đồng, và cả sự quan tâm, cư xử của mỗi người, của mỗi nhóm xã hội, mỗi tổ chức với cộng đồng xung quanh.* Giáo dục ý thức cộng đồng: Là hình thức giáo dục phi chính quy có sự tham gia củ
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC CỘNG ĐỒNG VỀ TÔN TRỌNG TÍNH
ĐA DẠNG VĂN HÓA
Trang 2- Khái niệm giáo dục, giáo dục ý thức cộng đồng
- Khái niệm giáo dục
- Giáo dục
Trong lao động và trong cuộc sống hàng ngày, con ngườitích luỹ được kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động, từ đónảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết cho nhau Nhu cầu
đó là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục Giáo dục là
cơ hội giúp cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện, cơ hội để hoànthiện bản thân Ban đầu giáo dục diễn ra một cách tự phát theolối quan sát bắt chước, về sau giáo dục diễn ra một cách tự giác,
có kế hoạch, có tổ chức theo mục đích định trước và trở thànhmột hoạt động có ý thức Ngày nay, giáo dục trở thành hoạtđộng đặc biệt, đạt tới trình độ cao về tổ chức, nội dung, phươngpháp và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóngcủa xã hội loài người
Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động có mục
đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương phápkhoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơquan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ
Trang 3Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình hình thành cho
người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin,những nét mới của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xửđúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạtđộng và giao lưu
- Khái niệm giáo dục ý thức cộng đồng
Là hình thức giáo dục phi chính quy có sự tham gia củanhiều người, nhiều tổ chức xã hội nhằm trang bị cho các thànhviên cộng đồng kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp để họphát triển, nâng cao đời sống cá nhân và góp phần vào sự pháttriển cộng đồng
Giáo dục cộng đồng là một thành phần cơ bản và quantrọng nhất của phát triển cộng đồng
Giáo dục cộng đồng là một cách thức can thiệp xã hộinhằm hướng tới sự phát triển công bằng và bền vững
* Khái niệm ý thức
- Theo nghĩa rộng (với tư cách là một phạm trù triết học):
Ý thức là sự phản ánh khách quan vào trong bộ óc con người
Trang 4một cách năng động, sáng tạo; Là hình ảnh chủ quan của thếgiới hiện thực khách quan.
Là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, ý thứcđược hình thành, biến đổi, phát triển do nhu cầu của việc conngười cải biến giới tự nhiên, được thực hiện thông qua hoạtđộng thực tiễn của con người
Quan điểm Triết học Mác đã nêu rõ: “Ý thức chẳng quachỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người vàđược cải biến đi trong đó” (Các Mác)
Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên vềbản chất là có tính xã hội: Ý thức không phải là một hiện tượng
tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã hội Ý thức bắtnguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan hệ xãhội khách quan Theo quan điểm của Các Mác và Ăngghen:
“Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậyđến chừng nào con người còn tồn tại”
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội phức tạp bao gồmnhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau Có thể chia cấutrúc của ý thức theo hai chiều:
Trang 5 Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí , trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.
Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức
Ý thức là một hoạt động tổng hợp các quá trình tâm lýkhác nhau, có đặc tính phản ánh ở mức cao nhất, toàn diện vàchính xác nhất hiện thực khách quan Tóm lại đó là toàn bộ hiểubiết của con người về thiên nhiên, xã hội và bản thân
- Theo nghĩa hẹp (Theo quan đểm Tâm lý học): Ý thức là
hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người, là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người nhận biết, tiếp thu được trong quá trình quan hệ qua lại giữa con người với thế giới hiện thực khách quan trong suốt tiến trình lịch sử
*Nội dung, cấu trúc của ý thức:
Ý thức có cấu trúc phức tập bao gồm nhiều mặt là mộtchỉnh thể mang lại cho thế giới tâm hồn của con người một chấtlượng mới Ý thức có 3 mặt thống nhất hữu cơ với nhau, điềukhiển hành động có ý thức của con người:
Trang 6+ Tư tưởng, quan điểm, nhận thức.
