1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của việc dụng vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay

108 72 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng những phân tích từ lịch sử đến hiện tại, bài viết khẳng định khái niệm vốn xã hội có nội hàm rộng, bao chứa nhiều vấn đề cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau;“vốn xã hội có ý

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -

TRẦN TÚ HOA

VAI TRÒ CỦA VIỆC SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Hà Nội-2010

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN I MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu 5

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 5

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 10

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 14

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 15

4.1 Đối tượng nghiên cứu 15

4.2 Khách thể nghiên cứu 15

4.3 Phạm vi nghiên cứu: 15

5 Vấn đề nghiên cứu 15

6 Giả thuyết nghiên cứu 15

7 Phương pháp nghiên cứu 16

7.1 Phương pháp tiếp cận 16

7.2 Phương pháp thu thập thông tin cụ thể 16

7.3 Khái quát về cơ cấu mẫu đã khảo sát 17

7.4 Khung lý thuyết 19

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 20

8.1 Ý nghĩa lý luận 20

8.2 Ý nghĩa thực tiễn 21

9 Cấu trúc luận văn 21

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN 22

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 22

1.1 Các khái niệm công cụ 22

1.1.1 Khái niệm vai trò xã hội 22

1.1.2 Khái niệm vốn xã hội 23

1.1.3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 28

1.1.4 Doanh nghiệp tư nhân 29

1.1.5 Công ty Trách nhiệm hữu hạn 29

1.1.6 Công ty cổ phần 30

1.2 Các hướng tiếp cận lý thuyết xã hội học 31

1.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội 31

1.2.2 Lý thuyết về vốn xã hội của B.James Coleman và Bourdieu 32

1.2.3 Lý thuyết mạng lưới xã hội 35

1.2.4 Lý thuyết chọn lựa hợp lý 36

1.3 Tổng quan về các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam 38

1.3.1 Tổng quan về các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam 38

1.3.2 Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội 45

Trang 3

1 3.3 Bài học sử dụng vốn xã hội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên

địa bàn thành phố Hà Nội 49

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA VIỆC SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 51

2.1 Hiện trạng vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội 51

2.1.1 Vai trò của vốn xã hội trong quan hệ nội bộ doanh nghiệp 53

2.1.2 Vai trò của vốn xã hội trong các hoạt động của doanh nghiệp 65

2.2 Mục tiêu, xu hướng sử dụng vốn xã hội của các thành viên chủ chốt trong doanh nghiệp nhỏ và vừa 77

2.2.1 Mục tiêu và xu hướng sử dụng vốn xã hội cho sự phát triển của doanh nghiệp 77

2.2.2 Sự khác biệt giữa các cấp quản lý doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn xã hội 82

2.3 Những khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn xã hội 84

2.3.1 Những khó khăn trong việc sử dụng vốn xã hội 84

2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn xã hội 87

2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn xã hội trong phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa 89

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

3 Khuyến nghị 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 99

1 PHỤ LỤC 1: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 99

2 PHỤ LỤC 2: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO DOANH NGHIỆP 107

Trang 4

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 11/2006 Đây là một sân chơi quốc tế lớn, vừa tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang lại nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam Đối với doanh nghiệp Việt Nam nói chung, dù muốn hay không cũng phải chấp nhận một sân chơi công bằng, bình đẳng với các doanh nghiệp quốc tế Trong một sân chơi chung và với một luật chung như vậy, muốn đứng vững

và chiến thắng đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đủ sức cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó vốn xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng vì nó là yếu tố cơ bản

để thúc đẩy hiệu quả của chiến lược phát triển doanh nghiệp Tuy nhiên, việc sử dụng vốn xã hội ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam còn chưa thực sự mang lại hiệu quả

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, điều đó đã được tất cả các nước trên thế giới thừa nhận do nó chiếm tỉ trọng lớn trong cộng đồng doanh nghiệp, tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội, góp phần ổn định chính trị, ổn định nền kinh

tế, thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân, tận dụng mọi nguồn lực vào phát triển, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng

và lành mạnh trong nền kinh tế Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng cũng không nằm ngoài các đặc điểm chung của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới Qua hơn hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có những thành công không nhỏ, từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên, nó cũng mang những đặc điểm riêng của một nền kinh tế còn nhỏ bé, lạc hậu và môi trường kinh doanh cũng còn nhiều khó khăn

Để phát triển kinh tế đất nước, bên cạnh việc phát triển doanh nghiệp

Trang 5

trọng bởi đa số các doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa

Do vậy, bên cạnh việc tạo điều kiện dễ dàng cho sự ra đời của doanh nghiệp, thì việc quan trọng hơn là phải tạo ra một môi trường hỗ trợ để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đứng vững được trước sự cạnh tranh khốc liệt hiện nay Trong các hỗ trợ đó, việc có cơ chế, chính sách cho các doanh nghiệp phát huy hiệu quả việc sử dụng vốn xã hội của mình là điều cần thiết để trực tiếp giúp các doanh nghiệp từng bước phát triển, để cộng đồng doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, làm nền tảng cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Bên cạnh đó, để các doanh nghiệp phát triển bền vững, cần trả lời những câu hỏi cơ bản như: (1) Doanh nghiệp đã sử dụng vốn xã hội như thế nào trong quá trình phát triển? (2) Việc sự dụng vốn xã hội đem lại điều gì trong quá trình kinh doanh, sản xuất? Hay vốn xã hội có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa? (3) Giải pháp nào để nâng cao vai trò việc sử dụng vốn xã hội trong quá trình phát triển của doanh nghiệp?

Bên cạnh đó, đề tài luận văn được thực hiện với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc phát triển chuyên ngành xã hội học kinh tế - một chuyên ngành còn bị bỏ ngỏ trong thời gian vừa qua ở nước ta

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn kể trên, tác giả lựa chọn đề tài:

“Vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Khái niệm vốn xã hội ở nước ta vẫn được coi là một khái niệm mới

do vậy, chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Các nghiên cứu chủ yếu dưới dạng các bài báo, tạp chí đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành hoặc các báo mạng

Bài viết “Phát triển bền vững” nhìn từ góc độ xã hội và văn hoá của

GS.Trần Hữu Dũng đăng trên tạp chí Tia Sáng tháng 11/2004 bàn về vấn đề

phát triển bền vững, bằng những lập luận chặt chẽ của mình, ông đã đưa ra

Trang 6

những nguồn vốn quý giá tạo nên sự phát triển bền vững trong đó có vốn xã hội: vốn vật thể là kết quả của những biến đổi vật thể để tạo thành những công cụ sản xuất, vốn con người là kết quả những biến đổi trong con người

để cấu thành tài nghệ và khả năng thao tác, và vốn xã hội Tác giả bài viết cũng đã đưa ra một số cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu về vốn xã hội

và vai trò của vốn xã hội trong phát triển bền vững Đây là những phát hiện gợi ý có giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo

Bài viết: “Vốn xã hội Việt Nam, nguy cơ phá sản và triển vọng phát

huy” của GS.TS Thái Kim Lan đăng trên tạp chí Phật giáo với cách tiếp

cận đi từ “vốn xã hội” như một khái niệm mới – một khái niệm “mốt” trong khoa học kinh tế xã hội, nội dung, giới hạn và khả năng ứng dụng của nó,

từ đó phân tích những hiện tượng hao vốn trong bối cảnh xã hội Việt Nam

từ 1975 Tác giả đã đưa ra một “lý thuyết” được xem là mô hình “vốn xã hội” trong lịch sử tư tưởng Việt Nam trong triển vọng phát huy vốn xã hội

ở xã hội hiện đại Bài viết có những phân tích, phát hiện hết sức thú vị, tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài tạp chí, bài viết cũng chỉ cung cấp được những khái niệm thông tin cơ bản về vốn xã hội

Bài viết: “Vốn xã hội và đo lường vốn xã hội” của ThS Lê Minh Tiến,

Đại học Mở, Thành phố Hồ Chí Minh trong Hội thảo "Vốn xã hội trong phát

triển" do Tạp chí Tia sáng tổ chức vào ngày 24/06/2006 đã khái quát một số

quan niệm về vốn xã hội, trình bày một số cách vận dụng các nghiên cứu nước ngoài xây dựng các chỉ báo đo lường vốn xã hội Từ đó, định hướng việc xây dựng các chỉ báo đo lường vốn xã hội ở Việt Nam Bài viết cung cấp những thông tin rất sâu sắc về vốn xã hội giúp các nhà nghiên cứu tiếp sau trong việc xây dựng các chỉ báo đo lường vốn xã hội ở Việt Nam

