mỗi ngày Có thể kể đến một số thương vụ mua lại ở Việt Nam như:
21 nt
22 Arneet Kaur, 2014, t.11
Trang 25(i) Tháng 1/2018, Tập đoàn Prudential bán 100% Công ty tài chính Prudential Việt Nam – Prudential Finance (PVFC) cho Công ty TNHH Shinhan Card, một công ty con của Tập đoàn Tài chính Shinhan (Shinhan) với số tiền 151 triệu USD.23
(ii) Tháng 12/2017, Thai Beverage mua lại 53,59% cổ phần của CTCP Nước giải khát Sài Gòn Sabeco với giá trị 4,8 tỷ USD.24
(iii) Tháng 05/2019, Tập đoàn bán lẻ Pháp Auchan Retail quyết định bán lại 18 cửa hàng tại Việt Nam cho Việc Liên hiệp HTX Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op) và rút khỏi thị trường bán lẻ tại Việt Nam.25
Mua loại doanh nghiệp có thể được phân loại theo các cách sau:
(i) Mua lại thân thiện (“Friendly Acquisition”): Là hình thức ban quản trị doanh nghiệp mục tiêu (hay doanh nghiệp bị mua lại) đồng thuận và ủng hộ trong giao dịch mua lại đó.26 Các thương vụ mua lại này thường xuất phát từ lợi ích chung của cả hai bên Nếu ban quản trị của doanh nghiệp mục tiêu chấp nhận đề nghị của doanh nghiệp mua lại, họ
sẽ xác nhận và đề xuất đến các cổ đông của doanh nghiệp.27
Nếu các cổ đông chấp nhận
đề nghị này, giao dịch xem như được hoàn thành Tuy nhiên, nếu các bên tham gia không
đi đến được việc kí kết hợp đồng trong quá trình thỏa thuận, đề xuất mua lại này có thể bị hủy bỏ Ban quản trị của doanh nghiệp mục tiêu có thể đồng ý với giao dịch mua lại ngay từ thời điểm bắt đầu hoặc giai đoạn đầu của việc thỏa thuận, hoặc họ cũng có thể tiếp cận với doanh nghiệp mua lại để đề xuất cho việc mua lại
(ii) Mua lại bất hợp tác (“Hostile Acquisition”): Là hình thức ban quản trị của công ty mục tiêu không đồng ý và sử dụng các biện pháp nhằm chống lại sự thâu tóm hoặc mua lại từ phía công ty đi mua Đây là những thương vụ không có sự ủng hộ của ban quản lý
23 Quốc Thụy (2019), “Tập đoàn Shinhan chính thức được cấp phép mua lại toàn bộ Công ty Tài chính Prudential”, truy cập vào 12/01/2020 tại < https://vietnambiz.vn/tap-doan-shinhan-chinh-thuc-duoc-cap-phep-mua-lai-toan-bo- cong-ty-tai-chinh-prudential-117486.htm>
24
Thành Công (2019), “ThaiBev thâu tóm Sabeco - Thương vụ M&A hàng đầu của ngành bia châu Á “,truy cập vào 15/01/2020 tại <https://baophapluat.vn/4-phuong/thaibev-thau-tom-sabeco-thuong-vu-ma-hang-dau-cua-nganh-bia- chau-a-476674.html>
Trang 26của công ty mục tiêu, bởi đôi khi, việc thâu tóm có thể gây nên những tổn thất cho công
ty mục tiêu.28 Doanh nghiệp có thể thâu tóm bằng cách từ từ mua lại từng phần cổ phần của doanh nghiệp mục tiêu, và doanh nghiệp mua lại phải giữ kín danh tính của họ trong toàn bộ quá trình này Hoạt động mua lại bất hợp tác này xảy ra khi bên mua lại bị ban quản trị của doanh nghiệp mục tiêu từ chối đề nghị mua lại vì giá đề nghị quá thấp, hoặc ban quản trị của doanh nghiệp mục tiêu muốn duy trì quyền quản lý của họ đối với doanh nghiệp.29 Trong hoạt động này, doanh nghiệp mua lại có thể chiếm lấy quyền kiểm soát của doanh nghiệp mục tiêu bằng cách mua lại cổ phần của họ trên thị trường thông qua các công ty tài chính, từ các quỹ hoặc từ chính cổ đông của doanh nghiệp
Điểm khác biệt quan trọng nhất giữa sáp nhập và mua lại là doanh nghiệp sáp nhập sẽ nắm giữ quyền sở hữu và hệ thống vận hành của doanh nghiệp bị sáp nhập, trong khi đó, mua lại có thể được định nghĩa như một hoạt động kiểm soát thông qua việc nắm giữ tài sản hoặc bộ máy quản trị của doanh nghiệp bị mua lại mà không cần phải thực hiện bất kì việc kết hợp nào giữa các doanh nghiệp.30
Trong hoạt động mua lại, hai hay nhiều doanh nghiệp vẫn có thể duy trì sự độc lập giữa các pháp nhân, nhưng có sự thay đổi trong việc điều hành doanh nghiệp Đối với hoạt động sáp nhập, toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp mục tiêu sẽ được chuyển giao cho doanh nghiệp sáp nhập, tuy nhiên, trong trường hợp mua lại, doanh nghiệp mua lại sẽ chỉ nắm giữ quyền biểu quyết của doanh nghiệp bị mua lại bằng cách kiểm soát cổ phần của doanh nghiệp đó.31