Là ý nghĩ, cách nhìn nhận, suy nghĩ, nhận thức của conngười với thế giới khách quan Sự vật hiện tượng trong thế giới
tự nhiên và xã hội
Mặt nhận thức bao gồm 2 quá trình:
- Nhận thức cảm tính: Mang lại những tư liệu cho ý thức;
cảm giác cho ta hình ảnh từng thuộc tính bên ngoài của sự vật,hiện tượng; tri giác mang lại cho ta những hình ảnh trọn vẹn bênngoài của sự vật, hiện tượng Những hình ảnh đó giúp chúng tathấy được sự tồn tại thật của thế giới khách quan và đó là nộidung ban đầu và cũng là bậc sơ cấp của ý thức
- Nhận thức lý tính: Mang lại cho ta hình ảnh khái quát bản
chất của thực tại khách quan và mối liên hệ giữa các sự vật vàhiện tượng Đây là nội dung hết sức cơ bản của tri thức Tri thức
là hạt nhân cơ bản của ý thức Do vậy ý thức là sự hiểu biết vềthế giới khách quan
+ Mặt thái độ: Nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc,
thái độ đánh giá của chủ thể đối với thế giới, được thể hiện ra là
những phát biểu hay những đánh giá có giá trị về sự vật, con
Trang 7người hay đồ vật Thái độ phản ánh con người cảm thấy như thế nào về một điều nào đó
+ Suy nghĩ điều khiển hành vi.
Là ý thức điều chỉnh, điều khiển hoạt động của con ngườilàm cho hoạt động có ý thức Đó là quá trình con người vậndụng những hiểu biết và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi,cải tạo thế giới và cải biến cả bản thân Một con người có ý thứchay không sẽ được đánh giá qua mặt này của ý thức
+ Ngoài 3 mặt thống nhất nói trên, trong nội dung, cấu trúc của ý thức cần đề cập đến yếu tố tự ý thức
Tự ý thức:
Là con người tự nhận thức về mình, xác định được bảnthân, nhận định được năng lực của bản thân mình và biết đượcbản thân với cộng đồng, với xã hội
Là mức độ phát triển cao của ý thức Tự ý thức là ý thức vềmình, có nghĩa là khi bản thân trở thành đối tượng “mổ sẻ”,phân tích, lý giải thì lúc đó con người đang tự ý thức
Trang 8Chủ thể tự nhận thức bản thân mình từ bên ngoài đến nộidung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội, trên cơ sở đó tựnhận xét, tự đánh giá Có thái độ rõ ràng đối với bản thân Tựđiều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác Chủ thể cókhả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình.
* Khái niệm ý thức cộng đồng
Con người được sinh ra và trưởng thành từ trong cộng
đồng Chỉ có thông qua cộng đồng, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người Trong cuộc sống, bất kì
một tổ chức, một cộng đồng nào cũng đều đòi hỏi mỗi ngườisống trong nó phải có một ý thức chung về cộng đồng thườngđược gọi là ý thức cộng đồng
Ý thức cộng đồng là ý thức của cộng đồng về kinh tế, chính tri, văn hóa, xã hội về sự tồn tại phát triển bền vững của cộng đồng về bản sắc riêng, nét riêng, tạo ra sức mạnh của cộng đồng đó.
Hay ý thức cộng đồng có thể hiểu là tổng thể những tư tưởng, quan điểm, tâm trạng, thói quen, cách hành xử,v.v thể hiện thái độ của con người, của các nhóm xã hội đối với cộng
Trang 9đồng, và cả sự quan tâm, cư xử của mỗi người, của mỗi nhóm xã hội, mỗi tổ chức với cộng đồng xung quanh.
* Giáo dục ý thức cộng đồng:
Là hình thức giáo dục phi chính quy có sự tham gia củanhiều người, nhiều tổ chức nhiều cộng đồng, nhằm trang bị chocác thành viên cộng đồng kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp
để họ phát triển, nâng cao đời sống cá nhân và góp phần vào sựphát triển cộng đồng
Giáo dục ý thức cộng đồng là một thành phần cơ bản vàquan trọng nhất của phát triển cộng đồng
Giáo dục ý thức cộng đồng là một cách thức can thiệp xãhội nhằm hướng tới sự phát triển công bằng và bền vững
- Vấn đề đa dạng văn hóa và ý thức cộng đồng về tôn trọng tính đa dạng văn hóa
- Vấn đề đa dạng văn hóa
- Những vấn đề chung về đa dạng văn hóa và nguyên tắc thừa nhận, tôn trọng sự khác biệt
* Văn hoá là gì?