Bài viết: “Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội qua một số

nghiên cứu ở Việt Nam” của PGS.TS Lê Ngọc Hùng, Tạp chí Nghiên cứu

Con người số 4 (37) năm 2008, đã đưa ra khái niệm vốn xã hội theo tiếp cận từ góc độ kinh tế từ đó chỉ ra vốn xã hội và vốn con người không chỉ có

Trang 7

phân tích để hiểu rõ mạng lưới xã hội của con người Trên quan điểm đó, bài viết tập trung tổng quan một số lý thuyết như: thuyết chức năng về vốn

xã hội, thuyết cấu trúc về vốn xã hội v.v… trên cơ sở đó, tác giả đưa ra mô hình tổng hợp về vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội; những phát hiện về vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội; gợi mở một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ở Việt Nam Bài viết đã cung cấp những thông tin phong phú, bao quát về vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới

xã hội ở Việt Nam trên cơ sở tổng hợp một số nghiên cứu tiêu biểu Đây là nguồn cứ liệu có giá trị, những gợi mở có ý nghĩa cho việc triển khai thực hiện đề tài luận văn

Bài viết “Vốn xã hội - Một động lực để phát triển” của TS Trịnh

Hoà Bình - Viện Xã hội học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Tạp chí Hoạt động Khoa học tháng 4/2007 (575) tr.14-15, đã chỉ ra những thuộc tính của vốn xã hội, khẳng định vai trò của vốn xã hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bằng những phân tích từ lịch sử đến hiện tại, bài viết khẳng định khái niệm vốn xã hội có nội hàm rộng, bao chứa nhiều vấn đề

cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau;“vốn xã hội có ý nghĩa đặc

biệt trong việc phát triển nguồn nhân lực của từng doanh nghiệp bởi nó góp phần phát huy tính năng động của mỗi cá nhân cũng như tăng sự liên kết, gắn bó giữa các thành viên, thành tố trong mỗi doanh nghiệp, là chất xúc tác để doanh nghiệp trở thành một khối thống nhất Sao cho đủ sức đương đầu với thách thức và vượt lên trong vận hội mới”[32, tr.15] Vốn xã

hội là nguồn lực, còn hơn thế - là động lực để phát triển xã hội

Bài viết“Văn hóa doanh nghiệp và vốn xã hội trong doanh nghiệp”

của TS Huỳnh Thanh Điền đã phân tích và chỉ ra những hình thức, biểu hiện của hai khái niệm vốn xã hội và văn hoá doanh nghiệp qua đó phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm này Tác giả bài viết cho rằng, “Vốn

xã hội trong doanh nghiệp tồn tại với những hình thức khác như sự tín cẩn (trust), sự có đi có lại hay sự hỗ tương (reciprocity), quy tắc (norms) và mạng lưới xã hội (networks) (Dasgupta và Serageldin, 2000; Fountain,

Trang 8

1998; Lesser, 2000; Putnam, 1995) Vốn xã hội còn biểu hiện dưới dạng mạng lưới (networks) liên kết của doanh nghiệp với các chủ thể khác trong môi trường kinh doanh, nhờ mạng lưới này giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các thông tin để lập kế hoạch, chiến lược phát triển doanh nghiệp”

Trong khi, “văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây

dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành

vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích Văn hóa doanh nghiệp là cái còn lại khi tất cả những cái khác

bị quên đi (E.Heriot, 2000)” Từ việc, đưa ra khái niệm, hình thức biểu hiện của hai khái niệm, tác giả đã chỉ ra những khác biệt cơ bản giữa vốn xã hội

và văn hoá doanh nghiệp như: (1) Vốn xã hội có thể được xem là nguồn vốn đầu tư ban đầu cho một dự án khởi nghiệp kinh doanh, còn văn hóa doanh nghiệp thì phát sinh sau khi dự án kinh doanh đó đi vào hoạt động; (2) vốn xã hội có thể đo lường nhiều hay ít nhưng văn hóa thì không thể mà chỉ có văn hóa doanh nghiệp mạnh hay yếu; (3) văn hóa doanh nghiệp là quan hệ bên trong, trong khi vốn xã hội đề cập kể cả bên trong và bên ngoài; (4) vốn xã hội là nguồn lực kinh doanh trong khi văn hóa doanh nghiệp là nghệ thuật sử dụng nguồn lực đó; (5)văn hóa doanh nghiệp và vốn xã hội sẽ tăng trưởng và phát triển theo thời gian tùy thuộc vào tư duy của người lãnh đạo Từ những phân tích trên, tác giả bài viết đưa ra kết luận rằng, “trên phương diện nào đó, người ta cho rằng văn hóa doanh nghiệp và vốn xã hội là một hay văn hóa doanh nghiệp là một tập hợp con của vốn xã hội” Tuy nhiên, phân tích trên cho thấy đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, doanh nghiệp cần phải lựa chọn những phương pháp đầu tư chúng khác nhau để đạt hiệu quả Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang đối mặt với những vấn đề về vốn vật thể và trình độ công nghệ, việc

đề xuất nên xem xét vốn xã hội trong doanh nghiệp là một hướng tư duy

Trang 9

thể thấy, bài viết đã phân biệt hết sức rõ ràng, sâu sắc sự khác biệt giữa vốn

xã hội và văn hoá doanh nghiệp Điều này làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận xoay quanh khái niệm vốn xã hội trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Ở bài viết “Đóng góp của vốn xã hội vào sự cải tiến của doanh

nghiệp” TS Huỳnh Thanh Điền chỉ rõ “vốn xã hội cung cấp nguồn động

lực cho sự cải tiến của doanh nghiệp Đóng góp của vốn xã hội trong tiến trình cải tiến là cắt giảm chi phí giao dịch giữa các doanh nghiệp làm ăn với nhau và giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nền kinh tế, đáng kể nhất là chi phí thông tin, sự mặc cả, quyết định chi phí, chi phí thủ tục hành chính (Maskell, 1999) Vì vậy, nếu doanh nghiệp có hàm lượng vốn xã hội lớn sẽ nâng cao sức cạnh trạnh, mở rộng qui mô sản xuất Vốn xã hội sẽ giúp giảm những hành động phi pháp, thông tin chính xác tạo ra sự tình nguyện gia nhập các hiệp hội, hỗ trợ thông tin trong cộng động doanh nghiệp” [11] Tác giả cũng đã chỉ ra một số phương diện đóng góp của vốn

xã hội cho quá trình cải tiến doanh nghiệp như: Thứ nhất, vốn xã hội là nguồn động lực cho sự cải tiến của doanh nghiệp; Thứ hai, đóng góp của vốn xã hội vào cải tiến đầu vào (Input Innovation); Thứ ba, đóng góp của vốn xã hội vào cải tiến quy trình (Process Innovation); Thứ tư, đóng góp của vốn xã hội vào cải tiến chiến lược (Strategy Innovation) Bài viết đã chỉ

ra được vai trò quan trọng của vốn xã hội trong quá trình cải tiến doanh nghiệp Chính điều này sẽ góp phần tích cực nâng cao nhận thức về vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Đề tài “Nguồn vốn xã hội và vai trò của nguồn vốn xã hội trong phát

triển kinh tế bền vững” (nghiên cứu trường hợp hai làng nghề: Dương Ngỗ,

xã Phong Khê huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và làng Đa Sỹ, xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây1

) do Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ triển khai năm 2008 đã tập trung thao tác hoá khái niệm

1

Nay là Thành Phố Hà Nội,

Trang 10

vốn xã hội và những khái niệm có liên quan, từ đó nghiên cứu vai trò, tác động của vốn xã hội đối với sự phát triển làng nghề Bằng việc phân tích các kết quả khảo sát thực tế, đề tài đã chỉ ra được vai trò và tác động của vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển làng nghề nói riêng Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ được triển khai ở phạm

vi hẹp là hai làng nghề

Có thể thấy, những nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam còn rất ít, mới chỉ tập trung ở các bài báo, tạp chí được đăng tải trên các tạp chí, webside, những nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt là nghiên cứu về vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong phát triển các DNN&V gần như chưa có

Do vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài luận văn “Vai trò của việc sử

dụng vốn xã hội trong các DNN&V trên địa bàn thành phố Hà Nội” có ý

nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Bài viết “Vốn xã hội và xã hội dân sự” (Social Capital and Civil