1.1.2 Vai trò và lợi ích của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
Vai trò lớn nhất của các hoạt động mua lại và sáp nhập đem lại cho doanh nghiệp chính là
sự phát triển của doanh nghiệp trên thị trường Tuy nhiên, ngoài mục đích này, hoạt động mua lại và sáp nhập cũng đem lại nhiều lợi ích khác cho doanh nghiệp như sau:
Trang 27(i) Hiệu ứng cộng hưởng: Thuyết cộng hưởng cho rằng việc mua lại xảy ra khi tổng
giá trị của doanh nghiệp hậu sáp nhập lớn hơn tổng giá trị của các doanh nghiệp độc lập.32
Lợi ích của cộng hưởng thu được từ hiệu quả hoạt động, năng lực thị trường tăng lên hay các khía cạnh lợi nhuận tài chính khác, và được phân chia cho cổ đông của doanh nghiệp đi mua và doanh nghiệp mục tiêu Nói một cách đơn giản hơn, cộng hưởng chính
là 2+2=5.33 Cộng hưởng là khi doanh nghiệp A và B kết hợp tạo thành doanh nghiệp C,
và giá trị của C lớn hơn giá trị của A và B cộng lại Vì vậy cổ đông của doanh nghiệp A
và B đều sẽ được hưởng lợi từ việc sáp nhập này Thông qua việc kết hợp này, các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả có thể gia tăng được khả năng của mình bằng cách giảm thiểu chi phí vận hành Cộng hưởng nghĩa là các doanh nghiệp phải làm việc cùng nhau Lợi ích của việc cộng hưởng này thường dễ dàng nhận thấy hơn khi sáp nhập theo chiều ngang Thay vì hai bộ máy vận hành cùng hoạt động, doanh nghiệp mới chỉ cần duy trì một bộ máy nhưng vẫn có thể tạo ra được kết quả tốt Một ví dụ về việc này là khi hãng Tập đoàn hàng không IAG, sở các hữu hãng hàng không British Airways và Iberia, thông báo mua lại Air Europa của Tây Ban Nha với giá 1 tỷ euro (1,2 tỷ USD).34 Việc mua lại này sẽ tạo ra hiệu quả cộng hưởng bằng cách tận dụng lộ trình bay của các hãng, giảm thiểu số chuyến trên một chặng bay, giảm thiểu nhân viên mặt đất và giảm thiểu số máy bay cần sử dụng v.v
(ii) Tăng trưởng: Mua lại và sáp nhập là động lực để bảo đảm phát triển bền vững
hoặc gia tăng mức độ tăng trưởng Mở rộng kinh doanh thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập tốn ít thời gian và chi phí hơn so với việc phát triển theo cách thông thường (ở đây là kinh doanh tạo ra lợi nhuận và dùng một phần lợi nhuận để tái đầu tư) Thay vì phải đầu tư thời gian vào việc phát triển và đa dạng hóa sản phẩm từ bên trong doanh nghiệp, việc tăng trưởng có thể đạt được dễ dàng hơn bằng cách kết hợp với một doanh nghiệp có sẵn Chi phí cho việc kết hợp này cũng ít hơn vì doanh nghiệp không cần phải đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, họ có thể sử dụng những trang thiết bị đã có sẵn từ một
32 Gurminder Kaur (2005) “Corporate Mergers and Acquisitions”, Deep and Deep Publications Pvt Ltd., New Delhi, t 262
33 Eugene F Brigham và cs (1999), “Intermediate Financial Management”, The Drydren Press, Fortworth
34 H.Thủy (2019), “IAG với tham vọng mở rộng các tuyến bay tới Mỹ Latinh và Caribe”, truy cập vào 14/01/2020 tại < https://bnews.vn/iag-mua-hang-hang-khong-air-europa-cua-tay-ban-nha/139189.html>
Trang 28doanh nghiệp khác Tăng trưởng là một yếu tố cốt lõi của tất cả các doanh nghiệp, và cũng chính là động lực quan trọng của các hoạt động mua lại và sáp nhập
(iii) Giảm thiểu rủi ro: Mua lại và sáp nhập là phương pháp hiệu quả để thâm nhập
vào thị trường mới với mục tiêu đa dạng hóa dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm, từ đó doanh nghiệp có thể tránh được tình trạng chỉ tập trung vào một lĩnh vực duy nhất Việc