Trang 10Theo quan điểm của nhà văn hóa học phương Tây, Ferraro
Gary (trong cuốn Cultural Anthropology: An Applied
Perspective New York: West PublishingCompany, tr.16, 1995),
Văn hóa được quan niệm là “tất cả những gì con người CÓ,
con người NGHĨ và con người LÀM với tư cách là những thành viên của một xã hội”.
Những gì con người “có”bao gồm cáchiện vật vật chất nhưtrang phục, nhà cửa, công cụ sản xuất, các công trình kiến trúc,điêu khắc, chùa chiền, đền, miếu, vv
Những gì con người “nghĩ”bao hàm các yếu tố tinh thần,thuộc suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng của con người, như niềmtin tôn giáo, triết lý sống, thế giới quan, thẩm mĩ, tri thức khoahọc, nghệ thuật vv
Những gì con người “làm”bao hàm mọi lĩnh vực hoạt độngcủa con người, ví dụ như hoạt động lao động tạo ra các sảnphẩm văn hóa, các hoạt động giao tiếp, ứng xử, tham gia lễ hội,
tổ chức phong trào văn hóa vv Trong ba thành tố này, thành tố
“NGHĨ” đóng vai trò hết sức quan trọng, có tính chất chi phốihai thành tố còn lại là “CÓ” và “LÀM” Chính vì vậy, trong mộtnền văn hoá, cả ba thành tố “CÓ”, “NGHĨ”, “LÀM” có mối
Trang 11quan hệ chặt chẽ với nhau, và mỗi thành tố văn hoá đều có mộtgiá trị, chức năng nào đó trong hệ thống tổng thể của nền vănhoá mà nó tồn tại Nếu nhìn nhận các thành tố, thực hành vănhoá trong sự nối kết như vậy thì không có một thực hành hayphong tục tập quán nào là “lạc hậu”, là “thừa” Cũng với cáchnhìn này, truyền thống văn hoá của tất cả các nhóm tộc người,
dù ở miền núi hay đồng bằng, thiểu số hay đa số, châu Á haychâu Âu đều có giá trị như nhau, chỉ có sự đa dạng văn hóa,không có nền vănhóa “lạc hậu” hay văn hóa “tiến bộ”, văn hóa
“cao” hay vănhóa “thấp”
Theo nghĩa rộng: Văn hoá làsự biểu hiện phương thức sống, phương thức tồn tại của con người, là tổng hòa các giá trị
mà con người (cá nhân và cộng đồng) đã sáng tạo ra được tích lũy, duy trì, bảo tồntrong suốt tiến trình lịch sử, quy định thành bản sắc, đặc trưng riêng của mỗi dân tộc
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tếphát triển văn hóa” tại Pháp (21/1/1998), Tổng thư ký UNESCO
đã đưa ra định nghĩa:
“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống
động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng)
đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện
Trang 12tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [72, tr.