Society) của Francis Fukuyama - Viện nghiên cứu chính sách công thuộc trường Đại học George Mason, 1/11/1999 đã đề cập tới mối quan hệ giữa vốn xã hội và xã hội dân sự Bài viết tập trung phân tích làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản như: vốn xã hội là gì? Vai trò, chức năng của vốn xã hội trong thị trường dân chủ, tự do? Làm thế nào để đo lường vốn xã hội? Vốn

xã hội có từ đâu? Làm thế nào để tăng cường vốn xã hội v.v…Bài viết đã gợi ra những vấn đề quan trọng về mối quan hệ của vốn xã hội với xã hội dân sự, vai trò, vị trí, chức năng chính trị, kinh tế của vốn xã hội đối với sự phát triển của xã hội dân sự, là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc thực hiện đề tài luận văn

Báo cáo nghiên cứu: “Vai trò của vốn xã hội trong xây dựng sức

khoẻ cộng đồng” (The role of social capital in building healthy

communities) của nghiên cứu viên Jo Anne Schneider (2004) Báo cáo

được rút ra từ nhiều dự án nghiên cứu tiến hành tại bốn thành phố trong

Trang 11

lợi nhuận, các nhà nghiên cứu, các sinh viên tham gia các dự án Nội dung chính của báo cáo tập trung thao tác những khái niệm công cụ như vốn xã hội, cộng đồng xã hội, các loại hình vốn xã hội (vốn xã hội, vốn văn hoá, quan hệ quyền lực); vốn xã hội trong gia đình; vốn xã hội trong cộng đồng đức tin; mô hình vốn xã hội và ảnh hưởng của chính sách đến vốn xã hội Với những thông tin thu được, báo cáo đã chỉ ra vai trò hết sức quan trọng của vốn xã hội trong quá trình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, mối quan hệ giữa các loại hình vốn xã hội, sự liên kết vốn xã hội Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất một số giải pháp xây dựng, phát triển vốn xã hội như một động lực để xã hội, cộng đồng phát triển bền vững, đặc biệt là phát huy vai trò của vốn xã hội trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Báo cáo: “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển - Một đánh giá dựa trên kinh nghiệm” (The role of social capital in development – An empirical assessment) Edited by Christiaan Grootaert and Thierry van Bastelado Grootaert Christiaan và Bastelaer van Thierry - Đại học Cambridge viết đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn xã hội qua việc khảo sát vốn xã hội ở nhiều quốc gia khác nhau Báo cáo đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản như: Vốn xã hội ở cấp độ vi mô và vĩ mô,1 Social capital and poverty: a microeconomic perspective mối quan hệ giữa 2 Social capital,growth,and poverty: a surveyvốn xã hội, tăng trưởng,

và nghèo đói; tof cross-country evidác động của vốn xã hội đến phát triển: vốn xã hội và công ty/doanh nghiệp; Part 3 The creation and transformation

of social capital vấn đề xây dựng và chuyển đổi của vốn xã hội; v7 The impact of development assistance on social capitalốn xã hội và gắn kết xã hội; ảnh hưởng của vốn xã hội đến các hiện tượng lệch chuẩn trong xã hội; phân loại các hình thức vốn xã hội Qua những nghiên cứu thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới, những vấn đề phong phú về các vấn đề liên quan đến vốn xã hội, tài liệu là nguồn cứ liệu phong phú, có giá trị cao cho việc thực hiện những nghiên cứu tiếp theo về vị trí, vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển xã hội

Trang 12

Cuốn sách “Nguồn vốn xã hội và phát triển kinh tế” (Social capital and ecomnomic devolopment) của Patrick Francois, Phó giáo sư tại Đại học Tiburg, Hà Lan với kết cấu gồm 7 chương; chương 1 phân tích những vấn

đề lý thuyết về vốn xã hội và phát triển kinh tế, mối quan hệ giữa các cá nhân trong doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau, những vấn đề lý luận liên quan đến niềm tin, (niềm tin, mức độ tin tưởng ảnh hưởng đến kinh doanh) uy tín, sự đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp và rộng hơn là cộng đồng doanh nghiệp nói chung…Chương 2, tác giả tiếp tục tập trung nghiên cứu về sự tin tưởng, cho rằng tin tưởng là một yếu tố văn hoá dễ thay đổi của hiện tượng kinh tế, và sự khác biệt tồn tại giữa quan điểm kinh

tế và quan điểm xã hội về nó Tiếp đến, chương 3, tác giả bàn về nguyên nhân khiến sự tin tưởng trở thành thành vấn đề đáng quan tâm của nền sản xuất, đặc biệt là các nước kém phát triển; đánh giá về vai trò của lòng tin trong nền sản xuất hiện đại.v.v…Chương 4 hình thành với mục đích là thiết lập một bộ công cụ để phân tích sự hình thành nguồn gốc của sự tin tưởng thông qua việc so sánh những nghiên cứu trước đây và hiện nay; chương 5

đã đưa ra được những công cụ đánh giá việc hình thành nguồn gốc của sự tin tưởng, cung cấp những cái nhìn sâu hơn cho quá trình phát triển Đây là nội dung rất quan trọng của cuốn sách, nó đã tập trung vào việc phân tích mối quan hệ tương tác giữa sự tin cậy và nền sản xuất hiện đại Chương 6 phân tích những trở ngại của sự phát triển được trình bày một cách dễ hiểu giúp cho độc giả không phải là những nhà kinh tế vẫn có thể hiểu được Phần thảo luận cuối cùng với những thông tin hết sức phong phú, đa dạng, những ứng dụng rộng hơn sẽ được cung cấp trong chương 7 Cuốn sách cung cấp một lượng thông tin hết sức đa dạng, phong phú cả về lý thuyết và thực tiễn Đây là một tài liệu có giá trị khoa học cao, những ý tưởng của cuốn sách có thể được các tác giả sau này kế thừa và phát triển hơn nữa

Trong báo cáo nghiên cứu của hai nhà nghiên cứu thuộc cơ quan Thống kê Canada là C.A Bryant và D Norris tại Hội thảo quốc tế về đo

Trang 13

lường vốn xã hội diễn ra vào tháng 9/2002 tại thủ đô Luân Đôn (Anh quốc),

đã đề cập đến các chủ đề cần đo lường về vốn xã hội như sau:

Chủ đề 1/ Sự tham gia xã hội và sự dấn thân vào đời sống dân sự:

chủ đề đầu tiên trong nghiên cứu về vốn xã hội sẽ là các hoạt động mang tính xã hội của cá nhân như sự tham gia vào các tổ chức từ thiện, các tổ chức xã hội, các hoạt động chính trị (chẳng hạn như tham gia vào các bầu

cử, các hoạt động trợ giúp cộng đồng và cảm giác thuộc về cộng đồng nơi

mình sinh sống; Chủ đề 2/ Mức độ khẳng định sự tự chủ: Ở chủ đề này, các

nhà nghiên cứu sẽ đo lường sự thỏa mãn trong cuộc sống của cá nhân cũng như khả năng làm chủ cuộc sống và các sự kiện tác động đến cuộc sống của

cá nhân Trong chủ đề này, nhà nghiên cứu cũng sẽ đo lường sự tự đánh giá

về bản thân (l'estime de soi) cũng như niềm tin vào chính mình nơi các cá

nhân trong xã hội; Chủ đề 3/ Quan niệm về cộng đồng: Trong khía cạnh

này của vốn xã hội, nhà nghiên cứu sẽ đánh giá mức độ hài lòng của cá nhân đối với nơi mình đang sinh sống Các khía cạnh liên quan sẽ là các dịch vụ mà cá nhân có thể tiếp cận được tại nơi sinh sống của mình, đánh giá về mức độ an toàn và chất lượng sống tại khu vực sống của cá nhân;

Chủ đề 4/ Các mạng lưới xã hội, tương trợ xã hội và tương tác xã hội: Đối

với chủ đề này, nhà nghiên cứu quan tâm đến các mối quan hệ tình thân và các quan hệ gia đình, các hệ thống tương trợ và sự sâu sắc trong các mối quan hệ cá nhân Tương tác với người khác là một khía cạnh quan trọng và những lợi ích có được từ các mối quan hệ xã hội sẽ làm gia tăng hoặc củng

cố vốn xã hội của cá nhân; Chủ đề 5/ Niềm tin, sự tương hỗ và gắn kết xã

hội: Ở đây nhà nghiên cứu đo lường niềm tin của cá nhân vào sự công bằng

trong đời sống xã hội, nhất là nhận thức về sự phân biệt đối xử trong xã hội nơi cá nhân; niềm tin vào người khác, vào các thiết chế xã hội và các dịch

vụ công cũng như quan niệm về các giá trị chung trong xã hội [15]