đa dạng hóa này còn giúp cho doanh nghiệp tiếp cận thêm được nhiều khách hàng mới, việc kết hợp nguồn lực giữa hai doanh nghiệp thuộc hai lĩnh vực khác nhau làm gia tăng những lợi thế về tài chính và khả năng đầu tư của các cổ đông Đồng thời, sự kết hợp giữa hệ thống quản lý và vận hành giữa các doanh nghiệp sẽ củng cố thêm khả năng đứng vững khi có biến động xảy ra trên thị trường của doanh nghiệp mua lại hoặc sáp nhập
(iv) Gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường: Doanh nghiệp sáp nhập hoặc mua
lại sẽ thừa hưởng hệ thống sản xuất và phân phối hoặc thậm chí là có khả năng phát triển những thương hiệu mới, tạo ra lợi thế trên thị trường, từ đó nắm giữ thị trường.35
Xâm nhập vào một thị trường mới cũng là một trong những lí do quan trọng mà các doanh nghiệp thực hiện mua lại và sáp nhập Các hoạt động sáp nhập xuyên biên giới hiện nay đang dần trở nên phổ biến hơn Khi một doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường của mình, họ sẽ mua lại hoặc sáp nhập với một doanh nghiệp đã có sẵn lượng khách hàng
35 Arneet Kaur, 2014, t.37
36 nt
37 nt
Trang 29và hiểu về thói quen của khách hàng tại thị trường đó Ví dụ khi Central Group mua lại Big C, khi đó, Big C Việt Nam đã xây dựng được một mối quan hệ giữa các nhà cung cấp
và các khách hàng, đồng thời còn bao gồm cả nhân viên, chính quyền địa phương và cộng đồng trong và ngoài nước, việc này giúp họ có thể mở rộng thêm mạng lưới kinh doanh của mình
1.2 Tổng quan pháp luật Việt Nam về khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp là những hoạt động có tính phức tạp, bao trùm tất cả những vấn đề về thị trường, tài sản, nguồn vốn, cấu trúc quản lý, nhân sự Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như kinh tế, tài chính, pháp lý Chính vì vậy, pháp luật về mua bán và sáp doanh nghiệp là các chế định pháp luật được cấu thành bởi nhiều quy phạm pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, lao động, cạnh tranh, thương mại, đất đai, dân sự
Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp 2014 cung cấp các nguyên tắc
và quy định pháp lý trong quản lý doanh nghiệp, chuyển giao tài sản hoặc sở hữu đối với các doanh nghiệp và các thỏa thuận khác, bao gồm cả thỏa thuận mua lại và sáp nhập Đối với hoạt động mua lại được thực hiện bởi nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư
2014 Nếu mục tiêu mua lại là công ty đại chúng, việc mua lại phải được thực hiện thông qua chào mua công khai được quy định theo Luật Chứng khoán năm 2006 Trong trường công ty nhận sáp nhập và công ty mục tiêu thuộc các trường hợp cần phải thông báo tập trung kinh tế thì người đại diện theo pháp luật của công ty thông báo cho cơ quan có thẩm quyền phù hợp với Luật Cạnh tranh năm 2018.38
38 Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018
Trang 301.2.1 Quy định của Luật Cạnh tranh
Điều 29 Luật cạnh tranh năm 2018 liệt kê các loại hình hành vi được coi là TKKT của doanh nghiệp bao gồm: (i) sáp nhập doanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (iii) mua lại doanh nghiệp; (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vi tập trung khác theo quy định của pháp luật Định nghĩa cụ thể của từng hành vi này cũng được quy định chi tiết tại điều này của LCT 2018 Những hình thức tập trung kinh tế được thực hiện thông qua các hoạt động mua lại và sáp nhập giúp cho các doanh nghiệp hình thành nên các liên minh kinh doanh hoặc các nhóm doanh nghiệp mà giữa chúng có mối quan hệ sở hữu hoặc đầu tư với nhau trong khi vẫn tồn tại như những chủ thể có tư cách độc lập, theo đuổi những mục tiêu kinh tế riêng rẽ của mình
Điều 29 LCT 2018 định nghĩa: Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập Đây là hoạt động liên hiệp giữa hai hoặc nhiều tổ chức, ở đó, một
doanh nghiệp hoặc có thể nhiều hơn sẽ không còn tồn tại, từ đó tạo ra một tổ chức mới Trong một thương vụ sáp nhật, các cổ đông của công ty của một hoặc nhiều công ty bị sáp nhập sẽ được chuyển vào cổ phần của doanh nghiệp sáp nhập, cổ phần sau đó sẽ được chia lại tỉ lệ tương ứng theo quyết định của đa số cổ đông của công ty sau sáp nhập