23]
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp củaphát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xãhội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, màcòn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa giúpcho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng củamột xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác
Những thuộc tính cơ bản của văn hóa:
- Tính thích ứng: Trong khi loài vật thích ứng với môi
trường xung quanh thông qua các đặc tính sinh học của chúngthì con người sáng tạo ra các thực hành văn hoá để giúp họ thíchứng và tồn tại trong những tiểu môi trường tự nhiên và xã hội cụthể Các thực hành văn hóa chính là phương thức giúp cho conngười thích ứng và tồn tại Ví dụ, để sinh sống trong môi trườngmiền núi không thuận lợi cho canh tác ruộng nước, các tộcngười thiểu số phải sáng tạo ra hệ thống canh tác nương rẫy vàcác công cụ lao động phù hợp với địa hình đất dốc như cuốc
Trang 13chim, mai, thuổng, gậy chọc lỗ, để họ thích ứng và tồn tại trongmôi trường tự nhiên có đặc trưng khắc nghiệt của miền núi.Tương tự như vậy, do sinh sống trên các triền núi cao, nhiều tộcngười thiểu số sáng tạo ra những kiểu ngôi nhà thấp, kín đáo, đểtránh cái lạnh vào mùa đông, vv Thuộc tính thích ứng của vănhoá cũng hàm ý rằng, các thành tố văn hoá của nền văn hoá này
có thể sẽ không thích ứng, phù hợp với nền văn hoá khác vàngược lại Chẳng hạn, canh tác lúa nước là mô hình nôngnghiệp phù hợp ở môi trường đồng bằng hay các thung lũngdưới chân núi, song mô hình nông nghiệp này sẽ không phù hợp
ở các địa hình miền núi đất dốc và thiếu nước
- Tính biến đổi:Mặc dù có sự kế tục, được truyền từ thế hệ
này qua thế hệ khác thông qua quá trình văn hoá hoá (học vănhoá), song văn hoá của mỗi nhóm tộc người không tĩnh tại màbiến đổi không ngừng Sự biến đổi của các thực hành văn hoá
cơ bản được diễn ra thông qua sự giao lưu, tiếp xúc với các nềnvăn hoá khác Trong quá trình giao lưu, tiếp xúc này, chủ nhâncủa các nền văn hoá lựa chọn, tiếp biến các thành tố văn hoá từcác truyền thống văn hoá khác, làm cho văn hoá của tộc ngườimình biến đổi và thích ứng với các bối cảnh tự nhiên, kinh tế và
xã hội mới Trong quá trình biến đổi, các thành tố văn hoá “vật
Trang 14chất”, (chẳng hạn như trang phục, đồ dùng sinh hoạt, hay nhàcửa) của một nền văn hoá thường có xu hướng biến đổi nhanhhơn các thành tố “tinh thần” (niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng,phong tục tập quán, vũ trụ quan, vv…) Quá trình biến đổi vănhoá làm cho các tộc người có thể thích ứng với hoàn cảnh kinh
tế - xã hội và môi trường mới, song không phải sự thay đổi vănhoá nào cũng mang lại các hệ quả tích cực, đặc biệt là những sựbiến đổi do áp đặt từ bên ngoài Chẳng hạn, sân khấu hoá haytrình diễn hoá nghi lễ nghi thức cổ truyền có thể tạo ra sức hấpdẫn cho khách du lịch, nhưng nó có thể sẽ làm mất đi những ýnghĩa tâm linh và chức năng xã hội cơ bản vốn có của chúng.Tương tự như vậy, thay đổi phương thức canh tác nông nghiệptheo hướng “hiện đại” ở các tộc người có thể giúp người dân tối
đa hoá sản lượng và giảm sức lao động, song sự thay đổi cũng
có thể sẽ phá huỷ sự đa dạng sinh học và tính bền vững của môitrường
- Tính chỉnh thể:Một nền văn hóa không phải là tổng của
các thành tố mà tất cả các thành tố văn hóa của một nền văn hóađều có sự nối kết chặt chẽ mang tính hữu cơ với nhau và mỗithành tố đều có giá trị, chức năng nào đó trong chỉnh thể nềnvăn hoá chúng tồn tại Nói một cách ẩn dụ, nếu coi một nền văn
Trang 15hoá giống như một cơ thể của con người thì mỗi thành tố vănhóa sẽ đóng vai trò như một bộ phận trong cơ thể đó Các thành
tố của một nền văn hoá có sự nối kết mang tính cộng sinh vớinhau, cùng nhau mang lại sự tồn tại một cách đầy đủ và bềnvững của cả nền văn hoá giống như các bộ phận trong một cơthể con người cùng nhau giúp cho cơ thể tồn tại và phát triểnmột cách khoẻ mạnh Chính vì các thành tố của một nền vănhoá có các mối tương liên với nhau như vậy nên chúng ta chỉ cóthể hiểu chức năng và giá trị của chúng một cách đầy đủ khi đặtcác thành tố đó vào trong chỉnh thể văn hoá mà nó sinh ra vàtồn tại
- Tính đa dạng:Tính đa dạng về sắc thái là bản chất của
văn hóa Đặc biệt, với văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa
“thống nhất trong đa dạng” thì tính đa dạng lại càng thể hiện rõtrên nhiều phương diện và mức độ khác nhau, như đa dạng vănhóa tộc người, văn hóa vùng (văn hóa địa phương), văn hóa tôngiáo, văn hóa nghề nghiệp (nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công,buôn bán, ), văn hóa đô thị và nông thôn, thậm chí cả văn hóalàng và văn hóa dòng họ, không thể nói “đa dạng văn hóa”theo kiểu một chiều, mà văn hóa Việt Nam còn thể hiện mặt
Trang 16thống nhất của nó, đó là sự thống nhất của đa dạng, từ đa dạng.