Những chủ đề đa dạng trên cho thấy đo lường vốn xã hội một cách thực nghiệm là một công việc không hề dễ dàng Và trong nhiều trường hợp, nhà nghiên cứu chỉ có thể tiến hành đo lường vốn xã hội ở một trong

Trang 14

những chủ đề trên mà thôi nên khi công bố kết quả nghiên cứu chắc chắn sẽ dẫn đến những tranh luận Đây là một điều hoàn toàn bình thường, song có

ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về đo lường vốn xã hội ở các nghiên cứu tiếp theo

Ở các nước phát triển, vốn xã hội được quan tâm nghiên cứu sớm hơn ở Việt Nam do vậy có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội và vài trò của vốn xã hội trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong các chiến lược phát triển doanh nghiệp nói riêng Tuy nhiên, do những hạn chế về nguồn lực, trong khuôn khổ đề tài luận văn này, tác giả chỉ xin giới thiệu một số bài viết, đề tài nghiên cứu cơ bản kể trên

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ vai trò của việc sử dụng vốn xã hội của các doanh nghiệp nhỏ

và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ đó, đề xuất các khuyến nghị, giải pháp và chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn xã hội cũng như

sự quản lý Nhà nước với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận về vốn xã hội, vai trò của việc sử dụng vốn xã hội, làm cơ sở cho quá trình triển khai nghiên cứu đề tài

- Tiến hành khảo sát thu thập thông tin, số liệu phân tích, đánh giá vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong quá trình phát triển ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Phân tích các yếu tố tác động tới việc sử dụng vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn xã hội trong quá trình phát triển ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 15

- Kiến nghị với cơ quan Nhà nước có chính sách phù hợp để khai thác vai trò của vốn xã hội, tiềm năng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước

4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Việc sử dụng vốn xã hội có vai trò như thế nào đối với hoạt động

sản xuất, kinh doanh của các DNN&V trên địa bàn thành phố Hà Nội?

- Việc sử dụng vốn xã hội của các DNN&V trên địa bàn thành phố

Hà Nội chịu tác động của những yếu tố nào?

- Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn xã hội trong các DNN&V trên địa bàn thành phố Hà Nội?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Việc sử dụng vốn xã hội có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNN&V trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Việc sử dụng vốn xã hội của DNN&V trên địa bàn thành phố Hà Nội chịu tác động của nhiều yếu tố như: loại hình doanh nghiệp cũng như đặc điểm nhân khẩu xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp.v.v…

- Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn xã hội cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

+ Nhà nước cần có những chính sách giáo dục nâng cao nhận thức về vốn xã hội, vai trò của vốn xã hội trong phát triển doanh nghiệp; tiếp tục

Trang 16

đổi mới cơ chế quản lý, minh bạch thông tin, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển

+ Các doanh nghiệp cần xây dựng mục tiêu, những giá trị cơ bản của doanh nghiệp, duy trì tốt các mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp; khẳng định uy tín, thương hiệu, tích cực mở rộng các mối quan hệ xã hội - mạng lưới xã hội cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu dựa trên quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác để tìm hiểu, nhận thức các vấn đề nghiên cứu Trên quan điểm phương pháp luận của Mác, mọi sự vật, hiện tượng phải được xem xét trong mối liên hệ, tác động qua lại, trong mâu thuẫn và quá trình vận động, phát triển không ngừng của lịch sử Mặt khác, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không gian, thời gian nhất định Người nghiên cứu cần xem xét sự vật hiện tượng trên những cơ sở khoa học đó

Trên cơ sở phương pháp luận nhận thức duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác, đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống; tiếp cận

xã hội học để tìm luận cứ chứng minh các giả thuyết nghiên cứu của đề tài luận văn

7.2 Phương pháp thu thập thông tin cụ thể

- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu sẵn có về vốn

xã hội, vai trò của việc sử dụng vốn xã hội và các tài liệu, thông tin thu được từ khảo sát

- Phương pháp điều tra chọn mẫu:

+) Điều tra bằng bảng hỏi (định lượng):

Trong phạm vi nguồn lực có thể, tác giả khảo sát 30 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội Cụ thể các đối tượng như sau:

1 Lãnh đạo doanh nghiệp (mỗi doanh nghiệp 01 trường hợp x 30

Trang 17

2 Các trưởng phòng hoặc trưởng bộ phận (mỗi doanh nghiệp 5 trường hợp x 30 doanh nghiệp = 150)

- Phương pháp xử lý thông tin:

+ Những bảng hỏi định lượng được xử lý trên máy tính bằng phần mềm thống kê SPSS 17.0 Những số liệu định lượng sẽ được xử lý dưới dạng tần suất và các tương quan nhằm so sánh, đánh giá vấn đề nghiên cứu

ở nhiều khía cạnh khác nhau

+ Do số ca PVS không nhiều nên những thông tin định tính được xử lý thủ công bằng việc phân chia thông tin theo các nhóm chủ đề cụ thể phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn góp phần làm rõ vấn đề nghiên cứu

7.3 Khái quát về cơ cấu mẫu đã khảo sát

1 Loại hình doanh nghiệp tham gia nghiên cứu:

Loại hình

doanh nghiệp Tần suất

Phần trăm

Phần trăm thực tế

Phần trăm cộng dồn

Trang 18

2 Sản phẩm hoặc dịch vụ doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp

Sản phẩm hoặc dịch vụ Tần suất Phần

trăm

Phần trăm thực tế

Phần trăm cộng dồn

3 Giới tính người trả lời

Giới tính Tần suất Phần trăm Phần trăm thực tế Phần trăm cộng dồn

6 Nhóm tuổi người trả lời

Nhóm tuổi Tần suất Phần trăm Phần trăm thực tế Phân trăm cộng dồn

Trang 19

7.4 Khung lý thuyết

7.4.1 Biến số độc lập

* Đặc điểm của doanh nghiệp:

+ Loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần

+ Qui mô doanh nghiệp được xác định trên các tiêu chí: Vốn,

số lao động, sản phẩm, doanh thu hàng năm

+ Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

* Đặc điểm nhân khẩu:

7.4.3 Biến số can thiệp

+ Môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội tại Việt Nam

+ Hệ thống chính sách Việt Nam (chính sách phát triển kinh tế - xã hội; Luật doanh nghiệp)

Trang 20

Sơ đồ khung lý thuyết

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong các doanh

nghiệp hiện nay là một hướng nghiên cứu mới, mở đầu cho việc nhìn nhận,

đánh giá tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của các doanh nghiệp

Việc áp dụng những lý thuyết xã hội học vào nghiên cứu vấn đề này góp

phần làm sáng tỏ cách thức vận dụng các lý thuyết xã hội học vào việc

nghiên cứu vai trò của vốn xã hội (mạng lưới xã hội; uy tín, sự đoàn kết, chia

sẻ v.v ) trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của các DNN&V hiện nay

Đặc điểm nhân khẩu

người quản lý doanh

sử dụng vốn xã hội trong các hoạt động của doanh nghiệp nhỏ

- Quay vòng vốn

- Trao đổi hàng hóa

- Quan hệ với khách hàng, đối tác

- Quan hệ với người

Trang 21

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Nghiên cứu về vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong quá trình vận hành và phát triển doanh nghiệp sẽ cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý doanh nghiệp có được cái nhìn tổng quan về vai trò của việc sử dụng vốn xã hội, qua đó góp phần đưa ra những giải pháp hiệu quả cho sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và phát triển nền kinh tế đất nước nói chung

- Kết quả nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn xã hội trong doanh nghiệp sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các DNN&V trên địa bàn thành phố Hà Nội và những người quan tâm nghiên cứu về vai trò của việc sử dụng vốn xã hội

9 Cấu trúc luận văn

Luận văn được kết cấu thành ba phần chính:

Phần I MỞ ĐẦU

Trình bày các nội dung: Tính cấp thiết của đề tài; lịch sử nghiên cứu; mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu; đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu; vấn đề nghiên cứu; giải thuyết nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; khung

lý thuyết; ý nghĩa luận văn và giới thiệu cấu trúc luận văn

Phần II NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN

Gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn

Chương 2 Thực trạng vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Phần III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 22