Trong khi đó, Điều 29 LCT 2018, cũng định nghĩa mua lại doanh nghiệp như sau: Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại Nói chung, đây là việc thâu tóm
quyền sở hữu đối với một doanh nghiệp Dưới góc độ kinh doanh, mua lại là việc công
ty mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cổ phiếu công ty khác và sau đó có thể giành được quyền kiểm soát công ty đã được mua lại Mua lại có thể được thực hiện thông qua hình thức mua lại cổ phần, được tiến hành khi một doanh nghiệp mua lại cổ phần của một doanh nghiệp khác bằng tiền mặt, cổ phiếu hoặc các loại chứng khoán
Trang 31khác, bằng cách đưa ra lời đề nghị mua lại cổ phần và gửi trực tiếp đến các cổ đông của doanh nghiệp mục tiêu mà không cần phải thông qua ban lãnh đạo của doanh nghiệp mục tiêu Nếu các cổ đông của doanh nghiệp mục tiêu không thích lời đề nghị (“tender offer”) này thì sẽ không bán cổ phần của mình Trong việc mua lại cổ phần, thông thường công
ty mua sẽ không thông qua ban lãnh đạo của công ty mục tiêu, chính vì vậy mà thường sẽ
có sự chống đối Sự chống đối này khiến cho việc mua lại công ty mục tiêu sẽ tốn nhiều chi phí hơn so với sáp nhập Trường hợp công ty mua lại 100% cổ phần của công ty mục tiêu thì đó được gọi là hoạt động sáp nhập Sáp nhập và mua lại có thể được hiểu là khi hai doanh nghiệp riêng lẻ cùng kết hợp với nhau.39
Tuy nhiên, dưới sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh, khái niệm sáp nhập và mua lại ở đây bao gồm nhiều hoạt động của các doanh nghiệp như sáp nhập, hợp nhất, mua lại phần vốn góp, quyền biểu quyết hoặc tài sản, hoặc mua lại quyền kiểm soát đối với một doanh nghiệp Mua lại và sáp nhập là những hoạt động thường thấy tại bất kì nền kinh tế nào và đây là công cụ quan trọng để các doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.40
Hoạt động mua lại và sáp nhập là những hành vi nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quá trình tham gia thị trường của các doanh nghiệp Hành vi này được thực hiện dựa trên cơ sở của những nguyên tắc căn bản mà pháp luật đã thừa nhận, trong đó có quyền tự do kinh doanh là một nguyên tắc cơ bản Được thể hiện ở hai nội dung sau đây:
Một là, mọi doanh nghiệp có quyền tự do liên kết trong kinh doanh Quyền tự do liên kết
thể hiện ở hai vấn đề: (i) quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc liên kết đầu tư để mua lại, thâu tóm một doanh nghiệp khác hoặc (ii) liên minh góp vốn nhằm mục đích thành lập các chủ thể kinh doanh mới.41
Trang 32Hai là, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều cho phép các chủ thể kinh doanh được
thay đổi quy mô theo nhu cầu kinh doanh của mình.42 Trên cơ sở đó, các biện pháp tổ chức lại cơ cấu quản lý và các hoạt động sản xuất kinh doanh như sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức kinh doanh đều được xem như là cách để các chủ thể kinh doanh (cụ thể là các doanh nghiệp) chủ động thích ứng với các biến động thị trường, điều chỉnh
để phù hợp với năng lực kinh doanh của mình
Có thể thấy hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp được tiếp cận chủ yếu từ khía cạnh giành quyền kiểm soát, quyền quản lý phát sinh từ quyền sở hữu tài sản, phần vốn góp Điều này cũng đã thể hiện bản chất của các hành vi này như sau:
Một là, mua lại và sáp nhập được xem là hiện tượng bình thường trong hoạt động kinh
doanh và tự thân các hoạt động này là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật về cạnh tranh, doanh nghiệp, đầu tư, chứng khoán Tuy nhiên, đây là một hành vi có tiềm năng gây ra hiện tượng hạn chế cạnh tranh Do đó, Nhà nước cần phải can thiệp hoặc cấm đoán khi
có cơ sở khẳng định những hoạt động này gây tác động đáng kể cho cạnh tranh