Sự thống nhất của văn hóa Việt Nam có cơ sở tự nhiên và conngười Tính chất nhiệt đới gió mùa quy định hoạt động sản xuấtnông nghiệp chủ yếu là trồng lúa nước Nguồn gốc và lịch sửtộc người, lịch sử đất nước quy định những xu hướng phát triểnchung của lịch sử văn hóa
*Đa dạng văn hóa là gì?
Đa dạng văn hóa là đặc trưng của xã hội loài người Tuyênngôn Toàn cầu về Đa dạng văn hóa năm 2001 của UNESCO
khẳng định, đa dạng văn hoá “là khởi nguồn cho mọi giao lưu,
đổi mới và sáng tạo, đa dạng văn hóa cũng cần cho nhân loại như đa dạng sinh học cho tự nhiên.Vì thế, đa dạng văn hóa chính là di sản chung của nhân loại và cần được công nhận và khẳng định vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau”
- Công ước UNESCO về Bảo vệ và Phát huy sự đa dạng của các Biểu đạt văn hóa, 2005: “Đa dạng văn hóa tạo nên
một thế giới giàu có và đa dạng, một thế giới làm tăng sự lựa chọn và nuôi dưỡng khả năng và giá trị của con người, và do
đó là nguồn suối của sự phát triển bền vững cho các cộng đồng, con người và dân tộc.”
Trang 17Đa dạng văn hóa, do đó, là điều kiện cần thiết cho pháttriển Mỗi tộc người và cộng đồng có cách hiểu riêng về vănhóa, phụ thuộc vào những nhận thức về môi trường sống vàthực hành hàng ngày của họ, vì vậy, mỗi nền văn hóa luôn chứađựng trong nó sự đa dạng Việt Nam là một quốc gia đa tộcngười và mỗi nhóm tộc người có nền văn hoá đặc trưng riêngcủa mình Sự đa dạng của các nền văn hoá này đã và đang đónggóp một phần rất quan trọng đối với sự phát triển bền vữngcủa các tộc người nói riêng và của quốc gia nói chung.
Vì vậy đa dạng văn hóa là sự cùng tồn tại phong phú, khác nhau của nhiều nền văn hóa Là sự phong phú về dạng thức văn hóa và cách biểu đạt văn hóa khác nhau ở một vùng nói riêng hoặc trên thế giới nói chung.
* Ý nghĩa của đa dạng văn hoá
Đa dạng văn hóa là đặc trưng của xã hội loài người, bởi thế nó là điều kiện cần thiết cho phát triển, thậm chí cho sự sinh tồn của con người Đa dạng văn hóa là khởi nguồn của bản sắc, của đổi mới và sáng tạo, giúp liên kết mọi người trên thế giới.