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm vai trò xã hội

Thuật ngữ “vai trò xã hội” xuất phát từ kịch học Vai trò xã hội của

cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội vì luôn biến đổi trong xã hội khác nhau thậm chí qua các nhóm xã hội khác nhau

Để thực hiện những quyền và nghĩa vụ của từng vị thế xã hội, mỗi cá nhân cần phải thực hiện những hành động nhất định Tức là, tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành

vi được xã hội mong đợi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội đó

Vậy, vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó

Như vậy, vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Các chuẩn mực này thường không giống nhau trong các loại xã hội Vì vậy, ở các xã hội khác nhau cùng một vị thế xã hội nhưng mô hình hành vi được

xã hội mong đợi rất khác nhau tức là các vai trò xã hội cũng khác nhau

Theo các lý thuyết xã hội học, vai trò xã hội và việc đóng vai trò xã hội có những tính chất đặc thù sau:

* Tính chất 1: Ðối với con người, đóng vai trò xã hội và thay đổi vai

trò là công việc hàng ngày diễn ra liên tục, kế tiếp nhau và không trùng lặp

về thời gian Ở mỗi hoàn cảnh không gian và thời gian khác nhau con người

sẽ có những vai trò xã hội khác nhau

* Tính chất 2: Không thể liệt kê số lượng vai trò của mỗi cá nhân,

bởi lẽ cá nhân có bao nhiêu mối quan hệ là có bấy nhiêu vai trò

* Tính chất 3: Vai trò xã hội phát sinh theo nhu cầu của cá nhân

Trang 23

trưng trong xã hội học, sự tăng thêm các vai trò xã hội trong một cá thể là bởi con người - một mặt thừa nhận tính mong manh và hạn chế của bản thân khiến họ phải tìm kiếm những quan hệ với người khác để có thể sống còn Mặt khác là xu hướng đi tìm và lựa chọn những kiểu hành động có lợi cho sự hợp tác, giao dịch xã hội Như vậy, tính đa phức của vai trò xã hội phát sinh theo hai nhu cầu: Một là, nhu cầu bổ khuyết những mặt hạn chế của bản thân Hai là, nhu cầu giao dịch vì lợi ích

* Tính chất 4: Vai trò xã hội được thể hiện ở nhiều mặt

- Vai trò thật là vai trò diễn ra trong đời sống hàng ngày, ngược lại là các vai trò giả thường xuất hiện trong các mối quan hệ ngoại giao

- Vai trò định chế là vai trò của một cá nhân do một tổ chức qui định Ngoài ra là các vai trò do cá nhân tự chọn

1.1.2 Khái niệm vốn xã hội

Vốn xã hội là một thuật ngữ trong một hai thập niên gần đây được đề cập nhiều trong giới khoa học xã hội, nhưng cho đến giờ, giới học thuật vẫn chưa đi đến một khái niệm thống nhất về vốn xã hội Dưới đây là một số quan điểm về vốn xã hội của một số các nhà khoa học trong và ngoài nước

Trước hết, trong một công trình xuất bản năm 1980, khi tìm cách giải thích tình trạng bất bình đẳng xã hội và quá trình tái sản xuất tình trạng bất bình đẳng ấy, nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu đã du nhập khái niệm “vốn” hay “tư bản” (capital) của lĩnh vực kinh tế học vào lĩnh vực xã hội học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau trong không gian xã hội Trong hệ quan niệm của Bourdieu, vốn xã hội là

toàn bộ nguồn lực (thực tế hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp (chẳng hạn thành viên của cùng một tôn giáo, hoặc

cùng sinh quán, hay đồng môn) Trong đa số trường hợp, mạng lưới này đã

có từ lâu và đã được thể chế hoá phần nào Nhờ nó, những cá nhân, gia đình, hay tập thể nào có nhiều móc nối thì càng lắm ưu thế Nói cách khác, mạng lưới này có giá trị sử dụng: nó là một loại "vốn" Theo Bourdieu:

"Vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong bối cảnh xã hội Bất

Trang 24

cứ ai cũng có thể thu nhập một số vốn xã hội nếu người đó nỗ lực và chú tâm làm việc ấy, và hơn nữa bất cứ ai cũng có thể dùng vốn xã hội để đem lại những lợi ích kinh tế thông thường Song, khả năng thực hiện điều ấy tùy thuộc vào những trách nhiệm xã hội (social obligation) móc nối (connection) và mạng lưới xã hội của người ấy" Theo ông, ngoài vốn kinh

tế (capital economic), còn phân biệt ba loại vốn nữa là vốn văn hoá (capital culturel), vốn xã hội (capital social), và vốn biểu tượng (capital symbol) Bourdieu định nghĩa vốn xã hội là một “mạng lưới lâu bền bao gồm các mối quan hệ quen biết nhau và nhận ra nhau Những mối liên hệ này ít nhiều đã được định chế hoá” Ông cho rằng, “khối lượng vốn xã hội của một cá nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế và vào khối lượng vốn kinh tế, vốn văn hoá, hay vốn bỉểu tượng của từng người mà anh ta có thể liên hệ” Bourdieu quan niệm rằng các loại vốn vừa nói có thể chuyển hoá lẫn nhau

Tuy nhiên năm 1990, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman đưa

ra một cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông hiểu “vốn xã

hội bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust) – là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung” Năm 1995, nhà chính

trị học Robert Putnam đã lặp lại ý tưởng của Coleman và đưa ra định nghĩa

về vốn xã hội trong một tạp chí như sau: “Hiểu một cách tương tự như những khái niệm vốn vật thể và vốn con người – Đây là những phương tiện

và những kỹ năng đào tạo có tác dụng làm gia tăng năng suất của cá nhân - vốn xã hội nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội vốn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích hỗ tương Như vậy, trong khi Bourdieu nhấn mạnh tới vốn xã hội với tư cách là một thứ tài sản mà mỗi cá nhân có thể có được, thì Coleman và Putnam lại hiểu

Trang 25

nào đó Putnam không những đã đào sâu khái niệm vốn xã hội, mà còn đề xuất những chỉ báo nhằm đo lường vốn xã hội

Ngoài ra, cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới hiện nay về vốn xã hội cũng phần nào tương tự như cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên:

“Vốn xã hội là một khái niệm có liên quan tới những chuẩn mực và những mạng lưới xã hội dẫn đến hành động tập thể Ngày càng có nhiều sự kiện minh chứng rằng sự gắn kết xã hội - vốn xã hội đóng vai trò trọng yếu đối với việc giảm nghèo và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững”

Mặc dù đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung lại, vốn xã hội thường được định nghĩa xoay quanh ba yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau, đó là: (1) Khả năng làm việc chung với nhau; (2) sự tin cậy giữa con người với nhau; (3) các mạng lưới xã hội

Có nhiều định nghĩa về vốn xã hội, nhưng trong luận văn này tác giả lựa chọn theo cách tiếp cận của nhà xã hội học người Mỹ James Coleman

về vốn xã hội Theo đó, vốn xã hội bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust) Đây là những yếu tố giúp cho các thành viên

có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung

Tựu chung lại, vốn xã hội được hình thành và kết tinh từ những yếu

tố cơ bản sau:

 Sự tin cậy lẫn nhau;

 Sự có đi có lại, hay sự tương hỗ;

 Những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài;

 Sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới

* Vai trò của vốn xã hội

Trong xã hội hiện nay, vốn xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển bền vững của doanh nghiệp song vốn xã hội cũng là con

Trang 26

dao hai lưỡi, nó có cả mặt xấu lẫn mặt tốt Về lợi ích, vốn xã hội có những lợi ích sau:

(1) Vốn xã hội khuyến khích các cá nhân chung sức giải quyết các

"bài toán tập thể" Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi

(có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy Ví dụ trong cuộc sống thường nhật: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc tầm thường như dừng xe khi gặp đèn đỏ, hoặc không xả rác nơi công cộng [27] Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội như là sự kết tinh của một chuẩn mực ứng

xử, một kỳ vọng chung của các thành viên trong cùng một cộng đồng giúp giải quyết “bài toán phối hợp” (coordination promblems) Đi xa hơn nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả sự “thất bại phối hợp” (coordination failures), tiếp cận vốn xã hội” có thể rất hữu ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm phát ) [34]