Hai là, bản chất của các hoạt động này chính là hành vi tập trung quyền lực thị trường,
làm tăng khả năng duy trì giá cả trên mức giá cạnh tranh hoặc giảm chất lượng hoặc sản lượng kinh doanh xuống dưới mức cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận.43
Ba là, hoạt động mua lại và sáp nhập có tiềm năng tạo ra sức mạnh thị trường ở hai góc
độ: sức mạnh về giá và sức mạnh loại trừ Sức mạnh về giá là khả năng có thể gia tăng lợi nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mực giá cạnh tranh, hoặc khả năng kiểm soát, hạn chế sản lượng để tăng giá.44 Sức mạnh loại trừ là khả năng vượt trội trên thị
Trang 33trường để doanh nghiệp có thể loại trừ hoặc kìm hãi đối thủ cạnh tranh, gây xâm hại trực tiếp đến cấu trúc cạnh tranh và từ đó có thể tăng giá.45
1.2.2 Quy định của các ngành luật khác về hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014 đã đánh dấu sự phát triển đáng kể của các hệ thống pháp luật tại Việt Nam và đặc biệt là là các hoạt động mua lại và sáp nhập Các doanh nghiệp dưới mọi hình thức đều có thể tham gia sáp nhập Luật cung cấp nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam Người nước ngoài không muốn thành lập công ty mới tại Việt Nam, sau đó có thể mua vốn hoặc cổ phiếu mang lại cho họ quyền kiểm soát và quản lý công ty
Luật Doanh nghiệp 2014 tuy không có quy định định nghĩa về khái niệm sáp nhập, tuy nhiên họ có giải thích phương thức thực hiện sáp nhập tại Điều 195 như sau:
“Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”
Tại luật doanh nghiệp, chỉ rõ đối tượng sáp nhập, mua lại là công ty Điều này phân biệt
rõ hơn với doanh nghiệp tư nhân khi thực hiện sáp nhập, mua lại mà có hình thức là bán doanh nghiệp theo điều 187 Luật Doanh nghiệp 2014
Khác với LCT 2018, Luật Đầu tư 2014 không đưa ra khái niệm của các hoạt động kinh
tế, nhưng có quy định về việc các nhà đầu tư nước ngoài có thể thực hiện hoạt động này
45 nt
Trang 34thông qua việc cổ phiếu hoặc vốn của công ty hiện có Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh, người nước ngoài có thể mua từ tối đa 0% hoặc 51% hoặc 100% Đầu tiên, nhà đầu từ cần phải có được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền để mua vốn góp hoặc
cổ phiếu Sau đó, đầu tư nước ngoài có thể chuyển tiền của họ qua ngân hàng cho người mua Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, các nhà đầu tư cần thay đổi thông tin liên quan đến chủ sở hữu, tỷ lệ phần trăm vốn điều lệ, tỉ lệ cổ phần và đại diện theo pháp luật sau khi thực hiện việc đầu tư
Ngoài ra, hoạt động mua lại doanh nghiệp theo hình thức góp vốn, mua cổ phần cũng được quy định tại Khoản 2, Điều 46 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định
tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi thành viên, cổ đông tại Cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật khác tương ứng với từng loại hình tổ chức kinh tế
Hồ sơ, trình tự, thủ tục góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Khoản 2, Điều 26 Luật Đầu tư và Khoản 3, Điều 46 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP
Đồng thời, quy định về sáp nhập, hợp nhất trong công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ tại Điều 69 Luật chứng khoán 2006, cụ thể:
Trang 35“Điều 69 Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty chứng khoán, công ty quản
lý quỹ
Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ thực hiện việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi phải được sự chấp thuận của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Thời hạn chấp thuận việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi là ba mươi ngày, kể từ ngày Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nhận được hồ sơ hợp lệ Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.”