Nó là động lực thúc đẩy phát triển, không chỉ tăng trưởng kinh
tế, mà còn làm phong phú hơn cuộc sống trí tuệ, tình cảm, đạo
Trang 18đức và tinh thần Vì vậy đa dạng văn hoá có ý nghĩa đối với các
+ Các ngành công nghiệp văn hóa và du lịch: Tạo công ănviệc làm và thu nhập qua các di sản, qua việc tham quan, bánhàng thủ công và các sản phẩm văn hóa khác
+ Sinh kế truyền thống: Giữ gìn kiến thức địa phương, tạocông ăn việc làm; phương cách đa dạng từ sản xuất hàng thủcông, nông nghiệp, quản lý nguồn tài nguyên…
- Xã hội: Đa dạng văn hoá là phương tiện hiệu quả để thúc
đẩy hiểu biết lẫn nhau và chống lại các định kiến Điều này hếtsức cần thiết đối với ổn định xã hội
Trang 19Tạo sự gắn kết xã hội: Văn hoá là nguồn hy vọng, cho
phép con người có được ý thức sâu sắc về cảm giác thuộc vềcộng đồng
Tăng cường vốn xã hội: Bảo vệ các hình thức khác biệt
của văn hoá và quá trình hình thành các hình thức này sẽ gópphần tăng cường vốn xã hội của cộng đồng và đem lại cảm giáclàm chủ và niềm tin vào các tổ chức công cộng
- An ninh quốc phòng: Đa dạng văn hoá là phương tiện
thúc đẩy và bảo đảm an ninh chính trị cũng như toàn vẹn lãnhthổ
+ Mỗi nhóm tộc người đều có người lãnh đạo tinh thần(già làng) Thông qua những người lãnh đạo tinh thần, sử dụngvăn hóa và ngôn ngữ của từng nhóm tộc người và địa phươngchính là phương thức hữu hiệu để đảm bảo an ninh chính trị Dođặc điểm cư trú của nhiều nhóm dân tộc sống ở biên giới, vùngnúi cao nên chính sự đa dạng trong lối sống sinh kế và văn hóagiúp bảo vệ an ninh, quốc phòng, giữ đất đai lãnh thổ…
+ Giúp các cán bộ người dân tộc dễ tiếp cận với đồng bàomình; gắn kết cộng đồng, tăng cường đại đoàn kết dân tộc
Trang 20- Môi trường: Đa dạng văn hoá giúp bảo vệ cảnh quan môi
trường Điều này xuất phát từ việc mỗi dân tộc có quan niệm thếgiới quan riêng Khi những nét văn hoá này được bảo tồn, nógóp phần bảo tồn rừng và cảnh quan thiên nhiên
VD: Người dân tộc có niềm tin là rừng thiêng, do đó phảicấm người lạ, người trong bản vào phá Điều này giúp bảo tồnđược rừng, cảnh quan môi
trường tự nhiên
+ Đa dạng văn hoá là phương tiện để có những phươngthức tổ chức khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điềukiện tự nhiên theo từng nhóm dân tộc, giúp sử dụng các nguồntài nguyên một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất, tận dụng tàinguyên của từng dân tộc
+ Đa dạng văn hoá góp phần bảo tồn rừng Ví dụ ngườiDao, Mường có nhiều bài thuốc hay lấy từ rừng Nếu bảo tồnđược những bài thuốc đó, một mặt bà con sẽ cơ hội tăng thunhập, mặt khác rừng cũng được bảo tồn, bởi chỉ khi những cây
to trong rừng còn thì những cây lá thuốc mọc bên dưới mớisống được
Trang 21- Đa dạng văn hóa là đặc trưng của xã hội loài người
Văn hoá và con người là hai khái niệm không tách rờinhau Con người xuất hiện từ lúc nào thì văn hoá xuất hiện từlúc ấy
Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá Trong suốt lịch
sử hình thành và phát triển của mình, con người luôn sáng tạokhông ngừng để làm nên các giá trị văn hoá Một trong sốnhững giá trị văn hoá được con người sáng tạo ra ấy chính làbản thân con người – con người có văn hoá Con người sáng tạo
ra văn hoá, đồng thời chính con người cũng là sản phẩm của
văn hoá
Với tư cách là sản phẩm của văn hoá, con người là nơi hội
tụ và mang các giá trị văn hoá tiêu biểu Các giá trị văn hoá vật
chất có thể mất đi, nhưng nếu con người – sản phẩm được tạonên từ môi trường văn hóa, hấp thụ, lưu giữ (mang các giá trịvăn hoá) còn tồn tại thì nền văn hoá vẫn sẽ mãi tiếp tục tồn tại
và phát triển
- Là điều kiện cần thiết cho phát triển, thậm chí cho sự sinh tồn của con người.