(2) Vốn xã hội giúp cải thiện dân chủ: Nhờ vốn xã hội người dân dễ

dàng kết hợp tạo thành xã hội dân sự hơn, và nhờ đó tự tin hơn trong việc lên tiếng phản đối những điều chưa được của chính quyền Ngoài vai trò đảm bảo môi trường phản biện trung thực, vốn xã hội cũng tạo ra môi trường chính trị thuận lợi, nơi các nhà lãnh đạo chính trị tiềm năng vươn lên nắm chính trường

(3) Về kinh tế, vốn xã hội tiết kiệm chi phí giao dịch; thúc đẩy phổ biến kiến thức và đổi mới: khi mọi người tin tưởng lẫn nhau thì họ sẽ đỡ

mất thời gian và tiền bạc để đảm bảo rằng đối tác sẽ thực thi trách nhiệm của mình Ví dụ ở Đan Mạch, khi đi mua xe ôtô, người mua chỉ cần người bán khẳng định rằng xe không có lỗi gì, mà không cần đem xe tới garage nào đó để kiểm tra chất lượng (và đương nhiên sẽ đỡ được khoản tiền kiểm tra kia)

(4) Thúc đẩy hợp tác hoặc các hành vi mang tính xã hội: Nhiều

Trang 27

thần hợp tác Ví dụ như việc tuân thủ luật lệ giao thông, nếu nhiều người chấp hành thì những người khác khi ra đường cũng đương nhiên chấp hành luật và việc cấp hành luật giao thông đương nhiên trở thành chuẩn mực, lan toả rộng rãi trong cộng đồng Tuân thủ luật giao thông góp phần lớn trong việc hạn chế tai nạn giao thông, hạn chế những thiệt hại về người và tài sản cho người dân, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Hoặc ví dụ khi các mạng lưới xã hội trong các doanh nghiệp phát triển, càng tạo ra được sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh Điều này góp phần không nhỏ để giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nhân viên ở các doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, qua đó có thể giảm được rất nhiều chi phí khi trợ cấp xã hội của Nhà nước

(5) Tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước: Vốn xã hội càng lớn thì

hiệu quả quản lý Nhà nước càng cao Trong xã hội, nếu mức độ niềm tin, chữ tín trong xã hội được tôn trọng như chữ tín giữa những người dân, giữa khách hàng và người buôn bán, giữa người dân và Nhà nước thì luật pháp bao giờ cũng dễ thực thi hơn Nếu người dân tin vào chính phủ thì chính phủ không cần phải dùng đến các biện pháp hành chính cưỡng ép, họ vẫn thực hiện, góp phần giảm chi phí cho hoạt động này Đối với các doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp muốn giữ chữ tín với khách hành thì họ cần sản xuất trung thực, hàng thật, chất lượng cao, giá thành hợp lý và nộp thuế đầy

đủ nếu doanh nghiệp làm tốt những việc trên thì chính phủ không phải dành nhiều kinh phí cho việc chống hàng giả, trốn thuế

Vốn xã hội cũng có những mặt tiêu cực:

Thứ nhất, vốn xã hội tác động tiêu cực với những người bên ngoài: Vốn xã hội trong một nhóm người thường đem lại lợi ích các thành viên của nhóm và chuyển thành lợi ích của cộng đồng lớn hơn phụ thuộc vào mục tiêu của nhóm người đó Trong một số trường hợp nó có thể tốn các chi phí về phúc lợi xã hội cho cộng đồng như các băng nhóm tội phạm, hoặc sự cấu kết giữa các cơ quan nhà nước với các tập đoàn kinh tế lớn hoặc giữa các tập đoàn kinh tế lớn dẫn đến thiệt hại cho người dân Hay nói

Trang 28

cách khác, vốn xã hội hỗ trợ các thành viên trong nhóm thường làm cho nhóm đó loại trừ những người "ngoại đạo"

Thứ hai, tác động tiêu cực với người bên trong: Việc tham gia của nhóm hoặc cộng đồng thường đòi hỏi sự thống nhất và chính điều này làm hạn chế sự tự do cá nhân Bên cạnh đó, việc đề cao sự hợp tác và đạt mục đích chung, vốn xã hội có thể hạn chế sự tự do của cá nhân và những sáng kiến kinh doanh Vì vốn xã hội có cả mặt tốt và mặt xấu, cho nên muốn sử dụng vốn xã hội cần phải khéo léo cân bằng và tận dụng những mặt tốt của

nó để phát triển

1.1.3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Có nhiều khái niệm khác nhau về DNN&V, tuy nhiên, đa phần các định nghĩa về DNN&V đều sử dụng số lượng lao động thường xuyên như

là một tiêu chí ưu tiên, ngoài ra còn sử dụng quy mô vốn, quy mô doanh thu v.v Theo Công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20 tháng 6 năm 1998, DNN&V là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD theo tỷ giá VND và USD tại thời điểm ban hành công văn) Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các DNN&V ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ Tiếp đó, Nghị định 90/2001/CP-NĐ của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2001 đưa ra định nghĩa chính thức về

DNN&V như sau: “DNN&V là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, có đăng

ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Các

doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ 10 đến 49 nhân công được coi là doanh nghiệp nhỏ

Đề tài luận văn sử dụng định nghĩa về DNN&V theo Nghị định 90/2001/CP-NĐ của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2001 làm khái niệm công cụ

Trang 29

1.1.4 Doanh nghiệp tư nhân

Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân

là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Từ quy định trên chúng ta thấy doanh nghiệp tư nhân gồm những đặc điểm cơ bản sau:

Một là: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư

vốn thành lập và làm chủ Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân Bởi vậy mà chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành (trong trường hợp này phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh

và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

Hai là: Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân bởi vì tài

sản của doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp Tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp

Ba là: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô

hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

1.1.5 Công ty Trách nhiệm hữu hạn

+ Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp

có những đặc điểm chung sau đây:

- Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành viên công ty

- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi

- Công ty không được quyền phát hành cổ phần

Trang 30

- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

+ Công ty TNHH một thành viên

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:

- Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là:

Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật

- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp

- Công ty không được phát hành cổ phần

- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

1.1.6 Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba

và không hạn chế tối đa

- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn

đã góp vào doanh nghiệp

Trang 31

1.2 Các hướng tiếp cận lý thuyết xã hội học

1.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội

Đại biểu tiêu biểu của lý thuyết trao đổi là Peter Blau, Blau tập trung vào quá trình trao đổi mà theo ông, điều khiển hành vi con người và các quan hệ xã hội tiềm ẩn giữa các cá thể cũng như các nhóm Hậu quả là Blau hình dung ra một chuỗi bốn giai đoạn đi từ sự trao đổi liên nhân vị tới cấu trúc xã hội và tới sự biến đổi cấu trúc: Bước 1: Các giao dịch trao đổi cá nhân giữa mọi người làm phát sinh… Bước 2: Sự phân biệt về địa vị và quyền lực, đẫn tới…Bước 3: Sự chính thống hoá và sự tổ chức, đã gieo hạt giống của…Bước 4: Sự đối lập và biến đổi [35]

Trong quá trình tương tác xã hội, mọi người thu hút lẫn nhau vì nhiều

lý do khác nhau đã thúc đẩy họ thiết lập nên các tổ chức xã hội Một khi các mối ràng buộc ban sơ đã thắt chặt, các ban thưởng mà họ cung cấp lẫn nhau giúp duy trì và nâng cao những mối dây liên hệ Hoàn cảnh đối lập xảy ra; với các đền bù không thoả đáng, một sự liên kết sẽ yếu đi hay bị phá

vỡ Các ban thưởng được trao đổi có thể là ở bên trong hoặc bên ngoài Các bên không thể luôn đền bù cho bên kia một cách bình đẳng; khi có sự bất bình đẳng trong trao đổi, một khác biệt về quyền lực sẽ nảy sinh trong lòng một tổ chức

Khi một bên cần gì đó từ bên khác những không có gì so sánh được

để đổi lại, có sẵn bốn khả năng lựa chọn đặt ra Thứ nhất, mọi người có thể

ép buộc người khác giúp họ Thứ hai, họ có thể tìm một nguồn khác để đạt được điều họ muốn Thứ ba, họ có thể cố gắng tiếp tục mà không có cái họ cần ở người khác Cuối cùng, và quan trọng nhất, họ có thể tự hạ thấp bản thân với những người khác, từ đó trao cho những người khác “Uy tín khái quát hoá” trong mối quan hệ giữa họ; những người kia có thể rút ra thứ uy tín này khi họ làm một điều gì đó (lựa chọn cuối cùng này, dĩ nhiên là đặc tính cơ bản của quyền lực)