1.3 Lịch sử hình thành quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
Đối với trường hợp tại Việt nam, trong 15 năm qua, Việt Nam đã duy trì được hiệu suất kinh tế tương đối mạnh mẽ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được mở rộng với tốc độ cao
và ổn định, với tỉ lệ tăng trung bình khoản 7% mỗi năm, khiến Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới
Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao sẽ đi kèm với ổn định kinh tế vĩ mô, cụ thể là tỉ lệ lạm phát thấp, thâm hụt ngân sách nhỏ, tăng trưởng tín dụng ổn định và khả năng quản lý các khoản nợ nước ngoài Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện/GDP của cao nhất trên thế giới (33,5% trong năm 2018) Mức thâm hụt ngân sách hiện tại đang ở mức có thể kiểm soát được, đồng thời, chúng ta cũng nhận được nguồn tài chính ổn định từ các dòng vốn đầu tư trước tiếp nước ngoài (FDI) Chính
vì vậy, tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam không có sự biến động mạnh Tăng trưởng kinh tế đã giúp thực hiện các mục tiêu xã hội và hỗ trợ đáng kể cho các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Chúng ta đạt được những thành tựu trên là nhờ thực hiện thành công chương trình cải cách kinh tế toàn diện được đưa ra vào năm 1986
Trước năm 1986, Việt Nam đã đi theo mô hình phát triển của một nền kinh tế kế hoạch tập trung, đặc trưng bởi sự can thiệp đáng kể của Nhà nước vào hoạt động của thị trường Trong một nền kinh tế như vậy, thị trường không thể được phát triển đúng mực, đồng
Trang 36thời, khái niệm về cạnh tranh cũng không xuất hiện tại thị trường này Chương trình cải cách kinh tế bắt đầu từ năm 1986 đã đưa ra một loạt các biện pháp ổn định và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường
Tuy nhiên, những lợi ích tích cực của nền kinh tế thị trường vẫn chưa được khai thác triệt
để ở giai đoạn này, chúng ta vẫn chưa có những quy định cụ thể và đầy đủ nhằm điều chỉnh các hoạt động của thị trường Cấu trúc độc quyền vẫn tồn tại trong một số lĩnh vực quan trọng, trong khi các hành vi kinh doanh hạn chế (Restrictive Business Practices) và các hành vi giao dịch không lành mạnh (Unfair Trade Pracetices) vẫn ngày càng gia tăng
và chưa được xử lý một cách hiệu quả Vì vậy, sự ra đời của luật cạnh tranh là cách giải quyết thỏa đáng cho những vấn đề này.Vào ngày 03 tháng 12 năm 2004, Quốc hội Việt Nam Khóa X, tại phiên họp thứ 6, đã họp và thông qua Luật Cạnh tranh, có hiệu lực vào tháng 7 năm 2005 và được quản lý bởi Cục Quản lý Cạnh tranh (CAD) của Bộ Thương mại Việt Nam
Sự ra đời của Luật Cạnh tranh đã thúc đẩy các hoạt động Sáp nhập và Mua lại trở nên phát triển mạnh mẽ ở thị trường Việt Nam Từ năm 2005, mua lại và sáp nhập tăng gấp năm lần về giá trị, từ 1,08 tỷ USD năm 2005 lên đến 5,1 tỷ USD năm 2012; 77% số thương vụ liên quan đến doanh nghiệp nội, song giá trị không lớn với quy mô thường dưới 10 triệu USD (47% số thương vụ)46
Giai đoạn này chứng kiến sự bứt phá về giao dịch mua lại và sáp nhập trong các ngành ngân hàng, hàng tiêu dùng và bất động sản Cùng với quá trình tái cơ cấu, ngành Ngân hàng có một số thương vụ lớn như Ngân hàng TMCP Sài Gòn được hợp nhất từ ba ngân hàng, Habubank sáp nhập vào SHB
Cùng với sự ra đời của Luật Cạnh tranh 2018, nhằm bảo đảm cạnh tranh và nền kinh tế thị trường trong thời đại toàn cầu hóa, các hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp được hi
46 MAF, 2013
Trang 37vọng sẽ tiến hành với quy mô lớn hơn so với bất kì giai đoạn nào trong quá khứ, đồng thời, cũng đóng một vai trò quan trọng nhằm phát triển khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế
1.4 Quy định về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp trong pháp luật cạnh tranh một số quốc gia khác
Khi đề cập đến mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, một số nước thường sử dụng cụm từ Mergers and Acquisitions (M&A), Takeovers, Buyouts để chỉ các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Cách dịch các từ trên sang tiếng Việt khác nhau: Mergers được dịch là sáp nhập hoặc hợp nhất; Acquisitions được dịch là mua bán hoặc mua lại Takeovers, Buyouts dịch ra tiếng Việt có nghĩa là thâu tóm, mua lại Cụ thể, khái niệm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp của Mỹ, Đức và Nga được tiếp cận như sau:
1.4.1 Mỹ
Mua bán doanh nghiệp có thể được thực hiện theo các hình thức cơ bản như mua tài sản của doanh nghiệp mục tiêu; mua lại phần vốn góp của chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu; thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp và tái cơ cấu doanh nghiệp.47
Mua bán doanh nghiệp theo hình thức thứ nhất là mua bán tài sản của doanh nghiệp mục tiêu, theo đó bên mua có thể mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay thậm chí toàn
bộ công ty Qua hình thức mua tài sản của doanh nghiệp mục tiêu, bên mua có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp mục tiêu Dưới góc độ kinh tế, doanh nghiệp có chức năng kinh doanh và doanh nghiệp được cấu thành từ nhiều yếu tố như vốn, tài sản (tài sản vô hình, tài sản hữu hình), bộ máy quản lý điều hành, người lao động Doanh nghiệp được coi như áo khoác để thực hiện ý tưởng kinh doanh Vì vậy,
“mối quan tâm của kinh tế học không phải là tư cách pháp lý của doanh nghiệp, mà là chi phí để huy động vốn, tổ chức lao động, tiến hành kinh doanh và các chi phí để phối hợp
47 Trần Thị Bảo Ánh (2014), “Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam”,Trường Đại học Luật Hà Nội, t.32
Trang 38các yếu tố đó với nhau” Mua bán doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế là mua bán được một trong những yếu tố cấu thành doanh nghiệp, tức là bên mua sẽ mua lại tài sản và các quyền tài sản của doanh nghiệp mục tiêu nhằm kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu.48
Mua bán doanh nghiệp theo hình thức thứ hai là mua cổ phần của cổ đông doanh nghiệp mục tiêu đến một tỷ lệ cổ phần đủ để kiểm soát được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu Tỷ lệ cổ phần cụ thể để kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu do pháp luật hoặc Điều lệ của doanh nghiệp mục tiêu quy định, tỷ lệ cụ thể đó được gọi là tỷ lệ cổ phần chi phối Mục tiêu của bên mua khi mua bán doanh nghiệp theo hình thức thứ hai là nhằm kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu Hình thức mua bán doanh nghiệp thứ hai dẫn đến
hệ quả là thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu: bên mua sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu với việc sở hữu tỷ lệ cổ phần chi phối Khác với hình thức mua bán doanh nghiệp thứ nhất, ở hình thức mua bán doanh nghiệp thứ hai thì doanh nghiệp mục tiêu vẫn là chủ sở hữu các tài sản của doanh nghiệp; bên mua thường phải tiếp nhận tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp mục tiêu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.49
Hình thức mua bán doanh nghiệp thứ ba là thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp mục tiêu Theo hình thức này thì doanh nghiệp mục tiêu phải thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp để vốn nợ giảm xuống và hấp dẫn các nhà đầu tư mua lại doanh nghiệp mục tiêu Các biện pháp thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp mục tiêu có thể là phát hành thêm