Ông cho rằng, “Nói chung là nhất trí về các giá trị và tiêu chí ở ý nghĩa trung gian của đời sống xã hội và các liên kết trung gian cho các giao

Trang 32

dịch xã hội Chúng làm cho sự trao đổi xã hội gián tiếp có thể xảy ra, và chúng điều hành các quá trình hoà hợp xã hội và phân biệt xã hội trong các cấu trúc xã hội phức tạp cũng như sự phát triển của tổ chứ và tái tổ chức xã hội bên trong chúng” [35] Ở đây, Blau tập trung vào sự liên ứng giá trị Ví

dụ như một thành viên tuân thủ tiêu chí, giá trị nào đó của nhóm và nhận sự bằng lòng vì sự tuân thủ đó và sự bằng lòng tiềm ẩn vì sự kiện rằng sự tuân thủ đó đóng góp vào duy trì sự bền vững của nhóm Nói cách khác, nhóm hay tập thể thực hiện một quan hệ trao đổi với cá thể Như vậy, đối với các doanh nghiệp việc các nhân viên tuân thủ các chuẩn mực của doanh nghiệp

sẽ dẫn đến sự đoàn kết, nhất trí trong doanh nghiệp

1.2.2 Lý thuyết về vốn xã hội của B.James Coleman và Bourdieu

Nhà xã hội học người Mỹ James Coleman phân biệt ba loại vốn: vốn vật thể là kết quả của những biến đổi vật thể để tạo thành những công cụ sản xuất, vốn con người là kết quả những biến đổi trong con người để cấu thành tài nghệ và khả năng thao tác, và vốn xã hội

Theo Coleman, vốn xã hội có ba đặc tính: Thứ nhất, nó tùy thuộc vào

mức độ mà người trong xã hội tin cậy nhau Nói cách khác, nó tùy thuộc vào nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức, và kỳ vọng của người này ở người

khác Thứ hai, nó có giá trị vì là gói ghém những liên hệ xã hội, và những

liên hệ này mang đặc tính của kênh truyền thông Nói rõ hơn: qua liên hệ tiếp xúc với hàng xóm, bạn bè, mỗi người có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế phần nào những phương tiện truyền thông

tân thời như sách báo, truyền thanh, truyền hình Thứ ba, vốn xã hội càng

lớn nếu xã hội càng có nhiều lề thói (nhất là những lề thói mà người không tuân theo sẽ bị trừng phạt)

Chi tiết hơn, Coleman phân biệt vốn xã hội trong gia đình và vốn xã hội trong cộng đồng Trong mỗi gia đình, con cái có thể lĩnh hội vốn tài

chính, vốn con người, và vốn xã hội trong gia đình Vốn tài chính là do của cải và thu nhập gia đình Loại vốn này là một nguồn lực vật chất cho các

Trang 33

nhu cầu thường nhật Vốn con người là phản ảnh trình độ văn hoá của cha

mẹ, cho con cái một môi trường hiểu biết trong sự học hành Vốn xã hội

(trong gia đình) thì khác, nó tùy thuộc vào mức quan tâm, thời giờ mà cha

mẹ dành cho con cái trong những sinh hoạt trí tuệ Một gia đình dù giàu có (vốn tài chính là sung túc), cha mẹ có học vấn cao (vốn con người nhiều), nhưng nếu thờ ơ với con cái (vì quá bận mưu sinh chẳng hạn) thì sẽ nghèo vốn xã hội trong gia đình Có thể nói, vốn xã hội trong gia đình tùy thuộc vào sự có mặt của phụ huynh, và sự quan tâm của họ đến con cái

Vốn xã hội trong cộng đồng cũng có một ảnh hưởng quan trọng trong

sự phát triển của lớp trẻ Vốn này nằm trong mối liên hệ xã hội giữa các phụ huynh với nhau và giữa phụ huynh với các thể chế cộng đồng Ví dụ, nếu cha mẹ học sinh không biết nhau, hoặc nếu gia đình các em thường thay đổi chỗ ở, thì sẽ khó giúp nhau theo dõi sự học hành, giám sát các hoạt động của con em, vì thế vốn xã hội sẽ yếu đi

Theo cách tiếp cận trên, có thể suy ra đối với doanh nghiệp Vốn xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp Vốn xã hội trong doanh nghiệp cũng tồn tại ở hai môi trường cơ bản đó là: trong nội bộ doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp Vốn xã hội trong nội bộ doanh nghiệp chính là sự đoàn kết hoàn thành công việc của các nhân viên; sự phấn đấu của lãnh đạo, nhân viên trong hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp; là những chính sách về đào tạo nguồn lực, chính sách ưu đãi v.v…của doanh nghiệp Còn vốn xã hội ở ngoài doanh nghiệp chính là uy tín, sự khẳng định thương hiệu, mạng lưới xã hội mà doanh nghiệp quan hệ: quan hệ với khách hàng, đối tác, quan hệ với các cơ quan công quyền và những người có quyền lực, tiềm lực về tài chính.v.v…Việc sử dụng vốn xã hội có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp

Đi xa hơn Coleman, Francis Fukuyama tác giả cuốn sách “Điểm tận

của lịch sử” rất nổi tiếng cho rằng, vốn con người và vốn xã hội có ảnh hưởng

lẫn nhau Cụ thể, theo ông, vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội (người

có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của sự lưu tâm đến con cái, và ngược lại,

Trang 34

khi con cái được quan tâm thì sẽ cố gắng học hành, trau rồi vốn con người) Song Fukuyama đưa thêm nhận định: không phải loại vốn nào cũng là tốt Vốn xã hội có thể xấu (băng đảng tội phạm chẳng hạn), vốn vật thể có thể xấu (vũ khí để làm tội ác), vốn con người có thể là xấu (trí tuệ dùng để nghĩ ra những phương pháp hành hạ, tra tấn, thậm chí đến diệt chủng)

Nhà kinh tế Kenneth Arrow (được giải Nobel, 1972) đã chỉ rõ, ưu điểm của vốn xã hội Theo ông, vốn xã hội không cạn kiệt qua sử dụng, song cái nguy hiểm là loại vốn này dễ bị suy mòn nếu đường lối phát triển không đúng, và không thể một sớm một chiều tái tạo hay vay mượn nó được Chính sách phát triển mà chỉ hô hào làm giàu (thậm chí có người cho rằng phải chấp nhận mức độ tham ô nào đó trong giai đoạn gia tốc phát triển) sẽ hủy hoại tính cộng đồng, làm mất sự tin cẩn lẫn nhau, và do đó làm suy giảm vốn xã hội Hơn nữa, hầu như bất cứ phát triển kinh tế nào cũng cần những luồng chảy lao động (dân vùng này đi làm việc ở vùng khác) thông thoáng, tuy nhiên sự di cư này sẽ ảnh hưởng trực tiếp (có phần tiêu cực) đến gắn bó gia đình, theo đó, vốn xã hội trong gia đình bị suy giảm Phát triển bền vững đòi hỏi sự đánh đổi tối ưu, ăn khớp, giữa nhiều diễn biến xã hội và kinh tế khác nhau Thiếu vốn xã hội (hoặc nếu vốn xã hội không được kịp thời thay thế bởi những loại vốn khác) thì phát triển sẽ

không bền vững Một quốc gia thiếu tính cộng đồng, thiếu tinh thần dân tộc

là một quốc gia không phục vụ những nhu cầu cơ bản của con người (mặc

dù thu nhập vật chất có thể cao), tức là một quốc gia không phát triển

Từ những tiếp cận trên, chúng ta có thể thấy rằng, vốn xã hội trong doanh nghiệp tồn tại với những hình thức khác nhau như sự tín cẩn (trust),

sự có đi có lại hay sự tương hỗ (reciprocity), quy tắc (norms) và mạng lưới

xã hội (networks) (Colleman, 2000; Dasgupta và Serageldin, 2000; Fountain, 1998; Lesser, 2000; Putnam, 1995) Sự tín cẩn được phát triển qua thời gian trên cở sở nhiều lần làm ăn với nhau Khi doanh nghiệp được

sự tín cẩn cao từ các đối tác kinh doanh, khi làm ăn với nhau họ sẽ không

Trang 35

và kiểm tra nhau, thay vào đó họ dành nhiều thời gian, công sức để tập trung nghiên cứu các giải pháp phát triển doanh nghiệp Nhờ vào sự tín cẩn lẫn nhau nên doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ (reciprocity) và hành xử (norms) theo chuẩn mực từ các chủ thể khác, tạo nên nghĩa vụ lâu dài với đối tác Vốn xã hội còn biểu hiện dưới dạng mạng lưới (networks) liên kết của doanh nghiệp với các chủ thể khác trong môi trường kinh doanh Nhờ mạng lưới này giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các thông tin để duy trì

sự phát triển của doanh nghiệp

Giống như các loại vốn khác, vốn xã hội cần thiết cho sản xuất, kinh doanh Song vốn xã hội có nhiều khác biệt, vốn vật thể thì hoàn toàn hữu hình bởi nó nằm trong những hình thức vật thể trước mắt; vốn con người thì khó thấy hơn bởi nó nằm trong những kỹ năng và tri thức cá nhân; vốn xã hội thì khó thấy nhất bởi nó tiềm tàng trong các mối liên hệ giữa người với người

Trong quá trình phát triển, vốn xã hội có đóng góp quan trọng trong việc giảm chi phí giao dịch giữa các doanh nghiệp làm ăn với nhau và giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nền kinh tế, đáng kể nhất là chi phí thông tin, sự mặc cả, chi phí thủ tục hành chính Vì vậy, nếu doanh nghiệp có hàm lượng vốn xã hội lớn sẽ nâng cao sức cạnh trạnh, mở rộng qui mô sản xuất Vốn xã hội sẽ giúp giảm những hành động phi pháp, thông tin chính xác tạo ra sự tình nguyện gia nhập các hiệp hội, hỗ trợ thông tin trong cộng đồng doanh nghiệp Vốn xã hội được cải thiện sẽ tạo điều kiện

để thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá và phân công lao động

1.2.3 Lý thuyết mạng lưới xã hội

B.James Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho những giao dịch giữa những người hành động (actors) với xã hội và giữa họ với nhau Những giao dịch này thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở thành những gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng nhằm thực hiện những lợi ích riêng tư của họ Khi ấy người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất thì giờ vừa tốn kém Những ví dụ tiêu biểu cho loại vốn này là: trong một khu

Trang 36

dân cư, hàng xóm đồng ý với nhau rằng nếu nhà nào đi vắng cả thì nhà bên cạnh thỉnh thoảng ngó mắt giùm; những người mua bán kim cương sẽ tự mình chọn lựa kỹ để khi giao không phải thử từng viên xem có bị trầy hay không; hội những người giúp nhau chữa bệnh ung thư qua trang web Đó

là sự hoạt động của vốn xã hội hay vốn xã hội trong hành động (social capital in action) Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế; và họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo hứng

Đa số những người theo thuyết mạng lưới đều cho rằng, vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cậy lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng

lưới Thí dụ như việc chơi hụi (họ) ở nước ta Bạn, tôi và vài người quen rủ

nhau chơi hụi, chúng ta là một cộng đồng địa phương (bước 4); chúng ta tin nhau là ai cũng đàng hoàng (bước 1); bạn hốt hụi kỳ đầu, tôi kỳ sau (bước 2); muốn hốt hụi phải bỏ giá, ai cao nhất sẽ hốt; hốt xong thì từ đó trở đi phải đóng đủ, ai giật là sẽ bị đòi (bước 3) Vậy chơi hụi là một định chế xã hội, nó có tính địa phương (local institution), giúp cho người cần tiền vay mượn tiền của người khác mà không phải thế chấp tài sản và góp phần vào hoạt động kinh tế Đó là một sự đóng góp hữu hiệu và hiệu quả cho nền kinh tế Theo đó, các DNN&V cũng có thể áp dụng lý thuyết mạng lưới để hình thành nên những nhóm danh nghiệp hoặc hiệp hội các doanh nghiệp

để có các hoạt động giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển

1.2.4 Lý thuyết chọn lựa hợp lý

Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý cũng là một trong những lý thuyết xã hội học được B.James Coleman quan tâm nghiên cứu Điều này được minh

Trang 37

lựa chọn hợp lý và xã hội Tờ báo gồm nhiều ngành học thuật vì thuyết

chọn lựa hợp lý hay như Coleman nói là “mô hình của hành động hợp lý” –

là lý thuyết duy nhất có khả năng tạo ra một mô hình hoà hợp Về cơ bản, cách tiếp cần lý thuyết này là sự vận hành từ một nền tảng trong phương pháp của chủ nghĩa cá nhân và sử dụng lý thuyết chọn lựa hợp lý như là cơ

sở ở cấp độ vi mô để lý giải các hiện tượng vĩ mô Định hướng chọn lựa hợp lý của Coleman được thể hiện rõ ràng trong ý tưởng cơ bản rằng:

“Hành động có mục đích của các nhân hướng tới một mục tiêu; mục tiêu

đó (và do đó cả hành động) định hình bởi các giá trị hay các sở thích

Nhưng sau đó đi tới lý luận rằng, đối với phần lớn các mục đích về mặt lý thuyết, ông sẽ cần một sự khái quát hoá chính xác hơn nữa về actor hợp lý phát sinh từ kinh tế học, một khoa học nhận thấy các actor chọn lựa các hành động đó sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu và mong muốn của họ [33, tr.447]” Về cơ bản, tư tưởng của lý thuyết chọn lựa hợp lý là mỗi cá nhân chọn lựa một hành động hợp với năng lực, giá trị

và mục tiêu của cá nhân đồng thời phù hợp với đoàn thể, tổ chức xã hội hay

xã hội nói chung để có thể tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn về nhu cầu và mong muốn của cá nhân Từ những hành động như vậy nhà nghiên cứu có thể khái quát và tìm ra những ảnh hưởng của cá nhân đối với sự biến đổi xã hội (lấy cái vi mô để giải thích cái vĩ mô) Và như vậy, việc vận dụng lý thuyết chọn lựa hợp lý vào việc giải thích, phân tích vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong phát triển các DNN&V là phù hợp Lý thuyết chọn lựa hợp lý sẽ giúp chúng ta lý giải tại sao doanh nghiệp lại duy trì các mối quan hệ với nhóm đối tác, khách hàng này mà không duy trì mối quan

hệ với nhóm đối tác, khách hàng khác Hoặc tại sao mối quan hệ xã hội này lại được lựa chọn đầu tư hơn các mối quan hệ khác trong việc phát triển doanh nghiệp mình Thiết lập mối quan hệ này sẽ đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích gì về mặt kinh tế, chính trị v.v

Trang 38

1.3 Tổng quan về các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam

1.3.1 Tổng quan về các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam

Theo số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam là 155.771 trong đó doanh nghiệp Nhà nước 3.494 (2.24%); doanh nghiệp ngoài Nhà nước 147.316 (chiếm 94.57%); doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 4.961 (3.19%) Số lượng các doanh nghiệp trên cả nước càng ngày càng gia tăng, điều này thể hiện phần nào sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNN&V (xem thêm bảng 1.1)

Bảng 1.1 Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh - doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp

Trang 39

Theo Bộ kế hoạch Đầu tư, đến nay, chúng ta vẫn chưa có những thống

kê đầy đủ về đóng góp của các DNN&V vào tăng trưởng GDP cả nước Tuy nhiên, theo nhận định chung thì tỷ lệ này là rất đáng kể, tại thành phố Hồ Chí Minh nơi có lượng DNN&V lớn nhất nước, năm 2004, tỷ trọng đóng góp của khu vực ngoài quốc doanh vào GDP thành phố chiếm tới 38,9%

Hiện nay, các DNN&V đang sử dụng 25 - 26% lao động của cả nước Đây là khu vực chính tiếp nhận số lao động mới hàng năm và số lao động dôi dư từ doanh nghiệp nhà nước qua quá trình sắp xếp Điều đáng nói là suất đầu tư cho một chỗ làm tại DNN&V chỉ bằng 3 - 10% so với các doanh nghiệp lớn Như vậy, rõ ràng, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, DNN&V có những đóng góp hết sức quan trọng Hiện nay, DNN&V ở Việt Nam có những ưu thế và hạn chế cơ bản như sau:

+ Ưu thế của DNN&V:

DNN&V có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu

có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường DNN&V có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút

sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống nhỏ và vừa trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng về mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn DNN&V là loại hình sản xuất có địa

Trang 40

điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:

- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đó có thể bắt đầu hoạt động Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân, doanh nghiệp bạn dễ dàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế

- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao Bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm, sẵn sàng mạo hiểm Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó các DNN&V có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm

- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết

bị khi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNN&V có thể đạt được hiệu quả kinh tế

- Có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh

Ngày đăng: 06/04/2020, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w