cổ phiếu, hoán đổi cổ phiếu
1.4.2 Cộng hòa Liên bang Đức
Các nhà lập pháp không định nghĩa về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp Thay vào đó, pháp luật Đức quy định về các hình thức mua bán, sáp nhập công ty Theo tinh thần các quy định mua bán và sáp nhập công ty ở Đức, có thể nhận thấy mua bán công ty bao gồm
48 nt
49 nt
Trang 39hình thức mua bán tài sản của công ty, mua cổ phần hoặc phần vốn góp chi phối của công
ty, mua nợ của công ty Các biện pháp tổ chức lại công ty như hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi công ty không phải là mua bán công ty mà hoạt động tổ chức lại công ty thường được tiến hành ở giai đoạn sau của hoạt động mua bán công ty.50
Đối tượng mua bán trong các thương vụ mua bán công ty (thông qua mua bán tài sản của công ty) là toàn bộ hoặc bộ phận tài sản của công ty và được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán tài sản theo sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 1896 của Cộng hòa liên bang Đức
Mua bán công ty thông qua mua cổ phần hoặc phần vốn góp chi phối của công ty được hiểu là “việc chủ thể chi phối hoạt động của công ty thông qua việc mua một số lượng lớn cổ phần hoặc phần vốn góp của công ty đó” Việc mua cổ phần hoặc phần vốn góp của công ty được coi là mua cổ phần hoặc phần vốn góp chi phối nếu người mua “nắm giữ ít nhất 75% vốn điều lệ của công ty (tỷ lệ vốn có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty ).51
Mua bán công ty thông qua hình thức mua nợ của công ty là việc chủ thể chi phối hoạt động của công ty thông qua mua bán khoản nợ của công ty và chuyển đổi chủ sở hữu công ty thông qua việc chuyển dần nợ thành cổ phần hoặc phần vốn góp chi phối tại công
ty đó Hình thức mua nợ của doanh nghiệp thực chất chính là mua lại phần vốn góp, cổ phần của chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu
1.4.3 Cộng hòa Liên bang Nga
Doanh nghiệp được xem là một loại sản nghiệp và được mua bán trên thị trường mua bán doanh nghiệp quy định tại Điều 132 mục 3 Đối tượng quyền dân sự - Những quy định chung Bộ luật Dân sự Liên bang Nga.52
50 Trần Thị Bảo Ánh, 2014, t.35
51 nt
52 Trần Thị Bảo Ánh, 2014, t.34
Trang 40Quy định của pháp luật Cộng hòa liên bang Nga đã xác định rõ doanh nghiệp là một khối tài sản thống nhất để thực hiện mục tiêu kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp, khối tài sản đó bao gồm các loại tài sản hữu hình, tài sản vô hình và các quyền về tài sản Khối tài sản “doanh nghiệp” đó có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp Từ
đó, mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp có quyền bán tất cả tài sản tạo thành doanh nghiệp cho bên có nhu cầu mua khối tài sản đó, đây là hình thức mua bán toàn bộ doanh nghiệp.53
Tóm lại, dù được định nghĩa và tiếp cận khác nhau với các quy định về hình thức mua bán và sáp nhập doanh nghiệp nhưng điểm chung trong quan điểm của các quốc gia trên được thể hiện ở hai điểm sau đây:
Một là, đối tượng mà các bên hướng tới trong việc mua bán và sáp nhập doanh nghiệp chính là “doanh nghiệp”
Hai là, hệ quả của việc mua bán và sáp nhập doanh nghiệp là phải đạt được các mục tiêu kinh doanh sau khi thực hiện việc mua bán và sáp nhập Đối với mua bán, đó là khả năng kiểm soát hoặc chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu thông qua việc mua tài sản hoặc cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp đó Đối với sáp nhập, đó là việc tái cơ cấu bộ phận quản trị và vận hành nhằm gia tăng tăng trưởng của doanh nghiệp
53 nt